Vì vậy, để khai thác hết giá trị của thí nghiệm thực hành thì việc sử dụng thí nghiệm vào bài mới là một trong những biện pháp tối ưu nhằm phát huy được năng lực giải quyết các vấn đề, t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực chưa từng được ai công
bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả khóa luận
Ngô Thị Ty
Trang 4Hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Hải Yến, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Sinh – Môi trường trường Đại học Sư phạm đã nhiệt tình giảng dạy và có những ý kiến quý báu đóng góp cho
đề tài
Xin cảm ơn Ban Giám Hiệu và giáo viên giảng dạy môn Sinh học trường THPT Phan Thành Tài; giáo viên trường THPT Hoà Vang đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Xin gửi lời cảm ơn đến các em học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, trường THPT Hòa Vang và THPT Phan Thành Tài đã hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi hoàn thành tốt đề tài khóa luận này
Cảm ơn các bạn sinh viên trong lớp 13SS đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Do trình độ nghiên cứu và thời gian có hạn, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 30 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Ty
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.1 Xuất phát từ mục tiêu đổi mới của chương trình Sinh học phổ thông 1
1.2 Xuất phát từ vai trò của thí nghiệm thực hành đối với dạy học Sinh học 1
1.3 Xuất phát từ thực trạng dạy học Sinh học ở trường phổ thông 2
1.4 Xuất phát từ việc nghiên cứu chương trình Sinh học 11 2
2.MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3
3.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 5
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.2.1 Khái niệm thí nghiệm 8
1.2.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học 9
1.2.3 Tầm quan trọng của TN trong dạy học Sinh học 13
1.2.4 Phân loại thí nghiệm trong quá trình dạy học Sinh học 16
1.2.5 Yêu cầu của thí nghiệm trong dạy học Sinh học 19
1.2.6 Phương pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học 19
1.2.7 Các yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm để dạy kiến thức mới 24
Trang 61.3.1.1 Thực trạng dạy học của giáo viên 25
1.3.1.2 Thực trạng học tập của học sinh 27
1.3.2 Nguyên nhân của thực trạng trên 29
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 31
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 31
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 31
2.3.2 Phương pháp điều tra giáo dục 32
2.3.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 32
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 32
2.3.5 Xử lí số liệu bằng thống kê toán học 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM DÙNG TRONG DẠY HỌC KIẾN THỨC MỚI, PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ THỰC VẬT, SINH HỌC 11 36
3.1.1 Cấu trúc nội dung, kiến thức chương trình Sinh học 11 phần “ Sinh học cơ thể Thực vật” 36
3.1.2 Hệ thống thí nghiệm dùng để dạy kiến thức mới, phần Sinh học cơ thể Thực vật, sinh học 11 41
3.2 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ BIỆN LUẬN 67
3.2.1 Phân tích kết quả về mặt định lượng 67
3.3.2 Phân tích kết quả về mặt định tính 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 KẾT LUẬN 73
2 KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
1.1 Kết quả điều tra về phương pháp dạy học bằng thí nghiệm
1.2
Kết quả điều tra về mức độ sử dụng thí nghiệm của giáo viên trong quá trình giảng dạy môn Sinh học phần Sinh học cơ thể Thực vật
26
1.3 Kết quả điều tra về học tập của học sinh 27
3.1 Nội dung kiến thức và mục tiêu dạy học chương trình Sinh
3.2 Bảng phân phối thí nghiệm thực hành trong chương trình
Sinh học 11 phần Sinh học cơ thể thực vật 40
3.4 Số bài kiểm tra trong thực nghiệm sư phạm 68
3.8 Bảng phân phối tần suất theo xếp loại trình độ học sinh 71
Trang 9Số hiệu
1.1 Mối quan hệ các thành tố cơ bản của quá trình dạy học 10
3.1 Qui trình các bước lựa chọn TN để dạy kiến thức mới 41
3.2 TN1 chứng minh sự thoát hơi nước qua lá 44
3.3 TN chứng minh quá trình quang hợp thải ra O2 ( TN ảo) 46
3.6 TN thử chất khí tạo thành trong ống nghiệm ở cốc B: que
3.7 Qui trình sử dụng thí nghiệm để dạy kiến thức mới 49
3.8 Biểu đồ phân phối tần suất điểm kiểm tra 69
3.9 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 70
3.10 Biều đồ phân phối tần suất theo xếp loại trình độ HS 71
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Xuất phát từ mục tiêu đổi mới của chương trình Sinh học phổ thông
Đào tạo con người của thời đại mới đáp ứng với sự phát triển mạnh mẽ của
xã hội luôn là vấn đề quan trọng được ưu tiên hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam Muốn vậy, đòi hỏi nền giáo dục phải có sự đổi mới một cách toàn diện, căn bản về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của người học Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của cải cách giáo dục, vấn đề này đã được cụ thể hóa
trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, tại mục 5.3 đã ghi rõ: “Tiếp tục
đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giá, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học ở người học”
[2] Đặt biệt, sau 2017 sẽ thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa theo định hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực ở học sinh Theo dự kiến, từ năm 2018 – 2023 thì chương trình đổi mới sách giáo khoa theo cả ba cấp học sẽ lần lượt được thực hiện trên phạm vi toàn quốc Chính vì thế, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cũng cần được đổi mới mạnh mẽ theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học; tập trung dạy cách học và tự học, không nhồi nhét chạy theo khối lượng kiến thức nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở người học
1.2 Xuất phát từ vai trò của thí nghiệm thực hành đối với dạy học Sinh học
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm chính vì vậy mọi khái niệm, quy luật, hiện tượng, quá trình trong sinh học đều bắt nguồn từ thực tiễn Các kiến thức Sinh học phần lớn được phát hiện thông qua quá trình quan sát và thí nghiệm Thí nghiệm vừa là phương tiện tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, vừa rèn luyện năng lực nghiên cứu theo tư duy của nhà khoa học Thí nghiệm giúp kích thích hứng thú học tập tự lực, tích cực sáng tạo của học sinh, là phương tiện tổ chức
Trang 11các hình thức làm việc tập thể khác nhau, bồi dưỡng đạo đức cho học sinh Bởi vậy, trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông thí nghiệm thực hành trở thành một cầu nối thật sự hiệu quả giữa lí thuyết và thực tiễn giúp nâng cao chất lượng chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng mới ở học sinh Thí nghiệm sẽ là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình học tập nhận thức của học sinh Đồng thời, sử dụng thí nghiệm trong dạy học giúp rèn luyện cho học sinh tính tự giác, tích cực trong học tập và giáo dục cho các
em lòng say mê nghiên cứu khoa học
1.3 Xuất phát từ thực trạng dạy học Sinh học ở trường phổ thông
Thực trạng dạy học Sinh học hiện nay cho thấy, phần lớn giáo viên áp dụng phương pháp thuyết trình, truyền đạt kiến thức một chiều, người dạy chỉ chú trọng giảng giải, minh họa và thông báo các kiến thức có sẵn, còn học sinh ngồi nghe kiến thức một cách thụ động [9] Giáo viên vẫn chưa chú trọng đến việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, khai thác phương tiện trực quan và thí nghiệm trong quá trình dạy học Nếu có thì việc sử dụng các thí nghiệm Sinh học ở trường phổ thông vẫn chưa có nhiều đổi mới, chỉ tập trung trong những bài thực hành nhằm củng cố, minh họa lí thuyết nên hiệu quả đem lại không cao [10] Dạy học trên lớp bằng các thí nghiệm vẫn ít được chú trọng và khai thác bởi các thí nghiệm phức tạp, tốn kém, mất nhiều thời gian tổ chức Thêm vào đó, kỹ năng thực hành của một số
