Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học” để nghiên cứu.. Phạm vi nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 21 Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về sự mở rộng các mối quan hệ của con người càng nâng cao, đòi hỏi con người phải có khả năng giao tiếp tốt Nhờ có giao tiếp mà con người có thể trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, Qua đó, mỗi cá nhân có thể tự nhận thức, tự đánh giá và điều khiển thái độ, hành
vi của mình sao cho phù hợp với các mối quan hệ khác nhau trong cuộc sống Vì vậy, hành vi giao tiếp đúng chuẩn mực, có văn hóa là nhân tố quan trọng hàng
đầu trong việc đào tạo con người phát triển toàn diện
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, trang bị những kiến thức kỹ năng đầu tiên về hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng, phát huy những tình cảm, thói quen và đức tính tốt của con người
Trong hệ thống chín môn học ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ một vị trí quan trọng bởi nó có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết
Đọc là một khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh, nhất là học sinh bởi vì nó giúp các em có thể chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Vì vậy, với hệ thống các văn bản đa dạng về nội dung và hình thức, ngoài việc hình thành năng lực đọc cho học sinh, phân môn Tập đọc còn giúp học sinh làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học; phát triển ngôn ngữ và tư duy Đồng thời nó còn góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh Trong đó, việc hình thành văn hóa giao tiếp cho học sinh Tiểu học qua phân môn Tập đọc là vấn đề rất quan trọng
Có nhiều cách để con người thể hiện hành vi giao tiếp có văn hóa của mình, trong đó có việc sử dụng hô ngữ vào lời nói trong quá trình giao tiếp Hệ thống hô ngữ trong tiếng Việt rất phong phú về khả năng kết hợp, linh hoạt và giàu sắc thái biểu cảm trong sử dụng Tuy chỉ là bộ phận nằm ngoài cấu trúc nòng cốt câu nhưng trong giao tiếp và bộc lộ cảm xúc nó lại đảm nhiệm một vai
Trang 3trò quan trọng Thông qua việc sử dụng các hô ngữ trong tiếng Việt, chúng ta có thể phát hiện ra các mối quan hệ xã hội, trình độ nhận thức, tính cách, thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe và các đối tượng được nói đến,… mà không một ngôn ngữ nào trên thế giới có thể so sánh được
Các văn bản tập đọc trong Sách giáo Tiếng Việt Tiểu học là nơi chứa đựng hệ thống hô ngữ rất phong phú của tiếng Việt Đây chính là cơ hội rất lớn để người giáo viên có thể hình thành văn hóa giao tiếp và làm phong phú hóa tình cảm, rèn luyện tính cách, nhân cách cho học sinh Tiểu học, góp phần to lớn vào việc giáo dục con người phát triển toàn diện
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát hệ thống
hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học” để
nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Hô ngữ và vấn đề sử dụng hô ngữ trong tiếng Việt đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Ở đây, chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu để từ đó xác định hướng đi đúng cho đề tài của mình:
Giáo trình Tiếng Việt 2, Bộ Giáo dục, Cục đào tạo và bồi dưỡng, 1978, các tác giả đã trình bày khái niệm, cấu tạo, vị trí, tác dụng và quan hệ cú pháp của hô ngữ với các phần khác trong câu Đồng thời các tác giả cũng đã so sánh sự giống và khác nhau giữa hô ngữ và các phần phụ của câu
Lê A – Đinh Thanh Huệ có Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục – 1997
Các tác giả khẳng định “Thành phần than, gọi (hô ngữ) là thành phần phụ của câu Thành phần này biểu thị niềm vui, nỗi buồn, lời nguyền, lời gọi, lời đáp”
Ngoài ra, các tác giả cũng đã trình bày về cấu tạo và vị trí của lời đáp, lời gọi, lời cảm thán trong câu
Đinh Trọng Lạc – Bùi Minh Toán, Tiếng Việt tập 2, NXB Giáo dục –
1999, khi viết về hô ngữ, các tác giả nêu khái quát chung về hô ngữ; đồng thời phân biệt các trường hợp sử dụng hô ngữ trong giao tiếp Các tác giả cũng đã giới thiệu về tác dụng của việc sử dụng hô ngữ nói chung nhưng chưa đi sâu phân tích giá trị của hô ngữ trong giao tiếp
Trang 4Trong cuốn Câu tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm – 1999, tác giả Nguyễn Thị Lương đưa ra ý nghĩa của việc sử dụng hô ngữ trong lời nói nhân
vật là “nhằm thu hút sự chú ý với lời gọi hay chứng tỏ sự cộng tác của mình vớ i người đối thoại” Ngoài ra, tác giả cũng đã phân tích cấu tạo của các hô ngữ,
giới thiệu một số hô ngữ thể hiện thái độ kính trọng, thân tình hay coi thường để người nói có thể vận dụng dễ dàng, góp phần thực hiện đúng mục đích giao tiếp
Giáp Thị Thủy trong bài viết về “Cách sử dụng hô ngữ trong lời thoại của Dế Mèn phiêu lưu kí”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 8 (166) – 2009 có
phân loại các loại hô ngữ, đồng thời tác giả cũng đã phân tích cấu tạo của loại hô ngữ định danh và chỉ rõ vai trò của chúng trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí
Trong bài viết “Bước đi của ngôn ngữ trong thơ mới 1932-1945”, Tạp chí
sáng tác nghiên cứu phê bình văn hóa, văn học nghệ thuật số 156 – 2010, Tiến sĩ
Hoàng Sỹ Nguyên đã khẳng định “Việc đưa những yếu tố giao tiếp với những
hô ngữ, thán ngữ, lời than, lời kể vào thơ một cách tự nhiên làm cho ngôn ngữ sống động, tươi nguyên, nhộn nhịp như nhịp sống đô thị Nó vừa biểu hiện phương thức thơ trữ tình hướng nội, vừa biểu hiện sự "xuân hóa" trong thơ thời hiện đại”
Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hô ngữ nói chung nhưng riêng về hệ thống hô ngữ trong các văn bản Tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học thì chưa được tác giả nào đề cập đến Vì thế, ở luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề này Các tài liệu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá và bổ ích cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 5Để đạt được mục đích trên, đề tài đề ra một số nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Thống kê, phân loại, nhận xét hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
- Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ sử dụng hô ngữ cho học sinh Tiểu học
4 Giả thuyết khoa học
Việc nghiên cứu đề tài “Khảo sát hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập
đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học” giúp người nghiên cứu có cái nhìn
tổng quan về sự phong phú cũng như tác dụng, ý nghĩa của các hô ngữ Ngoài
ra, đề tài sẽ nguồn tài liệu tham khảo trong việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh Tiểu học ở trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Các văn bản tập đọc trong Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu những vấn đề lí luận liên
quan đến đề tài
- Phương pháp khảo sát, thống kê: thống kê, phân loại hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích, nhận xét về hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
- Phương pháp quy nạp: phân tích tác dụng, ý nghĩa của việc sử dụng hô ngữ
7 Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm 3 phần
Phần mở đầu: Gồm
Trang 6Lí do chọn đề tài
Lịch sử vấn đề
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Giả thuyết khoa học
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Cấu trúc đề tài
Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận chung của đề tài
Chương 2: Khảo sát hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
Chương 3: Xây dựng hệ thống bài tập sử dụng hô ngữ phù hợp với tình huống giao tiếp và môi trường giao tiếp cho học sinh Tiểu học
Phần kết luận
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI
Trang 71.1 Khái niệm hô ngữ
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hô ngữ:
- Theo các tác giả Trịnh Mạnh – Nguyễn Huy Đàn: “Hô ngữ là một từ hay một ngữ đứng riêng, thường để chỉ những đối tượng mà ta gọi Hô ngữ không có quan hệ cú pháp chặt chẽ với các thành phần khác trong câu” [2, Tr.45]
- Theo Lê A, Đinh Thanh Huệ: “Thành phần than, gọi (hô ngữ) là thành phần phụ của câu Thành phần này biểu thị niềm vui, nỗi buồn, lời nguyền, lời gọi, lời đáp” [1, Tr.78]
- Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán định nghĩa về hô ngữ như sau: “Hô ngữ là thành phần phụ của câu (nằm ngoài nòng cốt câu) Nó là dấu hiệu về tình cảm, thái độ của người nói đối với người nghe, nó biểu thị lời gọi, lời đáp hay lời cảm thán [7, Tr.77]
- Cao Xuân Hạo lại cho rằng: “Hô ngữ ghi lại một lời gọi, đáp để mở đầu, duy trì hoặc kết thúc một đối thoại Hô ngữ cũng ghi lại một lời cảm thán trong quá trình nói” [6, Tr.109]
Các định nghĩa trên đây tuy khác nhau nhưng đều có điểm chung: Hô ngữ là thành phần gọi đáp, cảm thán nằm ngoài nòng cốt câu
Tuy nhiên, chúng tôi chọn khái niệm về hô ngữ của tác giả Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán: “Hô ngữ là thành phần phụ của câu (nằm ngoài nòng cốt câu) Nó là dấu hiệu về tình cảm, thái độ của người nói đối với người nghe, nó biểu thị lời gọi, lời đáp hay lời cảm thán” để làm cơ sở nghiên cứu đề tài
Ví dụ:
(1) Lan ơi, cho tớ mướn cái thước của cậu với
(2) Vâng, tôi đã làm xong việc anh giao rồi
(3) Ôi, hôm nay bầu trời đẹp quá!
