1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 4 5 thông qua môn mĩ thuật

118 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

28 Bảng 1.3: Bảng thể hiện sự hứng thú khi học các bài học có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Mĩ thuật của học sinh .... 28 Biểu đồ 1.3: Biểu đồ thể hiện sự hứng thú khi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG KHOA GD TIỂU HỌC – MẦM NON

Trang 2

Để hoàn thành t ố t đượ c khóa lu ậ n t ố t nghi ệ p này, em đ ã nh ậ n đượ c nhi ề u

s ự giúp đỡ c ủ a quý th ầ y cô

Tr ướ c h ế t em xin bày t ỏ lòng bi ế t ơ n sâu s ắ c đế n th ầ y Đ àm V ă n Th ọ -

ng ườ i tr ự c ti ế p h ướ ng d ẫ n, giúp đỡ em v ề ki ế n th ứ c và ph ươ ng pháp để em hoàn thành đượ c khóa lu ậ n t ố t nghi ệ p này

Em c ũ ng xin chân thành c ả m ơ n các th ầ y cô trong khoa GD Ti ể u h ọ c –

M ầ m non tr ườ ng Đạ i h ọ c S ư ph ạ m Đ à N ẵ ng đ ã h ướ ng d ẫ n, gi ả ng d ạ y, cung c ấ p

ki ế n th ứ c, quan tâm, độ ng viên nhi ệ t tình giúp đỡ em trong su ố t quá trình h ọ c

t ậ p c ũ ng nh ư th ờ i gian em th ự c hi ệ n đề tài

Qua đ ây, em c ũ ng xin g ử i l ờ i c ả m ơ n đế n các th ầ y cô tr ườ ng Ti ể u h ọ c H ả i Vân – Thành ph ố Đ à N ẵ ng đ ã t ạ o đ i ề u ki ệ n giúp đỡ em trong quá trình ti ế n hành

th ự c nghi ệ m c ủ a đề tài

Cu ố i cùng em xin c ả m ơ n gia đ ình, nh ữ ng ng ườ i thân, b ạ n bè đ ã quan tâm

độ ng viên em trong su ố t quãng đườ ng h ọ c t ậ p v ừ a qua

Do trình độ nghiên c ứ u và th ờ i gian có h ạ n nên bài khóa lu ậ n này không

kh ỏ i nh ữ ng thi ế u sót, vì v ậ y em r ấ t mong đượ c s ự góp ý và ch ỉ d ẫ n c ủ a quý th ầ y cô

Em xin trân tr ọ ng c ả m ơ n!

Đ à N ẵ ng, tháng 5 n ă m 2014 Sinh viên th ự c hi ệ n

Ph ạ m Th ị Vân

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MT: Môi trường BVMT: Bảo vệ môi trường GDMT: Giáo dục môi trường GDBVMT: Giáo dục bảo vệ môi trường TNTT: Tài nguyên thiên nhiên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Bảng thể hiện sự yêu thích học môn Mĩ thuật của học sinh 27

Bảng 1.2 Bảng thể hiện sự yêu thích các hoạt động dạy học các bài học trong môn Mĩ thuật 28

Bảng 1.3: Bảng thể hiện sự hứng thú khi học các bài học có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Mĩ thuật của học sinh

29 Bảng 1.4: Bảng biểu thị ý thức tự giác bảo vệ môi trường của học sinh 30 Bảng 1.5: Bảng thể hiện thái độ của học sinh về việc giữ gìn và bảo vệ môi trường nhà trường và lớp học 31

Bảng 1.6: Bảng thể hiện hành vi của học sinh khi thấy một bạn lớp bên cạnh vứt rác ra sân trường 32

Bảng 3.1 – Số lớp – số học sinh và giáo viên tham gia thực nghiệm 66

Bảng 3.2 – Bảng kết quả bài kiểm tra thực nghiệm của lớp thực nghiệm 68

Bảng 3.3 – Bảng kết quả bài kiểm tra sau thực nghiệm của lớp đối chứng 68

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thể hiện sự yêu thích học môn Mĩ thuật của học sinh 27

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ thể hiện sự yêu thích các hoạt động dạy học các bài học trong môn Mĩ thuật 28

Biểu đồ 1.3: Biểu đồ thể hiện sự hứng thú khi học các bài học có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Mĩ thuật của học sinh 29

Biểu đồ 1.4: Biểu đồ biểu thị ý thức tự giác bảo vệ môi trường của học sinh 30

Biểu đồ 1.5: Biểu đồ thể hiện thái độ của học sinh về việc giữ gìn và bảo vệ môi trường nhà trường và lớp học

31 Biểu đồ 1.6 Biểu đồ thể hiện hành vi của học sinh khi thấy một bạn lớp bên cạnh vứt rác ra sân trường 32 Biểu đồ 3.1 – Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp đối

Trang 5

chứng 69

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 1 Lý do chọn đề tài

1 2 Mục đích nghiên cứu

2 3 Lịch sử vấn đề

3 4 Nhiệm vụ nghiên cứu

3 5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học

4 7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc khóa luận

5 PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1.1 Một số khái niệm

6 1.1.1.1 Khái niệm môi trường

6 1.1.1.2 Khái niệm bảo vệ môi trường

7 1.1.2Các thành phần cơ bản của môi trường 8

1.1.2.1 Môi trường đất

8 1.1.2.2 Môi trường nước

9 1.1.2.3 Môi trường không khí

Trang 7

1.1.2.4 Môi trường sinh vật

10 1.1.3Chức năng của môi trường

10 1.1.3.1 Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới vật chất 10

1.1.3.2 Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên 11

1.1.3.3 Môi trường là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin cho con người 11

1.1.3.4 Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra 11

1.1.4Sự tác động của con người đối với môi trường

12 1.1.4.1 Lịch sử tác động của con người đến môi trường 12

1.1.4.2 Tác động của con người đến các thành phần của môi trường

14 1.1.5 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

15 1.1.5.1 Quá trình nhận thức

15 1.1.5.2 Nhân cách học sinh tiểu học

17 1.1.6Tìm hiểu việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học 19

1.1.6.1 Mục tiêu của giáo dục môi trường ở bậc tiểu học 19

1.1.6.2 Nguyên tắc của việc giáo dục môi trường trong nhà trường nước ta 20

1.1.6.3 Ý nghĩa của việc giáo dục môi trường trong trường tiểu học 21

1.1.6.4 Sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học 21

1.2CƠ SỞ THỰC TIỄN

22 1.2.1Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và chương trình dạy học Mĩ thuật ở tiểu học22 1.2.1.1 Mục tiêu dạy học Mĩ thuật ở tiểu học

22 1.2.1.2 Nhiệm vụ dạy học Mĩ thuật ở tiểu học

24 1.2.1.3 Chương trình dạy học Mĩ thuật lớp 4,5

24

Trang 8

1.2.1.4 Nội dung cơ bản của môn Mĩ thuật lớp 4,5

Trang 9

4,5 trong môn Mĩ thuật

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật và công nghệ mới, con người đã khai thác môi trường một cách sâu, rộng và triệt để hơn Xauutski đã nói: “… Ngày nay không còn một bộ phận nào của bề mặt Trái Đất, một diện tích nào của đại dương, một tầng lớp nào của khí quyển mà lại không chịu tác động này hay tác động khác của con người…”

Chính những tác động của mình khiến con người đứng trước những thách thức về môi trường Đó là sự biến đổi khí hậu toàn cầu và tần suất thiên tai gia tăng, gần 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên, chính điều này mang đến những bất lợi: mực nước biển dâng cao, thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất các thiên tai như gió, bão, hỏa hoạn, lũ lụt, sóng thần… Sự suy giảm tầng ozon làm tăng tia bức xạ cực tím gây ra nhiều bệnh tật như hủy hoại mắt, ung thư da, các bệnh vềđường hô hấp, suy giảm hệ miễn dịch ở con người, đe dọa sự sống trên Trái Đất Các tài nguyên bị suy thoái, sự suy giảm rừng, sự suy thoái đất, sự ô nhiễm nước là những nguy cơ rất lớn đối với cuộc sống loài người

Nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay chúng ta cũng tác động mạnh mẽ hơn bao giờ hết đến tự nhiên và môi trường làm cho môi trường bị biến đổi sâu sắc và gây suy thoái nhiều yếu tố tự nhiên: rừng là tài nguyên vô giá nhưng đang bị giảm sút với tốc độđáng sợ, diện tích đất bị thoái hóa đang tiếp tục tăng lên, trong khi diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm do dân số ngày càng tăng; tài nguyên khoáng sản đang cạn kiệt dần do khai thác và sử dụng lãng phí ở mức trầm trọng; tài nguyên thủy sản và hải sản ở vùng cửa sông và ven biển cũng đang cạn kiệt và suy thoái do khai thác bừa bãi; các loại động vật quý hiếm đang bị mai một nhanh chóng do mất rừng khó bề phục hồi; môi trường đất, nước, không khí, các đô thị,các khu dân cư, các trung tâm công nghiệp đang bị ô nhiễm có nơi rất nặng nề, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất

và sức khỏe của nhân dân trong hiện tại và tương lai

Vấn đề môi trường sống hiện nay đã vượt ra ngoài phạm vi sinh thái học thông thường và trở thành một vấn đề kinh tế, chính trị xã hội của toàn cầu, bảo vệ môi

Trang 12

trường trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên hành tinh Ở nước ta, ngày 17 -10- 2001, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 1363/QĐ-TTG: đưa ra các nội dung bảo vệ môi trường trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Mỗi quốc gia cần có biện pháp khắc phục môi trường, bảo vệ thiên nhiên để phát triển bền vững Có thể nói trong những năm qua luật bảo vệ môi trường

đã được triển khai khá sâu rộng và cụ thể tới các cấp, các ngành, các tổ chức trong toàn

xã hội, tuy nhiên việc thực hiện luật bảo vệ môi trường còn gặp nhiều khó khăn do nhận thức của người dân còn chưa cao Một trong những giải pháp đặt ra để ngăn ngừa các vấn đề môi trường là phải trực tiếp làm thay đổi nhận thức của cộng đồng về môi trường xung quanh Vì vậy công tác giáo dục bảo vệ môi trường được đặt ra hàng đầu Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu và toàn diện ở trong cộng đồng dân cư nói chung và cả thế hệ trẻ trong nhà trường nói riêng, trong đó có bậc học Tiểu học Đây là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân, số lượng học sinh ở bậc học này rất lớn, lên tới hàng triệu em Đây là một lực lượng hùng hậu, những chủ nhân tương lai của đất nước Việc chuẩn bị cho thế hệ này những hiểu biết

về môi trường để các em có ý thức, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường là điều vô cùng quan trọng đối với tương lai của đất nước Đó là một biện pháp tích cực có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ, xây dựng cho môi trường sống hôm nay

Giáo dục môi trường trong hệ thống giáo dục Tiểu học không phải là một môn học riêng mà được tích hợp qua các môn học, trong đó có môn Mĩ thuật Trong môn học này, ngoài cách dạy và phát huy cho học sinh năng khiếu hội họa, giáo dục thẩm

mĩ còn giúp học sinh có hiểu biết về môi trường, qua đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và quan tâm đến môi trường xung quanh

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 4,5 thông qua môn Mĩ thuật” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nội dung giáo dục môi trường có trong môn Mĩ thuật lớp 4,5 Từđó xác định phương pháp, hình thức tổ chức dạy học được dùng để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn học này Trên cơ sởđó, bước đầu đề xuất một

Trang 13

số ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 4,5 nói riêng và học sinh tiểu học nói chung

Giáo trình Mĩ thuật và phương pháp dạy học Mĩ thuật ở Tiểu học – Nguyễn Lăng Bình, nghiên cứu các phương pháp và hình thức dạy vẽ tranh và giảng tranh chứ chưa

đề cập đến phương pháp tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

Có thể nói, có nhiều các tài liệu nghiên cứu về vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Tuy nhiên, các tài liệu chỉ nghiên cứu một khía cạnh hoặc một vấn đề nào

đó chưa thực sựđi sâu vào vấn đề tìm hiểu việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học thông qua môn Mĩ thuật lớp 4,5 Song đó cũng là những tài liệu vô cùng quan trọng để làm cơ sở cho tôi nghiên cứu, tìm hiểu việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học thông qua môn Mĩ thuật lớp 4, 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

- Nghiên cứu các phương pháp, hình thức tổ chức để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

- Tìm hiểu thực tế dạy - học các bài học có nội dung được tích hợp để giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Mĩ thuật lớp 4,5 Tìm hiểu ý thức bảo vệ môi trường của học sinh lớp 4,5

Trang 14

- Xây dựng một số kế hoạch bài học để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong môn Mĩ thuật lớp 4,5

- Thực nghiệm sư phạm

- Đề xuất ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 4,5 thông qua môn Mĩ thuật

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Tại trường tiểu học Hải vân

+ Phạm vi thời gian: Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014

6 Giả thuyết khoa học

Thực tế số lượng học sinh có ý thức, thói quen bảo vệ môi trường còn hạn chế Nguyên nhân là do các em chưa khắc sâu được lời dặn dò của giáo viên ở trường, do nội dung mà giáo viên sử dụng chưa gây được hứng thú ở học sinh do vậy hiệu quả giáo dục còn thấp

Để hình thành thói quen bảo vệ môi trường cho các em, giáo viên cần phải nắm chắc nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, nội dung liên hệđưa vào bài học nên thực

tế, gần gũi với cuộc sống của các em Điều đó không chỉ thực hiện trong môn Mĩ thuật

mà còn trong các môn học khác Nếu giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong bài dạy Mĩ thuật phù hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả của việc giáo dục

ý thức bảo vệ môi trường của học sinh tiểu học cũng như mang lại hiệu quả dạy học tốt hơn

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Đọc, xem xét các tài liệu có liên quan đến vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh và những tài liệu có liên quan đến đề tài

Trang 15

- Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng trong công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh Lấy ý kiến của giáo viên và học sinh để làm thông tin nghiên cứu

- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ và quan sát giờ dạy của giáo viên Quan sát cử chỉ, hành động, thái độ của học sinh khi tham gia công tác bảo vệ môi trường

- Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp trò chuyện với giáo viên, học sinh để tìm hiểu, thu thập thông tin

- Phương pháp đánh giá và xử lý kết quả: Sau khi thu thập số liệu thì tính toán và xử lý kết quả thu được

- Phương pháp thực nghiệm: Đề xuất giáo án và thực hiện giảng dạy

- Phương pháp thống kê: Thống kê kết quả thực nghiệm

8 Cấu trúc khóa luận Đề tài gồm 3 phần: - Phần mởđầu:

+ Lý do chọn đề tài

+ Mục đích nghiên cứu

+ Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Giả thuyết khoa học

+ Phạm vi nghiên cứu + Phương

pháp nghiên cứu - Phần nội

dung:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 4,5 thông qua môn Mĩ thuật

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm - Phần

kết luận

PHẦN NỘI DUNG

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1Khái niệm môi trường

Thuật ngữ môi trường đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi khác nhau Hiểu theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tổng hợp những yếu tố bao quanh một vật thể và có quan hệ nhất định với vật thểđó Bất cứ một yếu tố vật chất nào, dù là sống hay không sống cũng đều tồn tại và biến đổi trong môi trường Như vậy, nói đến môi trường tức là nói đến môi trường của một vật thể, một đối tượng nhất định

Theo Lê Văn Khoa (1995) thì: Môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của các cơ thể sống Theo Hoàng Đức Nhuận (2000) thì: Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố bao quanh sinh vật, tất cả yếu

tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, sinh trưởng

và phát triển của sinh vật

Hiện nay, khái niệm môi trường được sử dụng rộng rãi nhất đó là khái niệm của UNESCO năm 1981: Môi trường bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và nhân tạo, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên, hoặc tài nguyên nhân tạo để thỏa mãn nhu cầu của con người Cho dù các định nghĩa trên có khác nhau về quy mô, mức độ và giới hạn nhưng đều thể hiện đặc điểm chung sau:

- Môi trường là một hệ thống do nhiều thành phần tạo nên, các thành phần này có bản chất khác nhau nhưng lại quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau, chi phối nhau

- Con người sống, sinh trưởng và phát triển trong môi trường, tất cả các yếu

tố trong môi trường đều ảnh hưởng tới con người và mọi hoạt động của con người cũng đều ảnh hưởng tới môi trường

Trang 17

Như vậy, môi trường sống của con người bao hàm: môi trường tự nhiên, môi trường nhận tạo, môi trường kinh tế xã hội

1.1.1.2Khái niệm bảo vệ môi trường

Khái niệm bảo vệ môi trường xuất hiện từ cuối thế kỷ XVIII, khi mà Chủ nghĩa

tư bản phát triển mạnh mẽ, nhiều nguồn tài nguyên được phát hiện và được khai thác ngày càng tăng lên gấp bội, các nguồn tài nguyên bị tàn phá và nhanh chóng cạn kiệt,

vì vậy ý niệm bảo vệ môi trường nảy sinh

Lúc đầu bảo vệ môi trường chỉ nhằm bảo vệ những TNTN bị tàn phá như những khu rừng, những phong cảnh thiên nhiên Con người đã lập ra những khu rừng cấm, những khu bảo tồn thiên nhiên để bảo vệ sự toàn vẹn của tự nhiên ở một khu vực nhất định Tuy nhiên, do nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội, việc khai thác các nguồn tài nguyên cũng ngày một tăng lên, việc bảo vệ môi trường với nghĩa như trên không còn phù hợp nữa

Hiện nay, bảo vệ môi trường không chỉ mang ý nghĩa “giữ gìn” mà nó mang ý nghĩa tổng hợp, bao quát nhiều khía cạnh để không làm ảnh hưởng tới sự phát triển của

xã hội, đồng thời cũng không tàn phá môi trường, đó là:

- Sử dụng hợp lý TNTN và bảo vệ sự cân bằng sinh thái

- Cải tạo và phục hồi các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt

- Chống ô nhiễm và suy thoái môi trường

- Bảo vệ tính đa dạng sinh học và các nguồn gen quý hiếm

Vậy khái niệm bảo vệ môi trường nói chung ta có thể hiểu một cách đơn giản là những hoạt động, những việc làm trực tiếp, tạo điều kiện giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện điều kiện vật chất, cải thiện điều kiện sống của con người và sinh vật ở trong đó, làm sức sống tốt hơn, duy trì cân bằng sinh thái, tăng đa dạng sinh học

Ở nước ta, luật bảo vệ môi trường cũng đã khẳng định: “Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên

Trang 18

nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài TNTN”

1.1.1.3Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường

Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp cho con người có được sự hiểu biết, kĩ năng

và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái

Mục đích của giáo dục bảo vệ môi trường nhằm vận dụng những kiến thức và kĩ năng vào giữ gìn, bảo tồn, sử dụng môi trường đảm bảo bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, xóa đói nghèo, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên Hơn nữa,

nó bao hàm cả việc đạt được những kĩ năng, có động lực và cam kết hành động dù với

tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh

Hội nghị Quốc tế về giáo dục bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977, xác định giáo dục bảo vệ môi trường có mục đích: Làm cho các các

cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế

và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kĩ năng thực hành

để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản ký chất lượng môi trường”

1.1.2 Các thành phần cơ bản của môi trường

Trang 19

Đất là môi trường sống và cung cấp chất dinh dưỡng cho nhiều loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm Các chất mùn bã phân hủy từ xác chết của các loài sinh vật là nhiều loại khoáng chất có trong đất, chính là nguồn dinh dưỡng phong phú có trong đất Đất luôn mang kèm nhiều hệ sinh thái khác nhau, trong đó sinh vật phân bố theo chiều sâu của các lớp đất tương ứng với các vùng đất có điều kiện khí hậu khác nhau, với chất lượng và thành phần đất khác nhau

Chất rắn là thành phần chủ yếu của đất, bao gồm chất rắn vô cơ và chất rắn hữu

cơ Chất rắn vô cơ chiếm 97-98 % khối lượng khô tuyệt đối của đất Trong đất có khoảng 74 nguyên tố tồn tại dưới dạng hòa tan và liên kết Chất hữu cơ của đất tuy chỉ chiếm vài phần trăm khối lượng đất nhưng có ý nghĩa đối với đời sống thực vật, thể hiện độ màu mỡ của đất

Đất là môi trường sinh thái khá ổn định nên sinh vật sống trong đất khá phong phú Tóm lại, cuộc sống của tất cả các loài sinh vật và cả con người đều phụ thuộc vào đất

1.1.2.2Môi trường nước

Nước là một trong những thành phần cơ bản của thiên nhiên, là thành phần cơ bản không thể thiếu của tất cả các tế bào sống

Nước tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của sinh vật: là môi trường sống của sinh vật thủy sinh, là môi trường cho các phản ứng sinh hóa học diễn ra trong cơ thể sống, là nguyên liệu cho quá trình tổng hợp và quá trình sinh lý của cơ thể sinh vật,

là phương tiện vận chuyển và trao đổi chất

Nước tham gia trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể Nước còn giữ vai trò quan trọng trong sự sinh sản và phát tán giống nòi

Tóm lại, nước có vai trò quan trọng đối với các sinh vật và con người Nước cần cho nhu cầu sống của cơ thể

1.1.2.3Môi trường không khí

Không khí tồn tại ở lớp vỏ ngoài của Trái đất gọi là khí quyển, ranh giới là bề mặt thủy quyển, thạch quyển và ranh giới trên là khoảng không vũ trụ.Khí quyển Trái

Trang 20

đất được hình thành do sự thoát hơi nước, các chất khí từ thủy quyển và thạch quyển Thời kì đầu, khí quyển chủ yếu gồm hơi nước, amoniac, metan, các loại khí trơ và hydro

Thành phần của không khí có tác động đến đời sống của sinh vật Không khí còn chứa trong đất và trong cơ thể sống, là thành phần quan trọng của hệ sinh thái Không khí chính là vật cản các dòng bức xạ tới và bức xạ phản xạ trong khí quyển, làm cho nhiệt độ trên Trái đất được ổn định, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm ít thay đổi, tạo điều kiện cho sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của sinh vật Không khí còn là môi trường chuyển tải âm thanh, ánh sáng, mùi…

1.1.2.4Môi trường sinh vật

Môi trường sinh vật tồn tại trên lớp vỏ Trái đất hay còn gọi là sinh quyển bao gồm môi trường sống của vi sinh vật, môi trường sống của thực vật, môi trường sống của động vật

Sự tương tác qua lại giữa cơ thể sống với môi trường sống của chúng có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các môi trường sống Vì vậy, bảo vệđa dạng sinh học không chỉ bảo vệ vốn gen mà còn bảo vệ sự cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường sống của chúng ta

Các nhân tố sinh thái: nhân tố vô sinh, nhân tố hữu sinh và nhân tố con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự thay đổi của nhân tố sinh thái này sẽ góp phần làm thay đổi nhân tố sinh thái kia và ngược lại Chẳng hạn, ánh sáng sẽ thay đổi nhiệt độ, độẩm không khí Phần lớn các nhân tốđều thay đổi theo không gian và thời gian Nhân tố con người được tách ra khỏi nhân tố hữu sinh thành một nhân tốđộc lập Do

có sự phát triển cao về trí tuệ nên con người đã tác động vào thiên nhiên, biến các cảnh quan hoang sơ thành các cảnh quan văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình Vì vậy, hoạt động của con người đã làm thay đổi mạnh mẽ về môi trường theo hướng tích cực nhưng nhiều khi gây bất lợi cho môi trường vốn có của tự nhiên

1.1.3Chức năng của môi trường

1.1.3.1Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới vật chất

Trang 21

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như:

+ Nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất, kho tàng, bến cảng, đường xá…

