1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp hai mảnh vỏ bivalvia khai thác tại vùng biển ven bờ đà nẵng

61 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG TRÀ THỊ MỸ HẢO NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP HAI MẢNH VỎ BIVALVIA KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÀ NẴNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÀ NẴNG, 2

Trang 1

KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG

TRÀ THỊ MỸ HẢO

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÀ NẴNG, 2016

Trang 2

KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG

TRÀ THỊ MỸ HẢO

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÀ NẴNG

Ngành: SƯ PHẠM SINH HỌC

Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Tường Vi

Niên khóa 2012 - 2016

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả khóa luận

Trà Thị Mỹ Hảo

Trang 4

tâm, giúp đỡ của khoa Sinh- Môi trường, trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.S Nguyễn Thị Từơng Vi Đến nay em đã hoàn thành đề tài Để hoàn thành khóa luận này, ngoài nỗ lực của bản thân, em đã nhận được rất nhiều giúp giúp

đỡ, đóng góp ý kiến của nhiều cá nhân và tập thể

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Nguyễn Thị Tường Vi đã quan tâm, giúp đỡ, góp phần định hướng bài luận, cũng như hỗ trợ về tinh thần để em có thể thực hiện tốt Khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, anh chị cán bộ trong khoa Sinh- Môi trường, các thầy cô đã giảng dạy em trong suốt 4 năm học qua Quý thầy cô đã xây dựng cho em những kiến thức chuyên môn, truyền cho em nhiều kinh nghiệm để em có thể hoàn thành khóa luận này, cũng như công việc sau này của bản thân em

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân bạn bè, các bác ngư dân đã luôn quan tâm, động viên, hỗ trỡ em trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận này

Đà Nẵng, ngày…tháng…năm 2016

Sinh viên

Trà Thị Mỹ Hảo

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) 3

1.1.1 Đặc điểm hình thái cấu tạo 3

1.1.2 Đặc điểm sinh sản phát triển 6

1.1.3 Sinh thái động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) 7

1.1.4 Phân loại lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) 8

1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 10

1.2.1 Vị trí địa lý 10

1.2.2 Điều kiện thủy văn 12

1.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỘNG VẬT THÂN MỀM TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 13

1.3.1 Tình hình nghiên cứu thành phần loài động vật thân mềm trên thế giới 13

1.3.2 Tình hình nghiên cứu thành phần loài động vật thân mềm ở Việt Nam 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 18

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 18

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 18

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 18

2.3.2 Phương pháp phân loại động vật thân mềm Hai mảnh vỏ 19

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 19

Trang 6

MỀM HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN

BỜ ĐÀ NẴNG 20

3.1.1 Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng 20

3.1.2 Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng 22

3.2 ĐẶC TRƯNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA ĐỘNG VẬT THÂN MỀM HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÀ NẴNG 25

3.2.1 Đa dạng về bậc taxon bậc bộ 25

3.2.2 Đa dạng về bậc taxon bậc họ 26

3.3 CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÀ NẴNG 26

3.4 SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÀ NẴNG VỚI CÁC KHU VỰC KHÁC 30

3.5 CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) QUÝ HIẾM TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÀ NẴNG 32

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33

Kết luận 33

Kiến nghị 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

27

3.4

Danh mục các loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có giá trị kinh tế đối với người dân tại khu vực nghiên cứu

28

3.5 Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp

Trang 8

Số hiệu Tên hình vẽ Trang

1.1

Hình thái cấu tạo của thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ

3.1 Đa dạng bậc bộ của các loài Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai

3.2 Đa dạng bậc họ của các loài Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia biển nằm ven bờ Tây Biển Đông, có chiều dài bờ biển hơn 3200km chạy dọc theo hướng Bắc - Nam Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao với trên 11.000 loài động, thực vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình và đã được công nhận là một trong các trung tâm đa dạng sinh học biển của thế giới Đà Nẵng là một thành phố biển nằm ở miền Trung Việt Nam, có

vị trí gần như là trung tâm khoảng cách giữa thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Đà Nẵng có bờ biển dài 89km, có mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000km2, rất thuận lợi cho việc khai thác nguồn lợi biển phục vụ cho đời sống người dân Nhóm động vật thân mềm có một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái biển và trong đời sống con người Nó tham gia vào quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, là mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn và tạo cân bằng hệ sinh thái biển Đồng thời nó còn là sinh vật đánh giá nguồn nước, có vai trò lọc nước và kim loại nặng.Tuy nhiên trong những năm gần đây động vật biển đang

bị suy thoái nghiêm trọng và chủ yếu do khai thác ven bờ Theo sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đà Nẵng, nguồn lợi hải sản đang bị khai thác theo chiều hướng không bền vững nên càng ngày càng bị cạn kiệt dần về số lượng và suy giảm cả về chất lượng Nguyên nhân chủ yếu do sự gia tăng trong xuất khẩu thủy sản, dẫn đến sản lượng đánh bắt hàng năm vượt quá nguồn dự trữ có sẵn[4], [16] Theo kết quả thống kê của Bộ tài nguyên và môi trường, các nguyên nhân sâu xa dẫn đến suy thoái tài nguyên sinh vật, giảm tính đa dạng sinh học biển và vùng ven bờ là khai thác quá mức nguồn lợi hải sản, ảnh hưởng của lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, nước thải sinh hoạt và các nhà máy công nghiệp gây suy giảm mạnh các loài động vật ven biển, trong đó có động vật thân mềm Hai mảnh vỏ [17]

Trước thực trạng đó, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần loài động

vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai thác tại vùng biển ven bờ

Đà Nẵng”

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) nhằm cung cấp dữ liệu cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý khai thác hợp lý nguồn lợi động vật hai mảnh vỏ khai thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu quan trọng trong lĩnh vực đa dạng sinh học, cung cấp nguồn tư liệu cho các nghiên cứu sâu hơn về động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) tại vùng biển Đà Nẵng Đồng thời cũng là nguồn thông tin cập nhật giúp các cơ quan quản lý có kế hoạch bảo tồn hiệu quả nhất

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA)

