Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực tiễn về việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học giúp học sinh nắm vững kiến thức bài học, phát triển tư duy và khả năng sáng tạo Việc áp dụng câu đố không chỉ kích thích tính tích cực và hứng thú học tập của học sinh mà còn nâng cao hiệu quả dạy học môn TN-XH ở cấp Tiểu học.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
- Việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN & XH lớp
- Giáo viên đang giảng dạy các khối lớp 1, 2, 3 trường Tiểu học Trần Cao Vân-Thành phố Đà Nẵng
- Học sinh các khối lớp 1, 2, 3 trường Tiểu học Trần Cao Vân- Thành phố Đà Nẵng.
Giả thuyết khoa học
Sử dụng câu đố trong giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội sẽ làm tăng hứng thú của học sinh đối với bài học, từ đó giúp các em yêu thích môn học này hơn Điều này góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy của môn học.
Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
- Tìm hiểu thực tế việc sử dụng câu đố trong dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội
- Xây dựng một số kế hoạch bài học nhằm đánh giá kết quả đạt được khi sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học
- Đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học
Bài nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng câu đố trong giảng dạy chủ đề "Tự nhiên" của môn Tự nhiên và Xã hội cho học sinh lớp 1, 2, 3 tại trường Tiểu học Trần Cao Vân Do những hạn chế về điều kiện khách quan và chủ quan, nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi này.
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
6 1 Phương pháp đọc và phân tích – tổng hợp tài liệu Đọc tài liệu, từ đó phân tích và tổng hợp các thông tin cần thiết cho đề tài
6.2 Phương pháp điều tra bằng anket
Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin làm cơ sở thực tiễn cho đề tài
6.3 Phương pháp thống kê Để phân tích kết quả thực nghiệm ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
6.4 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát các giờ dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học
6.5 Phương pháp thực nghiệm Đề xuất giáo án và thực hiện giảng dạy các bài có sử dụng câu đố trong môn Tự nhiên và Xã hội
6.6 Phương pháp đánh giá và xử lí kết quả Đánh giá, phân tích và xử lí số liệu kết quả thu được sau khi thực nghiệm
Phỏng vấn giáo viên về việc sử dụng câu đố trong quá trình dạy môn TN-XH.
Cấu trúc của đề tài
- Lí do chọn đề tài
- Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng câu đố trong giảng dạy chủ đề “Tự nhiên” cho học sinh Tiểu học qua môn TN-XH lớp 1, 2, 3 Việc áp dụng câu đố không chỉ giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo mà còn khơi gợi hứng thú học tập, tạo môi trường học tập tích cực Các câu đố liên quan đến kiến thức tự nhiên sẽ giúp học sinh tiếp thu thông tin một cách dễ dàng và hiệu quả hơn, đồng thời phát triển kỹ năng tư duy phản biện Sử dụng câu đố trong giảng dạy còn góp phần tạo ra sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, làm cho bài học trở nên sinh động và thú vị hơn.
- Chương 2: Sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “Tự nhiên”cho học sinh Tiểu học qua môn TN-XH lớp 1, 2, 3
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
* Phần kết luận và kiến nghị
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “TỰ NHIÊN” CỦA MÔN TN& XH LỚP 1, 2, 3
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Tổng quan về câu đố
Có nhiều khái niệm khác nhau về câu đố
Aristotle đã định nghĩa rằng “Câu đố là một kiểu ẩn dụ hay”, nhấn mạnh rằng điểm đặc biệt của câu đố là khả năng nói về thực tại trong khi kết hợp với những điều hoàn toàn không thể xảy ra.
Theo tác giả Vũ Ngọc Phan, câu đố là một thể loại văn học dân gian phản ánh các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan qua lối nói chệch Câu đố bao gồm hai phần: phần lời đố và phần lời giải Lời đố được trình bày bằng văn vần, miêu tả vật đố một cách xác thực nhưng lại tạo ra sự lạ hóa để khó đoán Phần lời giải nêu tên vật đố, thường là những sự vật, hiện tượng phổ biến mà ai cũng biết.
Theo định nghĩa từ từ điển TV, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, câu đố được mô tả là những câu văn có vần, nhằm miêu tả người, vật hoặc hiện tượng một cách khéo léo và đôi khi mơ hồ, thường được sử dụng để thách đố lẫn nhau.
Câu đố là một thể loại văn học dân gian phản ánh đặc điểm của các sự vật và hiện tượng thông qua phương pháp giấu tên và nghệ thuật chuyển hóa Nó được sử dụng trong sinh hoạt tập thể để thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết và mang lại niềm vui cho mọi người.
1.1.1.2 Nguồn gốc và quá trình hình thành câu đố
Phương pháp nhận thức và phản ánh nghệ thuật của câu đố đã xuất hiện từ rất sớm và phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới Câu đố có nguồn gốc từ thời kỳ cổ đại, liên quan đến lối nói so sánh gián tiếp của người xưa Hiện tượng này phản ánh việc sử dụng các sự vật để diễn đạt ý nghĩa khác, qua đó miêu tả đặc điểm của sự vật bằng ngôn ngữ Nghệ thuật câu đố có thể đã hình thành từ những cách diễn đạt này.
1.1.1.3 Phân biệt câu đố với tục ngữ, ca dao
- Giống nhau: Có sự tương đồng về hình thức ngắn gọn, cô đúc, có vần điệu nhịp nhàng
Câu đố và các thể loại văn học dân gian khác có sự khác biệt rõ rệt về chức năng và phương pháp nghệ thuật Mặc dù cách thức phản ánh của câu đố có những điểm tương đồng với các ẩn dụ, nhưng nó đặc biệt xây dựng hình tượng để phản ánh các dấu hiệu đặc trưng và chức năng của những sự vật, sự việc cụ thể Mục đích chính của câu đố là kiểm tra và truyền đạt tri thức về thế giới khách quan.
