TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Định hướng đổi mới giáo dục
Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, là kim chỉ nam cho Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 29 – NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 8, BCHTW khóa.
XI Nghị quyết đã chỉ rõ, mục tiêu giáo dục THPT: “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.” [2]
Sau năm 2015, giáo dục Việt Nam đã chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực theo tinh thần Nghị quyết 29 Việc đào tạo giáo viên mới cần tập trung vào rèn luyện và phát triển năng lực để đáp ứng Chuẩn đào tạo Điều này rất quan trọng, vì năng lực của học sinh khó có thể hình thành và phát triển nếu giáo viên chưa có trải nghiệm và rèn luyện về năng lực đó.
Năng lực hợp tác là năng lực cốt lõi cần hình thành cho học sinh
Năng lực hợp tác, theo Phạm Huyền Phương, là khả năng tổ chức và quản lý nhóm tại trường phổ thông, liên quan đến hoạt động hợp tác trong nhóm Năng lực này bao gồm việc thực hiện các hoạt động nhóm một cách thành thạo, linh hoạt và sáng tạo, nhằm giải quyết nhiệm vụ chung một cách hiệu quả.
Năng lực hợp tác là một trong chín năng lực cốt lõi cần thiết cho học sinh, nhưng hiện tại việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực chủ yếu tập trung vào giáo dục phổ thông, trong khi giáo dục đại học, đặc biệt là ngành Sư phạm, chưa được chú trọng Do đó, cần tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện năng lực hợp tác thường xuyên và thiết kế quy trình rèn luyện hiệu quả Bên cạnh đó, việc xây dựng công cụ đánh giá hỗ trợ phát triển năng lực hợp tác cho sinh viên cũng rất quan trọng, giúp phản ánh mức độ đạt chuẩn và cung cấp thông tin kịp thời, khách quan Điều này sẽ là nền tảng vững chắc cho sinh viên trong việc phát triển năng lực dạy học trong quá trình đào tạo và tự đào tạo.
Chương trình học Sư phạm Sinh học phù hợp rèn luyện năng lực hợp tác
Trong ngành Sƣ phạm Sinh học, sinh viên bắt đầu học các môn chuyên ngành từ năm thứ nhất, bao gồm Tế bào học, Hình thái giải phẫu thực vật và Động vật không xương sống, do giảng viên của Khoa phụ trách Môn Tế bào học được giảng dạy bởi cô Trương Thị Thanh Mai, với quy mô lớp học vừa phải, giúp dễ dàng phân nhóm và áp dụng phương pháp hợp tác nhóm, từ đó rèn luyện khả năng hợp tác cho sinh viên.
Chúng tôi đã quyết định tập trung vào sinh viên Sư phạm, đặc biệt là sinh viên Sư phạm Sinh học, để rèn luyện năng lực hợp tác Mục tiêu là tạo cơ hội cho sinh viên trải nghiệm và phát triển năng lực này ngay từ khi còn học trên giảng đường, nhằm phục vụ tốt cho công việc giảng dạy trong tương lai.
Xuất phát từ những lý do cấp thiết, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Rèn luyện năng lực hợp tác của sinh viên ngành Sư phạm Sinh học” nhằm nâng cao kỹ năng làm việc nhóm và khả năng hợp tác trong môi trường giáo dục.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục đích tổng quát
Rèn luyện năng lực học tập (NLHT) cho sinh viên lớp 15SS được thực hiện thông qua bộ tiêu chí đánh giá và quy trình rèn luyện cụ thể Việc tổ chức thực nghiệm dạy học theo hướng rèn luyện NLHT là một phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao khả năng học tập và phát triển toàn diện cho sinh viên.
NLHT trong bài Vận chuyển các chất qua màng và đề xuất đƣợc các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về NLHT, hình thành và bồi dƣỡng NLHT cho sinh viên lớp 15SS trong dạy học
- Phân tích cấu trúc NLHT, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá NLHT và đề xuất quy trình rèn luyện NLHT trong dạy học.
GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng đƣợc quy trình và bộ công cụ rèn luyện năng lực hợp tác cho
SV giúp sinh viên Sư phạm Sinh học và Sư phạm nói chung phát triển năng lực học tập, tạo động lực và đón đầu xu thế giáo dục mới sau năm 2015 Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn góp phần cải thiện chất lượng giáo dục Tài liệu này sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên và giáo viên tại các trường.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC HỢP TÁC
Năng lực hợp tác là một yếu tố quan trọng trong xã hội hiện đại, thể hiện qua sự phát triển của nó trong giáo dục toàn cầu Việc nâng cao năng lực hợp tác trong trường học đã trở thành xu hướng giáo dục phổ biến, được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm và phát triển từ lâu.
Lý thuyết học tập hợp tác đã trở nên phổ biến ở các nước tư bản, đặc biệt là Anh và Mỹ, nơi tiên phong nghiên cứu và phát triển năng lực hợp tác Vào thế kỷ XVIII, Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thực nghiệm và triển khai rộng rãi phương pháp học tập nhóm tại Anh Đến thế kỷ XIX, Fancis Parker ở Massachusetts, Mỹ, nhấn mạnh tầm quan trọng của học tập hợp tác, cho rằng việc học trong môi trường chia sẻ và gắn kết cảm xúc sẽ tạo ra sự hứng thú và không bao giờ khiến người học cảm thấy nhàm chán.
Nghiên cứu của Glasser (1969) và Coleman (1972) đã chỉ ra tầm quan trọng của hợp tác trong giáo dục, với mục tiêu chính của nhà trường là đào tạo học sinh thành những người biết làm việc cùng nhau Qua việc quan sát sự tương tác hợp tác và cạnh tranh trong các trường trung học tại Mỹ, hai nhà nghiên cứu này nhấn mạnh rằng khả năng hợp tác là một kỹ năng thiết yếu cho học sinh.
Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, J Dewey nhấn mạnh rằng để học cách sống chung trong xã hội, học sinh cần trải nghiệm cuộc sống hợp tác ngay từ trong môi trường trường học.
Nghiên cứu về dạy học hợp tác trong trường học đã thu hút nhiều tác giả, nổi bật là Albert Bandura với lý thuyết "Sự làm việc đồng đội" mang tính xã hội, và Palincar cùng Brown với phương pháp dạy lẫn nhau.
Nhiều tác giả, như Slavin (1990), Rosenshine và Meister (1994), cùng với Renkl (1995), đã nghiên cứu và nhấn mạnh vai trò quan trọng của năng lực hợp tác trong cuộc sống.
Gần đây, năng lực hợp tác đã trở thành một chủ đề quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông tại nhiều quốc gia như Đức, Úc và Singapore.
Từ lâu, ông cha ta đã nhận thức rõ ràng rằng việc học hỏi lẫn nhau mang lại hiệu quả cao, điều này được thể hiện qua câu tục ngữ: “Học thầy không tày học bạn”.
Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và hội nhập quốc tế, hợp tác trở thành một yếu tố quan trọng được nhiều tác giả nghiên cứu Các nghiên cứu của Đặng Thành Hưng (2002), Trần Bá Hoành (2006) và Thái Duy Tuyên (2008) đều nhấn mạnh vai trò thiết yếu của hợp tác trong cuộc sống xã hội Việc rèn luyện kỹ năng hợp tác không chỉ cần thiết cho học sinh mà còn góp phần tạo ra thành công trong học tập, nâng cao khả năng tư duy phê phán và thái độ tích cực đối với các môn học Hợp tác cũng giúp phát triển năng lực hợp tác giữa các học sinh, tạo ra môi trường tâm lý lành mạnh, hỗ trợ sự phát triển và hòa nhập xã hội.
Việc phát triển năng lực học tập (NLHT) ở học sinh là một vấn đề quan trọng, dẫn đến nhiều nghiên cứu và biện pháp được đề xuất nhằm cải thiện NLHT Các giải pháp này bao gồm việc sử dụng các chủ đề học tập phong phú và tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Nghiên cứu về các kĩ năng năng lực hợp tác theo nhóm trong dạy học Địa lý đã chỉ ra rằng, các kĩ năng quan trọng bao gồm: tham gia hình thành nhóm hợp tác, giao tiếp trong nhóm, xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau, và giải quyết bất đồng Những kĩ năng này giúp giáo viên trang bị cho học sinh tri thức, sự tự tin và thái độ hợp tác tốt trong hoạt động nhóm Bên cạnh đó, tác giả Phạm Huyền Phương cũng đã phát triển hệ thống kĩ năng và quy trình rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh THPT thông qua các bài học trong chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng.
Việc đánh giá năng lực học tập (NLHT) không thể sử dụng các công cụ thông thường mà cần đến bộ công cụ đánh giá chuyên biệt Trong nghiên cứu của mình, Phan Thị Thanh Hội đã xây dựng bảng tiêu chí đánh giá NLHT và giới thiệu một số công cụ đánh giá cho thấy tính hiệu quả của chúng đối với học sinh THPT.
Nghiên cứu về hợp tác không chỉ dừng lại ở học sinh mà còn mở rộng sang sinh viên, với nhận thức rằng phát triển năng lực hợp tác là rất cần thiết Một ví dụ điển hình là đề tài "Sự cần thiết tổ chức dạy học theo hướng phát triển kĩ năng hợp tác cho sinh viên Đại học Sư phạm".
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh đã chỉ ra rằng kỹ năng học tập hợp tác có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển nghề nghiệp Nghiên cứu của tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác trong quá trình học tập, góp phần nâng cao khả năng nghề nghiệp của cá nhân.
Nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Phương chỉ ra rằng việc tổ chức hoạt động nhóm là một phương pháp hiệu quả để rèn luyện kỹ năng hợp tác cho sinh viên sư phạm, từ đó ảnh hưởng tích cực đến chất lượng giảng dạy và học tập ở trường phổ thông Mặc dù tiến trình rèn luyện kỹ năng hợp tác được đề xuất là một điểm mạnh, nhưng việc đánh giá năng lực của sinh viên chỉ qua một lần rèn luyện vẫn là một hạn chế cần lưu ý.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Từ lâu, năng lực đã là đối tượng nghiên cứu của con người Khái niệm
“năng lực” đã đƣợc nhiều tác giả phát biểu
Theo P.A Rudich, năng lực là yếu tố tâm sinh lý quyết định khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng và hiệu quả thực hiện các hoạt động cụ thể Trong khi đó, De Ketele (1995) định nghĩa năng lực là tập hợp có trật tự các kỹ năng tác động lên nội dung trong một tình huống nhất định, nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh từ tình huống đó.
Xavier Roegiers (1996) định nghĩa năng lực là một vấn đề tích hợp, bao gồm nội dung, hoạt động cần thực hiện và các tình huống diễn ra hoạt động Trong khi đó, John Erpenbeck cho rằng năng lực được xây dựng trên nền tảng tri thức, thể hiện như khả năng, được quy định bởi giá trị, được củng cố qua kinh nghiệm và hiện thực hóa qua ý chí.
Năng lực, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, được định nghĩa là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo trong việc thực hiện các hoạt động nhất định Trong tâm lý học, năng lực được coi là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động cụ thể, đảm bảo rằng hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn Năng lực chính là khả năng thực hiện một hoạt động nhất định của con người.
Theo Weinert (2001), năng lực được định nghĩa là khả năng và kỹ năng của cá nhân để giải quyết các tình huống cụ thể, bao gồm động cơ và sự sẵn sàng xã hội Năng lực cũng liên quan đến khả năng áp dụng các giải pháp một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, năng lực được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, năng lực là khả năng tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động, được thể hiện qua sự thành thạo các kỹ năng của người học Thứ hai, năng lực là phẩm chất tâm sinh lý giúp con người hoàn thành các hoạt động với chất lượng cao, đồng thời là tiềm năng của người học để giải quyết các tình huống thực tế trong cuộc sống.
Theo quan điểm của chúng tôi, năng lực sinh viên được định nghĩa là khả năng sử dụng kiến thức và kỹ năng hiện có để giải quyết các vấn đề hoặc bài tập trong những tình huống cụ thể Qua đó, sinh viên có thể tiếp thu thêm tri thức và kỹ năng mới, cũng như củng cố và phát triển những kỹ năng đã có.
Dù cách diễn đạt có khác nhau, tất cả đều nhấn mạnh rằng năng lực liên quan đến khả năng thực hiện và sự hiểu biết về cách làm (know-how).
Theo từ điển Tiếng Việt, hợp tác có nghĩa là “chung sức, giúp đỡ qua lại với nhau” [20]
Theo tác giả Nguyễn Lân, hợp tác được hiểu là quá trình làm việc chung giữa hai hoặc nhiều cá nhân Điều này có nghĩa là các thành viên trong nhóm sẽ đảm nhận những vai trò khác nhau và phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành một nhiệm vụ chung.
Năng lực hợp tác (NLHT) là khả năng tương tác của cá nhân với người khác và tập thể trong học tập cũng như cuộc sống NLHT thể hiện hiệu quả làm việc của cá nhân trong mối quan hệ tập thể, nhằm hỗ trợ lẫn nhau hướng tới mục tiêu chung Đây là một năng lực thiết yếu trong xã hội hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
NLHT là khả năng tổ chức và quản lý nhóm, cho phép thực hiện các hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt và sáng tạo để giải quyết nhiệm vụ chung hiệu quả.
NLHT là một năng lực cho phép cá nhân kết hợp linh hoạt giữa tri thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để tham gia hiệu quả vào hoạt động hợp tác Mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác và trách nhiệm cao, đồng thời huy động tri thức và kỹ năng của bản thân để giải quyết các yêu cầu trong bối cảnh cụ thể.
NLHT đƣợc thể hiện ở một số khía cạnh sau: [4]
Khi được giao nhiệm vụ, hãy chủ động đề xuất mục đích hợp tác để tối ưu hóa hiệu quả công việc Xác định loại công việc nào có thể thực hiện tốt nhất thông qua sự hợp tác nhóm với quy mô phù hợp sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng kết quả.
