3.5 Kết quả xác định nội dung kiến thức cơ bản và mục tiêu của từng chương trong phần Sinh học VSV chương trình Sinh học 10 nâng cao – THPT 23 3.6 Kết quả xây dựng hệ thống bài tập tình
Trang 1KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
HỒ THỊ HẠNH TRINH
XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT CHƯƠNG TRÌNH
SINH HỌC 10 (NÂNG CAO) - THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÀ NẴNG - Năm 2014
Trang 2KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
HỒ THỊ HẠNH TRINH
XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT CHƯƠNG TRÌNH
SINH HỌC 10 (NÂNG CAO) - THPT
Ngành: SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hải Yến
ĐÀ NẴNG - Năm 2014
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Hồ Thị Hạnh Trinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi xin chân thành cảm ơn đến ThS Nguyễn Thị Hải Yến – người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cảm ơn quý thầy cô giáo trường THPT Ông Ích Khiêm, THPT Nguyễn Thượng Hiền (Tp Đà Nẵng) và THPT Nguyễn Sinh Cung (Thừa Thiên Huế)
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong thời gian điều tra và thực nghiệm tại trường
Xin chân thành cám ơn quý thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa Sinh – Môi trường, trường ĐHSP – ĐHĐN đã tạo mọi điều kiện giúp tôi thực hiện tốt đề tài khóa luận tốt nghiệp
Cám ơn tập thể lớp 10SS, gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài này
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014 Sinh viên
Hồ Thị Hạnh Trinh
Trang 63.5 Kết quả xác định nội dung kiến thức cơ bản và mục tiêu của từng
chương trong phần Sinh học VSV chương trình Sinh học 10 (nâng
cao) – THPT
23
3.6 Kết quả xây dựng hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện một số
kĩ năng tư duy cho học sinh trong phần Sinh học Vi sinh vật
chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT
32
3.9 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 38 3.10 Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra độ bền kiến thức trong thực
Trang 7Số
hiệu
sơ đồ
1.2 Các yếu tố cấu thành bài tập tình huống 11 1.3 Quy trình xây dựng bài tập tình huống 13 1.4 Quy trình sử dụng bài tập tình huống trong dạy học 14 3.1 Nguyên nhân giáo viên ít sử dụng các BTTH trong dạy học 22 3.2 Vai trò của BTTH đối với quá trình dạy học 22
3.3 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 37 3.4 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN 38 3.5 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra sau thực nghiệm 39 3.6 So sánh độ bền kiến thức trong và sau thực nghiệm của lớp thực
Trang 8Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở trong nước 5
1.2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA BÀI TẬP TÌNH HUỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TÌNH HUỐNG 7
1.2.1 Tình huống 7
1.2.2 Tình huống có vấn đề 8
1.2.3 Phân loại tình huống 9
1.2.4 Bài tập tình huống 11
1.2.5 Các yếu tố cấu thành một bài tập tình huống 11
1.2.6 Tiêu chuẩn của một bài tập tình huống tốt 12
1.2.7 Phương pháp dạy học bằng tình huống 13
1.2.8 Quy trình xây dựng bài tập tình huống gồm các bước: 13
1.2.9 Quy trình sử dụng BTTH trong dạy học 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 15
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
Trang 92.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 15
2.3.2 Phương pháp điều tra 16
2.3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 16
2.3.4 Phương pháp thống kê, phân tích và xử lí số liệu 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 18
3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 18
3.2 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH NỘI DUNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VÀ MỤC TIÊU CỦA TỪNG CHƯƠNG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 (NÂNG CAO) - THPT 23
3.3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 (NÂNG CAO) - THPT 30
3.3.1 Nguyên tắc thiết kế bài tập tình huống 30
3.3.2 Kết quả xây dựng bài tập tình huống để rèn luyện một số kĩ năng tư duy cho học sinh trong phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT 30
3.4 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG BTTH ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 (NÂNG CAO) – THPT 33
3.5 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 37
3.5.1 Phân tích định lượng 37
3.5.2 Phân tích định tính 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
1 Kết luận 44
2 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nền giáo dục của nước ta hiện nay tuy đã đạt được những thành quả đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Chất lượng và hiệu quả giáo dục vẫn còn thấp, trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học của đại đa số học sinh còn yếu Nhiều học sinh ra trường kĩ năng vận dụng kiến thức vào đời sống và sản xuất còn hạn chế Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do phương pháp giáo dục – đào tạo chậm đổi mới Phương pháp giảng dạy hiện nay chưa phát huy được tính tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh Học sinh chưa có hứng thú say mê học tập Vì vậy, chúng ta cần
đổi mới mạnh mẽ PPDH, khắc phục lỗi truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh Và một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học được quan tâm hiện nay là dạy học bằng cách sử dụng bài tập tình huống [7] [5] Phương pháp
sử dụng bài tập tình huống trong dạy học có thể kích thích ở mức cao nhất tính tích cực chủ động học tập của học sinh, không những giúp học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức và rèn luyện được các kĩ năng nhận thức, kĩ năng tiếp cận, phát hiện và giải quyết vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, kĩ năng giao tiếp, tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, tính sáng tạo của học sinh