+ Mỗi ngày, mỗi người cần 4m3 không khí sạch để thở, 2,5 lít nước sạch để uống, một lượng lương thực thực phẩm tương đương với 2000-2400 calo

- Như vậy, môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người và không gian này đòi hỏi phải đạt những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, cảnh quan và xã hội

- Tuy nhiên hiện nay, diện tích không gian sống bình quân trên Trái Đất của con người ngày càng thu hẹp:

Năm 1994: Dân số thế giới là 5 tỷ người nên diện tích là 3ha/người

Năm 2010: Dân số thế giới là 7 tỷ người nên diện tích là 1,88ha/người

Ở Việt Nam, diện tích đất canh tác/đầu người cũng ngày càng bị thu hẹp Năm

1960, diện tích là 0,16ha/người; năm 1970 diện tích là 0,13ha/ người; năm 2000 diện tích là 1,10ha/người

1.1.3.2Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên

- Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử khai thác các nguồn TNTN (thông qua lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ) để phục vụ cho nhu cầu

và sự phát triển của xã hội loài người

- Môi trường cung cấp các nguồn nguyên vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lý con người

1.1.3.3Môi trường là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin cho con người

- Môi trường là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu giữ lịch sửđịa chất, sự tiến hóa của sinh vật, sự xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người

- Môi trường là nơi cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mạng tính tín hiệu, báo động sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật trên Trái Đất như bão, động đất, núi lửa, sóng thần…

Trang 22

- Môi trường là nơi lưu giữ và cung cấp cho con người sựđa dạng về các nguồn gen, các loài sinh vật, các hệ sinh thái tự nhiên, các cảnh quan thiên nhiên, các giá trị văn hóa, tôn giáo…

1.1.3.4Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra

- Trong quá trình sống, sản xuất, tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn đào thải ra môi trường các chất thải Các chất thải dưới tác dụng của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác sẽ bị phân hủy, biến đổi, nó tham gia vào hàng loạt quá trình sinh địa hóa phức tạp

- Sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị làm cho lượng chất thải tăng lên không ngừng Ở nhiều nơi, nhiều chỗ, lượng chất thải trở nên quá tải đối với môi trường

- Môi trường có khả năng biến đổi, phân hủy các chất thải:

+ Biến đổi lý, hoa học: Pha loãng hoặc phân hủy hóa học nhờ ánh sáng, nhờ hấp thụ…

+ Biến đổi sinh hóa: Sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình Ni tơ và Các bon, khửđộc bằng sinh hóa

+ Biến đổi sinh học: Khoáng hóa các chất hữu cơ, mùn hóa…

Tất cả những khả năng tiếp nhận và phân hủy trên gọi là khả năng đệm của môi trường Tuy nhiên, khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm hoặc thành phần chất thải có nhiều độc tố, vi sinh vật sẽ gặp nhiều khó khăn trong phân hủy dẫn đến khả và chất lượng môi trường kém đi và dẫn đến môi trường bị ô nhiễm

1.1.4 Sự tác động của con người đối với môi trường

1.1.4.1Lịch sử tác động của con người đến môi trường -

Thời kỳ nguyên thủy:

Trong thời kỳ này con người sống hòa nhập với tự nhiên, phụ thuộc vào sản phẩm vốn có của tự nhiên Cách kiếm sống chủ yếu là săn bắt và hái lượm Nhiều tập tính của con người giống với một số loài động vật Chẳng hạn con người chỉ săn bắt động vật, hái lượm thực vật vì sự tồn tại của mình một cách tự nhiên, nghiêng về bản

Trang 23

ít, phương tiện săn bắt, hái lượm thô sơ nên con người dễ hòa đồng vào môi trường tự nhiên Tuy nhiên, do cuộc sống đòi hỏi, do lao động phát triển tư duy, con người đã tìm cách chế tạo ra những công cụ săn bắt hái lượm có hiệu quả hơn Đặc biệt, con người đã biết sử dụng lửa để sưởi ấm, để nướng chín thức ăn nhưng đồng thời cũng tạo nên nhiều đám cháy rừng có quy mô lớn

Như vậy, rõ ràng ở thời kỳ này con người đã bắt đầu tác động đến môi trường nhưng mức độ thấp Do đó, các chức năng của môi trường nhanh chóng được phục hồi

- Thời kỳ nông nghiệp:

Việc chuyển từ phương thức kiếm sống bằng săn bắt và hái lượm sang phương thức làm nông nghiệp, đánh dấu bước tiến vượt bậc trong quá trình phát triển của loài người Việc trồng cây, chăn nuôi gia súc đã giúp con người chủđộng tìm kiếm và cất giữ thức ăn Sản xuất nông nghiệp đã có tác động rất lớn đến tài nguyên và môi trường

Để có đât canh tác, con người phải đốt phá rừng- là nơi sinh sống và trú ngụ của nhiều loài động thực vật Để mùa màng bội thu, con người phải cày xới, thiết lập hệthống thủy lợi làm thay đổi cả tầng đất mặt và cả chếđộ nước tầng mặt Những thay đổi ngày càng mạnh và hậu quả của nó là nhiều vùng bị sa mạc hóa, khô cằn không có khả năng hồi phục

Giai đoạn đầu của nền văn minh nông nghiệp, phương thức canh tác chính của con người là chọc tỉa và du canh du cư Để có đất trồng trọt, con người tìm những vùng đất thích hợp, đưa cả bộ tộc đến ở, sau đó chặt cây, đốn rừng, dùng gậy hoặc đồ dùng thô sơ chọc lỗ, tra hạt và chừđợi ngày thu hoạch Với phương thức canh tác như vậy, vùng đất trồng bị suy giảm độ màu mỡ rất nhanh, chủ yếu là do xói mòn đất Kết quả là sau một thời gian không dài con người lại phải khai phá vùng rừng mới và đến khi toàn bộvùng rừng đã bị khai thác hết họ phải kéo cả bộ tộc đến nơi ở mới Hiện nay, phương thức này vẫn còn tồn tại nhiều nơi trên thế giới

Giai đoạn tiếp theo là định canh định cư do dân số tăng, diện tích đất bị thu hẹp Đểđảm bảo lương thực và thực phẩm cho số dân ngày càng đông con người buộc phải thâm canh tăng năng suất

Trang 24

Với phương thức sản xuất nông nghiệp, con người đã sản xuất ra nhiều lương thực và thực phẩm và chủđộng hơn về nguồn sống Dân số tăng nhanh đòi hỏi mức độ khai thác tài nguyên đất, rừng tăng lên, đồng nghĩa với việc tài nguyên đất bị suy thoái trên phạm vi ngày càng lớn

- Thời kỳ công nghiệp:

Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, con người đã từng bước giải quyết được vấn đề lương thực, thực phẩm và những nhu cầu khác Con người cũng đã chủđộng hơn với việc chống chọi với thiên tai Tuy nhiên, bằng bàn tay lao động và tư duy sáng tạo, con người đã nghiên cứu, chế tạo ra nhiều công cụ, máy móc, thiết bị kì diệu Nhiều loại nguyên vật liệu xây dựng mới được phát hiện như xi măng Ngành cơ khí phát triển, máy móc hiện đại thay thế sức người, thuốc bảo vệ thực vật làm cho năng suất và sản lượng lương thực ngày càng tăng

Những năm cuối của thế kỷ XX, công nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc, nhiều dụng cụ và thiết bị tinh xảo được sản xuất Lượng nhiên liệu tiêu thụ tăng vọt, lượng chất thải xả vào môi trường cũng tăng lên nhanh chóng Giao thông vận tải phát triển với hệ thống đường và nhiêu chủng loại phương tiện đã làm cho bề mặt đất bị biến dạng Diện tích đất nông ngiệp thu hẹp đáng kể Đường giao thông, cơ sở hạ tầng

mở rộng làm thu hẹp lớp phủ thực vật, khả năng thấm và giữ nước trên bề mặt, tăng tần số dòng chảy mặt gây lũ lụt trong mùa mưa

Lượng nước thải, khí thải tạo ra ngày càng nhiều vượt quá khả năng đồng hóa của môi trường, gây nhiều tác động xấu đến hệ sinh thái và chính con người