Trong một nhóm, việc hiểu rõ trách nhiệm và vai trò của bản thân theo công việc cụ thể là rất quan trọng Cần phân tích nhiệm vụ chung của cả nhóm để xác định các hoạt động cần thực hiện Từ đó, mỗi thành viên nên tự đánh giá khả năng của mình để đề xuất công việc mà mình có thể đảm nhiệm tốt nhất cho nhóm.
Nhận diện đặc điểm và khả năng của từng thành viên trong nhóm là rất quan trọng để đánh giá kết quả làm việc nhóm Dựa vào những thông tin này, chúng ta có thể dự kiến phân công công việc phù hợp cho từng thành viên, nhằm tối ưu hóa hiệu suất và sự hợp tác trong nhóm.
Chủ động và gương mẫu trong việc hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời tích cực góp ý và điều chỉnh để thúc đẩy hoạt động chung Hơn nữa, cần chia sẻ và khiêm tốn học hỏi từ các thành viên trong nhóm.
- Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm; nêu mặt đƣợc, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Rèn luyện NLHT trên 37 sinh viên lớp 15SS ngành
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học rèn luyện NLHT cho sinh viên ngành Sƣ phạm Sinh học.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận của năng lực hợp tác và quy trình hình thành, phát triển năng lực cho người học
- Phân tích cấu trúc của năng lực hợp tác của sinh viên ngành Sƣ phạm Sinh học
- Thiết kế hệ thống tiêu chí đánh giá và công cụ đánh giá kết quả rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên Sƣ phạm Sinh học
- Xây dựng quy trình và công cụ rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên Sƣ phạm Sinh học
- Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm nhằm hình thành và phát triển NLHT đối với sinh viên ngành Sƣ phạm Sinh học.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tài liệu liên quan là bước quan trọng để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, bao gồm các chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục Cần tham khảo các tài liệu giáo dục học, phương pháp dạy - học, sinh học, logic học, cũng như các phương pháp rèn luyện và đánh giá năng lực hợp tác Những nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc và nền tảng vững chắc cho việc phát triển năng lực giáo dục.
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Điều tra bằng cách sử dụng bảng hỏi, phiếu khảo sát, dự giờ và quan sát các nhóm hoạt động hợp tác của sinh viên trong giờ học nhằm tìm thu thập thêm thông tin cần thiết làm sáng tỏ kết quả nghiên cứu
2.3.3 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
- Xin ý kiến của các chuyên gia về cơ sở khoa học, phương pháp nghiên cứu và cách thức rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên
Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên hướng dẫn và giáo viên thực nghiệm là cách hiệu quả để rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh Qua việc hợp tác nhóm, học sinh có thể hoàn thành các nhiệm vụ như vẽ sơ đồ tư duy và thực hành thí nghiệm, từ đó nâng cao kỹ năng làm việc nhóm và phát triển tư duy sáng tạo.
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tổ chức giới thiệu về năng lực hợp tác cho sinh viên, giao nhiệm vụ cho sinh viên lớp 15SS thuộc trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Tổ chức thảo luận nhóm cho sinh viên giúp họ tự xây dựng quy trình và phương pháp hợp tác, đồng thời đánh giá hiệu quả rèn luyện trước khi có quy trình chính thức.
Tổ chức hoạt động nhóm cho sinh viên nhằm hoàn thành nhiệm vụ tiếp theo, đồng thời đánh giá và phân tích chất lượng rèn luyện lần hai Qua đó, xác định hiệu quả của việc rèn luyện năng lực hợp tác sau khi áp dụng qui trình rèn luyện cụ thể.
Dựa trên số liệu điều tra, kết quả thực nghiệm và ý kiến của sinh viên sau trải nghiệm, bài viết sẽ so sánh giữa lần rèn luyện 1 và lần rèn luyện 2 Qua phân tích và tổng hợp, chúng tôi sẽ rút ra kết luận nhằm báo cáo và đưa ra nhận định về vấn đề nghiên cứu.
2.3.5 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu trong khoa học giáo dục bằng phương pháp thống kê toán học thông qua phần mềm Excel 2010 Bài viết áp dụng các công thức toán học để phân tích định tính và định lượng các kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
PHÂN TÍCH CẤU TRÚC NĂNG LỰC HỢP TÁC
Để phát triển năng lực hợp tác (NLHT) cho sinh viên, cần xác định cấu trúc của NLHT, bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ hợp tác.
Hình 3.1: Cấu trúc năng lực hợp tác
Kiến thức hợp tác bao gồm việc hiểu rõ khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hợp tác Nó cũng liên quan đến việc phân tích quy trình và các hình thức hợp tác khác nhau Bên cạnh đó, việc trình bày các cách tạo nhóm, kỹ thuật hoạt động nhóm và vai trò của từng thành viên trong nhóm là rất quan trọng để đảm bảo sự hiệu quả trong hợp tác.
Kỹ năng hợp tác là thành tố quan trọng nhất của năng lực hợp tác (NLHT) Nghiên cứu này tập trung vào việc rèn luyện các kỹ năng hợp tác, giúp sinh viên hiểu sâu hơn về kiến thức và thái độ tích cực trong quá trình hợp tác Dựa trên các nghiên cứu trước đây của tác giả Phạm Huyền Phương, chúng tôi xác định năng lực hợp tác bao gồm 9 kỹ năng thành phần, được phân thành 3 nhóm cơ bản: (1) Nhóm kỹ năng tổ chức và quản lý; (2) Nhóm kỹ năng hoạt động; (3) Nhóm kỹ năng đánh giá.
Nhóm 1: Kĩ năng tổ chức và quản lý của NLHT
+ Kĩ năng tổ chức nhóm hợp tác
+ KN lập kế hoạch hợp tác
+ KN tạo môi trường hợp tác
+ KN giải quyết mâu thuẫn
Nhóm 2: KN hoạt động của NLHT
+ KN lắng nghe và phản hồi
Nhóm 3: KN đánh giá của NLHT
+ KN đánh giá lẫn nhau
+ Tích cực hoạt động nhóm: Các thành viên trong nhóm tích cực tham gia hoạt động nhóm và động viên nhau cùng tham gia
Các thành viên trong nhóm cần đồng lòng và hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ chung, thể hiện trách nhiệm đối với sự thành công của toàn đội.
+ Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau: Các thành viên trong nhóm tôn trọng, chia sẻ, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.
QUY TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO SINH VIÊN NGÀNH SƢ PHẠM SINH HỌC
Bộ tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác (NLHT) của sinh viên được xây dựng dựa trên hai phương pháp chính: phương pháp chuyên gia và phương pháp thực nghiệm sư phạm Phương pháp chuyên gia được áp dụng để thu thập ý kiến từ các nhà nghiên cứu và giảng viên có kinh nghiệm, nhằm xác định khái niệm và các kỹ năng thành phần của NLHT Sau khi hoàn thiện, bộ tiêu chí sẽ được thực nghiệm sư phạm để phân tích và điều chỉnh các thông số định lượng liên quan, từ đó nâng cao chất lượng đánh giá.