Hiện nay, trong quá trình dạy học ở trường phổ thông người học chưa thật sự chủ động trong việc khám phá, tìm kiếm tri thức mới Một số GV vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, hỏi đáp, quan sát tranh giáo khoa và rất ít khi sử dụng các phương pháp dạy học tích cực; phương pháp dạy học của giáo viên chưa thể hiện được quan điểm “Lấy người học làm trung tâm” Mặt khác, việc dạy học không chỉ trang bị cho học sinh (HS) một lượng kiến thức tối đa làm nền tảng vững chắc cho cuộc sống sau này mà còn rèn luyện cho các em những kĩ năng xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Bởi vì với lượng thông tin và tri thức ngày càng tăng và thay đổi nhanh chóng thì việc dạy học nếu chỉ với mục đích trang bị kiến thức cho HS là chưa đủ mà cần dạy cho các em cách học, cách tiếp cận, vận dụng tri thức vào trong cuộc sống và sáng tạo tri thức mới Do đó, nội dung giảng dạy ngày
Trang 11nay cần chú trọng kiến thức cơ bản và cốt lõi là rèn luyện kĩ năng tự học, tự nghiên cứu để giúp các em tự học tập trong tương lai và học tập suốt đời Phương pháp dạy
và học bằng bài tập tình huống phần nào đáp ứng được yêu cầu đó [21]
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm gắn liền với thực tế cuộc sống Vì vậy, yêu cầu quá trình dạy học phải gắn với thực tiễn, khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh Mặt khác, dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng không chỉ đơn thuần là trang bị cho học sinh kiến thức mà thông qua kiến thức để hình thành và bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng tư duy, từ đó phát triển khả năng tự học và vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng bài tập tình huống để rèn luyện một số kỹ
năng tư duy cho học sinh trong phần sinh học vi sinh vật chương trình sinh học 10 (nâng cao) - THPT”
2 Mục tiêu đề tài
Xây dựng bài tập tình huống và đề xuất phương pháp sử dụng bài tập tình huống trong dạy học kiến thức phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng so sánh, phân tích – tổng hợp, khái quát hóa
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đóng góp về mặt lí luận của đề tài:
- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận về PPDH đặc biệt là những cơ sở lí luận về tình huống, BTTH và phương pháp dạy học có sử dụng các BTTH
- Nghiên cứu được tình hình sử dụng các phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học tình huống nói riêng trong phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT tại một số trường THPT trong thành phố
Đà Nẵng
- Phân tích cấu trúc, nội dung chương trình, nội dung kiến thức phần sinh học
vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT
Trang 12- Kết quả của đề tài là tƣ liệu tham khảo cho sinh viên sƣ phạm, và giáo viên dạy môn Sinh học 10 (nâng cao) - THPT
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC
1.1.1 Trên thế giới
“Học là việc chuẩn bị cho người học vào các tình huống của thực tiễn cuộc sống” (Robinson), bởi thế việc học và việc lĩnh hội tri thức cần gắn liền với các tình huống của cuộc sống Tư tưởng áp dụng các tình huống của cuộc sống vào giảng dạy đã có từ thời Khổng Tử, khi ông sử dụng các hoàn cảnh, câu chuyện có thực gặp trong cuộc sống hằng ngày để truyền đạt kiến thức, những điều răn dạy cho học trò của mình [9]
Thế nhưng, phải đến khoảng cuối thế kỉ 19, việc sử dụng các tình huống trong giảng dạy mới được áp dụng khá phổ biến Năm 1870, Christopher Columbus Langdell đã là người khởi xướng việc sử dụng các tình huống trong giảng dạy về quản trị kinh doanh tại trường Đại học kinh doanh Havard Đến năm 1910, bên cạnh phương pháp giảng dạy truyền thống, sinh viên Đại học kinh doanh Harvard đã được thường xuyên thảo luận về các tình huống trong kinh doanh Sau đó, từ khoảng năm 1909 nhà trường liên tục mời các đại diện các doanh nghiệp đến trường
để trình bày về thực tiễn quản trị kinh doanh, đưa ra các tình huống yêu cầu sinh viên phải nghiên cứu, tranh luận và đưa ra các giải pháp Năm 1921, quyển sách đầu tiên về tình huống ra đời (tác giả Copeland) Tác giả cuốn sách đã nhìn thấy tầm quan trọng và tác dụng to lớn của việc áp dụng PPNCTH trong giảng dạy quản trị nên đã nỗ lực phổ biến phương pháp giảng dạy này trong toàn trường Phương pháp này sau đó dần dần đã được áp dụng phổ biến trong hầu hết các ngành nghề đào tạo như y, luật, hàng không…và trong các trường học ở tất cả các cấp bậc đào tạo [9] [12] Năm 1919, ở Canada, hai nhà nghiên cứu của trường đại học Western Ontario (U.W.O), tiến sĩ W Sherwood Fox và tiến sĩ K.P.R Neville đã học học tập kinh nghiệm của Trường Đại học kinh doanh Harvard vào việc áp dụng phương pháp sử dụng tình huống vào trong giảng dạy kinh doanh Năm 1922, Ellis H Morrow, một cựu sinh viên Havard đã được mời đến để triển khai tại đây PPNCTH trong giảng
Trang 14dạy Ngày nay, trường kinh doanh Richard Ivey của đại học Western Ontario đã trở thành cơ sở uy tín trong việc giảng dạy quản trị kinh doanh bằng PPNCTH ở Canada và là đơn vị lớn thứ hai trên thế giới sản xuất tình huống
Được áp dụng mạnh mẽ trong giảng dạy kinh doanh từ sau Thế chiến thứ nhất, trải qua thời gian, PPNCTH đã ngày càng đưa người học tiến tới vị trí trung tâm của buổi học, còn giáo viên chỉ có vai trò là người hỗ trợ những sinh viên của mình trong việc liên hệ lý thuyết với thực tiễn một cách đúng đắn và chuẩn xác hơn Ngày nay, PPNCTH đã vượt ra khỏi ranh giới của những bộ môn như quản trị kinh doanh hay y học để tiếp tục được sử dụng rộng rãi và tỏ rõ những tính năng ưu việt của nó trong đào tạo sư phạm, đào tạo kỹ thuật, nghiên cứu chính sách và thiết kế…