(4) Thưa thầy, em là học sinh mới của lớp ạ!
1.2 Phân loại hô ngữ
1.2.1 Căn cứ vào mục đích giao tiếp
Trang 8Căn cứ vào mục đích giao tiếp, các tác giả Đinh Trọng Lạc – Bùi Minh
Toán phân chia hô ngữ thành 2 loại:
a) Hô ngữ gọi – đáp: dùng trong nghi thức giao tiếp ngôn ngữ (đối thoại, hội
thoại) Trong hô ngữ gọi – đáp lại có thể chia thành:
- Hô ngữ gọi: Biểu thị lời gọi, làm dấu hiệu để cho người nghe chú ý đến hoạt động giao tiếp
Ví dụ:
(1) Bà ạ, cháu đi đây
(2) Nam, lại đây bác bảo cái này
(3) Mẹ kính yêu, mẹ đã quá vất vã rồi!
- Hô ngữ đáp: Biểu thị lời đáp, bày tỏ sự đáp trước yêu cầu của người tham gia hoạt động giao tiếp Lời đáp luôn luôn bộc lộ cả tình cảm và thái độ
của con người
Ví dụ:
(1) Vâng, tôi mới đến cách đây ít phút
(2) Thưa chú, bố cháu không có nhà
(3) Bẩm quan lớn, con có tội gì đâu mà ngài bắt trói con?
Trong hô ngữ gọi – đáp, các tác giả lại chia làm hai loại:
+ Hô ngữ phi định danh: gồm một tiếng gọi (ê, này, nào, thưa, bẩm, ừ, ờ,
vâng, dạ,…)
Ví dụ :
(1) Này, nghe đây, cứ để tình hình này kéo dài nữa thì phiền anh ng hỉ làm giúp tôi
(2) Ê, tao nghe đâu mày sắp chuyển trường à?
(3) Thưa, quan cho gọi con lên đây có gì dạy bảo không ạ?
(4) Bẩm, con có tội, xin quan tha cho
(5) Vâng, cháu làm ngay đây ạ!
+ Hô ngữ định danh: thường gồm hai thành phần: hạt nhân định danh
(HNĐD) chỉ đối tượng nhận phát ngôn và phần đi kèm (PĐK) Ở thành phần hạt nhân định danh, chúng ta thường gặp nhiều danh từ (chỉ người, chỉ vật, chỉ địa
Trang 9danh,…) Thành phần đi kèm thường là các động từ ngôn hành (động từ ngôn hành là động từ mà khi phát âm chúng ra thì người nói thực hiện luôn cái hành
vi ở lời do chúng biểu thị: lạy, thưa, bẩm,…) và các tình thái từ (à, ơi, ạ, nhé, nghe,…)
Hô ngữ định danh có một số cấu trúc như sau:
- Danh từ (hoặc cụm danh từ)
Ví dụ:
(1) Nhớ khóa cửa cẩn thận nhé, Nam!
(2) Thằng bé, lại đây!
(3) Em gái yêu quý, giúp anh việc này nhé!
- Danh từ (hoặc cụm danh từ) + tình thái từ
(1) Oắt! Oắt! Khá lắm, lần sau cố gắng lên nhé!
(2) Nhỏ, lại đây hỏi tí việc!
- Động từ ngôn hành + danh từ (hoặc cụm danh từ)
Ví dụ :
Trang 10(1) Thưa thầy, bạn Tuấn hôm nay xin phép được nghỉ học vì bị ốm ạ (2) Lạy quan lớn, con biết tội của con rồi Xin quan lớn tha cho!
(3) Bẩm quan, hắn ta vu oan cho con ạ!
b) Hô ngữ biểu thị cảm xúc, tình cảm : dùng để bày tỏ tình cảm của người nói
trước một người, sự vật hay hiện tượng nào đó Loại hô ngữ này do thán từ hay
quán ngữ tương đương với ý nghĩa thán từ tạo thành
Ví dụ:
(1) Ô hay, mẹ con nó đi đâu cả rồi?
(2) Ồ … nó đúng là gan thật đấy!
(3) Than ôi, sao cái số tôi khổ thế nhỉ?
1.2.2 Căn cứ vào đối tượng được biểu thị
Căn cứ vào đối tượng được biểu thị, các tác giả Trịnh Mạnh – Nguyễn Huy Đàn phân chia hô ngữ thành 3 loại:
a) Hô ngữ chỉ người
Ví dụ :
(1) Bác ơi, Nam có ở nhà không ?
(2) Tuấn, đến giờ đi học rồi con
(3) Thưa thầy, em đi học trễ, thầy cho em vào lớp
b) Hô ngữ chỉ vật
Ví dụ :
(1) Chim ơi, mùa xuân đến rồi ư ?
(2) Núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương (Ca dao)
(3) Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng
Đèn ra trước gió, còn chăng hỡi đèn
c) Hô ngữ chỉ địa danh
Ví dụ :
(1) Nỗi niềm chi rứa Huế ơi!
Trang 11Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên (Tố Hữu)
(2) Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đất trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều (Nguyễn Đình Thi)
1.3 Vị trí của hô ngữ trong câu
Hô ngữ không có quan hệ cú pháp chặt chẽ với các phần khác trong câu
nên hô ngữ có thể đứng đầu câu, giữa câu, cuối câu
- Khi hô ngữ đứng đầu câu, sau hô ngữ thường có dấu phẩy hoặc dấu cảm
Ví dụ:
(1) Thưa cô, em đã làm xong bài tập!
Lan, cho tớ mượn quyển sách với!
Ô hay, sao anh lại nói như thế?
(2) Nhật! Con nói thật đi, chuyện gì đã xảy ra với con vậy?
Vâng! Bác đã nói vậy thì tôi xin nghe
Con ơi! Nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
- Khi hô ngữ đứng giữa câu, thường cũng có dấu phẩy để ngăn cách với
các phần khác
Ví dụ:
(1) Làm đi, thằng kia, gần hết giờ rồi đấy!
(2) Về vấn đề này thì, thưa các bạn, chúng ta có rất nhiều ý kiến
(3) Và hôm nay, hỡi các đồng chí, chúng ta phải đứng lên chống giặc
ngoại xâm để giành độc lập cho dân tộc mình
- Khi hô ngữ đứng cuối câu, sau hô ngữ thường có dấu cảm, dấu chấm hỏi
Ví dụ :
(1) Làm sao mà khóc thế kia, Nam?
(3) Vấn đề này tôi không dám chắc thưa anh!
(4) Sao mày lại có mặt ở địa bàn của ta, thằng ranh con kia?
1.4 Các nhân tố chi phối việc sử dụng hô ngữ gọi – đáp trong giao tiếp
Trang 121.4.1 Quan hệ vai giao tiếp
Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp thường giữ vai trò là người nói, viết (vai phát ra diễn ngôn) hoặc vai nghe, đọc (vai tiếp nhận diễn ngôn)
Trong khi giao tiếp, vai nói và vai nghe có sự chuyển đổi cho nhau, vai nói khi nói xong sẽ chuyển thành vai nghe và ngược lại Tùy theo vai trò của từng vai trong quá trình giao tiếp mà nhân vật giao tiếp sử dụng các hô ngữ (hô ngữ gọi – đáp) sao cho phù hợp để duy trì cuộc hội thoại cũng như xây dựng được mối quan hệ giao tiếp với người nghe
Trong mọi hoàn cảnh giao tiếp, những hô ngữ luôn tạo thành một cặp
tương ứng giữa gọi và đáp Chẳng hạn như An ơi (à)– dạ (vâng), này (ê) - ừ,…
Do đó, khi giao tiếp, người nói phải lựa chọn hô ngữ sao cho phù hợp, còn người nghe cũng phải cân nhắc khi đáp lại lời người nói bằng cách vận dụng cặp
hô ngữ tương ứng
1.4.2 Quan hệ liên cá nhân
Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm, tâm lí, trình độ nhận thức,… của các nhân vật giao tiếp [10,Tr 89]
Quan hệ liên cá nhân được xét theo: quan hệ quyền uy và quan hệ thân cận
1.4.2.1 Quan hệ quyền uy
Quan hệ quyền uy biểu thị vị thế xã hội, quan hệ trên dưới giữa những người tham gia giao tiếp Vị thế xã hội có thể do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp,… quy định
Những người có vị thế cao hơn (những người ở bậc trên), khi gọi thì có
thể sử dụng một số hô ngữ phi định danh như này, này này, ê, … hoặc sử dụng
hô ngữ định danh nhưng không cần sử dụng thành phần đi kèm sau hạt nhân
định danh chỉ người nhận phát ngôn…
Ví dụ:
(1) Này, lại đây tao bảo
(2) Ê, mày đang làm gì đấy?