Đố vui có vai trò quan trọng trong văn hóa dân gian, đặc biệt là đối với trẻ em, cung cấp một hình thức giải trí lành mạnh Trẻ em trước đây, do không được đến trường, đã sử dụng đố vui như một cách học tự phát, giúp nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh Những câu đố này không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng tri thức thực tiễn, phản ánh các sự vật và hiện tượng trong đời sống hàng ngày Chúng thường mô tả đặc điểm, chức năng và nguồn gốc của sự vật, từ những công cụ sản xuất đến các hiện tượng tự nhiên quen thuộc Nội dung câu đố thường cụ thể, trực quan và chú trọng đến những chi tiết riêng biệt, giúp trẻ em tiếp cận tri thức một cách tự nhiên và sinh động.
- Có răng mà chẳng có mồm
Nhai cỏ nhồn nhồn chẳng chịu ăn cơm ( cái liềm) b Chứa đựng nội dung và ý nghĩa xã hội
Nhiều câu đố, khi miêu tả thế giới thực tại, mang trong mình những ý nghĩa xã hội sâu sắc, mặc dù điều này không phải là mục đích chính của chúng.
Nhiều câu đố thể hiện sự châm biếm và khinh thường đối với giai cấp thống trị, đồng thời tôn vinh người lao động cùng những sản phẩm và công cụ họ tạo ra Những câu đố này cũng phản ánh mối quan hệ giữa con người và thực trạng đời sống từ một góc độ nhất định.
1.1.1.5 Phương thức nghệ thuật trong câu đố a Phương pháp xây dựng câu đố bằng hình thức ẩn dụ
Câu đố thường so sánh hình dạng bên ngoài của các sự vật với vật cần đoán, đồng thời cung cấp những dấu hiệu về chức năng và công dụng của chúng trong cuộc sống Những đặc điểm như hình dáng, trạng thái hoạt động, sự chuyển động hoặc bất động, cùng với điều kiện sống, được sử dụng để gợi ý và kích thích sự liên tưởng trong người giải đố.
Trong các câu đố dân gian, bài học cuộc sống được thể hiện qua phương thức độc đáo, khác biệt với các loại hình văn học dân gian khác Các sự vật thường được mô tả bằng cách giấu tên, nửa kín nửa hở, tạo ra sự tò mò và ham hiểu biết cho người đọc, đặc biệt là trẻ em Điều này kích thích nhu cầu nhận thức và khuyến khích họ sử dụng trí thông minh, kiến thức và kinh nghiệm cá nhân để khám phá những điều mới lạ Việc giấu tên các sự vật khiến cho khi được giải thích, người nghe sẽ cảm thấy bất ngờ và thú vị, từ đó dễ nhớ lâu và sâu hơn Những câu đố ẩn dụ đa dạng và độc đáo này tạo ra sự hứng thú bất ngờ cho người tham gia.
- Mình vàng mà thắt đai vàng,
Một mình dọn dẹp sửa sang trong nhà ( cái chổi đót)
Câu đố sử dụng ẩn dụ thông qua biện pháp so sánh và nhân cách hóa, liên tưởng đến những biểu hiện đa dạng trong cuộc sống con người Nhiều câu đố biến những sự vật, hiện tượng bình thường thành những hình ảnh trang trọng và sâu sắc.
- Vốn xưa từ đất sinh ra,
Mà ai cũng gọi tôi là con quan
Dốc lòng việc nước lo toan, Ðầy vơi phó mặc thế gian ít nhiều ( cái ấm)
- Sinh ra con gái má hồng,
Gả đi lấy chồng đất nước người ta Ðến khi tuổi tác đã già,
Quê chồng em bỏ, quê cha em tìm ( cái nồi đất) b Phương pháp xây dựng câu đố bằng hình thức chơi chữ
Câu đố thường áp dụng các biện pháp như đồng âm dị nghĩa, đồng nghĩa dị âm, chiết tự, nói lái và nói ngược để tạo ra sự đa nghĩa Những thủ pháp này làm cho nội dung biểu đạt trở nên khó hiểu và gây nhiễu thông tin, từ đó đánh lừa người nghe và khiến họ khó đoán đúng đáp án.
- Một bầy gà “mà bươi” trong bếp,
Chết mất ba con, hỏi có mấy con?
( “mà bươi”là 13 con, chết 3 con, còn lại 10 con)
- Nửa làm mứt, nửa nấu canh, Ðến khi “mất sắc” theo anh học trò Là quả gì?
( quả bí, “mất sắc” gọi là bi)
- Ngả lưng cho thế gian nằm
Bài thơ này mang đậm tính truyền thống với thể thơ có vần điệu, nhịp nhàng, cô đọng và cân đối Nó khéo léo sử dụng hình ảnh để tạo nên những câu đố thú vị, gây sự tò mò cho người đọc "Vừa êm ấm lại ngờ 'bất trung'" chính là điểm nhấn, khiến người đọc phải suy nghĩ và tìm ra ý nghĩa sâu xa của nó.
- Áo đơn, áo kép, đứng nép bờ ao
Là cây gì? ( cây chuối)
- Sừng sững mà đứng giữa nhà,
Ai vào không hỏi, ai ra không chào ( cây cột nhà)
d Câu đố cũng có xu hướng đưa vào yếu tố tục
Song yếu tố này ở câu đố không mang nội dung xã hội, thường chỉ có tác dụng tạo sự dí dỏm, gây cười
- Cái gì mình đứng thì nó nằm, mà mình nằm thì nó ngồi? ( bàn chân)
- Trên lông dưới lông, phồng lên để ngắm? Là gì? ( con mắt)
Căn cứ hình thức diễn tả, câu đố được chia 2 loại: câu đố chính hiệu và câu đố vay mượn
- Lá xanh, cành đỏ, hoa vàng
Là là mặt đất đố chàng cây chi? ( cây rau sam)
Câu đố có thể được phân loại thành hai loại chính: loại phản ánh hiện tượng tự nhiên và loại phản ánh văn hóa Ví dụ, trong tác phẩm "Truyện Kiều", hình ảnh "vầng trăng vằng vặc giữa trời" không chỉ mang tính chất miêu tả mà còn thể hiện sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên và văn hóa.