và trong cả giáo dục phổ thông
Trong giáo dục phổ thông, PPNCTH đã được sử dụng rộng rãi nhất là trong vòng 20 năm trở lại đây Trong khi một số học giả tập trung nghiên cứu việc áp dụng tình huống trong công tác giảng dạy và quá trình tiếp thu những kiến thức bài học thì những người khác lại chú trọng vào cách sử dụng tình huống nhằm rèn luyện các kĩ năng tư duy, nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của học sinh Mặc
dù, đi theo những hướng nghiên cứu khác nhau như vậy, họ đều đi đến một thống nhất chung là PPNCTH tỏ ra cực kỳ hiệu quả trong việc trợ giúp người học liên hệ
lý thuyết với thực hành và do đó, mang lại một sức sống mới cho không khí học tập trong mỗi giờ học [12]
1.1.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu và sử dụng PPNCTH trong quá trình dạy học ngày càng phổ biến Trong nghị quyết Trung ương 2 khóa VII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học
Năm 2003 tác giả Nguyễn Hữu Lam đã nghiên cứu và đưa PPNCTH áp dụng vào giảng dạy quản trị kinh doanh Tác giả cho rằng phương pháp NCTH là một kĩ thuật giảng dạy trong đó những thành tố chính của một tình huống nghiên cứu được
Trang 15trình bày cho sinh viên với mục đích minh họa hoặc tạo kinh nghiệm giải quyết vấn
đề Ngoài ra trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã phân tích được những
ưu và nhược điểm của PPNCTH trong quá trình giảng dạy để người đọc có thể có những định hướng để sử dụng phương pháp này trong giảng dạy đạt hiệu quả tốt nhất Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài “Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống trong dạy học giáo dục học” đã nêu lên khái niệm về tình huống, tình huống dạy học, phương pháp nghiên cứu tình huống trong dạy học, thực trạng sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống trong giảng dạy môn Giáo dục học ở trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngoài ra, còn một số những công trình nghiên cứu khác về việc sử dụng tình huống dạy học vào những môn học cụ thể như môn Vật lý của tác giả Nguyễn Thị Trang (2009) đã xây dựng tình huống học tập và đưa ra quy trình hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập khi dạy học về chương “Chất rắn và chất lỏng
Sự chuyển thể (Vật lý 10 cơ bản)” hay công trình của tác giả Dương Việt Sơn
(2011) về xây dựng một số tình huống học tập trong dạy học phần “Quang hình
học” Vật lý 11 nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh Đặc biệt, trong môn giáo dục công dân, nhiều tác giả đã nghiên cứu, xây dựng những tình huống dạy học gắn với những câu chuyện trong thực tế hằng ngày để gây hứng thú và giáo dục học sinh đạt hiệu quả Công trình “Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân 10” của tác giả Trần Duy Linh đã căn bản làm rõ được quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống, những ưu điểm, hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống Tác giả cũng đã đề xuất được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp dạy học bằng tình huống trong giảng dạy phần công dân với đạo đức môn Giáo dục công dân lớp 10
Riêng với bộ môn Sinh học, hiện nay việc nghiên cứu, sử dụng các bài tập tình huống đang được áp dụng rộng rãi trong dạy học và đã có một số tác giả nghiên cứu
về vấn đề này
Trang 16Năm 1999, Phan Đức Duy đã nghiên cứu việc sử dụng bài tập tình huống sư phạm để rèn luyện kĩ năng dạy học Sinh học cho đối tượng là sinh viên ngành sư phạm Sinh học Đến năm 2012, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài “Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nhận thức trong dạy học sinh học” Trong đề tài này, tác giả đã phân tích và đưa ra những bài tập tình huống để rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nhận thức như phân tích – tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và suy luận
Năm 2009, tác giả Phan Thị Thu Hiền và cộng sự đã nghiên cứu đề tài “Sử dụng bài tập tình huống để phát huy tính tích cực của học sinh trong khâu nghiên cứu tài liệu mới – bài Prôtêin (Sinh học 10)” Tác giả đã nghiên cứu cách thức thiết
kế một BTTH và đưa ra được quy trình sử dụng BTTH trong khâu nghiên cứu tài liệu mới để phát huy được tính tích cực của học sinh
Năm 2012, Phan Thị Thanh Hội, Khưu Thanh Tuyết Lê đã nêu lên khái niệm
về tình huống, tình huống có vấn đề và dạy học bằng tình huống Tác giả cũng đã nêu lên được những yếu tố cấu thành, nguyên tắc thiết kế, quy trình thiết kế BTTH
và quy trình sử dụng BTTH trong dạy học phần Tiến hóa (Sinh học 12) để rèn luyện
kĩ năng so sánh, phân tích, tổng hợp cho học sinh trong đề tài “Thiết kế và sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kĩ năng so sánh, phân tích, tổng hợp cho học sinh trong dạy học phần tiến hóa (Sinh học 12)”
Thiết kế và áp dụng các BTTH vào giảng dạy đã được các nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu nhằm vạch ra bản chất, vai trò của phương pháp này trong quá trình dạy học Tuy nhiên, việc thiết kế và vận dụng phương pháp này trong dạy học phần sinh học VSV chưa được chú ý nhiều đặc biệt đề tài “Xây dựng bài tập tình huống để rèn luyện một số kỹ năng tư duy cho học sinh trong phần sinh học VSV chương trình Sinh học 10 (nâng cao) - THPT” thì chưa đề tài nào đề cập đến
1.2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TÌNH HUỐNG
1.2.1 Tình huống
“Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn xung đột Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các phương án
Trang 17giải quyết khác nhau Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện
có cốt truyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính phức hợp được viết ra để minh chứng một vấn đề hay một số vấn đề của cuộc sống thực tế Tình huống dạy học là những tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huống thực, được cấu trúc hóa nhằm mục đích dạy học” [5]
1.2.2 Tình huống có vấn đề
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới Trong đó, vấn đề học tập là những tình huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải quyết” [15]
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh
ta chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề” [15]
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là: tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề Nghĩa là tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và giải quyết vấn đề đã
đề xuất
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành động mới đối với chủ thể
Trang 18Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề trong dạy học là những lúng túng
về cách giải quyết vấn đề, tức là vào thời điểm đó, tình huống đó thì những tri thức
và kỹ năng vốn có chưa đủ để tìm ra ngay lời giải Tất nhiên việc giải quyết vấn đề không đòi hỏi quá cao đối với trình độ hiện có của học sinh
1.2.3 Phân loại tình huống
Trên thực tế, có rất nhiều loại tình huống cũng như cách thức phân loại chúng Một trong những cách tương đối phổ biến là phân loại tình huống theo dạng thức (format) Theo cách này tính huống được chia thành 6 dạng cơ bản với những đặc điểm, phương pháp tiến hành tương đối khác nhau [2]
- Tình huống lớn (tình huống chi tiết)
Loại tình huống này hay được sử dụng trong môn kinh tế học và luật học Chúng chú trọng tới việc quyết định được đưa ra là gì, ai là người đưa ra quyết định
đó và tầm ảnh hưởng của những quyết định ấy tới những tầng lớp, đảng phái, bộ phận trong xã hội ra sao Những tình huống loại này có thể kéo dài đến hơn 100 trang Người học đọc trước toàn bộ tình huống (thường thì theo cá nhân) và chuẩn
bị một bản phân tích về những quyết định có thể đưa ra Tình huống sau đó sẽ được thảo luận trong lớp theo từng nhóm lớn, dưới sự điều phối của giáo viên Tình huống có thể sẽ được thảo luận trong một, nhiều buổi học hay thậm chí là trong suốt
mô tả
Tình huống nhỏ
Tình huống lựa chọn
Tình huống hạt nhân
Tình huống trực tiếp Phân loại tình huống theo dạng thức (format)
Trang 19thuộc loại này có thể kéo dài đến 5 trang, mỗi trang bao gồm một vài đoạn văn Loại tình huống này thường được đưa ra thảo luận trong một vài buổi học Nếu được tiến hành trong nhiều buổi học thì ở mỗi buổi, tình huống được triển khai đến cho người học theo những khía cạnh khác nhau và người dạy có vai trò hướng dẫn, yêu cầu người học giải thích và minh chứng cho những ý tưởng của mình
Người học trước tiên sẽ làm việc trong nhóm nhỏ để phân tích, mổ xẻ tình huống nhằm xác định những dữ kiện đã biết và những yếu tố chưa biết Họ đặt ra các giả thuyết cũng như những mục tiêu tìm hiểu đối với từng phần của tình huống Giữa các buổi lên lớp, người học sẽ phải tìm kiếm thông tin nhằm phân tích và giải quyết tình huống; mục đích buổi học sẽ được đề cập sau khi tình huống được giải quyết và thảo luận Học theo cách này, người học có sự chủ động cao mà không phải bó buộc vào bất cứ một nhóm các câu hỏi nào cả
- Tình huống nhỏ
Đây là loại tình huống ngắn gọn, được trình bày trong 1 đến 2 đoạn văn Loại tình huống này có thể được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Chủ yếu nó được thiết kế để sử dụng trong một buổi học và do vậy, có nội dung tương đối cô đọng và súc tích Nó có thể được sử dụng để giáo viên dẫn dắt vào bài, để giúp người học áp dụng lý thuyết vào thực tiễn hay đơn giản chỉ là một hoạt động ngắn ở trước hay sau buổi học để „thiết thực hóa‟ nội dung lý thuyết đã giảng dạy
Trang 20nhóm phải bàn luận và chọn lấy một giải pháp và sẵn sàng bảo vệ cho những luận
điểm và lựa chọn của nhóm mình Trên thực tế, không nên tranh cãi “Đâu là loại
tình huống tốt nhất?” vì không có tình huống nào là tối ưu cho mọi hoàn cảnh, tuỳ
vào những hoàn cảnh khác nhau, người dạy và người học có thể lựa chọn loại tình huống thích hợp nhất cho tiết học của mình
1.2.4 Bài tập tình huống
Bài tập tình huống là những tình huống dạy học được đưa vào dạy học dưới dạng những bài tập nghiên cứu tình huống (BTTH) Đặc điểm nổi bật của loại hình bài tập này là “xoay quanh những sự kiện có thật hay gần gũi với thực tế trong đó chứa đựng những vấn đề và mâu thuẫn cần phải được giải quyết” (Center for Teaching nd Learning of Stanford University, 1994) Một bài tập tình huống tốt theo như Boehrer and Linsky cần phải trình bày được những vấn đề có tính khiêu khích và tạo được sự thấu cảm với nhân vật chính
1.2.5 Các yếu tố cấu thành một bài tập tình huống
Một tình huống trong giảng dạy thường bao gồm có ba yêu tố cơ bản sau
[Christensen, C (1981)]
Một ngữ cảnh thật: Các tình huống trong giảng dạy thường được thiết kế trên nền một ngữ cảnh có thật Tuy nhiên, một số chi tiết có thể được điều chỉnh nhằm đơn giản hoá tình huống hay nhằm phục vụ tốt hơn khả năng liên hệ tình huống với
lý thuyết và quá trình vận dụng tri thức của người học Nói một cách khác, cho dù
có thực hay được sáng tác ra thì tình huống trong giảng dạy phải độ tin cậy cao Một khi người học bắt đầu nghi ngờ về tính thực của tình huống, sự chú ý và làm việc
Các yếu tố chính của một
tình huống
1 Một ngữ cảnh
thật 2 Nội dung thông tin, dữ kiện 3 Một kết thúc mở chứa đựng vấn đề
Sơ đồ 1.2: Các yếu tố cấu thành bài tập tình huống
Trang 21nghiêm túc của họ sẽ giảm và phương pháp dạy học tình huống sẽ không còn phát huy được tác dụng của nó
