Trong quá trình đào tạo ở các trường Đại học và Cao đẳng, việc kiểm tra đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của sinh viên là một khâu không thể thiếu, mà hình thức kiểm tra được áp dụng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
Đề tài:
SỬ DỤNG PHẦN MỀM VITESTA ĐỂ LỰA CHỌN, ĐÁNH GIÁ
VÀ PHÂN LOẠI HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG
“ TRƯỜNG TĨNH ĐIỆN” – VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG II
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp giúp cho mỗi sinh viên củng cố được những kiến thức đã học trong nhà trường đồng thời phát triển kĩ năng nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể Trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s Nguyễn Thị Mỹ Đức đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Vật Lý trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã cho em những kiến thức quý báu trong thời gian học tại trường
Em cũng xin kính cảm ơn các thầy cô giáo dạy học phần Vật Lý Đại Cương II của Đại học Sư Phạm và Cao Đẳng Công Nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho em tiến hành thực nghiệm sư phạm
Em xin kính cảm ơn bố mẹ, anh chị, bạn bè đã góp ý động viện, giúp đỡ em trong quá trình làm đề tài
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh Viên Lương Thị Thu Hiền
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
Các chữ viết tắt
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích của đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Giả thuyết khoa học
7 Những đóng góp của luận văn
8 Cấu trúc và nội dung của luận văn
B NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC LỰA CHỌN,
PHÂN LOẠI HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ VÀ KIỂM
TRA ĐÁNH GIÁ
1.1 Mục đích, vai trò và tác dụng của bài tập Vật Lý trong quá trình nhận thức
của sinh viên
1.2 Phân loại bài tập Vật Lý
1.2.1 Phân loại theo nội dung
1.2.2 Phân loại theo đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn đề (hay cách thức giải toán)
1.2.3 Phân loại theo phương thức giải
1.2.4 Phân loại theo mục đích, yêu cầu rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy trong dạy học
1.3 Lựa chọn và sử dụng bài tập Vật Lý
1.3.1 Lựa chọn bài tập Vật Lý
1.3.2 Sử dụng bài tập Vật Lý
1
3
3
4
5
5
6
6
7
Trang 41.4 Phương pháp giải bài tập Vật Lý
1.5 Hướng dẫn sinh viên giải bài tập Vật Lý
1.5.1 Hướng dẫn theo mẫu (hướng dẫn angôrit)
1.5.2 Hướng dẫn tìm tòi
1.5.3 Định hướng khái quát chương trình hóa
1.6 Phương pháp lập luận cụ thể đối với bài toán định tính định lượng
1.6.1 Bài tập định tính
1.6.2 Bài tập định lượng
1.7 Cơ sở lý luận của việc kiểm tra đánh giá
1.7.1 Tổng quan về đánh giá
1.7.2 Mục đích của kiểm tra đánh giá
17.3 Những yêu cầu sư phạm của kiểm tra đánh giá
1.7.4 Xu hướng hoàn thiện và đổi mới trong kiểm tra đánh giá
1.7.5 Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá
1.7.6 Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên
1.7.7 Trình tự xậy dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
CHƯƠNG II: LỰA CHỌN, PHÂN LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG “TRƯỜNG TĨNH ĐIỆN” - VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG II 2.1 Vài nét về Vật lí đại cương và điện học
2.2 Nhiệm vụ và vị trí của chương “Điện trường tĩnh”
2.3 Phân tích nội dung và đặc điểm cơ bản của chương Trường tĩnh điện
2.4 Chương trình chi tiết chương “Trường Tĩnh Điện”
2.5 Những cơ sở để lựa chọn và phân loại câu hỏi trắc nghiệm chương: “ Trường tĩnh điện”
2.6 Phân loại bài tập theo chủ đề 2.6.1 Chủ đề 1: Bài tập về điện tích
2.6.2 Chủ đề 2: Bài tập về điện trường
2.6.3 Chủ đề 3: Bài tập về Công, Điện thế - Hiệu điện thế
8
9
9
11
11
12
12
13
15
15
16
17
19
20
21
26
30
30
31
35
36
37
48
66
74
Trang 52.7 Sơ đồ hệ thống phân loại bài tập chương “ TRƯỜNG TĨNH ĐIỆN”
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm
3.2 Chuẩn bị thực nghiệm sư phạm
3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm
3.4 Thiết lập đề kiểm tra
3.5 Thống kê xử lí số liệu bằng các phần mềm
3.5.1 Phần mềm MC Mix- Trộn đề trắc nghiệm
3.5.2 Quy về một đề
3.5.3 Phần mềm VITESTA
3.6 Kết quả và phân tích kết quả
C KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
81
82
83
84
100
100
106
107
111
143
145
BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SV: Sinh viên KTĐG: Kiểm tra đánh giá ĐHSP: Đại học Sư Phạm CH: Câu hỏi
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
A MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước là mục tiêu hàng đầu trong đường lối xây dựng
và phát triển của nước ta Để thực hiện thành công sự nghiệp này chúng ta phải thấy rõ nhân tố quyết định thắng lợi chính là nguồn nhân lực con người Việt Nam Đảng ta xác định: “lấy việc phát triển nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Nền giáo dục nước ta không chỉ tập trung đào tạo cho đủ về mặt số lượng mà còn quan tâm đặc biệt đến chất lượng đào tạo
Trước tình hình đó, nhiệm vụ quan trọng đề ra cho các môn học trong trường các trường Đại học và Cao đẳng là phải làm sao khi vào đời, bắt tay tham gia vào lao động sinh viên có thể nhanh chóng tiếp thu được cái mới, mau chóng thích ứng với trình độ hiện đại của khoa học kỹ thuật Vật lý là cơ sở của nhiều ngành khoa học kỹ thuật, những ứng dụng của nó là vô cùng to lớn đặc biệt là trong các lĩnh vực hiện đại Nó còn là một phương tiện quan trọng để con người chinh phục vũ trụ khám phá thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học vật lý, yêu cầu cấp bách của xã hội, những con người đóng vai trò là nhà giáo dục cần đưa thế hệ trẻ đến với khoa học vật lý bằng cả sự say mê đến từng bạn trẻ, từng sinh viên của mình
Bên cạnh đó việc kiểm tra đánh giá còn phải đảm bảo yêu cầu là kiểm tra một cách toàn diện kiến thức của sinh viên tránh những hiện tượng học tủ, học vet, học lệch, chỉ chú trọng những nội dung chính mà bỏ qua nhiều mảng kiến thức quan trọng và có nhiều ứng dụng trong thực tế như hiện nay ở nhiều sinh viên
Trong quá trình đào tạo ở các trường Đại học và Cao đẳng, việc kiểm tra đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của sinh viên là một khâu không thể thiếu, mà hình thức kiểm tra được áp dụng rộng rãi hiện nay là trắc nghiệm khách quan Đối với một bài trắc nghiệm khách quan thì hệ thống cho điểm là khách quan, là hoàn toàn không phụ thuôc vào cá nhân người chấm và việc chấm bài cũng nhanh hơn chính xác hơn, số lượng câu hỏi trong một bài trắc nghiệm cũng nhiều hơn nên việc kiểm tra sẽ mang tính toàn diện Khi làm bài trắc nghiệm đòi hỏi sinh viên không thể học tủ, học vẹt mà cần phải nắm vững hiểu vấn đề một cách sâu sắc kết hợp với sự nhanh nhẹn trong việc nắm yêu cầu của đề bài cũng như cách tính toán
Ngoài ra, hiện nay, xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm còn được nghiên cứu khá
kĩ lưỡng, về các cấp độ nhận biết, thông hiểu… Xây dựng ngân hàng câu hỏi theo ma trận đề, các mức độ phân loại nhận thức theo Bloom Nguyên tắc chung để phân tích một câu hỏi trắc nghiệm khách quan là chúng ta thường so sánh câu trả lời của sinh viên ở mỗi câu hỏi với điểm số chung của toàn bài với mong muốn có nhiều sinh viên khá giỏi trả lời đúng, đồng thời có ít sinh viên yếu trả lời được câu hỏi đó, nghĩa là phổ các điểm của một lớp trải càng rộng càng tốt Việc phân tích thống kê câu hỏi trắc nghiệm nhằm xác định các chỉ số như: độ khó, độ phân biệt, hệ số độ tin cậy Thông thường, việc tính toán theo phương pháp thủ công cổ điển rất mất thời gian và nhiều lúc kết quả không chính xác Chính vì vậy, chúng tôi sử dụng phần mềm Vitesta để hỗ trợ tính toán, thống
Trang 7Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
kê Từ đó mà có thể phân loại được sinh viên theo các mức độ từ dễ đến khó, từ cơ bản đến vận dụng, từ lí thuyết đến bài tập Chính vì thế mà kiểm tra trắc nghiệm không chỉ hạn chế được các khuyết điểm của kiểm tra bằng tự luận mà còn rèn được cho sinh viên nhiều kĩ năng mới trong tính tóa, nhận biết vấn đề và hướng được cho sinh viên một phương pháp học tập mới tích cực, năng động, sáng tạo theo hướng phân hóa sinh viên, Cũng từ những thuận lời trên mà hiện nay ở hầu hết các trường học của Việt Nam và
ở hầu hết các môn học nhà trường đã lồng ghép hai hình thức trắc nghiệm và tự luận trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên Đặc biệt, trong môn Vật Lý, việc kết hợp này đảm bảo yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy và học, đảm bảo được tính khách quan, đồng thời giúp phân loại được mức độ hiểu bài và khả năng của từng sinh viên Chúng tôi quyết định chọn đề tài: “ Sử dụng phần mềm Vitesta để lựa chọn, đánh giá, phân loại hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương “Trường Tĩnh Điện”” – Vật Lý Đại Cương II”
