ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG NGUYỄN THỊ NGỌC THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP CHÂN BỤNG GASTROPODA VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đà Nẵ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ NGỌC
THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP CHÂN BỤNG
(GASTROPODA) VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực hiện Khóa Luận Tốt Nghiệp và những gì đạt được hôm nay, thì đó không chỉ là những cố gắng, nỗ lực của riêng bản thân, mà trên hết là phần lớn công lao giảng dạy và hướng dẫn của các thầy giáo, cô giáo,…cũng như các hỗ trợ, chia sẻ của mọi người ở nhiều phương diện.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Nguyễn Thị Tường Vi đã quan tâm, giúp đỡ, góp phần định hướng bài luận, cũng như hỗ trợ về tinh thần để
em có thể thực hiện tốt Khóa Luận Tốt Nghiệp này.
Em cũng xin chân thành c ảm ơn các thầy cô, các anh chị cán bộ trong khoa Sinh-Môi trường, trường Đại học Sư Phạm-ĐH Đà Nẵng cũng như các thầy cô trong trường dã giảng dạy, giúp đỡ chúng em trong 4 năm học qua Chính các thầy cô đã xây dựng cho chúng em những kiên thức nền tảng và những kiến thức chuyên môn để em có thể hoàn thành luận văn này cũng như những công việc của mình sau này.
Cuối cùng em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân, bạn bè và ban lãnh đạo cũng các cô, chú, bác ngư dân đã luôn động viên giúp
đỡ em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận này!
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 05 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Ngọc
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
1.Tính cấp thiết của đề tài 9
2.Mục tiêu của đề tài ………10
3.Ý nghĩa khoa học của đề tài 10
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CỦA LỚP CHÂN BỤNG (GASTROPODA) 11
1.1 Đặc điểm hình thái cấu tạo 11
1.2 Đặc điểm sinh sản và phát triển 12
1.3 Sinh thái động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) 12
1.4 Vai trò 13
1.5 Phân loại và vai trò thực tiễn 16
a Phân lớp Mang trước (Prosobranchia) 17
b Phân lớp Mang sau (Opisthobranchia) 19
c Phân lớp Có phổi (Pulmonata) 20
2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
2.1 Vị trí địa lý 21
2.2 Đặc điểm khí hậu 21
2.3 Nhiệt độ 22
2.4 Lượng mưa 22
2.5 Độ ẩm 22
2.6 Điều kiện thủy văn 24
a Chế độ triều 24
Trang 6b.Nhiệt độ nước biển 24
c Độ mặn 24
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu thành phần động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) 24
3.1 Tình hình nghiên cứu thành phần động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên thế giới 25
3.2 Tình hình nghiên cứu thành phần động vật thân mền chân bụng (Gastropoda) ở nước ta 26
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu……….……….…….……… 31
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu……… ……… …… 31
2.1.3 Thời gian nghiên cứu ……… ……… … 31
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ……… ……… … 31
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… ……… … 31
2.3.1 Thu mẫu ngoài thực địa ……… ……… … 31
2.3.2 phân loại động vật thân mềm chân bụng ……….……… 32
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệ………….……… 32
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 32
3.1 DANH MỤC, CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) TẠI VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG 32
3.1.1 Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) vùng biển Đà Nẵng 32
3.1.2.Cấu trúc thành phần loài động vật thần mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) vùng biển Đà Nẵng 37
3.2 SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP CHÂN BỤNG ( GASTROPODA) VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG VỚI KHU VỰC HẢI VÂN – SƠN CHÀ 41
Trang 73.3 ĐẶC TRƯNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN
BỤNG (GASTROPODA) VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG 44
3.3.1 Đa dạng về bậc taxon bậc bộ 44
3.3.2.Đa dạng về bậc taxon bậc họ 45
3.4 CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ TẠI VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG 46
3.4.1 Các loài động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) có ý nghĩa kinh tế đối với người dân 46
3.4.2 Danh mục các loài động vật thân mền chân bụng (Gastropoda) có giá trị kinh tế 52
3.5 CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) QUÝ HIẾM TẠI VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
Kết luận 55
Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 59
Trang 83.3 So sánh thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng
(Gastropoda) vùng biển Đà Nẵng với khu vực Hải Vân –Sơn
3.5 Các loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) có
giá trị kinh tế vùng biển Đà Nẵng
52
Trang 9MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có hơn 3.200 km đường bờ và đảo, nằm trong vùng Biển Đông vàvịnh Thái Lan, và là nơi có đa dạng sinh học biển nhiệt đới quan trọng, có cácđiểm tương đồng về mặt địa-sinh học đối với các quốc gia láng giềng trongtrung tâm đa dạng sinh học toàn cầu với chừng 11.000 loài sinh vật đã đư ợcphát hiện [15]
Thành phố Đà Nẵng với chiều dài bờ biển khoảng 89 km, diện tích ngưtrường khoảng 15.000km2, có vùng lãnh hải trải 125 km tạo thành vành đainước nông rộng lớn Vì vậy, Đà Nẵng nằm trong 4 ngư trường trọng điểm củamiền Trung, với trữ lượng nguồn lợi thủy sản khoảng 1.140.000 tấn.Trongnhững năm gần đây, sự phát triển kinh tế Đà Nẵng diễn ra rất nhanh chóng,trong đó khai thác thủy sản là một ngành chiếm tỷ trọng cao trong cán cânkinh tế của thành phố, với tổng sản lượng khai thác biển tăng nhanh từ 27.332tấn năm 2000 lên đến 40.275 tấn năm 2005[7] Sự phát triển mạnh của cáchoạt động kinh tế vùng ven bờ đã và đang mang lại giá trị kinh tế góp phầnnâng cao đời sống người dân cũng như phát tri ển kinh tế của vùng, trong đócác đối tượng nguồn lợi hải sản đóng vai trò rất quan trọng Song nguồn lợihải sản này hiện nay đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí một
số loài có giá trị kinh tế cao đang ở ngưỡng cửa của sự tuyệt chủng [9].Mộttrong những đối tượng nguồn lợi đang bị khai thác mạnh đó là thân mềm.Thân mềm là một đối tượng hải sản có giá trị dinh dưỡng và là nguồn kinh tếcao của người dân vùng ven bờ biển Đà Nẵng Bên cạnh đó, thân mềm cònđóng vai trò là một mắc xích quan trọng trong chuỗi, lưới thức ăn của hệ sinhthái vùng biển.[9]
Trang 10Do phát triển mạnh của các hoạt động kinh tế vùng ven bờ làm gây ảnh
hưởng đến sự tồn tại của thủy sinh vật Bên cạnh đó còn nhiều nguyên nhân
gây suy giảm nguồn lợi thủy sản, nhưng nguyên nhân chủ yếu là khai thácquá mức, ô nhiễm môi trường và sự tàn phá sinh cảnh của các loài thủy sản(Nguyễn Thị Tường Vy, 2012) Nguyên nhân sâu xa vẫn là do trình độ hiểubiết của người dân về kiến thức pháp luật liên quan đến bảo vệ các động vậtnày còn hạn chế và việc quản lí của các cơ quan chức năng chưa thực sự hiệuquả Hậu quả là trong những năm gần đây nhiều loài đông vật thân mềm
thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) đã bị suy giảm nghiêm trọng và hệ sinh
thái bị tổn thương [11]
Nghiên cứu về động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda)đây là
mảng quan trọng song nó đã bị bỏ trống và chưa được nghiên cứu trước đâytại khu vực ven biển Đà Nẵng Vì vậy, việc nghiên cứu cụ thể, toàn diện vớinguồn tư liệu mang tính cập nhật và khoa học về động vật thân mềm thuộc
lớp chân bụng (Gastropoda) tại vùng ven biển Đà Nẵng là hết sức cầp thiết và
có ý nghĩa thực tiễn cao
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “ THÀNH PHẦN
(Gastropoda) VÙNG BIỂN ĐÀ NẴNG” nhằm cung cấp thêm những tư liệu
cho việc bảo vệ đa dạng sinh học động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng
(Gastropoda) tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng.