- Thuở bé em có hai sừng Đến khi nửa chừng mặt đẹp như hoa
Ngoài hai mươi tuổi sắp già
Quá ba mươi tuổi mọc ra hai sừng ( mặt trăng)
- Tám xóm nhóm lại hai phe
Dựng một cây tre bắc cầu một cột ( quang gánh)
1.1.1.7 Một số câu đố sưu tầm và sáng tác về chủ đề “ Tự nhiên” a Câu đố sưu tầm
* Câu đố về thực vật
1 Cây gì mọc ở sân trường
Cùng em năm tháng thân thương bạn bè
Nấp trong cành lá tiếng ve
Sắc hoa đỏ rực gọi hè đến mau.( cây hoa phượng)
2 Anh và tôi trót cùng tên,
Tôi mọc dưới đất, anh trên bầu trời
Anh thì gặp lạnh thành mưa,
Tôi thì chẻ để làm nong nia ( cây Mây)
3 Cây than nguồn đất khó trôi Đi tìm đại thụ nương nhờ tấm thân ( cây tầm gửi)
4 Cha mẹ có tóc, để con trọc đầu
Cha mẹ sống lâu, để con chết chém ( cây dừa)
5 Có cây mà chẳng có cành
Có quả để dành chắp mối tơ duyên ( cây cau)
6 Sinh con rồi mới sinh cha
Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông ( cây tre)
7 Tựa như cây trúc ngoài đồng
Trâu dòm thấy ngán, người trông thấy thèm ( cây mía)
8 Có cây mà chẳng có cành
Có hai thằng bé rập rình hai bên ( cây ngô ( bắp))
Mọi người đi gặt? ( cây lúa)
10 Cây gì thân nhẵn, lá xanh
Có buồng quả chín, ngọt lành thơm ngon ( cây chuối)
1 Da xù xì như mít
Nhưng quả lại nhỏ hơn
Mùi thơm tỏa ngát trời
Chỉ miền Nam mới có
Là quả gì? ( quả sầu riêng)
2 Quả gì tên gọi dịu êm
Nhớ bầu sữa mẹ nuôi em thuở nào?( quả vú sữa)
3 Quả gì mẹ hái gội đầu
Vỏ xanh phơi nắng đổi thành màu đen? ( quả bồ kết)
4 Quả trùng tên con vật Được phong cậu ông trời Ăn vừa chua vừa ngọt
Có ở miền Nam thôi? ( quả cóc)
5 Dầu hư tiếng vẫn thơm hoài
Cả trăm con mắt đố ai thấy đường? ( quả thơm ( dứa))
6 Trên trời có giếng nước trong
Con kiến chẳng lọt, con ong chẳng vào ( quả dừa)
7 Thân chẳng đến đất, cật chẳng đến trời
Lơ lửng giữa trời, mà đeo bị sỏi ( quả lựu)
8 Chân chẳng đến đất, cật chẳng đến trời
Lơ lửng giữa trời, mà đeo bị tép ( quả bưởi)
9 Da cóc mà bọc trứng gà
Bổ ra thơm nức, cả nhà muốn ăn ( quả mít)
10 Tên em không thiếu, không thừa
Tấm lòng vàng ngọt, ngon vừa lòng anh ( quả đu đủ)
11 Quả gì xanh vỏ, đỏ lòng
Bổ ra thơm mát, cả nhà muốn ăn? ( quả dưa hấu)
* Câu đố về loài vật
Kiếm hoa làm mật ( con ong)
2 Rủ nhau về dự hội xuân
Liệng vòng chao cánh tưng bừng trời xanh ( chim én)
3 Con gì lông trắng chân đen
Lêu nghêu dáng đứng bên đồng ruộng xa ( con cò)
4 Con gì chúa tể rừng xanh
Trông xa cứ tưởng là anh chàng mèo ( con hổ)
5 Con gì như hạt đỗ đen Đồ ôi vật thối lạ quen chén tràn
Thức ăn quên đậy lồng bàn
Không mời nó cũng kéo đàn đến xơi ( con ruồi)
6 Mình đen mặc áo da sồi
Nghe trời chuyển động thì ngồi kêu oan ( con cóc)
7 Vừa bằng quả mướp Ăn cướp cả làng ( con chuột)
8 Chân gần đầu, râu gần mắt
Lưng còng co quắp, mà nhảy rất hăng ( con tôm)
9 Con gì ăn cỏ Đầu có hai sừng
Kéo cày rất giỏi? ( con trâu)
10 Con gì tai thính, mắt tinh
Nấp trong bóng tối, ngồi rình chuột qua? ( con mèo)
11 Con gì đuôi ngắn tai dài
Mắt hồng, lông mượt, có tài chạy nhanh ( con thỏ)
12 Thường nằm đầu hè, giữ nhà cho chủ
Người lạ nó sủa, người quen nó mừng ( con chó)
Cái đầu không có ( con cua)
* Câu đố về các hiện tượng tự nhiên- đất trời
1 - Không sơn mà đỏ( mặt trời)
- Không gõ mà kêu ( sấm)
- Không khều mà rụng ( mưa)
Rãi đều khắp ruộng đồng
Nhưng hạt gieo chẳng nảy mầm, Để bao hạt khác mừng thầm mọc xanh ( hạt mưa)
3 Trên trời có một cái bóng
Mưa sa thì héo, nắng hồng thì tươi ( mặt trời)
4 Tròn như cái đĩa mà xỉa xuống ao
Một trăm cái cuốc mà đào chẳng lên ( mặt trăng)
5 Một mẹ sinh được vạn con
Rạng ngày chết hết chỉ còn một cha
Mặt mẹ như hương như hoa
Mặt cha nhăn nhó chẳng ma nào nhìn ( sao, trăng, mặt trời)
6 Khi trắng bạch, lúc đen xì
Khi vàng khi đỏ, khi thì thấp cao
Gặp cơn gió thổi ào ào
Kéo nhau trốn chạy, khác nào ngựa truy ( mây)
7 Ba ngang ba phết Đánh chết người ta
Làng không dám xử ( chớp và sét)
8 Xanh xanh, đỏ đỏ, vàng vàng
Bắc cầu thiên lý, nằm ngang một mình ( cầu vồng)
9 Chẳng biết mặt ra sao
Chỉ nghe tiếng thét trên cao ầm ầm ( sấm)
10 Ba chục mà lại nhốt chung
Một chục có mùng, hai chục thì không ( tháng đủ)
11 Một cột mười hai đường xà
Ba trăm sáu mươi lăm lỗ đục, gọi là cái chi? ( 365 ngày trong năm)
12 Một năm chỉ có một ngày
Họ hàng xum họp xa gần đều vui ( ngày mồng 1 tết) b Câu đố sáng tác
1 Quả gì khổ lắm ai ơi
Bụng mang dạ chửa, người thời nấu canh? ( quả bầu)
2 Có đầu mà chẳng có thân
Chẳng thấy chân đâu, chỉ toàn là mắt Là quả gì? ( quả dứa ( thơm))
3 Vốn người ta gọi là hoa Để đem rót nước, pha trà hoa chi ?( hoa ly)
4 Mắt sao lại mọc ở thân Đầu đội mũ lông, lưng để trần
Lột da tan tác thành trăm mảnh
Lòng vẫn ngọt ngào, vừa ý anh Là cây gì ? ( cây mía)