bộ phận giáo viên bộ môn còn nhiều hạn chế dẫn đến tâm lí ngại dạy và tổ chức các hoạt động thí nghiệm trong giờ học [13] Trong khi việc sử dụng các thí nghiệm nhằm mục đích tìm tòi, nghiên cứu để đi đến kiến thức mới sẽ mang lại nhiều ý nghĩa khác biệt và tạo hứng thú học tập tốt hơn [10] Vì vậy, để khai thác hết giá trị của thí nghiệm thực hành thì việc sử dụng thí nghiệm vào bài mới là một trong những biện pháp tối ưu nhằm phát huy được năng lực giải quyết các vấn đề, tính chủ động và sáng tạo, giúp học sinh hiểu rõ bản chất của sự vật hiện tượng Sinh học
trong quá trình học
1.4 Xuất phát từ việc nghiên cứu chương trình Sinh học 11
Trong chương trình Sinh học 11, kiến thức Sinh học 11 phần “ Cơ thể Thực vật” tập trung tìm hiểu về các quá trình trao đổi chất và năng lượng, về tính cảm ứng, sinh trưởng phát triển và sinh sản của thực vật Đây là một phần kiến thức khá
Trang 12thú vị, gần gũi với học sinh, nguồn nguyên liệu dễ kiếm và dễ đưa vào lớp học tiến hành thí nghiệm Tuy nhiên, việc sử dụng thí nghiệm trong giờ học Sinh học nhằm
tổ chức cho học sinh tìm hiểu kiến thức mới còn rất ít và chưa được chú trọng Các thí nghiệm được bố trí trong các bài lí thuyết và thực hành chỉ tập trung ở cuối chương nhằm củng cố và minh họa lí thuyết Chính vì vậy, để nội dung kiến thức phần “Cơ thể Thực vật” trở nên hấp dẫn đối với người học hơn thì cần có nhiều thí nghiệm thú vị trong giờ học để học sinh khám phá và phát hiện ra kiến thức mới [6] Trên cơ sở đó, các em có thể vận dụng các kiến thức Sinh học vào thực tiễn đời
sống
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Sử
dụng thí nghiệm trong dạy học kiến thức mới, phần Sinh học cơ thể Thực vật, Sinh học 11 – THPT”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng quy trình sử dụng thí nghiệm và đề xuất cách sử dụng thí nghiệm
cụ thể trong dạy học kiến thức mới phần Thực vật chương trình Sinh học 11, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Sinh học ở trường THPT
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng thí nghiệm để dạy kiến thức mới phù hợp nội dung thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy – học
Trang 13CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG
DẠY HỌC SINH HỌC
1.1.1 Trên thế giới
Trong giáo dục, vấn đề thí nghiệm thực hành đã được nghiên cứu từ rất lâu
và mang lại nhiều thành quả to lớn trong quá trình dạy học Vào thế kỉ XVII, nhà bác học Galile đã xây dựng thành công phương pháp thực nghiệm và có những bước tiến quan trọng trên con đường đi tìm chân lí với câu nói nổi tiếng: “Muốn hiểu biết thiên nhiên phải trực tiếp quan sát thiên nhiên, phải làm thí nghiệm” Sau này, nhiều nhà khoa học khác đã kế thừa phương pháp này của ông và xây dựng nó cho hoàn chỉnh hơn Phương pháp này dần được áp dụng vào nhiều ngành khoa học nói chung và ngành khoa học thực nghiệm nói riêng, trong đó có Sinh học [15]
Ngay sau Galile, một nhà giáo dục tài ba của thế kỉ XVII là J.A.Konmenxki
đã cho rằng: “Sẽ không có gì hết trong trí não nếu trước đó không có gì trong cảm giác” Theo ông, dạy học bắt đầu không thể đi từ giải thích về các sự vật mà phải trực tiếp quan sát chúng và chứng minh bằng cảm tính Dạy học dựa vào cảm giác càng nhiều thì kiến thức càng chính xác Qua đó, có thể thấy được đóng góp to lớn của ông trong việc phát triển cũng như tích lũy được kinh nghiệm về trực quan nói chung, thí nghiệp thực hành nói riêng và áp dụng nó một cách hiệu quả trong quá trình dạy học [22]
Bước vào thế kỉ XVII, cũng xuất phát từ quan điểm xem quan sát là cơ sở của mọi tri thức, nhà giáo dục Thụy sĩ G Pestalossi cho rằng: “Số cơ quan cảm giác tham gia vào quá trình nhận thức càng lớn thì kiến thức của chúng ta càng chính xác hơn” Tuy nhiên, G Pestalossi khác với J.A.Konmenxki ở chỗ thí nghiệm là điểm tựa để biến những biểu tượng chưa rõ thành những biểu tượng rõ ràng, chính xác [20]
Trang 14K.Đ.Usinxki (1824-1870) đã cho rằng phương tiện trực quan chính là phương tiện để phát triển tư duy Trực quan làm cho quá trình tiếp thu tri thức của học sinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập, kích thích tính tích cực của học sinh; là phương tiên tốt nhất giúp giáo viên gần gũi với học sinh, học sinh gần gũi với thực tiễn và là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh [20]
Ngoài ra, có rất nhiều các nhà nghiên cứu giáo dục cũng quan tâm đến việc vận dụng phương pháp thực hành thí nghiệm vào dạy học như: M.A Danilop, I.F Kharlamov, B.P Exiprop, Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan), I.I Samova, M.N Veczelin (Nga) Trong đó, Skinner (1986) đã đưa ra mô hình dạy học khám phá bằng việc sử dụng thí nghiệm thực hành và ông cho rằng: “ Dạy học là quá trình tự khám phá”
Từ thế kỉ XX, dạy học bằng phương pháp thực hành thí nghiệm đã dược sử dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức… Vào những năm 1980 – 1990, ở Pháp đã có nhiều trường sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong dạy học và được xem là phương pháp trọng tâm của các môn khoa học tự nhiên ở các trường trung học [4]
Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu vị trí, vai trò của thí nghiệm thực hành trong điều kiện hiện đại, nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề sử dụng thí nghiệm thực hành trong dạy học như: Tônlinhnênoova, X.G Sapôralenkô, M H Sacmaep, L.V Dancôp, P.R Atulôp, V.G Bootianxki… Trong đó, Tônlinhnênoova nhấn mạnh vai trò và mối quan hệ của phương tiện trực quan nói chung và thí nghiệm thực hành nói riêng trong quá trình dạy học Ông cho rằng:“ không có quá trình sư phạm thì phương tiện trực quan được chế tạo tốt bao nhiêu thì cũng không hề thể hiện được bất kì một vai trò hay chức năng gì”
Bên cạnh đó, K.G Nojko cũng khẳng định vấn đề không phải chỉ ở chỗ sản xuất, cung cấp cho nhà trường dụng cụ, phương tiện, nội dung của các thí nghiệm thực hành mà chủ yếu làm cho các thí nghiệm thực hành đó được giáo viên sử dụng
có hiệu quả cao [20]
1.1.2 Ở Việt Nam
Trang 15Việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng thí nghiệm ở trường phổ thông luôn là một vấn đề được quan tâm trong xu thế tìm kiếm con đường nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông Ở Việt Nam, có rất nhiều nhà lý luận dạy học đã có hướng nghiên cứu về phương pháp thí nghiệm thực hành, nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức như: Nguyễn Ngọc Quang, Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Văn Duệ, Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao [1], [9]
Từ trước đến nay, thí nghiệm được xem là khởi nguồn cho tri thức khoa học Đặc biệt trong dạy học, thí nghiệm được nhiều tác giả vận dụng rất hiệu quả bởi sử dụng thí nghiệm giúp tích cực hóa quá trình hoạt động nhận nhận thức của học sinh, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và sâu sắc hơn Tác giả Nguyễn Vĩnh Hiển (2003), đã đề xuất được biện pháp, quy trình sử dụng thí nghiệm trong dạy học kiến thức hình thái, sinh lí thực vật sinh học 6 và đã phân tích được vai trò của hoạt động quan sát thí nghiệm trong quá trình dạy học nói chung và dạy học sinh học nói riêng [8]