Trang 13(3) Thằng nhóc, mày bao nhiêu tuổi rồi?
(4) Cháu lại định đi đâu à, Hoa?
Ngược lại, những người có vị thế thấp hơn (những người ở bậc dưới), khi gọi thường phải sử dụng một số hô ngữ định danh (có cả hạt nhân định danh chỉ người nhận phát ngôn và thành phần đi kèm sau; khi đáp phải sử dụng một số hô
ngữ phi định danh như thưa, bẩm,… hoặc những hô ngữ định danh như lạy ông,
bẩm quan, thưa thầy, dạ thưa cụ,…
Ví dụ:
(1) Bác ơi, bác cho cháu hỏi Nam có ở nhà không ạ
(2) Mẹ cháu đi công tác được hai tuần rồi bà ạ
(3) Thưa thầy, hôm nay bạn Nam vắng học vì bị ốm ạ
(4) Bẩm quan lớn, khoản tiền này quan cho khất lại, ít bữa nữa con có
con sẽ nộp cho quan sau được không ạ?
bè thân thiết thường sử dụng các hô ngữ như mày, mày ơi, này, ê,… thì được
nhưng mới quen biết mà sử dụng những hô ngữ như vậy thì bị coi là không lịch sự
Các cách sử dụng hô ngữ biểu thị ngang hàng: gọi tên (Lan!, Nam!), sử dụng các tiểu từ (ơi, à) ngay sau từ xưng hô chỉ quan hệ ngang hàng: mày ơi,
bạn ơi, cậu à, đằng ấy à,…, các hô ngữ phi định danh như này, ê, …
Với việc sử dụng các hô ngữ này, ơi, tính chất lễ nghi xã giao trong lời
thoại mất đi nhường chỗ cho sự thân mật, suồng sã phù hợp với quan hệ thân cận
1.4.3 Hoàn cảnh giao tiếp
Trang 14Theo Đỗ Hữu Châu: “Hoàn cảnh giao tiếp tức hiểu biết tiền giả định bách khoa về thế giới thực tại khác nhau và được huy động khác nhau tùy theo các nhân vật giao tiếp và tùy từng cuộc giao tiếp cụ thể” [5, Tr.23]
Tùy theo hoàn cảnh giao tiếp mà các nhân vật giao tiếp sử dụng các hô ngữ khác nhau Cụ thể:
- Đối với hoàn cảnh giao tiếp rộng:
“Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật,…ở thời điểm và ở không gian đang diễn ra cuộc giao tiếp” [5, Tr.23]
Trên thế giới, mỗi ngôn ngữ đều có sắc thái đặc thù riêng Do đó cách xưng hô ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có sự khác nhau Điều này kéo theo việc sử dụng hô ngữ ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cũng khác nhau Vì thế, để sử dụng hô ngữ sao cho thích hợp, đảm bảo tính lịch sự, các nhân vật tham gia giao tiếp phải có những hiểu biết về hoàn cảnh giao tiếp
- Đối với hoàn cảnh giao tiếp hẹp:
“Hoàn cảnh giao tiếp hẹp thường được hiểu là cái không gian, thời gian
cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra” [5, Tr.24 – 25]
Hoàn cảnh giao tiếp hẹp tác động chi phối việc lựa chọn và sử dụng từ xưng hô với nhau dẫn đến chi phối việc sử dụng hô ngữ của các nhân vật tham gia giao tiếp Tùy theo không gian và thời gian giao tiếp hằng ngày, mỗi người tham gia giao tiếp phải lựa chọn hô ngữ cho phù hợp Chẳng hạn, hai mẹ con ở
nhà thì gọi nhau là con ơi/ mẹ ơi/ thưa mẹ… nhưng khi đến trường, với tư cách là giáo viên và học sinh thì phải sử dụng các hô ngữ như cô ơi/ thưa cô…
1.4.4 Phép lịch sự
Lịch sự là một nhân tố quan trọng của quá trình giao tiếp, có tác động chi phối cả quá trình giao tiếp cũng như kết quả của cuộc giao tiếp Lịch sự được
chia làm hai loại: lịch sự quy ước và lịch sự chiến lược
- Lịch sự quy ước: Đặc tính của lịch sự quy ước là có những phương tiện ít nhiều quy ước, bắt buộc khiến cho bất kì ai tham gia vào hoạt động giao tiếp cũng phải sử dụng, nếu không sẽ bị xem là bất lịch sự hoặc vô lễ, hoặc hỗn láo,
Trang 15hoặc lạnh lùng, vô tình, khách sáo,… Lịch sự quy ước bao gồm phép lịch sự vị thế và phép lịch sự thân – sơ [9, Tr 14]
- Lịch sự chiến lược có thể hiểu là lịch sự bao trùm tất cả các phương diện của việc sử dụng các hoạt động ở lời và việc đề cập đến các đề tài sao cho có thể giữ gìn được tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân trong hội thoại [9, Tr 14]
Lịch sự trong giao tiếp thể hiện trình độ văn hóa và nhận thức của mỗi người, làm cho cuộc giao tiếp đạt được kết quả mong muốn, quan hệ giữa người với người tốt đẹp hơn Lịch sự được coi là một chuẩn mực xã hội bao gồm nhiều phương diện như sự tế nhị, khoan dung, sự khiêm tốn, sự cảm thông đối với người khác, chi phối quan hệ thể diện giữa người nói và người nghe trong một cuộc giao tiếp
Theo J Thomas, thể diện nên hiểu là cảm giác về giá trị cá nhân của mỗi người, nó là hình ảnh về ta, về chính mình Cái hình ảnh này có thể bị làm tổn hại, được giữ gìn hay được đề cao trong tương tác Thể diện được chia thành hai phương diện: thể diện âm tính và thể diện dương tính:
- Thể diện âm tính: là mong muốn không bị can thiệp, mong muốn được hành động tự do theo như cách mình đã lựa chọn Hay nói cách khác, nó là nhu cầu được độc lập, tự do trong hành động, không bị người khác áp đặt [9, Tr 15]
- Thể diện dương tính: là tổng thể những hình ảnh tự đánh giá cao về mình mà mỗi cá nhân trong xã hội tự xây dựng nên và cố gắng áp đặt cho người xung quanh, buộc họ phải chấp nhận, tôn trọng [9, Tr 15]
Xét theo tác động đối với thể diện, khi giao tiếp, các hành động ở lời chia thành hai nhóm: nhóm hành động đe dọa thể diện và nhóm hành động tôn vinh thể diện
- Nhóm hành động đe dọa thể diện bao gồm:
+ Hành động đe dọa thể diện âm tính của người nói như: tặng, biếu, hứa hẹn,…
+ Hành động đe dọa thể diện dương tính của người nói: thú nhận, cảm ơn, xin lỗi, tự phê bình,…
Trang 16+ Hành động đe dọa thể diện âm tính của người nghe như: hỏi, sai khiến, ngăn cấm, khuyên bảo,…
+ Hành động đe dọa thể diện dương tính của người nghe như: phê bình, chê bai, chửi bới, chế giễu,…
- Nhóm hành động tôn vinh thể diện là những hành động mà khi thực hiện lại có hiệu quả làm gia tăng sự tôn trọng thể diện của cả người nói và người
nghe như: khen ngợi, cảm ơn,…
Trong giao tiếp, để thể hiện phép lịch, người nói đôi khi phải tôn trọng thể diện của người nghe, tức là phải giảm thiểu sự đe dọa cũng như phải tôn vinh thể diện của người nghe Để làm được điều này, người nói phải sử dụng các chiến lược lịch sự, trong đó có việc sử dụng các hô ngữ bởi hô ngữ có những tác dụng sau:
- Giảm sự đe dọa thể diện âm tính cho người nghe: khi người nói thể hiện một hành vi ngôn ngữ nào đó, chính là lúc có nguy cơ đe dọa thể diện âm tính cho người nghe Đặc biệt khi thực hiện hành vi hỏi và hành vi cầu khiến, hai loại hành vi này xâm phạm đến lãnh địa tự do của người nghe Cách sử dụng các hô ngữ đã làm dịu hóa đi câu hỏi, giảm đi sự áp đặt, giảm đi sự tổn hại cho phía người nghe khi phải trả lời
Ví dụ:
(1) Bạn ơi! Mấy giờ vào học vậy?
(2) Anh ơi, giúp em với!