Rác thải ở các đô thị cũng tăng nhanh gây mất vẻđẹp mỹ quan đô thị và là tác nhân gây bệnh tật Nước thải chứa các chất chống ô nhiễm đã làm nhiễm bẩn các thủy vực thu nhận nước và cả nước ngầm Như vậy, khoa học và công nghệ phát triển đã giúp cải thiện về cơ bản cuộc sống của con người nhưng lại dẫn đến suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường

1.1.4.2Tác động của con người đến các thành phần của môi trường - Tác

động đến lớp phủ thực vật:

Trang 25

Lớp phủ thực vật đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người vì nó cung cấp nguồn thức ăn cơ bản, nguồn vật liệu xây dựng, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp nhiên liệu và thuốc chữa bệnh

Một trong những tác động lớn đầu tiên của con người đến thảm thực vật là cháy rừng liên quan đến việc dùng lửa Hơn một nủa vụ cháy rừng có nguồn góc tự nhiên, phần còn lại do con người cố tình hoặc vô tình gây nên

Tác động thứ hai là phá rừng lấy đất làm nông nghiệp, khai thác gỗ, củi, khai thác khoáng sản, xây dựng hồ thủy điện, làm đường cao tốc làm cho diện tích rừng bị thu hẹp đáng kể

Ở nước ta, việc nhập ốc bươu vàng đã gây hậu quả nghiêm trọng ở nhiều địa phương Chính vì vậy, nhiều nước đã có quy định nghiêm ngặt về việc nhập giống ngoại lai và cả những sản phẩm tươi sống

- Tác động của con người đến tài nguyên đất:

Do khái thác quá khả năng phục hồi với kỹ thuật canh tác không hợp lý mà hàng năm trên thế giới có gần 70.000 km 2đất canh tác bị hoang mạc hóa Diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kinh tế nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Hoang mạc hóa hiện đang đe dọa gần 1/3 diện tích đất của Trái đất

Xói mòn do mưa và gió dẫn đến thoái hóa đất nhanh chóng Hiện tượng này xảy

ra nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đây là vấn đề lớn, đặc biệt ở nước ta khi có tới ¾ diện tích đất là đồi núi Những vùng đất trống, đồi núi trọc xuất hiện ở nhiều nơi, do khai thác quá mức thảm thực vật, chính là hậu quả của xói mòn và các quá trình diễn ra sau đó

- Tác động của con người lên biển và đại dương:

Biển và đại dương là cái nôi của sự sống từ xa xưa và là nơi có tính đa dạng về loài rất lớn Hệ thống khí quyển và đại dương có vai trò to lớn trong việc điều hòa khí hậu Trái đất Trong lòng đại dương có rất nhiều thức ăn và khoáng sản Vì vậy, tư xa xưa con người đã biết khai thác đại dương để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình Hiện tượng đánh bắt hải sản quá mức làm cho một số loài cá bị giảm về trữ lượng và số lượng đánh bắt

Trang 26

Ô nhiễm và suy thoái môi trường biển đang có chiều hướng gia tăng đặc biệt là khả năng tích lũy chất ô nhiễm Một trong những chất ô nhiễm quan trọng là dầu Đây

là chất ô nhiễm có thời gian tồn lưu khá lâu dài, loang nhanh và có khả năng chiếm lĩnh diện tích mặt biển khá lớn

1.1.5Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

1.1.5.1Quá trình nhận thức

a) Tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủđịnh, do đó các em phân biệt những đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn, ví dụ chúng khó phân biệt cây mía với cây sậy…Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng học sinh tiểu học không có khả năng phân tích, tách các dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Vấn đề là ở chỗ tri giác,

sự phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc ở học sinh các lớp đầu bậc tiểu học còn yếu

Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát

có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên tiểu học là rất lớn Giáo viên là người hằng ngày không chỉ dạy trẻ kĩ năng nhìn, mà còn hướng dẫn các

em xem xét, không chỉ dạy nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe, tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của học sinh để tri giác một đối tượng nào đó, dạy trẻ biết phát hiện những dấu hiệu thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng Điều này cần được thực hiện không chỉ trong lớp mà cảđi tham quan, dã ngoại

b) Chú ý

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học chú ý có chủđịnh của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy Nếu học sinh ở các lớp cuối bậc học chú ý có chủđịnh được duy trì ngay

cả khi chỉ có động cơ xa thì học sinh các lớp đầu bậc học thường bắt mình chú ý khi có động cơ gần

Trang 27

Trong lứa tuổi học sinh tiểu học, chú ý không chủđịnh được phát triển Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em, không có sự nỗ lực của ý chí Sự chú ý không chủđịnh càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp gợi cho các em cảm xúc tích cực Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mô hình…là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý Tuy vậy, cần nhớ rằng, học sinh tiểu học rất mẫn cảm Những ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra một trung khu hưng phấn mạnh ở vỏ não, kết quả sẽ kìm hãm khả năng phân tích và khái quát tài liệu học tập c) Trí nhớ

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh lứa tuổi này tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Học sinh lớp một và hai có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó Cho nên cũng dễ hiểu các em thường học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng câu, đúng chữ mà không sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình

Nhiệm vụ của giáo viên là gây học tập cho học sinh tâm thếđể ghi nhớ, hướng dẫn các em thủ thuật ghi nhớ tài liệu học tập, chỉ cho các em đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học tránh để các em ghi nhớ máy móc, học vẹt…

d) Tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của học sinh phát triển không đầy đủ thì nhất định sẽ gặp khó khăn trong hành động Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ em chưa đến trường Đây là lứa tuổi thơ mộng giúp cho phát triển tưởng tượng Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của

Trang 28

các em càng gần hiện thực hơn Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú, đã lĩnh hội được những tri thức khoa học do nhà trường đem lại

Trong dạy học ở tiểu học, giáo viên cần hình thành biểu tượng thông qua sự mô

tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên trong các giờ lên lớp được xem là phương tiện trực quan trong dạy học Ngôn ngữ chính xác, giàu nhạc điệu và tình cảm của giáo viên là yêu cầu bắt buộc Trong dạy học, giáo viên cần sử dụng đồ dùng dạy học và tài liệu dạy học sinh động Phim tài liệu học tập có thể diễn tảđược biểu hiện của một quá trình nào đó mà hình vẽ, biểu đồ, mô hình có khi không có khả năng làm điều đó e)

Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Hoạt động phân tích tổng hợp còn sơđẳng, học sinh các lớp đầu bậc tiểu học chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích - trực quan - hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học sinh cuối bậc học này có thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học

không có ý nghĩa tuyệt đối mà chỉ có ý nghĩa tương đối 1.1.5.2Nhân cách học sinh tiểu

học

a) Tính cách

Tính cách của trẻ em thường được hình thành từ rất sớm Phần lớn học sinh tiểu học có nhiều nét tính cách tốt như lòng vị tha, tính ham hiểu biết, tính hồn nhiên…Tính hay bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này Có thể xem tính bắt chước như là một điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục trẻ bằng những tấm gương cụ thể nhưng cũng cần chú ý đến khả năng tiêu cực của tính bắt chước

b) Nhu cầu nhận thức

Trong những năm đầu của bậc tiểu học, nhu cầu nhận thức của học sinh phát triển rất rõ, đặc biệt nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết Đầu tiên là nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, những hiện tượng riêng biệt, sau đó đến nhu cầu gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng

Trang 29

Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần Đối với học sinh tiểu học, nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trí tuệ Các

em không có nhu cầu nhận thức thì cũng chẳng có tính tích cực trí tuệ Nhu cầu nhận thức là nguồn năng lượng tinh thần đểđịnh hướng và tiến lên trong nhiều tình huống và cảnh ngộ khó khăn, trên con đường khám phá kho tàng tri thức của nhân loại c)Tình cảm

Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng Đối với học sinh tiểu học, tình cảm còn có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực không chỉ kích thích trẻ em nhận thức mà còn thức dậy trẻ em hoạt động Trong giáo dục tiểu học, nếu quá quan tâm đến sự phát triển của trí tuệ mà xem nhẹ giáo dục tình cảm thì sẽ làm cho nhân cách của trẻ em phiến diện Đúng là trí tuệ phát triển cao là cơ sở tốt để tình cảm,