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và sử dụng thí nghiệm phát triển theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh còn được quan tâm bởi tác giả Nguyễn Thị Dung (2006) trong công trình nghiên cứu “Tích cực hóa hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố môn Sinh học ở phổ thông” tác giả đã tập trung nghiên cứu vai trò và hiệu quả của thí nghiệm trong khâu củng cố kiến thức dựa trên quan niệm dạy học mới hiện nay Tác giả cho rằng việc tích cực hoạt động học tập trong giờ thực hành cần được coi trọng, bằng cách tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm con đường chứng minh cho các vấn đề được học [4]
Với tác giả Nguyễn Thị Liên (2004), đề tài “Khai thác sử dụng bài tập thí nghiệm nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong dạy học phần Quang học lớp 7 Trung học cơ sở” - Luận văn thạc sĩ, Đại học sư phạm Huế Theo tác giả, một trong những yếu tố tăng cường tính tích cực sáng tạo của học sinh là sử dụng các bài tập thí nghiệm [12] Trong bộ môn Hóa học, tác giả Cao Ngọc Sằng
(2005) cũng có đề tài theo hướng nghiên cứu tương tự: sử dụng thí nghiệm làm tăng
tính tích cực hoạt động học tập của học sinh trong dạy học [15]
Trang 16Ngoài việc nghiên cứu và xây dựng thí nghiệm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học sinh học nói riêng và dạy học các môn khoa học nói chung đã có các công trình nghiên cứu các thí nghiệm và vai trò của thí nghiệm trong việc phát triển kĩ năng tư duy như công trình nghiên cứu của tác giả Cao Cự Giác (2004) Trường Đại học Sư phạm Vinh Theo tác giả, việc sử dụng thí nghiệm thực hành không chỉ cung cấp kiến thức, củng cố kiến thức mà còn rèn luyện cho học sinh được các kĩ năng tư duy thực nghiệm và các thao tác thực hành [7] Nguyễn Tiến Dũng (2007) một lần nữa nữa khẳng định hiệu quả của sử dụng TN trong dạy học để phát triển kỹ năng tư duy qua những nghiên cứu được tiến hành trong môn Vật lý [5]
Bên cạnh những nghiên cứu về vai trò của TN trong dạy học có nhiều tác giả quan tâm đến việc cải tiến và nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học như: Tác giả Nguyễn Thị Thắng (2006) đã đề xuất một số kinh nghiệm thực hiện thành công dạy học thực hành cho học sinh lớp 8, khiến cho quá trình dạy học hiệu quả hơn rất nhiều [18] Nhận thấy tầm quan trọng của sử dụng TN trong dạy học nên càng về sau nhiều đề tài nghiên cứu ra đời Năm 2009, tác giả Hoàng Việt
Cường, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Trong có công trình nghiên cứu:
“Nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học sinh học tế bào (sinh học 10)” Tác giả đã nghiên cứu và đề xuất các phương án cải tiến cách làm và cách sử
dụng một số thí nghiệm trong dạy học sinh học tế bào để góp phần nâng cao chất lượng dạy học sinh học 10 ở trường THPT [3]
Tác giả Trần Huyền Thanh (2015) “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học Sinh
học 11- THPT nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu cho học sinh” Đề tài tập trung
nghiên cứu vấn đề thí nghiệm sinh học được sử dụng như thế nào trong dạy học sinh học 11 và thiết kế một số giáo án thuộc chương trình Sinh học 11 có sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển năng lực nghiên cứu cho học sinh [16] Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra các kinh nghiệm, nguyên tắc cải tiến các thí thí nghiệm cũng như các phương án đề xuất mới giúp nâng cao chất lượng dạy học bằng thí nghiệm Nhưng hầu hết các thí nghiệm tập trung vào các bài thực hành trong sách giáo khoa phục vụ cho khâu củng cố kiến thức
Trang 17Như vậy, trên Thế giới và ở Việt Nam việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học
đã được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng thí nghiệm để dạy kiến thức mới nhằm nâng cao chất lượng dạy - học trong môn Sinh học còn rất hạn chế Hiện nay, một trong những biện pháp để đổi mới PPDH hiện nay ở trường phổ thông là tăng cường khai thác và sử dụng các phương tiện trực quan trong DH, trong đó có việc sử dụng thí nghiệm trong khâu dạy học kiến thức mới trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu lý luận, đề xuất quy trình thiết kế thí nghiệm và đề xuất giải pháp sử dụng các thí nghiệm để dạy kiến thức mới trong quá trình dạy học Sinh học là điều rất cần thiết
và có ý nghĩa to lớn
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Khái niệm thí nghiệm
Nếu quan sát là phương pháp nghiên cứu các đối tượng và hiện tượng có sẵn trong điều kiện tự nhiên thì thí nghiệm là phương pháp nghiên cứu đối tượng và hiện tượng trong điều kiện nhân tạo Trong phức hợp các điều kiện tự nhiên tác động lên sinh vật, người nghiên cứu chỉ còn vài yếu tố chuyên biệt để riêng cứu lần lượt các ảnh hưởng của chúng Thí nghiệm là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học Sinh học , vì vậy nó cũng được sử dụng trong dạy học Sinh học [17]
Theo Klaus (từ điển triết học – Leipig 1976) thí nghiệm (TN) là phương pháp, là cách thức mà bằng cách nào đó con người tác động một cách có ý thức, hệ thống lên các sự vật và hiện tượng xảy ra trong một điều kiện nhất định
TN được xem là một trong những phương tiện trực quan quan trọng hàng đầu trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng TN giúp HS trực tiếp quan sát các hiện tượng, quá trình, tính chất của các đối tượng nghiên cứu Thí nghiệm được hiểu là gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện nhất định để tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh [1], [17]
TN cũng được sử dụng để kiểm tra tính chính xác của một lý thuyết hoặc một giả thuyết mới để ủng hộ chúng hay bác bỏ chúng Bên cạnh đó, TN vừa là phương tiện, vừa là nguồn cung cấp kiến thức mới có vai trò quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển tư duy, sáng tạo của HS TN có thể do GV biểu diễn hoặc HS tự
Trang 18tiến hành ở trên lớp, trong phòng TN, ngoài vườn trường, ở nhà, đồng ruộng… Song GV có thể căn cứ vào nội dung bài học và điều kiện cụ thể mà có thể sử dụng các TN nhằm mục đích giúp HS lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện cho các
em phẩm chất của một nhà nghiên cứu khoa học và làm cho HS thêm yêu môn học
1.2.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học
a Cơ sở triết học
Theo triết học Mác-Lênin: “Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn” Quá trình nhận thức bao gồm cả việc học tập và nghiên cứu Ở cả hai mức độ này các hình ảnh trực quan đều đóng vai trò đặc biệt quan trọng Hình ảnh trực quan vừa thực hiện chức năng nhận thức (thông tin) vừa thực hiện chức năng điều khiển hoạt động của con người Vai trò của trực quan trong nhận thức không chỉ là thuộc tính phản ánh của sự phản ánh hiện thực khách quan trong nhận thức cảm tính mà còn là sự tái tạo hình tượng các đối tượng hoặc hiện tượng nhờ các mô hình được kiến tạo từ các nhân tố trực quan sinh động trên cơ sở những tri thức đã tích lũy được về đối tượng hoặc hiện tượng ấy
Hoạt động trí tuệ của con người được bắt đầu từ cảm giác, tri giác sau đó mới đến tư duy Nói cách khác, hoạt động nhận thức của con người bắt đầu là nhận thức cảm tính (còn gọi là trực quan sinh động) Đó là giai đoạn mà con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật nhằm năm bắt các sự vật ấy Trong nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn không bản chất, cả cái tất yếu và cái ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn cái bên ngoài sự vật Nhưng ở đây, con người chưa phân biệt được cái gì bản chất với không bản chất; đâu là tất yếu với đâu là ngẫu nhiên; đâu là cái bên trong với cái bên ngoài Để phân biệt được những điều nói trên, con người phải vượt lên một mức nhận thức cao hơn- nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng) đây là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính những đặc điểm bản chất của đối tượng, giai đoạn này chính là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất có quy luật của sự vật, hiện tượng Vì vậy, nó đạt đến trình độ phản ánh