- Hô ngữ không chỉ có tác dụng làm giảm sự đe dọa thể diện âm tính mà còn góp phần bảo toàn và tôn vinh thể diện dương tính cho người nghe, thông
qua sử dụng các từ xưng hô, dùng từ ngữ thể hiện sự tôn kính (lạy, thưa,
bẩm,…) kết hợp với những từ xưng hô hay những tình thái từ
Thứ nhất: dùng từ xưng hô trong hô ngữ Đó có thể là những danh từ thân tộc (như anh, chị, em,…), những tên riêng, những danh hiệu hay từ chuyên biệt (tiên sinh, quan lớn, thầy,…)
Ví dụ:
(1) Anh ơi! Em cám ơn anh nhiều lắm!
Trang 17Làm sao mà khóc lóc thế kia, em?
(2) Nam, đang làm gì vậy?
Hà à, cậu cho tớ mượn cây bút với!
(3) Bẩm quan lớn, con là trẻ mồ côi từ nhỏ
Em đã làm xong bài tập, thưa thầy
Thứ hai: sử dụng từ ngữ thể hiện sự tôn kính (lạy, thưa, bẩm, muôn
tâu,…) kết hợp với từ xưng hô cũng làm nên ấn tượng cư xử nho nhã, thanh
lịch, khiêm nhường phù hợp với lịch sự chuẩn mực Đồng thời, cách dùng này thể hiện được sự khéo léo, nhằm gây thiện cảm với người nghe, phù hợp với
nguyên tắc “xưng khiêm hô tôn” rất truyền thống và nhã nhặn của người Việt
Nam
Ví dụ:
(1) Muôn tâu Bệ hạ, dân chúng ở đây đói kém, bệnh tật quanh năm (2) Lạy thầy, được thầy giúp đỡ mà con không biết lấy gì báo đáp cả (3) Bẩm quan, có người cần gặp quan ạ!
Thứ ba: việc dùng những tình thái từ ạ, à, ơi, ư, nhé,… cũng làm nên
phép lịch sự trong giao tiếp Những tình thái từ này đi kèm với hô ngữ góp phần thể hiện sự kính trọng, lễ phép, thân tình của người nói đối với người nghe
Ví dụ:
(1) Bác ạ, cháu có chuyện xin thưa với bác
(2) Nam ư, vào nhà đi cháu
(3) Khi về, mẹ nhớ mua quà cho con mẹ nhé!
(4) Hùng ơi, nhanh lên không thì trễ giờ học mất!
1.5 Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học
1.5.1 Nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học phát triển rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết Đầu tiên là nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, những hiện tượng riêng biệt (lớp 1, 2, 3) sau đó đến nhu cầu gắn liền với sự phát hiện những nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các đối tượng (lớp 4, 5)
Trang 18Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần có vai trò quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của học sinh Tiểu học Nó được hình thành và phát triển nhờ các hoạt động đa dạng trong gia đình, nhà trường và xã hội Vì vậy, chúng ta cần hình thành cho trẻ nhu cầu nhận thức ngay từ giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, tạo cơ sở tiền đề cho quá trình học tập lâu dài về sau
Tính cách của học sinh Tiểu học thường có đặc điểm là bướng bỉnh, thất thường Nhưng phần lớn các em đều có lòng vị tha, tính hồn nhiên, tính chân thực, lòng thương người,… Đồng thời tính bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng ở các em Các em rất dễ làm theo những gì mà mọi người thường làm Trong lời nói cũng vậy, nếu các em thường xuyên giao tiếp có văn hóa với mọi người thì các em cũng sớm bộc lộ hành vi giao tiếp có văn hóa của mình
Tính cách của các em cũng dễ dàng bộc lộ ra bên ngoài thông qua lời nói, hành vi Do đó, giáo viên có thể căn cứ vào lời nói, hành vi của các em để khuyến khích các em hoàn thiện tính cách tốt, đồng thời cũng có những biện pháp giúp các em điều chỉnh những tính cách chưa tốt của mình
1.5.3 Tự ý thức
Đối với học sinh đầu bậc Tiểu học, tự ý thức của các em đang hình thành và phát triển Các em đã hiểu được mình là người như thế nào và có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình như thế nào, vì sao mình có hành động này hay hành động khác,… Điều này được thể hiện rõ nhất trong sự đánh giá thành công hay thất bại của mình, về ưu điểm và khuyết điểm, về khả năng và bất lực của mình,…
Đối với học sinh cuối bậc Tiểu học, tự ý thức của các em đã phát triển nhờ hoạt động học tập, các em đã có những hiểu biết nhất định, nhu cầu tình
Trang 19cảm của các em đã được phát triển Các em đã tự nhận thức được bản thân mình
Do đó, các em bắt đầu tự điều chỉnh được các hành vi của mình sao cho phù hợp với những người mà các em tiếp xúc
Trong giao tiếp, các em ý thức được mình nên nói những gì, không nên nói những gì và nói như thế nào để thể hiện sự tôn trọng, lịch sự đồng thời gây được thiện cảm với người nghe Các em không còn nói trống không khi giao tiếp với mọi người, nhất là những người lớn tuổi hơn mình ở nhà trường, gia đình và xã hội Thay vào đó, các em đã biết lựa chọn từ xưng hô, kết hợp giữa từ xưng
hô và các từ ngữ thể hiện sự tôn kính để tạo nên những hô ngữ phù hợp, thể hiện mình là con người có văn hóa giao tiếp ở mọi lúc, mọi nơi Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn luyện tính cách, nhân cách về sau cho các em
1.5.4 Tình cảm
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm linh và nhân cách Đối với học sinh Tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt và nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của học sinh Tình cảm tích cực không chỉ kích thích học sinh nhận thức mà còn thúc đẩy học sinh hoạt động
Tình cảm, cảm xúc của học sinh Tiểu học có những đặc điểm sau:
- Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh Tiểu học thường là những sự vật cụ thể, sinh động
- Học sinh Tiểu học dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình
- Tình cảm của học sinh Tiểu học còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc
Các em học sinh lứa tuổi Tiểu học đã biết bộc lộ cảm xúc, tình cảm của mình bằng nhiều cách khác nhau như thể hiện thông qua cử chỉ, thái độ, cách ứng xử, …Nhưng cái gần gũi nhất mà chúng ta dễ nhận biết nhất khi các em bộc lộ cảm xúc, tình cảm đó chính là thông qua lời nói Đó là khi các em xưng hô với người khác, khi các em sử dụng các hô ngữ để biểu thị sự ngạc nhiên, thích thú hay ghét một đối tượng nào đó
1.5.5 Sự đánh giá
Trang 20Ở đầu bậc Tiểu học, các em thường dựa vào những đặc điểm bên ngoài để đánh giá sự vật, hiện tượng Ở cuối bậc Tiểu học, các em đã biết dựa vào những nét tính cách, đặc điểm bên trong, ý kiến của người khác để đánh giá Đặc biệt, thông qua giao tiếp, tiếp xúc với nhiều người trong nhiều hoàn cảnh và môi trường khác nhau, các em có thể đánh giá về mọi mặt của những người mà các
em đã giao tiếp Nhờ vào lời nói, thái độ, cách ứng xử, cách xưng hô, cách dùng
hô ngữ…của người khác đối với mình mà các em đánh giá được tính cách tốt hoặc xấu, có văn hóa hay không có văn hóa người mà các em giao tiếp
1.6 Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới (ban hành theo Quyết định ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác định mục tiêu như sau:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường lứa tuổi
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Góp phần thực hiện tốt các mục tiêu môn Tiếng Việt ở Tiểu học, chương trình Tiếng Việt 2000 đã tiến hành đưa ngữ liệu dạy học là các văn bản vào trong các phân môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập đọc Các bài học, câu chuyện phản ánh những vấn đề về đạo đức, phẩm chất của con người bằng ngôn ngữ văn học, những hình tượng giàu chất thẩm mĩ và nhân văn Một trong những vấn đề đạo đức, phẩm chất của con người đó chính là văn hóa giao tiếp Thông qua lời nói của các nhân vật trong các văn bản Tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt, các em học tập được cách xưng hô, cách sử dụng hô ngữ phù hợp với nhiều vai giao tiếp khác nhau, quan hệ khi tham gia giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp,…sao cho các em có thể thể hiện được sự tôn trọng, lịch sự khi giao