Quy trình xây dựng bộ tiêu chí đánh giá NLHT của SV gồm 6 bước được mô tả trong hình 3.2
Hình 3.2 Quy trình xây dựng bộ tiêu chí đánh giá NLHT
Năng lực hợp tác (NLHT) được định nghĩa là khả năng của tất cả thành viên trong nhóm thể hiện sự tích cực và tự giác trong hoạt động NLHT bao gồm việc kết hợp linh hoạt các kiến thức, kỹ năng và thái độ hợp tác nhằm tương tác hiệu quả giữa các thành viên, cũng như giữa thành viên và nhóm, để giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống.
- Bước 2: Xác định các tiêu chí thực hiện của NLHT
NLHT là một phức hợp bao gồm nhiều kĩ năng khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực Sinh học, có thể chia thành 3 nhóm kĩ năng chính: (1) Nhóm kĩ năng tổ chức và quản lý, (2) Nhóm kĩ năng hoạt động, và (3) Nhóm kĩ năng đánh giá Mỗi nhóm kĩ năng này có thể được phân chia thành nhiều kĩ năng riêng lẻ, dẫn đến tổng cộng 9 kĩ năng thành phần Để đánh giá chính xác mức độ đạt được của NLHT, cần xác định các tiêu chí thực hiện cho từng kĩ năng, tương ứng với nhiệm vụ cụ thể mà sinh viên hướng tới trong quá trình rèn luyện Số lượng tiêu chí thực hiện cho mỗi kĩ năng dao động từ 3-7, nhưng không nên quá nhiều để tránh việc sao nhãng trong quá trình rèn luyện.
Bảng 3.1 Hệ thống tiêu chí thực hiện các kĩ năng thành phần của năng lực hợp tác
1 KN tổ chức nhóm hợp tác
1.1 Biết cách di chuyển, tập hợp nhóm
1.2 Biết phân công và xác định đúng nhiệm vụ 1.3 Hoàn thành nhiệm vụ đƣợc phân công 1.4 Tập trung chú ý
1.5 Xác định đƣợc cách thức tiến hành hợp tác
2 KN lập kế hoạch hợp tác
2.1 Xác định đƣợc các công việc cụ thể theo trình tự và thời gian để hoàn thành các công việc đó
2.2 Tự đánh giá đƣợc ƣu điểm và hạn chế của bản thân
3 KN tạo môi trường hợp tác
3.1 Có thái độ hợp tác 3.2 Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau 3.3 Tranh luận ôn hòa
4 KN giải quyết mâu thuẫn
4.1 Biết kiềm chế bản thân
4.2 Phát hiện và giải quyết đƣợc mâu thuẫn
5.1 Trình bày đƣợc ý kiến/ báo cáo của nhóm
5.2 Biết bảo vệ ý kiến của mình
6 KN lắng nghe và phản hồi
6.2 Phản hồi tích cực khi không đồng tình
7 KN viết báo cáo 7 Tổng hợp, lựa chọn và sắp xếp đƣợc ý kiến của các thành viên trong nhóm
8 KN tự đánh giá 8 Có khả năng tự đánh giá quá trình hợp tác của bản thân
9 KN đánh giá lẫn nhau
9 Biết đánh giá bạn khác trong nhóm, các nhóm khác trong lớp
- Bước 3 Mô tả chỉ số hành vi của các kĩ năng
Mỗi tiêu chí thực hiện phải tương ứng với các chỉ số hành vi của tiêu chí bậc 1 Việc viết các tiêu chí cần đảm bảo rõ ràng, cô đọng và dễ hiểu, tránh sử dụng thuật ngữ chuyên ngành hay từ địa phương, đồng thời các viết tắt phải được giải thích cụ thể Tiêu chí thường bắt đầu bằng động từ, ví dụ như "Xây dựng tiêu chí đánh giá các kỹ năng của năng lực hợp tác."
Để xây dựng tiêu chí đánh giá các kỹ năng trong năng lực hợp tác, chúng tôi không chỉ xác định các chỉ số hành vi mà còn thiết kế phần “chỉ dẫn” nhằm cung cấp kiến thức về yêu cầu sư phạm và thao tác của kỹ năng Điều này giúp sinh viên định hướng tốt hơn trong việc thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học, đảm bảo đạt được yêu cầu của kỹ năng.
Bảng 3.2 Hệ thống tiêu chí đánh giá các kĩ năng thành phần của năng lực hợp tác
Kĩ năng Tiêu chí Yêu cầu đạt đƣợc
1 KN tổ chức nhóm hợp tác
1.1 Biết cách di chuyển, tập hợp nhóm
Di chuyển một cách trật tự, nhanh nhẹn, tập hợp đúng nhóm theo yêu cầu, thời gian dưới 1 phút
1.2 Biết phân công và xác định đúng nhiệm vụ Xác định đúng nhiệm vụ và công việc cụ thể của từng cá nhân
1.3 Hoàn thành nhiệm vụ đƣợc phân công
Thực hiện có hiệu quả các hoạt động để hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc phân công
1.4 Tập trung chú ý Tập trung ở nhóm trong suốt quá trình làm việc, chú ý vào công việc của bản thân và nhóm, không xao nhãng
1.5 Xác định đƣợc cách thức tiến hành hợp tác Xác định đƣợc cách thức hợp tác phù hợp để giải quyết nhiệm vụ
2 KN lập kế hoạch hợp tác
2.1 Xác định đƣợc các công việc cụ thể theo trình tự và thời gian để hoàn thành các công việc đó
Các công việc nhóm cần được thực hiện theo trình tự hợp lý và trong khoảng thời gian nhất định, nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả.
2.2 Tự đánh giá đƣợc ƣu điểm, hạn chế của bản thân, bạn khác
Tự đánh giá năng lực bản thân và đánh giá năng lực từng thành viên trong nhóm là rất quan trọng Điều này giúp phân công nhiệm vụ một cách hợp lý, phù hợp với khả năng của mỗi người, đồng thời cũng cho phép cá nhân chủ động nhận nhiệm vụ phù hợp với năng lực của mình.
3 KN tạo môi trường hợp tác
3.1 Đánh giá đƣợc khả năng của các thành viên trong nhóm từ đó phân công hoặc tiếp nhận nhiệm vụ phù hợp
Tôn trọng, lắng nghe và bày tỏ sự ủng hộ Gợi mở, kích thích các thành viên khác tham gia hoạt động nhóm
3.2 Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau Chia sẻ tài liệu, thông tin cho người khác, giúp đỡ bạn tạo sự thành công cho nhóm để hoàn thành nhiệm vụ
3.3 Tranh luận ôn hòa Tranh luận đúng vào nội dung cần giải quyết, không hướng vào đả kích cá nhân người trình bày với thái độ nhẹ nhàng, không chỉ trích, xúc phạm người khác Chấp nhận ý kiến trái ngược nếu ý kiến đó là đúng
4 KN giải quyết mâu thuẫn
4.1 Biết kiềm chế bản thân Luôn bình tĩnh, kiềm chế đƣợc sự bực tức, nóng nảy Linh hoạt, sẵn sàng có thiện chí thỏa hiệp
4.2 Phát hiện và giải quyết đƣợc mâu thuẫn
Phát hiện, điều chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ lệch với chủ đề
5.1 Trình bày đƣợc ý kiến/ báo cáo của nhóm
Trình bày ý tưởng và báo cáo của nhóm một cách ngắn gọn, mạch lạc và dễ hiểu là rất quan trọng, đồng thời nên kết hợp ngôn ngữ cử chỉ và nét mặt để tăng hiệu quả thuyết phục Ngoài ra, cần biết bảo vệ ý kiến của mình bằng cách đưa ra những giải thích và lí lẽ chứng minh quan điểm một cách ôn hòa, tránh sự gay gắt.