2 Mục tiêu của đề tài:
-Nghiên cứu nhằm phân loại thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớpchân bụng (Gastropoda) tại vùng ven bờ biển Đà Nẵng
3.Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Nghiên cứu này sẽ làm nguồn tư liệu ban đầu cho các nghiên cứu về động
vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) tại Đà Nẵng sau này, đồng
Trang 11thời giúp cho cơ quan quản lí cập nhật được thông tin mới nhất về động vật
thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) Từ đó đề xuất các hướng để
bảo vệ đa dạng sinh học vùng biển Đà Nẵng
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CỦA LỚP CHÂN BỤNG
(GASTROPODA)
Chân bụng (Gastropoda) là lớp thuộc ngành thân mềm (Mollusca). Lớp chân
bụng (Gastropoda) bao gồm tất cả các loại ốc với mọi kích cỡ từ nhỏ đến khá
lớn Trong lớp này, có các loại ốc biển, ốc nước ngọt và ốc sống trên cạn
Lớp chân bụng (Gastropoda) có số loài đã được đặt tên nhiều thứ hai,
chỉ sau lớp côn trùng(Insecta)về số lượng tổng thể Có 611 họ thuộc lớp chân
bụng (Gastropoda), trong đó có 202 họ đã tuyệt chủng, được tìm thấy trong các hóa thạch Lớp chân bụng (Gastropoda) có mức độ đa dạng cao nhất trong ngành Thân mềm (Mollusca), với khoảng 60.000 đến 80.000 loài đang
tồn tại [18][25]
1.1 Đặc điểm hình thái cấu tạo
Đặc điểm nổi bật nhất của động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng
(Gastropoda) là cơ thể mất đối xứng và được chia thành 3 phần là phần đầu,
phần thân và phần chân Đầu ở phía trước, có mắt và các tua cảm giác (râu).Thân (hay được gọi là khối phủ tạng) nằm trên chân, là một túi xoắn Chân làkhối cơ khoẻ nằm ở mặt bụng, cử động uốn sóng khi bò Toàn bộ cơ thể đượcbao trong một vỏ xoắn, thường xoắn hình chóp hay xoắn trên một mặt phẳng,
có thể có thêm nắp vỏ Mức độ phát triển vỏ rất khác nhau Cấu tạo vỏ điểnhình, từ ngoài vào trong có các lớp như lớp sừng (periostracum), lớp lăng trụcanxi và lớp xà cừ (chỉ có ở một số như bào ngư, ốc xà cừ ) Số vòng
xoắn của vỏ ốc trưởng thành thay đổi ví dụ như ở ốc nhồi (Pila polita) là 5, ở
Trang 12ốc sên (Achatina fulica) thường là 6 đến 7 vòng Vòng xoắn có thể theo chiều
kim đồng hồ (xoắn thuận) hay ngược chiều kim đồng hồ (xoắn ngược) Nộiquan của động vật thân mềm được lớp áo bao phủ, nằm trong vỏ Phần lớn
động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) ăn thực vật, một số
khác ăn thịt bằng cách bắt con mồi, tiết men tiêu hoá phân huỷ con mồi rồihút vào ống tiêu hoá, một số khác lọc thức ăn trong nước hay sống ký sinh
động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) có hệ tuần hoàn hở Hệ
hô hấp của chân bụng (Gastropoda) là mang lá đối hay phổi Mang đặc trưng cho động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) sống dưới nước có
từ đến 2 mang hướng về phía trước và phía sau cơ thể Một số động vật thân
mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) chuyển sang đời sống trên cạn thì cơ
quan hô hấp là phổi (một số loài sống ở nước vẫn có phổi) Phổi là thành phầncủa áo tạo thành Xoang phổi là một xoang kín, được giới hạn bởi vỏ áo
ở trên và mép áo ở phía trước, khối nội quan ở phía sau Phổi thông vớibên ngoài qua một lỗ nhỏ Khi một số loài động vật thân mềm thuộc lớp chân
bụng (Gastropoda) ở nước vừa có cả mang vừa có cả phổi (ốc nhồi) nhờ thế
chúng có thể sống được lâu hơn trên cạn Ngoài ra nhiều loài động vật thân
mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) có cơ quan hô hấp thay đổi, đó là các
phần phụ thứ sinh mọc ra trên bề mặt cơ thể Số lượng và vị trí của mangquyết định số lượng và vị trí của tâm nhĩ, có liên quan đ ến lần quay 180 vàlần quay nhả xoắn điều hoà trong quá trình tiến hoá của động vật thân mềm
thuộc lớp chân bụng (Gastropoda).
1.2 Đặc điểm sinh sản và phát triển
Phần lớn chân bụng (Gastropoda) đẻ trứng thành đám, chìm trong khối chất nhầy bám vào cây thủy sinh (như ốc đá, ốc Limnaea, Busycon, Aplysia v.v ),
một số đẻ trứng từng đám bám vào hốc đất, bùn (ốc nhồi, ốc sên ) Trứngphân cắt xoắn ốc, xác định, hoàn toàn và không đều Ở biển Việt Nam,
Trang 13thường gặp các đại diện của bộ này có vỏ với màu sắc đẹp Các họ có số
lượng lớn là Volutidae, Nassidae, Muricidae, Conidae, Hapidae, Mitridae,
Galeodidae một số có thể tiết chất độc (Conus) hay chất màu dùng
để nhuộm (Murex) Bao gồm các giống thường gặp là Murex, Rapana,
Conus, Harpa, Mitra, Nassarius, Hemifuscus, Babylonia
Trong đó có các loài thường gặp là Cymbium melo (ốc bù giác, ốc gáo)
có nhiều thịt, vỏ đẹp, Babylonia Areolata (ốc hương) có thịt
ngon, Columbella rulgurans, Mitra rugosum, Phos senticosus có vỏ đẹp.