Bivalvia theo tiếng La-tinh có nghĩa là hai mảnh vỏ, là một lớp lớn thứ hai trong ngành thân mềm (Mollusca) với hơn 7000 loài bao gồm nhóm trai (clam), điệp (scallop), vẹm (mussel) và hàu (oyster) Những loài thuộc lớp hai mảnh vỏ có những đặc điểm sau: (1) vỏ có bản lề, gồm hai mảnh (vỏ trái và vỏ phải) dính lại với nhau nhờ dây chằng đàn hồi giúp cho vỏ mở khi cơ khép vỏ giãn ra; (2) cơ thể và chân dẹp bên; (3) không có đầu và cơ quan cảm giác phần đầu; (4) xoang màng áo rộng; (5) ít di động; (6) không có lưỡi sừng và răng sừng [13]

Hình 1.1: Hình thái cấu tạo của thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia)

[Nguồn: Caprpenter; K.E.; Niem; V.H (1998)]

1.1.1 Đặc điểm hình thái cấu tạo

Đặc điểm nhận dạng là có hai mảnh vỏ và cơ thể dẹp hai bên Cơ thể có cấu tạo phù hợp với lối sống bám chắc vào một chỗ, vùi lấp trong bùn và lọc thức ăn Phần thân mềm gồm 3 phần: Nang nội tạng, chân và màng áo

Trang 12

Vỏ bao bọc bên ngoài cơ thể gồm có hai mảnh (vỏ phải và vỏ trái), che kín hai bên thân dính liền với nhau ở mặt lưng nhờ dây chằng đàn hồi giúp cho vỏ mở khi

cơ khép vỏ giãn ra.Vỏ có bản lề, bản lề nằm ở mặt lưng, vỏ mở ở mặt bụng, ở mặt lưng gần bản lề vỏ lồi ra, điểm lổi ra được gọi là umbo (đỉnh vỏ) Umbo là điểm hình thành đầu tiên trong quá trình phát triển của vỏ, trong quá trình sinh trưởng vỏ lớn lên dần, trên mặt ngoài của vỏ xuất hiện những đường sinh trưởng chạy song song với mép vỏ

Dưới lớp vỏ là vạt áo Mặt trong áo tạo thành xoang áo, là nơi thực hiện trao đổi khí và vận chuyển thức ăn Hai bờ vạt áo của phần lớn chân rìu dính liền với nhau, chỉ để hở một số nơi hình thành ống hút nước và thoát nước, tạo chỗ thò ra ngoài cho chân và cơ bám Tiếp theo là hai tấm mang ở hai bên Ở giữa cơ thể là nội quan

Là động vật ít di chuyển, di chuyển bằng cách hé mở vỏ cho chân thò ra rồi thụt vào, kết hợp động tác đóng mở vỏ mà chúng di chuyển chậm chạp trong bùn như trai Nhóm Sò nứa (Cardium) có thể di chuyển theo kiểu “nhảy”, chân thò ra ngoài rồi lại đột ngột co vào, kéo cơ thể về phía trước Hai mảnh vỏ sống bám như

nhóm hàu (Ostreidae), điệp (Ammusium pleuronectes) hay loài Anomia aenigmatica

có chân tiêu giảm, chúng di chuyển bằng cách đột ngột khép hai mảnh vỏ, tạo ra hai tia nước bắn về phía bản lề để bơi theo hướng ngược lại

Hệ thống tiêu hóahai mảnh vỏ bao gồm có mang, xúc biện, miệng, thực quản,

dạ dày, manh nang tiêu hóa, sợi keo, ruột phần lớn nằm trong khối nội tạng Lớp hai mảnh vỏ không có túi xoang miệng, phiến hàm, lưỡi sừng và tuyến nước bọt Quá trình bắt mồi tiêu hóa của hai mảnh vỏ có 3 đặc điểm: (1) không có khả năng chọn lọc thức ăn nhưng lại có khả năng chọn lọc kỹ càng thức ăn theo kích thước; (2) mang là cơ quan chọn lọc thức ăn, xúc biện có tác dụng vận chuyển, manh nang chọn lọc thức ăn là cơ quan lọc cuối cùng; (3) dạ dày, ruột, sợi keo, mộc dạ dày giúp đỡ sự tiêu hóa ngoài tế bào Manh nang tiêu hóa, thực bào có tác dụng tiêu hóa nội tế bào Trực tràng và hậu môn dùng để thải bã thức ăn còn lại

Động vật Hai mảnh vỏ hô hấp chủ yếu bằng mang, ngoài ra chúng còn có thể tiến hành trao đổi khí nhờ mặt ngoài cơ thể vì vậy có nhiều huyết quản phân bố ở

Trang 13

màng áo khiến cho máu không phải qua mang mà trực tiếp chảy vào tâm nhĩ Cấu tạo mang: Mang nằm trong xoang mang, gồm các đôi lá mang đối xứng nhau bao gồm đôi lá mang trong và lá mang ngoài Trong các tấm mang cùng dãy giữa phần gốc và phần ngọn có thể có các cầu nối Còn tấm mang của nhóm Mang chính thức bao giờ cũng có cầu nối dọc giữa các tấm mang cùng dãy và cầu nối giữa gốc và phần ngọn của mỗi tấm Ngọn của các tấm mang còn có phần dính vào gốc mang hình thành xoang gốc mang (suprabrachium), ít nhiều phân biệt với xoang áo, chia xoang ra phần dưới và phần trên Vách ngăn thủng một số đôi lỗ đổ nước vào xoang

hô hấp Ngoài chức phận hô hấp, hoạt động của tiêm mao trên bề mặt mang còn có khả năng vận chuyển và cuốn thức ăn về miệng

Hai mảnh vỏ có hệ tuần hoàn hở, phần lớn có trực tràng xuyên qua tâm thất

Vị trí của tim so với trực tràng thay đổi ở các loài rất gần gũi nhau về quan hệ phát

sinh chủng loại Ví dụ như ở loài Nacula nacleus và Nacula delphinodonta nằm dưới tim còn trực tràng của Nacula proxima lại xuyên qua tim Ở một số loài thuộc

Mang nguyên thủy và mang sợi, hệ tuần hoàn chỉ có một chủ động mạch từ tâm thất

về phía trước Riêng ở Mang chính thức còn có thêm chủ động mạch sau Phần lớn máu của hai mảnh vỏ không có màu, ở sò huyết có máu màu đỏ Vòng tuầnhoàn điển hình của chân rìu là tim-hệ khe xoang-đơn thận-mang-tim Tuy nhiên có thể thay đổi tùy nhóm loài

