1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4 5 tuổi ở trường mầm non hoa phượng đỏ TP đà nẵng thông qua bộ tranh theo chủ đề

93 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, bước đầu hình thành những năng lực cần thiết để trẻ tham gia vào các hoạt động thực tế tìm hiểu và giữ gìn môi trường phù hợp với lứa tuổi.[11] Sử dụng tranh, ảnh là một trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG ĐỎ - TP ĐÀ NẴNG THÔNG

QUA BỘ TRANH THEO CHỦ ĐỀ

Người hướng dẫn khoa học : Th.S Trần Hồ Uyên

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Vân

Lớp : 11SMN1

Đà Nẵng, tháng 4/2016

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu: 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 3

3.1 Khách thể nghiên cứu: 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu: 3

4 Gỉa thuyết khoa học: 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3

6 Phạm vi nghiên cứu: 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận: 4

7.2 Phương pháp nghiên cứu cở sở lí luận 4

7.3 Phương pháp thực nghiệm 4

7.4 Phương pháp đánh giá, xử lí số liệu 4

8 Những đóng góp của đề tài 4

8.1 Về mặt lí luận 4

8.2 Về mặt thực tiễn 4

9 Cấu trúc khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG BỘ TRANH THEO CHỦ ĐỀ ĐỂ GIÁO DỤC TRẺ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG MẦM NON 6

1 Tình hình nghiên cứu 6

Trang 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6

1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 7

1.3 Các khái niệm công cụ 8

1.4 Những vấn đề chung về GDBVMT cho trẻ MG 13

1.5 Điều kiện giáo dục bảo vệ môi trường 15

1.6 Giới thiệu về bộ tranh giáo dục trẻ bảo vệ môi trường 16

1.7 Đặc điểm tâm sinh lí và đặc điểm lĩnh hội tri thức về môi trường xung quanh của trẻ 4-5 tuổi 17

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 20

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ VIỆC VẬN DỤNG BỘ TRANH THEO CHỦ ĐỀ ĐỂ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 4-5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG ĐỎ - TP ĐÀ NẴNG 21

2.1 Khái quát về trường mầm non Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng 21

2.2 Khái quát về quá trình điều tra, khảo sát: 22

2.3 Nội dung khảo sát 22

2.4 Phương pháp nghiên cứu 22

2.5 Thực trạng về việc GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ-TP.Đà Nẵng 23

2.6 Những yêu cầu để đảm bảo cho việc sử dụng bộ tranh GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường mầm non có hiệu quả 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 30

CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 4-5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG ĐỎ - TP ĐÀ NẴNG THÔNG QUA BỘ TRANH THEO CHỦ ĐỀ 31

Trang 4

3.1 Cơ sở của việc vận dụng bộ tranh của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích để

GDMT cho trẻ MG 4-5 tuổi 31

3.2 Thực nghiệm các kế hoạt hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi 32

3.3 Phương pháp đánh giá kết quả kiểm tra thực nghiệm 37

3.4 Tiêu chí và thang đánh giá: 38

3.5 Kết quả kiểm tra, đánh giá trước TN 39

3.6 Kết quả kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

1 Kết luận 52

2 Kiến nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 5

BVMT : Bảo vệ môi tường

GDMT : Giáo dục môi trường

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Mức độ về việc GDBVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi

Bảng 2.2 Mức độ về việc sử dụng tranh, ảnh trong việc GDBVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi Bảng 2.3 Các hoạt động có thể sử dụng tranh, ảnh để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi Bảng 2.4 Các hình thức có thể sử dụng tranh, ảnh trong việc GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi Bảng 2.5 Hiệu quả của việc sử dụng tranh, ảnh để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi Bảng 2.6 Số lượng tranh, ảnh hiện có sẵn để sử dụng vào việc GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi Bảng 2.7 Mức độ sử dụng bộ tranh của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích để

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Biểu đồ khả năng quan sát và giải quyết nhiệm vụ hoạt động giáo dục của trẻ

Hình 3.2 Tính tích cực và thái độ của trẻ trong khi tham gia các kế hoạch hoạt động

hoạch hoạt động giáo dục trước vấu TN của lớp TN

Hình 3.6 Biểu đồ tính tích cực và thái độ của trẻ trong khi tham gia các hoạt động

giáo dục BVMT (tiêu chí 2) sau TN

Hình 3.7 Biểu đồ so sánh tính tích cực và thái độ của trẻ trước và sau thực nghiệm

của lớp TN

Hình 3.8 Ý thức BVMT của trẻ qua mỗi kế hoạch hoạt động giáo dục sau TN Hình 3.9 Biểu đồ ý thức BVMT của trẻ qua mỗi kế hoạch hoạt động giáo dục sau

TN

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Dựa vào nguồn gốc hình thành xã hội loài người trên Trái Đất, các nhà khoa học đã khẳng định rằng: mọi cá nhân ngay từ khi sinh ra đã có quan hệ mật thiết với môi trường xung quanh Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội Tuy nhiên, con người hoạt động cải tạo thiên nhiên, tạo nên cuộc sống xã hội, nhưng con người lại luôn luôn chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, điều kiện văn hóa dân tộc truyền thống và kinh tế Môi trường là nơi con người khai thác nguồn nguyên, vật liệu và năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất và cuộc sống như: đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng như củi, gỗ, nắng, gió… Các sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hóa, du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên Trái Đất và không gian bao quanh Trái Đất [9]

Ngày nay, môi trường trên thế giới cũng như ở nước ta đang có nhiều vấn đề bất cập như: đất đai bị xói mòn; chất lượng các nguồn nước bị suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng, khối lượng phát sinh và mức

độ độc hại của chất thải ngày càng gia tăng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng, các thảm họa do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, các vấn đề này đã và đang gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường Do vậy, việc bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của sự phát triển bền vững toàn cầu nói chung và ở Việt Nam nói riêng, bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của mọi người, là biểu hiện của nếp sống văn hóa, đạo đức, là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hòa với tự nhiên Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đến môi trường và bảo tồn thiên nhiên làm mục tiêu hàng đầu Bảo vệ môi trường là một công việc lâu dài và phải được quan tâm thường xuyên của các cấp

Trang 10

Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non sẽ cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường phù hợp với khả năng, nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành vi đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh Qua đó sẽ hình thành

và phát triển nhân cách của con người, được thực hiện trong một môi trường nhất định Giáo dục môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó giúp trẻ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình Vì vậy, giáo dục môi trường đã được đưa vào hệ thống giáo dục quốc dân và cần được bắt đầu ngay từ tuổi mầm non.[10]

Giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo được tiến hành theo quan điểm lồng ghép vào một số môn học, từ đó hình thành thái độ tích cực, các định hướng đúng đắn về môi trường xung quanh Đồng thời, bước đầu hình thành những năng lực cần thiết để trẻ tham gia vào các hoạt động thực tế tìm hiểu và giữ gìn môi trường phù hợp với lứa tuổi.[11]

Sử dụng tranh, ảnh là một trong những phương pháp giúp trẻ tiếp cận với thế giới xung quanh một cách dễ dàng, hiệu quả nhằm nâng cao hiểu biết của trẻ về môi trường xung quanh, trên cơ sở đó xây dựng cho trẻ ý thức bảo vệ môi trường Năm 2012, Thạc sĩ Nguyễn Thị Cẩm Bích cùng một số tác giả khác đã thực hiện