1.3 Sinh thái động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda)
Động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) phân bố rất rộng, phần
lớn sống ở nước (số lượng loài ở biển và nước lợ nhiều hơn so với ở nước
ngọt) Ở biển động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) có thể
phân bố ở độ sâu 5.000m, còn trên lục địa thì có thể đạt đến độ cao là 5.500m
(loài Lymnaea kookeri và Anadenus schaginteiti) Chỉ một số ốc Mang trước
thích nghi với đời sống trôi nổi, còn phần lớn động vật thân mềm thuộc lớp
chân bụng (Gastropoda) sống bò ở đáy, một số khác sống bám, ít di động như các giống Patella, Ancylus, Vermetus ) Ngoài ra còn có các loài sống ký
sinh trên động vật da gai như sao biển, cầu gai, hải sâm hay các loài động
vật thân mềm khác như trai (giống Mucronalia, Stilifer ) Ốc có phổi ưa
sống nơi ẩm, giàu mùn bã thực vật, về mùa lạnh hay khô chúng thường cóthời kỳ nghỉ hoạt động, bịt miệng bằng chất nhầy có nhiều muối can xi dochúng tiết ra Một số ốc có mang có thể sống cả ở suối nước nóng (tới34°C)
Riêng nhóm ốc nhồi (họ Pilidae) vừa có mang, vừa có phổi nên có thể sống
trên cạn khá lâu Đa số ăn thực vật, mùn bã hữu cơ, rêu, nấm Một số ốc có
thể ăn thịt (các giống thuộc bộ Chân bụng (Gastropoda) mới, Chân cánh, họ
Cypraeidae, Doliidae , thức ăn là giun, sứa, trai và ốc khác.[13]
1.4 Vai trò
Trang 14a Vai trò làm thực phẩm
Động vật thân mềm là một ngành có số lượng loài rất lớn (khoảng 130.000loài - Thái Trần Bái, 2001; 104.000 loài - Hà Quang Hiến, 1980) chiếmkhoảng 10% tổng số các loài động vật trên trái đất, đứng thứ hai sau ngànhgiáp xác (Crustacea) (với 800.000 loài) Ngay từ thời cổ đại, khi loài ngườichưa biết săn bắn thú rừng thì đã biết bắt động vật thân mềm về ăn Những di
tích còn lại hiện nay của người Mút - tê - riêng (Mousteriens) ở Gibraltar (eo
biển giữa Tây Ban Nha và Ma Rốc) chứng tỏ họ đã biết đập vỡ vỏ của cácloài động vật thên mềm để lấy thịt ăn Đến thời đại đồ đá, động vật thân mềm
là nguồn thực phẩm quan trọng và phổ biến của cư dân các vùng ven biển dochúng sống cố định hoặc di chuyển chậm nên việc khai thác chúng cũng dễdàng Ngày nay rất nhiều loài động vật thân mềm vẫn là thức ăn ưa thích củacon người, có loài còn là thức ăn quý hiếm So sánh thành phần dinh dưỡngcủa thịt động vật thân mềm với thịt một số động vật khác người ta thấy rằng,hàm lượng prôtêin và gluxit trong thịt động vật thân mềm khá cao, trong khi
đó hàm lượng lipit lại rất thấp Chính vì thế mà khi chúng ta ăn thịt của chúngkhông ngán.[17]
b Vai trò làm sạch môi trường
Động vật thân mềm có khả năng làm sạch môi trường Thức ăn của chúng baogồm thực vật phù du và hỗn hợp gồm nhiều loại khác như mảnh vụn các chấthữu cơ, khoáng, bùn, vi khuẩn, chất keo (theo Gilbert Barnale, 1991).Tammes & Dral (1956) đã chỉ ra rằng những vật được Bivalvia giữ lại trongquá trình lọc không lớn hơn 10 mm Khả năng lọc của động vật thân mềm rấtlớn Như vậy, bằng phương thức dinh dưỡng ăn lọc với tỷ lệ lọc rất lớn độngvật thân mềm có khả năng làm sạch môi trường và chúng được coi là nhữngđối tượng chính trong việc làm cân bằng sinh thái môi trường, đặc biệt ở
Trang 15những vùng bị ô nhiễm Tuy nhiên, ở những vùng bị ô nhiễm bởi các độc tố
do sự nở hoa của tảo, động vật thân mềm ăn tảo sẽ bị nhiễm độc tố và lànguồn gây bệnh cho con người
c Vai trò trong y học
Một số loài động vật thân mềm được dùng làm thuốc chữa bệnh như: Ốc
bươu (Pila polita) dùng trị bệnh dạ dày Bào Ngư vừa là món ăn đặc sản vừa
là vị thuốc quý chữa bệnh quáng gà, củ cải xào với Bào Ngư chữa bệnh tiểuđường, chế phẩm sinh học được chế tạo từ Bào Ngư Haliotis varia có tác dụngtăng cường trí nhớ (Nguyễn Thị Thái Vân, 2004) Ngoài ra do có hàm lượngprotein cao, có chứa vitamin (đặc biệt là vitamin B12) nên nó được dùngtrong sản xuất thuốc bổ, thuốc tăng lực
d Vai trò là sinh vật chỉ thị cho môi trường
Hầu hết sự có mặt của các loài động vật thân mềm là chỉ số cho điều kiện môitrường Biến động thành phần và số lượng quần thể là chỉ số đánh giá chomức độ thay đổi của môi trường sống Một trong các hợp chất hoá học gâyảnh hưởng nhiều lên đời sống của động vật thân mềm đã được nghiên cứu sâu
là chất sơn trên thành tàu thuỷ (Tributyltin - TBT) Các chất này làm ảnhhưởng lên quá trình phát triển của các loài sống bám lên thành các con tàunhư Vẹm, Giun, Sun và đặc biệt là các loài Ốc Các cá thể Ốc gai cái khi tiếpxúc với chất này sẽ phát sinh cơ quan giao cấu đực có kích thước chiêù dài tỷ
lệ thuận với hàm lượng chất này trong môi trường gọi là hiện tượng imposex.Hiện tượng này làm gây tắc nghẽn khả năng đẻ trứng của con cái Vì vậy, cókhả năng sử dụng loài ốc này làm chỉ thị cho mức độ ô nhiễm chất sơn trênthành tàu thuỷ trong môi trường biển.[13]
e Tác hại của một số loài động vật thâm mềm độc hại
Bên cạnh những mặt có lợi, nhiều loài động vật thân mềm là sinh vật gây hại.Một số loài Ốc ăn chồi non thực vật gây tác hại đến mùa màng như ốc Sên
Trang 16(Achatina fulica); Ốc bươu vàng (Pomacea sp.), một số loài sống đục khoét thường gây hại cho các công trình thủy, thuyền bè như Teredo, Pholas,
Bankia hay một số loài sống bám làm tàu thuyền hư vỏ, vận tốc và tải trọng