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Hoạt động dạy và học của sinh viên khóa tuyển sinh 13 thuộc trường Đại học Sư Phạm
và Cao đẳng Công Nghệ - Đại học Đà Nẵng
- Nội dung chương trình Vật Lý Đại Cương nói chung và chương “Trường Tĩnh Điện” nói riêng
- Sách giáo khoa và các tài liệu có liên quan
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung kiến thức chương “Trường Tĩnh Điện”” – Vật lý đại cương II
- Kết quả học tập môn Vật lí đại cương II của các sinh viên khóa tuyển sinh 13 nói chung
và nội dung chương “ Trường Tĩnh Điện” nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích nội dung và cấu trúc chương “Trường Tĩnh Điện”” – Vật Lý Đại Cương, từ
đó xây dựng được các mục tiêu kiến thức cần đánh giá
Nghiên cứu phương pháp kiểm tra bằng trắc nghiệm, soạn và phân tích các câu hỏi trắc nghiệm
Xây dựng đề kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan cho phù hợp, cách sắp xếp, phân phối đề và cách chấm bài
Trang 8Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá câu hỏi soạn thảo có phù hợp với sinh viên hay không và lấy số liệu
Dùng phần mềm VITESTA thống kê, xử lý số liệu thông qua đó đánh giá chất lượng câu hỏi và trình độ của sinh viên Từ đó rút ra kết luận sư phạm và đề xuất một số ý kiến
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, nghiên cứu các tài liệu về kiểm tra đánh giá trong học tập, nội dung chương trình sách Vật Lý Đại Cương của nhà xuất bản Giáo dục do Lương Duyên Bình chủ biên và một số sách bài tập tham khảo khác
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Sau khi soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm, chúng tôi đã gửi cho các thầy cô giáo ở trường Đại học Sư Phạm ĐHĐN có nhiều kinh nghiệm trong việc dạy học để đánh giá, chỉnh sửa và bổ sung để hoàn thiện câu hỏi
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành kiểm tra 1 tiết ở trường Đại học Sư Phạm và Cao đẳng Công Nghệ để thu số liệu, phân tích và đánh giá câu hỏi
- Phương pháp sử dung phần mềm VITESTA để thống kê, xử lí số liệu
6 Giả thuyết khoa học
Xây dựng hệ thống bài tập chương “Trường Tĩnh Điện” giúp củng cố kiến thức cho sinh viên học môn Vật lí đại cương II
Qua việc giải bài tập giúp sinh viên nắm vững kiến thức và rèn luyện kĩ năng kĩ xảo của bản thân trong việc giải bài tập Vật Lý
7 Những đóng góp của khóa luận
- Làm sáng tỏ thêm cở sở lí luận của việc lựa chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá kiến thức sinh viên ở các trường Đại học và Cao đẳng
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Trường Tĩnh Điện” – Vật lí đại cương II
- Tiến hành kiểm tra chấm bài, sử dụng phần mềm VITESTA xử lý số liệu, và rút ra kết luận với hi vọng giúp sinh viên sư phạm, sinh viên và giáo viên tham khảo trong việc thực hiện công tác học tập và giảng dạy cũng như trong việc tự đánh giá và đánh giá kết quả học tập
- Rút ra những ưu, khuyết điểm trong việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên Đồng thời từ đó rút ra được những khuyết điểm
và thiếu sót của sinh viên trong việc làm bài tập trắc nghiệm, từ đó giúp giáo viên và sinh viên điều chỉnh và bổ sung kiến thức trong quá trình dạy và học
8 Cấu trúc và nội dung khóa luận
Trang 9Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
8.1 Cấu trúc khóa luận
Luận văn gồm phần mở đầu (4 trang), phần nội dung (143 trang), phần kết luận(2 trang ), tài liệu tham khảo (1 trang) và phụ lục (106 trang) Ngoài ra còn có sơ đồ, bảng biểu, biểu
đồ, hình vẽ
8.2 Nội dung của khóa luận
Chương 1: Những cơ sở lí luận của việc lựa chọn, phân loại, hướng dẫn giải bài tập Vật
Lý và kiểm tra đánh giá
Chương 2: Lựa chọn, phân loại và phương pháp giải bài tập chương “Trường Tĩnh Điện”
– Vật lý đại cương II
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
B NỘI DUNG CHƯƠNG I:
NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC LỰA CHỌN, PHÂN LOẠI, HƯỚNG
DẪN GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
1.1 Mục đích, vai trò và tác dụng của bài tập Vật Lý trong quá trình nhận thức
của sinh viên
Trong thực tiễn dạy và học bộ môn Vật Lý, bài tập Vật Lý được xem là một vấn đề
đòi hỏi phải giải quyết bằng những suy luận, những phép toán và những thí nghiệm dựa trên các lý thuyết, các định luật và phương pháp Vật Lý Việc giải bài tập Vật Lý luôn đòi hỏi sự tư duy, định hướng một cách tích cực
Do vậy, tác dụng cũng như mục đích sử dụng bài tập Vật Lý trong quá trình dạy và học Vật Lý là:
1.1.1 Bài tập Vật Lý có thể sử dụng là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới trong việc trang bị kiến thức mới cho sinh viên nhằm mục đích đảm bảo cho sinh viên tiếp thu, lĩnh hội và nắm kiến thức mới một cách sâu sắc và có nền tảng hơn Do đó bài tập Vật Lý cũng có thể được xem như là một khởi đầu để học sinh dễ dàng đến với một kiến thức mới
1.1.2 Bài tập Vật Lý là phương tiện giúp cho việc đào sâu, mở rộng, củng cố và
ôn tập những kiến thức đã học một cách loogic và hiệu quả Bởi vì trong khi giải các bài tập Vật Lý, đòi hỏi sinh viên phải nhớ lại, tái hiện lại các định nghĩa, các công thức, các định luật, các lý thuyết Vật Lý đã học sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi phần Nhờ vậy, từ việc giải bài tập, sinh viên đã có cơ hội củng cố và ôn tập lý thuyết thêm một lần nửa Cũng có khi để giải một bài tập, sinh viên phải liên hệ kiến thức một cách tổng quát của nhiều phần, tạo sự liên hệ kiến thức giữa các phần khác nhau
1.1.3 Bài tập Vật Lý là phương tiện giúp sinh viên liên hệ lý thuyết với thực tiễn, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, liên hệ kiến
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
thức đã học với thực tế cuộc sống hàng ngày Trong bài tập Vật Lý, có một dạng gọi là bài tập thực tế mang nội dung thực tiễn quen thuộc giúp cho sinh viên thấy được mối liên
hệ giữa lý thuyết và thực tiễn
1.1.4 Bài tập Vật Lý là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt góp phần trong việc rèn luyện, nâng cao tư duy sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên Bởi vì giải bài tập Vật Lý là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của sinh viên Trong quá trình giải bài tập, sinh viên phải tự mình phân tích các điều kiện của đề bài, tự lập luận logic, thực hiện các phép tính toán, tự kiểm tra lại kết quả, đáp số của bài toán Quá trình đó giúp sinh viên phát triển tư duy logic và năng lực của sinh viên
1.1.5 Bài tập Vật Lý là phương tiện rèn luyện cho sinh viên những đức tính tốt và cần thiết như : tính cẩn thận, tính kiên trì, tinh thần độc lập, tinh thầy vượt khó
1.1.6 Bài tập Vật Lý là phương tiện để kiểm tra và tự kiểm tra Qua bài tập Vật
Lý, giáo viên có thể kiểm tra và đánh giá trình độ nắm kiến thức của sinh viên và kiểm tra lại quá trình dạy của mình Cũng thông qua bài tập Vật Lý, sinh viên có thể tự kiểm tra những kiến thức đã học và tự đánh giá trình độ bản thân
Kết luận:
Qua những điểm phân tích trên, ta thấy bài tập Vật Lý có vai trò và tác dụng rất quan trọng Bài tập Vật Lý có thể xem là phương tiện giáo dưỡng, giáo dục sinh viên trong các tiết học Vật Lý Vì vậy mục đích cuối cùng và cơ bản nhất không phải là việc tìm ra đáp số của mỗi bài tập mà giúp cho người học hiểu sâu sắc hơn về các khái niệm, hiện tượng, định luật, thuyết Vật Lý, vận dụng chúng vào thực tiễn lao động để giải thích các hiện tượng xảy ra trong đời sống hàng ngày
1.2 Phân loại bài tập Vật Lý
Để phân loại bài tập Vật Lý, người ta có thể dựa vào đặc điểm cơ bản (dấu hiệu nhận biết) như: theo nội dung; theo phương pháp giải, phương thức cho giả thuyết; theo mục đích; theo yêu cầu về chiều sâu, độ khó của vấn đề; theo yêu cầu luyện tập kỹ năng hay phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo của sinh viên
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.2.1 Phân loại theo nội dung
Khi phân loại theo nội dung có thể dựa vào các yếu tố khác nhau:
a Theo nội dung, trước hết người ta phân chia các bài tập theo cấu trúc chương trình Vật Lý như: bài tập về cơ, bài tập về vật lý phân tử và nhiệt học, bài tập điện học, bài tập quang học, bài tập về vật lý hạt nhân Sự phân chia có tính chất quy ước bởi vì
để giải một bài tập thì kiến thức không phải lấy từ một chương mà có thể lấy từ nhiều chương khác nhau
b Theo nội dung, có thể phân chia thành các bài tập có nội dung cụ thể và các bài tập
có nội dung trừu tượng
Với bài tập có nội dung trừu tượng, trong điều kiện của bài tập, bản chất Vật Lý được nêu bật lên, còn những chi tiết không bản chất được lượt bỏ bớt Những bài tập này giúp cho sinh viên dễ dàng phát hiện những kiến thức cốt lõi cần sử dụng để giải
Với bài tập cụ thể, tức là cho bài tập trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó Đối với bài tập loại này, sinh viên cần phải nhận ra được bản chất vật lý của hiện tượng (chưa nêu
rõ trong đề bài) Nó có tác dụng nâng cao khả năng phân tích hiện tượng để giải bài tập Vật Lý của sinh viên