đề tài và xây dựng được bộ tranh giáo dục trẻ mẫu giáo bảo vệ môi trường Hiện nay, bộ tranh đã được Bộ GD&ĐT xuất bản để phổ biến rộng rãi Tuy nhiên, tại các trường Mầm Non ở Thành Phố Đà Nẵng, các giáo viên vẫn chưa vận dụng bộ tranh này vào trong việc giáo dục môi trường cho trẻ Nhằm giáo dục môi trường cho trẻ thông qua những hình ảnh minh họa sinh động để giúp trẻ dễ nhớ, dễ hình thành các khái niệm về môi trường hơn, đồng thời có thể đánh giá được hiệu quả giáo dục môi trường của bộ tranh đó tại trường Mầm Non Hoa Phượng Đỏ - Thành

Phố Đà Nẵng, tôi lựa chọn đề tài " Đánh giá hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Hoa Phượng Đỏ - TP Đà Nẵng thông qua bộ tranh theo chủ đề"

2 Mục đích nghiên cứu:

Trang 11

Giáo dục môi trường cho trẻ 4-5 tuổi tại trường Mầm Non Hoa Phượng Đỏ - TP

Đà Nẵng thông qua bộ tranh và từ đó đánh giá được hiệu quả của bộ tranh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ -TP.Đà Nẵng

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Sử dụng bộ tranh để giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi tại trường Mầm Non Hoa Phượng Đỏ- TP Đà Nẵng

4 Gỉa thuyết khoa học:

Thông qua bộ tranh, với những hình ảnh sinh động, những hành động cụ thể, thiết thực trẻ sẽ dễ dàng tiếp thu và thể hiện tình yêu thiên nhiên với mọi vật xung quanh trẻ

Nếu giáo viên sử dụng tốt bộ tranh giáo dục môi trường thì sẽ góp phần kích thích trẻ 4-5 tuổi có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường sống xung quanh, và việc giáo dục trẻ sẽ đạt hiệu quả cao Đồng thời, giúp trẻ tích cực tham gia hoạt động bảo vệ môi trường, tạo ra môi trường sống tốt và trong lành hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc vận dụng bộ tranh theo chủ đề nhằm giáo dục

trẻ 4-5 tuổi bảo vệ môi trường ở trường mầm non

5.2 Nghiên cứu thực trạng vận dụng bộ tranh môi trường để giáo dục trẻ 4-5 tuổi

bảo vệ môi trường ở trường mầm non

5.3 Thực nghiệm việc sử dụng bộ tranh môi trường để giáo dục trẻ 4-5 tuổi bảo vệ

môi trường ở trường mầm non

5.4 Đánh giá hiệu quả việc sử dụng bộ tranh môi trường để giáo dục trẻ 4-5 tuổi

bảo vệ môi trường ở trường mầm non

6 Phạm vi nghiên cứu:

6.1 Không gian:

Trường mầm non Hoa Phượng Đỏ - TP.Đà Nẵng

Trang 12

6.2 Thời gian:

Từ tháng 10/2015 đến tháng 4/2016

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận:

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, đánh giá, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, cụ thể hóa lí thuyết nhằm xây dụng cơ

sở lí luận của đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu cở sở lí luận

để giáo dục trẻ 4-5 tuổi ở trường Mầm non bảo vệ môi trường

7.3 Phương pháp thực nghiệm

Tạo điều kiện cho trẻ được tham gia trải nghiệm thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học, qua đó có thể cung cấp hoặc củng cố kiến thức cho trẻ

7.4 Phương pháp đánh giá, xử lí số liệu

Sử dụng công thức thống kê toán học để xử lí số liệu

Trang 13

trường Đồng thời, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể cho thấy được hiệu quả của việc sử dụng bộ tranh giáo dục môi trường cho trẻ MG 4 – 5 tuổi tại Trường mầm non Hoa Phượng Đỏ - Thành Phố Đà Nẵng, để từ đó các giáo viên có thể vận dụng rộng rãi hơn nhằm giáo dục trẻ bảo vệ môi trường

9 Cấu trúc khóa luận

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

Chương I Cơ sở lí luận của việc vận dụng bộ tranh theo chủ đề để giáo dục trẻ bảo

vệ môi trường ở trường Mầm non

Chương II Thực trạng về việc vận dụng bộ tranh theo chủ đề để giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường Mầm non Hoa Phượng Đỏ - TP.Đà Nẵng

Chương III Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ - TP Đà Nẵng thông qua bộ tranh theo chủ đề

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TẠI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG BỘ TRANH THEO CHỦ

ĐỀ ĐỂ GIÁO DỤC TRẺ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG MẦM NON

1 Tình hình nghiên cứu

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Năm 1999, tác giả Kriesberg và Daniel A đã xuất bản cuốn sách tranh về giáo dục môi trường cho trẻ, cuốn sách này giới thiệu trẻ để tăng sự hứng thú cho trẻ và những mối quan hệ giữa chúng Nội dung cuốn sách bao gồm các chương: (1)

“ Sự kì quan của nơi ở” , (2) “ Cái nhìn về nơi ở” , (3) “ Thích nghi với nơi ở”, (4) ,(5) “ Nơi ở của động vật”, (6) “ Nơi ở của cây”, (7) “ Một nơi trong lịch sử”, (8) “ Bảo vệ nơi ở” [7]

Năm 2007, tác giả Danielle M.Zynda đã thực hiện nghiên cứu sách tranh để giáo dục môi trường cho trẻ, nghiên cứu này phân tích nội dung của các cuốn sách tranh được lựa chọn để xác định sự phù hợp đối với việc giáo dục môi trường cho trẻ ở độ tuổi tiểu học Nghiên cứu này cho thấy, các cuốn sách tranh giáo dục môi trường được viết theo văn phong bình thường thì không thích hợp đối với sự hiểu biết và nhận thức của trẻ, và xác định rằng các cuốn truyện tranh giáo dục môi trường lí tưởng là một cuốn sách tranh chất lượng mà khuyến khích sự đánh giá của thiên nhiên và các vấn đề môi trường một cách tích cực và thích hợp với sự phát triển [6] Năm 2011, tác giả Mubeccel Gonen và Tulin Guler đã xuất bản cuốn sách: Sách tranh trẻ em, môi trường và vị trí của nó’’ Trẻ em nhận được nhiều thông điệp về các khái niệm thế giới thực từ sách truyện tranh Mục đích của nghiên cứu là để kiểm tra các chủ đề môi trường trong sách truyện tranh cho trẻ 2-12 tuổi, được công

bố tại Thổ Nhĩ Kỳ Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong đề tài này 80 sách truyện tranh được xuất bản từ năm 1995 đến năm 2010 đã được lựa chọn và đánh giá Theo kết quả phân tích có 80% của những cuốn sách có chủ đề môi trường Những cuốn sách này, đặc biệt có các chủ đề về sự sắp đặt ngăn nắp (7,5%), mùa (3,8%), khái niệm về bản chất (22,5%), và tầm quan trọng của nước (2,5%) Các khái niệm liên quan đến môi trường được tìm thấy trong cuốn sách cho

Trang 15

lứa tuổi 6 tuổi trở lên Những nhân vật chính trong cuốn sách là những động vật và con người Theo kết quả nghiên cứu, sách tranh gửi gắm tới trẻ trước tuổi đi học các khái niệm về môi trường tốt [8]

1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về việc sử dụng tranh để giáo dục trẻ bảo vệ môi trường cho trẻ dưới nhiều góc độ và các hình thức khác nhau