giảm như hà, sun , một số bám vào các đảo ngầm làm cản trở giao thôngđường biển Đã có một số người đã chết sau khi ăn thịt động vật thân mềm.Độc tố trong thịt động vật thân mềm có thể gây chết ngay sau khi ăn hoặc tồntại và gây độc mãn tính trong thời gian dài Các nạn nhân ăn phải độc tốthường có triệu chứng nôn mửa hoặc tiêu chảy Các độc tố này thường đượcsản sinh ra từ các loài tảo phù du gọi là các loài tảo độc thuộc nhóm
dinoflagellate: Gonyaulax, Protogonyaulax, Gymnodinium, Pyrodinium,Nocticula, Ceratium, Protoperidinium v.v (M Mohan Joseph,
1998) Điệp, Hầu, Vẹm, Ngao có thể tiêu thụ các loài tảo này Tuy nhiên chỉmột vài loài tảo thuộc nhóm này có khả năng sinh độc tố Khả năng sinh độc
tố tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Vấn đề này đang được nghiên cứu.Trong trường hợp tảo phát triển nhanh – tảo nở hoa – thịt động vật thân mềmtiêu thụ một lượng lớn tảo nở hoa này sẽ rất dễ gây độc Loài Ốc có nọc độccần được biết đến như nhóm họ Ốc nón Nọc càng độc hơn khi các loài này sửdụng cá làm thức ăn Bản chất của nọc độc là các loại protein, các loại proteinnày có tác dụng làm tê liệt hệ thần kinh Tất cả các loài ốc nón đã biết có khảnăng sản sinh ra các loại peptid có tên chung là conotoxin Nhiều nghiên cứutrên conotoxin về trật tự sắp xếp, cơ chế tổng hợp, cấu trúc gen đã xác địnhconotoxin cản trở hoạt động của protein trên màng tế bào, ngăn chặn việctruyền xung động thần kinh Thuộc tính này làm cho conotoxin được sử dụngrộng rãi trong ngành hoá sinh học
1.5 Phân loại và vai trò thực tiễn
Trang 17Động vật chân bụng chiếm tới gần 80% tổng số loài của động vật thân mềm(có khoảng 90.000 loài) Được chia làm 3 phân lớp là Mang trước, Mang sau
và Có phổi
a Phân lớp Mang trước (Prosobranchia)
Mang ở trước tim, thường có 1 mang, ít khi gặp 2 mang Xoang áo ởphía trước cơ thể, có dây thần kinh bên tạng bắt chéo Vỏ phát triển và có nắp
vỏ Đơn tính, phần lớn sống ở biển, một số ít sống ở nước ngọt Có 2 bộ:
Bộ Chân bụng cổ (Archaeogastropoda): Chân bụng nguyên thủy nhất, đặc
điểm cấu tạo cơ thể còn giữ nhiều nét đối xứng hai bên như có 2 tâm nhĩ,phức hợp cơ quan áo chẵn (2 mang, 2 thận, 2 osphradi ) Do có 2 tâm nhĩnên bộ này còn được gọi là bộ Hai tâm nhĩ (Diotocardia) Có dây thần kinhbắt chéo, chưa hình thành hạch chân, dây thần kinh dài Mang gồm có haidãy, phần ngọn không đính vào thành áo Tuyến sinh dục đổ vào thận phải.Thụ tinh ngoài, phát triển qua ấu trùng trochophora.Sống chủ yếu ở biển, một
số sống ở nước ngọt (Theodoxus) hay cạn (Helicina) Các họ thường gặp là
Neritidae, Trochidae, Turbinidae, Haliotidae, Patellidae Ở Việt Nam bộ nàythường gặp ở vùng nước lợ, ven biển, rừng sú vẹt, vùng dưới triều và vùngtriều Các giống phổ biến là Nerita (ốc đĩa, ốc ngọt), Trochus (ốc tháp), Monodonta (ốc đụn), Umbonium (ốcmành), Patella, Fissurella (ốc nón), Turbo petholatus (ốc xà cừ),Haliotis (bào ngư).Bộ Chân bụng trung (Mesogastropoda): Cơ thể mất đối xứng, tim chỉ có một tâm nhĩ, phức hợp cơ
quan áo lẻ (một mang, một osphradi, một thận) Vì chỉ có một tâm nhĩ nênđược gọi là bộ Một tâm nhĩ (Monotocardia) Hệ thần kinh có dây bên tạng bắtchéo, đã hình thành hạch chân Mang có cấu tạo một dãy, dính sát vào thành
áo Tuyến sinh dục không đổ vào thận Thụ tinh trong, phần lớn phát triển qua
ấu trùng veliger
Trang 18Bao gồm phần lớn các loài chân bụng hiện có, thích nghi rộng với điều kiệnsống của môi trường như ở biển, nước ngọt, ở cạn, một số sống ký sinh Ở
vùng triều và nước lợ hay gặp ốc cỡ bé thuộc họ Littrorinidae, Cerithiidae,
Potamididae, Assimineidae Ở vùng dưới triều thành phần loài rất đa dạng, có
các loài ốc cỡ lớn trên 100 cm như một số loài thuộc họ Cassididae, Doliidae Các họ khác có kích thước nhỏ hơn như Cypraeidae, Turitellidae,
Epitoniidae, Natacidae Một số nhóm thích nghi với đời sống trong tầng
nước như họ Jamthinidae có vỏ nhẹ và bám vào sứa ống, nhóm ốcHeteropoda có chân hẹp kéo dài thành tấm bơi, bao nội tạng thu nhỏ, vỏ mỏng
hay tiêu giảm (Pterotrachea, Carinaria, Atlantia) Một số loài khác lại sống
ký sinh trên động vật da gai như các giống Parenteroxenos, Stylifer, Thyca,
Entococha, Paedophorus Trong nước ngọt thường gặp các họ Valvatidae, Thiaridae, Viviparidae, Pilidae, Hydrobiidae Ở rừng đá vôi gặp
họCyclophoridae có mang tiêu giảm Ở vùng biển Việt Namthành phần loàithuộc Chânbụng trung rất phong phú Các loài thường gặp và có giá trị cao
như: Telescopium telescopium, Terebralia sulcata, Cerithidea sinensis (ốc đụn, ốc mút) phân bố ở rừng sú vẹt và nước lợ; Charonia tritonis (ốc tù và), Hemifurus tuba, Cassis cornuta (ốc kim khôi), Dolium variegatum (ốc mũ), Laevistrombus isabella (ốc lợi đỏ), Cypraea tigris (ốc mõ chù da hổ), Natica maculosa Ở nước ngọt thường gặp các loài: Pila polita (ốc nhồi), Sinotaia aeruginosa, Angulyagra polyzonata (ốc vặn),Cipangopaludina
lecythoides (ốc bươu, ốc rạ) Trong núi đá vôi ẩm hay gặp các
giống Cyclophorus, Hybocystis Một số loài là vật chủ trung gian truyền bệnh giun sán như Melanoides tuberculatus và Stenomelania testudinaria Bộ
Chân bụng mới (Neogastropoda): Cấu trúc cơ thể phân hoá cao nhất, lưỡi gai
có ít răng, đầu kéo dài thành mõm, osphradi dạng lông chim, hệ thần kinh tậptrung, miệng có nắp vỏ, có rãnh xi phông kéo dài Hầu hết sống ở biển và ăn
Trang 19thịt Thụ tinh trong Nhiều loài có trứng phát triển trực tiếp thành con non.