6 KN lắng nghe và phản hồi
6.1 Biết lắng nghe Lắng nghe, hiểu và ghi lại, diễn đạt lại ý kiến của người khác, không ngắt ngang lời người khác
6.2 Phản hồi tích cực khi không đồng tình Thể hiện ý kiến không đồng tình một cách lịch sự, nhã nhặn Khéo léo đặt câu hỏi để làm rõ hoặc góp ý cho người khác
Tổng hợp, lựa chọn và sắp xếp đƣợc ý kiến của các thành viên trong nhóm
Tổng hợp ý kiến từ các thành viên trong nhóm, lựa chọn từ ngữ và cách trình bày phù hợp, sắp xếp thông tin thành một hệ thống rõ ràng để báo cáo trước lớp.
Có khả năng tự đánh giá quá trình hợp tác của bản thân và đưa ra những nhận định chính xác, khách quan về kết quả đạt được Qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho bản thân.
9 KN đánh giá lẫn nhau
Đánh giá khách quan và công bằng kết quả của các thành viên trong nhóm và các nhóm khác trong lớp là rất quan trọng Việc này không chỉ giúp nhận diện được điểm mạnh và điểm yếu mà còn rút ra bài học kinh nghiệm quý giá cho bản thân.
- Bước 4: Xây dựng tiêu chí chất lượng (Quality criteria)
Việc xác định tiêu chí chất lượng là cần thiết để phân biệt mức độ khác nhau trong hành động và thao tác thực hiện kỹ năng Các chỉ số hành vi được tiêu chí hóa theo thang phát triển tăng dần, dựa trên phân tích từ các thang phát triển của các tác giả như Dave và Dreyfus.
D W Allen, James H.Stronge và một số tác giả khác; kết hợp phân tích tình hình thực tiễn rèn luyện NLHT của SV, chúng tôi đề xuất thang đo gồm 3 mức độ, mỗi mức độ được quy đổi sang thang điểm số tương ứng
Thang đo và điểm quy đổi đƣợc qui định nhƣ sau:
Bảng 3.3 Thang đo và điểm quy đổi
Mức độ 3 – Thường xuyên 2 – Thỉnh thoảng 1 – Hiếm khi Điểm 3 điểm 2 điểm 1 điểm
Từ hệ thống tiêu chí thực hiện, chỉ số hành vi và thang đo nói trên, chúng tôi thiết kế các rubric đánh giá NLHT
Ví dụ: Rubric đánh giá kĩ năng tổ chức nhóm hợp tác (mô tả cụ thể cho tiêu chí 1.1 Biết cách di chuyển, tập hợp nhóm)
Bảng 3.4 Rubric đánh giá kĩ năng tổ chức nhóm hợp tác
Tiêu chí Mức độ Chỉ số hành vi
1.1 Biết cách di chuyển, tập hợp nhóm
3 Di chuyển một cách trật tự, nhanh nhẹn, tập hợp đúng nhóm theo yêu cầu, thời gian dưới 1 phút
2 Di chuyển một cách trật tự, còn khó khăn trong việc xác định đúng nhóm theo yêu cầu
1 Di chuyển lộn xộn, mất nhiều thời gian, chƣa xác định đúng nhóm theo yêu cầu
QUI TRÌNH RÈN LUYỆN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO SINH VIÊN NGÀNH SƢ PHẠM SINH HỌC
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và tham khảo nhiều tài liệu để xây dựng quy trình rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên ngành Sư phạm Sinh học.
Hình 3.4 Quy trình rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học
Bước 1: Giới thiệu khái quát về năng lực hợp tác
Mục đích của bài viết này là giới thiệu khái quát về Năng lực Hợp tác (NLHT), nhằm cung cấp cho sinh viên (SV) những kiến thức sơ bộ ban đầu Qua đó, tạo ra sự hứng thú trong việc học tập và hợp tác, giúp SV có thể chủ động và tự giác hơn trong quá trình làm việc nhóm.
Hoạt động của GV: Giới thiệu về NLHT, vai trò của NLHT
Hoạt động của sinh viên:
- Lắng nghe GV giới thiệu về NLHT
- Thảo luận những nội dung liên quan đến hợp tác và NLHT
Bước 2: Sinh viên trải nghiệm hợp tác nhóm
Mục đích của việc học tập là giúp sinh viên trải nghiệm và rèn luyện năng lực hợp tác, từ đó lĩnh hội kiến thức bài học một cách hiệu quả Qua đó, sinh viên sẽ phát triển các kỹ năng quan trọng như tổ chức nhóm, lập kế hoạch, tạo dựng môi trường hợp tác và giải quyết mâu thuẫn.
Giáo viên phân tích nội dung bài học và xác định các đơn vị kiến thức có thể phát triển thành công cụ hợp tác cho sinh viên, bao gồm các câu hỏi, bài tập và tình huống Sau đó, giáo viên giao nhiệm vụ cho sinh viên để thực hiện hoạt động nhóm hiệu quả.
Hoạt động của sinh viên:
Sinh viên cần tổ chức thành các nhóm hợp tác để lên kế hoạch cho các hoạt động, thực hiện nhiệm vụ chung, thảo luận với nhau và giữa các nhóm khác, từ đó rút ra kết luận và tiến hành đánh giá kết quả.
- Trải nghiệm hợp tác nhóm
Bước 3: Sinh viên xây dựng quy trình và cách thức thực hiện quá trình hợp tác từ trải nghiệm
Mục đích của bài viết này là giúp sinh viên rút ra bài học từ trải nghiệm trước, xây dựng quy trình hợp tác nhóm hiệu quả, và hiểu rõ ý nghĩa cũng như thao tác của từng bước trong quy trình nhằm nâng cao năng lực hợp tác.
- Hướng dẫn SV rút ra các bước của quy trình hợp tác qua trải nghiệm
- Chuẩn hóa các bước trong quy trình hợp tác mà SV đưa ra (nếu cần)
Hoạt động của SV: Rút ra quy trình hợp tác, gồm 4 bước sau:
+ Bước 1: Tổ chức nhóm hợp tác
+ Bước 2: Hoạt động trong nhóm nhỏ (bao gồm: lên kế hoạch hoạt động; thực hiện nhiệm vụ)
+ Bước 3: Hoạt động trong nhóm lớn (bao gồm: đại diện các nhóm báo cáo; các nhóm nhận xét, bổ sung; rút ra kết luận)
Bước 4: Sinh viên tiếp tục rèn luyện theo qui trình hợp tác
Mục đích của việc rèn luyện năng lực hành thao là giúp sinh viên hoàn thiện các thao tác còn thiếu sót, thông qua quy trình đã được thiết lập, dưới sự hướng dẫn và điều chỉnh của giáo viên.