Trang 19sâu sắc hơn và đầy đủ hơn cái bản chất của đối tượng Tuy vậy, sự phát triển tư duy
ở mức độ nào cũng luôn chứa đựng mối quan hệ với nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, sự tác động của khách thể cảm tính là cơ
sở cho nhận thưc lí tính Nhận thức lí tính nhờ có tính khái quát cao lại có thể hiểu được bản chất, qui luật vận động và sự phát triển sinh đọng của sự vật giúp cho nhận thức cảm tính có định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn [22]
Như vậy, hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thực khách quan với những mức độ phản ánh khác nhau và trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lí tính Hai giai đoạn này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau VI Lênin đã tổng kết mối quan hệ đó thành quy luật của hoạt động nhận thức: “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – Đó là con đường biện chứng của sự nhận thưc chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
b Cơ sở lí luận dạy học
Quá trình dạy học bao gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết với nhau: mục đích, nội dung, phương tiện và phương pháp dạy học
Có thể biểu diễn mối quan hệ của các thành tố trong quá trình dạy học theo sơ đồ
Trang 20Trong mô hình trên, phương tiện là đối tượng vật chất giúp cho giáo viên và học sinh tổ chức có hiệu quả quá trình dạy học Nhờ phương tiện dạy hoc, giáo viên
có thể tổ chức, điều kiển quá trình dạy học giúp học sinh tổ chắc các hoạt động nhận thực của mình một cách hiệu quả
Trong hoạt động dạy hoc, mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Thông qua các chủ thể tương ứng là xã hội (mục đích – nội dung dạy học, giáo viên- phương pháp dạy, học sinh - phương pháp hoc, giáo viên- phương tiện dạy học) Trong các thành phần nêu trên giáo viên đóng vai trò chủ đạo Căn cứ vào nội dung dạy hoc, tình hình học sinh, phương tiện hiện có, giáo viên có thể lựa chọn phương thức tác động vào học sinh nhằm đạt mục đích day học
Thực tế dạy học đã chứng minh, quá trình nhận thức của con người đều xuất phát điểm từ thực tiễn, từ những hình tượng trực quan tri giác được trong cuộc sống Trực quan đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành khái niệm Nó là phương tiện phát triển tư duy loogic của học sinh Vì vậy, trong quá trình dạy học không thể tách rời việc sử dụng các phương tiện dạy học Nó được sử dụng để khắc phục những khoảng cách giữa việc tiếp thu lí thuyết và thực tiễn, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh được dễ dàng, cụ thể và sinh động hơn Ngày nay, nhờ những thành tựu khoa học kĩ thuật, công nghệ mang lại, phương tiện dạy học càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường Nó cho phép đưa vào bài học những nội dung diễn cảm, hứng thú, làm thay đổi phương pháp và hình thức dạy học tạo ra cho quá trình dạy học một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lí Đây là một trong những đặc điểm nỗi bật của nhà trường hiện đại
Khi học sinh nghiên cứu một môn học, ở mỗi em đã có sự tích lũy ban đầu
về những đối tượng có liên quan đến hiện tượng nghiên cứu nhưng những biểu tượng này không động lại ở tất cả học sinh về mức độ chính xác và số lượng các biểu Vì thế, người ta xây dựng các khái niệm từ sự quan sát trực tiếp các đối tượng, hiện tượng có sẵn trong thực tiễn hoặc tái tạo chúng bằng phương pháp nhân tạo
Trang 21thông qua hình ảnh, mô hình và các biểu tượng… hay như người ta vẫn gọi là phương tiện trực quan
Có thể nói các phương tiện dạy học là công cụ nhận thức thế giới của học sinh Mỗi loại phương tiện đều có thể hoàn thành cho việc hoàn thành các tri thức kinh nghiệm, tri thức lí thuyết và những kĩ năng kĩ xảo thực hành, kĩ năng và kĩ xảo trí tuệ Một trong những phương tiện hỗ trợ đắc lực cho quá trình dạy học nói chung
và dạy học sinh học nói riêng là các thí nghiệm thực hành Các thí nghiệm thực hành nhằm tái tạo các hiện tượng tự nhiên, là nguồn kiến thức phong phú, là chiếc cầu nối giữa tự nhiên và hoạt động nhận thức của con người Thí nghiệm thực hành
có khả năng làm bộc lộ các mối quan hệ bên trong phát sinh giữa các sự vật hiện tượng Hơn nữa, nhờ thí nghiệm thực hành mà học sinh thêm yêu môn học, có khả năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn sản xuất, làm giàu cho gia đình và
xã hội Đồng thời cũng giúp hình thành ở các em tư duy khoa học [18]
Tuy nhiên các em cần phải thấy rằng phương tiện dạy học dù có hiện đại đến đâu, chúng cũng chỉ đóng vài trò như các công cụ trong sự điều kiển của giáo viên, không thể thay thế giáo viên trong quá trình dạy học Hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phương pháp sử sụng của người giáo viên
Qua sự phân tích trên cho thấy: TN thực hành là một trong những phương tiện quan trọng trong quá trình dạy học, nó là nguồn cung cấp kiến thức, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là phương tiện để phát huy tiềm năng tư duy, tính tích cực của học sinh Tuy nhiên không phải lúc nào người giáo viên cũng có thể sử dụng thí nghiệm thực hành đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học Việc khai thác thí nghiệm thực hành đòi hỏi người giáo viên phải có kĩ năng, kĩ xảo và phương pháp phù hợp Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm thực hành trong quá trình dạy học nói chung và dạy học sinh học nói riêng là hết sức cần thiết và vô cùng quan trọng
c Cơ sở lí luận với tâm lí học
Lứa tuổi trung học phổ thông thường dao động từ 16 đến 18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên Ở THPT, người học sinh bước vào giai đoạn cuối
Trang 22của quá trình chuẩn bị nền tảng cho sự tham gia vào hoạt động nghề nghiệp và các dạng lao động khác Có thể nói học sinh THPT là một nhóm người xã hội đặc biệt, được chuẩn bị để bước vào lĩnh vực học tập, nghề nghiệp hoặc trực tiếp tham gia vào lao động xã hội Đặc điểm nổi bật về sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT là: tính chủ động, tính tích cực, tính tự giác cao được thể hiện qua quá trình nhận thức Cảm giác đã đạt tới mức độ tinh nhạy của người lớn Tri giác không gian và tri giác thời gian không còn mắc sai lầm như lứa tuổi trước Tri giác chủ định phát triển, năng lực quan sát được nâng cao, quan sát trở nên hệ thống, có mục đích và toàn diện hơn Tuy nhiên một số em còn kém, phiến diện nên dẫn đến kết luận còn thiếu
cơ sở thực tiễn Trong dạy học giáo viên cần dạy cho học sinh cách quan sát, quan sát có mục đích như lời khuyên của I.P Pavlov: “Không ngừng lại ở bề mặt của hiện tượng” Hơn nữa ở lứa tuổi này, năng lực tư duy trừu tượng cũng phát triển mạnh, sự vận dụng các thao tác tư duy đã khá nhuần nhuyễn, các năng lực phân tích, tổng hợp, tư duy, phán đoán suy luận, năng lực khái quát hóa và trừu tượng hóa cũng phát triển mạnh Bởi vậy, các em có thể lĩnh hội một cách thuận lợi các khái niệm trừ tượng
Từ sự phân tích trên cho thấy, trong quá trình dạy học, giáo viên cần lựa chọn các phương pháp, phương tiện dạy học một cách hợp lí để khai thác có hiệu quả năng lực quan sát và năng lực tư duy của học sinh giúp các em lĩnh hội kiến thức một các đầy đủ và sâu sắc