Ở biển Việt Nam, thường gặp các đại diện của bộ này có vỏ với màu sắc đẹp.Các họ có số lượng lớn là Volutidae, Nassidae, Muricidae, Conidae,
Harpidae, Mitridae, Galeodidae một số có thể tiết chất độc (Conus) hay chất màu dùng để nhuộm (Murex) Bao gồm các giống thường gặp là Murex,
Rapana, Conus, Harpa, Mitra, Nassarius, Hemifuscus, Babylonia Trong đó
có các loài thường gặp là Cymbium melo (ốc bù giác, ốc gáo) có nhiều thịt, vỏ đẹp, Babylonia areolata (ốc hương) có thịt ngon, Columbella
rulgurans, Mitra rugosum, Phos senticosus có vỏ đẹp
b Phân lớp Mang sau (Opisthobranchia)
Cấu tạo cơ thể của Chân bụng mang sau thể hiện sự vặn xoắn không hoàntoàn (do quá trình nhả xoắn điều hoà về phía sau nên làm cho dây thần kinhbắt xoắn duỗi trở lại, đồng thời đưa xoang áo lệch hẳn một bên) Bao gồm cácloài động vật Chân bụng vỏ tiêu giảm hay chỉ còn lại rất ít Hệ thần kinh lệch.Xoang áo nằm ở phía bên phải cơ thể, đôi khi tiêu giảm hay mất hẳn.Tim chỉ có 1 tâm nhĩ Một mang nằm ở phía sau tim Đôi khi mang được thaythế bởi mang thứ sinh Lưỡng tính, chỉ sống ở biển Phân lớp Mang sau được
chia làm 4 bộ:Bộ Mang kín hay Mang ẩn (Tectibranchia): Có xoang áo và
mang chính thức, mang được áo che kín Chân chia thành 2 thùy ở hai bên
lớn Sống bò dưới đáy Ở Việt Nam đã gặp các giống Dolabella, Atys, Bulla,
Hydatina,Cyclichna,Pupa
Bộ Chân cánh (Pteropoda): Hai tấm bên chân phát triển thành vây bơi, thích
ứng với đời sống bơi Đại diện có giống Clione không có vỏ, không có mang,
phân bố nhiều ở vùng cận cực, là thức ăn của cá voi Ở Việt Nam đã gặp
giống Limacina và các loài Creseis acicula, Cresies clava có số lượng lớn và
phân bố rộng Khi chết đi vỏ đá vôi lắng xuống tạo thành hợp phần cát bùn
của đáy biển Bộ Ốc hai mảnh vỏ (Saccoglossa): Bên cạnh các đặc điểm về
Trang 20cấu tạo lưỡi gai, hầu tiêu biểu cho động vật chân bụng thì nhóm này còn có vỏ
hai mảnh như vỏ trai (Berthelinia, Midorigai) Ở Việt Nam gặp các giốngPhyllobrachus, Placobranchus…Bộ Mang trần (Nudibranchia): Mang
chính thức (nguyên sinh) tiêu biến, thay thế là mang phụ (thứ sinh) ở mặtlưng Các hạch thần kinh tập trung về phía đầu Cơ thể có dạng sên, bên ngoàiđối xứng, không có vỏ, không có xoang áo Ở biển Việt Nam đã biết có 200
loài, các giống có nhiều loài là Hexabranchus, Phyllidia, Armina, Phyllỉhoe,
Melibe, Glossodoris
c Phân lớp Có phổi (Pulmonata)
Do mang tiêu biến nên được thay thế bằng phổi Phổi là mặt trong của xoang
áo, có nhiều mạch máu, có lỗ thở nhỏ ở bên phải Cơ quan áo lẻ, thần kinhlệch, các hạch thần kinh tập trung ở phần đầu Vỏ phát triển hay tiêu giảm,không có nắp vỏ Lưỡng tính, một số đẻ con Sống ở nước ngọt hay trên cạn
Được chia thành 2 bộ Bộ Mắt ở gốc (Basommatophora): Có mắt nằm ở gốc
tua đầu, tua đầu có 1 đôi, không co duỗi được Vỏ phát triển Phần lớn chuyển
sang đời sống thứ sinh nước ngọt Gặp phổ biến các giống như Lymnea,
Gyraulus, Polypylis, Hippeutis, Pettancylus, Indoplanobris Bộ Mắt ở đỉnh (Styllommatophora): Có 2 đôi tua đầu co duỗi được, mắt nằm ở ngọn đôi tua
đầu sau Vỏ có thể tiêu giảm Sống chủ yếu trên cạn Bao gồm các loài thuộc
ốc sên, sên trần, sên núi Các họ phổ biến là Succineidae, Enidae,Ariophantidae, Achatidae, Zonitidae, Bulimulidae, Helicidae, Limacidae,
Arionidae Ở Việt Nam gặp phổ biến các giống như Achatina, Hemiphaedusa,
Trang 21đất liền là 951,2 km2 Đà Nẵng là cửa ngõ giao thông trong nước và quốc tếthứ 3 của nước ta[10],[11].
Địa hình Đà Nẵng rất đa dạng và phức tạp với nhiều loại hình khác nhau gồm:
địa hình đồi núi cao, đồi núi thấp, địa hình đồng bằng ven biển Độ dốc củađồi núi cao, khoảng cách từ núi đến biển rất ngắn, dải đồng bằng ven biển hẹp
và bị chia cắt bởi nhiều sông ,suối Chính những yếu tố về địa hình, địa lý nhưtrên đã tạo sự khác biệt về chế độ khí hậu, thủy văn của Đà Nẵng so vớinhững địa phương khác trong khu vực miền Trung
Thành phố Đà Nẵng với chiều dài bờ biển khoảng 70 km, diện tích ngưtrường khoảng 15.000 km2, có vùng lãnh hải thềm lục địa độ sâu 200m từ ĐàNẵng trải ra 125 km tạo thành vành đai nước rộng lớn thích hợp cho phát triểnkinh tế biển tổng hợp và giao lưu quốc tế[5]
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm 6 quận nội thành, 1huyện ngoại thành và 1 huyện đảo trong đó có 5 quận ven biển đó là LiênChiểu, Thanh Khê, Hải Châu, Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn
2.2 Đặc điểm khí hậu
Thành phố Đà Nẵng bị ngăn cách bởi các dãy núi cao vì vậy khí hậu có sựphân hoá rõ rệt Khí hậu Đà Nẵng đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miềnNam [6] và mang những đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam đó là khí hậunhiệt đới, nóng ẩm gió mùa điển hình, nền nhiệt độ cao và ít biến động, cóchế độ sáng, mưa và độ ẩm phong phú Đặc biệt do khu vực Sơn Trà dốc vềphía Sông Hàn nên khí hậu Đà Nẵng còn mang tính chất biển [9]
Đà Nẵng với xung quanh được bao bọc với các dãy núi cao như phía Tây làdãy núi Phước Tường , phía Bắc là dãy Bạch Mã, Hải Vân cao trên 700m,phía Đông có núi Sơn Trà với đỉnh cao nhất là 630m đã giúp che chắn chothành phố khỏi các cơn bão và gió mùa Đông Bắc Hàng năm, Đà Nẵngthường có ít nhất là 5 cơn bão gây ảnh hưởng hay trực tiếp đổ bộ lên đất liền
Trang 22kèm theo mưa lớn, gió xoáy và giật vô hướng Tốc độ gió khi có bão lên đến
40 m/s Ngoài ra, vào các tháng 5, 6 thường xuất hiện lũ tiểu mãn và các trận
lũ lớn thường xuất hiện vào tháng 10 và 12 Lũ kéo dài do ảnh hưởng lượngmưa từ thượng nguồn sông Hàn [5]
Khí hậu Đà Nẵng thường chia thành hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa bắt đầu từtháng IX và kết thúc vào tháng XII và mùa khô bắt đầu từ tháng I đến thángVIII thì kết thúc
2.3 Nhiệt độ
Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, Đà Nẵng có một nền nhiệt độ cao
và ít biến động trong năm [5](bảng 1.1)
Nhiệt độ luôn thay đổi theo các tháng trong năm Riêng năm 2011, nhiệt độtrung bình của thành phố Đà Nẵng là dao động từ 20 oC đến 29,8 oC, có thờiđiểm đạt mức cao nhất là vào tháng 5/2011 nhiệt độ lên đến 38,6 oC và thấpnhất là 14,3oC (tháng 2/2011), đã gây ra những ảnh hưởng không tốt đến đờisống của người dân trong thành phố nói chung và việc khai thác cá ở ven bờbiển Đà Nẵng nói riêng