c Bên cạnh đó còn có các loại bài tập:
- Bài tập mang nội dung thực tế đời sống: bài tập về bắn tên lửa vũ trụ, bài tập về sự
giật lùi của súng khi bắn
- Bài tập có nội dung lịch sử: bài tập gắn liền với quá trình hình thành và phát triển
của Vật Lý học, những phát minh, sáng chế của nhà Vật Lý, về những câu chuyện có tính chất lịch sử
- Bài tập mang nội dung kỹ thuật – sản xuất ứng dụng: là các bài tập có liên quan
đến những ứng dụng của kỹ thuật trong đời sống
- Bài tập Vật Lý vui: Là các bài tập giải thích hiện tượng kỳ lạ và thú vị trong cuộc
sống hằng ngày, giúp cho sinh viên tăng hứng thú học Vật Lý, làm cho tiết học thêm phần sinh động
1.2.2 Phân loại theo đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn đề (hay cách thức
giải toán)
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Xét theo đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn đề về phương diện định tính, định lượng người ta phân chia thành hai loại sau:
a Bài tập định tính:
Bài tập định tính nói chung đề cập đến một hiện tượng vật lý xảy ra trong tự nhiên, trong kỹ thuật mà khía cạnh vật lý thường bị che lấp bởi những chi tiết thực luôn hiện diện kèm theo hiện tượng trong diễn tiến phức tạp của nó
Khi giải loại bài tập này, chúng ta cần hình thành mối liên hệ về bản chất giữa các đại lượng vật lý, tức là hướng bào sự phát hiện bản chất vật lý của vấn đề theo giả thiết đã cho mà không cần tiến hành tính toán bằng công thức và phép tính
b Bài tập định lượng:
Khi giải bài tập này, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện các tính toán dựa trên các công thức, các định luật để xác định mối liên hệ về lượng giữa các đạinlượng đã cho trong giả thiết và các ẩn số cần tìm Kết quả của dạng bài tập định lượng là một biểu thức hoặc một số
1.2.3 Phân loại theo phương thức giải
Theo phương thức cho giả thiết và phương thức giải, người ta phân chia thành:
a Bài tập bằng lời: khi giải loại bài tập này, chủ yếu dùng lời để diễn giải, lập luận, dẫn dắt để đi tới đích
b Bài tập tính toán: khi giải loại bài tập này chủ yếu sử dụng các công thức, phương trình, hàm số biểu thị sự liên quan giữa các ẩn số và áp dụng bằng số để đưa ra lời giải và đi đến kết quả
c Bài tập đồ thị: khi giải loại bài tập này, đồ thị được sử dụng như một phần của giả thiết để giải hay phần kết luận để tổng kết
d Bài tập thực nghiệm: khi giải phải tiến hành kèm theo với các thí nghiệm để lấy kết quả thí nghiệm đó sử dụng vào bài tập
1.2.4 Phân loại theo mục đích, yêu cầu rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy trong
dạy học
Theo yêu cầu rèn luyện kỹ năng phát triển tư duy cho học sinh, người ta chia bài tập Vật Lý thành các loại:
a Bài tập luyện tập:
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Loại bài tập này dùng để rèn luyện và giúp cho sinh viên áp dụng được những kiến thức đã học vào việc giải bài tập theo mẫu xác định cho trước nào đó Có thể chia làm hai loại:
a1 Bài tập tính toán tập dượt: là những bài tập mang tính chất cơ bản, đơn giản Trong loại bài tập này, phần lớn chỉ áp dụng một vài công thức vật lý đã học; hoặc chỉ cần liên hệ một vài hiện tượng vật lý đơn giản là có thể giải được Bài tập này thường được sử dụng vào cuối mỗi bài học Nó có tác dụng giúp sinh viên củng cố phần lý thuyết vừa tiếp thu, hay là khả năng phân tích Điều quan trọng hơn là khi giải nhiều bài tập loại này sẽ giúp cho sinh viên hình thành thói quen tốt khi giải các bài tập khó hơn
a2 Bài tập tính toán tổng hợp: khi giải bài tập tổng hợp đòi hỏi sinh viên cần vận dụng và thiết lập được những mối liên hệ giữa các bài học đã học, tức là phải áp dụng nhiều khái niệm, nhiều công thức, định luật để giải Bài tập loại này có tác dụng quan trọng trong việc mở rộng, đào sâu và củng cố kiến thức cho sinh viên Khi giải bài tập tổng hợp, sinh viên cần phải có năng lực nhận thức cao, hay khả năng phân tích Nhờ vào khả năng phân tích này mà sinh viên có thể chia một bài tập phức tạp thành những phần đơn giản tuân theo các khái niệm, định luật sẵn trong lý thuyết
1.3 Lựa chọn và sử dụng bài tập Vật Lý
1.3.1 Lựa chọn bài tập Vật Lý
Trong quá trình dạy học Vật Lý nói chung và giảng bài tập Vật Lý nói riêng, chúng ta cần phải lựa chọn một hệ thống bài tập thỏa mãn các yêu cầu sau đây:
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.3.1.1 Các bài tập phải có trình độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, bài tập dễ giúp cho sinh viên làm quen với kiến thức vừa được học nhanh chóng hơn từ đó chuyển sang những bài tập khó hơn Cách này giúp sinh viên nắm được phương pháp giải các bài tập điển hình Cụ thể, người ta đã phân ra thành 4 mức độ từ dễ đến khó:
- Mức độ nhận biết (câu hỏi loại A)
- Mức độ thông hiểu (câu hỏi loại B)
- Mức độ vận dụng bậc thấp (câu hỏi loại C)
- Mức độ vận dụng bậc cao (câu hỏi loại D)
1.3.1.2 Số lượng phân phối cho mỗi mức độ cũng cần phải được cân bằng hóa, nghĩa là tránh thiên về một mức nào đó quá nhiều mà phải phân phối đều trong 4 mức độ
A, B, C, D
1.3.1.3 Mỗi bài tập là một mắc xích trong hệ thống bài tập Để qua đó, giúp sinh viên củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng giải bài tập Vật Lý, để từ đó, mở rộng, nâng cao hệ thống kiến thức mình đã học
1.3.1.4 Hệ thống bài tập phải bao gồm nhiều thể loại bài tập khác nhau như:
- Bài tập có nội dung thực tế
- Bài tập có ứng dụng trong kỹ thuật
- Nêu vấn đề: sử dụng bài tập để đặt vấn đề cho bài học mới
- Hình thành kiến thức mới: Từ một bài tập để dẫn dắt đến kiến thức mới
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
- Củng cố, hệ thống hóa: bài tập nhằm củng cố kiến thức đã học
- Kiểm tra đánh giá: bài tập nhằm đánh giá mức độ nắm vững kiến thức
1.3.2.2 Khi tiến hành giảng dạy bài tập cho một chương, một phần nào đó thì tiến hành theo:
- Trước hết cho sinh viên là các bài tập định tính Bài tập này giúp sinh viên diễn đạt những kiến thức đã học theo ngôn ngữ của mình, nhớ chính xác những định luật, định lý
- Tiếp theo, cho sinh viên làm các bài tập tính toán tập dượt
- Cuối cùng, bài tập tính toán tổng hợp giúp sinh viên hoàn thiện hệ thống bài tập
1.3.2.3 Qua việc sử dụng hệ thống bài tập chúng ta có thể phân loại sinh viên theo các mức độ khác nhau:
- Sinh viên đạt điểm Giỏi
- Sinh viên đạt điểm Khá
- Sinh viên đạt điểm Trung bình
- Sinh viên đạt điểm Yếu
- Sinh viên đạt điểm Kém
Kết luận: Việc lựa chọn và sử dụng hệ thống bài tập có ý nghĩa rất quan trọng không thể
thiếu trong quá trình dạy và học Vật Lý
1.4 Phương pháp giải bài tập Vật Lý
Các phương pháp chung:
- Phương pháp phân tích:
Chia bài tập lớn thành nhiều giai đoạn hay bài toán nhỏ
Giải từng giai đoạn hay bài toán nhỏ đó
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Phối hợp các bài toán nhỏ sao cho biểu thức cuối cùng chỉ chứa ẩn số và các số liệu đã biết
- Phương pháp tổng hợp:
Bắt đầu từ những yếu tố đã cho trong dữ kiện
Lần lượt giải quyết và gỡ dần ra cho đến khi tìm ra được ẩn số
Các bước cơ bản để giải bài tập Vật Lý: Bài tập Vật Lý vô cùng đa dạng và phong phú Vì vậy, không chỉ có một phương pháp cố định nào để áp dụng cho tất cả các bài tập Vật Lý Tuy nhiên, tiến trình giải một bài tập vẫn có điểm chung Tiến trình giải gồm 5 bước cơ bản Nó giúp cho sinh viên hình thàng tư duy logic, khoa học trong việc nắm kiến thức rèn luyện kỹ năng
5 bước cơ bản bao gồm:
1.4.1 Bước 1: Phân tích đề:
- Đọc kỹ đề bài
- Vẽ hình minh họa (nếu có) Ghi các ký hiệu vào hình hay sơ đồ
- Ghi các giả thiết đã cho dưới dạng dữ kiện
- Nếu bài tập yêu cầu thì phải làm thí nghiệm hoặc vẽ đồ thị để lấy số liệu ghi vào phần dữ kiện của bài tập
- Ghi các đại lượng phải tìm dưới dạng kết luận
1.4.2 Bước 2: Tiến hành giải và lời giải tổng quát
- Tìm và xác định hướng giải
- Xác lập được mối liên hệ giữa các đại lượng đã cho trong dữ kiện và các đại lượng cần tìm trong kết luận Từ đó xác định những công thức, định luật có liên quan, sắp đặt
các vấn đề theo các phương pháp giải và các định luật quen thuộc
- Viết phương trình bao gồm cả đại lượng đã cho và cần tìm Cần lưu ý là số
phương trình không được ít hơn số ẩn
- Biến đổi các phương trình trên theo hai vế, một về chứa các đại lượng đã cho, một
vế chứa ẩn số cần tìm
1.4.3 Bước 3: Giải bằng số hoặc đồ thị:
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
- Thế số và đơn vị tính vào phương trình đã được thiết lập ở bước 3 Từ đó, tính kết quả của bài tập hay vẽ đồ thị
1.4.4 Bước 4: Kết quả
- Viết giá trị số kèm theo đơn vị
- Trình bày kết quả thu được dưới dạng một mệnh đề,
1.4.5 Bước 5: Kiểm tra kết quả
- Kiểm tra lại bài tập một cách tổng quát: trả lời hết câu hỏi chưa?, tính toán các phép tính đúng không?, kiểm tra lại đơn vị cho phù hợp, kết quả có phù hợp với ý nghia
Vật Lý không?, phù hợp với giá trị thực tế không?