Do có sự hình thành và phát triển mạnh mẽ về thế giới quan… mà học sinh THPT có niềm tin vào bản thân mình, các em hiểu rằng cuộc sống tương lai gắn liền với việc lựa chọn nghề nghiệp
1.2.3 Tầm quan trọng của TN trong dạy học Sinh học
Sinh học hiện đại ngày càng mang tính lí thuyết cao, nhưng để phát hiện cơ
sở lí thuyết vẫn phải bằng con đường thực nghiệm Chính vì vậy, trong giáo dục ở nhà trường hiện nay bên cạnh việc đào tạo ra những con người nắm vững các kiến thức khoa học mà còn cần giỏi thực hành, có bàn tay khéo léo thể hiện được những điều mà bộ óc suy nghĩ Nếu không có điều đó thì những hiểu biết của con người chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức lí thuyết, chưa tác động vào thực tiễn
Trang 23để tái tạo lại thế giới và cải tạo nó Nhận thức lí luận và việc vận dụng lí luận vào thực tiễn là hai mặt của một quá trình nhận thức nhưng giữa chúng có một khoảng cách rất xa mà chúng ta không thể vượt qua được nếu không thông qua hoạt động thực hành
Khi hoạt động vớ i công cụ, HS có điều kiện đưa các vật vào nhiều hình thức tác động tương hỗ Điều đó làm rõ mối quan hệ nội tại giữa các vật, làm xuất hiện bức tranh chân thực về thế giới Trong quá trình TN, thực hành, các kiến thức lí thuyết mà HS tiếp thu được trên lớp thường ở dạng hỗ trợ làm chúng trở nên sinh động, làm rõ bản chất và khả năng của chúng Nhờ vậy, HS sẽ thấy thấy rõ vị trí, vai trò của mỗi kiến thức trong hoạt động thực tiễn Khi tiếp xúc với thực tiễn, bằng hành động, hứng thú của HS được kích thích, tư duy của HS luôn được đặt trước những tình huống mới, buộc HS phải suy nghĩ, tìm tòi, phát triển trí sáng tạo, gia tăng hoạt động độc lập trong nhận thức của HS [1] [11]
Trong quá trình dạy học nói chung và trong dạy học SH nói riêng, TN thực hành đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi SH là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức lí thuyết luôn gắn liền với việc giải quyết những vấn đề của đời sống xã hội Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TN trong dạy học SH là hết sức cần thiết, GV cần coi TN là phương tiện để tổ chức hoạt động nhận thức, rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức Sinh học vào đời sống sản xuất [9]
TN là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh [1]
Các hiện tượng SH có thể mô phỏng lại dưới dạng các TN HS trực tiếp tiến hành các TN, tự lực tìm hiểu cấu tạo trong mối quan hệ với chức năng, tìm ra bản chất của các sự vật, hiện tượng và trực tiếp giúp cho các em tin tưởng và hiểu sâu sắc tri thức được lĩnh hội Trong các hoạt động thực hành có sự tham gia của nhiều cơ quan cảm giác, đồng thời HS phải động não suy nghĩ, tìm tòi nên phát triển được tư d uy sáng tạo Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng là con đường nhận thức cơ bản nhất
TN là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn Vì vậy nó là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở HS kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy kỹ thuật [1], [11]
Trang 24Qua hoạt động thực hành, TN, HS hiện thực hóa được những kiến thức lí thuyết đã học, làm cho những kiến thức đó trở nên thiết thực và gần gũi với thực tiễn
Được tự mình tiến hành các TN, suy nghĩ, tìm tòi bản chất của các sự vật hiện tượng giúp cho HS có những hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về các vấn đề SH, thực tiễn Do những yêu cầu chặt chẽ khi tiến hành các TN đã giúp cho HS có được những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, hình thành và phát triển ở các
em thao tác tư duy kĩ thuật [1]
TN giúp HS đi sâu tìm hiểu bản chất của các hiện tượng, các quá trình Sinh học [1], [14]
Trong thời hạn của một tiết học trên lớp, GV rất khó có thể giải thích hết cho HS những vấn đề phức tạp mang tính bản chất, cơ chế của các sự vật, hiện tượng Với tư cách là phương tiện giúp HS ôn tập, củng cố kiến thức, các TN thực hành sẽ giúp HS hiểu rõ hơn bản chất của các vấn đề SH Ngoài ra, TN còn gây sự thích thú, lôi cuốn học sinh bằng những hiện tượng mới lạ, hấp dẫn Tự mình tiến hành các TN, quan sát diễn biến và kết quả TN giúp cho HS có cơ sở thực tiễn để giải thích bản chất của các hiện tượng đó
TN do GV biểu diễn phải là chuẩn mực về thao tác để qua đó HS quan sát, học tập Khi HS tiến hành được TN, họ sẽ hình thành được kĩ năng thực hành
TN
TN trong dạy học kích thích tư duy, sáng tạo không những tạo được hứng thú cho học sinh mà còn rèn luyện cho các em kĩ năng thí nghiệm thực hành cơ bản, khả năng vận dụng kiến thức đã biết vào thực tiễn cuộc sống, tìm tòi kiến thức mới để tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng
Như vậy, TN được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học với nhiều hình thức và mức độ khác nhau TN có thể được GV biểu diễn hoặc HS tự thực hiện nhằm thông báo, tái hiện, tìm tòi bộ phận hoặc nhằm mục đích nghiên cứu TN có thể được tiến hành ở trên lớp hoặc trong phòng thí nghiệm, trong vườn trường, ruộng hoặc ở nhà
Trang 251.2.4 Phân loại thí nghiệm trong quá trình dạy học Sinh học
a Sử dụng thí nghiệm trong khâu dạy học kiến thức mới, nghiên cứu bài học mới
Trong khâu nghiên cứu bài học mới, TN được dùng như là một biện pháp để xác định nhiệm vụ nhận thức Như vậy, thí nghiệm sẽ được đặt ra hoặc nêu lên một vấn đề có liên quan trước khi vào học một bài mới hoặc một nội dung nào đó trong bài nhằm tạo hứng thú và nhu cầu cho người Không phải lúc nào cũng có thể đưa
ra một thí nghiệm minh chứng cho kiến thức của cả bài học mà đôi khi thí nghiệm chứng minh họa cho một đơn vị kiến thức nhỏ nào đó trong toàn bài học Dù minh họa ở mức độ nào đi chăng nữa thì thí nghiệm cũng đã góp phần mang lại giá trị sư phạm cho bài học cũng như thành công cho bài học [15] HS phải tự mình tiến hành
TN, quan sát hiện tượng, phân tích TN… để rút ra kết luận có giá trị nhận thức mới Vai trò của GV là hướng dẫn HS phân tích kết quả, tìm ra mối quan hệ nhân quả bằng các câu hỏi định hướng
Trong khâu nghiên cứu nội dung mới, thí nghiệm được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như:
- Đặt vấn đề vào bài học
- Giới thiệu về một vấn đề, quá trình, hiện tượng hay cơ chế sinh học
- Minh họa hoặc giải thích cho một số kiến thức sinh học
- Thí nghiệm dùng để tạo tình huống có vấn đề trong tiết học
b Sử dụng thí nghiệm trong khâu củng cố - hoàn thiện kiến thức
Các TN được sử dụng trong khâu hoàn thiện kiến thức thường được tiến hành sau khâu dạy bài mới, vào cuối tiết học, giờ thực hành, ngoại khóa, ôn tập cuối chương, cuối học kì hoặc ôn tập cuối năm… Các bài tập này có tác dụng lớn trong việc chính xác hóa các khái niệm, tăng cường tính vững chắc, tính hệ thống các kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Trong đó, việc xác lập các mối quan hệ giữa các biểu tượng về sự vật, hiện tượng cụ thể với các khái niệm trừu tượng có vai trò quan trọng
c Sử dụng thí nghiệm trong khâu kiểm tra – đánh giá
Trang 26Trong dạy học Sinh học, việc kểm tra đánh giá được tiến hành thường xuyên
và định kì với nhiều hình thức: kiểm tra miệng, viết, trắc nhiệm khách quan… Công việc kiểm tra đó cũng có thể thực hiện thông qua các TN vì vừa có tác dụng kiểm tra được kiến thức, vừa kiểm tra được kỹ năng, vừa sinh động hấp dẫn đối với HS [1]
Nhằm hình thành và phát triển kỹ năng tư duy cho HS, TN còn được sử dụng
để rèn luyện các kỹ năng: phân tích TN, so sánh kết quả TN, phán đoán kết quả
TN, thiết kế TN
Trong quá trình dạy học dạy kiến thức mới ở trường phổ thông, thí nghiệm còn được sử dụng dưới những dạng sau:
Dạng 1: Thí nghiệm để dạy kiến thức mới được tổ chức bằng các thí nghiệm
thật ngay trên lớp (sử dụng các dụng cụ, hóa chất, mẫu vật có sẵn để làm TN)
a Thí nghiệm do giáo viên biểu diễn
Việc biểu diễn thí nghiệm của giáo viên có tác dụng rất lớn khi gây hứng thú cho học sinh trong quá trình dạy học sinh học Khi giáo viên biểu diễn thí nghiệm sinh học kích thích tư duy sẽ phát huy được những ưu điểm như: tốn ít thời gian; có thể thực hiện được với những thí nghiệm phức tạp, hay những thí nghiệm đòi hỏi một lượng lớn hóa chất, kĩ thuật cao thì mới cho kết quả đáng tin cậy Những thí nghiệm sinh học kích thích tư duy do giáo viên biểu diễn có thể tổng hợp nhiều kiến thức, nhiều hiện tượng hấp dẫn, lí thú sẽ kích thích các em suy nghĩ để giải thích hiện tượng Với những thủ pháp tâm lí khéo léo kết hợp biểu diễn thí nghiệm, giáo viên sẽ giúp học trò của mình đi tìm tri thức trong sự hứng thú và từ đó sẽ yêu thích môn học hơn
b Thí nghiệm do học sinh thực hiện
Xu hướng dạy học hiện nay là “hướng vào người học” Vì vậy, việc gây hứng thú bằng những thí nghiệm kích thích tư duy đóng vai trò to lớn trong dạy học Thí nghiệm do học sinh tự làm khi nghiên cứu tài liệu mới cũng như khi củng
cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức có ý nghĩa to lớn trong dạy học Điều này giúp cho học sinh hình thành hệ thống các khái niệm, có cách thức tư duy hợp lí, hoàn
Trang 27thiện những kiến thức đã lĩnh hội, rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và làm việc; phát triển các kĩ năng, kĩ xảo thí nghiệm
Dạng 2: Dạy kiến thức mới bằng thí nghiệm được nghiệm ảo (TN được mô
tả thông qua hình ảnh, phim)
Trong thực tế không phải lúc nào các thí nghiệm có thể tiến hành trên các mẫu vật thật để học sinh có thể quan sát trực tiếp bằng các giác quan, mà một số thí nghiệm rất khó hoặc không thể thực hiện được trên các đối tượng sống do những hạn chế về thời gian và phương tiện Với những thí nghiệm có tính chất như trên, muốn học sinh có thể hiểu sâu hơn về các hiện tượng hay quá trình sinh học diễn ra bên trong đối tượng sống người ta có thể sử dụng thí nghiệm ảo
Theo PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ, thí nghiệm ảo là một phần mềm dạy học về một hiện tượng, quá trình vật lí, hóa học, sinh học…nào đó xảy ra trong tự nhiên hoặc trong phòng thí nghiệm, được tạo ra bởi sự tích hợp các dữ liệu dưới dạng số trên máy tính Người dùng có khả năng tương tác với thí nghiệm ảo (nhằm hỗ trợ dạy học theo quan điểm khác nhau) và thí nghiệm phải có giao diện thân thiện với người dùng Về thực chất, thí nghiệm ảo có nguồn gốc từ hiện tượng, quá trình thật nhưng được trình bày trong môi trường ảo (môi trường số) Vì vậy, thí nghiệm ảo khác với thí nghiệm mô phỏng (thí nghiệm mô phỏng có nguồn gốc từ các phương trình toán – lí, là một dạng trình bày trực quan trên màn hình của các phương trình này nhờ máy tính) [16]
Dạng 3: Thí nghiệm để dạy kiến thức mới được giáo viên mô tả bằng lời
Trang 28Việc vận dụng bài tập thí nghiệm tư duy trên giấy và bút, tuy học sinh không
có điều kiện học tập và rèn luyện các thao tác thí nghiệm, nhưng ưu điểm chính của phương pháp là đòi hỏi học sinh phải tư duy tích cực mới có thể hiểu được thí nghiệm, trả lời được các câu hỏi, bài tập để tìm ra được kết luận cần thiết Vì vậy hình thức thí nghiệm tư duy không chỉ vận dụng trong dạy và học Sinh học ở các nước đang phát triển, kinh tế khó khăn [20]
1.2.5 Yêu cầu của thí nghiệm trong dạy học Sinh học [8]
Về mặt khoa học: Thí nghiệm được tạo ra phải khả thi, các thao tác thí
nghiệm không quá khó, tạo hiện tượng rõ ràng và đúng với bản chất Sinh học
Về mặt sư phạm: Thí nghiệm có thể dùng trong tất cả các khâu của quá trình
dạy học: sử dụng trong các khâu đề xuất vấn đề, sử dụng trong hình thành kiến thức mới, sử dụng trong củng cố và vận dụng kiến thức…
Kết quả phải gắn liền với nội dung bài học, phải được sử dụng đúng với mục đích và điều kiện dạy học Việc quan sát những diễn biến trong quá trình thí nghiệm thật chính xác
Thí nghiệm cần phải ngắn gọn, hợp lí và cho kết quả sao cho đảm bảo thời gian trong tiết học bởi có những thí nghiệm cần thời gian ngắn nhưng cũng có thí nghiệm cần thời gian dài để chuẩn bị vì vậy giáo viên cần tính toán và cân nhắc thời gian phù hợp
Về mặt kinh tế: Các dụng cụ và nguyên liệu sử dụng cho thí nghiệm cần gần
gũi, dễ tìm và giá thành phù hợp với điều kiện dạy học
1.2.6 Phương pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học [1]
a Phương pháp biểu diễn thí nghiệm – nghiên cứu
TN được biểu diễn theo logic nghiên cứu thì bản thân nó à nguồn tri thức mới cho HS Trong trường hợp này TN là điểm xuất phát cho quá trình tìm tòi của
HS để dần dần đi đến việc hình thành tri thức mới
Bằng hệ hệ thống câu hỏi có tính định hướng GV kích thích sự tìm tòi độc lập của HS
Trang 29Bằng tài liệu quan sát sát được từ sự biểu diễn của GV, HS phân tích , so sánh và thiết lập mối quan hệ nhân - quả, trả lời các câu hỏi để dẫn tới những kết luận khái quát, phản ánh bản chất của hiện tượng Sinh học
Như vật với phương pháp này, HS ở vào vị trí người nghiên cứu, chủ động dành tri thức nên sự lĩnh hội tài liệu giáo khoa được sâu sắc, đầy đủ hơn Biểu diễn thí nghiệm gồm những bước sau:
- Giới thiệu đề tà thí nghiệm HS nắm được mục đích thí nghiệm
- Tổ chức để HS phân tích các điều kiện thí nghiệm
- Giới thiệu các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá trình thí nghiệm
- Giúp HS thiết lập mối quan hệ nhân – quả từ kết quả quan sát được trong quá trình thí nghiệm
Để HS nắm được mục đích, điều kiện TN, GV nên giới thiệu trước cho HS nhưng tốt hơn là để HS tự hiểu qua cuộc mạn đàm mở đầu Quan sát TN là hoạt động nhận thức tự lực của HS Ở đây, vai trò của thầy chỉ là sự theo dõi, uốn nắn
HS tri giác hiện tượng một cách đúng đắn Việc rút ra kết luận các mối quan hệ nhân – quả là gia đoạn thu hoạch cuối quan trọng nhất của phương pháp biểu diễn thí nghiệm Chúng chính là những tri thức mới mà HS thu được từ sự gia công các tài liệu qua sự quan sát các diễn biến TN Hoạt động nhận thức của HS để rút ra các tri thức mới chính là sự tìm tòi câu trả lời những câu hỏi do GV đặt ra trước, trong hoặc sau khi biểu diễn thí nghiệm
Giai đoạn vạch ra bản chất của hiện tượng quan sát được, nghĩa là thiết lập được mối quan hệ nhân – quả, đòi hỏi phát triển ở HS khả năng trừu tượng hóa Tính tích cực sáng tạo của HS càng lớn nếu HS được thảo luận về mục đích TN, nêu được các giả thiết khoa học và dự đoán kết quả có thể xảy ra
b Phương pháp thực hành thí nghiệm – thông báo tái hiện
Bản chất: Ở phương pháp này, HS tiến hành TN nhằm minh họa, củng cố kiến thức đã tiếp thu từ các nguồn thông báo khác nhau Mặc khác, HS cũng có thể làm lại TN mà GV đã biểu diễn nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành
c Phương pháp thực hành thí nghiệm – tìm tòi bộ phận
Trang 30Với logic tìm tòi bộ phận, HS tự tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, phân tích so sánh hiện tượng phân tích, so sánh hiện tượng xảy ra, để rút ra kết luận
có giá trị nhận thức mới Vai trò của GV là hướng dẫn HS phân tích kết quả tìm tòi quan hệ nhân – quả bằng các câu hỏi định hướng Rõ ràng tri thức mới mà HS lĩnh hội được là từ hoạt loạt động thực hành thí nghiệm của bản thân
d Phương pháp thực hành thí nghiệm - giải bài toán Sinh học
Trong lí luận dạy học phạm trù của bài toán vừa là mục đích vừa là nội dung, vừa là phương tiện, vừa là phương pháp dạy học có hiệu quả cao Bài toán cung cấp cho HS cả kiến thức, cả phương thức dành lấy kiến thức