Hệ bài tiết: Thận gồm một đôi do rất nhiều ống nhỏ phân tán ở vùng sau bụng

và ống phểu thận Một đầu thận thông với xoang bao tim, đầu kia thông với xoang màng áo

Hệ thần kinh và cơ quan cảm giác: Trung khu hệ thần kinh gồm 3 hạch (Trừ nhóm Nuculacera có 4 đôi hạch) là đôi hạch não, đôi hạch chân và đôi hạch nội tạng

ở các loài như Hàu khi còn là ấu trùng thì có 3 đôi hạch như trên nhưng khi trưởng thành do chân bị thoái hóa nên chỉ còn hạch não và hạch nội tạng cơ quan cảm giác không phát triển

Hệ cơ: Hệ cơ của động vật hai mảnh vỏ hết sức đơn giản chỉ có cơ khép vỏ và

cơ co rút chân Cơ khép vỏ bao gồm có cơ khép vỏ trước và sau, tuy nhiên ở các loài sống bám như Hàu cơ khép vỏ trước bị thoái hóa chỉ còn cơ khép vỏ sau

Trang 14

Hệ sinh dục: Phần lớn động vật thân mềm thuộc lớp hai mảnh vỏ đơn tính, tuyến sinh dục chiếm một phần thể xoang và nằm quanh ruột Ống sinh dục ngắn và

đổ vào phần cuối của thân (ở nhóm Mang nguyên thủy hay Mang sợi), một số loài khác lỗ sinh dục nằm ngay cạnh lỗ bài tiết Một số ít loài hai mảnh vỏ lưỡng tính như Cardium, Poromya, một số loài hàu, điệp, họ Sphaeridae và một số ít loài trong

họ trùng trục (Unionidae) Tuyến sinh dục đực và cái nằm cạnh nhau quanh ruột [14,tr.106-110]

1.1.2 Đặc điểm sinh sản phát triển

Hầu hết các loài động vật hai mảnh vỏ thành thục phụ thuộc vào kích cỡ hơn

là tuổi tác, phụ thuộc vào từng loài và phân bố địa lý

Thụ tinh thường được tiến hành trong xoang áo hay ngoài cơ thể

Sinh sản có thể bị kích thích bởi nhiều yếu tố môi trường như nhiệt độ, hóa chất, tác nhân kích thích tự nhiên, tình trạng của nguồn nước hoặc sự kết hợp giữa yếu tố này và những yếu tố khác Trong cùng một loài sự hiện diện của tinh trùng trong nước sẽ kích thích con cái đẻ trứng

Thụ tinh thường được tiến hành trong xoang áo hay ngoài cơ thể Trứng phân cắt xoắn ốc thành nhiều tế bào, phôi tang, phôi nang, phôi vị và có thể phát triển trên các tấm mang Sự phát triển khác nhau ở các nhóm Động vật Hai mảnh vỏ ở

biển phát triển qua ấu trùng Trochophora và ấu trùng Veliger Ấu trùng Veliger của hai mảnh vỏ rất giống với ấu trùng Veliger của chân bụng (Gastropoda) nhưng

không xoắn vặn nên luôn có cấu tạo đối xứng hai bên Tuyến vỏ của ấu trùng lúc đầu tiết ra một tấm vỏ ở mặt lưng, sau đó phát triển ra hai bên để hình thành hai tấm

vỏ như ở trưởng thành Quá trình phát triển của động vật hai mảnh vỏ thuộc lớp

Mang nguyên thủy có đặc điểm khác Ấu trùng Trochophora có bốn dãy tế bào lớn

bao lấy mầm vỏ và mầm các nội quan ở bên trong Trong quá trình biến thái, lớp tế bào ngoài đột ngột tan rã và giải phóng ra con non bên trong Trứng của Hai mảnh

vỏ trong họ Sphaeriidae sống ở nước ngọt phát triển trực tiếp trong tấm mang Như

vậy các giai đoạn Trochophora và Veliger đã thu gọn lại, mất màng bơi và được

tiến hành trong trứng Con non được hình thành ngay trong mang của mẹ Sự phát triển của các loài trong họ Trùng trục khá phức tạp Trứng phát triển trong tấm

Trang 15

mang, hình thành ấu trùng Veliger có cấu tạo thích nghi với sống bám và được gọi

là ấu trùng Glochidium Glochidium có hai mảnh vỏ, có gai bám và tuyến dính, tuy

nhiên chân, miệng, hầu, hậu môn và ống tiêu hóa chưa phát triển Ấu trùng theo dòng nước qua ống nước thoát nước rồi rơi xuống đáy hay bám vào động vật bơi qua (cá, tôm, ) Thông thường chúng bám vào vây, mang của cá như là một vật ký sinh và sau khoảng 10-30 ngày rời vật chủ rơi xuống đáy để phát triển cho ra dạng trưởng thành Nhờ có khả năng ngoại ký sinh trên động vật khác nên ấu trùng của hai mảnh vỏ này có thể sử dụng thức ăn và mở rộng khả năng phát tán vùng phân bố của loài [14, tr.111-112]

1.1.3 Sinh thái động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia)

Raimbault (1996) và Lubet & Monrton (1983) xác định thực vật phù du là thức ăn quan trọng của động vật thân mềm Hai mảnh vỏ Ngoài ra trong thành phần thức ăn của chúng còn có hỗn tạp khác như mảnh vụn các chất hữu cơ, chất keo Lớp Hai mảnh vỏ chủ yếu ăn theo kiểu lọc thức ăn trong nước Thức ăn, khí oxy đi vào cơ thể qua ống siphon, ống này hút nước và thức ăn hữu cơ qua tấm mang phủ đầy lông và luôn rung động rồi được dẫn vào tấm miệng Ống hút nước

có thể làm dãn rộng để hút nước và thức ăn nếu động vật lùi trong bùn đất Trai dùng cơ chân để chui rúc và bám vào bùn