- Thực hiện các phép trừ - là một phương trình thử để kiểm tra những sai lầm khi
tính toán
- Nêu ra những trường hợp giới hạn riêng và đặc biệt của bài toán và đánh giá thep
quan điểm thực tiễn
1.5 Hướng dẫn sinh viên giải bài tập Vật Lý
Theo lý luận phương pháp dạy học thì có 3 kiểu hướng dẫn sinh viên giải bài toán Vật Lý như sau:
1.5.1 Hướng dẫn theo mẫu (hướng dẫn angôrit)
Hướng dẫn theo mẫu hay còn gọi là hướng dẫn angôrit, tức chỉ rõ cho sinh viên cần thực hiện những hành động và theo một trình tự nào để đi đến kết quả
Hướng dẫn theo mẫu là sự hướng dẫn chỉ rõ cho sinh viên những động cơ cụ thể cần phải thực hiện và trình tự tiến hành các hành động đó để đi đến kết quả như mong muốn Thông thường, trong hướng dẫn theo mẫu, giáo viên cung cấp sẵn cho sinh viên một mẫu trước Sinh viên chỉ cần căn cứ vào đó để giải bài tập Những hành động đó được coi là hành động sơ cấp Hướng dẫn này không đòi hỏi sinh viên phải tự tìm tòi để xác định những hành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi sinh viên chấp hành các hành động đã được giáo viên chỉ ra Cứ theo đó, học sinh sẽ đạt được kết quả, sẽ giải được bài tập đã cho
Trang 19Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Hướng dẫn theo mẫu đòi hỏi gió viên phải tốn công sức để soạn thảo một hệ thống phương pháp cho trước, lựa chọn một hệ thống bài tập phù hợp với từng vấn đề, từng mức độ khác nhau Phải xác định rõ từng bước đi cụ thể để tiến hành một bài tập Vật Lý Mặt khác phải đảm bảo những bước đi đó hoàn toàn phù hợp với trình độ của sinh viên
Hướng dẫn theo mẫu thường được áp dụng trong các tiết dạy bài tập với mục đích hướng dẫn cho sinh viên phương pháp giải những dạng bài tập Vật Lý điển hình Nhằm giúp sinh viên củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng giải bài tập
* Ưu điểm:
- Đảm bảo cho sinh viên giải được bài tập đã giao một cách chắc chắn
- Giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập có hiệu quả
- Nắm chắc phương pháp của một dạng bài tập cụ thể
* Nhược điểm:
- Làm cho sinh viên quen với những hành động đã được chỉ dẫn theo mẫu có sẵn, do đó
ít có tác dụng rèn luyện sinh viên khả năng tìm tòi, sáng tạo, dẫn đến tư duy sáng tạo của sinh viên bị hạn chế
Vì thế, để hạn chế nhược điểm, chúng ta có thể lôi cuốn sinh viên vào quá trình xây dựng phương pháp giải bài tập cho từng dạng, hay phân tích để tìm ra dạng chung cho các bài tập, rồi giải các bài tập tiếp theo cũng theo phương pháp đó
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
- Trong hướng dẫn theo mẫu, hầu hết giáo viên đã làm thay cho sinh viên khi đưa ra một phương pháp cho trước Ngược lại, trong hướng dẫn tìm tòi sẽ tránh được tình trạng đó
* Nhược điểm:
- Vì là sinh viên tự tìm tòi, tự phát hiện ra cách giải quyết nên không phải bao giờ cũng
có thể đảm bảo giải được một bài toán một cách chắc chắn
- Giáo viên phải hướng dẫn sao cho không theo cách hướng dẫn theo mẫu mà vẫn phải hướng dẫn cho sinh viên đi đúng hướng
1.5.3 Định hướng khái quát chương trình hóa
Định hướng khái quát chương trình hóa cũng là kiểu hướng dẫn cho sinh viên tự tìm tòi cách giải quyết, không đưa ra những cái có sẵn
Giảng viên định hướng hoạt động tư duy cho sinh viên theo hướng khái quát hóa Nếu sinh viên vẫn không làm được thì giáo viên phải cụ thể thêm một bước bằng cách gợi ý cho sinh viên thu hẹp phạm vi tìm tòi Trên cơ sở đó, giáo viên chuyển dần thành hướng giải quyết theo mẫu để đảm bảo cho sinh viên hoàn thành được một bước Sau
đó, tự tìm tòi để giải quyết các bước tiếp theo Cứ như vậy cho đến khi giải quyết xong vấn đề được đặt ra ban đầu
* Ưu điểm:
- Áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn sinh viên tự hoạt động giải bài tập
- Dạy cho sinh viên biết cách suy nghĩ trong quá trình học tập
1.6 Phương pháp lập luận cụ thể đối với bài toán định tính định lượng
1.6.1 Bài tập định tính
1.6.1.1 Bài tập giải thích hiện tượng
Bài tập giải thích hiện tượng là loại bài tập cho sẵn hiện tượng và cần phải giải thích xem vì sao lại xảy ra hiện tượng đó Hay nói cách khác là phải đi lí giải nguyên nhân xảy ra hiện tượng Khi giải thích, đòi hỏi sinh viên phải thiết lập được mối quan hệ giữa
Trang 21Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
các hiện tượng và các dữ kiện đã cho Căn cứ vào đó, sử dụng lập luận logic để giải thích hiện tượng
Khi giải thích hiện tượng căn cứ vào các quy trình sau đây:
- Tìm hiểu đề bài, chú trọng hiện tượng Vật Lý được mô tả trong đề bài Nếu đề bài yêu cầu giải thích một hiện tượng thường gặp trong đời sống hằng ngày thì chúng ta cần Vật Lý hóa ngôn ngữ thông thường sang ngôn ngữ Vật Lý
- Phân tích cụ thể hiện tượng đã cho trong đề bài
- Xây dựng lập luận để giải thích hiện tượng:
+ Tìm trong đề những dấu hiệu liên quan đến một tính chất Vật Lý hay một định luật Vật Lý đã biết
+ Phát biểu lại đầy đủ tính chất Vật Lý hay một định luật Vật Lý đó
+ Xây dựng một lập luận để thiết lập mối quan hệ giữa tính chất Vật Lý hay một định luật Vật Lý đó với hiện tượng đã cho, nghĩa là giải thích được nguyên nhân của hiện tượng
1.6.1.2 Bài tập dự đoán hiện tượng sẽ xảy ra
Căn cứ vào hiện tượng cụ thể của đề bài, xác định rõ những tính chất hay một định luật Vật Lý chi phối hiện tượng và dự đoán hiện tượng xảy ra Tức là phải đi tìm quy luật chung chi phối hiện tượng để từ đó rút ra kết luận
Để dự đoán hiện tượng xảy ra, chúng ta có thể xây dựng một lập luận như sau:
- Phán đoán khẳng định chung
- Phán đoán khẳng định riêng
- Kết luận hiện tượng xảy ra
1.6.2 Bài tập định lượng
Có các phương pháp cụ thể sau đây:
1.6.2.1 Phương pháp phân tích: khái quát hóa theo sơ đồ 1
Trang 22Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.6.2.2 Phương pháp tổng hợp: khái quát hóa theo sơ đồ 2
1.6.2.3 Phối hợp phân tích và tổng hợp
Hai phương pháp trên trong thực tế quá trình giải bài tập luôn luôn hỗ trợ cho nhau, xen
kẽ nhau và không tách rời nhau Do đó phối hợp cả hai phương pháp trên đem lại hiệu quả tốt hơn
Trang 23Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.2 Cơ sở lý luận của việc kiểm tra đánh giá
1.2.1 Tổng quan về đánh giá
1.2.1.1 Định nghĩa
Theo Tylor, Crowbach, Scriven: Đánh giá trong giáo dục là quá trình được tiến hành có
hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của sinh viên về các mục tiêu giáo dục Nó bao gồm những mô tả về mặt định tính, định lượng hay những hành vi của sinh viên cùng nhận xét, đánh giá những hành vi này đối chiếu sự mong muốn đạt được về mặt
hành vi đó
Theo Black và Wiliam (1998) định nghĩa đánh giá theo nghĩa rộng là bao gồm tất cả các hoạt động mà giáo viên và sinh viên đã thực hiện để thu thập thông tin Những thông tin này có thể được sử dụng theo nghĩa chẩn đoán để điều chỉnh quá trình giảng dạy và học tập Theo định nghĩa này, đánh giá bao gồm các quan sát của giáo viên, thảo luận trong lớp học, phân tích các việc làm của sinh viên, chẳng hạn như bài tập về nhà và các bài kiểm tra Việc đánh giá trở thành quá trình khi thông tin được sử dụng để điều chỉnh việc giảng dạy và học tập sao cho đáp ứng được các nhu cầu của sinh viên
Khi giáo viên biết được sinh viên đang tiến triển trong học tập như thế nào và họ đang gặp khó khăn ở chỗ nào, giáo viên có thể sử dụng những thông tin này để điều chỉnh việc giảng dạy cần thiết, chẳng hạn như dạy lại hay thử các phương pháp khác, hay cung cấp cho sinh viên thêm nhiều cơ hội hơn nữa để thực hành Những hoạt động này có thể giúp cho việc học tập của sinh viên thành công hoàn thiện hơn.
Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc: Đánh giá kết quả học tập là một quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của sinh viên, về nguyên nhân của những tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho việc quyết định sư phạm của giáo viên, nhà trường và cho bản thân sinh viên đó nhằm giúp cho họ ngày càng tiến bộ hơn
Như vậy quá trình đánh giá trong giáo dục là một quá trình có hệ thống, lâu dài, liên tục và thường xuyên để có thể đem lại kết quả chính xác trong việc xác định khả năng tiếp thu cũng như sự sáng tạo, trình độ và kiến thức của sinh viên Từ đó giúp GV
Trang 24Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
và sinh viên xác định được mục tiêu dạy và học, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo ở các trường phổ thông
Đánh giá bao gồm nhiều phương pháp như: quan sát, vấn đáp, trắc nghiệm, tự luận
1.2.1.2 Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá trong giáo dục
Kiểm tra trong học tập là rà soát, xem xét tình hình thực tế, theo dõi thu thập thông tin về lĩnh vực nào đó để làm chứng cứ đánh giá kết quả học tập của sinh viên nahwmf củng cố mở rộng tăng cường việc học tập của sinh viên Mục đích Kiểm tra là
để điều chỉnh quá trình dạy học, đánh giá nhằm xác định, tìm ra nguyên nhân để điều chỉnh những điểm chưa vững, sai sót mà sinh viên thường mắc phải
Trong khái niệm kiểm tra đánh giá thì kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá Trong kiểm tra người ta xác định trước các tiêu chí và không thay đổi chúng trong suốt quá trình kiểm tra Như vậy, kiểm tra là quá trình hẹp hơn đánh giá, hay kiểm tra là một khâu của quá trình đánh giá
Kiểm tra- Đánh giá là hai công đoạn có mối quan hệ mật thiết với nhau Đánh giá là khâu cuối cùng của kiểm tra, là chức năng cơ bản của kiểm tra, là kết quả của
kiểm tra dựa vào kiểm tra Vì thế Kiểm tra- Đánh giá luôn đi liền với nhau và không thể
tách rời nhau
1.2.2 Mục đích của kiểm tra đánh giá
Trong quá trình dạy học, nhà giáo cần phân loại và thẩm định được mức độ học tập của sinh viên Vì muốn lường trước kết quả học tập của sinh viên ta cần nắm vững được tình hình và khả năng học tập của sinh viên ấy Trong giáo dục, việc kiểm tra đánh giá giúp chúng ta thẩm định khả năng hay tiềm năng của sinh viên để biết ưu và khuyết điểm của sinh viên ấy trong khi thu nhận tri thức, kĩ năng kĩ xảo riêng hoặc để xem việc học tập của sinh viên tiến bộ đến mức nào, mục tiêu của chương trình giáo dục đạt được đến đâu Trước tiên, kiểm tra đánh giá giúp GV có điều kiện nắm cụ thể chính xác năng lực, trình độ của từng sinh viên , từ đó phân loại, tuyển chọn và đánh giá đầu vào Giúp cho sinh viên nhận ra được trình độ kiến thức của mình để kịp thời điều chỉnh hoàn thiện việc học và định hướng phấn đấu kết quả cao hơn Thông qua việc KTĐG, giáo viên không chỉ nắm được thông tin chung về lớp mà còn phát hiện kịp thời các sinh viên
Trang 25Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
cá biệt cũng như những sinh viên ưu tú từ đó có những biện pháp thích hợp đối với từng sinh viên Đồng thời GV xem xét bổ sung sửa đổi các mục tiêu, nội dung, phương pháp
và hoàn chỉnh trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của mình nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy Mặt khác, KTĐG có thể so sánh giữa tập thể sinh viên này với tập thể sinh viên khác để đánh giá quá trình giảng dạy của giáo viên, đánh giá một phương pháp giáo dục hay sáng kiến cải tiến tiết học nào đó
Thông qua việc kiểm tra đánh giá, giáo viên có thể phân loại học snh đánh giá tình hình học tập của hcoj sinh và kịp thời thông báo kết quả với gia đình để gia đình và nhà trường có thể kết hợp chặt chẽ với nhau trong việc giúp đỡ và theo dõi tình hình học tập của sinh viên
Không những thế, mục đích của việc kiểm tra đánh giá trong giáo dục còn cung cấp cho cơ quan quản lí và nghiên cứu giáo dục những thông tin làm cơ sở cho việc cải tiến mọi hoạt động của giáo dục từ phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất, quản lí nhà trường
1.2.3 Những yêu cầu sƣ phạm của kiểm tra đánh giá
1.2.3.1 Những yêu cầu chung của kiểm tra đánh giá
Yêu cầu trước tiên trong quá trình kiểm tra đánh giá cho sinh viên là giáo viên phải căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng môn học Như đã biết, kiểm tra đánh giá là cả một quá trình nên giáo viên không nên dựa trên kết quả cuối cùng để đánh giá một sinh viên , cần nắm bắt được quá trình phấn đấu học tập của sinh viên để đánh giá Để kiểm tra đánh giá đạt được chất lượng tốt nhất, đòi hỏi người giáo viên phải có thái độ khách qan, công bằng, trung thực, chính xác, không được có thái độ tùy tiện, thành kiến, tự do chủ nghĩa Nếu không đảm bảo được yêu cầu này thì quá trình kiểm tra đánh giá sẽ không phản ánh chính xác về năng lực của sinh viên Yêu cầu đối với đề kiểm tra, cần đảm bảo tính toàn diện kiến thức, có khả năng phân hóa cao và phải tiến hành thường xuyên, kịp thời, phối hợp với nhiều hình thức kiểm tra để để đạt được kết quả chính xác và cao nhất Đồng thời, khi KTĐG, giáo viên cần phải tìm cách động viên khen thưởng kịp thời Đây là nguyên tắc sư phạm mà bất cứ người giáo viên nào cũng cần phải chú ý
Trang 26Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.2.3.2 Những tiêu chí của kiểm tra đánh giá
1.2.3.2.1.Đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống và tính thường xuyên
Tiêu chí này tập trung yêu cầu về đề kiểm tra Các đề kiểm tra đánh giá trước tiên phải thể hiện được các mục tiêu ban đầu đã đưa ra trong chương trình môn học Đồng thời, đề kiểm tra cần có những câu đi sâu vào nhiều khía cạnh, nội dung khác nhau, tránh không tập trung quá nhiều vào một vấn đề, bên cạnh đó, các đề kiểm tra phải rèn được cho sinh viên kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình học tập, nâng cao dần khả năng
và trình độ của sinh viên Hơn nửa, phải thực hiện việc kiểm tra đánh giá một cách thường xuyên, có kế hoạch, có như thế giáo viên mới có thể nắm bắt kịp thời trình độ, khả năng tiếp thu và sự tiến bộ của sinh viên
1.2.3.2.2 Đảm bảo tính khách quan
Khi KTĐG phải khách quan, phản ánh đúng thực chất về trình độ của sinh viên trong quá trình học tập và rèn luyện Một đề kiểm tra được gọi là khách quan nếu khi dùng cho đối tượng khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau đều cho cùng một kết quả hoặc chỉ sai khác trong phạm vi sai số cho phép; các giáo viên chấm cùng một bài phải cho điểm như nhau hoặc chỉ sai khác trong phạm vi sau số cho phép
Muốn vậy, những kiến thức cần kiểm tra đánh giá phải phản ánh đúng mục tiêu giảng dạy của môn học, đi sát chương trình, phù hợp với thực tiễn dạy và học ở nhà trường Tránh tình trạng kiểm tra những kiến thức quá khó ngoài chương trình, mang tính bắt bí sẽ dẫn đến những nhận định chủ quan đồng thời ra đề cũng không được quá
dễ, sẽ không phản ánh hết năng lực của sinh viên Mặt khác, khi chấm bài, người giáo viên phải công tâm, không thiên vị, tránh bị chi phối bởi yếu tố tâm lí Kết quả kiểm tra phải phản ánh được thực lực của sinh viên , động viên sinh viên sửa chửa những thiếu sót kịp thời và quan trọng là kết quả đó là kết quả của một quá trình lâu dài, toàn diện và khách quan
1.2.3.2.3.Đảm bảo tính công khai
Điều đầu tiên trước khi tiến hành kiểm tra, giáo viên cần phải thông báo cho sinh viên biết thời gian cụ thể, nội dung cụ thể và hình thức sẽ kiểm tra Thời gian phải
Trang 27Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
không quá dài, dễ khiến sinh viên chủ quan lơ là cũng không quá ngắn để sinh viên có thời gian ôn tập Có như thế, sinh viên sẽ có thời gian chuẩn bị cho bài kiểm tra, không
bị bất ngờ và áp lực.Việc tổ chức kiểm tra đánh giá phải được tiến hành công khai, kết quả phải được công bố kịp thời để mỗi sinh viên có thể tự đánh giá xếp hạng trong tập
thể lớp học, cần có những biện pháp kích thích sinh viên tự kiểm tra đánh giá
Như vậy khi kiểm tra đánh giá giáo viên không chỉ chú ý đến chức năng kiểm tra
mà còn chú ý đến chức năng dạy học và giáo dục của kiểm tra đánh giá Khi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên cần phải xem xét cả quá trình kết hợp theo dõi thường xuyên với kiểm tra, đánh giá định kỳ và đánh giá tổng kết cuối năm học, cuối khoá học Số lần kiểm tra phải đủ mức để có thể đánh giá chính xác