Bộ truyện tranh của Th.Sĩ Bùi Thị Kim Tuyến, nghiên cứu biên soạn sách truyện tranh về nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non, nhằm hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện nội dung GDBVMT, góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi trường cho trẻ, giáo dục ý thức, thái độ sống thân thiện với môi trường, hình thành hành vi ứng xử tích cực và thói quen BVMT, qua kết quả trưng cầu ý kiến cán bộ quản lí và GVMN cho thấy bộ sách về GDBVMT cho trẻ mầm non là rất cần thiết cho các trường mầm non Bộ sách được xây dựng trên các chủ đề gần gũi với trẻ, xoay quanh các nội dung về GDBVMT tạo cơ hội để trẻ được học về GDBVMT một cách hiệu quả nhất Bộ sách được CBQL và GV mầm non đánh giá cao về nội dung sách cũng như về sự thể hiện nội dung tranh, truyện của các họa sĩ

Ngoài ra NXB GD Việt Nam còn xuất bản bộ tranh loto hướng dẫn bé BVMT của tác giả: Nguyễn Thị Hiếu và Trần Thị Thu Hòa, bộ tranh loto giúp trẻ mầm non nhận thức trực diện các hình ảnh bảo vệ môi trường, qua đó dần hình thành ý thức cho trẻ trong việc chung

Tác giả Nguyễn Thị Hiếu và Nguyễn Thị Hồng Thu cũng đã đưa ra bộ tranh loto giáo dục trẻ mầm non với đề tài là ứng phó với biến đổi khí hậu, thông qua bộ tranh giúp trẻ mầm non nhận thức các hiện tượng biến đổi khí hậu, qua đó dần hình thành

ý thức và kỹ năng cho bé trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu Bộ thẻ cũng là tài liệu quan trọng để các giáo viên mầm non giảng dạy một cách trực quan sinh động hơn trong giờ học, trẻ hiểu được cần phải làm gì để việc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu có hiệu quả

Trang 16

Năm 2015 NXB Trùng Khánh đã xuất bản bộ tranh bảo vệ môi trường với các câu chuyện: câu chuyện về nước máy, câu chuyện về thủy tinh, câu chuyện về giày

da, câu chuyện về đôi đũa, câu chuyện về cục pin, câu chuyện về kẹo cao su, câu chuyện về túi ni-long, câu chuyện về giấy Đây là cuốn sách tuyệt vời và đẹp trong mắt trẻ thơ Đề tài đã xây dựng bộ tranh để GDBVMT cho trẻ, bộ tranh nói lên rất nhiều điều lí thú, thông qua mỗi chủ đề là một lĩnh vực mà bộ sách Bảo vệ môi trường đề cập tới nhằm nâng cao ý thức của trẻ qua mỗi câu chuyện, và tác giả đã đưa ra kết luận rằng sau khi xem các bức tranh về các câu chuyện, trẻ rất hứng thú, say sưa

Gần đây, 2015, NXB GD Việt Nam đã xuất bản cuốn sách giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu phòng và chống thiên tai trong trường mầm non Cuốn sách có thể tích hợp nội dung giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai vào các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo trong trường mầm non, đóng góp tích cực vào việc ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng và chống thiên tai trong nhà trường và cộng đồng Bộ tranh đã đem lại cái nhìn mới mẻ cho trẻ về hiện thực diễn ra xung quanh trẻ và trẻ cũng hiểu được trách nhiệm của bản thân phải làm gì để góp phần bảo vệ môi tường sống trong lành hơn.[13]

1.3 Các khái niệm công cụ

1.3.1 Khái niệm môi trường

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam)

Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các tác giả có những định nghĩa khác nhau: + Theo Masn và Langenhim (1957) cho rằng, môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật

+ Theo Joe Whiteney (1993) thì cho rằng môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể,có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozon, sự đa dạng của các loài [14]

Trang 17

+ Theo Lương Tử Dung và Vũ Trung Ging (Trung Quốc) định nghĩa môi trường là hoàn cảnh sống của sinh vật, kể cả con người, mà sinh vật và con người không thể tách riêng ra khỏi điều kiện sống của nó

+ Theo Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) định nghĩa : môi trường

là tập hợp các yếu tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế xã hộ, tác động lên từng ca thể hay cộng đồng

+Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam (1994) môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mạt thiết với nhau, bao quanh con người

có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên [15]

+ Một định nghĩa nổi tiếng của S.V.Kalesnik (1959, 1970): "Môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà

ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản

xuất của con người" (xem S.V.Kalesnik: Các quy luật địa lí chung của trái

đất M.1970, tr 209-212)

+ Một định nghĩa khác của viện sĩ I.P.Gheraximov (1972) đã đưa ra định nghĩa môi

trường như sau: "Môi trường (bao quanh) là khung cảnh của lao động, của cuộc sống riêng tư và nghỉ ngơi của con người", trong đó môi trường tự nhiên là cơ sở cần thiết cho sự sinh tồn của nhân loại

+ Gần đây trong báo cáo toàn cầu năm 2000, công bố 1982 đã nêu ra định nghĩa

môi trường sau đây: "Theo tự nghĩa, môi trường là những vật thể vật lí và sinh học bao quanh loài người… Mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa các cá thể con người với môi trường bị xoá nhoà đi"

+ Trong quyển "Địa lí hiện tại, tương lai Hiểu biết về quả đất, hành tinh của chúng

ta, Magnard P, 1980", đã nêu ra khá đầy đủ khái niệm môi trường: "Môi trường là

tổng hợp - ở một thời điểm nhất định - các trạng huống vật lí, hoá học, sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinh vật hay đối với các hoạt động của con người"

Trang 18

+ Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là "Toàn bộ

các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong

đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người"

+Trong quyển: "Môi trường và tài nguyên Việt Nam" - NXB Khoa học và kỹ thuật,

H., 1984, đã đưa ra định nghĩa: "Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời

kì hay một xã hội" Cũng có những tác giả đưa ra định nghĩa ngắn gọn hơn, chẳng

hạn như R.G.Sharme (1988) đưa ra một định nghĩa: "Môi trường là tất cả những gì

bao quanh con người"

+ Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong "Luật bảo

vệ môi trường" đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kì họp thứ tư

thông qua ngày 27 - 12 -1993 định nghĩa khái niệm môi trường như sau: "Môi

trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên" (Điều 1 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam) [16]

Môi trường theo nghĩa rộng nhất là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài

có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho

sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con

người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm [17]

1.3.2 Khái niệm bảo vệ môi trường

Trang 19

F.Ănghen đã nói “Bản thân con người là sản phẩm của tự nhiên, con người tồn tại trong môi trường tự nhiên và cùng phát triển với môi trường

tự nhiên đó” Do đó, BVMT là yêu cầu cấp thiết của con người, cho con người

và vì con người

Thuật ngữ “Bảo vệ môi trường” mới chỉ được xuất hiện trong những năm đầu của thế kỉ XX Lần đầu tiên khái niệm này chỉ được dừng lại ở mức độ là “bảo vệ tự nhiên” và được giải thích là “ý muốn chung hướng tới sự bảo tồn những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng….” Về sau, nội dung của khái niệm này được

mở rộng và cụ thể hoá thêm Bảo vệ tự nhiên không chỉ là bảo tồn những đối tượng hiếm, đặc biệt của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt và tuyệt chủng, mà còn là việc

sử dụng một cách hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường khỏi

bị ô nhiễm, làm giàu thêm các nguồn tài nguyên, gìn giữ và bảo tồn phong cảnh, các

di tích văn hoá - lịch sử…và khái niệm “Bảo vệ tự nhiên” được thay thế bằng khái niệm “Bảo vệ môi trường”

