Mặt khác, qua quá trình làm việc tự lực với thí nghiệm của HS sẽ gợi sự hứngthú nhận thức, lòng ham muốn nghiên cứu, tạo niềm vui của sự thành công khi giảiquyết được nhiệm vụ đặt ra và
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả, số liệu nêu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và chưatừng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015Sinh viên
Nguyễn Thị Lợi
Trang 4Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa Sinh – Môitrường ĐHSP Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện giúp tôi thực hiện tốt đề tài luận văn.Cảm ơn các bạn đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài này!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Lợi
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Trang 63.6 Thí nghiệm chứng minh tác hại của thuốc lá 32
3.9 Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự phát triển của thực vật 40
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 9
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới dạy học 9
1.2 Xuất phát từ vai trò của thí nghiệm trong dạy học Sinh học 9
1.3 Xuất phát từ thực trạng sử dụng TN trong dạy học Sinh học ở bậc THCS 10
1.4 Xuất phát từ nội dung chương trình Sinh học lớp 6 11
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Nhiệm vụ nghiên cứu: 11
4 Phạm vi nghiên cứu: 12
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 13
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 13
1.1.1.Trên thế giới 13
1.1.2 Ở Việt Nam 15
1.2 Cơ sở lý luận 17
1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 17
1.2.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng TN trong dạy học 19
1.2.3 Vai trò của thí nghiệm trong dạy học SH 21
1.2.4 Vai trò của thí nghiệm trong việc nâng cao tính tự lực của học sinh 15
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
1.3.1 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình môn Sinh học lớp 6 – THCS 17
1.3.2 Phân tích thực trạng sử dụng thí nghiệm hỗ trợ dạy học Sinh học lớp 6 – THCS tại trường THCS Nguyễn Văn Trỗi 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 21
Trang 82.2.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 21
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 21
2.2.4 Phương pháp thử nghiệm 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 23
3.1 Quy trình thiết kế thí nghiệm sinh học theo hướng phát huy tính tự lực của người học trong chương trình sinh học lớp 6- bậc THCS 23
3.2 Kết quả thiết kế các thí nghiệm theo hướng phát huy tính tự lực của người học trong chương trình sinh học lớp 6- bậc THCS 24
3.2.1 Thí nghiệm chứng minh vai trò của cây xanh trong việc chống xói mòn đất và bảo vệ nguồn nước ngầm 25
3.2.2 Thí nghiệm: Bình lọc nước từ những vật liệu đơn giản 28
3.2.3 Thí nghiệm 3: Tác hại của hút thuốc lá 31
3.2.4 Chuỗi thí nghiệm: Những điều kiện ảnh hưởng tới sự nảy mầm của hạt
35
3.3 Đề xuất phương pháp sử dụng các thí nghiệm trong nhằm nâng cao tính tự lực của học sinh lớp 6 – THCS 42
3.4 Kết quả thử nghiệm 43
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
4.1 Kết luận 45
4.2 Kiến nghị 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới dạy học
Nhằm giúp cho học sinh có được những kỹ năng đáp ứng được mục tiêu giáodục đề ra trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách nhằm đổi mới hệ thống giáo dục, đặc biệt là cải tiến phươngpháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học Nghịquyết 29 của Ban chấp hành TW khóa VIII về đổi mới giáo dục căn bản toàn diện
đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướnghiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năngcủa người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tậptrung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cậpnhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [6]
Luật giáo dục, điều 28.2 cũng đã ghi: “Phương pháp giáo dục trong trường họcphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp vớiđặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làmviệc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đếntình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[20]
Một trong những biện pháp quan trọng để hiện thực hóa chủ trương trên là đưahọc sinh vào vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực củabản thân mà chiếm lĩnh kiến thức Nhờ vậy, HS ngoài việc tiếp thu được tri thứccòn phát triển được khả năng tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực
tự học và một số năng lực quan trọng khác
1.2 Xuất phát từ vai trò của thí nghiệm trong dạy học Sinh học
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm Hầu hết các hiện tượng, khái niệm,quy luật, quá trình trong Sinh học đều bắt nguồn từ thực tiễn Vì thế, việc sử dụngthí nghiệm trong quá trình dạy học sinh học là cần thiết và trở thành nhiệm vụ cấpthiết của giáo viên sinh học
Trang 10Con đường nhận thức ngắn nhất sẽ là con đường đi từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng, do đó, TN được xem là mô hình đại diện cho hiện thực kháchquan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của HS, giúp HS đi sâu tìm hiểubản chất của các hiện tượng và quá trình SH [1]
Bên cạnh đó, thí nghiệm được sử dụng để phát hiện và khắc phục các quanniệm sai lầm của HS Bởi HS trước khi đến trường, trước giờ học đã có những hiểubiết, những quan niệm cơ bản về các hiện tượng, và quá trình sắp được nghiên cứutrong giờ học Song đa số những hiểu biết, quan niệm ấy đều sai lệch so với bảnchất hoặc không có đủ các cơ sở để làm rõ vấn đề Thông qua thí nghiệm, HS sẽcủng cố, điều chỉnh kiến thức của mình bằng cơ sở khoa học
Mặt khác, qua quá trình làm việc tự lực với thí nghiệm của HS sẽ gợi sự hứngthú nhận thức, lòng ham muốn nghiên cứu, tạo niềm vui của sự thành công khi giảiquyết được nhiệm vụ đặt ra và góp phần phát triển động lực quá trình học tập củaHS
Tóm lại, thí nghiệm Sinh học không chỉ là nguồn tri thức, là tiêu chuẩn chân lícủa các kiến thức về thế giới tự nhiên mà còn tạo ra kích thích hứng thú, kích thíchtính tích cực, tự giác và sáng tạo của HS đồng thời cũng là một phương pháp dạyhọc sát với thực tế giáo dục của Việt Nam: “Học đi đôi với hành, lí luận gắn vớithực tiễn” [16]
1.3 Xuất phát từ thực trạng sử dụng TN trong dạy học Sinh học ở bậc THCS
TN thực hành đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học nói chung vàdạy học SH nói riêng, nhưng thực tế hiện nay việc sử dụng các TN Sinh học vẫncòn rất hạn chế và chưa thực sự đem lại hiệu quả trong dạy học Thiếu trang thiết bịhoặc trang thiết bị không đảm bảo chất lượng cùng với sự nhận thức chưa đúng đắncủa GV đã làm cho việc sử dụng TN trong dạy học SH không được diễn ra thườngxuyên Những TN phức tạp, tốn kém, mất nhiều thời gian cùng với năng lực sửdụng, khai thác, tổ chức HS nhận thức TN của GV còn hạn chế đã khiến cho hiệuquả sử dụng TN trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riênghiện nay chưa cao
Trang 11Để khắc phục triệt để thực trạng này cần có những giải pháp đồng bộ về pháttriển cơ sở vật chất và bồi dưỡng năng lực hướng dẫn thí nghiệm thực hành cho GV.Tuy nhiên, điều đó cần nhiều thời gian và sự đồng tâm hiệp lực của các cấp lãnhđạo nói chung và chính bản thân của người GV nói riêng Chính vì thế, việc thiết kếhay cải tiến các thí nghiệm hỗ trợ dạy học Sinh học với các nguyên liệu, vật liệu dễkiếm, có sẵn trong thực tế cũng là một giải pháp khả thi, mang tính sáng tạo trongbối cảnh dạy học Sinh học hiện nay.