1.2.3.2.4 Yêu cầu đảm bảo tính phát triển của kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình kiểm tra đánh giá, giáo viên cần theo sát quá trình tiến bộ của sinh viên , phát hiện kịp thời những động lực phát triển để từ đó, tạo mọi điều kiện giúp đỡ để các em có thể tiến bộ rõ nét hơn Dưới những tác động tích cực của nhà trường nói riêng cũng như những tác động ngoài xã hội nói chung, sinh viên luôn vận động không ngừng Vì vậy, khi đánh giá kết quả của sinh viên cần xem xét cả quá trình phấn đấu, từng giai đoạn, từng thời kì, thậm chí từng chương, từng bài để bài kiểm tra có thể phải ánh chính xác nhất kết quả học tập của sinh viên
1.2.4 Xu hướng hoàn thiện và đổi mới trong kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình giáo dục Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy và học được chú trọng nhắm đáp ứng được yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục Nếu như trước đây, công việc đánh giá là của riêng giáo viên Giáo viên là người tự ra đề, tự chấm bài và quyết định điểm cho sinh viên và vài trò của sinh viên trong việc KTĐG chưa được chú trọng; thì hiện nay, trong
xu thế tiến bộ xã hôi, thì đối với giáo dục đã lấy người học làm trung tâm Nhà trường không chỉ dạy chữ, dạy kiến thức mà điều quan trọng hơn hết là dạy cho sinh viên phương pháp tự học để có thể áp dụng để tự học hỏi tìm tòi đến suốt đời Theo tinh thần
đó, giáo viên phải hướng dẫn sinh viên phát triển kỹ năng tự đánh giá để điều chỉnh
Trang 28Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
cách học, mặt khác giáo viên vẫn luôn luôn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, quyết định chất lượng và hiệu quả dạy học Vì vậy giáo viên phải thông qua việc đánh giá sinh viên mà tự đánh giá để điều chỉnh cách dạy cho có hiệu quả hơn.Đồng thời, việc kiểm tra đánh giá phải chuyển biến mạnh mẽ theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tao của sinh viên , khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng đã học vào các tình huống thực tế, từ đó đưa ra giải pháp cho các vấn đề đó dựa trên những hiểu biết của mình Phát triển các phương pháp dạy học tích cực để đào tạo những con người chủ động sáng tạo, sớm thích ứng với thế giới lao động, hoà nhập và góp phần phát triển cộng đồng
Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật đang dần dần được phổ biến trong nhà trường, công tác kiểm tra đánh giá sẽ mang những sắc thái mới Người giáo viên tương lai không những phải nắm được các phương pháp kiểm tra đánh giá truyền thống mà phải biến vận dụng một số phương pháp kiểm tra đánh giá hiện đại Với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, kiểm tra đánh giá không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên mà giáo viên lại có được nhiều thông tin hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy và chỉ đạo hoạt động học
1.2.5 Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá
1.2.5.1 Đối với giáo viên
Thông qua việc KTĐG, giáo viên có thể phát hiện thực trạng, tình hình học tập cũng như kết quả học tập của sinh viên , tạo điều kiện cho giáo viên phát hiện được những sinh viên có tiến bộ hoặc sút kém đột ngột để động viên giúp đỡ kịp thời Đồng thời, sau mỗi đợt KTĐG, dựa vào kết quả đánh giá và tình hình học tập của sinh viên , giáo viên có thể tự mình rút ra được những kinh nghiệm cũng như tích lũy thêm nhiều phương pháp dạy học tích cực và sáng tạo hơn để ngày càng nâng cao trình độ của mình Kiểm tra đánh giá thường xuyên tạo điều kiện cho giáo viên nắm được một cách
cụ thể, khá chính xác năng lực và trình độ của mỗi sinh viên để có biện pháp giúp sinh viên củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức, kỹ năng đã học, qua đó nâng cao chất lượng học tập chung của cả lớp
Trang 29Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.2.5.2 Đối với sinh viên
+ Quá trình KTĐG là một cơ hội để sinh viên có thể củng cố và phát triển năng lực
tư duy cũng như ôn luyện kiến thức một cách vững chắc Trong quá trình chuẩn bị cho KTĐG, sinh viên bắt đầu tái hiện, hình thành lại một cách có hệ thống là logic toàn bộ kiến thức mà giáo viên đã dạy trên lớp từ đó giúp ghi nhớ và khắc sâu Ngoài ôn luyện lại kiến thức, sinh viên còn thực hành giải các bài tập từ đó hình thành kĩ năng kĩ xảo, phát triển năng lực tư duy sáng tạo
+ KTĐG thường xuyên sẽ giúp cho sinh viên dần hình thành thói quen và nhu cầu
tự kiểm tra đánh giá, nâng cao ý thức tự giác và kỉ luật, tránh thái độ lơ là trong học tập
để hỏng kiến thức Sau mỗi lần KT, sinh viên tự mình nhận thức được mức độ kiến thức của mình đến đâu và có thể rút kinh nghiệm sửa chữa những thiếu sót, kịp thời nhận ra phần kiến thức nào chưa vững để có thể tích cực đào sâu hơn phần đó Từ đó sinh viên
sẽ hoàn thiện bản thân và phương pháp học tập của bản thân hơn để không ngừng phấn đấu đạt thành tích tốt
+ Ngoài những ý nghĩa về kiến thức, KTĐG còn củng cố cho sinh viên tâm lý học tập như tính kiên trì khi gặp vấn đề nan giải, khắc phục được tâm lý sơ sệt khi thi cử, tính ỷ lại, tự mãn, chủ quan, rèn luyện được ý thức ham học hỏi, tích cực trong học tập cũng như trong sinh hoạt,
Đây còn là cơ hội đế sinh viên phát hiện và năng chặn được những biểu hiện sai trái trong học tập
1.2.5.3 Đối với cán bộ quản lý giáo dục
Kết quả kiểm tra đánh giá sẽ giúp cho cán bộ quản lý có được những thông tin về tình hình học tập của sinh viên , về thực trạng dạy và học ở trường Từ đó có những nhận xét chính xác và đưa ra những chỉ đạo kịp thời trong công tác quản lí, có được các biện pháp cụ thể xác thực để có thể thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đã đề ra, đồng thời đặt ra các yêu cầu mới đối với giáo viên và sinh viên để phấn đấu không ngừng trong dạy và học
Trang 30Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.2.6 Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên
1.2.6.1 Phương pháp quan sát
Ở phương pháp này, GV đưa ra mô hình, biểu tượng, hình ảnh, phim học tập…về các hiện tượng, vấn đề liên quan đến nội dung kiến thức đã học và yêu cầu sinh viên quan sát và dự đoán diễn biến tiếp theo hoặc có thể giải thích hiện tượng hoặc tìm ra các mối quan hệ giữa các hiện tượng đó
1.2.6.4 Phương pháp trắc nghiệm khách quan
Đối với phương pháp này GV đưa ra câu hỏi và các phương án trả lời, sinh viên
dựa vào kiến thức đã học để lựa chọn phương án đúng Bao gồm các hình thực như:
Đúng- Sai, câu hỏi ghép đôi, câu hỏi điền khuyết và câu hỏi nhiều lựa chọn
1.2.6.4.1 Câu hỏi dạng Đúng- Sai
Một câu trắc nghiệm Đúng –Sai thường được trình bày dưới dạng một câu phát biểu, buộc sinh viên phải trả lời bằng cách lựa chọn Đúng hoặc Sai Ưu điểm của loại câu hỏi này là cùng một lúc kiểm tra được một lượng lớn kiến thức, việc chấm bài mang tính khách quan Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế lớn Vì phải lựa chọn Đúng hoặc Sai nên tỉ lệ may rủi cao, đến 50%, hơn nửa dạng câu hỏi này có thể khiến sinh viên đoán
mò Ngoài ra, khi ra đề, GV thường trích nguyên văn những phát biểu trong SGK nên dễ
Trang 31Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
khiến sinh viên có thói quen học thuộc lòng, học tủ, học vẹt và không kiểm tra được các dạng bài tập Do đó độ tin cậy thấp
1.2.6.4.2 Câu hỏi ghép đôi
Đây là loại hình đặc biệt của loại câu câu hỏi nhiều lựa chọn, trong loại này có hai cột gồm danh sách những câu hỏi và câu trả lời Dựa trên những kiến thức đã học và yêu cầu cho trước của đề định, sinh viên tìm cách ghép những câu trả lời ở cột này với các câu hỏi ở cột khác sao cho phù hợp Số câu trong hai cột có thể bằng nhau hoặc khác nhau Mỗi câu trong cột trả lời có thể được dùng một lần hay nhiều lần để ghép với một câu hỏi
* Ưu điểm:
thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau Nó thường được xem như hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan
- So với một số loại trắc nghiệm khác thì đỡ giấy mực, yếu tố may rủi giảm đi
* Nhược điểm:
như sắp đặt và vận dụng các kiến thức,nguyên lí
nữa nếu số câu trong các cột nhiều, sinh viên sẽ mất nhiều thời gian đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi
* Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu ghép đôi:
- Trong mỗi cột phải có ít nhất là sáu câu và nhiều nhất là mười hai câu Số câu chọn lựa trong cột trả lời nên nhiều hơn số câu trong cột câu hỏi, hoặc một câu trả lời có thể được sử dụng nhiều lần để này sẽ giúp giảm bớt yếu tố may rủi
- Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một câu của cột trả lời và câu trả lời tương ứng Phải nói rõ môi câu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay được sử dụng nhiều lần
các cột theo một thứ tự hợp lý nào đó
Trang 32Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
1.2.6.4.3 Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn
Loại câu hỏi này có hai dạng Chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn gọn
và được gọi là loại có câu trả lời ngắn Loại thứ hai là dạng câu hỏi mà sinh viên phải điền những từ hoặc cụm từ thích hợp vào chỗ trống sao cho có ý nghĩa, và được gọi là loại điền khuyết Nói chung, đây là loại câu hỏi trắc nghiệm có câu trả lời tự do Dạng này rất thích hợp cho việc đánh giá mức độ hiểu bết của sinh viên về các nguyên lí, giải thích các dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ Giúp sinh viên luyện trí nhớ khi học, suy luận hay áp dụng vào các trường hợp khác Ưu điểm của nó sinh viên không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm ra câu trả lời Loại này dễ soạn hơn câu hỏi
câu này thường dễ mắc sai lầm là người soạn thường trích nguyên văn các câu từ SGK Ngoài ra loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn những dạng câu hỏi TNKQ khác Đồng thời, thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm, mất nhiều thời gian chấm, không áp dụng được các phương tiện hiện đại trong kiểm tra- đánh giá
Khi xây dựng loại câu hỏi điền khuyết cần chú ý: Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn các câu từ sách để khỏi khuyến khích sinh viên học thuộc lòng và các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau để sinh viên không đoán mò, nên để tróng những chữ quan trong nhưng đừng quá nhiều
1.2.6.4.4 Câu hỏi trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (MCQ: Multiple Choice Question )
Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn) là loại câu phổ biến nhất và có hiệu quả nhất.Một câu hỏi loại này thường gồm một phần phát biểu chính, thường gọi là phần dẫn (câu dẫn) hay câu hỏi, và bốn, năm hay phương án trả lời cho sẵn để sinh viên tìm ra câu trả lời đúng nhất trong nhiều phương án trả lời có sẵn Ngoài câu đúng, các câu trả lời khác đều có vẻ hợp lý (hay còn gọi là các câu nhiễu)
Loại câu hỏi này giúp giáo viên kiểm tra được một lượng kiến thức lớn, tổng quát hơn, kiểm tra được nhiều nội dung, nhiều khía cạnh hơn Không những thế độ tin cậy
Trang 33Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
cao hơn, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại câu hỏi TNKQ khác khi
biệt rõ ràng trước khi trả lời câu hỏi Ngoài ra, loại này yêu cầu sinh viên phải học một lượng lớn kiến thức, từ đó tránh thái độ chủ quan, lơ là, học tủ học vẹt; giúp sinh viên rèn luyện kĩ năng làm bài và khắc phục những mặt hạn chế để học tập tốt hơn
Hiện nay, nhờ các phương pháp phân tích câu hỏi, tính độ phân biệt, độ khó, độ nhiễu cho câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn này, giúp giáo viên có thể xác định được câu nào khó, câu nào dễ, sắp xếp xen kẽ các câu cho hợp lý Từ đó có thể chỉnh sửa lại các câu hỏi và các đáp án mồi nhữ để tăng giá trị của câu trắc nghiệm Việc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm cần nhiều thời gian và nên lưu ý những điểm sau:
tranh cãi được (không có điểm sai và những chỗ tối nghĩa), còn các câu nhiễu đều phải
có vẻ hợp lí
động thu hút các sinh viên kém hơn
- Các câu trả lời đúng nhất phải được đặt ở các vị trí khác nhau một số lần tương đương ở mỗi vị trí A, B, C, D, E Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên được sắp xếp theo một thứ tự ngẫu nhiên Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng một vấn đề hay nên mang trọn ý nghĩa Nên tránh dùng những câu có vẻ như câu hỏi loại
“đúng sai” không liên hệ nhau được sắp chung một chỗ
Tính đồng nhất có thể dựa trên căn bản ý nghĩa, âm thanh, độ dài, hoặc cùng là động từ, tính từ hay danh từ
hơn thì yếu tố may rủi tăng lên Ngược lại, nếu có quá nhiều phương án để chọn thì giáo viên khó tìm được câu nhiễu hay và sinh viên mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
liên tiếp trong một câu hỏi.
1.2.7 Trình tự xậy dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trang 34Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Có năm bước để xây dựng một câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Bước thứ nhất: Xác định rõ mục tiêu kiểm tra đánh giá: Giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất, giáo viên cần xác định được các mục tiêu kiểm tra dưới dạng những hành vi, thái độ, kiến thức, kĩ năng mà chúng ta mong muốn sinh viên đạt được sau mỗi bài học, mỗi chương hay sau khi kết thúc một học kì, một cấp học Phải xác định rõ các yêu cầu đối với sinh viên để sinh viên có thể bộc lộ khả năng, kiến thức và sự hiểu biết của mình đến đâu Xác định và phát biểu mục tiêu chương trình giạng dạy là công việc rất cần thiết cho việc soạn bài trắc nghiệm
- Bước thứ hai: Thiết lập ma trận hai chiều Dựa vào các mục tiêu giảng dạy đã vạch ra, giáo viên thiết lập một ma trận hai chiều để cụ thể hóa mục tiêu Nó giúp giáo viên chuẩn
bị các câu hỏi trắc nghiệm phù hợp với các mục tiêu giảng dạy của họ và phân bố số lượng câu hỏi cho phù hợp với từng nội dung cần kiểm tra Trong ma trận này, một chiều chỉ rõ nội dung chương trình đã được học và một chiều nêu lên hành vi đòi hỏi cần đạt được ở sinh viên
- Bước thứ ba: Viết câu hỏi trắc nghiệm gắn chặt với các mục tiêu trên theo từng mức độ nhận thức khác nhau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng bậc thấp, vận dụng bậc cao Mỗi câu hỏi nên có từ 4 đến 5 lựa chọn để phát huy hết ưu điểm của nó
- Bước thứ tư : Chỉnh sửa câu hỏi Căn cứ vào các mục tiêu giảng dạy để lựa chọn câu hỏi trắc nghiệm phù hợp Đọc và kiểm tra lại các câu hỏi và các đáp án để chỉnh sửa cho phù hợp với nội dung kiến thức SGK Nhờ các thầu cố phổ thông đọc và chỉnh sửa các câu hỏi
- Bước thứ năm : Hoàn thiện câu hỏi Thông qua thực nghiệm sư phạm, lấy số liệu và dùng phần mềm để kiểm tra tính khả thi, độ tin cậy của câu hỏi đó Từ đó đánh giá và lựa chọn các câu hỏi phù hợp và lưu vào ngân hàng câu hỏi
Trình tự này phải được dựa trên các mức độ kiểm tra đánh giá sau:
- Mức độ nhận biết: Kí hiệu “câu hỏi loại A”
Trang 35Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Mức độ này được xem như là sự nhận ra được, phát biểu lại được, nhớ lại đúng, xây dựng lại tri thức, diễn đạt được những định luật, định lý đã học một cách thành thạo như định luật Coulomb, định luật bảo toàn điện tích, điện trường, định lý O-G…Mục tiêu của câu hỏi loại A là để kiểm tra trí nhớ của sinh viên về các sự kiện, hiện tượng vật lý, các công thức, định lý, định luật cơ bản mà không cần giải thích những thông tin đó Qua đó giúp học sinh ôn lại những gì đã học Đây là mức độ thấp nhất trong các mức độ cần kiểm tra đánh giá
Các câu hỏi thường gặp ở mức độ này: “Hãy nêu…?”, “ Hãy phát biểu…?”, “Em biết gì về…?”; “ Thế nào…?”…
- Mức độ thông hiểu: Kí hiệu “câu hỏi loại B”
Mức độ này yêu cầu SV phải có khả năng diễn giải lại, mô tả tóm tắt, diễn dịch các thông tin kiến thức thu nhận được từ dạng này sang dạng khác để chứng tỏ sự hiểu biết, nắm vững kiến thức đó SV phải hiểu được bản chất và mối quan hệ của các định luật, các hiện tượng Vật Lí và biết vận dụng chúng vào một số tình huống cụ thể Mức độ này cao hơn mức độ nhận biết
Các câu hỏi thường gặp ở mức độ này: “Tại sao…?”; “Hãy phân tích…?”; “Hãy liên hệ…?”…
- Mức độ vận dụng: Kí hiệu “câu hỏi loại C”
Câu hỏi loại này giúp sinh viên thể hiện khả năng lựa chọn, sử dụng các kiến thức đã học trong các tình huống mới, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, giúp phát huy khả năng xử lý tình huống của SV
Các câu hỏi thường gặp ở mức độ này: “ Kiến thức nào giúp bạn giải quyết vấn đề và giải quyết như thế nào?”…
- Mức độ vận dụng bậc cao: Kí hiệu “câu hỏi loại D”
Đây là mức độ nhận thức cao, yêu cầu sinh viên kết hợp nhiều yếu tố để tạo thành tổng thể mới trước đây không có, đòi hỏi khả năng biết phân tích để đi tới vận dụng bậc cao Mức độ này đòi hỏi sinh viên biết tổng hợp, phân tích, nắm vững kiến thức và biết giải