Trang 21tiếp với người khác Đây chính là yếu tố cực kì quan trọng trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh Tiểu học
Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi đã nghiên cứu tổng hợp, khái quát những vấn đề lí luận cơ bản như: khái niệm về hô ngữ; phân loại hô ngữ, vị trí của hô ngữ trong câu và các nhân tố chi phối sử dụng hô ngữ gọi - đáp (quan hệ vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân, hoàn cảnh giao tiếp và phép lịch sự) Đồng thời, chúng tôi cũng đã phân tích đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học liên quan đến việc sử hô ngữ và nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở Tiểu học Đây là những cơ sở lí luận cần thiết để giúp chúng tôi nghiên cứu chương 2 và chương 3
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HỆ THỐNG HÔ NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN
TẬP ĐỌC Ở SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC
Trang 222.1 Tiêu chí phân loại
Vấn đề phân loại hô ngữ đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra các cách phân loại khác nhau Tuy nhiên, để khảo sát hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, chúng tôi dựa vào cách phân loại của các tác giả Đinh Trọng Lạc – Bùi Minh Toán
Hô ngữ được phân thành 2 loại:
- Hô ngữ gọi – đáp:
+ Hô ngữ gọi: Biểu thị lời gọi, làm dấu hiệu để cho người nghe chú ý đến hoạt động giao tiếp
+ Hô ngữ đáp: Biểu thị lời đáp, bày tỏ sự đáp trước yêu cầu của người tham gia hoạt động giao tiếp Lời đáp luôn luôn bộc lộ cả tình cảm và thái độ của con người Thường thành phần này do các tình thái từ: ừ, vâng, dạ, phải,… cấu tạo nên
Trong hô ngữ gọi – đáp, các tác giả lại chia làm hai loại:
Hô ngữ phi định danh: thường chỉ gồm một tiếng gọi hoặc một tiếng đáp (này, nè, ừ, vâng, dạ, thưa,…)
Hô ngữ định danh: thường gồm hai thành phần (hạt nhân định danh chỉ đối tượng nhận phát ngôn và thành phần đi kèm)
- Hô ngữ biểu thị cảm xúc, tình cảm: dùng để bày tỏ tình cảm, cảm xúc của người nói trước một người, một sự việc hay hiện tượng nào đó Loại hô ngữ này do thán từ hay quán ngữ tương đương với ý nghĩa thán từ tạo thành
2.2 Bảng thống kê, phân loại hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
Trang 23Lớp
Các loại hô ngữ
biểu thị tình cảm, cảm xúc
phi định danh
phi định danh
(%)
SL TL (%)
SL TL (%)
SL TL (%)
SL TL (%)
SL TL (%)
SL TL (%)
- Cấu trúc 1: Danh từ (hay cụm danh từ)
- Cấu trúc 2: Danh từ (hay cụm danh từ) + tình thái từ
- Cấu trúc 3: Tính từ
- Cấu trúc 4: Động từ ngôn hành + danh từ (hay cụm danh từ)
Trang 242.3 Nhận xét về hệ thống hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
Qua bảng thống kê, phân loại trên, chúng tôi nhận thấy số lượng hô ngữ được sử dụng trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng việt Tiểu học rất phong phú và đa dạng với 220 lượt sử dụng Từ kết quả trên dây, chúng tôi đưa ra một số nhận xét cụ thể như sau:
2.3.1 Hô ngữ gọi – đáp
Hô ngữ gọi – đáp là loại hô ngữ được sử dụng phổ biến trong giao tiếp hằng ngày, trong mọi tình huống giao tiếp trang nghiêm, thân mật, gần gũi hoặc suồng sã, khiếm nhã Đặc biệt, trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, hô ngữ gọi – đáp được sử dụng chủ yếu trong các lời thoại của các nhân vật khi giao tiếp với nhau Ngoài ra, các hô ngữ gọi – đáp còn được sử dụng trong các tác phẩm thơ, trong các văn bản sinh hoạt hằng ngày (thư từ, tin nhắn) để thể hiện lời độc thoại của các nhân vật đối với đối tượng được nhắc đến
Các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học sử dụng rất nhiều các hô ngữ gọi – đáp Theo thống kê của chúng tôi, trong các văn bản tập đọc, có tới 195 lần các tác giả sử dụng các hô ngữ gọi – đáp, chiếm 88.63% tổng số hô ngữ được sử dụng Trong đó, số lượng hô ngữ gọi nhiều hơn hô ngữ đáp Cụ thể: có 147 hô ngữ gọi (chiếm 66.82%) và 48 hô ngữ đáp (chiếm 21.81%)
Hô ngữ gọi và hô ngữ đáp lại được phân chia thành hô ngữ định danh và hô ngữ phi định danh
Trang 25- Lớp 3: 31 hô ngữ định danh(chiếm14.09%), 3 hô ngữ phi định danh (chiếm 1.36%)
- Lớp 4: 35 hô ngữ định danh (chiếm 15.90%), 1 hô ngữ phi định danh (chiếm 0.45%)
- Lớp 5: 42 hô ngữ định danh (chiếm 19.09%), 3 hô ngữ phi định danh (chiếm 1.36%)
Số lượng hô ngữ gọi trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phân bố không có sự đồng đều Đối với lớp 1, do số lượng bài tập đọc ít và đa số các bài tập đọc đều ở dạng độc thoại nên có số lượng hô ngữ gọi
ít nhất (8 hô ngữ gọi chiếm 3.6 %) Lên các lớp 2, 3, 4 và 5, do yêu cầu luyện đọc tăng, nội dung các bài tập đọc cũng dài hơn, vì vậy số lượng hô ngữ trong các văn bản tập đọc cũng được tăng lên
Trong 147 hô ngữ gọi, có 138 hô ngữ định danh và 9 hô ngữ phi định danh Số lượng hô ngữ định danh chiếm số lượng nhiều hơn số lượng hô ngữ phi định danh
a) Hô ngữ định danh
Qua thống kê, phân loại, chúng tôi nhận thấy các hô ngữ định danh dùng để gọi trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có một số mô hình sau:
- Danh từ (hoặc cụm danh từ):
Cấu trúc hô ngữ gọi có chứa danh từ hoặc cụm danh từ trong các văn bản tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có 23 hô ngữ (chiếm 10.43%) Trong đó: lớp 1 có 2 hô ngữ (chiếm 0.9%), lớp 2 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%), lớp 3 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%), lớp 4 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%), lớp 5 có 12
hô ngữ (chiếm 1.36%)
Theo kết quả khảo sát, cấu trúc hô ngữ này được sử dụng trong các văn bản tập đọc khi người nói gọi người nghe có vị thế ngang hàng nhau hoặc người có vị thế cao hơn gọi người có vị thế thấp hơn Một số trường hợp khác, người có vị thế thấp hơn cũng có thể sử dụng loại hô ngữ này để gọi người có vị thế cao hơn
Trang 26(Người công dân số một - TV5 tập 2)
(3) Bà kính yêu! Lâu rồi cháu chưa được về quê, cháu nhớ bà lắm
(Thư gửi bà-TV3 tập 1)
- Danh từ (hoặc cụm danh từ) + tình thái từ:
Cấu trúc hô ngữ gọi có chứa danh từ (hoặc cụm danh từ) + tình thái từ trong các văn bản tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có 101 hô ngữ – chiếm tỉ lệ cao nhất (46.18%) Trong đó: lớp 1 có 5 hô ngữ (chiếm 2.27%), lớp
2 có 15 hô ngữ (chiếm 6.89%), lớp 3 có 25 hô ngữ (chiếm 11.36%), lớp 4 có 28
hô ngữ (chiếm 12.83%), lớp 5 có 28 hô ngữ (chiếm 12.83%)
Trong các văn bản tập đọc, đây là loại hô ngữ thông dụng nhất, được sử dụng khi người nói và người nghe có vị thế ngang hàng nhau, người có vị thế thấp hơn nói với người có vị thế cao hơn và người có vị thế cao hơn nói với người có vị thế thấp hơn Cấu trúc hô ngữ gọi như thế này được sử dụng phổ biến trong các cuộc giao tiếp nhằm biểu thị lời gọi, làm dấu hiệu để người nghe chú ý đến hoạt động giao tiếp
Ví dụ:
(1) Bà ơi, bát nào đựng tương, bát nào đựng mắm?