Bài toán là một hệ thông tin xác định gồm những dữ kiện xuất phát (cái đã cho) và những yêu cầu cần đạt tới (cái phải tìm) Hai yếu tố dữ kiện cần đạt được tác động qua lại lẫn nhau, mâu thuẩn nhau, tạo thành bài toán – đối tượng của nhận thức Bài toán đối với HS là một tồn tại khách quan khi HS chưa trở thành chủ thể (người giải) Vì vậy, bản chất lí luận dạy học của bài toán là một hệ thông tin xác định, bao gồm những điều kiện và những yêu cầu giữa chúng luôn luôn tồn tại sự mâu thuẩn (mâu thuẩn khách quan) khi mâu thuẩn đó va chạm với chủ thể (người giải) sẽ trở thành mâu thuẩn chủ quan, dẫn tới nhu cầu phải khắc phục Sự khắc phục chính là quá trình phân tích, biến đổi những mối quan hệ giữa cái đã cho với cái phải tìm để tìm ra lời giải của bài toán Nói tóm lại đó là cả những quá trình giải bài toán
Đối với HS, bài toán là phương tiện để thu nhận bản thân kiến thức đó
Đối với GV, bài toán là phương tiên để tổ chức hoạt động nhận thức Phương tiện đó có hiệu quả dạy học đến đâu không chỉ phụ thuộc vào bản thân cấu trúc của bài toán.mà còn phụ thuộc vào nghệ thuật sư phạm hay phương pháp sử dụng chúng
e Phương pháp thí nghiệm dạy học thực tiễn
Phương pháp làm thí nghiệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học
ở trường phổ thông, đặc biệt đối với những môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh vật Thông qua hoạt động trên những đối tượng thực được tạo ra trong phòng thí nghiệm, việc nắm tri thức của học sinh trở nên có độ tin cậy cao, tạo nên
Trang 31những cơ hội làm xuất hiện những tò mò khoa học trong học tập, giúp các em nắm được một số kĩ năng, kĩ xảo quan sát sử dụng các phương tiện, thiết bị kĩ thuật đơn giản, bồi dưỡng cho học sinh một số phẩm chất của người lao động như tính thận trọng, tính tổ chức, kỉ luật, tính chuẩn xác và một số thói quen hoạt động công nghiệp như bảo quản, giữ gìn công cụ, máy móc : ngăn nắp, gọn gàng
Có thể nói, thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực về kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo và là một trong những phương tiện giúp ích đắc lực cho sự hình thành ở học sinh kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật
Trong nhà trường thí nghiệm thường được phân thành các loại giáo viên biểu dễn thí nghiệm:
Trong trường hợp cần phải giải thích cho một quan niệm, một khái niệm lý thuyết hoặc chứng minh cho sự tồn tại, phát triển và tác động của nó đối với thực tiễn, hoặc cũng có thể là để xem xét những mối quan hệ nội tại xảy ra giữa các yếu
tố trong đối tượng nghiên cứu, giáo viên thường biểu diễn thí nghiệm và kèm theo
nó có sử dụng lời nói để giải thích và minh họa Trong phương pháp này, thí nghiệm là nguồn thông tin đối với học sinh, còn lời nói của giáo viên giữ vai trò hướng dẫn sự quan sát của học sinh, chỉ đạo sự suy nghĩ của các em để đi tới kết luận, qua đó mà lĩnh hội được kiến thức
Trong quá trình giáo viên biểu diễn, thí nghiệm kết hợp với lời nói, sự chỉ đạo của giáo viên và hoạt động của học sinh được diễn ra nhờ những biện pháp sau:
+ Quan sát trực tiếp: Để tìm hiểu những đối tượng, hiện tượng đơn giản Lời nói của giáo viên có nhiệm vụ chủ yếu là hướng dẫn học sinh quan sát hoạt động thí nghiệm của mình để tự các em tìm ra kết luận
+ Biện pháp giải thích minh họa: Khi tiến hành những thí nghiệm đơn giản, giáo viên có thể dùng lời nói thông báo những kết luận trước rồi sau đó mới làm thí nghiệm để minh họa cho những kết luận đó Ở đây, lời nói của giáo viên là nguồn thông tin chủ yếu, còn thí nghiệm là nguồn thông tin minh họa Hoạt động nhận
Trang 32thức của trò mang tính thụ động, ngược lại với biện pháp trực tiếp quan sát, khi tính chất nhận thức của biện pháp này mang tính tích cực, chủ động
+ Biện pháp quy nạp: Khi gặp những hiện tượng phức tạp, sự quan sát trực tiếp của học sinh không sử dụng cùng biện luận, giải thích cho những mối quan hệ tiềm ẩn giữa các nhân tố của thí nghiệm, kết luận của thí nghiệm do học sinh tự quan sát, tự minh chứng để rút ra
+ Biện pháp diễn dịch: Cũng trong các trường hợp khi gặp các hiện tượng phức tạp, giáo viên sử dụng đến hình tượng và cần thiết để giải thích nó, giải thích
cơ chế bản chất của hiện tượng kết luận Sau đó, giáo viên tiến hành làm thí nghiệm nhằm xác minh cho lời giảng Học sinh nghe và lĩnh hội kiến thức Ở đây, hoạt động nhận thức của học sinh mang tính thụ động, ngực lại với hoạt động nhận thức chủ động, tích cực của biện pháp quy nạp
Học sinh làm thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên: Đối với loại thí nghiệm này, việc tổ chức thực hiện được phân chia thành thí nghiệm đại trà và thí nghiệm cá nhân
+ Tổ chức làm thí nghiệm đại trà: Giáo viên trình bày ngắn gọn lý thuyết và cách thức tiến hành thí nghiệm, kĩ năng sử dụng thiết bị thí nghiệm cho toàn thể học sinh trong lớp, tùy theo số lượng thiết bị có được hoặc là tất cả học sinh tiến hành cùng một thí nghiệm trên những thiết bị riêng lẻ, hoặc là thiết lập các nhóm (từ 2-3 học sinh) thực hiện thí nghiệm đó (trong trường hợp làm theo nhóm, học sinh sẽ được thay phiên nhau làm các phần công việc tương tự)
+ Tổ chức làm thí nghiệm cá nhân: Giáo viên có thể phân cho mỗi học sinh hoặc những nhóm học sinh tiến hành những thí nghiệm với nhiệm vụ khác nhau do nội dung bài học đòi hỏi Việc tổ chức thí nghiệm cho học sinh theo cách thức nào
là hoàn toàn hụ thuộc vào tính chất công việc, trình độ của học sinh, tình trạng thiết
bị dùng cho công việc thí nghiệm nói chung hoặc cho những phần riêng biệt của bài học
Tuy nhiên, cho dù phương pháp trình bày thí nghiệm được tiến hành theo loại nào cũng cần lưu ý một số điểm sau khi thực hiện các tổ chức cụ thể:
Trang 33- Giáo viên phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, quá trình tiến hành thí nghiệm, kĩ năng sử dụng các công cụ, thiết bị cần thiết, thí nghiệm phải đơn giản, vừa sức đối với học sinh
- Bố trí thiết bị, ánh sáng hợp lí để cả lớp quan sát và tiến hành thí nghiệm được thuân lợi
- Dặn dò học sinh có ý thức đảm bảo an toàn vệ sinh, giữ gìn dụng cụ thí nghiệm, tiết kiệm nguyên vật liệu sử dụng trong thí nghiệm
- Chỉ dẫn cuốn ghi chép, vẽ hình cho học sinh và uốn nắn kịp thời những sai sót, lệch lạc của các em khi cần thiết
- Chỉ dẫn cách viết bảng thu hoạch, báo cáo kết quả thí nghiệm, đánh giá và thảo luận trong lớp
- Tổng kết, khái quát hóa và đánh giá các mặt trong giờ thí nghiệm
1.2.7 Các yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm để dạy kiến thức mới
a Về nội dung
- Phải phù hợp với nội dung chương trình, bài học
- Mục tiêu của thí nghiệm, các điều kiện thí nghiệm phải rõ ràng
- Gần gũi với đời sống thực tiễn của học sinh
- Phải phù hợp với trình độ học sinh
- Khắc sâu một kiến thức lí thuyết nhất định
- Các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm đơn giản, dễ tìm, các thao tác thí nghiệm không quá khó
b Về kỹ năng
- Rèn luyện được một số kỹ năng cho học sinh
- Tạo khả năng để học sinh đưa ra nhiều giải pháp khi giải bài tập
Trang 34- Xác định được mục đích dạy học thông qua TN
- Nội dung của TN cần phải đầy đủ thông tin, dữ kiện, yếu tố cấu thành thí nghiệm để phân tích và giải quyết bài tập
- Nhiệm vụ học sinh cần giải quyết [4], [17]
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Trạng trạng dạy - học Sinh học ở trường trung học phổ thông
Để phục vụ cho hướng nghiên cứu của đề tài và có cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành quan sát sư phạm, tham khảo sát giáo án, dự giờ, trao đổi ý kiến với một số GV bộ môn, dùng phiếu điều tra HS, thăm giò ý kiến của GV và HS
ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm thu thập số liệu cụ thể
về thực trạng dạy và học Sinh học ở các trường THPT hiện nay
a Thực trạng dạy học của giáo viên
Trong quá trình nghiên cứu thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn Sinh học lớp 11, chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 15 giáo viên ở
trường THPT Thành phố Đà Nẵng Kết quả thăm dò thu được như sau:
Vai trò của thí nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy đa số các thầy cô nhận thấy được vai trò của trọng của thí nghiệm trong dạy học sinh học chiếm 67%, số giáo viên xem công việc này là rất quan trọng chiếm 29%, tuy nhiên một số giáo viên vẫn xem nhẹ vai trò của thí nghiệm và xem nó không quan trọng chiếm 6% Như vậy, quan điểm của
các thầy (cô) giáo trong việc đổi mới phương pháp dạy học cũng rất khác nhau
Mức độ sử dụng các thí nghiệm trong giảng dạy môn Sinh học
Đa số các giáo viên đều nhận thấy tầm quan trọng của việc sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học Sinh học Tuy nhiên, qua xử lí số liệu điều tra đa số các thầy (cô) thỉnh thoảng sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học chiếm 80% Việc thường xuyên sử dụng giáo án điện tử chiếm 6% số GV còn lại là không sử dụng và hiếm khi sử dụng chiếm 14% Như vậy, việc sử dụng các thí nghiệm vẫn
Trang 35còn hạn chế và mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết tính tích cực của nó trong quá trình dạy học
Và việc sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học Sinh học được sử dụng nhằm nhiều mục đích và các khâu khác nhau được thể hiện trong bảng 1.1:
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về phương pháp dạy học bằng thí nghiệm của giáo viên
Phương pháp sử dụng Thường xuyên
Không thường xuyên Không sử dụng
% giáo viên có sử dụng nhưng không thường xuyên Còn ở khâu nghiên cứu bài học mới và khâu kiểm tra đánh giá hầu như chưa được chú trọng thực hiện, có tới 66%
GV không sử dụng trong khâu kiểm tra đánh giá và hơn 53% giáo viên không sử dụng trong khâu nghiên cứu bài học mới
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về mức độ sử dụng thí nghiệm của giáo viên trong quá
trình giảng dạy môn Sinh học phần Sinh học cơ thể Thực vật
Mức độ
Rất cần thiết Cần thiết Không cần
thiết
Hoàn toàn không cần thiết
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Trang 37D Không có tác dụng tốt với nghề nghiệp sau này
1 Nghe GV giảng và ghi chép 115 38,3%
2 Đọc trong SGK để trả lời câu hỏi 43 14,3%
3 Quan sát tranh trong SGK hoặc trên bảng
2 Đọc trong SGK để trả lời câu hỏi 57 19%
Trang 38Qua bảng thống kê kết quả điều tra ở HS, chúng tôi nhận thấy rằng đa số các
HS rất yêu thích môn Sinh học chiếm 70% vì kiến thức môn Sinh học mang lại những hiểu biết về thực tiễn thú vị, gần gũi cuộc sống xung quanh các em, giải thích được các cơ chế sinh lý, các hiện tượng xảy ra trên cơ thể sinh vật và sự tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường
Giờ học trên lớp chủ yếu là các em ngồi nghe giảng và ghi chép những lời giáo viên giảng Tuy nhiên, trong giờ học Sinh học các em rất hứng thú với những tiết học có sử dụng thí nghiệm (31%) hoặc các phương tiện trực quan khác như máy chiếu, tranh ảnh (26%) và có sự hỏi - đáp Bện cạnh đó, các em không hứng thú với giờ học chỉ ngồi nghe và ghi chép
Đối với phương pháp sử dụng thí nghiệm, đa số các em rất hứng thú với giờ học có sử dụng thí nghiệm (59%), đặc biệt trong khâu nghiên cứu kiến thức mới chiếm hơn 50% Bên cạnh đó, phần lớn HS thích những thí nghiệm do bản thân tự làm và tự nghiên cứu (34%) hoặc do đại diện học sinh trong lớp làm, học sinh quan sát và tìm hiểu Điều đó chứng tỏ rằng các em đều mong muốn bản thân được chủ động trong việc khám phá kiến thức và tìm kiếm kiến thức mới qua những thí nghiệm
1.3.2 Nguyên nhân của thực trạng trên
a Về phía giáo viên
Trang 39Khi được khảo sát ý kiến của giáo viên về vai trò và hiệu quả của việc giảng dạy bcằng việc sử dụng thí nghiệm đa số thầy cô đều thấy được vai trò quan trọng của thí nghiệm trong quá trình dạy học Vậy tại sao các thí nghiệm được đánh giá cao như vậy nhưng lại rất ít khi giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học ? Đặc
biệt là trong khâu dạy kiến thức mới rất ít được sử dụng bởi những khó khăn sau:
Thứ nhất, hiện nay phần lớn giáo viên đã quá quen thuộc với những phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, giảng giải; năng lực thực hành thí nghiệm của các giáo viên còn hạn chế Vì vậy đa số tỏ ra lúng túng khi triển khai các phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh Phương pháp sử dụng các thí nghiệm trong giảng dạy Sinh học chưa được nhiều giáo viên quan tâm thực hiện
Thứ ba, thời gian cho một tiết học còn hạn chế giáo viên khó đưa thí nghiệm vào trong quá trình dạy kiến thức mới Vì vậy, giáo viên dạy chưa hấp dẫn cũng làm cho học sinh ít hứng thú đối với bộ môn Sinh học
Thứ tư, cơ sở vật chất và các trang thiết bị thí nghiệm có độ chính xác và an toàn chưa cao, một số thiết bị khó sử dụng, nên khi làm thí nghiệm không đem lại kết quả chính xác như mong đợi, do đó chưa khuyến khích được giáo viên tích cực
sử dụng thiết bị dạy học
b Về phía học sinh
Năng lực học tập của học sinh không đồng đều, kỹ năng thực hành của nhiều học sinh còn hạn chế do học sinh không được làm thường xuyên Do đó, việc làm thí nghiệm trong quá trình dạy học gặp nhiều khó khăn và tốn nhiều thời gian, nên nhiều giáo viên ngại khai thác sử dụng
Nhiều học sinh cảm thấy khó học môn Sinh học do chưa có phương pháp học hợp lý
c Nguyên nhân khách quan
Học sinh chỉ xem môn Sinh học là môn học phụ, không có tác dụng tốt đối với nghề nghiệp sau này, do đó không dành nhiều thời gian, công sức để đầu tư học tập như các môn khác
Thời gian dành cho thực hành hạn chế từ khâu kế hoạch nhà trường đến chương trình học những năm đầu Do phân phối chương trình chưa hợp lí, có nhiều
Trang 40tiết học có thể sử dụng thí nghiệm thực hành thì chứa đựng khối lượng kiến thức khá lớn, nên việc sử dụng thí nghiệm thực hành rất khó thực hiện
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các thí nghiệm Sinh học và phương pháp sử dụng các thí nghiệm trong dạy kiến thức mới phần “Sinh học cơ thể Thực vật”, Sinh học 11
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục tiêu trên thì một số nội dung cần có:
1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của thí nghiệm và sử dụng thí nghiệm trong dạy học
2 Nghiên cứu và phân tích nội dung, kiến thức chương trình Sinh học 11 phần “ Sinh học cơ thể Thực vật”
3 Sưu tầm và biên tập các thí nghiệm để dạy kiến thức mới phần “Sinh học
cơ thể Thực vật”, Sinh học 11
4 Xây dựng quy trình sử dụng thí nghiệm và đề xuất biện pháp sử dụng các thí nghiệm cụ thể trong dạy kiến thức mới phần “Sinh học cơ thể Thực vật” - Sinh học 11
5 Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm để dạy kiến thức mới trong dạy học Sinh học 11 phần “Sinh học cơ thể Thực vật”
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các văn bản Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Bộ GD & ĐT về chiến lược phát triển, đổi mới giáo dục, đổi mới chương trình và SGK phổ thông nói
chung, chiến lược đổi mới PPDH nói riêng
- Phương pháp thu thập thông tin:
Thu thập thông tin từ các tạp chí giáo dục, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ
và các công trình khoa học nghiên cứu cải tiến dạy họctheo hướng sử dụng thí nghiệm trong dạy học chương trình Sinh học THPT