Khái niệm “Bảo vệ môi trường” được luật “Bảo vệ môi trường” của Việt Nam,

1993, ghi rõ : “Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ gìn cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên”

Tóm lại, bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,

sạch đẹp nhằm cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác,

sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Điều 6, luật bảo vệ môi trường của Việt Nam ghi rõ: “ bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành

vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường”[1.tr10]

1.3.3 Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường

Trang 20

Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “GDMT là một quá trình thường xuyên, qua đó con người nhanajthuwcs được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kĩ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay

mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”

Theo kết quả đề tài nghiên cứu của TS Lê Xuân Hồng định nghĩa: “GDBVMT là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp cho con người có được sự hiểu biết, kĩ năng và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái’’

Tại Hội nghị quốc tế về GDBVMT của Liên hiệp quốc tổ chức tại Tbilisi năm

1997 xác định GDBVMT có mục đích: “ Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, vật lý, hóa học, kinh tế, xã hội, …; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ, kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về môi trường và quản lý chất lượng môi trường”

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động bảo vệ môi trường

là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” ”[18]

1.3.4 Khái niệm giáo dục môi trường cho trẻ mầm non

GDMT là quá trình lâu dài, cần được tiến hành từ khi con người biết cảm nhận

về môi trường, trong đó GDMT cho trẻ mầm non là sự khởi đầu quan trọng cho

sự tiếp tục trong những năm học phổ thông và sau này trong suốt cuộc đời GDMT phải được tiến hành từ khi trẻ còn nhỏ để tạo ra những hành vi tốt đối với môi trường và giáo dục trẻ bắt đầu thấy được trách nhiệm của mình trong việc bảo

vệ môi trường [4]

Trang 21

Khái niệm “GDMT cho trẻ mầm non” được hiểu như sau: “GDMT cho trẻ mầm

non là quá trình nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, quan tâm đến các vấn đề môi trường phù hợp với lứa tuổi được thể hiện qua kiến thức, thái độ, kỹ năng, hành vi của trẻ đối với môi trường xung quanh” [3]

1.4 Những vấn đề chung về GDBVMT cho trẻ MG

1.4.1 Mục tiêu GDBVMT cho trẻ MG

Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm cung cấp cho trẻ:

+Về kiến thức:

- Trẻ có kiến thức đơn giản về cách chăm sóc, giũ gìn sức khỏe cho bản thân

- Trẻ có những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của con người, về mối quan hệ

giữa động vật, thực vật, con người với môi trường, về cách chăm sóc bảo vệ cây cối, bảo vệ con vật và bảo vệ môi trường nơi trẻ ở

- Trẻ có kiến thức đơn giản về một số nghề, về văn hóa, phong tục tập quán nơi trẻ

sinh sống

+ Về kĩ năng:

- Trẻ biết vệ sinh cá nhân, vệ sinh lớp học, nhà ở và nơi công cộng (bỏ rác đúng nơi

quy định, để đồ dung đúng nơi quy định, giữ gìn quần áo, than thể sạch sẽ, đi vệ sinh đúng chỗ)

- Trẻ biết sử dụng tiết kiệm điện (tắt điện đi ra khỏi phòng, tắt tivi khi không xem)

- Trẻ biết sử dụng tiết kiệm nước trong sinh hoạt hằng ngày ở nhà và ở trường (vặn

vòi nước vừa đủ, khóa vòi nước sau khi dùng)

+ Về thái độ:

- Trẻ có thái độ yêu quý, gần gũi thiên nhiên,

- Trẻ có ý thức giữ gìn và bảo vệ những phong cảnh địa danh nổi tiếng của quê

hương

- Trẻ tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, vệ sinh nhà ở, lớp học,

tham gia trồng cây, tưới cây, chăm sóc vật nuôi… [1tr12]

1.4.2 Nội dung GDBVMT cho trẻ mẫu giáo

Trang 22

Việc giáo dục bảo vệ môi trường chủ yếu thực hiện theo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có, ở các hoạt động chung Nội dung GDBVMT còn được thực hiện ngoài hoạt động chung dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường ở trẻ

*Nội dung 1: Con người và môi trường sống

- Nhận biết môi trường: môi trường trong trường mầm non, môi tường ở gia đình

- Hiểu biết về môi trường xung quanh: phân biệt môi trường sạch, môi trường bị ô nhiễm, nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường

- Quan tâm bảo vệ môi trường: tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt, thamgia các hoạt động bảo vệ môi trường

*Nội dung 2: Con người với động vật, thực vật

- Mối quan hệ giữa động vật với con người, thực vật và môi trường

- Mối quan hệ giữa thực vật với con người, động vật và môi trường

- Mối quan hệ giữa con người với động vật, thực vật và môi trường

*Nội dung 3: Con người với một số hiện tượng thiên nhiên

- Gió: Lợi ích của gió,tác hại của gió, biện pháp tránh gió

- Nắng và Mặt trời: lợi ích của nắng, tác hại của nắng, biện pháp tránh nắng

- Mưa: Lợi ích của mưa, tác hại của mưa, biện pháp tránh mưa

*Nội dung 4: Con người và tài nguyên (đất, nước, rừng, danh lam thắng cảnh)

- Tác dụng của đất, biện pháp bảo vệ đất

- Tác dụng của nước, biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên nước

- Tác dụng của rừng, biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên rừng

- Tác dụng của danh lam thắng cảnh, biện pháp bảo vệ danh lam thắng cảnh

[1tr13]

1.4.3 Phương pháp GDBVMT cho trẻ MG

Trong giáo dục, phương pháp được định nghĩa là phương thức hoạt động gắn bó giữa giáo viên và trẻ nhằm đạt được những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng nhất định như: lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, thói quen, phát triển năng lực, hình thành các phẩm chất đạo đức và thói quen hành vi.[3]

Trang 23

Theo đó, phương pháp GDMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi được quan niệm là phương thức hoạt động gắn bó giữa giáo viên và trẻ nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, quan tâm đến các vấn đề môi trường phù hợp với lứa tuổi được thể hiện qua kiến thức, thái độ, kỹ năng, hành vi và trách nhiệm của trẻ đối với môi trường xung quanh

Để quá trình GDMT cho trẻ có hiệu quả, cần lựa chọn các phương pháp giáo dục phù hợp với lứa tuổi, khả năng nhận thức và tình cảm của trẻ Việc xác định các phương pháp GDMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi phải dựa trên những cơ sở khoa học nhất định

1.4.4 Hình thức GDBVMT cho trẻ MG

Việc GDMT cho trẻ ở trường mầm non không nên tiến hành một cách độc lập

mà được lồng ghép vào toàn bộ quá trình chăm sóc và các hoạt động giáo dục trẻ Theo quan điểm giáo dục hướng vào sự phát triển của trẻ hiện nay có thể coi việc giáo dục trẻ mầm non là quá trình tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng và hấp dẫn cho trẻ Với mục đích GDMT không chỉ cung cấp kiến thức, hình thành thái độ đúng với môi trường mà quan trọng hơn là hình thành kỹ năng, hành vi, thói quen bảo vệ môi trường, phù hợp với lứa tuổi cho trẻ thì việc phân loại hình thức GDMT dựa vào dạng hoạt động là phù hợp hơn cả