Nội dung thông tin và dữ kiện: Một tình huống được viết tốt không chỉ đưa cho người học vấn đề mà còn cung cấp cho họ những thông tin cần thiết để giải quyết được vấn đề ấy Những dữ liệu ở đây có thể chỉ đơn giản là những chi tiết, dữ kiện được diễn đạt bằng lời, một bảng biểu, những tài liệu tham khảo, hình ảnh minh hoạ, một đoạn băng…hay bất cứ một tư liệu nào khác có thể trợ giúp người học trong quá trình giải quyết vấn đề
Một kết thúc mở chứa đựng vấn đề: Vấn đề là trung tâm, là hạt nhân của tình huống Vấn đề gợi ra, khiêu khích, đòi hỏi người học phải tìm tòi, suy nghĩ, phân tích, so sánh, đánh giá để giải quyết tình huống Chính vì thế, hầu hết các tình huống đều có một kết thúc mở dưới dạng một câu hỏi nhằm hướng người học đến vấn đề cần giải quyết cũng như nhằm tạo điều kiện cho người học có thể tiếp cận và giải quyết vấn đề theo nhiều phương hướng khác nhau chứ không bị gò bó, ép buộc
đi theo một phương hướng cụ thể nào cả
1.2.6 Tiêu chuẩn của một bài tập tình huống tốt
Một BTTH tốt nên được đảm bảo các tiêu chí dưới đây [9]:
Về mặt nội dung, tình huống phải:
Mang tính giáo dục
Chứa đựng mâu thuẫn và mang tính khiêu khích
Tạo sự thích thú cho người học
Nêu ra được những vấn đề quan trọng và phù hợp với người học
Trang 221.2.7 Phương pháp dạy học bằng tình huống
PPDH bằng tình huống là PPDH mà trong đó GV đặt HS vào một trạng thái tâm lý đặc biệt khi nảy sinh bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm Lúc
đó người học chấp nhận mâu thuẫn có nhu cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn
đó là bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo Kết quả người học giành được kiến thức và cả phương pháp giành được kiến thức [13]
Dạy học bằng tình huống có những đặc điểm sau:
- GV phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều HS chưa biết cần tìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới
- GV gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo nên nhu cầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của HS Học sinh chấp nhận mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan
- Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của HS Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới (mục đích cần đạt được) học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề
Giảng dạy theo PPDH này đòi hỏi GV phải có kiến thức rộng cả lý luận và thực tiễn Nếu chỉ có kiến thức lý luận thì GV không đưa ra được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không sát thực tế Từ đó làm người học không định hướng được cách giải quyết tình huống, hoặc giải quyết sai [12]
1.2.8 Quy trình xây dựng bài tập tình huống gồm các bước:
Quy trình xây dựng BTTH thường bao gồm các bước sau [10]:
Bước 1: Xác định mục tiêu chương, bài
Bước 2: Phân tích, nội dung chương, bài để xác định các đơn vị nội dung có thể
Trang 231.2.9 Quy trình sử dụng BTTH trong dạy học
Tác giả Phan Thị Thanh Hội và Khưu Thanh Tuyết Lê đã xây dựng một quy trình chung để giải quyết một BTTH theo các bước sau [10]:
Bước 1: Tiếp cận tình huống, xác định nhiệm vụ cần thực hiện: HS nghiên cứu
tình huống, từ đó xác định nội dung, nhiệm vụ
phải giải quyết
Bước 2: Phân tích tình huống để tìm ra các mâu thuẫn trong tình huống
Bước 3: Sử dụng các thông tin, dữ kiện đã cho,phân tích, suy luận, tổng hợp để
giải quyết các tình huống
Bước 4: Rút ra kết luận về BTTH
Sơ đồ 1.4: Quy trình sử dụng bài tập tình huống trong dạy học
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung kiến thức phần sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 (nâng cao) – THPT
- Bài tậ trong dạy học
2.1.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra thực trạng giảng dạy và sử dụng BTTH trong môn Sinh học tại một
số trường phổ thông ở TP Đà Nẵng
- Thiết kế BTTH cho phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao)
- Phân loại các BTTH theo mục đích rèn luyện các kĩ năng tư duy cho học sinh
- Đề xuất sử dụng BTTH trong dạy học phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) THPT
- Đánh giá hiệu quả việc sử dụng các BTTH trong dạy học
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan để làm cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài:
- Các tài liệu về cơ sở lí luận: Tài liệu về lí luận dạy học sinh học, các tài liệu
về phương pháp dạy và học sử dụng các bài tập tình huống trong dạy học trên thế giới và Việt Nam, các công trình khoa học khác có liên quan
- Nghiên cứu cấu trúc chương trình sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học
10 (nâng cao) – THPT Xác định mục tiêu, nội dung của bài học để định hướng cho xây dựng các bài tập tình huống phù hợp
Trang 252.3.2 Phương pháp điều tra
- Hình thức điều tra: Thiết kế phiếu điều tra, phỏng vấn các giáo viên và học sinh về vấn đề nghiên cứu
- Mục đích điều tra: Đánh giá thực trạng và nhu cầu sử dụng phương pháp dạy học ở trường THPT, niềm yêu thích hứng thú với những tiết Sinh học trên lớp của
HS, từ đó xây dựng các bài tập tình huống đáp ứng được nhu cầu của GV và HS
- Đối tượng điều tra:
+ GV, HS một số trường THPT ở TP Đà Nẵng như: Trường THPT Ông Ích Khiêm (8 GV, 92 HS), Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (4 GV, 40 HS) và 3
GV trường THPT Nguyễn Sinh Cung (Thừa Thiên Huế)
+ Sinh viên lớp 10SS – trường ĐHSP Đà Nẵng
- Nội dung điều tra:
+ Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong chương trình Sinh học 10 (nâng cao) - THPT
+ Sự hứng thú của HS với bài tập tình huống sử dụng trong bài học
- Nội dung thực nghiệm: Tiến hành giảng dạy bằng giáo án được thiết kế có các bài tập tình huống và đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các bài tập tình huống trong dạy học phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT
+ Ở lớp TN: Tiến hành giảng dạy theo giáo án được thiết kế theo hướng
sử dụng các bài tập tình huống
+ Ở lớp ĐC: Tiến hành giảng dạy theo giáo án được thiết kế theo giáo án bình thường không sử dụng các bài tập tình huống
Trang 262.3.4 Phương pháp thống kê, phân tích và xử lí số liệu
- Thống kê các kết quả thu được qua quá trình điều tra
- Tính toán theo tỉ lệ phần trăm kết quả thu được bằng phần mềm Excel
- Phân tích và đánh giá các kết quả thu được
Trang 27CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào các hoạt động Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Trong hoạt động học tập hứng thú của học sinh đối với các bộ môn tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các em Kết quả điều tra trên 132 học sinh về mức độ hứng thú môn Sinh học được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Thái độ của học sinh đối với môn Sinh học 10 (nâng cao)
Thái độ của học sinh đối với môn Sinh học 10 Tỉ lệ học sinh (%)
Dựa vào kết quả khảo sát thái độ của học sinh đối với môn Sinh học cho thấy,
tỉ lệ học sinh rất thích môn Sinh (24%) cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ học sinh không thích môn này (chiếm 3%) Vì thế, trong công tác giảng dạy sẽ có nhiều thuận lợi
do học sinh quan tâm, tập trung học, không lơ là, chán ghét với môn Sinh học Tuy nhiên, con số 73% tỉ lệ học sinh còn lại không thích môn Sinh học vẫn còn rất lớn, điều này đặt ra cho người giáo viên trong công tác giảng dạy Sinh học cần phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy để tăng niềm yêu thích của học sinh đối với môn học này Để nghiên cứu thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong quá trình giảng dạy môn Sinh học 10 chúng tôi đã tiến hành khảo sát 15 giáo viên, 45 giáo sinh và 132 học sinh và thu được kết quả sau:
Trang 28Bảng 3.2: Thực trạng sử dụng PPDH nói chung và PPNCTH nói riêng trong dạy
học môn Sinh học 10 (nâng cao)
Nội dung hoạt động Mức độ sử dụng (%)
Thường xuyên Đôi khi Không sử dụng
Diễn giảng – Thuyết trình 67.39 21.74 10.87
Kết quả cho thấy ngay một thực tế đáng lo ngại là phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, hỏi đáp được sử dụng phần lớn trong giảng dạy môn Sinh học 10 (nâng cao), trong khi đó các phương pháp dạy học tích cực khác như phương pháp dạy học giải quyết tình tình huống, đóng vai, kể chuyện, thảo luận nhóm…lại ít được sử dụng Chính việc hạn chế sử dụng các phương pháp dạy học tích cực đã làm cho những giờ học Sinh học trên lớp không gây được hứng thú cho học sinh, điều này thể hiện qua cuộc khảo sát 100% học sinh thì có tới 68% học sinh cảm thấy mỗi giờ Sinh học trên lớp diễn ra rất bình thường và không hấp dẫn
HS, 8% học sinh cảm thấy mệt mỏi vào mỗi giờ Sinh học và 5% cho rằng giờ Sinh học trên lớp rất tẻ nhạt
Với thực trạng giáo viên hiện nay vẫn còn sử dụng nhiều các phương pháp giảng dạy truyền thống mà ít chú ý phối hợp các phương pháp dạy học tích cực thì học sinh trong các giờ học sẽ ít làm việc trí óc hơn, người giáo viên sẽ vẫn chiếm vai trò là trung tâm của hoạt động dạy học Để kiểm chứng điều này, chúng tôi đã khảo sát những hoạt động của học sinh trong mỗi giờ Sinh học trên lớp, kết quả khảo sát thể hiện trong bảng 3.3
Trang 29Bảng 3.3: Thực trạng về mức độ hoạt động của học sinh trong giờ Sinh học
Nội dung hoạt động Mức độ sử dụng (%)
Thường xuyên
Đôi khi
Ít khi
Đọc trong SGK để trả lời câu hỏi 47.37 52.63 0 Trao đổi, thảo luận với bạn để giải quyết một vấn đề
nào đó
17.10 63.16 19.74
Làm thí nghiệm hoặc thực hành 19.74 63.16 17.10 Quan sát tranh trong SGK hoặc trên bảng 56.58 32.89 10.53
Đề xuất các hướng giải quyết vấn đề mà giáo viên
đó, 94.74% HS thích các hoạt động thí nghiệm hoặc thực hành…
Trang 30Bảng 3.4: Thái độ của học sinh đối với những nội dung hoạt động trong giờ Sinh học
Rất thích
Thích Không
thích
Đọc trong SGK để trả lời câu hỏi 11.84 22.37 65.79 Trao đổi, thảo luận với bạn để giải quyết một vấn đề
nào đó
26.32 65.79 7.89
Làm thí nghiệm hoặc thực hành 55.26 39.48 5.26 Quan sát tranh trong SGK hoặc trên bảng 34.21 56.58 9.21
Đề xuất các hướng giải quyết vấn đề mà giáo viên đặt ra 21.05 67.11 11.84 Giải quyết vấn đề học tập dựa vào kiến thức đã học 13.16 73.68 13.16 Giải quyết vấn đề học tập dựa vào hiểu biết thực tế
bản thân
30.26 56.58 13.16
Qua cuộc khảo sát có nhận thấy rằng, HS đã có nhưng thay đổi tích cực trong
tư duy tiếp cận vấn đề HS hiện nay đã chủ động hơn trong phương pháp học của mình, hầu hết các em đều thích tự nghiên cứu tìm ra vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên chứ không thích học một cách thụ động, giáo viên dạy gì học đó nữa Với
sự hứng thú với phương pháp học bằng tình huống của học sinh rất lớn nhưng hiện nay đại đa số giáo viên chưa đáp ứng lại được với nhu cầu này của các em Một bộ phận nhỏ giáo viên đã sử dụng các phương pháp dạy học bằng tình huống nhưng những tình huống được sử dụng chỉ mang tính chất gợi mở, giới thiệu trong phần đặt vấn đề vào bài mới chứ chưa đa dạng hóa các hình thức sử dụng chúng Nguyên nhân của thực trạng trên chính bởi vì yêu cầu nội dung kiến thức cần phải truyền đạt quá lớn, trong khi đó thời gian của mỗi tiết dạy quá ngắn để giáo viên có thể sử dụng các BTTH để giảng dạy Hơn nữa, đây cũng chính là điểm yếu của hầu hết các giáo viên dạy Sinh học ở phổ thông hiện nay vì họ chưa có kinh nghiệm thiết kế và sử dụng các bài tập tình huống nên việc thiết kế một bài tập tình huống mất khá nhiều thời gian