5 Thân tôi cao bát ngát Đứng ở đầu đình, tỏa mát làng quê Là cây gì ? ( cây đa)
Bốn chân có màng Là con gì ?( con ếch)
2 Con gì thích sống về đêm
Chuyên đi ăn vụng, cầm tinh bé nhất nhà ? ( con chuột)
Vườn cây, tán lá Là con gì ? ( con ve sầu)
* Về các hiện tượng tự nhiên, đất- trời
1 Tôi ban ngày đi ngủ, Đêm về sáng trên cao Ông ban ngày lao đao
Khắp bốn bề thiên hạ
Tối lại về thong thả
Cớ sao mặt mày nhăn ? ( mặt trăng, mặt trời)
1.1.2 Sử dụng câu đố trong dạy học môn TN-XH ở Tiểu học
CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Cấu trúc chương trình môn TN-XH ở Tiểu học
Chương trình TN-XH cho lớp 1, 2, 3 được xây dựng trên ba chủ đề lớn, phát triển đồng tâm và mở rộng dần theo nguyên tắc từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp Ba chủ đề này bao gồm các nội dung chính, giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả và có hệ thống.
Con người và sức khỏe là mối quan hệ quan trọng, bao gồm việc hiểu biết về các cơ quan trong cơ thể và cách duy trì vệ sinh thân thể Để có sức khỏe tốt, cần thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, nghỉ ngơi đầy đủ và tham gia các hoạt động vui chơi một cách điều độ và an toàn Ngoài ra, việc phòng tránh bệnh tật cũng rất cần thiết, bao gồm thực hành chăm sóc răng miệng, giữ gìn sức khỏe tâm thần, và thường xuyên rửa tay, chân để bảo vệ bản thân khỏi các bệnh tật.
Xã hội bao gồm các thành viên và mối quan hệ giữa họ trong gia đình, lớp học và nhà trường Nó cũng phản ánh cảnh quan tự nhiên cùng với các hoạt động của con người tại địa phương nơi học sinh sinh sống.
Tự nhiên bao gồm đặc điểm cấu tạo và môi trường sống của nhiều loài cây và động vật phổ biến, cùng với những lợi ích và tác hại mà chúng mang lại cho con người Ngoài ra, các hiện tượng tự nhiên như thời tiết, ngày và đêm, cũng như các mùa trong năm, đóng vai trò quan trọng trong đời sống Bên cạnh đó, Mặt Trời, Mặt Trăng, các vì sao và Trái Đất cũng là những yếu tố không thể thiếu trong việc hiểu biết về vũ trụ và sự sống trên hành tinh của chúng ta.
1.2.2 Mục tiêu của môn TN-XH
Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, ban đầu, thiết thực về:
- Con người và sức khỏe: Thân thể, cách giữ vệ sinh thân thể và phòng tránh bệnh tật, tai nạn
- Một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội xung quanh có liên quan mật thiết đến học sinh
Bước đầu hình thành và phát triển ở HS những kĩ năng:
Tự chăm sóc sức khỏe là rất quan trọng để duy trì sự khỏe mạnh và phòng ngừa bệnh tật Việc ứng xử và đưa ra quyết định hợp lý trong cuộc sống hàng ngày giúp bảo vệ sức khỏe của bản thân và giảm thiểu nguy cơ gặp phải tai nạn Hãy chú trọng đến việc chăm sóc bản thân để có một cuộc sống khỏe mạnh và an toàn.
Quan sát và nhận xét về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội là một phần quan trọng trong việc phát triển hiểu biết Người học cần nêu thắc mắc và đặt câu hỏi để làm rõ những điều chưa hiểu Bên cạnh đó, việc thông báo ý kiến và kiến thức của mình bằng lời nói hoặc hình vẽ cũng giúp củng cố khả năng giao tiếp và tư duy phản biện.
Hình thành và phát triển ở HS những thái độ và hành vi:
- Có ý thức thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng
- Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương
1.2.3 Tìm hiểu thực tế việc sử dụng câu đố trong dạy học các kiến thức thuộc chủ đề “Tự nhiên”cho học sinh Tiểu học qua môn TN-XH
1.2.3.1 Đối tượng điều tra Đối tượng điều tra của tác giả trong đề tài này là giáo viên đang giảng dạy các khối lớp 1, 2, 3 và học sinh thuộc các khối lớp đó ở trường Tiểu học Do điều kiện khách quan nên tôi chỉ tiến hành điều tra tại trường Tiểu học Trần Cao Vân- Quận Thanh Khê- Thành phố Đà Nẵng
Hình thức tổ chức dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội Việc áp dụng các hình thức tổ chức học tập, đặc biệt là cho chủ đề "Tự nhiên", giúp nâng cao hiệu quả giáo dục và tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận kiến thức một cách sâu sắc hơn.
- Nhận thức của giáo viên về những nội dung của môn Tự nhiên và Xã hội có thể sử dụng hình thức câu đố để tổ chức học tập
- Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội
- Cách tổ chức hình thức sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
- Nhận thức của giáo viên về những ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
- Phương pháp điều tra bằng anket
Thông qua việc dự giờ tại lớp học, chúng tôi đã nghiên cứu cách giáo viên áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, đặc biệt là việc sử dụng câu đố trong môn Tự nhiên - Xã hội Hình thức này không chỉ tạo ra sự hứng thú cho học sinh mà còn giúp nâng cao khả năng tư duy và sự sáng tạo của các em.