Do vậy, GDMT cho trẻ ở trường mầm non được lồng ghép vào các hình thức tổ chức hoạt động cơ bản cho trẻ ở trường mầm non

GDMT cho trẻ ở trường mầm non có thể được thực hiện thông qua các hình thức: GDMT thông qua hoạt động ngoài trời, GDMT thông qua hoạt động học tập, GDMT thông qua hoạt động vui chơi, GDMT thông qua hoạt động tham quan…[5]

1.5 Điều kiện giáo dục bảo vệ môi trường

Quá trình giáo dục nói chung, GDBVMT cho trẻ nói riêng hiện nay được quan niệm là quá trình phát triển của trẻ em bắt đầu từ một cá thể khi sinh ra đến khi trở thành một nhân cách phát triển toàn diện Trong quá trình phát triển thành người, trẻ phải tiếp xúc với môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh, học cách thích ứng

Trang 24

với nó thông qua việc khám phá các sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ xung quanh trẻ Sự trợ giúp của người lớn là cần thiết để giúp trẻ có thể vượt qua các khó khăn trở ngại luôn nảy sinh trong cuộc sống và tạo ra các cơ hội cho sự phát triển của trẻ với chất lượng cao hơn Việc GDBVMT cho trẻ mầm non chịu ảnh hưởng trực tiếp của các đối tượng liên quan mật thiết với nhau là: trẻ và tập thể trẻ, môi trường vật chất, giáo viên, phụ huynh.[4]

*Thứ nhất: trẻ mầm non và tập thể trẻ (nhóm trẻ, cả lớp) với tư cách là chủ thể của quá trình GDMT phải thể hiện vai trò tích cực của mình trong các hoạt động và sinh hoạt

*Thứ hai: môi trường với tư cách là phương tiện được sử dụng để GDMT cho trẻ

*Thứ ba: giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các hoạt động GDMT

ở trường mầm non và định hướng, hỗ trợ GDBVMT cho trẻ mầm non ở gia đình

*Thứ tư: các bậc phụ huynh là lực lượng quan trọng phối hợp với giáo viên để triển khai các hoạt động GDBVMT có hiệu quả

1.6 Giới thiệu về bộ tranh giáo dục trẻ bảo vệ môi trường

Nhu cầu khám phá, tìm hiểu về thế giới xung quanh của con người đã xuất hiện ngay từ khi còn nhỏ, từ khi mới sinh ra trẻ đã có nhu cầu tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh và khi trẻ càng ngày càng lớn thì nhu cầu đó ngày càng lớn hơn nhưng vì trẻ nhỏ chưa có vốn sống, vốn kinh nghiệm, trẻ chưa thể

tự khám phá được về thế giới xung quanh nên người lớn phải giúp đỡ trẻ, tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động nhằm cho trẻ làm quen, khám phá về môi trường xung quanh

Trong chương trình GDMN, nội dung GDBVMT đối với lứa tuổi MG được đưa vào theo hướng tích hợp, lồng ghép trong các chủ đề giáo dục nhằm hướng đến hình thành ở trẻ một số biểu tượng về giá trị của môi trường; sự tác động qua lại của con người với môi trường, hình thành ở trẻ thái độ và hành vi BVMT

Trẻ mầm non được trải nghiệm, khám phá, tiếp cận với MTXQ dưới nhiều hình thức đa dạng, theo phương châm: “chơi mà học, học mà chơi’’ là phương pháp GDBVMT có hiệu quả và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi này

Trang 25

Sử dụng tranh, ảnh là một trong những phương pháp giúp trẻ tiếp cận với thế giới xung quanh một cách dễ dàng, hiệu quả nhằm nâng cao hiểu biết của trẻ về môi trường xung quanh, trên cơ sở đó xây dựng cho trẻ ý thức bảo vệ môi trường Nội dung các bức tranh góp phần mở rộng hiểu biết của trẻ về môi trường sống xung quanh nhằm hình thành thái độ, hành vi và thói quen đúng đắn của trẻ về bảo vệ môi trường, từ đó giúp trẻ có ý thức bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp Ngoài

ra, qua việc xem tranh, hoạt động với tranh còn khuyến khích trẻ hoạt động tích cực, “học qua hành” và “học qua chơi”, phát huy tính tích cực tìm tòi và khám phá của trẻ

Tranh cũng là phương tiện hữu hiệu giúp giúp GV mầm non linh hoạt, sáng tạo khi lồng ghép và tổ chức các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ

Bộ tranh "Giáo dục trẻ mẫu giáo bảo vệ môi trường" được xây dựng với mục đích giúp giáo viên lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động giáo dục theo chủ đề trong chương trình giáo dục mầm non

Bộ tranh gồm 25 tranh với các tình huống cụ thể nhằm giáo dục trẻ bảo vệ môi trường một cách gần gũi và thiết thực nhất Bên cạnh việc giúp trẻ nhận biết về môi trường xung quanh (động vật, thực vật, các hiện tượng tự nhiên ), bộ tranh còn giáo dục trẻ tình yêu thiên nhiên, bảo vệ,chăm sóc cây cối, động vật, bảo vệ môi trường.[2tr11]

1.7 Đặc điểm tâm sinh lí và đặc điểm lĩnh hội tri thức về môi trường xung quanh của trẻ 4-5 tuổi

1.7.1 Trẻ có nhu cầu cao trong việc nhận thức thế giới xung quanh

Nhu cầu nhận thức là nhu cầu vốn có của con người Nó xuất hiện ở trẻ ngay từ sau khi sinh và phát triển mạnh vào cuối tuổi nhà trẻ và ở lứa tuổi mẫu giáo

Biểu hiện đầu tiên của nhu cầu này là mong muốn có được các ấn tượng về sự vật, hiện tượng xung quanh bằng những nổ lực nhận thức đầu tiên của trẻ Cơ sở sinh học của nó là phản xạ tìm tòi định hướng đã được các nhà sinh lí học I.M.Sechenop và I.I.Paplop gọi là phản xạ “ cái gì đấy’’ Nhờ sự kích hoạt của các

Trang 26

phản xạ này, trẻ bắt đầu lĩnh hội được các đặc điểm, tính chất của các sự vật và mối quan hệ giữa chúng

Trẻ 4-5 tuổi, bắt đầu quan tâm đến đặc tính bên trong của sự vật, hiện tượng với các câu hỏi thể hiện mong muốn tìm hiểu bản chất của nó,môi quan hệ diễn ra bên trong đối tượng và giữa chúng và môi trường xung quanh như “ tại sao?, để làm gì

?, từ đâu ?, sao lại thế?’’

