Mối tương quan giữa dung tích sống VC và các bệnh lí về hô hấp của người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước .... Các bệnh lí về hô hấp thường gặp và mối tương quan giữa dung tích
Trang 1ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
TRẦN THỊ KIỀU OANH
NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ HÔ HẤP Ở NGƯỜI TẠI LÀNG ĐÁ NON NƯỚC NGŨ HÀNH SƠN, TP ĐÀ NẴNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG TỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI
ĐÀ NẴNG – NĂM 2014
Trang 2ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
TRẦN THỊ KIỀU OANH
NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ HÔ HẤP Ở NGƯỜI TẠI LÀNG ĐÁ NON NƯỚC NGŨ HÀNH SƠN, TP ĐÀ NẴNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG TỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI
Ngành: Sư phạm sinh học
Th.s Nguyễn Công Thùy Trâm
ĐÀ NẴNG – NĂM 2014
Trang 3Em xin chân thành cảm các thầy cô giáo khoa Sinh – Môi trường Đại học
Sư phạm Đà Nẵng đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến quý báu cho em trong quá trình thực hiện đề tài cũng như những năm tháng học tập tại đây
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những người luôn động viên, hỗ trợ giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận tốt nghiệp
Đà Nẵng, ngày 21 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Kiều Oanh
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VT Thể tích khí lưu thông IRV Thể tích khí dự trữ hít vào ERV Thể tích khí dự trữ thở ra
VC Dung tích sống TLC Dung lượng phổi
DANH MỤC BẢNG
Trang 5Tên bảng
Trang
Bảng 1.2 Đáp ứng sinh lý bệnh của đường hô hấp đối với bụi 10 Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính, nơi sống và làm việc 16 Bảng 3.1 Chỉ số khí lưu thông của người dân sống và làm việc tại làng đá Non
Nước theo giới tính 18 Bảng 3.2 Chỉ số khí dự trữ hít vào (IRV) và khí dự trữ thở ra (ERV) của người
dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước theo giới tính 20 Bảng 3.3 Chỉ số dung tích sống (CV) của người dân sống và làm việc tại làng đá
Non Nước theo giới tính 22 Bảng 3.4 Chỉ số dung lượng phổi (TLC) của người dân sống và làm việc tại làng
đá Non Nước theo giới tính 23 Bảng 3.5 Các bệnh lí về hô hấp thường gặp ở người dân sống và làm việc tại
làng đá Non Nước 25 Bảng 3.6 Mối tương quan giữa dung tích sống (VC) và các bệnh lí về hô hấp của
người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước 26
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang 7MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 8
2 Mục tiêu đề tài 9
3 Nội dung đề tài 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
1.1 Tổng quan về làng nghề điêu khắc đá Non Nước, phường Hòa Hải – Ngũ Hành Sơn – TPĐN 11
1.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội phường Hòa Hải 11
1.1.2 Các điều kiện tự nhiên tại khu vực làng nghề 11
1.1.2.1 Vị trí địa lý 11
1.1.2.2 Các yếu tố khí tượng 12
1.1.2.3 Địa hình 14
1.2 Tổng quan về hô hấp 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Cấu tạo bộ máy hô hấp 14
1.2.3 Chức năng bộ máy hô hấp 15
1.2.4 Một số thăm dò chức năng thông khí: 15
1.2.4.1 Các thể tích (volume) hô hấp tĩnh 15
1.2.4.2 Dung tích sống (VC: vital capacity): 16
1.2.4.3 Dung tích toàn phổi (TLC: total lung capacity): 16
1.2.4.4 Đánh giá mức độ rối loạn thông khí dựa vào chỉ số dung tích sống (VC) 17