Để đánh giá hiệu quả của giờ học, cần quan sát sự tiếp thu của học sinh đối với nội dung bài dạy, cũng như mức độ hào hứng, nhiệt tình và sự tích cực tham gia của các em trong quá trình học.
Phương pháp phỏng vấn được áp dụng để thu thập thông tin từ các giáo viên như cô Phan Thị Minh Châu và Hoàng Phan Thúy Hà Qua trao đổi trực tiếp, các giáo viên đã chia sẻ những phương pháp và hình thức dạy học thường xuyên sử dụng, đồng thời nêu rõ những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng câu đố trong quá trình giảng dạy cho học sinh.
- Phương pháp thống kê: xử lí số liệu thu được qua phiếu điều tra, trên cơ sở đó khái quát được thực trạng
Bài thăm dò này nhằm mục đích nắm bắt thực trạng dạy và học, cũng như việc áp dụng câu đố trong giảng dạy chủ đề "Tự nhiên" của môn TN-XH cho học sinh lớp 1, 2 và 3.
Qua các phương pháp điều tra đã sử dụng, tôi đã thu được những kết quả như sau: a Khảo sát trên đối tượng là giáo viên
Tổng số phiếu phát ra: 18
Tổng số phiếu thu lại: 18
Câu 1: Mức độ sử dụng câu đố trong các tiết dạy chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
Bảng 1.1 – Bảng kết quả mức độ sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN-XH
STT Mức độ SD câu đố Tỉ lệ
Theo kết quả thăm dò, 88,89% giáo viên Tiểu học sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “Tự nhiên” của môn TN-XH lớp 1, 2, 3, với 66,67% giáo viên thường xuyên và 22,22% thỉnh thoảng sử dụng Điều này cho thấy hầu hết giáo viên nhận thấy tác dụng tích cực của câu đố trong việc giảng dạy Việc sử dụng câu đố không chỉ giúp đạt được mục tiêu bài học mà còn tạo sự hứng thú cho học sinh, đồng thời giáo dục tình yêu thiên nhiên và đất nước thông qua các câu đố phong phú, dễ hiểu Hơn nữa, việc thực hiện cũng rất đơn giản, không tốn nhiều thời gian chuẩn bị.
Câu 2: Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học để dạy môn Tự nhiên và Xã hội
Qua kết quả điều tra, mức độ sử dụng các hình thức dạy học được biểu thị theo bảng số liệu sau:
Bảng 1.2 – Mức độ sử dụng các HTDH để dạy môn TN-XH của GV
STT Hình thức dạy học
Mức độ ( Tỉ lệ %) Thường xuyên
4 Dạy học ngoài hiện trường 0 % 5,56 % 94,44 %
Theo biểu đồ, gần 100% giáo viên thường xuyên tổ chức dạy học theo nhóm và trò chơi, câu đố, trong khi hơn 80% giáo viên sử dụng hình thức dạy học cá nhân và theo lớp Tuy nhiên, chỉ có hơn 5,56% giáo viên thỉnh thoảng áp dụng dạy học tại hiện trường và tham quan Nguyên nhân là do hình thức này cần chuẩn bị kỹ lưỡng và tốn nhiều thời gian, trong khi thời gian mỗi tiết dạy ở cấp Tiểu học chỉ có 35 phút, không đủ cho việc dạy học ngoài trời Hơn nữa, việc ổn định lớp học khi học ngoài trời gặp nhiều khó khăn và mất thời gian, bên cạnh đó, trường nằm ở trung tâm thành phố với khuôn viên nhỏ hẹp, không thuận lợi cho dạy học ngoài trời.
GV kết hợp nhiều hình thức dạy học như cá nhân, nhóm và trò chơi một cách đa dạng và nhuần nhuyễn, nhằm đạt được hiệu quả dạy học tối ưu.
Câu 3: Theo Cô ( Thầy), sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội có những tác dụng gì?
1 Tạo hứng thú, kích thích hoạt động học tập của học sinh
2 Phát huy tính độc lập, sáng tạo, ham tìm hiểu của học sinh
3 Rèn luyện kĩ năng tư duy, tri nhớ, suy luận, phân tích cho học sinh
4 Củng cố, khắc sâu kiến thức
SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “TỰ NHIÊN” CỦA MÔN TN& XH LỚP 1, 2, 3
PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC MÔN TN-XH Ở TIỂU HỌC 32
2.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là tập hợp các hoạt động của giáo viên và học sinh, với giáo viên đóng vai trò chủ đạo, nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ dạy học Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học, nhưng chung quy lại, nó phản ánh sự tương tác và phối hợp giữa thầy và trò trong quá trình giáo dục.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học:
Phương pháp dạy học bao gồm tổ chức nhận thức, điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, cùng với giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn cho học sinh.
Phương pháp học: phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình thành hệ thống tri thức và kĩ năng thực hành, hình thành nhân cách người học
Phương pháp dạy và học không thể tách rời, mà chúng có mối liên hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau Chúng vừa là mục đích, vừa là nguyên nhân tồn tại của nhau.
2.1.1.2 Dạy học theo hướng tích cực trong môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học thể hiện qua thiết kế bài học
Xây dựng kế hoạch bài học cần dựa vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, với sách giáo khoa mới môn Tự nhiên và Xã hội hỗ trợ giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp học tích cực Trong vai trò tổ chức hoạt động, giáo viên dẫn dắt học sinh quan sát, tìm tòi và thu nhận kiến thức, đồng thời hình thành các kỹ năng cần thiết Sách giáo khoa cung cấp hướng dẫn cho các quy trình cơ bản, giúp thực hiện các tiết học một cách hiệu quả cho từng loại bài học.
Giáo viên cần dựa vào hướng dẫn sách giáo viên, điều kiện và phương tiện dạy học, cũng như đặc điểm và trình độ nhận thức của học sinh để xây dựng kế hoạch bài học cụ thể Kinh nghiệm cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động học tập hiệu quả cho học sinh.