Phương thức sống của Bivalvia khá đa dạng Một số loài như vẹm xanh sống bám trên các giá thể cứng bằng cách tiết ra một chất chứa protein gọi là sợi tơ bởi tuyến tơ nằm ở gốc chân Sau một thời gian ngăn tiếp xúc với nước biển, dịch tiết sẽ đông lại thành sợi tơ mỏng và chắc chắn bám vào giá thể Các loài khác như hàu gắn chặt lên vỏ giá thể và sống cố định suốt đời Vài loài đặc biệt là các loài thuộc

họ điệp thì có thể bơi trong khoảng cách ngắn, thường để lẫn tránh kẻ thù Điệp bơi bằng cách khép mở nhanh hai vỏ làm bắn nước từ màng áo ra ngoài Điệp thường bơi được một khoảng ngắn, khoảng vài mét một lần Điệp là loài di chuyển nhanh nhất trong lớp Bivalvia Để tránh bị ăn thịt một số loài sống vùi trong nền đáy hoặc đục khoét gỗ hay đá Vùi trong nền đáy mềm như cát hay bùn là nhờ hoạt động của chân Nhiều loài sống ở biển, ở giai đoạn ấu niên chúng đục khoét và chui vào trong

gỗ, san hô hay các giá thể cứng khác Giá thể đóng vai trò quan trọng trong đời sống

Trang 16

của chúng, cung cấp thức ăn và là nơi trú ẩn tránh địch hại Một nhóm lớn sống đục khoét trong giá thể gỗ đó là hà (shipworm), trong dạ dày của chúng có vi khuẩn cộng sinh với mật độ cao giúp chúng tiêu hóa gỗ và cố định đạm Các loài sống đục khoét thường là những sinh vật có hại cho con người vì chúng phá hủy các công trình đường thủy Các loài sống đục khoét phân bố rộng trong nước mặn kể cả vùng nước sâu hàng ngàn mét [14,tr.106]

1.1.4 Phân loại lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia)

Số loài còn sống (khoảng 8.000 loài) ít hơn loài hóa thạch (khoảng 12.000 loài), trong đó chủ yếu sống ở biển, còn ở nước ngọt chỉ chiếm 10-15% Hai mảnh

vỏ là nhóm động vật xuất hiện rất sớm, nhiều loài thuộc các họ Nuculidae, Arcidae, Aviculidae, Pectinidae có hóa thạch từ cuối kỷ Cambri Dựa vào cấu trúc và chức năng của mang, Bivalvia có thể chia thành nhóm: Mang sơ khai (Protobranchia), Mang tấm (Lamellibranchia) và Mang vách (Septibranchia) [13, tr.36-47]

- Mang sơ khai (Protobranchia)

Protobranchia theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là mang sơ khai Đặc điểm phân biệt là Protobranchia có mang nhỏ làm nhiệm vụ trao đổi khí, thức ăn được bắt lấy nhờ tua (palp proboscide) mỏng, dài xung quanh miệng Protobranchia là nhóm sống hoàn toàn ở biển, tất cả các loài đều sống vùi trong nền đáy mềm Mang nằm trong mỗi xoang màng áo gồm một đôi, mỗi mang gồm hai phần, gọi là demibranch (nửa mang) gắn vào hai bên của trục mang Demibranch gồm nhiều tấm tròn, phẳng hợp thành giống như mang của Gastropoda hoặc mang có cấu trúc dạng sợi với tiết diện tròn cả hai trường hợp được gọi là filament (tơ mang hay phiến mang) Các filament chia khoang áo thành hai ngăn, ngăn nước vào (incurrent chamber) ở mặt bụng và ngăn nước ra (outcurrent chamber) ở mặt lưng Trên mang có nhiều tiêm mao thường qua vùng mép của filament Tiêm mao bên (lateral cilia) có vai trò tạo dòng nước trong xoang màng áo, tiêm mao trước (front cilia) có nhiệm vụ làm sạch các hạt phù sa và chất vẩn bám trên mang Mỗi filament kết hợp với filament kề bên bởi cầu nối, tiêm mao không cử động ở phía trước và phía sau mỗi tấm mang Tiêm mao của mỗi tấm mang thường cài vào nhau giúp ổn định cấu trúc mang, sự tương tác ion giữa bề mặt các tiêm mao tăng cường thêm sự kết chặt giữa hai tấm mang kề

Trang 17

nhau.Hầu hết các loài Protobranchia không bắt mồi bằng mang mà bắt mồi bằng tua (palp proboscide) dài, mỏng xung quanh miệng Ở gốc các tua bắt mồi quanh miệng

có một dải mỏng gọi là xúc biện (labial palp)

Mặc dù Protobranchia có phân bố ở vùng nước cạn nhưng hầu hết chúng sống

ở biển sâu, chúng chiếm ¾ trong mẫu thu ở vùng nước sâu 1000m hoặc sâu hơn

- Mang tấm (Lamellibranchia)

Lamellibranchia theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là mang tấm Đặc điểm phân biệt

là ngoài nhiệm vụ trao đổi khí, mang biến đổi để bắt các hạt thức ăn lơ lửng, ở gốc chân có tuyến đặc biệt (tuyến tơ chân) tiết ra chất kết dính chứa protein Mang lược của Lamellibranchia thường lớn hơn so với Protobranchia và được biến đổi để có bề mặt diện tích lớn giúp cho việc bắt mồi, chọn lọc và vận chuyển thức ăn Mang lược gồm nhiều tơ mang kết hợp với nhau, tơ mang thường mỏng và kéo dài Từ trục mang, tơ mang kéo dài về phía bụng và gập ngược trở lại tạo thành một nửa mang (demibranch) có hình chữ V, hai nửa mang hợp lại tạo cho việc tiết diện mang có hình chữ W Mỗi tơ mang được chia thành hai phần, phần tử trục mang kéo dài xuống bụng gọi là phiến gốc (descending limb) và phần tơ mang gập lại được gọi là phiến ngọn (ascending limb) Các tơ mang nằm kề nhau thường kết hợp lại với nhau theo chiều dọc bởi các tiêm mao(interfilamental ciliary junction) giống như mang của Protobranchia Tấm mang có các tơ mang kết lại với nhau bằng các tiêm mao được gọi

là dạng mang tơ (filibranch gill) Mang của những loài tiến hóa cao có những thay đổi lớn được gọi là mang thật (eulamellibranch gill), sự kết nối giữa các tơ mang lúc này

là cầu nối mô chứ không phải là tiêm mao Với kiểu kết nối này, các tơ mang hoàn toàn được kết hợp chặt với nhau Ở các dạng mang tơ và mang thật, giữa phiến gốc