1.4 Xuất phát từ nội dung chương trình Sinh học lớp 6
Nội dung kiến thức chương trình Sinh học lớp 6 giúp HS tìm hiểu những vấn
đề cơ bản về thực vật, các quá trình diễn ra trong thực vật và vai trò của thực vật đốivới môi trường, động vật cũng như cuộc sống của con người Chính vì thế, nhữngnội dung kiến thức này rất gần gũi với học sinh và có thể quan sát được trong thực
tế Do đó, các thí nghiệm hỗ trợ trong dạy học sinh học lớp 6 là rất cần thiết, vừagiúp HS lĩnh hội kiến thức, vừa tạo sự hứng thú, niềm đam mê nghiên cứu các hiệntượng, quá trình sinh học trong tự nhiên
Chính vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:“ Thiết kế các thí nghiệm
sinh học theo hướng nâng cao tính tự lực của người học trong chương trình Sinhhọc lớp 6 - bậc THCS ” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Thiết kế một số thí nghiệm sinh học theo hướng nâng cao tính tự lực củangười học trong chương trình Sinh học lớp 6 - bậc THCS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết về việc sử dụng phương tiện trực quan nói chung
và sử dụng thí nghiệm trong dạy học Sinh học
- Khảo sát thực trạng giảng dạy thực hành môn Sinh học tại trường THCShuyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở thực tiễn của đề tài
- Thiết kế một số thí nghiệm trong chương trình Sinh học lớp 6 - bậc THCStheo hướng nâng cao tính tự lực của người học
Trang 12- Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các thínghiệm đã thiết kế
4 Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi chỉ thiết kế các thí nghiệm sinh học hỗ trợdạy học trong chương trình SH lớp 6
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Trên thế giới
Trong giáo dục, vấn đề sử dụng TN thực hành đã được nghiên cứu từ rất lâu vàđược xem là một trong những vấn đề quan trọng, cơ bản nhất của quá trình dạy -học Nhà giáo dục kiệt xuất J.A Cômenxki (1592 - 1670) cho rằng: “Sẽ không có gìhết trong trí não nếu như trước đó không có gì trong cảm giác”[24] Vì vậy , dạyhọc bắt đầu không thể từ sự giải thích về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếpchúng Nếu chúng ta muốn dạy cho HS biết các sự vật một cách vững chắc, đúngđắn, thì cần phải dạy quan sát và qua chứng minh bằng cảm tính Dạy học dựa vàocảm giác càng nhiều thì kiến thức càng chính xác Từ đó, Cômenxki rút ra kết luận:
“Lời nói không bao giờ được đi trước sự vật”
Có thể thấy rằng, đóng góp lớn nhất của J.A Cômenxki là ở chỗ đã tổng kết vàphát triển kinh nghiệm tích lũy được về trực quan nói chung, TN thực hành nóiriêng và áp dụng nó một cách có ý thức vào quá trình dạy học Tuy nhiên, trongđiều kiện hiện đại, khi mà phương pháp suy diễn và mô hình trừu tượng chiếm một
vị trí quan trọng trong quá trình nhận thức thì việc sử dụng phương tiện trực quancần được điều chỉnh cho phù hợp
Cũng xuất phát từ chỗ xem quan sát là cơ sở của mọi tri thức, G.Pestalossi(1746 - 1827), nhà giáo dục học Thụy Sỹ cho rằng: số cơ quan cảm giác tham giavào quá trình nhận thức càng lớn thì kiến thức chúng ta càng chính xác hơn [24]Tuy vậy, khác với J.A Cômenxki, G Pestalossi cho rằng TN thực hành được xem
là điểm tựa để biến những biểu tượng chưa rõ ràng thành những biểu tượng rõ ràng,chính xác
K Đ Usinxki (1824 - 1870) đã đi xa hơn trong việc vận dụng phương tiện trựcquan nói chung và các TN thực hành nói riêng vào quá trình dạy học Ông cho rằngtrực quan chính là phương tiện để phát triển tư duy Trực quan là cái ban đầu và lànguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của conngười Trực quan làm quá trình lĩnh hội tri thức củ a HS trở nên dễ dàng, tự giác, có
Trang 14ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập, kích thích tính tích cực của HS; làphương tiện tốt nhất giúp GV gần gũi với HS, HS gần gũi với thực tiễn và làphương tiện quan trọng để phát triển tư duy HS [19].