* Kế hoạch bài học cần chỉ ra cụ thể nhiệm vụ của giáo viên, hoạt động học của học sinh
Để đạt được mục tiêu giảng dạy, giáo viên cần áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức học tập đa dạng và linh hoạt Việc giảm thiểu sự can thiệp của giáo viên và khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động khám phá và tìm kiếm kiến thức là rất quan trọng.
* Các hoạt động được tổ chức thông qua kế hoạch bài học phải đa dạng
Tổ chức các hoạt động khám phá cho học sinh nhằm khơi dậy sự tò mò khoa học, thúc đẩy thói quen đặt câu hỏi và tìm kiếm giải thích khi tiếp cận thực tế xung quanh.
- Tổ chức cho các học sinh tập giải quyết tình huống
- Tổ chức cho học sinh làm việc theo cặp đôi hoặc theo nhóm
- Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi học tập
- Tổ chức cho học sinh đóng vai thể hiện cảm xúc của mình trong những tình huống cụ thể
2.1.2 Phương pháp dạy học môn TN- XH
Phương pháp dạy học này khuyến khích học sinh sử dụng các giác quan, chủ yếu là thị giác, kết hợp với các giác quan khác để thu thập thông tin Sau đó, học sinh cần xử lý thông tin qua các bước như so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng hợp để rút ra kết luận.
Phương pháp dạy học trực quan là đặc trưng và phổ biến trong môn Tự nhiên - xã hội, giúp học sinh quan sát để nhận biết hình dạng và đặc điểm bên ngoài của đối tượng cũng như các hiện tượng trong môi trường tự nhiên và cuộc sống hàng ngày.
Giáo viên tổ chức phương pháp này theo trình tự sau:
+ Xác định mục đích quan sát
+ Lựa chọn đối tượng quan sát
+ Tổ chức, hướng dẫn HS quan sát
Khi sử dụng phương pháp này GV cần chú ý:
- Quan sát phải đơn giản, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
- Đối tượng quan sát của HS là tranh, ảnh, mẫu vật, mô hình, diễn ra hằng ngày trong TN- XH
- Có thể cho HS quan sát trong lớp hoặc ngoài lớp
Hình thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh dựa trên hệ thống câu hỏi giúp học sinh tự rút ra kết luận khoa học Qua đó, học sinh có thể vận dụng hiểu biết để giải quyết các bài tập và vấn đề trong tự nhiên, xã hội và cuộc sống Hoạt động tư duy này tạo điều kiện cho học sinh cảm thấy như “tự mình tìm ra” những kiến thức mới.
Phương pháp hỏi-đáp không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức mà còn cho phép giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh Từ đó, giáo viên có thể điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy để nâng cao hiệu quả giáo dục.
Kỹ thuật hỏi đáp được tổ chức theo một thứ tự logic nhằm tối ưu hóa hiệu quả giảng dạy Giáo viên nên kết hợp giữa câu hỏi đóng và hệ thống câu hỏi mở để kích thích trí tuệ và sự sáng tạo của học sinh Việc đa dạng hóa hình thức hỏi, như hỏi bằng lời, tranh ảnh, hay câu đố, cũng rất quan trọng Mỗi câu hỏi đều mang mục đích giáo dục, đồng thời phát triển tư duy, khuyến khích học sinh phát huy tính độc lập và sáng tạo của mình.
Phương pháp dạy học này khuyến khích giáo viên tổ chức các cuộc đối thoại giữa học sinh với nhau hoặc giữa học sinh với giáo viên, nhằm kích thích tư duy và trí tuệ của học sinh để giải quyết các vấn đề cụ thể.
Phương pháp này có tác dụng:
- Học sinh được tập dượt tham gia tìm hiểu hoặc giải quyết vấn đề
- Học sinh được học hỏi kiến thức của bạn bè
- Sử dụng được trí tuệ của tập thể học sinh
- Rèn cho HS ý thức lắng nghe người khác và nói lên ý kiến của bản thân
+ Chuẩn bị nội dung thảo luận
+ Tổng kết và đánh giá thảo luận
Khi sử dụng phương pháp này GV cần lưu ý:
- GV phải các định rõ mục đích thảo luận
- Nội dung thảo luận phải liên quan đên kiến thức bài học và gần gũi với cuộc sống của HS
Trong một hoạt động giáo dục, cần hạn chế số lượng vấn đề và câu hỏi đưa ra để tránh gây rối cho học sinh Các yêu cầu và câu hỏi nên được thiết kế dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức.
Khi thảo luận, giáo viên không nên ép buộc học sinh phải nói theo ý kiến của mình, mà nên khuyến khích các em tự tin bày tỏ ý kiến và quan điểm riêng.
- Thời gian thảo luận không nên quá dài
NỘI DUNG CHỦ ĐỀ TỰ NHIÊN TRONG MÔN TN-XH LỚP 1, 2, 3
8 Bài 29: Nhận biết cây cối và con vật 60-61
9 Bài 30: Trời nắng, trời mưa 62-63
11 Bài 33: Trời nóng, trời rét 68-69
2.2.2 Các bài học thuộc chủ đề “ Tự nhiên” ở Lớp 2
2 Bài 25: Một số loài cây sống trên cạn 52-53
3 Bài 26: Một số loài cây sống dưới nước 54-55
4 Bài 27:Loài vật sống ở đâu? 56-57
5 Bài 28: Một số loài vật sống trên cạn 58-59
6 Bài 29: Một số loài vật sống dưới nước 60-61
7 Bài 30: Nhận biết cây cối và các con vật 62-63
9 Bài 32: Mặt Trời và phương hướng 66-67
10 Bài 33: Mặt trăng và các vì sao 68-69
11 Bài 34: Ôn tập: Tự nhiên 70
2.2.3 Các bài học thuộc chủ đề “Tự nhiên” ở Lớp 3
4 Bài 46: Khả năng kì diệu của lá cây 88-89
14 Bài 59: Trái đất Quả địa cầu 112-113
15 Bài 60: Sự chuyển động của Trái Đất 114-115
16 Bài 61: Trái Đất là một hành tinh trong hệ Mặt Trời 116-117
17 Bài 62: Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất 118-119
18 Bài 63: Ngày và đêm trên Trái Đất 120-121
19 Bài 64: Năm, tháng và mùa 122-123
20 Bài 65: Các đới khí hậu 124-125
21 Bài 66: Bề mặt Trái Đất 126-127
22 Bài 67-68: Bề mặt lục địa 128-131
MỤC TIÊU CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ TỰ NHIÊN” CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA MÔN TN-XH
“ TỰ NHIÊN” CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA MÔN TN-XH
Việc áp dụng câu đố trong dạy học chủ đề "Tự nhiên" giúp học sinh nhận thức rõ hơn về các hiện tượng và sự vật xung quanh Bên cạnh đó, các em có thể sáng tạo những câu đố mới dựa trên kiến thức đã học, từ đó củng cố và khắc sâu biểu tượng cũng như khái niệm trong tâm trí.