và phiến ngọn được kết lại với nhau theo chiều ngang (gọi là cầu nối ngang) bởi cầu nối mô Mang của Lamellibranchia là mang lược đôi với hai nửa mang nằm bên trục mang Mỗi nửa mang gồm tấm gốc và tấm ngọn, nửa mang gần chân gọi là nửa mang trong (inner demibranch), nửa mang gần màng áo gọi là nửa mang ngoài (outer demibranch) Phiến ngọn nửa mang chân dính vào gốc chân, phiến ngọn của nửa mang ngoài dính vào màng áo.Trên bề mặt của tơ mang về phía ngăn nước vào

có nhiều tiêm mao Tiêm mao bên dọc theo mặt trong của bờ mặt mang làm nhiệm

Trang 18

vụ tạo dòng nước vào và ra khỏi xoang màng áo Cũng như hầu hết các loài Mollusca khác, dạ dày của Bivalvia nối với tuyến tiêu hóa lớn gọi là mang nang tiêu hóa làm nhiệm vụ hấp thụ và tiêu hóa thức ăn

- Mang vách (Septibranchia)

Septibranchia theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là mang vách hay mang ngăn Đặc điểm phân biệt là mang biến đổi tạo thành vách ngăn, nước lưu thông qua vách ngăn giúp hô hấp và bắt mồi Septibranchia là một nhóm nhỏ, ăn động vật phiêu sinh và xác động vật bị phân hủy Tất cả các loài đều phân bố ở biển và hầu hết được tìm thấy ở vùng biển sâu Hiện chỉ có vài trăm loài Septibranchia được mô tả

Mang của Septibranchia rất khác biệt với các nhóm khác, không có tơ mang

mà chỉ có một vách cơ ngăn ngang Vách ngăn chia xoang mang áo thành hai ngăn, ngăn phía bụng, ngăn phía lưng và trên vách ngăn có nhiều lỗ Một số loài trên lỗ có van một chiều, vách ngăn có thể di chuyển mạnh về phía trong xoang mang áo, hút nước vào qua ống hút nước và đồng thời thải nước qua ống thoát nước Dạ dày của Septibranchia thẳng có vách chitin giúp nghiền thức ăn Septibranchia có xúc biện nhưng hoàn toàn không có chức năng chọn lọc thức ăn Túi trụ thủy tinh thoái hóa

và không có trụ thủy tinh

1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Vị trí địa lý

Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°55' đến 16°14' vĩ độ Bắc và từ 107°18' đến 108°20' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông Cách trung tâm thành phố cách thủ đô

Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách thủ đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108km về hướng Tây Bắc [10].Đà Nẵng nằm trong trục giao thông Bắc-Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và nước bạn Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan và Myanma (theo Bộ kế hoạch và Đầu tư) Các trung tâm kinh doanh thương mại của các nước vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương đều trong phạm vi bán kính 2000km từ thành phố Đà Nẵng Theo số liệu

Trang 19

của UBND thành phố Đà Nẵng, năm 2008, dân số thành phố Đà Nẵng là 876.545 người Với diện tích tự nhiên 1.283,42km2, mật dân số là 628,58 người/km2 [3] Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng biển hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở các khu chức năng của thành phố [16]

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và

ít biến động Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình hằng năm trên 250C Rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C,

là địa bàn du lịch nghỉ mát lý tưởng Khí hậu thành phố là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam mà tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam, có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có đợt rét không đậm và kéo dài [2]

Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào các tháng 5,

6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, Đà Nẵng có một nền nhiệt

độ cao và ít biến động trong năm Năm 2011, nhiệt độ trung bình dao động từ 200 C đến 29,80C; có thời điểm cao nhất là vào tháng 5 lên đến 38,6 0C thấp nhất là 14,3 0C [16] Điều kiện địa lý, địa hình và cơ chế hoàn lưu đã chi phối toàn bộ cơ chế hình thành và phân bố lượng mưa của thành phố Đà Nẵng Tổng lượng mưa tăng dần về phía Bắc, Tây Bắc và tăng theo độ cao Lượng mưa trung bình hàng năm ở các nơi thuộc Đà Nẵng vào loại lớn so với các nơi khác trong khu vực cũng như trong toàn quốc Tổng lượng mưa trung bình năm phổ biến ở đồng bằng từ 2000 đến 2500mm, đỉnh Bà Nà có lượng mưa trung bình năm trên 5000mm [8].Năm 2011, lượng mưa

Trang 20

cao nhất vào các tháng 9, 10, 11 và thấp nhất vào các tháng mùa khô (tháng 3, 4, 5, 7) (Bảng 1.1)

Đà Nẵng là một trong những vùng có độ ẩm không khí cao trong khu vực miền Trung Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong năm 2011 dao động từ 70-89% Độ ẩm cao nhất là các tháng mùa mưa (tháng 9, 10, 11, 12) và thấp nhất vào các tháng mùa nắng (tháng 5, 6, 7, 8) Độ ẩm trung bình hằng năm 82%, độ ẩm không bao giờ vượt quá 95% số giờ/năm có độ ẩm 90% ( Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm các tháng trong năm 2011 ở Đà Nẵng

Giờ nắng (giờ)

[Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ, 2011]

1.2.2 Điều kiện thủy văn

Vùng biển Đà Nẵng có chế độ thủy triều thuộc chế độ bán nhật triều không đều Hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lên và hai lần nước xuống,

độ lớn triều tại Đà Nẵng khoảng trên dưới 1m Dòng chảy ở vùng biển gần bờ có hướng chủ đạo là hướng Đông Nam với tốc độ trung bình khoảng 20-25cm/s Khu

Trang 21

vực gần bờ có độ dốc lớn hơn so với khu vực ngoài khơi một chút Dòng chảy có diễn biến phức tạp hơn ở khu vực bán đảo Sơn Trà và mũi Đà Nẵng, tốc độ dòng chảy ở các khu vực này cũng lớn hơn các khu vực khác trong vùng từ 5-10cm/s [16]