Một số tác giả khác như: Môngtenhơ, V.G.Belenxki, A.N LeonChep cũng đã
có những nghiên cứu về dạy học thực hành Mongtenho (1533 – 1592), nhà giáodục Pháp chủ trương giảng dạy bằng hành động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sựtiếp xúc với sự vật trong đời sống hằng ngày [23] Maria Montessori (1870-1952)
đã quan sát thấy trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các vật dụng và chất liệu đượcthiết kế để trợ giúp sự cảm nhận của giác quan A.N Leonchep nghiên cứu dạy họcthực hành trên cơ sở tâm lí học Theo ông, khi đưa các mô hình, thí nghiệm thựchành vào dạy học thì tất yếu phải tính đến hai cơ sở tâm lí học Một là mô hình, thínghiệm thực hành thực hiện vai trò gì trong lĩnh hội tri thức Hai là nội dung môhình thí nghiệm thực hành phục vụ cho đối tượng nhận thức nằm trong mối quan hệnào [23]
V.G.Belenxki (1811 - 1848), nhà giáo dục Nga đã phát triển nguyên tắc thựchành trên cơ sở gắn tư tưởng dạy học thực hành với tư tưởng dạy học phát triển[15]
Ngày nay, bên cạnh việc nghiên cứu vị trí, vai trò của phương tiện trực quantrong điều kiện hiện đại, nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề sử dụng phương tiệntrực quan nói chung, TN thực hành nói riêng trong quá trình dạy học như:Tônlinhghênôva, X.G.Sapôralenkô, M.H Sacmaep, L.V.Dancôp, L.I Gôbunôva,V.V Đavưđôp, P.R Atulốp, V.G Bôtianxki…[24]
Tônlinhghênôva cho rằng, về nguyên tắc, phương tiện trực quan chỉ có thể cócác chỉ số và chất lượng thông qua quá trình sư phạm Không có quá trình sư phạmthì phương tiện trực quan có được chế tạo tốt bao nhiêu cũng không hề thể hiệnđược bất kì một vai trò hay chức năng gì
K.G Nojko cũng khẳng định vấn đề không phải chỉ ở chỗ sản xuất, cung cấpcho nhà trường dụng cụ, phương tiện, nội dung củ a các TN thực hành mà chủ yếulàm sao cho các TN thực hành đó được GV sử dụng có hiệu quả cao [7 ]
Trang 15TN thực hành là phương tiện chứa đựng, chuyển tải thông tin, đáp ứngnhững yêu cầu nhận thức, giáo dục, phát triển của quá trình sư phạm nhưng bảnthân nó có giá trị dạy học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào quá trình sử dụngcủa người GV Các TN được sử dụng không tốt sẽ dẫn đến hậu quả xấu về mặt sưphạm và kinh tế Chúng có thể phá vỡ cấu trúc bài giảng, phân tán sự chú ý của
HS, lãng phí thời gian và nguyên liệu, mất lòng tin ở HS Đây cũng là vấn đề ítđược các tác giả quan tâm và là một trong những khâu yếu nhất của nhà trườngphổ thông hiện nay
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều cuộc thi sáng tạo các mô hình, thínghiệm đơn giản áp dụng trong dạy học cũng như cuộc sống diễn ra trên nhiềuđất nước như: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam,…
Như vậy, qua các nghiên cứu ở trên cho thấy vai trò của việc sử dụng thínghiệm đã được tìm hiểu từ rất lâu, nhưng đây vẫn luôn là chủ đề nóng thu hútnhiều đối tượng nghiên cứu
1.1.2 Ở Việt Nam
Vào khoảng đầu thế kỉ XX phong trào “nhà trường mới” đã xuất hiện ởnhiều nước Trong phong trào này, người ta khuyến khích học sinh tự tổ chức,sắp xếp kế hoạch, thời gian học tập theo khả năng của mình, tự mình học chomình, ai học giỏi thì học nhanh, ai học yếu thì học chậm lại Chủ trương để trẻ emhoàn toàn tự do, phát triển theo năng khiếu và khả năng của mình
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Cần phát động phong trào cải tiến dạy họctheo hướng phát triển tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh vì đó là phẩmchất nhân cách rất cơ bản mà ta muốn hình thành” [8]
Về tính tự lực nhận thức, không nhiều công trình nghiên cứu độc lập màchủ yếu nghiên cứu cùng tính tích cực Điển hình là tài liệu bồi dưỡng thườngxuyên cho giáo viên THPT của Nguyễn Ngọc Bảo: “Phát huy tính tích cực, tính
tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” [12] Trong công trình này, tác giảtrình bày khái niệm tính tích cực, tính tự lực một cách độc lập và mối liên hệ giữachúng
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định Giáo dục – Đào tạo cùngvới Khoa học – Công nghệ là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục là một
Trang 16trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Muốn đào tạo nguồn lực conngười đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội cần phải quan tâm đến việc nângcao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
Ở Việt Nam, trong giai đoạn gần đây, vấn đề sử dụng TN thực hành đã đượcnhiều tác giả quan tâm Một số tác giả như: Thái Duy Tuyên, Trần Doãn Quới,
Vũ Trọng Rỹ, Võ Chấp, Nguyễn Cương, Đinh Quang Báo, Phạm Hữu Tòng,Nguyễn Đức Thâm, Trần Quốc Đắc, Tô Xuân Giáp , Cao Xuân Nguyên… đã
có những nghiên cứu về vị trí, vai trò, cấu trúc, mối quan hệ của phương tiện trựcquan (trong đó có các TN thực hành) với các thành tố của quá trình dạy học;phương pháp sử dụng một số phương tiện trực quan trong các môn học, cấp họcnói chung Vấn đề sử dụng TN trong quá trình dạy học giai đoạn hiện nay, đượcnghiên cứu trên tất cả các môn học, cấp học trong lĩnh vực Sinh học, vấn đề sửdụng TN trong quá trình dạy học ở trường THPT đã được nghiên cứu rộng rãi vàvận dụng có hiệu quả
Trịnh Bích Ngọc và Phan Minh Tiến (1999) cũng đã nghiên cứu việc tổchức các hoạt động quan sát, TN trong dạy học Sinh học ở trường THCS Từ đócác tác giả đã đề xuất qui trình tổ chức cho HS quan sát và tiến hành TN, theohướng tích cực hóa hoạt động của HS Tác giả Nguyễn Vinh Hiển (2003) từ sựphân tích vai trò của hoạt động quan sát, TN trong quá trình dạy học nói chung vàdạy học SH nói riêng đã đề xuất biện pháp, qui trình sử dụng TN trong dạy họckiến thức hình thái, sinh lí thực vật chương trình SH lớp 6[12] Hoàng Thị KimHuyền (2005) đã xây dựng cấu trúc bài thực hành phương pháp dạy học SH nhằmnâng cao chất lượng thực hành và bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên trườngđại học sư phạm Nguyễn Thị Thắng (2006) đã đề xuất một số kinh nghiệm thựchiện thành công các TN thực hành trong dạy học SH 8 Tác giả Dương Tiến Sỹ(2007) trên cơ sở phân tích những khó khăn trong quá trình dạy học SH, đặc điểmtâm lí nhận thức của HS lớp 6, những hạn chế của các TN trường diễn đã đề xuấtbiện pháp sử dụng TN ảo đề tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học chươngtrình SH lớp 6 [17]
Trang 17Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, nghiên cứu cách thức sử dụngcác thí nghiệm có hiệu quả trong dạy học nói chung và môn Sinh học nói riêng đãđược tiến hành từ lâu Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề thiết
kế các thí nghiệm trong dạy học Sinh học bậc THCS theo hướng phát huy tính tựlực của người học, đồng thời sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có trong đời sốnghằng ngày
Theo từ điển sư phạm: “Trực quan trong dạy học đó là một nguyên tắc líluận dạy - học mà theo nguyên tắc này thì dạy - học phải dựa trên những hình ảnh
cụ thể, được HS trực tiếp tri giác”
Còn theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên) trực quan được địnhnghĩa như sau: “Trực quan nghĩa là dùng những vật cụ thể hay ngôn ngữ, cử chỉlàm cho HS có được hình ảnh cụ thể về những điều đã học”
Như vậy có thể kết luận: Trực quan là một khái niệm biểu thị tính chất củahoạt động nhận thức, trong đó thông tin thu nhận được về các sự vật và hiệntượng của thế giới bên ngoài được cảm nhận trực tiếp từ các cơ quan cảm giáccủa con người
Phương tiện trực quan
Khái niệm phương tiện trực quan trong dạy học được nhiều tác giả quantâm Các tác giả cho rằng: “Phương tiện trực quan là tất cả những cái gì có thểđược lĩnh hội (tri giác) nhờ sự hỗ trợ của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai củacon người Tất cả các đối tượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp nhờ các giácquan đều là phương tiện trực quan” [25]; “ Phương tiện trực quan là tất cả các đốitượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp nhờ các giác quan” ;“Phương tiện trựcquan được hiểu là những vật (sự vật) hoặc sự biểu hiện của nó bằng hình tượng
Trang 18(biểu tượng) với những mức độ qui ước khác nhau Những sự vật và những biểutượng của sự vật trên được dùng để hình thành ở HS những biểu tượng động hoặctĩnh về sự vật nghiên cứu” [24].