Nhu cầu ham hiểu biết đã kích thích hứng thú nhận thức ở trẻ Nó thể hiện ở mong muốn biết cái mới, làm rõ cái chưa biết về đặc điểm, đặc tính của sự vật, hiện tượng xung quanh, muốn tìm hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng và môi quan hệ giữa chúng Hứng thú nhận thức thôi thúc trẻ tìm cách thõa mãn, tạo ra khoái cảm,

sự thích thú và khả năng huy động sinh lực một cách tối đa để cố gắng đạt mục đích Hứng thú nhận thức của trẻ thường được thể hiện trong các hoạt động đặc trưng của lứa tuổi như vui chơi, học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày

1.7.2 Nhận thức của trẻ mang tính trực quan, cảm tính

Quá trình nhận thức của con người thực chất là quá trình khám phá quy luật tồn tại khách quan của sự vật, hiện tượng xung quanh Sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Tuy nhiên, do hạn chế của lứa tuổi về khả năng nhận thức, kinh nghiệm và mức độ tích lũy tri thức, nên sự nhận thức của trẻ nhiều khi không phản ánh quy luật tồn tại khách quan của thế giới mà lại theo tình cảm và cách nghĩ riêng của trẻ

Trẻ thường dùng trực giác để suy đoán, giải thích sự vật, hiện tượng theo cảm nhận cá nhân Logic của chúng thường mang nặng cảm tính và chúng thường dùng

“phép màu’’, để giải thích những điều đang xảy ra xung quanh chúng Màu sắc cảm tính trong nhận thức của trẻ nhỏ đã được Piagie khẳng định và coi đó là tính tất yếu của quá trình nhận thức của trẻ Ông cho rằng học hỏi là quá trình bên trong, trẻ giải thích sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh chúng bằng cách định sẵn cho nó một cái ý nghĩa nào đó, chứ không phải là do nó tồn tại thực sự như vậy

Vì vậy, việc nắm những đặc điểmcần thiết này ở trẻ nhỏ là rất cần thiết để các nhà giáo dục tìm cách tác động phù hợp với trẻ nhằm giúp chúng dễ dàng lĩnh hội

Trang 27

tri thức về môi trường xung quanh Cần tạo điều kiện để cho trẻ thử sai để đi đến việc xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh Nhũng hiểu biết sai lầm có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn phát triển nào Cho nên các nhà giáo dục cần dành nhiều thời gian cho trẻ tự khảo sát, tự khám phá, tự trải nghiệm, tự thực hành rồi rút ra kết luận Ngay cả khi tư duy logic bắt đầu hình thành, trẻ vẫn cần được thao tác trực tiếp với các đối tượng khi muốn tìm hiể chúng Đó là cách tốt nhất mà các nhà giáo dục có thể làm để giúp trẻ trong quá trình đi đến sự hiểu biết về cái mới

1.7.3 Quá trình hình thành khái niệm ở trẻ em là sự điều chỉnh

Đây là quá trình tâm sinh lí tích cực để hình thành biểu tượng,khái niệm về sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ

Theo J.Piagie và các đồng sự, sự xuất hiện và phát triển trí khôn, kế tục sự thích ứng của các sinh vật với môi trường Trong sinh vật học, sự thích ứng này phát triển với 2 cơ chế cơ bản: là đồng hóa (assimilation) và điều ứng (accommodation)

Cơ chế đồng hóa các yếu tố của môi trường vào những cơ cấu để thích ứng với những biến đổi của môi trường Khi 2 quá trình đồng hóa và điều ứng ở thế cân bằng thì đã thích ứng và ở mỗi thời kì tạo ra những cơ cấu và những cơ chế đặc biệt

Hai quá trình này diễn ra liên tục giúp trẻ tích cực khám phá sự vật, hiện tượng xung quanh,lĩnh hội tri thức, hình thành khái niệm Với mỗi thời kì phát triển của trẻ, quá trình đồng hóa và điều ứng có những cơ cấu và cơ chế riêng

1.7.4 Khả năng nhận thức của trẻ phụ thuộc vào lứa tuổi

Trẻ 4-5 tuổi, đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của tư duy rực quan hình tượng Trẻ em có nhu cầu khám phá các mối quan hệ và sự phụ thuộc giữa các sự vật và hiện tượng để thõa mãn nhu cầu nhận thức ngày càng cao của chúng Trẻ cũng có khả năng suy luận mặc dù những kết luận của trẻ còn rất ngây thơ và nghộ nghĩnh Để suy luận những vấn đề mới, trẻ thường chỉ dựa vào những biểu tượng

dã có, những kinh nghiệm đã trải qua và cũng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài chứ chưa đi vào bản chất bên trong của chúng Trẻ lứa tuổi này rất dễ nhầm lẫn những thuộc tính bản chất và không bản chất của sự vật, hiện tượng Vì vậy cần

Trang 28

tiếp tục cung cấp các biểu tượng một cách phong phú,đa dạng và giúp trẻ hệ thống hóa, khái quát hóa chúng

Trẻ 4-5 tuổi đã biết so sánh các dấu hiệu khác và giống nhau của 2 đối tượng Trẻ dần dần có ý thức hơn với hành động và lời nói của mình, biết thực hiện một

số quy định về nề nếp trong các hoạt động và sinh hoạt

Tình cảm của trẻ lứa tuổi này rất mãnh liệt Trẻ thường biểu lộ tình cảm với người thân, gần gũi với chúng, những nhân vật trong truyện, các con vật, cỏ cây, đồ vật, đồ chơi và các hiện tượng tự nhiên Trẻ biết nhận ra vẻ đẹp của thế giới xung quanh, và biết rung động trước vẻ đẹp của chúng Đối với trẻ việc giáo dục đạo đức được thực hiện thông qua giáo dục thẩm mĩ.[3 tr39]

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Các chuyên gia giáo dục đã khẳng định giáo dục bảo vệ môi trường là rất cần thiết và cấp bách, phải bắt đầu ngay từ bậc học mầm non, có ý nghĩa to lớn góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Tuy nhiên, giáo dục bảo vệ môi trường trong trường MN không phải là một môn học riêng lẻ

mà còn có thể tích hợp vào trong các môn học trong chương trình GDMN Mục tiêu của GDBVMT chính là vận dụng những kiến thức, kĩ năng về môi trường vào việc bảo vệ môi trường MTXQ là 1 môi trường vô cùng quan trọng đối với cuộc sống trẻ nói chung và quá trình nhận thức của trẻ nói riêng Đây là một môi trường tốt nhất để có thể giáo dục cho trẻ

Đối với trẻ ở lứa tuổi MGN trẻ đã có khả năng ghi nhớ, tư duy trực quan hình tượng, vì thế việc sử dụng tranh, ảnh để giáo dục môi trường cho trẻ là điều cần thiết, giúp trẻ ghi nhớ lâu hơn, qua hình ảnh trẻ có thể hình dung lại các hoạt động nhằm BVMT, vì tranh, ảnh là phương tiện gần gũi và quen thuộc, hình ảnh sinh động, phản ánh hiện thực, thực tế từ cuộc sống xung quanh, từ đó trẻ có thể hiểu cần phải làm gì vào trong cuộc sống chúng

GV cần tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào các hoạt động quan sát, tìm hiểu, khám phá môi trường, phải luôn đáp ứng nhu cầu ham thích tò mò, tìm

Trang 29

tòi, khám phá của trẻ, từ đó giúp trẻ hiểu biết về môi trường và mong muốn được tham gia bảo vệ môi trường

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ VIỆC VẬN DỤNG BỘ TRANH THEO CHỦ

ĐỀ ĐỂ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 4-5 TUỔI TẠI

TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG ĐỎ - TP ĐÀ NẴNG

2.1 Khái quát về trường mầm non Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Trường mầm non Hoa Phượng Đỏ là trường mầm non công lập trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Trải qua 40 năm kể từ ngày thành lập, mặc dầu không còn những nét rêu phong xưa cũ đọng lại với thời gian, nhưng dường như nhiệt tâm với lớp lớp thế hệ măng non vẫn còn đó - chảy mãnh liệt trong trái tim của các thế hệ cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường Tiếp nối các thế hệ

đi trước, 54 cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường hôm nay đang nỗ lực không ngừng trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ với tâm niệm làm sao mang đến cho thế hệ trẻ tương lai của nước nhà những điều tốt đẹp nhất, trường có đội ngũ công nhân viên, đội ngũ giáo viên tận tâm với nghề, yêu trẻ như chính con em của mình