ý chí phát triển Song không phải bao giờ vốn tri thức sâu rộng, trình độ phát triển trí tuệ cao cũng tự nó chuyển hóa thành thế giới quan và niềm tin, tình cảm và ý chí Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xuc động và khó kìm hãm cảm xúc của mình Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh, chưa bền vững và chưa sâu sắc Muốn giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học phải đi từ những hình ảnh trực quan sinh động Tình cảm của học sinh tiểu học phải luôn luôn được củng cố trong những hoạt động cụ thể d)Sự phát triển của năng khiếu

Có những học sinh làm việc gì cũng khó khăn, phải nỗ lực lắm mới đạt kết quả

Ở những em khác thành công một cách dễ dàng, tưởng như chơi đùa khiến mọi người phải kinh ngạc Người ta gọi trẻ em loại thứ hai này có năng khiếu Năng khiếu được bộc lộ sớm và phát triển rất nhanh ở các lĩnh vực nghệ thuật, văn thơ, khoa học tự nhiên và kĩ thuật Học sinh tiểu học thường bộc lộ năng khiếu thơ ca, nghệ thuật Những em này thường thích vẽ, nhạc, hát Việc phát hiện những khả năng của các em trong lĩnh vực này, tổ chức các hoạt động tương ứng, một mặt có tác dụng phát triển những tình cảm thẩm mĩ, mặt khác góp phần bồi dưỡng những năng khiếu này ở các

em

1.1.6 Tìm hiểu việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

1.1.6.1Mục tiêu của giáo dục môi trường ở bậc tiểu học

Trang 30

- Mục đích cuối cùng của việc GDMT trong nhà trường nói chung và trong trường tiểu học nói riêng là: Mỗi trẻ em được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với

sự phát triển bền vững của Trái Đất, một khả năng biết đánh giá vẻđẹp của thiên nhiên

và một giá trị nhân cách sâu sắc bởi một nền tảng đạo lý vì môi trường Mục tiêu cụ thể GDMT ở bậc tiểu học:

a) Về kiến thức: Giáo dục BVMT ở bậc tiểu học nhằm giúp học sinh có một số kiến thức cơ bản thiết thực về:

+ Các thành phần môi trường tự nhiên: Đất, nước, không khí, ánh sáng, động thực vật và mối quan hệ giữa chúng

+ Mối quan hệ giữa con người và các thành phần của môi trường tự nhiên

+ Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường tự nhiên và hậu quảđối với con người + Biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh: môi trường nhà ở, lớp học, trường học, thôn xóm, làng bản, phố phường…

b) Về thái độ: Từng bước phát triển những tình cảm và thái độ:

+ Tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên, yêu quý gia đình, trường lớp, quê hương, đất nước

+ Thái độ thân thiện với môi trường

+ Có ý thức quan tâm đến các vấn đề môi trường xung quanh, giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường xung quanh

c) Về kĩ năng: Bước đầu hình thành và rèn luyện các kĩ năng, hành vi:

+ Phát triển các kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh

+ Kĩ năng chăm sóc cây cối và động vật

+ Kĩ năng vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường

+ Hành vi sống ngăn nắp, sạch sẽ Sống hòa nhã, gần gũi với thiên nhiên

+ Tham gia các hoạt động trồng, chăm sóc cây xanh, các loài vật làm cho môi trường xanh, sạch, đẹp

+ Biết sống tiết kiệm, chia sẻ và hợp tác

Trang 31

- Trẻ em cần được rèn luyện để có kiến thức và giá trị cho phép họ sống một cách bền vững Điều này đòi hỏi GDMT phải gắn liền với giáo dục xã hội: GDMT giúp cho trẻ em hiểu được thế giới tự nhiên xung quanh và con người cần phải sống hòa hợp với thế giới đó Giáo dục xã hội đem lại hiểu biết về cách ứng xử của con người và sự tôn trọng đối với tính đa dạng của văn hóa

1.1.6.2Nguyên tắc của việc giáo dục môi trường trong nhà trường nước ta

- Nhà nước Việt Nam coi GDMT là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và là sự nghiệp của toàn dân Để thực hiện GDMT nhà nước có hệ thống tổ chức

từ trung ương đến địa phương và đến từng Sở giáo dục và Đào tạo, thông qua quản lý nhà nước của Bộ giáo dục và Đào tạo

- GDMT là thành phần bắt buộc trong chương trình giáo dục đào tạo và phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học giáo dục hiện hành tạo cơ hội bình đẳng về GDMT cho mọi người học, mọi cấp bậc học từ dưới lên trên Tại những cấp học bậc dưới của hệ thống giáo dục quốc dân, GDMT được kết hợp vào những nơi thích hợp của chương trình hiện hành Những vấn đề môi trường được dạy thông qua nhiều môn học

- Triển khai GDMT bằng các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, học sinh bằng những hoạt động của chính mình mà thu được hiệu quả thực tiễn Thầy giáo

là người tổ chức các hoạt động GDMT dựa trên chương trình quy định và tìm cách vận dụng phù hợp với địa phương

- GDMT được thực hiện: về môi trường, trong môi trường và vì môi trường, trong đó hiệu quả cao nhất sẽđạt được khi tạo ra được thái độ và tình cảm vì môi trường

- Đưa GDMT vào nhà trường một cách tích hợp với môi trường cả trường học Những vấn đề trọng tâm của GDMT phải liên quan trực tiếp đến môi trường của địa bàn nhà trường

- Làm cho người học và người dạy nhận thấy giá trị của môi trường đối với chất lượng cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân Làm cho mọi người hiểu rằng, trong những quyền cơ bản của con người, bất kể chủng tộc hay màu da hay tín

Trang 32

ngưỡng nào đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, có nước sạch để dùng và không khí trong lành để thở

1.1.6.3Ý nghĩa của việc giáo dục môi trường trong trường tiểu học

Bậc tiểu học là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân, số lượng học sinh ở bậc học này rất lớn, lên tới hàng chục triệu người Theo thống kê năm 2008, nước ta có 7 triệu học sinh tiểu học và 323,506 giáo viên tiểu học với 15,028 trường tiểu học Đây là một lực lượng hùng hậu, những chủ nhân tương lai của đất nước Các

em đều là những học sinh ở lứa tuổi nhỏ từ 6 đến 11 tuổi, là tuổi đang phát triển và định hình về nhân cách, các em coi trọng và dễ nghe lời người lớn, nhất là thầy cô giáo Việc chuẩn bị cho các em những hiểu biết về môi trường để các em có ý thức, thái độ và hành vi BVMT là điều vô cùng quan trọng đối với tương lai của đất nước Học sinh tiểu học có đặc điểm tâm sinh lý rõ nét nhất là hiếu động, dễ nghịch ngợm, dễ hưng phấn và dễ xúc cảm Giáo viên rất dễ dàng giáo dục tình cảm yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây, chim thú, biết nâng niu chăm sóc, nhưng nếu không giáo dục kịp thời, đúng lúc các em cũng rất dễ có những hành động phá hoại môi trường một cách

vô ý thức hoặc có ý thức như leo cây, bẻ cành, bắt chim…

Bậc tiểu học còn là bậc học phổ cập, như vậy không chỉ trẻ em mà cả người lớn dưới 45 tuổi cũng được thừa hưởng bậc giáo dục này, đây là cơ hội rất tốt để có thể giáo dục ý thức, thái độ và hành vi BVMT cho đông đảo nhân dân, điều này có ý nghĩa chiến lược to lớn trong phát triển bền vững quốc gia

1.1.6.4Sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

Môi trường là vấn đềđã và đang thu hút sự quan tâm của nhân loại Trong mấy chục năm trở lại đây, do sự phát triển của khoa học - kĩ thuật, sự gia tăng dân số quá nhanh và quá trình đô thị hóa quá mạnh mẽđã làm cho cường độ khai thác và sử dụng các nguồn TNTN ngày càng lớn Kết quả là nhiều nguồn TNTN có nguy cơ bị cạn kiệt, nhiều hệ sinh thái bị phá hủy, rối loạn và môi trường sống của chúng ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng với quy mô toàn cầu