2.4 Lượng mưa
Lượng mưa trung bình hàng năm ở các nơi thuộc Đà Nẵng vào loại lớn so vớicác nơi khác trong khu vực cũng như trong toàn quốc[5] Năm 2011, lượngmưa cao nhất vào các tháng 9,10,11 và thấp nhất vào các tháng mùa khô(tháng 3,4,5,7)(bảng 1.1)
Trang 23Bảng 1.1 Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm các tháng trong năm 2011 ở
16.3
160.8
1.5
28.3
14.3
1.5
29.8
16.5
31.2
4.9
32.5
18.6
23.2
35.0
9.3
36.8
23.2
100.5
9.8
38.1
24.1
12.8
9.2
36.9
23.5
139.1
6.9
36.5
22.5
811.9
1
0
25.7
32.6
21.5
785.4
1
1
24.6
29.9
19.6
1216.6
Trang 242.6 Điều kiện thủy văn
a Chế độ triều
Vùng biển Đà Nẵng có chế độ triều rất phức tạp bao gồm bán nhật triều vànhật triều nhưng trong đó dạng bán nhật triều không đều chiếm ưu thế[9].Thời gian triều lên xuống: do tính chất phức tập của chế độ triều nên vàonhững ngày bán nhật triều lên xuốn trung bình khoảng 6 giờ Những ngàynhật triều, thời gian triều lên trung bình dài hơn thời gian triều xuống [9].Biên độ triều: triều của vùng biển Đà Nẵng thuộc loại triều yếu, biên độ trungbình từ 0,8 – 1,2 m, lớn nhất đạt 1,5 m Tại cảng Đà Nẵng biên độ cao nhất là1,4 m, trung bình là 0,7 m [11]
b.Nhiệt độ nước biển
Theo kết quả phân tích mẫu nước trong 12 tháng năm 2010 vào các thời kỳtriều cường và triều kém của trạm Môi trường biển Sơn Trà thì nhiệt độ trungbình tầng mặt tăng từ tháng 1 đến tháng VI và giảm từ tháng VII đến thángXII trong năm (dao động từ 23,5 đến 30,10C), tầng đáy dao động từ 23,6 đến30,00C, có sự phân tầng nhiệt độ giữa 2 tầng mặt và tầng đáy nhưng khôngnhiều, biên độ dao động nhiệt phụ thuộc vào thời tiết
c Độ mặn
Theo như kết quả quan trắc của Trạm môi trường biển Sơn Trà thì độ mặnkhu vực ven bờ biển Đà Nẵng có sự phân tầng rõ rệt.Trong mùa mưa nhiệt độxuống khá thấp, đột biến vào tháng 1 năm 2010 lúc chân triều độ mặn đođược ở tầng mặt chỉ là 2,20/00 Độ mặn lớn nhất trong năm là 34,10/00 xảy ratrong tháng VII (đỉnh triều – tầng đáy và chân triều – tầng đáy) Độ mặn trongnămdao động: tầng đáy trung bình 25,7-34,1‰ và tầng mặt dao động từ 6,2đến 29,40/00, cao hơn so với năm 2009
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu thành phần động vật thân mềm chân
bụng (Gastropoda)
Trang 253.1 Tình hình nghiên cứu thành phần động vật thân mềm chân bụng
(Gastropoda) trên thế giới
- Mở đầu là David Nicol công bố tác phẩm “The Number of Living Species
of Molluscs” vào năm 1969đưa ra con số phỏng đoán 107.000 trong đó có
khoảng 12.000 loài chân bụng (Gastropoda) nước ngọt và 35.000 loài trên
cạn.[20]
-Đến năm 1990, Jones, G.P.;Ferrell.D.J và Sale, P.F đã phân tích mối liênquan giữa sự đa dạng của nhóm động vật thân mềm ở đầm phá One Tree vàrạn san hô Great Barier ở Australia tác giả thấy rằng chính rạng san hô GreatBarier ở Australia đã cung cấp nơi sống, thức ăn cho con non và chỗ đẻ củathân mềm chân bụng ở đầm phá One Tree [22]
-Năm2001,tập thể các nhà khoa học E Risos-Jara, M Pê-Pena, R Beas-Luna,
E Lospez-Uriarte and E Juarez-Carillo, đã nghiên cứu sự phân bố và tính
phong phú của những loài thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) có
giá kinh tế ở thêm luc địa của Jalisco và Colima ở Mexico Trong nghiên cứunày các tác giả đã đưa ra sự phân bố và phong phú của các loài động vật thân
mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) và hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế
trong khu vực Trong nghiên cứu, mẫu vật được thu thập ở độ sâu từ 24-83m,
trong đó những loài thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) chủ yếu
được tìm thấy trong nền đáy là bùn cát ở độ sâu từ 24-40m Đồng thời trongnghiên cứu tác giả cũng phân tích giá trị kinh tế của một số loài thân mềm
thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) [21].
-Ở Brazin, từ năm 1999 đến năm 2003 có công trình nghiên cứu sự đa dạng
và phân bố của động vật thân mềm của các tác giả Colin R Beasley, carlos
M Fernandes, Cleidson p Gome, Bethanln A Brito, Sonia M LimadesSantos và Claudia H Tagllaro trong rừng ngập mặn thuộc bán đảo Ajuruteua(phía Đông bắc bang Para, Brazin) Kết quả đã xác định được: 19 loài chân
Trang 26bụng (Gastropoda) thuộc 15 họ, trong đó có 3 loài từ rừng ngập mặn, 9 loài
từ đáy cát và 3 loài từ đáy bùn cát Một mẫu duy nhất của chi Diodora sp
được tìm thấy trên bờ, đồng thời nghiên cứu cũng được xác định những loài
có giá trị kinh tế như Mytella sp, Crassostrea sp và biến động mật độ của
các loài qua các tháng của năm và biến động mật độ trên các loại môitrường.[19]
-Năm 2009, nhà sinh học người Úc với tác phẩm “Numbers of Living Species
in Australia and the World”, Chapman ước tính số loài còn sống trong nhóm
động vật thân mềm dao động từ 50.000 đến tối đa 120.000
3.2 Tình hình nghiên cứu thành phần động vật thân mền chân bụng
(Gastropoda) ở nước ta
Những công trình nghiên cứu sinh vật biển Việt Nam đầu tiên đã có từ cuốithế kỷ XVIII, với những khảo sát về trai ốc biển ở vùng biển Côn Đảo, kếtquả được công bố từ 1784 (Martin và Chemnitz, 1784) Tiếp sau đó là cáccông trình nghiên cứu khác của nhiều tác giả như Eydoux, Souleyet,Grandichau (1857), Michau (1861), Le Mesle (1894) ở vùng biển phía nam,rồi sau đó là các công trình nghiên cứu ở vùng biển phía bắc (vịnh Hạ Long)của Crosse và Fisher (1890), Fisher (1891)
Như vậy các nghiên cứu từ trước năm 1954 tuy còn lẻ tẻ và chủ yếu do ngườinước ngoài thực hiện nhưng cũng phần nào đánh giá được vai trò quan trọng
về nguồn lợi đa dạng sinh học biển
- Từ năm 1954- 1975, cùng với sự thành lập cơ quan nghiên cứu biển củanước ta, sự hợp tác nghiên cứu 1 số nước XHCN lúc bấy giờ tiến hành nhiềuchương trình nghiên cứu lớn ở Vịnh Bắc Bộ Với hợp tác Việt- Xô, Giáo Sư
E F.Gurjanova cùng các cán bộ điều tra ngành Thủy sản Việt trung, thựchiện điều tra trên vùng triều vịnh Bắc Bộ từ năm 1959 -1962 đã có những
Trang 27đóng góp đáng kể Năm 1972 công bố kết quả nghiên cứu xác định được 179
loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) ở vịnh Bắc Bộ.