1.3 Hiện trạng của môi trường ảnh hưởng đến hô hấp và các bệnh hô hấp thường gặp 17
1.4 Một số nghiên cứu về vấn đề hô hấp, mối liên quan giữa môi trường và chức năng hô hấp 21
1.4.1 Một số nghiên cứu ở ngoài nước 21
1.4.2 Một số nghiên cứu ở trong nước: 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.2.1 Nghiên cứu một số chỉ số hô hấp 25
Trang 82.2.2 Phương pháp điều tra 26
2.2.3 Phương pháp hồi cứu số liệu 26
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 27
3.1 Các chỉ số hô hấp của người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước 27
3.1.1 Chỉ số khí lưu thông (VT) 27
3.1.2 Chỉ số khí dự trữ hít vào (IRV) và khí dự trữ thở ra (ERV) 28
3.1.3 Chỉ số dung tích sống (VC) 30
3.1.4 Chỉ số dung lượng phổi (TLC) 32
3.2 Các bệnh lí về hô hấp thường gặp và mối tương quan giữa dung tích sống (VC) và các bệnh lí về hô hấp của người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước 33
3.2.1 Các bệnh lí về hô hấp thường gặp ở người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước 33
3.2.2 Mối tương quan giữa dung tích sống (VC) và các bệnh lí về hô hấp của người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước 35
3.3 Một số giải pháp cải thiện môi trường và hạn chế các bệnh về đường hô hấp cũng như sự thay đổi các thông số hô hấp của người dân tại làng nghề 37
Chương IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
4.1 Kết luận 40
4.1.1 Các chỉ số hô hấp đo được của người dân sống và làm việc tại Hòa Hải- Ngũ Hành Sơn- Đà Nẵng 40
4.1.2 Các bệnh lí về hô hấp thường gặp và mối tương quan giữa dung tích sống (VC) và các bệnh lí về hô hấp của người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước 41
4.1.3 Một số giải pháp cải thiện môi trường và hạn chế các bệnh về đường hô hấp cũng như sự thay đổi các thông số hô hấp của người dân tại làng nghề 41 4.2 Kiến nghị 41
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trang 9Nghề chế tác đá mỹ nghệ ở Non Nước đã có lịch sử hàng trăm năm nay Hiện làng đá Non Nước có hơn 400 hộ sản xuất kinh doanh đá mỹ nghệ, chủ yếu tập trung ở phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn Hằng năm làng đá này giải quyết việc làm cho khoảng 3.000 lao động, mang lại doanh thu hàng trăm tỷ đồng
Tuy nhiên, việc sản xuất, kinh doanh ở đây vẫn còn mang tính tự phát làm theo từng hộ gia đình và các cơ sở sản xuất này nằm xen kẽ trong khu dân cư Các
cơ sở sản xuất đá tập trung trên đường Nguyễn Duy Trinh và một số tuyến đường không tên, đường bê-tông trên địa bàn phường Hòa Hải, hằng ngày có hàng trăm công nhân làm việc, cả làng nghề là một công trường lớn, bụi bẩn với những tiếng máy cắt đá, tiếng búa cộng với tiếng động cơ ồn ào của những chiếc xe tải, xe ben chở đá từ bãi về xưởng Đây chính là nguyên nhân khiến tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng cao, ô nhiễm nước ngầm, ô nhiễm bụi và tiếng ồn đang là những vấn đề môi trường bức xúc cần sự quan tâm cấp bách của địa phương cũng như các cơ quan ban ngành của thành phố Một trong những vấn đề trên là tình trạng ô nhiễm không khí hoạt động sản xuất đá mỹ nghệ đang hủy hoại môi trường và sức khỏe của người dân và những nghệ nhân, thợ thủ công đang làm việc tại đây Ô nhiễm không khí đã ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đối với sức khỏe con người gây ra nhiều bệnh cho người dân sống và làm việc tại đây