Có thể nhận thấy rằng, mặc dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng nội hàm củacác định nghĩa trên là giống nhau Như vậy phương tiện trực quan là những công
cụ hay phương tiện mà người thầy giáo và HS sử dụng trong quá trình dạy - họcnhằm xây dựng cho HS những biểu tượng về sự vật, hiện tượng, hình thành kháiniệm thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của người học
Thí nghiệm
Thí nghiệm được xem là một trong những phương tiện trực quan quan trọnghàng đầu trong dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng TN giúp HS trực tiếpquan sát các hiện tượng, quá trình, tính chấtcủa các đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được hiểu là gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đótrong điều kiện nhất định để tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh [1],[10] Thí nghiệm có thể được tiến hành trên lớp, trong phòng TN, vườn trường,ngoài ruộng và ở nhà TN có thể do GV biểu diễn hoặc do HS thực hiện Hiệnnay, trong thực tế dạy học thí nghiệm thường mới được sử dụng để giải thích,minh họa, củng cố và khắc sâu kiến thức lí thuyết Song GV có thể căn cứ vào nộidung bài học và điều kiện cụ thể mà có thể sử dụng các TN nhằm mục đích giúp
HS lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện cho các em phẩm chất của một nhà nghiên cứukhoa học và làm cho HS thêm yêu môn học
Trang 19nhằm lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo để thỏa mãn nhu cầu nhận thứcnói chung và học tập nói riêng của bản thân” [12].
Một số biện pháp phát huy tính tự lực học tập của học sinh như sau:
- Nâng cao nhận thức về tính tự lực cho học sinh
- Cải tiến nội dung bài giảng, đổi mới phương pháp dạy học theo hướngkích thích học sinh tự lực học tập
- Tổ chức hướng dẫn các kĩ năng tự học cần thiết cho học sinh
- Tổ chức hoạt động tự lực cho học sinh
- Định hướng giúp đỡ học sinh tự lực học tập tại nhà [22]
1.2.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng TN trong dạy học
a Cơ sở triết học
Theo triết học Mác - Lênin:“ Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứngtích cực, tự giác và sáng tạo thế giới quan vào trong đầu óc của con người trên cơ
sở thực tiễn” [9] Quá trình nhận thức bao gồm cả việc học tập và nghiên cứu Ở
cả hai mức độ này các hình ảnh trực quan đều đóng vai trò đặc biệt quan trọng.Các hình ảnh trực quan vừa thực hiện chức năng nhận thức (thông tin) vừa thựchiện chức năng điều khiển hoạt động của con người Vai trò của trực quan trongnhận thức không chỉ là thuộc tính của sự phản ánh hiện thực khách quan trongnhận thức cảm tính mà còn là sự tái tạo hình tượng các đối tượng hoặc hiện tượngnhờ các mô hình được kiến tạo từ các nhân tố của trực quan sinh động trên cơ sởnhững tri thức đã tích lũy được về đối tượng hoặc hiện tượng ấy
Hoạt động trí tuệ của con người được bắt đầu từ cảm giác, tri giác sau đómới đến tư duy Nói cách khác, hoạt động nhận thức của con người khởi đầu lànhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) Đó là giai đoạn mà conngười sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật nhằm nắm bắtcác sự vật ấy Trong nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn không bảnchất, cả cái tất yếu và ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài về sự vật Nhưng
ở đây, con người chưa phân biệt được cái gì là bản chất với không bản chất; đâu
là tất yếu với ngẫu nhiên; đâu là cái bên trong với cái bên ngoài Để phân biệtđược những điều nói trên, con người phải vượt lên một mức nhận thức cao hơn -nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng) đây là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu
Trang 20tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng, giaiđoạn này chính là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất làtách ra và nắm lấy cái bản chất có tính qui luật của các sự vật, hiện tượng Vì vậy,
nó đạt đến trình độ phản ánh sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn cái bảnchất của đối tượng Tuy vậy, sự phát triển của tư duy ở mức độ nào cũng luônchứa đựng mối liên hệ với nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính gắn liền vớihoạt động thực tiễn, sự tác động của khách thể cảm tính là cơ sở cho nhận thức lítính Nhận thức lí tính nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu được bản chất,qui luật vận động và phát triển sinh động của sự vật giúp cho nhận thức cảm tính
có định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn
Như vậy, hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thựckhách quan với những mức độ phản ánh khác nhau và trải qua hai giai đoạn: Giaiđoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lí tính Hai giai đoạn này có mốiquan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau V.I Lênin đã tổng kết mối quan hệ đóthành qui luật của hoạt động nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - Đó là con đường biện chứng của sựnhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [15]
b Cơ sở lí luận dạy học
Quá trình dạy học bao gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết vớinhau như: mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học [1] Thực tếdạy học đã chứng minh rằng, quá trình nhận thức của con người đều xuất phátđiểm từ thực tiễn, từ những hình tượng trực quan mà ta tri giác được trong cuộcsống Trực quan đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của quá trình hìnhthành khái niệm Nó là phương tiện giúp cho sự phát triển tư duy lôgic của HS
Vì thế, trong quá trình dạy học việc vận dụng các phương pháp dạy học không thểtách rời với việc sử dụng những phương tiện dạy học Nó được sử dụng nhằmmục đích khắc phục những khoảng cách giữa việc tiếp thu lí thuyết và thực tiễn,làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên dễ dàng hơn Ngày nay với nhữngthành tựu do khoa học, kĩ thuật - công nghệ mang lại, phương tiện dạy học càng
có vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường, nó chophép đưa vào bài học những nội dung diễn cảm, hứng thú, làm thay đổi phương
Trang 21pháp và hình thức tổ chức dạy học tạo ra cho quá trình dạy học một nhịp độ,phong cách và trạng thái tâm lí Đây chính là một trong những đặc điểm nổi bậtcủa nhà trường hiện đại.