- Cũng tại Vịnh Bắc Bộ năm 2009 , tác giả Đỗ Công Thung ngiên cứu vềnguồn lợi sinh vật sống ở đây thông kê được 4499 loài trong đó có 78 loàithân mềm có giá trih kinh tế Tác giả khẳng đinh đã có sự biến động nguồn lợi
số lượng giảm sút thể hiện rất nhanh qua so sánh số lieu năm 2006 là 187 loàiđộng vật thân mềm Sự suy giảm chỉ số đa dạng sinh học này này tỉ lệ thuânvới suy giảm hệ sinh thái trong vịnh.[9]
- Tháng 12/ 2012, , Đỗ Thanh An, Hoàng Đình Chiều nghiên cứu tại 19 đảo,trong thời gian 4 tháng với đề tài: “Tổng quan tình hình nghiên cứu động vật đáy trong hệ sinh thái rạng san hô và vùng ven đảo” xác định đượclớpChân
bụng (Gastropoda) tại các đảo có 97 loài thuộc 28 họ.
Nguyễn Thị Hải tại:khu vực ven biển Bắc Bộ: bãi bồi cửa sông Ba Lạt (TháiBình – Nam Định), bãi bồi cửa Đáy (Kim Sơn – Ninh Bình) đến Lạch Trường(Thanh Hóa), Khu vực ven biển Bắc Trung Bộ: bãi bồi cửa Hới (ThanhHóa), Khu vực ven biển Nam Trung Bộ: bãi bồi cửa Đại (lưu vực sông Gia
Vu – Thu Bồn), Khu vực ven biển Nam Bộ: bãi bồi mũi Cà Mau, cửa Định
An – sông Hậu (Trà Vinh, Sóc Trăng)đã xác định được 228 loài động vật đáy
thuộc 77 họ, 17 bộ, 5 lớp (Crustacea, Polychaeta, Oligochaeta, Bivalvia,
Gastropoda) của 3 ngành (Arthropoda, Annelida, Mollusca) Trong đó lớp
Chân bụng (Gastropoda): 96 loài (42,11%), lớp Hai mảnh (Bivalvia): 67 loài (29,39%), lớp Giáp xác (Crustacae): 50 loài (21,93%), lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta): 11 loài (4,82%), lớp Giun ít tơ (Oligochaeta): thuộc, 4 loài
(1,75%) trong các hệ sinh thái bãi bồi ven biển Việt Nam Trong đó cókhoảng 23 loài có giá trị kinh tế chủ yếu.Các loài động vật đáy tại các hệ sinhthái bãi bồi ven biển Việt Nam mang đặc tính nhiệt đới và chủ yếu là các loài
Trang 28nước lợ Số lượng loài và mật độ động vật đáy thấp hơn so với các nghiên cứutrước đây [14]
-Dựa trên các kết quả điều tra thuộc đề tài cấp tỉnh “Đánh giá khả năng phát
triển nuôi trồng thủy sản tại vùng cửa sông Lam, Nghệ An” giai đoạn
2006-2008, tác giả Nguyễn Thức Tuấn, Lê Minh Hải đã trình bày một số dẫn liệu
về nguồn lợi động vật thân mềm và giáp xác cỡ lớn tại vùng cửa sông Lam,
Nghệ An như sau: Lớp Chân bụng (Gastropoda) đã tìm thấy 16 loài, 16 giống
của 9 họ thuộc 4 bộ Trong đó bộ Archaeogastropoda có 4 loài, bộ
Mesogastropoda có 9 loài, bộ Orthogastropoda có 2 loài, bộ Stenoglossa có 1
loài Tác giả kết luận: đa dạng sinh học của động vật giáp xác và thân mềm cỡlớn ở nồng độ muối 18-0,50/00 (sông và RNM), ở nồng độ muối<0,50/00 tạicửa sông Lam đạt mức khá và đa dạng sinh học của động vật giáp xác và thânmềm cỡ lớn ở nồng độmuối 30-180/00 tại cửa sông Lam đạt mức kém./
-Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Huy Yết (1993) với đề tài: “Điều tra nguồn lợi
đặc sản vùng biển ven bờ và ven đảo từ Móng Cái đến Bắc đèo Hải Vân”,
đãđiều tra trên 90 điểm của 9 tỉnh đã xác định được 233 loài thuộc ngànhThân mềm [7]
-Năm 2009, có “ Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ thủy sinh vật và thủy
sản ở Búng Bình Thiên tỉnh An Giang” phục vụ cho việc đề xuất xây dựng
khu bảo tồn thủy sản nội địa” của Thái Ngọc Trí và các cộng sự đã xác định
48 loài động vật đáy, thuộc 28 họ, 6 lớp, 3 ngành Thuộc 3 nhóm chính : Thânmềm , giun, chân khớp Trong đó, thân mềm chiếm số lượng loài chủ yếu với
18 loài, 52,9% [12]
- Năm 2001, tác giả Trần Duy Linh với nghiên cứu sự phân bố của động vật
đáy theo nồng độ muối ở đầm phá Tam Giang- Cầu Hai- Thừa Thiên Huế xácđịnh được tại đây có 26 giống thuộc 15 họ, trong đó ngành thân mềm
(Mollusca) có 5 giống [16]
Trang 29- Ở vùng ngập mặn ven biển phía bắc Việt Nam từ Quảng Ninh đến ThanhHóa, có các công trình nghiên cứu của Phạm Đình Trọng, 1996; Đỗ VănNhượng và Hoàng Ngọc Khắc và Tạ Thị Kim Hoa, từ 1998 đến năm 2007, đã
công bố danh sách gồm 71 loài Chân bụng (Gastropoda) thuộc 21 họ và 35 giống Tác giả khẳng định: nhóm chân bụng (Gastropoda) rất phong phú các loài không có vỏ như Onchidium sp., Playtyvindex sp Còn các nhóm chân bụng (Gastropoda) khác phần lớn gặp Terebralia sulcata vốn là loài thích hợp với nền đáy cứng với thành phần chính là sỏi sạn Ốc cánh (Cerithidea
micropter) là loài đặc trưng cho nền đáy mềm lún có bùn Vùng nền đáy cao
có các cây ngập mặn thấp thường gặp khá tập trung các loài trong họ
Ellobiidae (Casidula nucleus, Ellobium chinensis ) sống dưới gốc cây ngập
mặn có hai loài điển hình cho vùng cao triều là Cerithidea ornate và vùng triều thấp và các loài trong họ Littorinidae.[3]
-Hệ sinh thái rừng ngập mặn đảo Cái Bầu, Quảng Ninh rất đặc biệt Nơi đây
đa dạng về các loại nền đáy , từ nền đáy là đá thuần nhất đến sỏi đá rồi sỏi sạn
và cát bùn hoặc bùn cát Đồng thời cũng đa dạng về thành phần thưc vật, tạonên các thảm thực vật khác nhau Cũng như đa dạng về độ cao nền đáy, độdốc bãi triều Tất cả các yếu tố đó tạo nên môi trường sống đa dạng cho động
vật đáy nói chung và thân mềm thuộc lớp chân bụng(Gastropoda) nói riêng Chính vì thế mà thành phần thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) ở
đáy có số lượng cao nhất (36 loài), chiếm tới hơn 50% tổng số loài chân bụng
(Gastropoda) trong khu vực Mật độ và sinh khối trung bình có thể đạt đến 73
cá thể/m2 và sinh khối là 107g/m2 Các loài điển hình như ốc gạo (Clithon
oualaniensis Leson hoặc C retropictus Marten, 1879), ốc mỡ (Nertia lineate Gmelin, 1791) Ở rừng ngập mặn từ Cửa Ông đến Ông Lập trầm tích bề mặt
là bùn sét, cát bột xám đen Tuy nhiên nền đáy ở đây vẫn biểu thị nền đáy cólẫn sỏi sạn Thành phần chính của động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng
Trang 30(Gastropoda) là các loài ốc vùng triều (Littorinidae) bám trên đá và cây ngập mặn, trên mặt bùn chủ yếu là các loài Cerithidea cinglata, Cerithidea
rhizophorarum.