2.3.2 Về thái độ, tình cảm
Câu đố trong giờ học TN-XH không chỉ mang lại kiến thức và rèn luyện kỹ năng, mà còn góp phần giáo dục ý thức dân tộc, tình yêu thiên nhiên, quê hương và đất nước.
Nó góp phần tạo ra không khí học tập tích cực, sôi nổi, tạo ra mối quan hệ đa chiều trong giờ học
2.3.3 Về kĩ năng, hành vi
Câu đố không chỉ rèn luyện tư duy mà còn phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh, giúp các em dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng.
CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC MÔN TN-XH Ở TIỂU HỌC
2.4.1 Các phương pháp sử dụng câu đố trong dạy học môn học TN& XH ở Tiểu học
2.4.1.1 Phương pháp sử dụng câu đố kết hợp với phương thức hỏi đáp
Sử dụng câu đố kết hợp với phương pháp hỏi đáp là một cách hiệu quả để tăng cường sự tham gia của học sinh Giáo viên có thể đưa ra từng câu đố cho từng cá nhân hoặc nhóm học sinh để khuyến khích sự tương tác Ngoài ra, việc giao bài tập về nhà dưới dạng câu đố giúp học sinh củng cố kiến thức và chuẩn bị tốt hơn cho bài học tiếp theo, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy.
* Bài 48: Quả (TN-XH 3/ 92 SGK)
+ Mục tiêu: Học sinh biết được tên gọi, sự đa dạng về màu sắc, hình dạng, mùi vị, kích thước các loại quả
Sau khi học sinh liệt kê một số loại quả quen thuộc, giáo viên có thể giới thiệu thêm nhiều loại trái cây khác bằng cách đặt câu hỏi dưới dạng câu đố để học sinh đoán.
Giáo viên khuyến khích học sinh nêu tên các loại quả, sau đó đặt câu hỏi để giúp các em nhận diện đặc điểm như màu sắc, hình dạng và kích thước của từng loại quả.
- Quả gì ngủ ở trên cành,
Hễ vừa mở mắt, người giành hái ngay?
+ Quả Na có màu sắc và hình dáng như thế nào?
- Da cóc mà bọc trứng gà
Bổ ra thơm nức, cả nhà muốn ăn
+ Hình dáng bên ngoài, mùi thơm của quả Mít có gì đặc biệt?
2.4.1.2 Phương pháp sử dụng câu đố kết hợp với trò chơi học tập
Sử dụng câu đố kết hợp với phương pháp trò chơi học tập trong dạy học TN-XH ở Tiểu học mang lại sự phong phú và đa dạng Các trò chơi như giải ô chữ với gợi ý từ câu đố hay lựa chọn câu đố kèm hình ảnh giúp tạo hứng thú cho học sinh Cần tránh tổ chức các trò chơi quá phức tạp hoặc quá đơn giản để không gây nhàm chán Trò chơi có thể được áp dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau như củng cố bài học, ôn tập chủ đề, hay trong các hoạt động ngoại khóa và sinh hoạt tập thể.
* Bài 30: Nhận biết cây cối và các con vật (TN-XH 2/ 62 SGK)
+ Mục tiêu: Học sinh nhận biết được con vật nào sống trên cạn, con vật nào sống dưới nước, con vật nào bay lượn trên không
Chuẩn bị một bảng phụ chia cột để học sinh điền đáp án cho câu đố về các con vật sống trên cạn, dưới nước và trên không Bảng này sẽ giúp học sinh phân loại và nhận biết các loài động vật theo môi trường sống của chúng.
TÊN CON VẬT Sống trên cạn
Sống cả trên cạn và dưới nước
2/ Được khen chăm chỉ làm ăn, Ở đâu hoa đẹp thì lăn thân vào? Là con gì?
3/ Chân gần đầu, râu gần mắt
Lưng còng co quắp, mà nhảy rất hăng Là con gì?
4/Con gì lông trắng chân đen
Lêu nghêu dáng đứng bên đồng ruộng xa
5/ Con gì đuôi ngắn, tai dài
Mắt hồng, lông mượt, có tài chạy nhanh ?
6/ Rủ nhau về dự hội xuân
Liệng vòng chao cánh tưng bừng trời xanh
7/ Con gì như hạt đỗ đen Đồ ôi vật thối lạ quen chén tràn
Thức ăn quên đậy lồng bàn
Không mời nó cũng kéo đàn đến xơi Là con gì?
Cái đầu không có Là con gì?
- Cách tổ chức trò chơi:
Giáo viên phát bảng phụ cho các nhóm và lần lượt đọc từng câu đố, yêu cầu học sinh lắng nghe và suy nghĩ để xác định đáp án là con vật nào, sau đó xếp chúng vào bảng phụ tương ứng với nơi sống của chúng.
Học sinh sẽ thảo luận theo nhóm và hoàn thành bảng, sau khi kết thúc câu đố cuối cùng, các nhóm sẽ treo bảng phụ để kiểm tra kết quả của trò chơi.
Giáo viên sẽ nhận xét và tổng kết đáp án, đồng thời đưa ra kết luận về tên gọi và đặc điểm của một số loài vật sống trên cạn, dưới nước và trên không.