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu chỉ số hô hấp ở người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”
2 Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu các chỉ số hô hấp của người dân sống và làm việc tại làng đá Non Nước, bước đầu đánh giá ảnh hưởng của môi trường đến các chỉ số hô hấp từ đó đề xuất các biện pháp làm giảm thiểu ảnh hưởng môi trường về các chỉ sô hô hấp của người dân sống và làm việc tại làng đá Non nước
3 Nội dung đề tài
Trang 10- Nghiên cứu một số chỉ số hô hấp của người dân sinh sống và làm việc tại làng nghề đá Non Nước như: khí lưu thông, khí dự trữ hít vào, khí dự trữ thở ra, dung tích sống và dung lượng phổi
- Khảo sát các bệnh hô hấp mà người dân sinh sống cũng như làm việc tại làng nghề đá Non Nước mắc phải
- Dựa vào các số liệu thu được và hồi cứu kết quả nghiên cứu về mức độ ô nhiễm không khí tại làng nghề đá Non nước, bước đầu đánh giá sự ảnh hưởng các yếu tố môi trường đến chỉ số hô hấp ở người dân sinh sống và làm việc tại làng nghề đá Non Nước Đề suất một số biện pháp làm giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường đến chỉ số hô hấp của con người
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 111.1 Tổng quan về làng nghề điêu khắc đá Non Nước, phường Hòa Hải – Ngũ Hành Sơn – TPĐN
1.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội phường Hòa Hải
*Tổng diện tích đất : 1417,3 ha
*Tổng số dân :
Tổng số dân của phường Hòa Hải có 14.675 người ( nam 6.874, nữ 7.802), gồm 3.648 hộ gia đình, với mật độ dân số trung bình là 104,8 người/km2; số người trong độ tuổi lao động là 900 người [10]
*Nghề nghiệp chủ yếu của dân cư:
Nghề nghiệp chủ yếu của các hộ dân cư sống trên địa bàn phường là sản xuất
đá mỹ nghệ, chăn nuôi trồng trọt, nuôi trồng thủy sản trong đó tổng số hộ tham gia sản xuất kinh doanh đá mỹ nghệ là 400 hộ và gần 3000 lao động, chiếm 32% so với lao động toàn phường Hòa Hải [10]
*Y tế vệ sinh môi trường:
Toàn phường Hòa Hải có một trạm y tế qui mô 7 giường bệnh Để chăm sóc sức khỏe cho người dân được tốt hơn phường Hòa Hải đã triển khai thực hiện nhiều chương trình chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em Tuy nhiên tỷ lệ trẻ em bị bệnh suy dinh dưỡng, tỷ lệ người dân mắc các bệnh hô hấp, bệnh đường ruột ngày càng tăng [10]
*Cơ sở hạ tầng: Trên địa bàn phường chưa có hệ thống cấp thoát nước hoàn
chỉnh Toàn phường có 20km đường trải nhựa là những tuyến đường chính như đường Lê Văn Hiến, Huyền Trân Công Chúa, Nguyễn Duy Trinh Toàn phường có một trường học, một khu vui chơi trẻ em [10]
1.1.2 Các điều kiện tự nhiên tại khu vực làng nghề
1.1.2.1 Vị trí địa lý
Làng nghề đá Non Nước thuộc khối 7, 8 phường Hòa Hải, Quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng cách trung tâm TP Đà Nẵng về hướng Đông Nam chừng 14km:
Trang 12phía Đông giáp với đường Sơn Trà - Điện Ngọc; phía tây, nam giáp với phường Hòa Quý; phía bắc giáp với phường Khuê Mỹ
Mặt bằng hiện trạng của làng nghề chiếm một diện tích khá lớn, khoảng 30ha [10]
Theo số liệu thống kế, nhiệt độ không khí trung bình tại Đà Nẵng trong những năm từ 1987- 1996 là 25,80C; nhiệt độ cao nhất là 30,50C; nhiệt độ thấp nhất là 22,60C [10]
b) Số giờ nắng
Nắng cũng là yếu tố làm tăng bức xạ nhiệt của đất, nước, không khí
Tại Đà Nẵng hằng năm trung bình có khoảng 2253 giờ sáng, số giờ nắng trung bình trong ngày là 6 giờ