HS nghiên cứu một môn học, ở mỗi em đã có được sự tích lũy ban đầu vềnhững biểu tượng có liên quan tới đối tượng nghiên cứu nhưng những biểu tượngnày không đọng lại ở tất cả HS về mức độ chính xác và số lượng của biểu tượng
Vì thế, người ta đã xây dựng các khái niệm từ sự quan sát trực tiếp những đốitượng, hiện tượng có sẵn trong thực tiễn hoặc tái tạo lại chúng bằng phương phápnhận thôn dạng qua hình ảnh hoặc các mô hình, mẫu biểu … hay như ta vẫn gọi
là các phương tiện trực quan
Một trong những phương tiện hỗ trợ đắc lực trong quá trình dạy học nóichung và dạy học SH nói riêng đó là các TN thực hành Các TN thực hành nhằmtái tạo ra các hiện tượng tự nhiên là nguồn kiến thức phong phú, là chiếc cầu nốigiữa các hiện tượng tự nhiên và khả năng nhận thức của con người TN thực hành
có khả năng làm bộc lộ các mối liên hệ bên trong phát sinh giữa các sự vật, hiệntượng Hơn nữa, nhờ có các TN thực hành mà HS thêm yêu môn học, có khảnăng vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn sản xuất, đồng thời cũng giúphình thành tư duy khoa học cho HS
Qua các phân tích trên cho thấy: TN thực hành là một trong những phươngtiện trực quan quan trọng trong quá trình dạy học, nó là nguồn cung cấp kiếnthức, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là phương tiện để phát huy tiềm năng
tư duy, tính tích cực của HS Tuy nhiên, không phải lúc nào và GV nào cũng cóthể sử dụng TN thực hành đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học Việc khaithác các TN thực hành đòi hỏi người GV cần phải có kĩ năng, kĩ xảo, phươngpháp phù hợp Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng TN thực hành trong quátrình dạy học nói chung và trong dạy học SH nói riêng là hết sức cần thiết và vôcùng quan trọng [2]
1.2.3 Vai trò của thí nghiệm trong dạy học SH
Mục đích giáo dục ở nhà trường không những chỉ đào tạo ra những conngười nắm vững các kiến thức khoa học, mà còn cần giỏi thực hành, có bàn taykhéo léo thể hiện được những điều mà bộ óc suy nghĩ Nếu không có điều đó thì
Trang 22những hiểu biết của con người chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức lí thuyết, chưa tácđộng vào thực tiễn để tái tạo lại thế giới và cải tạo nó Nhận thức lí luận và việcvận dụng lí luận vào thực tiễn là hai mặt của một quá trình nhận thức nhưng giữachúng có một khoảng cách rất xa mà chúng ta không thể vượt qua được nếukhông thông qua hoạt động thực hành [2].
SH là ngành khoa học tự nhiên, nghiên cứu về sự sống Đối tượng của SH làthế giới sống Trong đó, thực hành TN là phương pháp cơ bản, đặc trưng cho hoạtđộng nghiên cứu và dạy học SH Trong dạy học SH, GV sử dụng phương pháp
TN thực hành khi nghiên cứu quá trình sinh lí, ảnh hưởng của các nhân tố sinhthái lên sinh vật… HS tự mình khám phá ra những điều mới mẻ từ những tácđộng chủ ý lên đối tượng TN, qua đó kích thích hứng thú học tập, tạo sự say mê,niềm tin khoa học Các em thấy được vai trò của con người trong việc chinhphục, cải tạo tự nhiên
Do đó trong dạy học SH, TN có vai trò đặc biệt quan trọng Các TN khôngchỉ giúp HS hoàn thiện kĩ năng, kĩ xảo mà kết quả TN còn củng cố niềm tin khoahọc cho HS [2]
Căn cứ vào mục đích của quá trình dạy học, ta có thể chia TN thực hành làmcác loại như TN hình thành kiến thức mới, TN củng cố và hoàn thiện kiến thức,
TN để kiểm tra - Đánh giá, TN để vận dụng kiến thức
Nhưng tùy theo mục đích sử dụng, nội dung, cách tiến hành, thời gian tiếnhành thực hành TN mà nó có vị trí khác nhau trong học phần Ở cấp học THPT,
TN thực hành thường được xếp vào bài cuối chương, gồm khoảng hai hay ba TNtrong một bài với mục đích là củng cố kiến thức, phát triển tư duy logic, sáng tạocủa HS, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tiến hành TN, giúp HS nhận thức được thếgiới khách quan, thế giới sinh vật cụ thể hơn, hình thành cho HS thái độ đúng đắnvới môi trường sống xung quanh, với thế giới sinh vật Đặc biệt, với các thínghiệm được làm dựa trên nguồn nguyên liệu tái chế tự nhiên như : chai, lọ, xơdừa, vỏ chuối, đất, cát, sỏi, vừa tiết kiệm được nguồn chi phí, giảm thiểu ônhiễm môi trường nhưng lại mang tính giáo dục rất cao
Trang 231.2.4 Vai trò của thí nghiệm trong việc nâng cao tính tự lực của học sinh.