- Đƣa ra các công cụ rèn luyện NLHT cho SV
- Đánh giá NLHT của SV theo tiêu chí sau mỗi lần SV hoạt động
Hoạt động của SV: Thực hiện hợp tác theo quy trình 4 bước đã xây dựng
Bước 5: Đánh giá việc rèn luyện năng lực hợp tác và rút kinh nghiệm
Mục đích của việc đánh giá rèn luyện các kỹ năng hợp tác giữa giáo viên và sinh viên là nhằm cung cấp phản hồi thông tin, giúp điều chỉnh các thao tác và cho sinh viên thấy sự tiến bộ của bản thân Điều này không chỉ tạo động lực thúc đẩy việc học mà còn nâng cao quá trình rèn luyện các kỹ năng cần thiết.
Hoạt động của GV – SV:
- GV và SV cùng đánh giá lại quá trình rèn luyện NLHT, phân tích điểm đạt đƣợc và chƣa đạt đƣợc trong quá trình rèn luyện
- Rút kinh nghiệm cho việc rèn luyện các NL khác.
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
- Đánh giá hiệu quả của việc rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên ngành
Nghiên cứu tính khả thi của việc rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên Sư phạm Sinh học trong bài học về Vận chuyển các chất qua màng, thuộc học phần Tế bào học, là cần thiết để nâng cao hiệu quả giảng dạy Việc áp dụng phương pháp học tập hợp tác không chỉ giúp sinh viên phát triển kỹ năng làm việc nhóm mà còn tăng cường khả năng hiểu biết về các khái niệm sinh học phức tạp Thông qua việc thực hiện các hoạt động nhóm, sinh viên sẽ có cơ hội trao đổi ý tưởng và kiến thức, từ đó củng cố khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề trong lĩnh vực sinh học.
Chúng tôi đã chọn lớp thực nghiệm 15SS để đánh giá quá trình rèn luyện năng lực hợp tác từ giai đoạn chưa có kiến thức đến khi thực hiện rèn luyện lần 1 và lần 2, thông qua bài học về Vận chuyển các chất qua màng trong học phần Tế bào học với hai nhiệm vụ cụ thể.
TN lần 1: Nghiên cứu lý thuyết bài Vận chuyển các chất qua màng và vẽ sơ đồ tƣ duy
TN lần 2: Tiến hành thí nghiệm kiểm định lý thuyết bài Vận chuyển các chất qua màng
Cây đậu xanh có hai lá thật và hệ rễ còn nguyên, đã được rửa sạch Bạn cũng có thể sử dụng cây hành lá với hệ rễ nguyên vẹn để thực hiện thí nghiệm.
- Cốc đựng dung dịch xanh Methylene (dung dịch C 16 H 18 N 3 SCl – Một chất độc cho tế bào thực vật)
Cho cây đậu xanh vào cốc chứa dung dịch xanh Methylene để quan sát hiện tượng a Dung dịch bên ngoài tế bào rễ cây đậu xanh là dung dịch Nhược trương b Sự chuyển động của H2O vào tế bào được thể hiện bằng mũi tên liền (), trong khi sự chuyển động thẩm thấu của nước, nếu có, được chỉ bằng mũi tên gạch nối ( ->) Kết quả này do sự chênh lệch nồng độ giữa dung dịch bên ngoài và bên trong tế bào c Tế bào rễ cây đậu xanh sẽ trương nước d Tiến hành thí nghiệm để xác định kết quả chính xác và giải thích sự thay đổi trạng thái tế bào e Nếu đưa cây đậu xanh đã thí nghiệm vào bình nước, quan sát sự chuyển động của H2O vào tế bào () và sự thẩm thấu nước ( >) để kiểm chứng kết quả và giải thích hiện tượng quan sát được.
Trong năm học 2015 - 2016, chúng tôi đã tổ chức thực nghiệm rèn luyện năng lực học tập cho 37 sinh viên lớp 15SS thuộc khoa Sinh – Môi trường, trường ĐHSP - ĐHĐN Hoạt động này được thực hiện trong quá trình giảng dạy bài "Vận chuyển các chất qua màng" trong học phần Tế bào học theo quy trình đã được đề ra.
Kết quả phỏng vấn điều tra cho thấy 100% sinh viên lớp 15SS ngành Sư phạm Sinh học tại trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đã trải nghiệm phương pháp thảo luận nhóm hoặc dạy học dự án Đặc biệt, 86,5% sinh viên bày tỏ sự hứng thú hơn khi học theo các phương pháp này, nhờ vào khả năng phát triển tư duy và sáng tạo mà chúng mang lại.
Khi được khảo sát về hiểu biết về NLHT, 24,3% sinh viên (SV) có khái niệm gần đúng, 16,2% hiểu rõ vai trò của NLHT, 51,4% nắm vững một số kỹ năng hợp tác, và 8,1% có kiến thức khác liên quan đến NLHT như kỹ thuật hợp tác nhóm Điều này cho thấy sinh viên đã có sự tìm hiểu về lý thuyết NLHT và nhận thức được vai trò quan trọng cũng như các kỹ năng hợp tác cần thiết.
Hình 3.5 Mức độ hiểu biết về NLHT của sinh viên ngành Sư phạm Sinh học
Trong thực nghiệm lần 1, chúng tôi nghiên cứu lý thuyết về vận chuyển các chất qua màng và vẽ sơ đồ tư duy Dù giáo viên đã giới thiệu khái quát về hợp tác và năng lực hợp tác, chia nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể, chỉ có 4 nhóm hoàn thành đúng hạn và yêu cầu, trong khi 2 nhóm còn lại nộp trễ với chất lượng sản phẩm chưa đạt Nguyên nhân chính là do một số thành viên thiếu ý thức hợp tác, lơ là trong quá trình làm việc và mâu thuẫn ý kiến Điều này cho thấy, sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc hợp tác nhóm do chưa có quy trình hợp tác cụ thể.
Hình 3.6: Sản phẩm sơ đồ tư duy của sinh viên lớp 15SS – Sư phạm Sinh học (Kết quả lần thực nghiệm 1)
Qua lần thực nghiệm 1, sinh viên đã rút ra những kinh nghiệm quý báu để cải thiện khả năng hợp tác nhóm trong tương lai Một số ý chính bao gồm việc giao tiếp hiệu quả, phân chia công việc hợp lý và tôn trọng ý kiến của các thành viên khác Những yếu tố này sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu suất của các dự án nhóm tiếp theo.
SV Nguyễn Thị Hoài Phương cho rằng cần phân chia nhóm với số lượng hợp lý từ 3-4 sinh viên mỗi nhóm Cùng quan điểm, SV Phan Thị Như Thơ và Nguyễn Thị Phượng cũng đề xuất số lượng thành viên chỉ nên từ 4-5 sinh viên mỗi nhóm.