Trang 33

Để bảo vệ môi trường tự nhiên - cái nôi sinh thành của mình, con người đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau trong đó có biện pháp giáo dục ý thức BVMT Giáo dục ý thức BVMT được xem là biện pháp có hiệu quả bởi vì nó giúp con người có được biện pháp đúng đắn trong việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và

có ý thức trong việc thực hiện các nhiệm vụ BVMT

Hiện nay, việc giáo dục ý thức BVMT qua giảng dạy trong các trường học, nhất

là các trường tiểu học - bậc học nền móng của ngành giáo dục có ý nghĩa và chiến lược chiếm vị trí đặc biệt

Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước, những người sẽ thực hiện khai thác, sử dụng, tái tạo và bảo vệ các nguồn TNTN và môi trường của đất nước sau này Nếu ngay từ bậc tiểu học, các em nhận thức được đầy đủ các vấn đề của môi trường thì khi ra đời, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, hoạt động nào, các em đều có thể thực hiện nhiệm vụ BVMT một cách có hiệu quả Chính vì vậy, việc giáo dục ý thức BVMT phải được đưa vào ngay từ bậc tiểu học nhằm mục đích trang bịđầy đủ cho học sinh cả về ý thức lẫn trách nhiệm đối với môi trường tự nhiên Nhận thức được tầm quan trọng nên Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, trong quyết đinh số 1363/QDD - Ttg ngày 17/ 10/ 2001 của Thủ tướng Chính phủđã phê duyệt đề án “ Đưa ra các nội dung giáo dục BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”

Cụ thể hóa và phát triển ngày 30/ 01/ 2005 phải trang bị cho học sinh kiến thức về môi trường và BVMT bằng nhiều hình thức phù hợp, xây dựng mô hình trường xanh - sạch

- đẹp Đích quan trọng của giáo dục BVMT là con người phải có thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự với môi trường Điều này phải được hình thành và phát triển lâu dài ngay từ tuổi ấu thơ

BVMT để phát triển bền vững đã trở thành một xu thế tất yếu của thời đại Việc nâng cao ý thức BVMT cho cộng đồng nói chung và học sinh tiểu học nói riêng là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm đảm bảo sự tồn tại của Trái đất - ngôi nhà chung của chúng ta

1.2CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và chương trình dạy học Mĩ thuật ở tiểu học

Trang 34

1.2.1.1Mục tiêu dạy học Mĩ thuật ở tiểu học

Dạy Mĩ thuật ở các trường phổ thông không nhằm đào tạo tất cả học sinh thành những họa sĩ chuyên làm công tác nghệ thuật mà chủ yếu cho các em làm quen, tiếp xúc với hoạt động nghệ thuật để các em có được cách nhìn, cách cảm thụđược cái đẹp

ở thế giới xung quanh các em, giúp các em nâng cao tính sáng tạo, óc thẩm mỹ, sự hiểu biết của các em về nhiều mặt

- Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về: Giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen, cảm nhận được vẻđẹp của thiên nhiên, của đời sống và của các sản phẩm mĩ thuật

- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môn Mĩ thuật, hình thành và củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành bài tập trong chương trình

- Các em biết tạo ra những cái đẹp và áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày (trong học tập - trong sinh hoạt) biết giữ gìn và bảo vệ những cái đẹp tạo môi trường thẩm mĩ cho xã hội

- Giúp cho học sinh phát triển khả năng quan sát, phân tích, tư duy, hình tượng, năng lực sáng tạo, góp phần hình thành những con người có phẩm chất lao động mới đểđáp ứng được sự phát triển của xã hội

- Ngoài ra cũng giúp các em ý thức tư duy sáng tạo để áp dụng vào làm bài tập một cách tốt nhất Học Mĩ thuật cũng còn giúp các em nề nếp làm việc khoa học Suy nghĩ làm ra cái đẹp và tính cần cù chịu khó trong công việc học tập

- Tạo điều kiện cho các em học tốt các môn học khác Tri thức Mỹ thuật có liên quan đến môn học khác, nó hỗ trợ nhau làm cho nhận thức của các em thêm phong phú Bản thân môn Mỹ thuật rất cần tri thức của các môn khác, còn môn Mỹ thuật sẽ giúp cho các em học tốt các môn khác (trang trí bài vở sao cho đẹp) Nếp suy nghĩ tìm tòi sáng tạo làm việc có khoa học ở môn Mỹ thuật sẽ giúp cho các em có phương pháp làm bài tập có hiệu quả

Trang 35

- Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu mĩ thuật của học sinh Thường xuyên bồi dưỡng những năng khiếu tạo điều kiện cho một số em có khả năng theo các trường chuyên nghiệp

- Muốn các em học tốt môn Mỹ thuật phải tạo cho các em sự thoải mái phấn khởi trong giờ học (học mà chơi – chơi mà học) Môn Mỹ thuật là môn học kiến thức vừa cụ thể rõ ràng, vừa chung chung trừu tượng Vì vậy giáo viên phải nắm vững kiến thức bộ môn và kiến thức một số môn học khác để khi giảng dạy phải liên hệ thực tiễn xung quanh Môn Mỹ thuật là môn trực quan các tiết học đều phải có đồ dùng dạy học Môn Mỹ thuật là môn rèn luyện tri giác thị giác và khả năng thể hiện đối tượng cho học sinh nên phải hướng dẫn các em cách nhìn, cách suy nghĩđể nhận biết, cảm thụ cái đẹp Môn Mỹ thuật là môn thực hành cho nên phải lấy thực hành là chính, phải cho các

em luyện tập nhiều lặp đi lặp lại để tìm ra cái mới

1.2.1.2Nhiệm vụ dạy học Mĩ thuật ở tiểu học - Giáo

dục thẩm mĩ là chính

- Giúp học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và bằng kiến thức, kinh nghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống; đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt, học tập hàng ngày

- Góp phần tạo dựng môi trường thẩm mĩ cho xã hội

1.2.1.3Chương trình dạy học Mĩ thuật lớp 4,5

Từ lâu, môn Mĩ thuật là một môn học chính thức trong chương trình giảng dạy ở trường tiểu học Nó gắn bó chặt chẽ với các môn học khác để tạo ra chất lượng đào tạo

Do đặc điểm môn học nên chương trình Mĩ thuật ở tiểu học được cấu tạo theo hướng đồng tâm, có nghĩa là những vấn đềđề cập ở lớp dưới sẽđược cung cấp và phát triển ở các lớp trên Nhưng ở mỗi lớp có những yêu cầu về mức độ khác nhau, những lớp sau yêu cầu bao giờ cũng cao hơn lớp trước Chương trình Mĩ thuật ở tiểu học có 5 phần:

Vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh, tập nặn tạo dáng và thường thức mĩ thuật

Cũng giống như chương trình Mĩ thuật lớp 1,2,3, chương trình Mĩ thuật lớp 4,5 cũng gồm 35 tiết tương ứng với 35 tuần trong năm học của học sinh Có 9 bài vẽ tranh,

9 bài vẽ theo mẫu, 8 bài vẽ trang trí, 4 bài thường thức mĩ thuật, 4 bài tập nặn tạo dáng

Trang 36

và 1 bài tổng kết 34 bài trong 5 phân môn được sắp xếp xen kẽ nhau xuyên suốt chương trình học, vừa có tác dụng bổ trợđồng thời kiến thức, kĩ năng và cả thái độ cho các em trong quá trình học Mĩ thuật

- Phân môn vẽ theo mẫu nhằm giúp các em hiểu được cái đẹp của đường nét, mảng hình, đậm nhạt, bố cục