(Đi chợ-TV2 tập 1)
(2) Người ở làng quê như thế đấy, con ạ Lúc đất nước có chiến tranh , họ
sẵn lòng sẻ nhà sẻ cửa Cứu người, họ không hề ngần ngại
(Đôi bạn-TV3 tập 1)
(3) Con vật bội bạc kia! Đi đi! Chẳng ai thèm kết bạn với những kẻ giả
dối như mi đâu
(Quả tim khỉ-TV2 tập 2)
Trang 27- Động từ ngôn hành + danh từ (hoặc cụm danh từ):
Cấu trúc hô ngữ gọi có chứa động từ ngôn hành + danh từ (hoặc cụm danh từ) trong các văn bản tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có 14
hô ngữ (chiếm 6.31%) Trong đó: lớp 1 có 1 hô ngữ (chiếm 0.45%), lớp 2 có 4
hô ngữ (chiếm 1.80%), lớp 3 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%), lớp 4 có 4 hô ngữ (chiếm 1.80%), lớp 5 có 2 hô ngữ (chiếm 0.90%)
Theo kết quả khảo sát, trong các văn bản tập đọc, cấu trúc hô ngữ được sử dụng khi người có vị thế thấp hơn nói với người có vị thế cao hơn, một số trường hợp để thể hiện thái độ lịch sự, tôn trọng người nói và người nghe có vị thế ngang nhau cũng sử dụng những hô ngữ này
Ví dụ:
(1) Muôn tâu Thượng Đế! Đã lâu lắm rồi, trần gian không hề được một
giọt mưa Thượng đế cần làm mưa ngay để cứu muôn loài
(Cóc kiện Trời-TV3 tập 2)
(2) Bẩm quan, con mang vải đi chợ, bà này hỏi mua rồi cướp tấm vải ,
bảo là của mình
(Phân xử tài tình - TV5 tập 2)
(3) Lạy thầy! Hôm nay con đem tất cả môn sinh đến tạ ơn thầy
(Nghĩa thầy trò-TV5 tập 2)
(4) Thưa các bạn,
Tôi xin báo cáo kết quả thi đua của lớp ta trong tháng thi đua “Noi gương chú bộ đội” vừa qua:
(Báo cáo kết quả thi đua “Noi gương chú bộ đội”-TV3 tập 2)
b) Hô ngữ phi định danh
Hô ngữ gọi trong các văn bản tập đọc có 9 hô ngữ phi định danh (chiếm 4.07%) Trong đó: lớp 1 chưa có hô ngữ phi định danh, lớp 2 có 2 hô ngữ phi định danh (chiếm 0.90%), lớp 3 có 3 hô ngữ phi định danh (chiếm 1.36%), lớp 4 có 1 hô ngữ phi định danh (chiếm 0.45%), lớp 5 có 3 hô ngữ phi định danh (chiếm 1.36%)
Trang 28Các hô ngữ phi định danh dùng để gọi (“này”, “nào”, “nè”) được người có vị thế cao hơn hoặc những người có vị thế ngang nhau sử dụng để làm tiếng gọi Xét ở góc độ biểu cảm, các hô ngữ “này”, “nào”, “nè” trong các văn bản tập đọc thường mang sắc thái nghiêm khắc trịnh thượng, áp đặt, có khi suồng sã
Ví dụ:
(1) Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện hơn không?
(Cậu bé và cây si già-TV2 tập 1)
(2) Này…Còn ngọn đèn hoa kì…
(Người công dân số một-TV5 tập 2)
Nếu như ở ví dụ (1) hô ngữ “này” mang sắc thái nghiêm khắc trong lời nói của Cây Si già thì ở ví dụ (2) hô ngữ này lại mang một sắc thái hoàn toàn khác Nó mang tính suồng sã, thân mật giữa anh Thành và anh Lê (những người có vị thế ngang hàng nhau)
(3) Có thế chớ! Nào, nói lẹ đi!
(Lòng dân-TV4 tập 1) (4) Sáng rồi đừng ngủ nữa
Nào, đi hội rừng xanh!
(Ngày hội rừng xanh-TV3 tập 2)
Ở ví dụ (3), nhân vật Cai với tính cách hung hăng đã sử dụng hô ngữ
“nào” mang tính chất áp đặt, buộc An phải khai ra xem người đàn ông có phải là
ba An không Nhưng ở ví dụ (4), khi các con vật trong khu rừng nói chuyện, rủ nhau đi hội rừng xanh thì hô ngữ “nào” lại mang sắc thái thân mật, suồng sã
Trang 29- Lớp 3: 7 hô ngữ định danh (chiếm 3.18%), 3 hô ngữ phi định danh (chiếm 1.36%)
- Lớp 4: 4 hô ngữ định danh (chiếm 1.82%), 4 hô ngữ phi định danh (chiếm 1.82%)
- Lớp 5: 4 hô ngữ định danh (chiếm 1.82%), 9 hô ngữ phi định danh (chiếm 4.09%)
Số lượng hô ngữ đáp trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phân bố không có sự đồng đều Các văn bản tập đọc ở lớp 1 chưa có các hô ngữ đáp Lên lớp 2, 3 , 4 và 5, số lượng hô ngữ đáp tăng dần đảm bảo nhu cầu giao tiếp của học sinh
Trong 48 hô ngữ đáp, có 29 hô ngữ định danh và 19 hô ngữ phi định danh Số lượng hô ngữ định danh và phi định danh cũng phân bố không đồng đều giữa các lớp
a) Hô ngữ định danh
Xét về cấu trúc, chúng tôi nhận thấy các hô ngữ định danh dùng để đáp trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có hai mô hình sau:
- Danh từ (hoặc cụm danh từ) + tình thái từ
Cấu trúc hô ngữ đáp có chứa danh từ (hoặc cụm danh từ) + tình thái từ trong các văn bản tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có 13 hô ngữ (chiếm 5.90%) Trong đó: lớp 1 có 0 hô ngữ (chiếm 0%), lớp 2 có 7 hô ngữ (chiếm 3.18%), lớp 3 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%), lớp 4 có 0 hô ngữ (chiếm 0%), lớp 5 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%)
Đây là loại hô ngữ được sử dụng khi người nói đáp lại lời của người nghe có vị ngang mình, người có vị thế thấp hơn đáp lại lời người có vị thế cao hơn và người có vị thế cao hơn đáp lại lời người có vị thế thấp hơn
Ví dụ:
(1) Anh Lê ạ, vì đèn dầu ta không sáng bằng đèn hoa kì Đèn hoa kì lại
không sáng bằng đèn tọa đăng…
(Người công dân số một - TV5 tập 2)
Trang 30(2) Con khỏe lắm, mẹ ạ Con sẽ mặc thêm nhiều áo cũ ở bên trong
(Chiếc áo len - TV3 tập 1)
(3) Ừ, đúng rồi! Đất lành chim đậu, có gì lạ đâu hả cháu?
(Chuyện một khu vườn nhỏ - TV5 tập 1)
- Động từ ngôn hành + danh từ (cụm danh từ)
Cấu trúc hô ngữ đáp có chứa động từ ngôn hành + danh từ trong các văn bản tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có 16 hô ngữ (chiếm 7.23%) Trong đó: lớp 1 có 0 hô ngữ (chiếm 0%), lớp 2 có 7 hô ngữ (chiếm 3.18%), lớp
3 có 4 hô ngữ (chiếm 1.8%), lớp 4 có 4 hô ngữ (chiếm 1.8%), lớp 5 có 1 hô ngữ (chiếm 0.45%)
Cấu trúc hô ngữ đáp như thế này được sử dụng khi người có vị thế thấp hơn nói với người có vị thế cao hơn để thể hiện thái độ lịch sự, tôn trọng người nói và người nghe
Ví dụ:
(1) Tâu Bệ hạ, lúc nãy cháu bị quan thị vệ đuổi, cuống quá nên…dứt dải rút ạ
(Vương quốc vắng nụ cười-TV4 tập 2)
(2) Thưa cha, lấy từng chiếc mà bẻ thì có khó gì!
(Câu chuyện bó đũa-TV2 tập 1)
(3) Thưa cô, giấy không nói được đâu ạ!
(Mẩu giấy vụn-TV2 tập 1)
b) Hô ngữ phi định danh
Hô ngữ phi định danh dùng để đáp trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có 19 hô ngữ (chiếm 8.61%) Trong đó: lớp 1 có 0 hô ngữ (chiếm 0%), lớp 2 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%), lớp 3 có 3 hô ngữ (chiếm 1.36%), lớp 4 có 4 hô ngữ (chiếm 1.80%), lớp 5 có 9 hô ngữ (chiếm 4.09%)
Hô ngữ phi định danh dùng để đáp được chia thành 2 loại:
Trường hợp vai người nói thấp hơn vai người nghe thì sử dụng các hô ngữ
như: vâng, dạ, thưa, tâu, bẩm, muôn tâu,… Bằng cách sử dụng các hô ngữ
này, người nói thể hiện được sự tôn kính người nghe Ngược lại, người nghe sẽ
Trang 31cảm thấy có thiện cảm với người nói Nhờ vậy mà cuộc hội thoại giữa các nhân vật được thiết lập và duy trì, làm tăng hiệu quả giao tiếp
Ví dụ:
(1) Bẩm, “đại phong” là gió lớn Gió lớn thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng
lo, tượng lo là lọ tương ạ
(Ăn “mầm đá” - TV4 tập 1) (2) Mồ Côi bảo:
- Nhưng bác có hít hương thơm thức ăn trong quán không?
Bác nông dân đáp:
- Thưa có
(Mồ côi xử kiện-TV3 tập 1)
(3) Vâng! Có lần, chúng con gặp một hòn đá to chặn lối Bạn con chỉ
hích vai, hòn đá đã lăn sang một bên
(Bạn của Nai nhỏ-TV2 tập 1)
Trường hợp vai người nói cao hơn vai người nghe thì sử dụng các hô ngữ
như: ờ, ừ,…
Ví dụ:
(1) Ông phải phì cười:
Ừ, ông theo lời
(Thương ông-TV2 tập 1) (4) Dắt xe ra cửa, tôi lễ phép thưa:
-Thưa ba, con xin phép đi học nhóm
Ba tôi mỉm cười:
-Ờ, về nhà sớm nghe con!
(Chị em tôi-TV4 tập 1)
Đặc biệt, hô ngữ đáp dạ là hô ngữ mang tính chất trung hòa, có thể sử
dụng khi giao tiếp với những người ngang hàng hoặc cả với những người có vị thế cao hơn
Ví dụ:
(1) Bữa ấy, chúa đợi món “mầm đá” đã quá bữa, thấy đói bụng bèn hỏi:
Trang 32-“Mầm đá” đã chín chưa?
Trạng đáp:
-Dạ, chưa ạ
(Ăn “mầm đá” - TV 4 tập 2) (2) Thuyên ngạc nhiên nhìn anh thanh niên Trên gương mặt đôn hậu, cặp mắt anh ánh lên vẻ thành thực, dễ mến Thuyên bối rối:
-Xin lỗi Tôi quả thật chưa nhớ ra anh là…
Người thanh niên không để Thuyên kịp dứt lời:
-Dạ, không! Bây giờ tôi mới được biết hai anh Tôi muốn làm quen…
(Giọng quê hương - TV3 tập 1)
Nếu như ở ví dụ (1) Trạng Quỳnh trả lời chúa Trịnh bằng hô ngữ dạ để
thể hiện sự tôn kính thì ở ví dụ (7) nhân vật “người thanh niên” mặc dù trạc tuổi,
lần đầu tiên gặp cũng sử dụng hô ngữ dạ Việc sử dụng hô ngữ dạ cho thấy anh
thanh niên đã thể hiện sự lịch sự với những người cùng quê với mẹ mình
2.3.2 Hô ngữ biểu thị cảm xúc, tình cảm
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, ngoài việc sử dụng một lượng lớn các hô ngữ gọi – đáp, các văn bản tập đọc còn sử dụng 25 hô ngữ biểu thị cảm xúc, tình cảm (chiếm 11.36%) Trong đó, lớp 1 có 0 hô ngữ chiếm (0%), lớp 2 có 9 hô ngữ chiếm (4.09%), lớp 3 có 5 hô ngữ chiếm (2.27%), lớp 4 có 6 hô ngữ chiếm (2.72%), lớp 5 có 5 hô ngữ chiếm (2.27%)
Số lượng các hô ngữ này tuy ít nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong cách biểu thị cảm xúc, tình cảm của người nói trước đối tượng được nhắc đến Các hô ngữ biểu thị cảm xúc, tình cảm trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học mà chúng tôi đã khảo sát đều có nội dung thể hiện thái độ ngạc nhiên, bất ngờ của người nói Ngoài ra, hô ngữ này còn biểu thị lời than của người nói
Trang 33Những con người Tây Nguyên khi lần đầu tiên nhìn thấy chữ của cô giáo
Y Hoa thì họ rất ngạc nhiên reo hò ôi, a Điều này cho thấy những con người nơi
đây yêu quý “cái chữ” biết bao nhiêu và họ cũng đã rất háo hức chờ đợi để xem
“cái chữ” từ rất lâu
(2) A, núi Hồng! Kìa, chú La, đúng không?
(Xem truyền hình - TV2 tập 2)
Đối với người dân vùng núi, được xem vô tuyến là một may mắn Được chứng kiến những gì trên đó mà đặc biệt là hình ảnh của núi Hồng, chú La cũng xuất hiện khiến họ không khỏi bất ngờ Những tiếng reo vui, bình phẩm vang
lên sau hô ngữ a càng làm nổi bật hơn sự bất ngờ đó
(3) Ôi, tôi mới dại dột làm sao! Tôi đã không muốn giúp lừa dù chỉ chút
ít, nên bây giờ phải mang nặng gấp đôi
(Lừa và ngựa - TV3 tập 1)
Sau khi nhận ra sai lầm của mình là đã không giúp đỡ Lừa, Ngựa than ôi
để trách bản thân mình dại dột Lời than của Ngựa tỏ rõ sự hối hận của nó Từ đó người đọc có thể rút ra bài học là phải luôn luôn giúp đỡ mọi người
(4) Ái chà chà! Bím tóc đẹp quá!
(Bím tóc đuôi sam - TV2 tập 1)
Hô ngữ Ái chà chà của các bạn gái trong lớp thể hiện thái độ lạ lẫm, thích
thú trước bím tóc đuôi sam mà Hà đã nhờ mẹ tết Khi nghe như vậy, Hà cảm thấy rất vui, tự tin về bím tóc của mình
2.4 Tác dụng của hô ngữ trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
2.4.1 Thể hiện các vai giao tiếp và vị thế của các nhân vật
Trong giao tiếp bằng lời, các vai giao tiếp có vai trò biểu hiện vị thế xã hội của những nhân vật tham gia hội thoại Các vai này chi phối ngôn từ được sử dụng, trong đó có việc sử dụng hô ngữ Nói cách khác, cách sử dụng hô ngữ phụ thuộc nhiều vào quan hệ giữa các nhân vật tham gia hội thoại trong những vai giao tiếp khác nhau Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành
Trang 34viên trong quá trình giao tiếp, vai giao tiếp trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học có thể phân thành hai nhóm:
2.4.1.1 Vai người nói ngang hàng với vai người nghe
Dấu hiệu của việc thể hiện vai người nói ngang hàng với vai người nghe là các nhân vật tham gia giao tiếp sử dụng các hô ngữ phi định danh, hoặc các
hô ngữ định danh (có thể bao gồm phần hạt nhân định danh và thành phần đi kèm hoặc chỉ có phần hạt nhân định danh)
Thông qua việc sử dụng các hô ngữ của các nhân vật tham gia giao tiếp, học sinh Tiểu học dễ dàng nhận ra mối quan hệ ngang hàng của các nhân vật trong các văn bản tập đọc Đó là các quan hệ:
- Quan hệ bạn bè: Trong giao tiếp, bạn bè có thể sử dụng các hô ngữ mang tính chất thân mật, suồng sã
Ví dụ:
(1) Này…Còn ngọn đèn hoa kì…
(Người công dân số một-TV5 tập 2)
(3) Cúc ơi, cho mình mượn chiếc bút bạn chưa dùng với
Chúng mình là bạn đồng nghiệp đấy, đồng chí Thủy ạ!
(Một chuyên gia máy xúc-TV5 tập 1)
2.4.1.2 Vai người nói không ngang hàng với vai người nghe
- Thứ nhất, vai người nói thấp hơn vai người nghe
Trang 35Ở trường hợp này, người nói có quan hệ quyền uy thấp hơn so với người nghe Do đó, khi tham gia giao tiếp, người nói thường sử dụng hô ngữ có cấu tạo là danh từ hoặc cụm danh từ, danh từ (hoặc cụm danh từ) + tình thái từ nhưng thông dụng nhất vẫn là động từ ngôn hành (lạy, thưa,…) + danh từ (hoặc cụm danh từ)
Với các động từ như thưa, bẩm, muôn tâu,… người nói bày tỏ sự tôn
kính, thể hiện tâm trạng sợ sệt, trạng thái khúm núm, và đó là dấu hiệu biểu thị vị thế của người nói thấp hơn trong quan hệ với người nghe So với các động từ
như bẩm, muôn tâu thì động từ thưa được sử dụng nhiều hơn trong các hô ngữ
Người đọc có thể thấy rõ sự tôn kính của bề dưới đối với bề trên, đó là sự giữ lễ, giữ nghĩa, trọng tình cảm gia đình, anh em, thầy trò, vua tôi,…
Ví dụ:
(1) Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không ạ!
(Các em nhỏ và cụ già - TV3 tập 1)
Trường hợp này, các em nhỏ ít tuổi hơn cụ già, tức là ở vị thế thấp hơn
Do đó, khi giao tiếp với cụ già, các em nhỏ phải sử dụng động từ ngôn hành
“thưa” trước danh từ “cụ” để thể hiện sự kính trọng người nhiều tuổi hơn mình
(2) Tâu Bệ hạ! Con không làm sao cho thóc nảy mầm được
(Những hạt thóc giống - TV4 tập 1)
Bệ hạ (tức là vua), là người có quyền cao nhất ở một đất nước Do đó, bất kì một công dân nào đều phải tôn kính, giữ lễ Nhân vật Chôm trong câu chuyện này cũng vậy, khi giao tiếp với vua, Chôm đã biết sử dụng hô ngữ thể hiện sự tôn kính tuyệt đối “Tâu Bệ hạ”
(3) Bà ơi, bát nào đựng tương, bát nào đựng mắm?