Trong năm, từ tháng 2 đến tháng 10 là các tháng có ít nhất 5 giờ nắng/ngày Tháng 11 và tháng 12 là các tháng có ít giờ nắng nhất là 2- 3 giờ nắng/ngày Các tháng 4,5,6,7 có số giờ nắng nhiều nhất là từ 8,1- 8,9 giờ/ngày [10]
c) Bức xạ mặt trời
Bức xạ mặt trời làm tăng lượng nhiệt và nhiệt độ trong xưởng sản xuất Trung bình hàng năm, khu vực Đà Nẵng có lượng bức xạ tổng cộng là 141,9
Trang 13kcal/cm2/năm Trong đó các tháng từ tháng 5 đến tháng 7 có tổng lượng bức xạ tổng cộng lớn nhất, tháng 12 là tháng có lượng bức xạ tổng cộng bé nhất trong năm [10] d) Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa các chất ô nhiễm không khí và là các yếu tố vi khí hậu ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Độ ẩm càng cao thì quá trình thanh lọc các chất ô nhiễm càng lớn
Độ ẩm trung bình tại Đà Nẵng là 82% Độ ẩm trung bình từ 75- 80%, độ ẩm thấp nhất có thể xuống dưới 40% Các tháng mùa mưa độ ẩm trung bình 80- 85%,
có ngày đạt tới 95% [10]
e) Mưa
Mưa có tác dụng làm sạch môi trường không khí và pha loãng các chất ô nhiễm không khí, lượng nước mưa càng lớn thì mức độ ô nhiễm trong không khí càng giảm Tuy nhiên các hạt mưa kéo theo bụi và hòa tan một số chất độc hại rơi xuống đất gây ô nhiễm đất, nước
Hằng năm, tại Đà Nẵng có một mùa mưa và một mùa khô Mùa mưa bắt đầu
từ tháng 9 đến tháng 12, mưa lớn tập trung vào tháng 10 và 11 Các tháng ít mưa nhất trong năm là 3,4,5,6
Theo số liệu đo đạt hàng năm tại Đà Nẵng có trung bình 11 ngày có lượng mưa trên 50mm, có 114 ngày có lượng mưa dưới 10mm [10]
f) Gió
Gió là yếu tố quan trọng nhất tác động đến quá trình lan truyền các chất ô nhiễm Tốc độ gió càng lớn, chất ô nhiễm được vận chuyển càng xa và nồng độ các chất ô nhiễm được pha loãng nhiều bởi không khí sạch Khi tốc độ gió nhỏ hoặc lặng gió thì chất ô nhiễm sẽ tập trung ngay tại khu vực vùng thải ô nhiễm
Hướng gió TP Đà Nẵng bị chi phối bởi điều kiện hoàn lưu và địa hình Mùa đông, tần suất cao nhất là hướng Tây Bắc, Bắc, Đông Bắc và một phần gió Đông Mùa hè, vùng ven biển phía nam, gió tây nam thịnh hành với tần suất phổ biến từ
Trang 1420-30%, vùng biển phía bắc chỉ trong tháng 8 gió tây nam mới có tần suất nhiều hơn các gió khác
Hằng năm trung bình có từ 50- 55 ngày có gió Tây hoạt động mạnh làm cho nền nhiệt độ tăng cao và độ ẩm giảm, nhiệt độ trung bình cao nhất là 350C và độ ẩm thấp nhất là 55% [10]
1.1.2.3 Địa hình
Khu vực làng nghề đá nằm trong dải vùng cát ven biển kéo dài từ bán đảo Sơn Trà đến Cửa Đại (Hội An) Độ cao trung bình 2 - 4 m, ở những đồi cát có thể đạt độ cao từ 6 - 7 m
Mặt bằng của làng nghề bằng phẳng có độ cao ngang mặt bằng đường tỉnh lộ
Đà Nẵng – Hội An và thấp dần về phía biển, hiện tại mặt bằng của làng nghề có thuận lợi cho việc thoát nước mưa dễ dàng [10]
1.2 Tổng quan về hô hấp
1.2.1 Khái niệm
Hô hấp là hoạt động trao đổi khí, gồm cung cấp O2 cần thiết cho tế bào, đào thải khí CO2 ra ngoài cơ thể duy trì sự ổn định pH nội môi
1.2.2 Cấu tạo bộ máy hô hấp
Hệ hô hấp bao gồm mũi, hầu họng, thanh quản, khí quản và hai buồng phổi Một chu kỳ thở bao gồm thì hít vào, trao đổi khí và thì thở ra Mỗi khi hít vào, không khí có chứa oxy theo mũi (và miệng) đi vào trong buồng phổi theo các khí quản và làm phồng các túi khí bên trong phổi [15]
Hầu họng giống như một ngã tư giao nhau giữa một bên là mũi và khí quản, bên còn lại là miệng và thực quản Lượng không khí hít vào có thể mang theo bụi bậm chứa mầm bệnh gây ra viêm nhiễm cho hệ hô hấp lẫn hệ tiêu hóa trên Một hệ thống lông mao làm nhiệm vụ lọc, ngăn chặn và quét ngược các bụi bậm trở ra khỏi
hệ hô hấp [15]
Trang 15Thanh quản là đoạn đầu tiên của ống dẫn khí vào cơ thể, khí quản là một ống
có cấu tạo chủ yếu là sụn, bắt nguồn từ thanh quản rồi chạy song song với thực quản bên trong lồng ngực [15]
Quá trình trao đổi khí xảy ra do việc tiếp xúc giữa hồng cầu với không khí giàu oxy trong phế nang Các hemoglobin có trong hồng cầu bắt giữ lấy các phân tử oxy và nhả ra các phân tử CO2 vào phế nang Đây là chức năng cơ bản và thiết yếu nhất của hệ hô hấp [15]
Cơ hoành đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hít thở Một khi cơ hoành đẩy lên trên, tạo ra một sức nén làm nhỏ lồng ngực lại và có tác dụng đẩy khí ra ngoài, gọi là thì thở ra Tương tự, để hít vào, cơ hoành sẽ hạ xuống làm gia tăng thể tích bên trong lồng ngực, kéo theo sự giãn nở của hai buồng phổi làm cho không khí tuồn đầy vào bên trong, gọi là thì hít vào [15]
1.2.3 Chức năng bộ máy hô hấp
Đường hô hấp trên ngăn chặn các vật lạ đi vào đường hô hấp dưới bằng phản
xạ ho; lọc lại các hạt bụi đi vào đường thở nhờ hệ thống lông ở mũi; làm ấm, làm
ẩm luồng khí đi vào phổi nhờ vào các mạch máu dày đặc xung quanh đường hô hấp trên
Đường hô hấp dưới dẫn không khí đi vào tận trong các phế nang
Nhu mô phổi trao đổi không khí cho cơ thể: O2 được đưa vào cơ thể và CO2
được đào thải ra ngoài [16]
1.2.4 Một số thăm dò chức năng thông khí:
Để thăm dò chức năng hô hấp, người ta thường thăm dò chức năng thông khí Thông khí được đánh giá qua các thể tích và dung tích hô hấp
1.2.4.1 Các thể tích (volume) hô hấp tĩnh
a) Thể tích lưu thông (TV: tidal volume): Là lượng không khí một lần hít vào hoặc thở ra bình thường Bình thường khoảng 500 ml [11]
Trang 16b) Thể tích dự trữ hít vào (IRV: inspiratory reserved volume): Là thể tích không khí ta có thể cố gắng hít vào thêm nữa sau khi đã hít vào bình thường, còn được gọi là thể tích khí bổ sung Bình thường khoảng 1.500 - 2.000 ml [11]
c) Thể tích dự trữ thở ra (ERV: expiratory reserved volume): Là thể tích không khí ta có thể cố gắng thở ra thêm nữa sau khi đã thở ra bình thường, còn gọi
là thể tích dự trữ của phổi Bình thường khoảng 1.100 - 1.500 ml [11]
d) Thể tích cặn (RV: residual volume): Là thể tích không khí còn lại trong phổi sau khi đã thở ra hết sức, đây là lượng không khí mà ta không thể nào thở ra hết được Bình thường khoảng 1000 - 1200 ml Thể tích cặn càng lớn, càng bất lợi cho sự trao đổi khí [11]
1.2.4.2 Dung tích sống (VC: vital capacity): Là một chỉ số thường dùng để đánh
giá thể lực Nó gồm tổng của 3 thể tích: thể tích lưu thông, thể tích dự trữ hít vào,
thể tích dự trữ thở ra
Như vậy, dung tích sống là lượng không khí mà ta có thể huy động tối đa trong một lần thở Vì vậy, người có dung tích sống cao sẽ chịu đựng được các hoạt động thể lực tốt hơn
Dung tích sống phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giới, tuổi, chiều cao
Dung tích sống có thể tăng lên nhờ luyện tập và giảm đi trong các bệnh tràn dịch màng phổi, gù vẹo cột sống, hen phế quản
Giá trị dung tích sống bình thường ở người Việt Nam trưởng thành:
- Nam: 3,5 - 4 lít
- Nữ: 2,5 - 3 lít
Khi dung tích sống giảm > 20 % so với số lý thuyết thì được coi là giảm bệnh
lý và gọi là rối loạn thông khí hạn chế [11]
1.2.4.3 Dung tích toàn phổi (TLC: total lung capacity): Là tổng số lít khí tối đa