+ Tuyên dương, khen thưởng các nhóm hoàn thành nhanh và đúng nhất
2.4.2 Các hình thức sử dụng câu đố trong dạy học môn TN-XH ở Tiểu học
2.4.2.1 Sử dụng câu đố dưới hình thức giới thiệu bài
Giới thiệu bài mới là bước quan trọng giúp thu hút sự chú ý và tập trung của học sinh vào bài giảng Mặc dù không cần thiết phải thực hiện cho mọi bài học, nhưng việc giáo viên dẫn dắt và mở bài một cách khéo léo, hấp dẫn sẽ giúp học sinh dễ dàng tham gia và chú ý hơn đến nội dung bài học.
* Bài 25: Con cá (TN-XH 1/ 52 SGK)
+Mục tiêu: Giới thiệu cho học sinh biết biểu tượng về con cá
- Chuẩn bị: Hình ảnh và câu đố về con cá:
“Con gì có vẩy có đuôi Tung tăng bơi lội khắp nơi sông hồ
Mẹ thường đem rán, đem kho Ăn vào mau lớn giúp cho khỏe người”
Giáo viên đặt câu đố và yêu cầu học sinh giải đáp, khuyến khích các em suy nghĩ và trả lời cá nhân Sau đó, giáo viên nhận xét và khen ngợi học sinh bằng hình ảnh con cá Giáo viên kết luận và giới thiệu về bài học mới: "Các em vừa giải câu đố về loài cá, vậy hãy cho cô biết cá sống ở đâu và có những đặc điểm gì?" Học sinh trả lời rằng cá sống ở sông, hồ và có vẩy, có đuôi Giáo viên thông báo: "Hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về loài cá qua bài học 'Con cá'."
2.4.2.2 Sử dụng câu đố dưới hình thức cung cấp kiến thức mới
Cung cấp kiến thức mới là yếu tố quan trọng nhất trong mỗi tiết học, giúp học sinh đạt được mục tiêu về kiến thức và kỹ năng cơ bản Do đó, việc này đòi hỏi sự chú ý và đầu tư từ giáo viên để đảm bảo hiệu quả giảng dạy.
Để đạt hiệu quả trong việc giảng dạy, GV cần chuẩn bị kỹ lưỡng, xác định rõ những phần trọng tâm và khó hiểu để giải thích một cách chi tiết Đồng thời, các phần dễ hiểu nên được hướng dẫn để học sinh có thể tự học, không nhất thiết phải giảng giải đồng đều cho tất cả các nội dung.
* Bài 46: Khả năng kì diệu của lá cây (TN-XH 3/ 88 SGK)
- Hoạt động 2: Ích lợi của lá cây
Câu 1: Em hãy giải các câu đố về các loại lá sau:
1 Lá gì gói bánh chưng xanh
Tra đỗ, trồng hành, thả lợn vào trong? (lá dong)
2 Xưa kia tôi ở trên rừng
Người lên cắt góc buộc lưng mang về
Người giữ, người đánh thỏa thuê
Bắt tôi chịu đựng trăm bề gió sương
Thế mà người vẫn chẳng thương
Treo tôi dốc ngược lợp lên mái nhà (lá tranh)
3 Lá thì đánh phên lợp nhà
Quả trong đầy nước như pha chút đường
Cùi làm ra kẹo quê hương
Vỏ thì dệt thảm, bện thừng, xảm ghe (lá dừa)
Thân suông đuột trơn tru (lá chuối)
5 Cà bung thường có lá này
Cháo ăn giải cảm cũng hay nấu cùng (lá tía tô)
6 Lá gì nấu chín mà tươi
Nắng hè họng khát bao người ước mơ? (lá chè)
Câu 2: Qua các câu đố trên em hãy cho biết tác dụng của từng loại lá cây đó?
Giáo viên phát phiếu học tập và yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm đôi trong 4-5 phút để trả lời câu hỏi Sau đó, đại diện của một nhóm sẽ trình bày ý kiến, trong khi các nhóm khác có thể bổ sung Giáo viên sẽ nhận xét, tổng kết các đáp án và đưa ra kết luận về lợi ích của lá cây.
2.4.2.3 Sử dụng câu đố dưới hình thức củng cố kiến thức Đây là khâu cuối cùng trong một tiết học, qua việc củng cố , GV khái quát lại toàn bộ nội dung bài, hỏi HS về nội dung cơ bản vừa học, giúp học sinh khắc sâu hơn kiến thức của bài học, bên cạnh đó, GV còn kiểm tra được HS có nắm được nội dung bài hay không hay còn chỗ nào chưa hiểu để kịp thời giải đáp cho các em
* Bài 23: Côn trùng (TN-XH 3/96 SGK)
- Hoạt động củng cố bài: Trò chơi: "Ô chữ kì diệu"
+Mục đích: Giúp học sinh củng cố kiến thức về loài côn trùng
- Chuẩn bị: Bảng phụ ghi ô chữ che đi phần đáp án Các câu đố về các loài côn trùng để gợi ý các ô chữ, các hộp quà
1 Mắt lồi, cánh lại mỏng tang
Hè về ca hát râm ran trên cành ( con ve sầu)
2 Khi nhỏ loài cá, lớn hóa ra chim
Quan thói ăn đêm, như thằng kẻ trộm ( con muỗi)
Chẳng đậu thủ khoa Đậu đầu thiên hạ ( con rận)
Già thì lo nghĩ không ăn ( con tằm)
5 Vừa bằng hạt đỗ ăn giỗ cả làng ( con ruồi)
6 Muốn cho cho chủ tôi tàn Để tôi mắc võng nghênh ngang khắp nhà ( con nhện)
7 Mình vàng mà thắt đai vàng
Tiếng kêu thỏ thẻ, rõ ràng trên cây
Có chân mà chẳng có tay
Có mắt thì có, lông mày thì không ( con ong)
- Thời gian chơi: 6-7 phút cuối giờ, sau khi học xong bài mới
Để tổ chức trò chơi, chia lớp thành 4 đội và cử 1 học sinh làm thư ký Giáo viên sẽ phổ biến luật chơi: Mỗi đội sẽ chọn một hàng ngang bất kỳ, bắt đầu từ đội 1 Giáo viên đọc câu đố gợi ý của hàng đó, các đội sẽ có thời gian 5 giây để suy nghĩ và trả lời Nếu đội 1 không trả lời kịp, quyền trả lời sẽ chuyển cho các đội khác, và đội nào trả lời đúng sẽ được tính điểm.