a Thí nghiệm là phương tiện rèn luyện cho học sinh kĩ năng thu thập thông tin
Khi tiến hành một thí nghiệm hay giải thích một hiện tượng sinh học, HSphải huy động được nguồn kiến thức liên quan như: các định nghĩa, các kháiniệm, các quá trình, quy luật… đã được học, và hình thành mối liên hệ giữa cái đãbiết với cái chưa biết, từ đó giải quyết được các yêu cầu do thí nghiệm đặt ra Thínghiệm trở thành phương tiện rèn luyện cho HS kĩ năng thu thập thông tin quaviệc nắm bắt những yếu tố như: diễn biến của các hiện tượng, quá trình thínghiệm, những sự thay đổi của đối tượng tham gia vào quá trình thí nghiệm; sựgiống nhau, khác nhau giữa những biểu hiện của nguyên nhân, kết quả trongnhững điều kiện, những lần thí nghiệm khác nhau
Khi HS thu thập thông tin một cách nhanh chóng, chính xác phù hợp vớiyêu cầu thí nghiệm đặt ra sẽ giúp các em tiến hành thí nghiệm một cách dễ dàng
và nó sẽ trở thành thói quen, giúp cho các em biết cách thu thập thông tin để giảiquyết những vấn đề trong cuộc sống [20]
b Thí nghiệm là phương tiện rèn luyện cho học sinh kĩ năng xử lý thông tin
Để sử dụng được và có hiệu quả những thông tin thu thập được, người họccần phải biết xử lí các thông tin đó Khi tiến hành xử lí những thông tin, ngườihọc biết lựa chọn, sắp xếp, phân loại thông tin, từ đó có thể rút ra được các kếtluận về hiện tượng qui luật…
Cách thức GV tổ chức hoạt động dạy học với thí nghiệm sinh học sẽ là yếu
tố quyết định đến việc hình thành kĩ năng xử lý thông tin cho người học Trong
đó, GV phải hướng dẫn cho HS dự đoán kết quả thí nghiệm từ các thông tin thuđược, các kiến thức đã học hay quan niệm đã có của HS Khi tiến hành thínghiệm sẽ có kết quả và tiến hành đối chiếu với dự đoán ban đầu, để đưa ranhững giải thích cụ thể để xác định chân lý của vấn đề đòi hỏi người học phải sửdụng các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, mô hìnhhóa, suy luận, diễn dịch….Từ đó, kĩ năng xử lí thông tin cụ thể tương ứng như kĩ
Trang 24năng phân tích, kĩ năng tổng hợp, kĩ năng so sánh, kĩ năng khái quát hóa đượchình thành và phát triển [13].
Khi HS tiến hành thí nghiệm thì không những các em được rèn luyện các kĩnăng như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa… mà cả những kĩ năng vềthao tác chân tay, như kĩ năng, kĩ xảo thực hành thí nghiệm
c Thí nghiệm là phương tiện rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
Sau quá trình xử lí thông tin, người học có thêm những hiểu biết, những kiếnthức mới Để càng hiểu sâu sắc hơn những tri thức đã được thu nhận là người họcphải vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn Chính trong quá trình vận dụngnhững tri thức đó vào thực tiễn, tư duy của người học sẽ được tích cực hơn vànăng lực làm việc của người học sẽ được nâng lên rõ rệt, bên cạnh đó cũng có thểgiúp cho người học thu nhận, khám phá những kiến thức mới, những hệ quả mới
Ví dụ: Thí nghiệm lọc nước giúp HS có thể ứng dụng vào thực tế cuộc sống trongđiều kiện nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm
Để rèn luyện HS kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách sáng tạo,hiệu quả thì trong quá trình dạy học GV nên sử dụng các thí nghiệm Sinh học.Ngoài ra, GV phải khuyến khích HS tìm hiểu những ứng dụng của Sinh học vàđồng thời thiết kế các thí nghiệm đơn giản thông qua các kiến thức đã học vàocuộc sống
d Thí nghiệm là phương tiện rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh
Tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh là một kĩ năng quan trọng của ngườihọc, vì thông qua kĩ năng này người học có thể tự đánh giá để biết được trình độ
tự học của mình đạt đến mức độ nào và mức độ vận dụng kiến thức của bản thân
để tự điều chỉnh cách học sao cho đạt hiệu quả hơn Trong thực tế kiểm tra đánhgiá kết quả học tập của HS hiện nay việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học vẫnchưa được chú ý Việc kiểm tra đánh giá như vậy vẫn chủ yếu thiên về kiến thức,chưa thực sự quan tâm đến mặt kĩ năng thực hành của HS Để có thể kiểm trađánh giá năng lực thực hành của HS, trong giảng dạy cần chú ý đến việc thiết kế
Trang 25và sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy cũng như ứng dụng môn Sinh học vào đờisống [4].
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình môn Sinh học lớp 6 – THCS.
Chương trình Sinh học lớp 6 với nội dung chủ đạo là thực vật và vai trò củathực vật với môi trường xung quanh Các bài học phần lớn được xây dựng, trìnhbày dưới dạng các vấn đề thông qua hình ảnh, tranh vẽ, mẫu vật, thí nghiệm mô
tả nhằm giúp HS tìm hiểu và tự trao đổi thảo luận để tìm cách giải quyết
Nội dung chương trình SGK gồm phần mở đầu sinh học và 10 chương với
- Chương 5: Sinh sản sinh dưỡng Gồm 2 bài đề cập đến sự sinh sản sinhdưỡng trong tự nhiên và do con người tác động đối với lá
- Chương 6 : Hoa và sinh sản hữu tính Gồm 4 bài, nội dung chương đề cậpđến cấu tạo và chức năng của hoa, sự thụ phấn, thụ tinh và kết quả
- Chương 7: Quả và hạt Gồm 5 bài Kiến thức của chương là hệ thống hóakiến thức về cây có hoa
- Chương 8: Các nhóm thực vật Gồm 9 bài với nội dung đề cập đến đặcđiểm các nhóm thực vật khác nhau và nguồn gốc cây trồng
Trang 26- Chương 9: Vai trò của thực vật Gồm 4 bài, nội dung kiến thức củachương đề cập đến vai trò quan trọng của thực vật với khí hậu, đất, nguồn nước,mọi sinh vật khác.
- Chương 10: Vi khuẩn – Nấm – Địa y Gồm 4 bài với kiến thức trọng tâm
là tìm hiểu chung về vi khuẩn, nấm, địa y và chuyến tham quan thực tế thiênnhiên
Nhìn chung chương trình sách giáo khoa Sinh học lớp 6 thể hiện nhữngđặc điểm sau: các nội dung kiến thức về thực vật được sắp xếp theo nguyên tắc hệthống, từ cái chung đến cái riêng, từ đơn giản đến phức tạp Chẳng hạn phần mởđầu giúp HS có cái nhìn khái quát về giới thực vật rồi từ đó mới tìm hiểu cấu tạo
và chức năng cụ thể các cơ quan, bộ phận của cây Bên cạnh đó, chương trìnhSinh học lớp 6 chỉ mang tính đại cương mô tả hiện tượng, quá trình mà không đivào chi tiết các cơ chế chức năng sinh lí phức tạp (ví dụ Cơ chế quang hợp, hôhấp, thụ tinh…) vì đây là kiến thức khó đối với trình độ nhận thức của học sinhlớp 6 Chương trình tăng cường vận dụng các thí nghiệm thực hành trong giờ lênlớp nhằm làm cho cả GV và HS phải có ý thức chuẩn bị ở nhà [12]