Theo kết quả phân tích mẫu nước trong 12 tháng năm 2010 vào các thời kỳ triều cường và triều kém của trạm Môi trường biển Sơn Trà thì nhiệt độ trung bình tầng mặt tăng từ tháng 1 đến tháng 4 và giảm từ tháng 7 đến tháng 12 trong năm (dao động từ 23,5 đến 30,10C), tầng đáy dao động từ 23,6 đến 30,00C, có sự phân tầng nhiệt độ giữa hai tầng mặt và tầng đáy nhưng không nhiều, biên độ dao động nhiệt phụ thuộc vào thời tiết

Độ mặn khu vực ven bờ biển Đà Nẵng có sự phân tầng rõ rệt Trong mùa mưa nhiệt độ xuống khá thấp, đột biến vào tháng 1 năm 2010 lúc chân triều độ mặn đo được ở tầng mặt chỉ là 2,20/00 Độ mặn lớn nhất trong năm là 34,10/00 xảy ra trong tháng VII (Đỉnh triều-tầng đáy và chân triều-tầng đáy) Độ mặn trong năm dao động: tầng đáy trung bình 25,7-34,10/00và tầng mặt dao động từ 6,2 đến 29,40/00, cao hơn so với năm 2009 (Theo kết quả quan trắc của Trạm môi trường biển Sơn Trà)

1.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỘNG VẬT THÂN MỀM

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3.1 Tình hình nghiên cứu thành phần loài động vật thân mềm trên thế giới

Việc nghiên cứu động vật thân mềm trên thế giới đã được nghiên cứu từ lâu Ở rừng ngập mặn, trên thế giới có rất nhiều đề tài nghiên cứu và xác định được rất nhiều loài động vật thân mềm bao gồm: 47 loài động vật thân mềm (31 loài Chân bụng và 16 loài Hai mảnh vỏ) ở rừng ngập mặn Vịnh Thái Lan (Printrakoon et al 2008) [31], 45 loài động vật thân mềm (22 loài Chân bụng, 15 loài Hai mảnh vỏ) ở rừng ngập mặn Venezuela (Marquez & Jimenez, 2002) [29], 44 loài động vật thân mềm ở rừng ngập mặn ở Sarawak, Malaysia (Ashton et al, 2003) [23], 28 loài ở trong rừng ngập mặn Trung quốc (Jiang Li, 1995) [26], có 20 loài (Kathiresan 2000) ở rừng ngập mặn Pichavaram [28] Năm 2014, Milad Kabir, Marziye Abolfathi, Abdolmajid Hajimoradloo, Saeed Zahedi, Kandasamy Kathiresan, Sheyda Goli với đề tài “Effect of mangroves on distribution, diversity and abundance of molluscs in mangrove ecosystem: a review”đã nhấn mạnh sự giàu đa

Trang 22

dạng sinh học của rừng ngập mặn với sự phong phú về số lượng động vật thân mềm trên toàn thế giới [30]

Bên cạnh đó việc nghiên cứu động vật thân mềm ở biển cũng rất được quan tâm.Một số nghiên cứu cho thấy số lượng động vật thân mềm rất lớn Tiêu biểu là

đề tài nghiên cứu của Chapman “Numbers of Living Species in Australia and the World” (2009), đã ước tính số loài động vật thân mềm còn sinh tồn là 85.000 loài [23] Haszprunar vào năm 2001 đã ước tính có khoảng 93.000 loài động vật thân mềm được đặt tên, trong đó có khoảng 23% loài ở biển được đặt tên [27]

Flávio Dias Passos, Frederico Thomaisino Magalhães với đề tài “A comparative study of the Bivalvia (Mollusca) from the continental shelves of Antarctica and Brazil” đã liệt kê được 68 loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở cạn

và 368 loài ở nước (với độ sâu <200m) [25]

1.3.2 Tình hình nghiên cứu thành phần loài động vật thân mềm ở Việt Nam

Việc nghiên cứu về các loài động vật biển ở nước ta đã có từ rất lâu, bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII với công trình nghiên cứu đầu tiên của Martin và Chemnitz (1784), khảo sát về trai ốc biển ở vùng biển Côn Đảo Sau đó rất nhiều năm việc khảo sát sinh vật vùng biển phía Nam có các công trình nghiên cứu như Eydoux, Souleyet, Grandichau (1857), Michau (1861), Le Mesle (1894) Năm 1890 Crosse

và Fisher đã có chương trình nghiên cứu trai ốc vùng biển Vịnh Hạ Long Tuy nhiên, hoạt động điều tra nghiên cứu có hệ thống về sinh vật biển Việt Nam chỉ có

từ khi thành lập Viện Hải dương học Đông Dương ở Nha Trang Từ sau khi đất nước thống nhất (1975), hoạt động điều tra nghiên cứu biển nới chung và sinh vật biển nới riêng được thực hiện có kế hoạch trên phạm vi toàn vùng biển với qui mô lớn.Trong khuôn khổ đề tài Nghiên cứu đặc sản ven bờ thuộc Chương trình KT-03,08 của Viện Hải dương học Hải Phòng Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thiên Yết (1993), Điều tra nguồn lợi đặc sản vùng ven bờ từ Móng Cái đến Bắc đèo Hải Vân

đã điều tra trên 90 điểm của 9 tỉnh và xác định được 233 loài thuộc ngành Thân mềm [19]

Theo Bùi Quang Nghi (1999) tại tỉnh Khánh Hòa đã xác định được 267 loài động vật thân mềm Hai mảnh vỏ thuộc 39 họ (chiếm 34%) Cùng với kết quả

Trang 23

nghiên cứu ban đầu của Đào Tấn Hổ và cộng sự (1996) cho thấy thành phần loài động vật thân mềm trong cỏ biển tại Khánh Hòa sơ bộ đã thống kê được khoảng 40 loài thuộc các giống như: Aloidis, Cerithium, Drupa, Malleus, Nerita, Cardium, Pinna, Mactra, Strombus Trong đó có nhiều loài có số lượng lớn và được ngư dân

khai thác để làm thực phẩm như: Xút (Cirrce scripta, ), Sò nứa (Cardiium

lencostoma, Trachycardium elongatum ), Ốc nhảy (Lambis lambis, Strombus isabella, ), Vọp (Mactramaculata), Bàn mai (Pinna atropurpurea, ) [12]

Phạm Đình Trọng, 1997, “Dẫn liệu bước đầu về động vật đáy ở phá Tam Giang-Cầu Hai” đã xác định có 40 loài thân mềm thuộc 30 giống, 21 họ của 2 lớp Chân bụng (Gastropoda) và Hai mảnh vỏ (Bivalvia) [20]