Họ không ngại khó khăn, vất vả để có thể hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ một cách tốt nhất Trường có điều kiện thuận lợi là nằm ở trung tâm thành phố,

là nơi tập trung dân cư, gần trường tiểu học và trung học cơ sở nên số lượng trẻ

Trang 30

tham gia học tại trường tương đối nhiều, nhưng được sự bố trí của nhà trường nên không có hiện tượng trẻ quá đông không đảm bảo chất được

2.2 Khái quát về quá trình điều tra, khảo sát:

2.2.1 Mục đích khảo sát:

*Mục đích khảo sát của chúng tôi nhằm tìm hiểu:

Nhận thức của giáo viên về việc vận dụng bộ tranh của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích để giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Thực trạng biểu hiện mức độ hiểu biết về bảo vệ môi trường của trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

2.2.2 Đối tượng và thời gian khảo sát

a Đối tượng khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu Anket đối với giáo viên mầm non trường Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Số lượng 13 giáo viên, trong đó:

GV đang dạy lớp 4-5 tuổi : 10 GV

Trình độ GV được khảo sát

b Thời gian khảo sát:

Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2016

2.3 Nội dung khảo sát

Nhận thức của giáo viên về việc vận dụng bộ tranh để giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra bằng Anket

Trang 31

Mục đích: Sử dụng phiếu câu hỏi để điều tra ý kiến các giáo viên giảng dạy tại lớp 4-5 tuổi nhằm tìm hiểu thực trạng việc vận dụng bộ tranh để giáo dục trẻ bải vệ môi trường

Cách tiến hành: phát phiếu điều tra cho các giáo viên chủ nhiệm lớp 4-5 tuổi và 1 hiệu trưởng cùng với 2 hiệu phó của trường mầm non Hoa Phượng Đỏ, TP Đà Nẵng Yêu cầu giáo viên đánh dấu vào những ý mình cho là đúng và phù hợp với thực tế

Cách xử lí: Thu phiếu và phân tích nội dung, xem mức độ về việc hiểu biết và vận dụng bộ tranh BVMT của các cô

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Quan sát nhằm thu thập thông tin để đánh giá mức độ biểu hiện của trẻ 4-5 tuổi

b Phương pháp đánh giá, xử lí số liệu

Dùng phương pháp xử lí số liệu thống kê, tính các chỉ số cơ bản như phần trăm

để kiểm chứng giả thuyết khoa học

2.5 Thực trạng về việc GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ-TP.Đà Nẵng

2.5.1 Thực trạng GDBVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi thông qua tranh, ảnh

tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

a Mức độ về việc GDBVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi tại trường MN Hoa

Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Trang 32

Bảng 2.1 Mức độ về việc GDBVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi

Qua bảng 2.1 cho thấy tất cả GV đều có GDBVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi Cụ thể

là có 38,4% ý kiến cho rằng GDBVMT cho trẻ là thường xuyên, và 61,5% ý kiến cho rằng việc GDBVMT cho trẻ là rất thường xuyên Điều này cho thấy, ít nhiều

GV nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc GDBVMT cho trẻ, từ đó GV có thể vận dụng tranh để đạt hiệu quả cao

b Mức độ về việc sử dụng tranh, ảnh trong việc GDBVMT cho trẻ 4-5

tuổi tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP Đà Nẵng

Bảng 2.2 Mức độ về việc sử dụng tranh, ảnh trong việc GDBVMT cho trẻ MG 4-5 tuổi

có ý thức trong vấn đề GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

c Các hoạt động có thể sử dụng tranh, ảnh để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Bảng 2.3 Các hoạt động có thể sử dụng tranh, ảnh để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

Trang 33

Khám phá khoa học 13/13 100%

d Các hình thức có thể sử dụng tranh, ảnh trong việc GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi tại trường MN Hoa Phượng Đỏ,TP.Đà Nẵng

Bảng 2.4 Các hình thức có thể sử dụng tranh, ảnh trong việc GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

Dùng làm tranh mẫu cho hoạt động tạo hình 7 53,8%

Bảng 2.4 cho thấy GV sử dụng tranh vào nhiều hình thức khác nhau để GDBVMT cho trẻ, cụ thể: 100% GV sử dụng tranh vào hình thức kể chuyện theo tranh, 53,8% GV sử dụng tranh vào việc làm tranh mẫu cho hoạt động tạo hình, dùng làm phương tiện minh họa chiếm 61,5%, dùng treo tường để trang trí chiếm

Trang 34

84,6% và 30,7% vào các hoạt động khác như hoạt động ngoài trời, hoạt động góc… điều đó cho thấy rõ GV GDBVMT cho trẻ được thực hiện mọi lúc, mọi nơi Điều này góp phần làm cho việc GDMT đạt hiệu quả cao hơn

e Hiệu quả của việc sử dụng tranh, ảnh để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Bảng 2.5 Hiệu quả của việc sử dụng tranh, ảnh để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

f Số lượng tranh, ảnh hiện có sẵn để sử dụng vào việc GDBVMT cho trẻ

4-5 tuổi tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Bảng 2.6 Số lượng tranh, ảnh hiện có sẵn để sử dụng vào việc GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

Số lượng tranh, ảnh có sẵn Ý kiến lựa chọn Tỉ lệ

Trang 35

cho rằng có rất nhiều tranh, ảnh có sẵn chiếm 38,4% Qua đó cho thấy số lượng tranh, ảnh nhiều nhưng rải rác, chưa được hệ thống Vì vậy, GV cần phải thu thập,

tự tìm hiểu, lựa chọn những hình ảnh phù hợp với nội dung giảng dạy

2.5.2 Thực trạng về việc sử dụng tranh, ảnh của nhóm tác giả Nguyễn

Thị Cẩm Bích để GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ, TP Đà Nẵng

a Mức độ sử dụng bộ tranh của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích

để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Bảng 2.7 Mức độ sử dụng bộ tranh của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

tranh

GV chưa sử dụng bộ tranh

Ý kiến lựa chọn

Tỉ lệ % Ý kiến

lựa chọn

Tỉ lệ %

Trang 36

7,6%, 38,4% là sử dụng vào hoạt động khám phá môi trường xung quanh, 23% sử dụng vào các môn tạo hình, âm nhạc, giáo dục thể chất và các hoạt động khác Ngoài

ra, GV còn vận dụng vào các hoạt động khác như: hoạt động góc, hoạt động chiều

và hoạt động ngoài trời, qua đó cho thấy GV đang tích cực vận dụng bộ tranh vào các hoạt động khác nhau nhằm nâng cao việc GDBVMT cho trẻ

Còn đối với GV chưa sử dụng bộ tranh thì sau khi xem xong bộ tranh có thể sử dụng bộ tranh vào trong các hoạt động, cụ thể có 100% GV sử dụng bộ tranh vào hoạt động khám phá môi trường xung quanh, làm quen với tác phẩm văn học chiếm

tỉ lệ 50%, ngoài ra 12,5% là vào hoạt động làm quen với toán và tạo hình, điều đó cho thấy các GV quan tâm đến vấn đề GDMT cho trẻ thông qua các hoạt động khác nhau

b Mức độ hiệu quả của việc sử dụng bộ tranh của nhóm tác giả

Nguyễn Thị Cẩm Bích tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Bảng 2.8 Mức độ hiệu quả của việc sử dụng bộ tranh của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích cho trẻ 4-5 tuổi

c Mức độ phù hợp sau khi xem tranh của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cẩm