Trang 36Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
quyết vấn đề theo cách riêng của mình đối với những tình huống phức tạp không giống như những tình huống đã biết và không theo khuôn khổ nào cả Ở đây bắt đầu thể hiện sự sáng tạo, cải tiến của cá nhân
Các câu hỏi thường gặp ở mức độ này: “Hãy chứng minh…”, “Hãy so sánh…”, “Nhận xét”
Trang 37Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
CHƯƠNG II:
LỰA CHỌN, PHÂN LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG
“TRƯỜNG TĨNH ĐIỆN” - VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG II
2.1 Vài nét về Vật lí đại cương và điện học
Vật lí đại cương là môn cơ sở ngành nghiên cứu những qui luật cơ bản nhất, tổng quát nhất trong tự nhiên Vật Lí đại cương có vai trò rất quan trọng trong việc trang bị kiến thức cơ bản cho sinh viên các ngành không chuyên Vật Lí đại cương gồm ba phần: phần một nghiên cứu về các vấn đề về cơ và nhiệt, phần hai gồm điện và từ và phần cuối cùng nghiên cứu các vấn đề về quang và vật lý hạt nhân
Điện học là bộ môn nghiên cứu những quy luật tổng quát nhất của điện trường và các hạt tích điện Những tiền đề cơ bản của điện học được thành lập dựa trên khái quát hóa các kết quả từ thực nghiệm Các kết quả của điện học rút ra từ những tiền đề đó bằng cách suy luận logic, bằng chứng minh toán học Điện trường thay đổi sinh ra từ trường và từ trường thay đổi sinh ra điện trường Thực chất, điện trường và từ trường hợp thành một thể thống nhất, gọi là điện từ trường Các tương tác điện và tương tác từ gọi chung là tương tác điện từ Lực xuất hiện trong các tương tác đó là lực điện từ, một trong bốn lực cơ bản của
tự nhiên (bên cạnh lực hấp dẫn, lực hạt nhân mạnh và lực hạt nhân yếu) Trong phần điện học,
ta chủ yếu nghiên cứu về chương điện trường tĩnh Điện trường tĩnh là điện trường cơ bản do 1 điện tích tạo ra (Mở rộng hơn là điện trường do 1 hệ các điện tích hay 1 vật tích điện, nam châm vĩnh cửu hay nam châm điện) Vectơ điện trường này có phương, chiều
và độ lớn không đổi ở 1 vị trí trong không gian tại 1 thời điểm xác định
2.2 Nhiệm vụ và vị trí của chương “Trường tĩnh điện”
Nhiệm vụ của chương Trường tĩnh điện là nghiên cứu sự tương tác giữa các điện tích và khảo sát các đặc trưng cơ bản của điện trường thông qua việc nghiên cứu điện trường của điện tích điểm và một số vật nhiễm điện có hình dạng đặc biệt và những ứng dụng của hiện tượng điện trong kỹ thuật Đặc biệt, ở chương này là chương mở rộng, là đào sâu kiến thức từ chương Điện tích điện trường mà SV đã được học ở Vật Lý 11 Nên ngoài những kiến thức cơ bản, còn mở rộng và nâng cao một số kiến thức như định lí Oxtrogratxki – Gauss và các phần điện trường gây bởi vật tích điện dài, vật tích điện mặt,
Trang 38Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
…Việc xây dựng khái niệm điện trường với ý nghĩa là một môi trường truyền tương tác
từ điện tích này đến điện tích khác làm cho SV hiểu được vai trò của điện trường trong
sự tương tác cách bức, khả năng nhận thức của con người về thế giới hiện thực Chương“ Điện trường tĩnh” mở đầu cho phần điện học và điện từ học, bao gồm những kiến thức
rất cơ bản không những giúp cho SV hiểu bản chất vật lý và cơ chế các hiện tượng điện
mà còn chú ý nâng cao mức định lượng góp phần chính xác hóa những nội dung SV đã
học ở phổ thông Đồng thời, đề tài này mà còn làm cơ sở để SV hiểu được dễ dàng các khái niệm từ trường, điện trường xoáy, điện từ trường sau này và củng cố và hiểu sâu khái niệm trọng trường
Mặt khác, một số kiến thức của phần này lại được xây dựng trên cơ sở những kiến thức đã học trong phần cơ học như lực, công, năng lượng…đặc biệt là các bài tập cùng sử dụng nhiều đến phương pháp giải các bài tập tĩnh học và động lực học ở lớp 10
2.3 Phân tích nội dung và đặc điểm cơ bản của chương Trường tĩnh điện
Mục tiêu của chương này :
- Hiểu được định luật bảo toàn điện tích, đinh luật Coulomb, định lý Ostrogratsky – Gauss
- Hiểu được các khái niệm điện trường, điện thế, hiệu điện thế, mặt đẳng thế
- Biết cách vận dụng các công thức xác đinh lực điện tổng hợp, điện trường, điện thế khi điện tích phân bố rời rạc, khi điện tích phân bố liên tục, giải được các bài tập về mặt đẳng thế
- Biết cách vận dụng định lí Ostrogratsky – Gauss để giải một số bài toán liên quan Logic hình thành chương này như sau :
Trước tiên, nhắc lại các kiến thức đã học về điện tích, lượng tử hóa điện tích, bảo toàn điện tích Sau đó thông báo cho SV nội dung định luật Coulomb về độ lớn, phương, chiều Chú ý rằng độ lớn của lực Coulomb tỷ lệ nghịch với bình phương của khoảng cách giửa hai điện tích Yêu cầu đối với sinh viên là vận dụng công thức xác định lực Coulomb trong từng trường hợp cụ thể về độ lớn, phương và chiều Một điểm nâng cao hơn so với kiến thức THPT là phần điện tích phân bố liên tục, yêu cầu sinh viên tính lực điện tổng hợp
Trang 39Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Điện từ trường là một khái niệm cơ bản của điện động lực học Cũng như tất cả các dạng trường khác, điện từ trường là một dạng tồn tại của vật chất Điện trường là trường hợp riêng của điện từ trường và chúng cũng là những dạng tồn tại của vật chất Nếu điện
trường không biến thiên theo thời gian thì gọi là trường tĩnh điện Chỉ có trường tĩnh điện
mới có thể áp dụng được định luật Coulomb khi tính lực tương tác giữa các điện tích điểm Vậy điện trường là một dạng vật chất tồn tại xung quanh vật tích điện truyền tác dụng lực từ vật tích điện này lên một vật tích điện khác
Điện trường có hai đặc trưng: đặc trưng về mặt tác dụng lực là cường độ điện
trường và đặc trưng về mặt dự trữ thế năng là điện thế Điện trường là một trường vector : nó gồm một sự phân bố của các vector, mỗi một điểm trong miền bao quanh vật tích điện Do đó, về mặt nguyên tắc để xác định cường độ điện trường bằng cách đặt điện tích thử q0 tại điểm khảo sát gần vật tích điện, sau đó ta đo lực tĩnh điện tác dụng lên điện tích thử q0 Cường độ điện trường tại điểm khảo sát được định nghĩa bằng
0
F E q
(4.4) Như vậy, độ lớn của điện trường (cường độ điện trường) tại điểm khảo sát là
Trang 40Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mỹ Đức
Theo định nghĩa lực điện tổng hợp do một hệ điện tích điểm gây ra thì véc tơ cường độ điện trường do một hệ điện tích điểm (q) gây ra tại M:
r r
q E
1
2 2 0
4
1
Nguyên lí chồng chất điện trường có nội dụng như sau: Vectơ cường độ điện trường tại
M do một hệ điện tích điểm gây ra bằng tổng các vectơ điện trường do từng điện tích điểm gây ra tại M
Biểu thức:
i i E E
Tiếp theo là thuyết electron và định luật bảo toàn điện tích Thuyết electron là thuyết
dựa trên sự chuyển dời của electron để giải thích các hiện tượng điện Cơ sở của thuyết
là quan niệm về cấu tạo hạt vật chất được hình thành trong thuyết động học phân tử Tiếp đến là các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về điện và từ như định luật Coulomb, định luật Ôm, các khái niệm về điện thế, hiệu điện thế…Nhưng cơ sở quan trọng nhất là việc phát hiện ra electron Giả thuyết về sự bảo toàn điện tích được đưa ra
đầu tiên bởi Benjamin Franklin, đã được kiểm nghiệm chặt chẽ với các vật lớn tích điện
và cả với các nguyên tử, hạt nhân và các hạt cơ bản, chưa thấy có ngoại lệ nào, như vậy
ta thêm điện tích vào danh sách các đại lượng (bao gồm năng lượng, xung lượng và moment xung lượng) tuân theo định luật bảo toàn
Tiếp đến là phần điện thế Trong phần điện thế này có các nhóm kiến thức sau:
- Công của lực tĩnh điện, tính chất thế của trường tĩnh điện: để đưa ra khái niệm công
của lực tĩnh điện , trước hết giả sử có một điện tích q0 nằm trong điện trường của một điện tích điểm q Từ đó yêu cầu tính công của lực điện làm dịch chuyển điện tích q0 từ vị trí M đến N Dựa vào các kiến thức đã học thiết lập được công thức tính công của lực tĩnh điện và đi đến kết luận: công của lực tĩnh điện trong sự dịch chuyển điện tích q0 trong một điện trường không phụ thuộc vào dạng đường cong dịch chuyển mà chỉ phụ thuộc vào điểm đầu và điểm cuối của dịch chuyển Từ kết luận đó, ta có thể dễ dàng biết được công của lực tĩnh điện dịch chuyển trong một đường cong kín bằng 0, đi đến kết luận trường tĩnh điện là một trường thế Tiếp đến có một khái niệm hoàn toàn mới là lưu số véc tơ, đây là một đại lượng đặc trưng cho tính chất thế của trường tĩnh điện