có trong phổi, gồm tổng các thể tích:
TLC = IRV + TV + ERV + RV hoặc TLC = VC + RV
Trang 17Bình thường khoảng 5 lít [11]
Hình 1.1 Các thể tích và dung tích tĩnh của phổi [11]
1.2.4.4 Đánh giá mức độ rối loạn thông khí dựa vào chỉ số dung tích sống (VC)
Phân độ hiệp hội lồng ngực Anh 1997 :
+ Rối loạn thông khí tắc nghẽn : Chỉ số Tiffeneau < 75 %,VC bình thường hay giảm
Trang 18+ 900 tấn coban + 600.000 tấn Kẽm (Zn), hơi Thuỷ ngân (Hg), hơi Chì (Pb) và các chất độc hại khác Làm tăng đột biến các chất như CO2, NOx, SO3 …Tất cả các chất làm ô nhiễm không khí, khí quyển ở mức độ nhiều hoặc ít đều ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người Những chất này đi vào cơ thể con người chủ yếu qua hệ thống hít thở Các cơ quan hít thở chịu ảnh hưởng ô nhiễm trực tiếp, vì gần 50 % các hạt
tạp chất với bán kính 0,01-0,1 μm xâm nhập vào phổi sẽ lắng đọng tại đó
Những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường không khí làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân tại các khu đô thị, khu công nghiệp Số lượng người dân bị mắc các bệnh về hô hấp tăng nhanh chiếm khoảng 4% tổng dân
số [3]
Theo thống kê của Bộ Y tế, cứ 100.000 dân có đến 4,1% số người mắc các bệnh về phổi, 3,8% viêm họng và viêm amidan cấp, 3,1% viêm phế quản Đáng lo ngại là người lao động là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp khi môi trường không khí của khu vực sản xuất bị ô nhiễm Trong đó, người lao động trong các cơ sở sản xuất công nghiệp thường bị mắc các bệnh hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, mắt, bệnh ngoài da
và một số hiện tượng ngộ độc CO, SO2, chì…
Còn bệnh bụi phổi nói chung, bệnh bụi phổi silic nói riêng là loại bệnh phổ biến ở các ngành khai khoáng, xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng và cơ khí-luyện kim Số ca mắc bệnh bụi phổi-silic chiếm tới 74,5% trong tổng số ca mắc bệnh nghề nghiệp trong phạm vi toàn quốc [4] Ô nhiễm không khí đặc biệt là ô nhiễm do nồng
độ bụi hô hấp sẽ tác động mạnh đến các cơ quan hô hấp, khi bụi xâm nhập vào hệ
hô hấp, vị trí lắng tụ của nó sẽ gây ra các phản ứng khác nhau (bảng 1.2)
Trang 19Bảng 1.2 Đáp ứng sinh lý bệnh của đường hô hấp đối với bụi [9]
- Viêm phế quản công nghiệp
- Ung thư phổi
- Viêm khí quản và phế quản cấp Nhu mô phổi - Viêm phế nang dị ứng, phản ứng miễn dịch
Trang 20a) Hen suyển:
Là một dạng kích thích phế quản dẫn đến khó thở nghiêm trọng và là vấn đề y
tế cộng đồng đang nổi cộm hiện nay Từ 1983 đến 1993, tỷ lệ mắc bệnh này ở Mỹ
đã tăng 34% Các khu đô thị, đặc biệt những khu có nồng độ các chất ô nhiễm cao
là những khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất Các chất hạt và SO2 là những chất ô nhiễm không khí có liên quan đến mắc bệnh hen suyễn [16]
c) Khí phế thủng
Bệnh khí phế thủng đặc trưng bởi làm yếu thành các túi phổi vài những túi không khí bé nhỏ trong phổi Khi bệnh phát triển, các túi này tăng về kích thướt, giảm tính chất đàn hồi của nó và thành các túi này bị phá hủy Thở ngắn, thở gấp là dấu hiệu ban đầu của bệnh NO2 được xác định là một trong những chất gây bệnh khí phế thủng