Cũng trong đề tài nghiên cứu động vật ở đầm phá Nguyễn Mộng (1999) nghiên cứu Thành phần loài thân mềm Hai mảnh vỏ (Bivalvia) ở đầm phá Thừa Thiên Huế, đã xác định 24 loài thuộc 11 họ, 17 giống [9]

Đề tài “Đa dạng sinh học và nguồn lợi động vật thân mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia) vùng biển Cát Bà và Cô Tô” do Nguyễn Quốc Hùng và cộng sự nghiên cứu năm 2003-2004, kết quả khảo sát và phân tích cho thấy: ở khu vực Cát Bà đã thống kê được 131 loài nằm trong 52 giống và 23 họ, khu vực Cô Tô gồm 116 loài thuộc 58 giống và 27 họ Trong đó, một số loài phong phú như: họ ngao Veneridae

20 loài, họ sò Arcidae 8 loài, họ hàu Ostreidae 6 loài, họ sò nứa Cardidae 5 loài, các

họ khác còn lại phần lớn có từ 1-3 loài [6]

Năm 2005 tại vịnh Bắc Bộ (Từ Móng Cái đến Quảng Bình với diện tích 124.500km2), Đỗ Công Thung, Lê Thị Thúy, đã xác định được 856 loài động vật thân mềm thuộc 120 họ và 5 lớp chủ yếu: Lớp Chân bụng (Gastropoda) 449 loài, lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) 368 loài, Chân đào (Scaphopoda) 10 loài, Chân đầu (Cephalopoda) 19 loài, Song kinh (Amphineura) 8 loài [18]

Hoàng Ngọc Khắc, 2010, “Nghiên cứu giáp xác lớn (Malacostraca) và thân mềm (Mollusca) ở sông Hồng (từ Phú Thọ đến cửa Ba Lạt)”, đã xác định được 124 giống thân mềm thuộc 68 họ, 17 bộ, 3 lớp Trong đó lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có

59 loài, lớp Chân bụng (Gastropoda) có 89 loài ở sông Hồng từ Phú Thọ tới cửa Ba Lạt Tác giả cũng chỉ ra so với các sông khác, tỷ lệ giáp xác lớn, thân mềm ở khu

Trang 24

vực nghiên cứu chung với khu vực tương ứng ở sông Tây Giang (69,23%), cao hơn sông Mê Kông (35,04%) [7]

Tại hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 5, Lưu Thế Anh và cộng sự (2010-2011), “Đa dạng sinh học khu vực quần đảo Hòn Mê-Thanh Hóa”, tổng hợp kết quả nghiên cứu tại vùng biển Hòn Mê từ năm 1993 đến nay đã thống kê được 102 loài tảo; 47 loài động vật thân mềm (Chân đầu có 14 loài, Hai mảnh vỏ 16 loài và Chân bụng có 17 loài ); 7 loài Da gai; 37 loài Giáp xác;

15 loài Rong biển; 72 loài San hô Đồng thời tác giả cũng khẳng định: Trong những năm gần đây, nguồn lợi hải sản trong khu vực đã bị giảm sút nhanh, đặc biệt là các loài thủy sinh vật quý hiếm và có giá trị kinh tế do tình trạng rạn san hô bị phá hủy

và hoạt động đánh bắt bằng phương pháp hủy diệt (mìn, hóa chất, lưới kéo đáy mắt nhỏ ) Nhiều loài thuộc danh sách những loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng tại Việt Nam [1]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải (2012) về “Thành phần loài động vật đáy tại các hệ sinh thái bãi bồi ven biển Việt Nam” đã điều tra thành phần loài động vật đáy trong các hệ sinh thái bãi bồi ven biển tại 28 tỉnh thành ven biển trong cả nước, kết quả xác định 228 loài động vật đáy có 163 loài thuộc ngành thân mềm (Mollusca) trong đó có lớp Chân bụng (Gastropoda) có 96 loài (chiếm 42,11%), lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 67 loài (chiếm 29,39%) Ngành Chân khớp (Arthropoda) có 50 loài (21,93%) thuộc lớp Giáp xác (Crustacae) Ngành Giun đốt (Annelida) chỉ có 15 loài, 11 loài (4,82%) thuộc lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta), 4 loài (1,75%) thuộc lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) và có 23 loài có giá trị kinh tế trong

hệ sinh thái bãi bồi ven biển Việt Nam [5]

Hoàng Đình Trung, “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài động vật đáy ở hạ lưu sông Hiếu tỉnh Quảng Trị” đã nghiên cứu ở 6 địa điểm và xác định được 43 loài động vật đáy thuộc 29 giống, 16 họ và 5 lớp: trong đó lớp Giáp xác (Crustacea) với

18 loài thuộc 11 giống, 4 họ; lớp Giun nhiều tơ (Polychaeata) có 2 loài thuộc 2 giống, 2 họ; lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) có 3 loài thuộc 2 giống, 2 họ; lớp Chân bụng (Gastropoda) có 12 loài thuộc 11 giống, 5 họ;lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 8 loài thuộc 3 giống, 3 họ Đồng thời tác giả cũng đưa ra kết luận thành phần loài

Trang 25

động vật đáy ở hạ lưu sông Hiếu khá phong phú, có quan hệ gần gũi cao nhất với thành phần loài động vật đáy ở khu vực Phong Nha, tỉnh Quảng Bình và tính tương đồng giảm dần so với thành phần loài động vật đáy ở sông Hương, sông Vu Gia-Thu Bồn và hạ lưu sông Hồng [21]

Hoàng Đình Trung, Hoàng Việt Quốc, 2013, “Kết quả nghiên cứu bước đầu về thành phần loài thân mềm Hai mảnh vỏ (Bivalvia) và Chân bụng (Gastropoda) ở sông Hương, thành phố Huế” đã xác định được 28 loài động vật thân mềm thuộc 20 giống, 13 họ, 05 bộ ở sông Hương, đoạn chảy qua địa phận thành phố Huế Trong

đó, lớp Chân bụng (Gastropoda) có 17 loài thuộc 15 giống, 8 họ, 2 bộ; lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 11 loài thuộc 5 giống, 5 họ, 3 bộ [22]