Bích để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

Bảng 2.9 Mức độ phù hợp sau khi xem bộ tranh của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

Trang 37

Không phù hợp 0 0

Qua bảng 2.9 cho thấy, sau khi xem xong bộ tranh các GV đều đánh giá được

bộ tranh phù hợp vào việc GDMT cho trẻ, thể hiện : 25% là phù hợp, 75% là rất phù hợp để đưa bộ tranh vào trong các hoạt động của trẻ

2.6 Những yêu cầu để đảm bảo cho việc sử dụng bộ tranh GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường mầm non có hiệu quả

Nhằm tìm hiểu những yêu cầu để đảm bảo cho việc sử dụng bộ tranh GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tại trường mầm non có hiệu quả, chúng tôi tiến hành khảo sát giáo viên theo dạng câu hỏi mở Kết quả giáo viên cho rằng một trong những yêu cầu quan trọng nhất là bản thân từng giáo viên phải nhận thức được ý nghĩa của việc

sử dụng bộ tranh, qua đó nhằm giáo dục trẻ có ý thức bảo vệ môi trường Bởi chỉ khi giáo viên nhận thức được vai trò quan trọng của việc BVMT thì giáo viên mới có ý thức tự giác vận dụng bộ tranh, cũng như ý thức tự học hỏi, tìm tòi và nâng cao kỹ năng khi đưa ra các hoạt động dạy học cho chính bản thân, sử dụng bộ tranh vào mục đích cụ thể từng hoạt động của mình, thông qua tranh, ảnh trẻ sẽ tích cực học hỏi, gợi mở tư duy cho trẻ, trí tò mò, tưởng tượng để từ đó việc sử dụng bộ tranh GDBVMT trong các hoạt động ở trường cho trẻ được diễn ra thường xuyên và hiệu quả hơn

Bên cạnh đó, có giáo viên cho là việc sử dụng bộ tranh GDBVMT có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng tổ chức các hoạt động của giáo viên, muốn thế giáo viên phải có đủ nguồn tư liệu về tranh, ảnh GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi để vận dụng

Ngoài ra, yếu tố vật chất còn là men xúc tác góp phần không nhỏ trong quá trình

tổ chức GDBVM

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG II

Hầu hết các giáo viên dạy lớp mẫu giáo 4-5 tuổi đều đã qua đào tạo trình độ đại học và có kinh nghiệm giảng dạy Đa số các cô có tâm huyết với nghề, thể hiện ở việc các cô chịu khó tìm tòi và nắm bắt kịp thời những thông tin tiến bộ về khoa học kỹ thuật và khoa học giáo dục hiện đại Một số cô có thời gian tốt nghiệp đã lâu, các cô cũng đã tìm tòi và vận dụng bộ tranh để GDBVMT cho trẻ để đưa vào các hoạt động nhằm nâng cao hiểu biết, ý thức của trẻ về vấn đề BVMT

Qua khảo sát và phân tích kết quả cho thấy, phần lớn giáo viên đều nhận thức được vị trí quan trọng của việc GDMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi Giáo viên đã lựa chọn các hoạt động, phương pháp và hình thức phong phú, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và đảm bảo đáp ứng mục tiêu GDMT

Bộ tranh GDBVMT của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích được GV sử dụng nhằm củng cố, hệ thống hóa các kiến thức, hiện nay bộ tranh vẫn chưa được biết nhiều và chưa được sử dụng thường xuyên, vì vậy cần phổ biến rộng rãi để việc GDBVMT đạt được hiệu quả cao hơn

Thực tế cho thấy, đối với các hoạt động ở trường nói chung và quá trình tổ chức các hoạt động để GDMT nói riêng thì kết quả giáo dục phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Khả năng sư phạm, năng lực chuyên môn… Trong

Trang 39

thực tế giảng dạy, chất lượng giáo dục còn bị phụ thuộc vào các điều kiện mang tính chủ quan, song có thể khẳng định sự quyết định đến chất lượng giáo dục vẫn là vai trò người giáo viên Vì vậy, giáo viên phải thật sự sáng tạo, vận dụng khéo léo, linh hoạt các phương pháp, biện pháp dạy học đặc biệt là nâng cao vốn hiểu biết để GDMT cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi

CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIÁO DỤC BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 4-5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG ĐỎ - TP ĐÀ NẴNG THÔNG QUA BỘ TRANH THEO

CHỦ ĐỀ

3.1 Cơ sở của việc vận dụng bộ tranh của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích để GDMT cho trẻ MG 4-5 tuổi

Để xây dựng và tổ chức các hình thức để sử dụng bộ tranh GDBVMT cho trẻ

MG 4-5 tuổi mang lại hiệu quả cao, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Vì vậy để việc

sử dụng bộ tranh nhằm GDBVMT cho trẻ có hiệu quả cần dựa vào những đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất: dựa trên đặc điểm cấu trúc nội dung chương trình đó là sử dụng bộ tranh để GDBVMT cho trẻ 4-5 tuổi

- Thứ hai: đối tượng phục vụ sử dụng bộ tranh GDBVMT là trẻ 4-5 tuổi nên khi xây dựng các hoạt động nhằm GDBVMT nhất thiết phải phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí và nhu cầu của trẻ Bộ tranh GDBVMT phải tạo cho trẻ sự hứng thú, tích cực tham gia, củng cố kiến thức đã học

- Thứ ba: đi từ kết quả nghiên cứu thực trạng, dựa vào điều kiện công tác chuẩn bị của GV và điều kiện cơ sở vật chất của trường học vốn có để có thể sử dụng bộ tranh GDBVMT không quá tốn kém, phù hợp với trường Đảm bảo bộ tranh GDBVMT được sử dụng và mang lại hiệu quả cao

Trang 40

3.2 Thực nghiệm các kế hoạt hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ

3.2.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm:

a Đối tượng thực nghiệm:

- Thực nghiệm tại trường MN Hoa Phượng Đỏ, TP.Đà Nẵng

- Sau một thời gian tìm hiểu, dự giờ và xin ý kiến của các GV chủ nhiệm, chúng tôi đã chọn 2 lớp lứa tuổi 4-5 tuổi là lớp Nhỡ 1 và Nhỡ 2 để tiến hành thực nghiệm

- Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn lớp Nhỡ 1 là lớp thực nghiệm và lớp Nhỡ 2 là lớp đối chứng

Lớp Nhỡ 1 có 35 trẻ

Lớp Nhỡ 2 có 35 trẻ

b Thời gian thực nghiệm:

- Thời gian kiểm tra kết quả trước TN: ngày 2/03/2016 đến ngày 9/03/2016

- Thời gian tiến hành TN các kế hoạch tổ chức hoạt động GDBVMT: ngày 10/03/2016 đến ngày 30/03/2016

- Thời gian kiểm tra kết quả sau TN: ngày 1/04/2016 đến ngày 16/04/2016

3.2.3 Nội dung thực nghiệm:

Do thời gian có hạn nên chúng tôi chưa thể tiến hành hết tất cả các tranh Vì vậy, trong phần này tôi chỉ lựa chọn một số tranh phù hợp với chủ đề ở trường mầm non

để thực nghiệm vì nó phù hợp với nội dung chương trình GDBVMT được phân bố trong khoảng thời gian đó

TRANH 1: CHĂM SÓC, BẢO VỆ CÂY

Ngày đăng: 26/06/2021, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w