1.3.2 Phân tích thực trạng sử dụng thí nghiệm hỗ trợ dạy học Sinh học lớp 6 – THCS tại trường THCS Nguyễn Văn Trỗi.
Để xác định cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi tìm hiểuthực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học sinh học bằng phương pháp phỏngvấn trên đối tượng 6 GV và 35 HS lớp 6 tại trường THCS Nguyễn Văn Trỗi,huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam, chúng tôi đưa ra một số nhận xét như sau:
* Về phía GV:
Tất cả các GV được khảo sát đều nhất trí về ý nghĩa và tầm quan trọng củaviệc thiết kế và sử dụng thí nghiệm hỗ trợ giảng dạy Sinh học Tuy nhiên việc sửdụng thí nghiệm trong dạy học Sinh học lớp 6 – bậc THCS vẫn chưa được tiếnhành thường xuyên và chủ yếu thực hiện trong giờ thực hành SH Điều này xuấtphát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: thiếu cơ sở vật chất dạy học thínghiệm thực hành, không có phòng thí nghiệm, diện tích phòng học nhỏ trong khihọc sinh lại quá đông, thiếu kinh phí mua hóa chất, dụng cụ thí nghiệm, hay giáo
Trang 27viên thiếu kinh nghiệm trong việc thiết kế và sử dụng các thí nghiệm trong dạyhọc Sinh học.
Khi được hỏi về tính cần thiết của việc sử dụng thí nghiệm hỗ trợ dạy họcnhằm nâng cao tính tự lực của học sinh, thì 100% GV đều nhất trí về ý nghĩa vàtầm quan trọng của việc thiết kế và sử dụng thí nghiệm hỗ trợ giảng dạy Sinh học.Các ý kiến của thầy cô đều hoàn toàn ủng hộ việc thiết kế các thí nghiệm nhằm
hỗ trợ giảng dạy Sinh học lớp 6 – THCS nhằm khắc sâu kiến thức, đồng thờikích thích khả năng tư duy sáng tạo và niềm đam mê nghiên cứu khoa học chohọc sinh
*Về phía học sinh:
- 91,43 % HS được khảo sát cho rằng việc sử dụng thí nghiệm trong dạy họcSinh học sẽ làm cho giờ học bổ ích và hứng thú Tuy nhiên có 57,14% HS cảmthấy gặp khó khăn trong quá trình tiến hành thí nghiệm trong các giờ thực hành
và cho rằng cần phải có sự hướng dẫn và hỗ trợ rất nhiều từ giáo viên để giúp các
em có thể tự thực hiện các thí nghiệm thành công
- 85,71% HS tỏ ra thích thú nếu được tự mình làm các thí nghiệm ngay tạinhà bằng các vật liệu đơn giản, sẵn có, thân thiện với môi trường
Như vậy qua kết quả điều tra giáo viên và học sinh trường THCS NguyễnVăn Trỗi,chúng tôi rút ra kết luận chung như sau:
Một là: Việc thiết kế và sử dụng thí nghiệm nhằm hỗ trợ giảng dạy môn Sinhhọc lớp 6 – bậc THCS chưa được quan tâm đúng mức, tuy có áp dụng nhưng vẫncòn nhiều hạn chế, do đó chưa gây hứng thú cao với học tập của học sinh
Hai là: Cần chú trọng sử dụng thí nghiệm để trong giảng dạy môn Sinh học, đểhọc sinh tự làm, tự nhận thức được kiến thức về sinh học có liên quan đến thínghiệm
Ba là: Việc thiết kế và sử dụng thí nghiệm cần phải tiến hành đồng bộ và cóhiệu quả rõ rệt
Bốn là: GV cần cung cấp nguồn tài liệu tham khảo, được tham gia các lớp tậphuấn chuyên đề và trao đổi thông tin với nhau Đối với học sinh cần rèn luyện ýthức tự học, tự nghiên cứu và làm quen với cách học mới nhằm phát huy được
Trang 28khả năng vận dụng, liên hệ và nhận thức đúng đắn các vấn đề trong tự nhiên, môitrường và thí nghiệm dạy học.
Qua điều tra thực trạng tại trường THCS Nguyễn Văn Trỗi, tỉnh Quảng Namchúng tôi nhận thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng thí nghiệm trong dạyhọc Sinh học lớp 6 tại trường THCS Sản phẩm đề tài là một số thí nghiệm phục
vụ dạy học bằng các nguyên vật liệu sẵn có để HS có thể tự mình thực hiện ngay
ở nhà sẽ là một giải pháp hiệu quả để khắc phục những bất cập trong giảng dạythí nghiệm thực hành Sinh học nói chung và kiến thức thuộc chương trình sinhhọc lớp 6 – THCS nói riêng
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm sinh học trong chương trình Sinh học lớp 6 – bậc THCS
2.1.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học chương trình SH lớp 6 bậc THCS
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan để làm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễncho đề tài như nghiên cứu các tài liệu về thí nghiệm thực hành trong dạy học Sinhhọc, lí luận dạy học sinh học, hướng dẫn và tổ chức hoạt động học tập theo hướngtích cực
Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa Sinh học lớp 6 - bậc THCS và các hoạtđộng ngoại khóa tại trường THCS
Nghiên cứu đề tài, bài báo có liên quan đến đề tài nghiên cứu của các tác giả
đã công bố trước đó
Thu thập thông tin, chủ trương và các chính sách liên quan đến nội dung đề tàinghiên cứu
2.2.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Điều tra nhận thức và mức độ hứng thú của HS đối với thí nghiệm SH trên đốitượng HS của một số trường THCS bằng phiếu câu hỏi
Tiến hành phỏng vấn một số giáo viên chuyên ngành tại Trung học cơ sởNguyễn Văn Trỗi, tỉnh Quảng Nam nhằm thu thập ý kiến về thực trạng sử dụng thínghiệm trong dạy học Sinh học lớp 6 –THCS
2.2.3 Phương pháp chuyên gia
- Trao đổi và xin ý kiến của Giảng viên Đại học về đề tài đang nghiên cứu.