Trang 31Mặt khác, học sinh hiện nay vẫn chưa quen được với cách học chủ động, tích cực nên giáo viên gặp khó khăn trong việc sử dụng các bài tập tình huống để tiến hành giảng dạy
Tuy ít sử dụng các BTTH trong giảng dạy, nhưng đại đa số bộ phận giáo viên đều thấy rõ được vai trò của BTTH Việc nhận thức đúng vai trò của BTTH trong giảng dạy sẽ góp phần tích cực vào tư duy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy môn Sinh học 10 (nâng cao) Kết quả điều tra nhận thức về vai trò của BTTH trong dạy học của giáo viên thể hiện qua hình 3.2
Kết quả điều tra thực trạng dạy học ở một số trường phổ thông ở TP Đà Nẵng cho thấy GV, HS thì ít khi tiếp xúc với phương pháp dạy học bằng tình huống trong giảng dạy môn Sinh học Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống vào dạy
GV chưa có kinh nghiệm
Đồng ý Phân vân Không đồng ý
Hình 3.1: Nguyên nhân giáo viên ít sử dụng BTTH trong dạy học
Nâng cao tính tích cực, chủ động nhận thức của học sinh trong học tập
Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay
Hình thành cho học sinh
kĩ năng giải quyết vấn đề
Gây hứng thú học tập cho học sinh
Rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống
Rất quan trọng Quan trọng Phân vân
Hình 3.2: Vai trò của BTTH đối với quá trình dạy học
Trang 32học Sinh học vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì nhiều nguyên nhân khác nhau mặc dù hầu hết GV và HS đều nhận thấy được vai trò quan trọng của PPDH này
3.2 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH NỘI DUNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VÀ MỤC TIÊU CỦA TỪNG CHƯƠNG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 (NÂNG CAO) - THPT
Dựa vào chuẩn kiến thức kỹ năng, chúng tôi đã tiến hành phân tích nội dung kiến thức cụ thể và mục tiêu dạy học cho các bài thuộc phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT Kết quả được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 3.5 Kết quả xác định nội dung kiến thức cơ bản và mục tiêu của từng chương
trong phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) - THPT
- Phân biệt được ba loại môi trường: Môi trường tổng hợp, môi trường tự nhiên và môi trường bán tổng hợp
- Trình bày được các kiểu chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật
- Phân biệt được hô hấp hiếu khí, kị khí và lên men
- Phân tích, so sánh, phân tích, tổng hợp
- Phát hiện và giải quyết vấn
đề
Có thái độ đúng đắn, khoa học về VSV thông qua các quá trình dinh dưỡng chuyển hóa năng lượng của VSV
Bài 34
Quá trình
- Trình bày được các phương thức tổng hợp
- Khái quát hóa kiến thức
Vận dụng những kiến
Trang 33- Lấy ví dụ các ứng dụng, các quá trình tổng hợp các chất ở VSV trong đời sống và sản xuất
- Vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống
thức học đƣợc để nuôi một số VSV
có ích, nhằm thu nhận sinh khối hoặc những sản phẩm chuyển hóa vật chất của chúng
- Khái quát đƣợc đặc điểm chung của các quá trình tổng hợp và phân giải chủ yếu ở VSV
- Nêu đƣợc các ứng dụng của các quá trình tổng hợp và phân giải các chất trong đời sống
và sản xuất
- Giải thích đƣợc những tác hại do sự phân giải các chất ở VSV gây ra cho đời sống và sản xuất của
- Khái quát hóa kiến thức
- Vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống
Có ý thức bảo quản thực phẩm và phòng tránh những tác hại
do quá trình phân giải của VSV gây ra
Trang 34- Quan sát, giải thích
và rút ra kết luận các hiện tượng của thí nghiệm lên men êtilic
- Giải thích được các bước làm thí nghiệm
- Tiến hành thí nghiệm
- Quan sát, tư duy phân tích, tổng hợp
- Vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống
Nhận thấy được tầm quan trọng của vi sinh vật trong đời sống sản xuất con người
- Quan sát, giải thích
và rút ra kết luận các hiện tượng của thí nghiệm lên men lactic (làm sữa chua và muối chua rau quả)
- Hiểu và giải thích được các bước tiến hành thí nghiệm
- Thực hành thí nghiệm
- Quan sát tư duy phân tích, tổng hợp
- Vận dụng kiến thức để giải thích một
số hiện tượng trong thực tế
Thấy được vai trò của VSV trong đời sống, sản xuất của con người
- Trình bày được đặc điểm chung của sinh trưởng ở VSV
- Giải thích được sự sinh trưởng của VSV
- Phân tích, so sánh, tổng hợp,
tư duy logic
- Khái quát hóa kiến thức
- Hoạt động nhóm, cá nhân
- Có ý thức trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe
- Thấy được ứng dụng to lớn của vi sinh vật
Trang 35trong điều kiện nuôi cấy liên tục và không liên tục
- Trình bày được nguyên tắc và ứng dụng sự sinh trưởng của VSV để tạo ra sản phẩm cần thiết
- Phân biệt được sự sinh sản kiểu phân dôi, nảy chồi, bào tử hữu tính và bảo từ vô tính của VSV nhân thực
- Quan sát tranh hình nhận biết kiến thức
- Phân tích, so sánh, tổng hợp
- Hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân
- Nhận thức được sự sinh sản của những VSV nhỏ bé từ đó bảo vệ sức khỏe và môi trường sống của mình
- Trình bày được ảnh hưởng của các chất độc lên sinh trưởng của vi sinh vật
- Biết ứng dụng vào đời sống
- Tư duy logic, phân tích, tổng hợp, so sánh
- Vận dụng kiến thức vào thực tế
- Hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân
Giải thích được một số hiện tượng xảy ra trong
tự nhiên từ đó
có ý thức bảo
vệ sức khỏe
và môi trường sống
Có cách nhìn đúng đắn,
Trang 36- Vận dụng ảnh hưởng của các yếu tố vật lí để điều chỉnh sinh trưởng của VSV và ứng dụng của nó trong đời sống
quát hóa
- Liên hệ kiến thức vào thực
tế
- Hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân
khoa học về VSV, biết vận dụng kiến thức đã học
để phục vụ đời sống
- Quan sát được hình dạng của một số loại nấm men, vi khuẩn, nấm mốc và bào tử của nấm mốc
- Thao tác thí nghiệm:
nhuộm đơn tế bào, sử dụng kính hiển vi, quan sát mẫu vật trên kính