(Đi chợ-TV2 tập 1)
(4) Mẹ ơi, con sẽ cố gắng thay một đứa con trai trong nhà, mẹ nhé
(Con gái-TV5 tập 2)
Quan hệ bà - cháu, mẹ - con là quan hệ gia đình Cháu có vị thế thấp hơn
so với bà, con có vị thế thấp hơn so với mẹ, vì vậy khi gọi bà (gọi mẹ), cháu
Trang 36(con) phải thể hiện thái độ tôn kính Hô ngữ “bà ơi”, “mẹ ơi” trong trường hợp này được người nói sử dụng là rất phù hợp
(5) Bẩm chúa, lúc đói ăn cơm muối cũng ngon, no thì chẳng có gì vừa
miệng đâu ạ
(Ăn “mầm đá”-TV4 tập 2)
Chúa Trịnh là người nắm trong tay mọi quyền hành của nước ta thời bấy giờ Vì vậy, khi giao tiếp với chúa Trịnh, Trạng Quỳnh phải kính cẩn với bề trên
Có thể thấy, hầu hết những nhân vật có vị thế thấp hơn trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học khi giao tiếp với nhân vật có vị thế cao hơn đều sử dụng các hô ngữ đúng mực, thể hiện rõ sự tôn kính của bề dưới đối với bề trên Ngoài ra, ở một số nhân vật còn thể hiện sự tôn trọng, nể trọng của người tự thấy mình bé nhỏ hơn, yếu ớt hơn, yếu thế hơn, cần sự giúp đỡ
Ví dụ:
(1) Chị ngựa ơi! Chúng ta là bạn đường Chị mang đỡ tôi với, dù chỉ chút
thôi cũng được Tôi kiệt sức rồi
phù hợp để thể hiện thái độ lễ phép, tôn trọng,…người nghe
- Thứ hai, vai người nói cao hơn vai người nghe
Người có vị thế cao hơn thường sử dụng quyền uy trong cách dùng hô ngữ Thường khi có vị thế cao hơn vai người nghe thì người nói dùng hô ngữ phi định danh (tiêu biểu là các từ ‘‘nè’’, ‘‘nào’’, ‘‘này’’) Hoặc nếu đó là hô ngữ định danh thì hô ngữ có cấu tạo: danh từ (hoặc cụm danh từ), danh từ (hoặc cụm
Trang 37danh từ)+ tình thái từ Hầu hết các nhân vật có vị thế cao trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học đều sử dụng những kiểu hô ngữ này để gọi, để hướng sự chú ý của người nghe vào lời nói của mình
Ví dụ:
(1) Nào! Các em hãy lắng nghe và cho cô biết mẩu giấy vụn đang nói gì
nhé!
(Mẩu giấy vụn - TV2 tập 1)
Trong tình huống này, cô giáo là người có vị thế cao hơn các học sinh
trong lớp nên cô giáo có thể sử dụng hô ngữ ‘‘nào’’ để làm dấu hiệu cho học
sinh chú ý vào câu hỏi của mình
(2) Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện
hơn không?
(Cậu bé và cây si già - TV2 tập 2)
Căn cứ vào tuổi tác, những người nhiều tuổi hơn thường ở bậc trên, những người ít tuổi hơn thường ở bậc dưới Do đó, cây si già khi gọi cậu bé có thể sử dụng hô ngữ ‘‘này’’ Hô ngữ ‘‘này’’ mang sắc thái nghiêm khắc, trịnh thượng, áp đặt
(3) Một buổi chiều đẹp trời, gió từ sông Cái thổi vào mát rượi Vịnh đang ngồi học bài, bỗng nghe thấy tiếng còi tàu vang lên từng hồi dài như giục giã Chưa bao giờ tiếng còi tàu lại phát dài như vậy Thấy lạ, Vịnh nhìn ra đường tàu Thì ra hai cô bé Hoa và Lan đang ngồi chơi chuyền thẻ trên đó Vịnh lao ra như tên bắn, la lớn:
- Hoa, Lan, tàu hỏa đến!
(Út Vịnh - TV5 tập 2)
Trường hợp này cũng căn cứ vào tuổi tác để lựa chọn hô ngữ Hoa và Lan nhỏ tuổi hơn Út Vịnh Khi thấy hai em đang chơi chuyền thẻ trên đường tàu đúng lúc tiếng còi tàu vang lên từng hồi dài như giục giã báo hiệu tàu sắp đến thì
Vịnh la lớn Hoa, Lan, tàu hỏa đến! Cách gọi tên riêng như vậy cho thấy Vịnh
có vị thế cao hơn Hoa và Lan
Trang 38(4) Thằng ranh! Giấy tờ đâu, đưa coi!
(Lòng dân - TV5 tập 1)
Cai gọi anh cán bộ với cái tên đầy mỉa mai, quyền lực đó là “thằng ranh” nhằm cố tình ra oai, hống hách, bắt nạt anh cán bộ Rõ ràng với cách dùng hô ngữ này cai tự xác định mình có vị thế cao hơn hẳn so với anh cán bộ
Bên cạnh đó, việc dùng hô ngữ có cấu tạo danh từ (hoặc cụm danh từ) + tiểu từ cũng thường thấy ở những nhân vật có vị thế cao hơn Cách dùng kiểu hô ngữ này giúp chúng ta thấy được sự gần gũi, tình cảm trìu mến của người ở bậc trên đối với người ở bậc dưới
Ví dụ:
(1) Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi
(Người ăn xin - TV4 tập 1)
(2) Con người muốn sống, con ơi
Phải yêu đồng chí, yêu người anh em
(Tiếng ru - TV3 tập 1)
(3) Em hãy hái thêm hai bông nữa, Chi ạ! Một bông cho em, vì trái tim
nhân hậu của em Một bông cho mẹ, vì cả bố và mẹ đã dạy dỗ em thành một cô
bé hiếu thảo
(Bông hoa Niềm vui-TV2 tập 1)
(4) Các cháu ơi! Giấc ngủ có ngon không
Trang 39thể hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và chính bản thân họ [11, Tr.48]
Trong cuộc sống, mỗi người có một tính cách khác nhau Tính cách của con người có thể là tính cách tốt hoặc xấu, đáng tôn trọng hay không đáng tôn trọng và chúng được thể hiện qua lời ăn tiếng nói, qua suy nghĩ và hành động của người đó Đặc biệt, thông qua giao tiếp, tính cách của con người được bộc lộ rõ nét Sử dụng hô ngữ cũng là một bộ phận, một đặc trưng hết sức quan trọng của quá trình giao tiếp Do đó, sử dụng hô ngữ trong giao tiếp cũng góp phần thể hiện tính cách của con người
Thế giới nhân vật trong các văn bản tập đọc ở Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học rất phong phú Mỗi nhân vật có cách sử dụng hô ngữ khác nhau và điều đó cũng biểu hiện những nét tính cách khác nhau của từng nhân vật
- Trước hết, đó là những tính cách tốt đẹp của các nhân vật như tôn trọng, tôn kính, giữ lễ, …
Ví dụ:
(1)…Khi trở lại phòng họp, Bác ngồi giữa các em và hỏi:
- Các cháu chơi có vui không?
Những lời non nớt vang lên:
- Thưa Bác, vui lắm ạ !
(Ai ngoan sẽ được thưởng - TV 2 tập 2)
Đây là lần đầu tiên các em nhỏ ở trại nhi đồng được gặp gỡ Bác Hồ Bác Hồ là người đáng được kính trọng, do đó khi Bác hỏi thì các em nhỏ đều trả lời lịch sự bằng hô ngữ ‘‘Thưa Bác’’ Điều này cho thấy các em thiếu nhi ở trại nhi đồng này có phép lịch sự với người lớn, đáng được khen ngợi
(2)…Bữa ấy, chúa đợi món “mầm đá” đã quá bữa, thấy đói bụng bèn hỏi: -“Mầm đá” đã chín chưa?
Trang 40-Bẩm, là tương ạ !
-Vậy ngươi đề hai chữ “đại phong” là nghĩa làm sao ?
-Bẩm, “đại phong” là gió lớn Gió lớn thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo,
tượng lo là lọ tương ạ
Chúa bật cười :
-Lâu nay ta không ăn, quên cả vị Sao tương ngon thế ?
-Bẩm chúa, lúc đói ăn cơm muối cũng ngon, no thì chẳng có gì vừa
miệng đâu ạ
(Ăn “mầm đá” – TV4 tập 2)
Chỉ thông qua bài tập đọc Ăn “mầm đá”, người đọc có thể nhận thấy
Trạng Quỳnh đã sử dụng đến 4 hô ngữ thể hiện sự tôn kính: “dạ”, “bẩm”,
“bẩm”, “bẩm chúa” Nhờ vậy Trạng Quỳnh không chỉ thể hiện mình là người thông minh mà còn là người có phép lịch sự, thái độ cư xử nhã nhặn, biết giữ lễ với bề trên
(3)
Cai: - Anh chị kia!
Dì Năm: - Dạ, cậu kêu chi?
Cai: - Có thấy một người mới chạy vô đây không?
khiêm tốn với chúng bằng cách sử dụng 3 lần hô ngữ dạ Dì Năm hiện lên với
hình ảnh một con người có tính cách rất mạnh mẽ, sẵn sàng xã thân để bảo vệ cán bộ cách mạng