- SV Võ Đặng Cẩm Nhung rút đƣợc kinh nghiệm cần phân chia thành viên đồng đều, không quá giỏi hoặc quá kém
- SV Phan Thị Nhƣ Thơ đề xuất: Ngoài nhóm trưởng, cần phân công 1 bạn làm thư ký để ghi chép lại các ý kiến của các thành viên trong nhóm
SV Phan Thị Như Thơ đã rút ra kinh nghiệm rằng sau khi nhận nhiệm vụ từ giáo viên, nhóm cần xác định rõ nội dung và vấn đề trọng tâm mà mình sẽ thực hiện.
SV Nguyễn Thị Phượng nhận thấy rằng việc phân công công việc cụ thể giữa các thành viên trong nhóm là rất quan trọng Mỗi nhóm cần có bảng phân công công việc rõ ràng, được tất cả các thành viên đồng ý và ký xác nhận để đảm bảo sự đồng thuận và trách nhiệm trong công việc.
Khoảng 70% sinh viên nhận thấy rằng để nhóm phát triển hiệu quả, tất cả các thành viên cần tích cực đóng góp ý kiến và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Việc này giúp nhóm đạt được sự thống nhất chung và tối ưu hóa hiệu suất làm việc.
Dưới sự hướng dẫn của GV, SV sẽ rút ra được các bước của quy trình hợp tác gồm 4 bước
Hình 3.7 Quy trình hợp tác nhóm
Bước 1: Tổ chức nhóm hợp tác a) Ổn định tổ chức nhóm
- SV di chuyển vào các nhóm 6 - 7 SV ngồi gần nhau
- Phân công nhóm trưởng, thư kí, còn lại là các thành viên b) Nhận nhiệm vụ, lựa chọn hình thức hợp tác
- Nhóm nhận nhiệm vụ từ GV: Nghiên cứu lý thuyết bài Vận chuyển các chất qua màng và vẽ sơ đồ tƣ duy
- Thời gian làm việc: 50 phút c) Lập kế hoạch hợp tác
- Liệt kê các công việc cần làm:
+ Chọn kiến thức trọng tâm, đặt làm trung tâm của sơ đồ tƣ duy
+ Chia mỗi SV nghiên cứu một phần, vẽ từng nhánh của sơ đồ tƣ duy
+ Thống nhất kết quả của nhiệm vụ
+ Tiến hành vẽ sơ đồ tƣ duy
- Phân công công việc cho mỗi thành viên trong nhóm, ghi vào phiếu phân công nhiệm vụ
PHIẾU PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ Nhóm: ………
Phân công nhiệm vụ trong nhóm
Nhiệm vụ Phương tiện Thời gian hoàn thành
Bước 2: Hoạt động trong nhóm nhỏ a) Cá nhân hình thành ý tưởng và làm việc
- Tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề, xác định nhiệm vụ cần giải quyết
- Vẽ và trình bày sơ đồ tƣ duy vào giấy A0 b) Thảo luận
- Nhóm trưởng điều hành nhóm, các thành viên đóng góp ý kiến về cách giải quyết nhiệm vụ
- Các thành viên còn lại lắng nghe và đƣa ra ý kiến nhận xét của mình, bổ sung ý kiến
- Thƣ kí ghi chép, tổng hợp ý kiến các bạn ra giấy c) Thống nhất ý kiến
- Cả nhóm trao đổi, thống nhất ý kiến chung cho nhiệm vụ của nhóm
Bước 3: Hoạt động trong nhóm lớn a) Đại diện nhóm báo cáo
- Các nhóm dán sản phẩm lên bảng (Giấy A0)
- Nhóm trưởng cử đại diện lên trình bày kết quả của nhóm mình b) Nhóm khác nhận xét
- Các nhóm khác lắng nghe, so sánh với kết quả nhóm mình để nhận xét, bổ sung, có thể phát vấn để làm rõ vấn đề
- Nhóm báo cáo có nhiệm vụ giải thích những thắc mắc của các bạn, đƣa ra lí lẽ, giải thích cho sản phẩm của nhóm mình c) Tổng kết
Cả lớp thống nhất đáp án cuối cùng hoặc GV thống nhất
- SV tự đánh giá và đánh giá các bạn trong nhóm bằng cách ghi thông tin đánh giá vào phiếu đánh giá, phiếu hỏi, bảng kiểm
- Các nhóm tự đánh giá và đánh giá nhóm khác bằng cách ghi thông tin đánh giá vào bảng kiểm
- Công bố các thông tin đánh giá (về kiến thức bài học, thái độ, KN hợp tác) của nhóm mình và các nhóm khác
- GV nhận xét và đánh giá SV thông qua kết quả quan sát SV tự rút kinh nghiệm
- GV tiến hành cho SV thảo luận để thấy đƣợc tính logic của quy trình, hiểu rõ các thao tác và ý nghĩa của từng bước trong quy trình
Quá trình thực nghiệm 2 cho thấy quy trình hợp tác giữa các sinh viên đã mang lại kết quả tích cực, với sự tham gia tích cực và nỗ lực đồng lòng của mỗi thành viên Điều này đã dẫn đến sự thống nhất chung và cải thiện hiệu quả bài tập đáng kể so với trước Các sinh viên thực hiện hợp tác nhóm một cách có tổ chức và logic, khắc phục nhiều hạn chế từ lần thực nghiệm 1 Tất cả các nhóm đều hoàn thành nhiệm vụ đúng hạn với chất lượng đạt yêu cầu Qua bảng hỏi, chúng tôi đã ghi nhận những cảm nhận tích cực của sinh viên lớp 15SS về bản thân sau quá trình thực nghiệm.
- Bạn Võ Đặng Cẩm Nhung thấy mình nhanh nhẹn, trưởng thành hơn, có trách nhiệm hơn, biết phát huy tinh thần làm việc nhóm
Phan Thị Như Thơ cảm thấy mình ngày càng chủ động và tích cực trong công việc Khả năng giao tiếp của cô đã được cải thiện đáng kể, giúp cô hòa đồng hơn và tăng cường sự hỗ trợ, đoàn kết với các thành viên trong nhóm.
- Bạn Phạm Thị Hoài Phương nhận thấy khả năng truyền đạt ý kiến của mình tốt hơn, lại biết lắng nghe ý kiến của bạn khác
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã thu đƣợc một số kết quả sau:
- Phân tích đƣợc cấu trúc của năng lực hợp tác đối với sinh viên ngành Sƣ phạm Sinh học
- Thiết kế đƣợc tiêu chí đánh giá rèn luyện năng lực hợp tác đối với sinh viên ngành Sƣ phạm Sinh học
- Đề xuất đƣợc qui trình rèn luyện năng lực hợp tác đối với sinh viên ngành
Tổ chức khảo sát và thực nghiệm sư phạm cho sinh viên lớp 15SS ngành Sư phạm Sinh học thông qua phương pháp thảo luận nhóm, bao gồm sơ đồ tư duy và thí nghiệm thực hành, đã chứng minh tính hiệu quả của đề tài Kết quả này tạo cơ sở vững chắc để áp dụng vào thực tiễn giảng dạy và mở rộng các hướng nghiên cứu, nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học.