- Quần đảo Hòn Mê được đánh giá là nơi có giá trị về đa dạng sinh học và sự
đa dạng về sinh cảnh Khu vực Hòn Mê là ngư trường đánh bắt cá quan trọng
ở vịnh Bắc Bộ, do nằm khá gần đất liền nên hoạt động khai thác hải sản ở đâyrất nhộn nhịp, nhất là vào mùa khai thác Trong một thời gian dài, nguồn tàinguyên đa dạng sinh học biển ở đây chưa được quản lý và khai thác một cáchhiệu quả và bền vững Việc sử dụng chất nổ và sử dụng lưới quét mặt nhỏđang trở thành vấn nạn và thách thức lớn đối với công tác quản lý nguồn lợithủy sản khu vực này Tại hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tàinguyên sinh vật lần thứ 5, Lưu Thế Anh với bài viết về “Đa dạng sinh học khu vực quần đảo Hòn Mê-Thanh Hóa”, đã thống kê được 102 loài tảo (thuộc
các ngành: Tảo Lam 3 loài, tảo Silic 85 loài, tảo Giáp 11 loài và tảo lục có 4loài); 47 loài động vật thân mềm (chân đầu có 14 loài, hai mảnh vỏ 16 loài và
chân bụng (Gastropoda) có 17 loài); 7 loài da gai; 37 loài giáp xác; 15 loài
rong biển; 72 loài san hô Tác giả khẳng định rõ trong những năm gần đây,nguồn lợi hải sản trong khu vực đã bị giảm sút nhanh, đặc biệt là các loài thủysinh vật quý hiếm và có giá trị kinh tế do tình trạng rạn san hô bị phá hủy vàhoạt động đánh bắt bằng các phương pháp hủy diệt (mìn, hóa chất, lưới kéođáy mắt nhỏ, ) Nhiều loài thuộc danh sách những loài quý hiếm có nguy cơtuyệt chủng tại Việt Nam
Nhìn chung tình hình nghiên cứu động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda)
trên thế giới và ở Việt Nam đã xuất hiện từ lâu và có nhiều công trình lớn bổsung thêm thành phần đa dạng của lớp chân bụng Tuy nhiên ở Đà Nẵng cònchưa thấy nghiên cứu mảng quan trọng này Vì vậy công trình nghiên cứuthành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng tại Đà Nẵng được sử
Trang 31dụng như những dẫn liệu ban đầu cho việc bảo tồn và phát triển bền vữngđộng vật thân mềm chân bụng ở nơi đây.
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda)
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Vùng biển Đà Nẵng
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 25 tháng 12 năm 2013 đến 15 tháng 5 năm 2014
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng
(Gastropoda) vùng biển Đà Nẵng
- Các loài động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) có giá trị kinh tế: sản
lượng và doanh thu của 1 số loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng
(Gastropoda)
- Các loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) quý hiếm
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thu mẫu ngoài thực địa
Việc thu mẫu được tiến hành bằng mua mẫu của các ngư dân tại bến cá, chợ
cá và thu tìm mẫu trực tiếp ngay trên bãi biển Sau đó thu góp và xử lí mẫu
Trang 32các loài động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda).
2.3.2 Phân loại động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda
Định loại các loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda)
bằng phương pháp so sánh hình thái Phân loại mẫu theo tài liệu của NguyễnNgọc Thạch (2007)
Mỗi loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) đều nêu tên
khoa học và tên Việt Nam nếu có Trình tự các bộ, họ, loài được sắp xếp theo
hệ thống phân loại của Nguyễn Ngọc Thạch (2007)
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lí số liệu bằng phần mềm Microsolf Excel
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 DANH MỤC, CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT
THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) TẠI VÙNG BIỂN ĐÀ
NẴNG
3.1.1 Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân
bụng (Gastropoda) vùng biển Đà Nẵng
Kết quả phân tích mẫu thu được của các đợt đã xác đ ịnh được: 64 loài thuộc
9 bộ, 27 họ khác nhau thuôc lớp chân bụng ( Gastropoda).
Bảng 3.1:Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng
Trang 333 Architectonica perdix Ốc Cuốn Chiếu
(5) Pleuroceridae
7 Conus Distans Hwass in Bruguiere Ốc Cối Vàng Nhạt
9 Calibanus furvus granifer Ốc Cối Vàng Bông
14 Nassarius cabrierensis ovoideus Ốc Nho
Trang 3420 Nassarius vittatus Ốc Nho
23 Oliva (Oliva) mustelina Lamarck Ốc Mực Miệng Tím
33 Babylonia Japonica Reeve Ốc Hương Việt Nam
34 Murex adumcospinosus Sowerby Ốc Gai Dài
Trang 35VIII SORBEOCONCHA
37 Drupella ochrostoma Blainville, Ốc Cóc
Trang 3653 Strombus vittatus vittatus Linnaeus Ốc Nhảy Cánh Bướm
60 Turritella bacillum keener Ốc Tháp
Trang 373.1.2.Cấu trúc thành phần loài động vật thần mềm thuộc lớp chân
bụng (Gastropoda) vùng biển Đà Nẵng
Ở mỗi hệ sinh thái, cấu trúc thành phần loài sinh vật được sắp xếp trong họ,
bộ luôn luôn khác nhau tạo nên tính đặc trưng riêng Vùng biển Đà Nẵng nằmtrong cảnh quan có địa hình rất phong phú, có thảm cỏ biển phát triển là nơisinh sống cũng là ngồn thức ăn cho ấu trùng, con non Với điều kiện tự nhiênthuận lợi, do vậy, cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân
bụng (Gastropoda) thể hiện rất rõ rệt về tính đa dạng
Bảng 3.2: Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm chân bụng
Tên khoa học
% Loài trong họ
Tên khoa học
Pomaceabridgesii Ampullariius
Trang 38granifer Conius sp.
filiareginae J Cate
Nassarius (Nassarius) angulicostis
incrassatus Nassarius (Nassarius) cabrierensis ovoideus Nassariuscrematus Nassariusnodifer Ilyanassa obsolete Nassariusagapetus Nassarius variegates Nassarius cabrierensis Nassarius (Aciculina) vittatus
Nassarius sp.
mustelina Lamarck Shallow water on sand
Terebracrenulata form fimBriatedesheyes Triplostephanus lima (Terebra lima)
Lophiotomaleucotropis Gemmulaspeciosa