Yêu thích khoa học
- Mô tả được hình thái cấu tạo của 3 loại virut điển hình
- Trình bày được các phân loại virut và kể tên được các loại virut
- Tư duy logic
- Phân tích tổng hợp, khái quát
- Vận dụng kiến thức vào thực tế
Nhận thấy được cấu tạo rất đa dạng của virut và
sự nguy hiểm chúng gây ra
- Nêu được mối quan
hệ giữa virut ôn hòa và virut độc
- Phân tích tranh hình, thông tin để phát hiện kiến thức
- So sánh, tổng
- Củng cố niềm tin khoa học
- Nhận thức được sự nguy hại của virut,
Trang 37- Trình bày được các quá trình lây nhiễm và phát triển của HIV trong cơ thể người
- Nêu được phương pháp phòng tránh HIV/AIDS
hợp, khái quát
- Hoạt động nhóm, cá nhân
từ đó có cách phòng chống
- Nhận thức đúng về bệnh AIDS, có ý thức phòng tránh và không kì thị đối với người
bị nhiễm HIV
- Trình bày được những ứng dụng của virut trong thực tiễn
- Phân tích so sánh tổng hợp
- Tư duy logic, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế
- Hoạt động nhóm và cá nhân
- Rút ra được những biện pháp phòng trừ cũng như thấy được ứng dụng của virut trong việc bảo vệ đời sống và môi trường
- Có ý thức phòng tránh các bệnh do virut gây ra
và phân biệt được bệnh truyền nhiễm, miễn
- Phân tích, so sánh, khái quát
- Vận dụng kiến
- Có thái độ tích cực trong việc phòng chống bệnh
Trang 38nhiễm và hệ
miễn dịch
dịch, các loại miễn dịch, interferon
- Mô tả được phương thức lây truyền của bệnh truyền nhiễm, từ
đó đề xuất biện pháp phòng tránh
- Xác định được một cách đúng đắn nguyên nhân của loại dịch bệnh, từ đó có ý thức, phương pháp thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng chống dịch bệnh
thức vào thực tế cuộc sống
- Hoạt động nhóm, cá nhân
tật cho bản thân, gia đình
do virut và các VSV khác gây ra ở địa phương và cách phòng tránh
- Rèn kĩ năng tìm hiểu, ghi chép và kĩ năng giao tiếp với người khác So sánh đối chiếu những kiến thức đã học với tình hình thực tiễn ở địa phương
Có ý thức, biện pháp phòng tránh bệnh truyền nhiễm
Trang 393.3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 (NÂNG CAO) - THPT
3.3.1 Nguyên tắc thiết kế bài tập tình huống
Từ những nghiên cứu về cơ sở lý luận của bài tập tình huống, chúng tôi đã đưa
ra các nguyên tắc thiết kế một bài tập tình huống như sau:
- BTTH phải chứa đựng các mâu thuẫn nhận thức, luôn đặt HS ở trạng thái có nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn nhận thức
- BTTH phải phù hợp với nội dung cơ bản của từng chương, từng bài, từng phần để sau khi trả lời học sinh lĩnh hội được các kiến thức trọng tâm
- BTTH được xây dựng phải đảm bảo tính sư phạm nghĩa là các bài tập cần phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức của nhà trường và xã hội
- BTTH phải có nhiều khả năng huy động tính sáng tạo chủ động của HS, nghĩa là bài tập phải vừa sức, phù hợp với năng lực nhận thức của HS
- BTTH cần phải có đầy đủ 2 yếu tố: Điều kiện và yếu tố cần tìm
3.3.2 Kết quả xây dựng bài tập tình huống để rèn luyện một số kĩ năng
tư duy cho học sinh trong phần sinh học vi sinh vật chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT
Vận dụng nguyên tắc và quy trình thiết kế BTTH, chúng tôi đã xây dựng các BTTH cho từng nội dung bài học Dưới dây là một ví dụ minh họa cho quy trình thiết kế:
Ví dụ: Thiết kế BTTH dạy học nội dung ứng dụng sự ảnh hưởng của pH đến
sinh trưởng của vi sinh vật vào thực tế cuộc sống trong bài “Ảnh hưởng của các yếu
tố vật lý đến sinh trưởng của vi sinh vật” chương trình Sinh học 10 (nâng cao) – THPT
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học:
- Mục tiêu kiến thức: Sau bài học HS phải thực hiện được các nội dung: Trình bày được một số yếu tố vật lý ảnh hưởng đến sinh trưởng của VSV Phân biệt được
Trang 40một số nhóm VSV phân loại theo phạm vi sống và sinh trưởng ở điều kiện vật lý cho phép Vận dụng ảnh hưởng của các yếu tố vật lý để điều chỉnh sinh trưởng của VSV và ứng dụng trong đời sống con người
- Mục tiêu kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp, hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề
Xác định mục tiêu của chương, bài học để BTTH đảm bảo được nguyên tắc, phù hợp với chuẩn kiến thức kĩ năng và trình độ HS
Bước 2: Phân tích nội dung bài để tìm ra những nội dung có liên hệ với thực
tế, làm cơ sở cho việc xây dựng nội dung tình huống
Một số lưu ý khi diễn đạt tình huống thành BTTH:
- Văn phong ngắn gọn, súc tích
- Ngôn ngữ đơn nghĩa, rõ ràng, nên giải thích những thuật ngữ mới
- Người thiết kế BTTH phải giữ vai trò trung lập, không đưa ra nhận xét riêng ảnh hưởng đến người học
- Có thể làm tình huống sống động bằng cách sử dụng những trích dẫn hài hước Trong bài “Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý đến sinh trưởng của vi sinh vật”, chúng tôi lựa chọn nội dung ảnh hưởng của pH đến sinh trưởng của VSV trong thực tiễn cuộc sống con người Bởi vì qua, phân tích nội dung bài học cho thấy, nội dung kiến thức mà GV cần truyền đạt đến HS trong bài này không phải là lí thuyết về cơ chế ảnh hưởng của các yếu tố vật lý đến sự sinh trưởng của VSV mà chính là kiến thức về ứng dụng trong đời sống sản xuất Trong đó, ứng dụng của việc làm sữa chua trong đời sống sản xuất là nội dung gần gũi, gắn liền với HS nên khi sử dụng
để xây dựng BTTH có thể kích thích được nhu cầu muốn tìm hiểu và sự chú ý của
HS tới bài học Qua dạy học nội dung này, GV có thể rèn luyện cho HS nhiều kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải thích những vấn đề trong cuộc sống
Bước 3: Diễn đạt tình huống dưới dạng bài tập: Sau khi đã xác định được nội dung
tình huống cần để thiết kế BTTH thì người GV tiến hành chuyển sang bước diễn đạt tình huống dưới dạng bài tập