- Đề xuất giải pháp nâng cao và rèn luyện năng lực hợp tác của sinh viên ngành Sƣ phạm Sinh học.
KIẾN NGHỊ
Hiện nay, việc rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh đã được chú trọng, nhưng năng lực này đối với sinh viên và giáo viên tương lai vẫn chưa được quan tâm đầy đủ Điều này cho thấy cần thiết phải tăng cường các chương trình đào tạo nhằm phát triển kỹ năng hợp tác cho thế hệ giáo dục tiếp theo.
Cần tổ chức thêm các buổi học theo phương pháp hợp tác nhóm cho sinh viên ngành Sư phạm, nhằm tạo cơ hội cho họ trải nghiệm và rèn luyện năng lực hợp tác Điều này không chỉ giúp phát triển kỹ năng dạy học mà còn nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và các năng lực khác.
Cần tiếp tục mở rộng và nghiên cứu thêm các tiêu chí để hoàn thiện quy trình rèn luyện năng lực hợp tác và các năng lực khác một cách hiệu quả.
Tiếp tục mở rộng và khảo sát thực trạng rèn luyện năng lực hợp tác của sinh viên thuộc các ngành khác nhằm có được đánh giá chính xác hơn về khả năng này.
Để nâng cao hiệu quả rèn luyện năng lực hợp tác trong giảng dạy, cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là thay đổi cách suy nghĩ và thực hiện của sinh viên và giáo viên tương lai.
[2] Nghị quyết 29 NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
[3] Từ Điển Bách khoa Việt Nam (2003), NXB Từ điển Bách khoa, tập III tr41
[4] Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực 2014 Bộ Giáo dục và đào tạo
Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2014) đã tiến hành nghiên cứu khái niệm "đánh giá theo năng lực" và đề xuất các hình thức đánh giá năng lực ngữ văn của học sinh Nghiên cứu này được công bố trong Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM, số 56, trang 157.
[6] Nguyễn Văn Cường (2006), Đổi mới phương pháp dạy học Trung học phổ thông Dự án Giáo dục Trung học phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nguyễn Hữu Đinh (2014) trong tác phẩm "Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh" đã trình bày các phương pháp giáo dục hiệu quả cho học sinh lớp 12 theo chương trình chuẩn Nghiên cứu này được thực hiện tại Trường THPT Pác Khuông, thuộc Sở GD và ĐT Lạng Sơn, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực học sinh thông qua việc giảng dạy các tác phẩm truyện.
Lê Thị Minh Hoa (2015) nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trung học cơ sở thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Nghiên cứu này được thực hiện tại Viện Khoa Học Giáo Dục Việt, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích sự hợp tác giữa các học sinh Các hoạt động ngoài giờ không chỉ giúp nâng cao kỹ năng xã hội mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của học sinh.
Bài viết của Phan Thị Thanh Hội (2015) tập trung vào việc đánh giá năng lực hợp tác trong quá trình dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng trong môn sinh học lớp 11 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Nghiên cứu này nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập thông qua việc phát triển khả năng làm việc nhóm của học sinh.
[10] Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
[11] Đặng Thành Hƣng (2002), Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
[12] Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr88
Nguyễn Thị Ngọc Linh (2014) đã nghiên cứu về việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua phương pháp dạy học theo chủ đề, cụ thể là ứng dụng của đạo hàm Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng kiến thức toán học vào thực tiễn để nâng cao khả năng làm việc nhóm và hợp tác trong học tập.
[14] Phạm Huyền Phương (2014), Rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 THPT
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Thị Quỳnh Phương đã nghiên cứu kết quả rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho sinh viên Sư phạm thông qua hoạt động nhóm tại trường Đại học Hải Phòng Nghiên cứu này được công bố trên Tạp chí Giáo dục, số [15].
Tạ Xuân Phương đã nghiên cứu về việc bồi dưỡng năng lực hợp tác theo nhóm cho học sinh trong dạy học địa lý tại Trường Dự bị Đại học Dân tộc Nghiên cứu này được công bố trong Tạp chí Giáo dục số 352, kỳ 2, tháng 2 năm 2015, trang 58.
Sự cần thiết tổ chức dạy học theo hướng phát triển kỹ năng hợp tác cho sinh viên Đại học Sư phạm được nhấn mạnh bởi Th.S Nguyễn Thị Thanh trong bài viết của mình Việc này không chỉ nâng cao khả năng làm việc nhóm mà còn chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng thiết yếu trong môi trường giáo dục và nghề nghiệp tương lai Tổ chức các hoạt động học tập hợp tác sẽ giúp sinh viên phát triển toàn diện, từ đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội hiện đại.
[18] Thái Duy Tuyên (1993), Tìm hiểu bản chất quá trình dạy học Tạp chí
Nghiên cứu Giáo dục, 10, tr 10-13
[19] Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới NXB Giáo dục, Hà Nội
[20] Nguyễn Nhƣ Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, tr848
[21] Brown A L & Palincar A S (1989), Guided cooperative learning and invidual knowledge acquisition in Resnuck L B (Ed) Knowing, learning and intruction: Essays in honor of Robert Crlaser, Hilldale NJ: Erlbanm
[22] De Ketele, J.-M (1995), L'esvaluation des acquis scolaires : quoi ? pour qui ? pour quoi ? (document non publicé #)
[23] Johnson D W & Johnson R T (1991), Learning together and alone:
Cooperative, competitive, and Individualistic learning Interaction Book Company,
[24] Richard A I (2009), Learning to teach Mc Graw-Hill, New York,
[25] Rudich P.A (1986), Tâm lý học, nxb thể thao
[26] Rosenshine B & Meister C (1994), Reciprocal teaching: A review of the research Review of Educational, 64, p479-530
[27] Renkl A (1995), Learning for later reading: An explore- turn of mediational links between teaching expectancy and learning results Learning and
[28] Slavin R E (1990), Cooperative learning: Theory, research and practice Englewood cliffs NT: Prentice hall
[29] Weinert F.E (2001), Concept of competence: a conceptual clarification
In D.S.Rychen & L.H.Salganik (Eds.), Defining and selecting key competencies, Gottingen: Hogrefe,¨ pp 45-66
Xavier Roegiers (1996) trong tác phẩm "Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường" đã trình bày những phương pháp giáo dục nhằm nâng cao năng lực học sinh Cuốn sách, do Đào Trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch, xuất bản bởi NXB Giáo dục tại Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc tích hợp các phương pháp giảng dạy để phát triển toàn diện kỹ năng cho học sinh trong môi trường học đường.
Phụ lục 1 trình bày phiếu đánh giá mức độ rèn luyện các kỹ năng hợp tác của sinh viên ngành Sư phạm Sinh học tại trường Đại học Sư phạm - ĐH Đà Nẵng Số phiếu được ghi rõ là
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG Ngày khảo sát: /… /2015
V/v: Rèn luyện năng lực hợp tác cho sinh viên ngành Sư phạm Sinh học