Các chất ô nhiễm không khí còn gây ra những ảnh hưởng cấp tính, thậm chí đôi khi dẫn đến tử vong Ví dụ, các chất hữu cơ bay hơi thường chỉ dẫn đến nhiễm độc cấp tính như suy nhược, chóng mặt, sưng tấy mắt, co giật, ngạt, viêm phổi,…Hoặc chỉ một lượng CO nhỏ hít vào cơ thể có thể tạo ra một lượng cacboxyhemoglobin (COHb) đáng kể và khi 70% hemoglobin trong máu bị chuyển thành COHb có khả năng gây chết người Hoặc tiếp xúc với khí NO2 ở nồng độ khoảng 5ppm sau một vài phút có thể ảnh hưởng xấu đến bộ máy hô hấp; ở nồng độ 15-50 ppm sau một vài giờ sẽ nguy hiểm đến phổi tim và gan, và ở nồng độ 100 ppm có thể gây tử vong sau vài phút Khói quang hóa thường là những chất gây kích thích gây ho, đau đầu và các bệnh đường hô hấp [16]
Trang 21d) Bệnh bụi phổi- silic:
Bệnh bụi phổi là một trong những bệnh phổ biến nhất tại các cơ sở sản xuất
đá, đối tượng mắc bệnh chủ yếu là người lao động tại đó Khả năng mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố khác nhau đó chính là khích thước, nồng độ, hàm lượng silic tự do
và do cá nhân con ngươi Bụi: dựa vào kích thước hạt bụi, người ta chia bụi thành bụi toàn phần (TSP) có đường kính khí động học dưới 50 µm và bụi PM10 có đường kính khí động học dưới 10 µm là loại bụi nhỏ có thể dễ dàng xuyên qua khẩu trang, thâm nhập vào đường hô hấp của con người
Cơ quan hô hấp có những hệ thống làm sạch cực kỳ có hiệu quả: các dịch nhầy ở các tuyến phế quản, các lông huyển thải phần lớn lượng bụi hít vào Chỉ có những hạt bụi có kích thướt nhỏ hơn 10 micromet mới vào được phế nang Nói chung, những hạt bụi có kích thướt trong khoảng 0,5 – 5 micromet là nguy hiểm nhất [8]
Nguy cơ nhiễm bệnh bụi phổi – silic còn tùy thuộc và nồng độ bụi hay số lượng hạt bụi silic Tuy nhiên trong điều kiện cùng tiếp xúc với bụi silic như nhau,
dễ mắc bệnh là những người có bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, nhất là mãn tính đường
hô hấp trên hay nhu mô phổi Bệnh lao các thể (hạch, phổi, màng phổi) làm thuận lợi cho sự phát triển bệnh bụi phổi – silic và ngược lại [7]
1.4 Một số nghiên cứu về vấn đề hô hấp, mối liên quan giữa môi trường và chức năng hô hấp
1.4.1 Một số nghiên cứu ở ngoài nước
Năm 2002, Am J Epidemiol đã nghiên cứu về bệnh bụi phổi silic và sự suy giảm chức năng của phổi về các công nhân gốm nữ giớ ở Ý dựa vào độ tuổi nghề, theo khảo sát trên số nữ có tuổi nghề trên 15 năm có đến 24% số công nhân nữ suy
giảm chức năng hô hấp và 5.8% đối với công nhân nữ có tuổi nghề 5 năm [13]
Trong đề tài môi trường không khí sân bay: sức khỏe hô hấp tại nơi làm việc của P Chanez (2012), nghiên cứu về sự ô nhiễm không khí ở sân bay và khu vực xung quanh đồng thời khảo sát tình trạng mắc các bệnh về hô hấp của các tiếp viên,
Trang 22tác giả cho biết các chất gây ô nhiễm chính là các oxit nitơ, carbon dioxide, carbon monoxide, các hợp chất dễ bay hơi hữu cơ (VOCs), bao gồm các hydrocacbon thơm
đa vòng (PAHs), sulfur dioxide, và tiền phạt và các hạt siêu mịn (UFPs) những hạt này có thể có tác động bất lợi đến sức khỏe, đặc biệt là đường hô hấp, vì kích thước nhỏ bé của chúng Theo khảo sát tại Sân bay quốc tế Miami, Miami, FL, Hoa Kỳ; sân bay quốc tế Seattle-Tacoma, Seattle, WA, Hoa Kỳ; và Detroit Metro Airport, Detroit, MI, USA) thì có đến 23% tiếp viên được chẩn đoán bị hen suyễn và 39 %
có triệu chứng ho, khó thở và đau ngực [12]
Năm 2012, Scott Laney, Tiến sĩ, Anita L Wolfe, Edward L Petsonk, MD, Cara N Halldin, tiến sĩ nhóm nghiên cứu này đã khảo sát mức độ phơi nhiễm bụi
mỏ than của công nhân lên đến 6-8 mg/m3 và trong 2.876 thợ mỏ thì có đến 50% mắc các bệnh về hô hấp và đa số là ho và viêm mũi dị ứng [14]
1.4.2 Một số nghiên cứu ở trong nước:
Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số hô hấp của con người cũng như nghiên cứu sự tác động của môi trường đến sức khỏe con người đặc biệt là tác động đến chức năng hô hâp
Năm 2006, Võ Thị Phượng sinh viên Đại học sư phạm Đà Nẵng đã nghiên cứu
về hiện trạng ô nhiễm bụi hô hấp tại làng đá mỹ nghệ Non Nước Hòa Hải- Ngũ Hành Sơn- TP Đà Nẵng [7] Đề tài đã nghiên cứu và làm rõ sự ô nhiễm môi trường
do hoạt động làm đá mỹ nghệ đã làm phát tán bụi vào không khí tập trung trên đường Nguyễn Duy Trinh, theo khảo sát tại những khu vực sản xuất nồng độ bụi đạt 7.26 mg/m3 vượt quá tiêu chuẩn nồng độ tối đa cho phép là 6mg/m3 Tỷ lệ người dân mắc các bệnh về hô hấp ở phường Hòa Hải lại cao hơn so với người dân tại khu vực Hòa quý
Trong Luận văn Thạc sĩ Y học của tác giả Tôn Thị Minh (2009) cũng đã nghiên chỉ số hô hấp và chủ yếu tập trung ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên, nghiên cứu thăm dò chức năng hô hấp của phổi ở những học sinh mắc bệnh hen xuyễn do môi trường bị ô nhiễm [4]
Trang 23Năm 2011, Phùng Thị Nguyệt Minh, Đại học Vinh, tham gia nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm không khí lên nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khu dân cư vùng nhà máy Xi măng huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An [5] Đề tài đánh giá được thực trạng môi trường không khí xung quanh tại nhà máy xi măng Anh Sơn – Nghệ An, xác định nồng độ bụi xi măng tại đó đạt khoảng 4.8 – 6.7 mg/m3 trong khi đó nồng độ bụi tối đa cho phép là 6mg/m3 vì vậy tỷ lệ trẻ em bị nhiễm hô hấp cấp tính đạt đến 48.5 % chiếm gần một nữa số trẻ trong khu vực [5] Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả, tiến hành trên 256 công nhân khai thác than nội địa tại Thái Nguyên, ThS Lê Thị Thanh Hoa và GS.TS Đỗ Hàm đã đánh giá thực trạng suy giảm chức năng hô hấp (SGCNHH) của công nhân tiếp xúc với bụi và một số yếu tố nguy cơ Các tác giả nhận thấy tỷ lệ suy giảm chức năng hô hấp của công nhân ở mức cao (17,19%) và tỷ lệ suy giảm này ở công nhân khai thác cao hơn (19,17%), so với các nhóm công nhân khác (15,44%) [2] Đề tài đã đánh giá được mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sức khỏe của người lao động và kiến nghị đến cơ sở sản xuất cần có kế hoạch giảm thiểu các yếu tố nguy cơ, liên quan gây bệnh hô hấp đồng thời làm suy giảm chức năng hô hấp cho NLĐ bằng các biện pháp an toàn lao động và chăm sóc sức khoẻ ban đầu một cách hữu hiệu
Cũng tương tự năm 2013, ThS Hoàng Thị Thúy Hà, ThS Triệu Văn Thu Sở
KH và CN Thái nguyên, PGS.TS Nguyễn Văn Sơn, GS.TS Đỗ Hàm đã tiến hành nghiên cứu thực trạng chức năng hô hấp của công nhân may - Thái Nguyên, các tác giả
đã khảo sát hàm lượng bụi bông ở đây vượt TCCP từ 20 – 40% Tỷ lệ NLĐ ngành may bị suy giảm chức năng hô hấp (SGCNHH) khá cao (13% đến 14%) Có 24/27 trường hợp bị SGCNHH thể tắc nghẽn [1]
TS Nguyễn Văn Thuyên (Trung tâm Y tế dự phòng phía Nam, Cục Quân y) cũng đã nghiên cứu về nghiên cứu đặc điểm ô nhiễm bụi và tình hình bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp của công nhân một số nhà máy sửa chữa, đóng tàu quân đội Nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu đặc điểm môi trường lao động và ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động tại 5 nhà máy, xí nghiệp quốc phòng phía nam trong 5 năm (2005-2010) gồm: Liên hiệp xí nghiệp B, X1 Hải quân, Đoàn Y