- Trao đổi trực tiếp với GV dạy Sinh học ở THCS về nội dung thí nghiệm đãthiết kế và địa chỉ sử dụng cho những thí nghiệm đó
Trang 302.2.4 Phương pháp thử nghiệm
Sau khi đã thiết kế một số thí nghiệm dạy học, chúng tôi tiến hành thử nghiệmtrên đối tượng là HS lớp 6 tại trường THCS Nguyễn Văn Trỗi để kiểm chứng tínhkhả thi và hiệu quả của các thí nghiệm
Mục đích: nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng các thínghiệm đã thiết kế cho học sinh lớp 6 – THCS
Cách tiến hành: Hướng dẫn cho HS tự thực hiện các thí nghiệm đã thiết kế sau
đó đánh giá kết quả
Cách đánh giá:
- Quan sát tiến trình thực hiện của học sinh
- Phỏng vấn học sinh sau thực nghiệm
- Nhận xét kết quả bài báo cáo của học sinh sau khi làm thí nghiệm
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1 Quy trình thiết kế thí nghiệm sinh học theo hướng phát huy tính tự lực của người học trong chương trình sinh học lớp 6- bậc THCS
Chúng tôi đề xuất quy trình thí kế thí nghiệm Sinh học gồm 6 bước như sau:Bước 1 Xác định mục tiêu thí nghiệm
Xác định mục tiêu của thí nghiệm sẽ giúp GV định hướng cách lựa chọnnguyên vật liệu cũng như cách thức bố trí các bước thí nghiệm Mục tiêu của thínghiệm là cái đích mà HS cần đạt được sau khi thực hiện thí nghiệm Mục tiêu nàyphải phù hợp với chương trình học và nội dung bài học Để thực hiện bước này, cáccâu hỏi cần được đặt ra và trả lời là: Qua thí nghiệm này, HS sẽ học được kiến thứcgì? HS sẽ đạt được những kĩ năng gì? HS sẽ có thái độ như thế nào?
Bước 2 Xác định cơ sở khoa học của thí nghiệm
Dựa trên mục tiêu kiến thức của thí nghiệm mà xây dựng cơ sở khoa học chophù hợp Cơ sở khoa học là những kiến thức có căn cứ khoa học, được chứng minh
là đúng đắn Để xác định cơ sở khoa học cho thí nghiệm, trước tiên cần đặt ra giảthuyết và dự đoán kết quả thí nghiệm Ví dụ: để kiểm chứng các nhân tố ảnh hướngđến sự nảy mầm của hạt, người thiết kế có thể đề ra giả thiết là: sự nảy mầm của hạt
bị ảnh hưởng khi trồng trong các môi trường khác nhau Từ đó đưa ra dự đoán là:Nếu trồng trong môi trường đất với các chất bổ sung khác nhau như đường, muối,
xà phòng thì hạt sẽ không nảy mầm được Giả thiết này cần được kiểm tra qua thínghiệm thiết kế Như vậy sau khi đặt ra dự đoán và giả thiết, người thiết kế cần tìmhiểu cơ sở khoa học của dự đoán được đưa ra
Bước 3 Xác định nguyên vật liệu
Việc lựa chọn nguyên liệu được xác định khi đã biết mục tiêu của thí nghiệmcần hướng đến, vật liệu thí nghiệm sinh học phải đảm bảo các tiêu chí: dễ tìm, rẻtiền, thân thiện môi trường hoặc vật liệu tái sử dụng
Bước 4 Bố trí các bước thí nghiệm
Trang 32Để bố trí thí nghiệm phù hợp với mục tiêu và giả thiết đặt ra, người thiết kếcần phải đề ra các biến số Biến số là một yếu tố có mặt thường xuyên trong thínghiệm Biến số bao gồm 2 loại: Biến độc lập là yếu tố được thay đổi trong thínghiệm; Biến phụ thuộc là yếu tố được dự đoán sẽ thay đổi Chẳng hạn, để kiểmchứng ảnh hưởng của các chất đến sự nảy mầm của hạt, biến độc lập là các chấtđược cho vào như nước, nước đường, nước muối, nước xà phòng; biến phụ thuộc là
số lượng hạt nảy mầm, chiều cao của cây hoặc thời gian để hạt nảy mầm
Sau khi xác định được các biến số của thí nghiệm, người thiết kế cần xây dựngcác công đoạn của thí nghiệm với các nguyên vật liệu nhằm thỏa mãn các biến sốđó
Bước 5 Đề xuất sử dụng thí nghiệm
Đề ra các phương án có thể sử dụng thí nghiệm Đặc biệt là chỉ ra được địa chỉbài học mà thí nghiệm đó có thể sử dụng Một thí nghiệm có thể có nhiều địa chỉ sửdụng khác nhau
Bước 6 Thử nghiệm và cải tiến
Sau khi thiết kế xong thí nghiệm cần thử nghiệm trên thực tế nhiều lần và từ
đó có phương án cải tiến phù hợp nếu chưa hoàn chỉnh
3.2 Kết quả thiết kế các thí nghiệm theo hướng phát huy tính tự lực của người học trong chương trình sinh học lớp 6- bậc THCS.
Dựa vào quy trình thiết kế thí nghiệm đã đề xuất, chúng tôi đã thiết kế được 4thí nghiệm, bao gồm:
- Thí nghiệm: Chứng minh vai trò của cây xanh trong việc chống xói mòn đất
và bảo vệ nguồn nước ngầm
- Thí nghiệm: Chế tạo bình lọc nước từ những vật liệu đơn giản
- Thí nghiệm: Tác hại của thuốc lá
- Thí nghiệm: Những điều kiện ảnh hưởng tới sự nảy mầm của hạt
Trang 333.2.1 Thí nghiệm chứng minh vai trò của cây xanh trong việc chống xói mòn đất và bảo vệ nguồn nước ngầm.
tế cho thấy, nếu nước mưa trực tiếp xối vào mặt đất thì mỗi năm một hecta đất trồnghoa bị xói mòn 20 tấn, đất trồng cỏ bị xói mòn 1 tấn, trong khi đó đất trồng rừng chỉ
bị xói mòn 0,1 tấn Mặt đất trong rừng có nhiều cành và lá cây khô, nước mưa rơixuống mặt đất không thể xối thằng vào đất, cũng không thể chảy nhanh mà ngầmchảy từ từ Ðó là vật cản quan trọng khiến mưa to không gây ra lũ lụt và rất có íchđối với việc bảo vệ đồng ruộng, nhà cửa [9]
Trang 34Hình 3.1 Cách bố trí thí nghiệm chứng minh vai trò của cây xanh trong chống xói
- Sau khi các hạt ở chai 1 nảy mầm và đạt chiều cao cho phép, cho nước vào chai 4
để dòng nước từ chai 4 chảy vào ba chai ở phía dưới Quan sát sự khác nhau của cácthành phần nước chảy xuống ở mỗi chai, so sánh sự khác nhau về thời gian, lượngđất và lượng nước chảy xuống
- Lưu ý các chai được đặt ở vị trí hơi dốc nhằm thuận lợi cho đường nước chảyxuống miệng chai