- Phân môn vẽ trang trí giúp các em thấy được cái đẹp của trang trí qua đó ứng dụng vào trang trí các đồ vật trong cuộc sống hàng ngày Vẽ trang trí là phân môn gây được hứng thú cho học sinh bởi sự hấp dẫn của màu sắc và sự phong phú cũng như vẻđẹp của họa tiết, do đó tính hiệu quả của bài vẽ học sinh thường cao hơn Đồng thời

vẽ trang trí còn giúp học sinh hiểu và yêu thêm nền Mĩ thuật dân tộc

- Phân môn vẽ tranh về các đề tài, thể loại ở lớp 4,5 gần gũi với sinh hoạt, học tập của học sinh, những nội dung mà các em hiểu và yêu thích Khi thể hiện những bài vẽ này sẽ giúp học sinh vận dụng những hiểu biết về vẽ theo mẫu, vẽ trang trí cũng như thường thức mĩ thuật vào vẽ tranh, bước đầu thể hiện những cảm xúc cá nhân khi thể hiện nội dung đề tài Vẽ tranh nhằm giúp học sinh hiểu được cách sắp xếp mảng hình, bố cục của tác phẩm nhằm tạo được tác phẩm hay cảm nhận được cái đẹp của tác phẩm đó

- Phân môn tập nặn tạo dáng là phân môn được học sinh rất thích thú, tập nặn giúp học sinh làm quen với thế giới xung quanh, giúp học sinh tập quan sát, nhận xét và rèn luyện khả năng tạo hình bằng hình khối Tập nặn tạo dáng tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, tìm hiểu và bước đầu có cảm nhận vẻđẹp về hình khối của thế giới xung quanh, từđó có ý thức giữ gìn, bảo vệ vẻđẹp của thiên nhiên, có ý thức tạo ra cái đẹp Tập nặn tạo dáng nhằm giúp các em rèn luyện khả năng tạo hình theo ý thích qua hình khối đơn giản của trái cây, con vật và người

- Phân môn thường thức mĩ thuật nhằm mục đích cho học sinh làm quen, tiếp xúc với các bức tranh đẹp, thông qua ngôn ngữ của mĩ thuật là hình, nét, màu sắc, bố cục… góp phần giúp các em có những hiểu biết ban đầu và các kiến thức sơđẳng về thường thức cái đẹp trong Mĩ thuật, bước đầu hình thành cho các em tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ tốt, lành mạnh Thường thức mĩ thuật trong chương trình lớp 4,5 nhằm giới

Trang 37

thiệu sơ lược cho các em biết được quá trình phát triển môn Mĩ thuật trên thế giới và Việt Nam, biết vẻđẹp sơ lược của các tác phẩm mĩ thuật

Như vậy đối với từng phân môn phải áp dụng giáo dục môi trường sao cho khéo léo và phù hợp với từng lứa tuổi, từng khối lớp

1.2.1.4Nội dung cơ bản của môn Mĩ thuật lớp 4,5

Nội dung môn Mĩ thuật từ lớp 1 đến lớp 5 được trình bày cụ thể trong chương trình từng khối lớp, nhìn chung có những nội dung chính sau:

- Vẽ theo mẫu: Hướng dẫn học sinh vẽ từ những nét đơn giản như thẳng, cong, … đến những mẫu có cấu trúc phức tạp như vẽ mẫu có hai đồ vật

- Vẽ trang trí: Trang trí là nghệ thuật sắp xếp đường nét, hình mảng, màu sắc họa tiết trên mặt phẳng giấy hay trong không gian theo nguyên tắc để tạo nên sản phẩm đẹp, hợp nội dung, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của con người Nội dung cơ bản của vẽtrang trí lớp 4,5 là hướng dẫn học sinh vẽ từ bài tập đơn giản như vẽ tiếp hình có sẵn, vẽ màu vào hình có sẵn đến những bài tập sáng tạo về bố cục và hoạ tiết một cách đơn giản

- Vẽ tranh: Hướng dẫn học sinh thể hiện cảm nhận của mình qua bài vẽ về những đề tài: sinh hoạt, lễ hội, phong cảnh hoặc vẽ chân dung, tĩnh vật và vẽ tự do, …

- Tập nặn tạo dáng: Hướng dẫn học sinh rèn luyện khả năng tạo hình theo ý thích qua hình khối đơn giản của trái cây, con vật và người, …

- Thường thức mĩ thuật: Gới thiệu các tác phẩm mĩ thuật để học sinh tiếp xúc, làm quen và thường thức cái đẹp của chúng Thông qua các tác phẩm mĩ thuật, giúp học sinh hiểu hơn về cuộc sống, bồi dưỡng tình cảm với quê hương với cộng đồng góp phần giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mĩ cho các em Thường thức mĩ thuật lớp 4,5 hướng dẫn học sinh tìm hiểu và cảm nhận một số tác phẩm nghệ thuật và một

số tranh thiếu nhi trong nước và thế giới

1.2.2 Tìm hiểu thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 4,5 thông qua môn Mĩ thuật

Trang 38

1.2.2.1 Thực trạng học giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 4,5 thông qua môn Mĩ thuật

a) Mục đích nghiên cứu thực trạng

Việc nghiên cứu thực trạng học giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của học sinh trong đề tài này nhằm tìm hiểu những mong muốn, phản hồi từ phía học sinh Từđó làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong môn

Mĩ thuật nói riêng và dạy học tiểu học nói chung một cách nhẹ nhàng, hiệu quả, phù hợp với mọi đối tượng được giáo dục

b) Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra của tôi khi thực hiện đề tài này là 305 học sinh thuộc khối lớp

4 và 5 của trường tiểu học Hải Vân và trường tiểu học Trần Cao Vân thuộc địa bàn thành phốĐà Nẵng

175 học sinh của trường tiểu học Hải Vân 130 học

sinh của trường tiểu học Trần Cao Vân

c) Nội dung điều tra

- Tìm hiểu sự yêu thích và hứng thú của học sinh khi học môn Mĩ thuật

- Tìm hiểu khả năng và mức độ vận dụng bảo vệ môi trường vào thực

d) Phương pháp điều tra

- Phương pháp An-két: Các nội dung tôi đưa ra ở trên được thể hiện dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm trong phiếu điều tra

- Phương pháp xử lí thống kê: Tôi đã phát 305 phiếu và thu lại 299 phiếu Sau khi thu thập số liệu từ phiếu điều tra, tôi tiến hành xử lí thống kê qua đó nhận xét

Trang 39

e) Kết quảđiều tra

Để tìm hiểu tôi đã đưa ra những câu hỏi trong phiếu điều tra như sau:

- Câu hỏi 1: Em có thích học môn Mĩ thuật không?

A Có B

Không

Bảng 1.1: Bảng thể hiện sự yêu thích học môn Mĩ thuật của học sinh

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thể hiện sự yêu thích học môn Mĩ thuật của học sinh

Qua kết quảđiều tra, tôi nhận thấy hầu hết học sinh đều yêu thích học môn Mĩ thuật (92,97%) Điều đó cho thấy không những các em yêu thích học các môn học văn hóa khác mà còn yêu thích học những môn năng khiếu, cụ thểđó là môn Mĩ thuật Môn

Mĩ thuật giúp các em tiếp xúc với hoạt động nghệ thuật, biết được những tiêu chuẩn của cácđẹp, cảm nhận được vẻđẹp của tác phẩm hội họa, quê hương đất nước, phát triển năng khiếu và khả năng sáng tạo Kết quảđiều tra còn cho thấy có 21 em chiếm 7,03% trong tổng số các học sinh không thích học môn Mĩ thuật và qua tìm hiểu thì tôi được biết đó cũng chính là những em lười học các môn học khác

Trang 40

- Câu hỏi 2: Trong quá trình thầy (cô) dạy học các bài học trong môn Mĩ thuật,

em thích hoạt động nào?

A Quan sát

B Thảo luận

C Thực hành

Bảng 1.2 Bảng thể hiện sự yêu thích các hoạt động dạy học các bài học trong môn Mĩ thuật

STT Trả lời Số phiếu Tỉ lệ phần trăm (%)

và có một số ít học sinh thích hoạt động thảo luận (6,37%)

- Câu hỏi 3: Em có hứng thú khi học các bài học có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Mĩ thuật không?

Ngày đăng: 26/06/2021, 19:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w