Tại Đà Nẵng:Cho tới thời điểm này, chưa có đề tài nào nghiên cứu về thành

phần loài động vật thân mềm một cách cụ thể Chỉ có Nguyễn Thị Ngọc sinh viên khóa 2010-2014, Đại học sư phạm Đà Nẵng đã nghiên cứu về thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) tại vùng biển Đà Nẵng Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc đã công bố được 64 loài thuộc 27 họ thuộc 9 bộ

khác nhau của lớp Chân bụng (Gastropoda) tại vùng biển Đà Nẵng [11]

Qua các nghiên cứu kể trên thì việc nghiên cứu sinh vật biển đã có từ rất lâu

và việc nghiên cứu về động vật thân mềm Hai mảnh vỏ trên nước ta cũng có rất nhiều công trình lớn có ý nghĩa to lớn Tuy nhiên việc nghiên cứu ở Đà Nẵng về động vật Hai mảnh vỏ chưa thấy nghiên cứu tổng quát Do vậy việc nghiên cứu động vật Hai mảnh vỏ ở ven biển Đà Nẵng góp phần làm dẫn liệu bước đầu cho các nghiên cứu tiếp theo và cho việc bảo tồn và phát triển bền vững động vật thân mềm Hai mảnh vỏ ở ven biển Đà Nẵng

Trang 26

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia)

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Vùng biển ven bờ Đà Nẵng

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

6 tháng (Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016)

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ

(Bivalvia) khai thác vùng biển ven bờ Đà Nẵng

2.2.2 Đặc trưng về đa dạng sinh học của động vật lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai

thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng

2.2.3 Các loài động vật thân mềm Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có giá trị kinh tế khai

thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng

2.2.4 So sánh độ đa dạng về thành phần động vật lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai

thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng với vùng biển khác

2.2.5 Các loài động vật thân mềm Hai mảnh vỏ (Bivalvia) quý hiếm

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 chúng tôi đã tiến hành thu mẫu mỗi tháng 1->2 đợt, mỗi đợt từ 1->3 ngày tại các bến cá, chợ cá các ghe tàu khai thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng Ngoài ra còn thu trực tiếp từ các ngư dân đang khai thác tại bãi triều và vùng ven bờ

Mẫu thu được chụp ảnh phân loại tại hiện trường Mẫu nào không phân loại được sẽ được ngâm trong cồn và đưa vào phòng thí nghiệm

Ngoài ra trong quá trình thu mẫu chúng tôi cũng hỏi các chủ nậu những loài có giá trị kinh tế cao

Trang 27

2.3.2 Phương pháp phân loại động vật thân mềm Hai mảnh vỏ

Định loại các loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) bằng phương pháp so sánh hình thái Phân loại mẫu theo tài liệu của Nguyễn Ngọc Thạch (2007); Carpenter; K.E.; Niem; V H (1998)

Những loài chưa phân loại được sẽ được gửi về phòng thủy sinh vật viện Hải Dương để tiếp tục nghiên cứu phân loại (Trong 30 loài động vật thân mêm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) chúng tôi thu thập được có 1 loài tôi gửi vào viện Hải

Dương phân loại đó là loài Placamen calophylla (Philippi, 1836))

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu về số lượng thành phần loài, các đặc trưng, độ tương quan thành phần loài sẽ được tiến hành xử lý bằng phần mềm Excel

Trang 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 DANH MỤC, CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN

Bảng 3.1: Danh sách thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ

(Bivalvia) khai thác ở vùng biển ven bờ Đà Nẵng

1 Anadara fultoni (G.B Sowerby,

2 Anadara kafanovi (Lutaenko, 1992) Sò bụng phình Sò lông

3 Anadara pilula (Reeve 1853) Sò dày Sò

4 Diluvarca ferruginea (Reeve, 1844) Sò sắt Sò huyết

5 Scapharca subcrenata (Lischke,

Trang 29

(4) Họ Pectinidae Họ Điệp

9 Amusium japonicum (Gmelin, 1791) Điệp bơi viền

vàng

Điệp tròn, điệp nhật nguyệt

10 Amusium pleuronectes (Linnaeus,

1758)

Điệp bơi viền trắng

Điệp tròn, điệp nhật nguyệt

11 Chlamys macassarensis (Chenu,

16 Coleomactra antiquata (Spengler,

17 Antigona lamellaris (Schumacher,

18 Antigona reticulata (Linaeus, 1758) Ngao

19 Callista ecrycina (Linaeus, 1758) Sò sọc

20 Meretrix lusoria (Roeding, 1798) Ngao nâu Ngao vân, ngao

mật

21 Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) Ngao bến tre Ngao trắng

22 Meretrix meretrix (Linaeus, 1758) Ngao dầu Ngao dầu

23 Meretrix petechialis (Lamarck, 1818) Ngao bông nhỏ

Trang 30

24 Paphia gallus (Gmelin, 1791) Ngao xanh

25 Paphia semirugata (Philippi, 1847) Ngao đốm mờ Sò lụa

26 Paphia undulata (Born, 1778) Nghêu lụa Chép chép, chíp

chíp

27 Periglypta crispata (Desheyes,

28 Pitar affinis (Gmelin, 1791) Ngao đa dạng Ngao

29 Placamen calophylla (Philippi,

30 Tapes literatus (Roeding, 1798) Ngao bông nâu Sò mía

3.1.2 Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng

Ở mỗi hệ sinh thái; cấu trúc thành phần loài sinh vật được sắp xếp trong họ, bộ luôn luôn khác nhau tạo nên tính đặc trưng riêng Vùng biển Đà Nẵng nằm trong cảnh quan có địa hình rất phong phú, có thảm cỏ biển phát triển là nơi sinh sống cũng là nguồn thức ăn cho ấu trùng, con non Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, do vậy cấu trúc thành phần loài thân mềm thuộc lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) thể hiện rõ rệt tính đa dạng

Phân tích mẫu động vật thân mềm thuộc lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia) khai thác tại vùng biển ven bờ Đà Nẵng, chúng tôi đã thống kê được 30 loài thuộc 19 giống, 7 họ trong 4 bộ khác nhau Cấu trúc thành phần loài hai mảnh vỏ được thể hiện ở bảng 3.2

Ngày đăng: 26/06/2021, 18:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm