1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng các loài thực vật xâm lấn tại xã hòa bắc huyện hòa vang TP đà nẵng nhằm đề xuất một số biện pháp hạn chế sự phát triển của chúng

62 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH MÔI TRƯỜNG ---- BÙI THỊ KIỀU DIỄM Nghiên cứu thực trạng các loài thực vật xâm lấn tại xã Hòa Bắc- huyện Hòa Vang - TP Đà Nẵng nhằm đề xuất một số

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH MÔI TRƯỜNG



BÙI THỊ KIỀU DIỄM

Nghiên cứu thực trạng các loài thực vật xâm lấn tại xã Hòa Bắc- huyện Hòa Vang - TP Đà Nẵng nhằm đề xuất một số biện pháp hạn chế

sự phát triển của chúng

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOA SINH MÔI TRƯỜNG

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đã từ lâu, các nhà sinh học và sinh thái học trên thế giới đã chú ý đến một hiện tượng khá đặc biệt trong thế giới sinh vật, đó là sự xâm lấn và phát triển mạnh mẽ của các loài sinh vật lạ gây tác động xấu đến các loài sinh vật bản địa và gây ra những hậu quả như: lấn át, loại trừ làm suy giảm nguồn gen bản địa, phá vỡ cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, phá hại mùa màng, làm giảm năng xuất cây trồng, vật nuôi và thậm

chí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người [2]

Đứng trước nguy cơ xâm lấn của các loài thực vật đối với sự tồn tại và phát triển của các loài bản địa và việc bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên cũng như trong công tác bảo tồn Đa dạng sinh học Do vậy chúng ta cần thiết phải có những khảo sát, đánh giá mức

độ xâm lấn của chúng để từ đó tìm ra những biện pháp khống chế, ngăn chặn có hiệu quả không những đối với các vùng đất nông nghiệp mà ngay cả các khu bảo tồn, vườn quốc gia [11]

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài thực vật xâm lấn, tuy nhiên vẫn chưa đưa ra biện pháp hữu hiệu để tiêu diệt những loài này

Hòa Bắc là một trong các xã miền núi ở phía Bắc của huyện Hòa Vang, nằm cách trung tâm thành phố hơn 20 km đường giao thông, có nguồn đất nông nghiệp hạn chế bởi địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm hơn 95% diện tích Bên cạnh đó, Hòa Bắc còn là một xã nằm trong vùng đệm của khu du lịch sinh thái Bà Nà và rừng phòng hộ đầu nguồn, do đó những cánh rừng xanh tốt nơi đây không những mang lại khí hậu trong lành, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp mà còn có nguồn thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, rất có tiềm năng về lâm sản và lâm sản ngoài gổ rất có giá trị kinh tế đối với đời sống con người Nhưng hiện nay hệ thực vật ở đây đang có nguy cơ bị đe dọa bởi các loài thực vật xâm lấn và dẫn đến làm suy giảm đa dạng sinh học của vùng này

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng các loài thực vật xâm lấn tại xã Hòa Bắc- huyện Hòa Vang - TP Đà Nẵng nhằm đề xuất một số biện pháp hạn chế sự phát triển của chúng” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 3

Đề tài của chúng tôi nhằm giải quyết vấn đề sau: Nghiên cứu thành phần loài, đánh giá mức độ xâm lấn và tác hại của các loài thực vật xâm lấn tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp hạn chế

sự phát triển của các loài thực vật xâm lấn nhằm góp phần phục vụ cho chiến lược phát triển du lịch và bảo tồn Đa dạng sinh học của thành phố

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát chung về sinh vật xâm lấn

1.1.1 Khái niệm

Theo Công ước Đa dạng sinh học

Sinh vật ngoại lai (Aillen Species ) là một loài, phân loài hặc một taxon (bậc phân loại) thấp hơn, kể cả một bộ phận cơ thể bất kỳ (giao tử, trứng, chồi mầm) có khả năng xuất hiện sống sót và sinh sản bên ngoài vùng phân bố tự nhiên (trước đây và hiện nay) và phạm vi phát tán tự nhiên của chúng

Tại khoản 19, điều 3, chương 1-Bộ luật Đa dạng sinh học(2009)

Sinh vật ngoại lai xâm hại ( Invasive Aillen Species) có thể bao gồm các loài sinh vật ở tất cả các nhóm phân loại chính, như vi rút, nấm, tảo, rêu, dương xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xương sống, cá, lưỡng cư, bò sát, chim và động vật có vú được du nhập vào môi trường mới khác với nơi phân bố tự nhiên ban đầu của chúng và gây ra các thiệt hại về kinh tế, sức khỏe con người và môi trường

Theo Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật (2011)

Sinh vật xâm lấn là sinh vật lạ được du nhập vào môi trường mới khác với nơi

phân bố tự nhiên ban đầu của chúng, gây thiệt hại về kinh tế, sức khỏe con người và môi trường [2]

1.1.2 Đặc điểm của sinh vật xâm lấn

- Khả năng phát tán mạnh: các loài sinh vật sau khi xâm nhập vào vào các vùng

lãnh thổ mới, chúng sẽ thích nghi với điều kiện môi trường mới, phát triển không ngừng bằng nhiều hình thức khác nhau đến một lúc nào đó phá vỡ cân bằng sinh thái bản địa và vượt khỏi tầm kiểm soát của con người Lúc này nó trở thành loài ngoại lai xâm hại

- Khả năng sinh sản rất nhanh

- Biên độ sinh thái rộng: thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường

- Khả năng cạnh tranh cao: cạnh tranh về nguồn thức ăn và nơi cư trú, xâm

chiếm các vùng lân cận và những nơi xa hơn làm giảm năng suất cây trồng khi còn ở mật độ thấp và khó kiểm soát

Trang 5

1.1.3 Tác hại của các loài sinh vật xâm lấn

Với những đặc tính sinh học, khả năng phát tán mạnh, biên độ sinh thái rộng, thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường, các loài TVXL gây những tác hại như:

- Cạnh tranh với các loài bản địa về thức ăn, ánh sáng, nơi sống, hoặc lai giống với các loài bản địa gây suy giảm nguồn gen

- Gây tổn thất không nhỏ về kinh tế Các loài cỏ dại làm giảm mùa màng, tăng chi phí để kiểm soát quản lý và tốn nhiều thời gian

- Một số loài TVXL là mầm mống gây bệnh cho con người và vật nuôi, hoặc là tác nhân lan truyền các mầm mống gây bệnh nguy hiểm

- Nhiều loài TVXL không thể hiện tác hại của chúng ngay mà trở thành mối nguy cơ tiềm ẩn cho hệ sinh thái và con người

1.1.4 Nguyên nhân xuất hiện sinh vật xâm lấn

1.1.4.1.Nguyên nhân khách quan

- Gió: theo chiều gió các hạt giống bào tử di chuyển nhanh và xâm nhập dần đến các nơi ở mới

- Dòng chảy của nước: các hạt giống, bào tử, đoạn thân…, theo dòng chảy di chuyển từ lục địa này sang lục địa khác, hoặc theo dòng chảy của sông suối để phát tán

từ vùng này sang vùng khác

- Bám theo các phương tiện vận chuyển đường không, đường thủy, đường bộ (đặc biệt đối với các loài côn trùng và động vật) Sự vận chuyển này có chủ đích hay không chủ đích

1.1.4.2.Nguyên nhân chủ quan

- Canh tác nông nghiệp và phát nương làm rẫy không những làm suy thoái môi trường tự nhiên, làm giảm ĐDSH mà còn tiếp tay cho việc phát triển các loài thực vật xâm lấn, tấn công vào môi trường tự nhiên, đe dọa sự phát triển của loài bản địa

- Các hoạt động du lịch, hoạt động xây dựng,…là những yếu tố thúc đẩy sự di chuyển và phát tán nhanh các loài TVXL

Trang 6

- Biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự lan rộng của các loài thực vật xâm lấn

1.2 Tình hình nghiên cứu thực vật xâm lấn

1.2.1 Tình hình nghiên cứu sinh vật xâm lấn trên thế giới

Nhiều kết quả nghiên cứu về sinh vật xâm lấn ở trên thế giới đặc biệt ở Mỹ và Trung Quốc cho thấy việc du nhập các giống sinh vật lạ vào làm mất đi 39 % số loài bản địa kể từ năm 1600, phá hủy mất 36% các hệ sinh thái [2]

Các cuộc hội thảo và các báo cáo về kết quả nghiên cứu liên quan đến sinh vật xâm lấn trên thế giới đặc biệt như hội thảo về quản lý sinh vật xâm lấn ở khu vực biển Baltic và Bắc Âu năm 2001, hội thảo vùng về sinh vật lạ xâm lấn ở Trung Mỹ và Caribbean, báo cáo về sinh vật xâm lấn ở Nam Phi hay khu vực Châu Úc- Thái Bình Dương năm 2003 cũng đưa ra hội thảo về việc ngăn chặn và quản lý sinh vật xấm lấn Sau đây là tình hình nghiên cứu cụ thể ở một số khu vực và các quốc gia như: Tại Nam và Đông Nam Á: Năm 2002, chương trình sinh vật lạ xâm lấn (GISP) đã

tổ chức cuộc hội thảo vùng Nam và Đông Nam Á về hiện trạng sinh vật lạ xâm lấn và chia sẻ thông tin về chương trình sinh vật lạ quốc gia tại Thái Lan với sự tham gia của các nước khu vực, bao gồm: Bangladesh Brunei, India, Indonesia, Vietnam, Laos Tại cuộc hội thảo các quốc gia này bày tỏ kết quả nghiên cứu về sinh vật lạ, mục tiêu và liên lạc thông tin với các cơ quan liên quan đến sinh vật lạ trong nước, những ưu tiên công việc trong tương lai về sinh vật lạ

Tại Indonesia: Các công viên quốc gia ở Indonesia được thiết kế để bảo vệ các hệ sinh thái và bảo tồn hầu hết các loài động thực vật quốc gia

Tại Úc: Đang phải đối mặt với những thách thức về tình trạng suy giảm nguồn tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học Các nghiên cứu hay cuộc hội thảo nói về vấn đề này nhằm đề ra các chương trình, chiến lược, các biện pháp ngăn chặn và tiêu diệt các

loài sinh vật xâm lấn này Đặc biệt là tác hại của loài Mai Dương (Mimosa pigra),

chúng đã lan rộng tới 18000 ha và chính phủ Úc phải chi tới 12 triệu USD để ngăn ngừa, tiêu diệt chúng nhưng vẫn chưa có kết quả [2]

Trang 7

Tại Trung Quốc: Cuộc khảo sát toàn Trung Quốc được tiến hành vào các năm

2001 và 2003 cho thấy có 283 loài xâm lấn Các loài này gây tổn thất trực tiếp về kinh

tế gần 2,4 tỷ USD mỗi năm, tổn thất gián tiếp đối với hệ sinh thái và tài nguyên 12 tỷ

USD mỗi năm (Theo cuộc khảo sát do các chuyên gia từ Cục Bảo vệ môi trường, Bộ

Nông Nghiệp, Cục Lâm Nghiệp Trung Quốc) Và mới đây là kết quả nghiên cứu của

Viện Hàn Lâm Khoa Học Trung Quốc (2007), đã phát hiện ra loài dây leo thuộc họ

Bìm Bìm có tên khoa học là Merremia boisiana là một loài thực vật xâm lấn Chúng

phát tán nhanh bằng hạt, chồi, rễ, thân Các nhà khoa học Trung Quốc đánh giá đây là loài nguy hiểm bậc nhất trong các loài xâm lấn ở Trung Quốc

Tại Thái Lan, vấn đề TVXL đang là mối quan tâm chính Theo kết quả nghiên cứu cho thấy trong danh sách 100 loài SVXL gây hại thì ở Thái Lan có 1 loài thực vật thủy sinh, 13 loài thực vật trên cạn, 9 loài không xương sống( 3 loài ốc sên, 6 loài côn trùng), 5 loài cá, 1 loài chim và 8 loài động vật có vú Nhiều cơ quan, tổ chức và các trường đại học cùng phối hợp tham gia nghiên cứu về hiện trạng các loài SVXL , tiến hành điều tra sinh vật học và sinh thái học của các loài sinh vật qua đó đưa ra các biện

pháp và nguyên tắc hướng dẫn để kiểm soát và loại bỏ những loài sinh vật có hại (Hội

thảo về ngăn chặn và quản lý sinh vật lạ xâm lấn khu vực châu Ú c- Thái Bình Dương năm 2003)

Nhiều nước khác trên thế giới cũng đang đối mặt với hiện tượng này

1.2.2 Tình hình nghiên cứu sinh vật xâm lấn ở Việt Nam

Khoảng 20 năm trước đây tình hình xâm lấn của các loài sinh vật lạ được báo động nhưng lúc này ít được sự quan tâm Đến nay chúng đã bùng phát gây hại nhiều nơi, ngăn cản sự nảy mầm hạt giống của các loài cây bản địa, hủy diệt hệ sinh thái địa phương

Vào đầu thế kỷ XX, nhiều người đã chú ý đến sự phát triển mạnh của loài cỏ dại

ở miền Trung Việt Nam đó là loài Cỏ lào (Eupatoirum odaralum), thuộc họ Cúc (Asteraceae), là một loài cây bụi lưu niên phát triển nhanh và có hạt phát tán nhờ gió,

chúng có nguồn gốc từ Trung Mỹ và rất dễ gây cháy

Trang 8

Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện được nhiều loài xâm lấn

như: Mai Dương (Mimosa pigra), Bông ổi (Lantana camara), Bèo Nhật Bản (Eichhorria crassipes)….và mới đây nhất là loài dây leo Bìm Bìm Bôi (Merremia

boisiana) và Bìm Bìm Eberhardtii (Ipomoea eberhardtii) đã gây nên sự chú ý của đông

đảo người dân, các nhà khoa học, các nhà quản lý

Tại hồ Trị An tỉnh Đồng Nai cây Mai Dương phát triển nhanh và chiếm 1300 diện tích đất lòng hồ (2007) Theo các nhà khoa học thì chúng không chỉ tác động xấu đến hồ Trị An mà chúng còn tác động xấu đến nhiều khu vực khác Riêng ở thành phố

Hồ Chí Minh cây Mai Dương đã lan rộng 11 quận, huyện (1/2009) Việc tiêu diệt cây Mai Dương đã được tiến hành ở nhiều nơi nhưng chưa thu được kết quả mỹ mãn

Thời gian gần đây loài dây leo Bìm Bìm Bôi phát triển rất mạnh Chúng đã xuất hiện ở Sapa (Lào Cai), Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Nam Đông (Thừa Thiên Huế), Nam đèo Hải Vân…

Cho đến nay Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật xâm lấn

và đạt một số kết quả khả quan như đề tài “Đánh giá mức độ xâm lấn của các loài cây

cỏ dại ở Vườn Quốc Gia Bạch Mã nhằm đề ra biện pháp bảo tồn Đa dạng sinh học”

của GS.TSKH.Nguyễn Nghĩa Thìn và CS, Đại học khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội Kết quả nghiên cứu đã điều tra được có 83 loài thực vật xâm lấn Theo số

liệu thống kê, phần lớn các loài xâm lấn thuộc về họ Hòa Thảo Poaceae, họ Cúc

Asteraceae, họ Trinh nữ Mimosaceae…Trong đó nguy hiểm nhất là loài Mai Dương

[11]

Dự án nghiên cứu hợp tác giữa Việt Nam và Ôxtrâylia từ năm 1996 -1998 đã nghiên cứu khả năng ứng dụng phòng trừ sinh học đối với cây Mai Dương, Bèo Nhật Bản ở Việt Nam

1.2.3 Tình hình nghiên cứu thực vật xâm lấn ở Đà Nẵng

Theo chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng, hiện có khoảng 15.000ha/55.000ha rừng ở đây bị dây leo che phủ, trong đó là rừng Sơn Trà 5.000ha và rừng Hải Vân 10.000ha

Đó là chưa kể các khu rừng ở Hòa Bắc, Hòa Phú, Hòa Ninh, thuộc huyện Hòa Vang cũng đã phát hiện có mặt của các dây leo này

Trang 9

Ông Trần Huy Độ Trưởng ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân cho biết,

từ năm 1999 dây lạ (người dân thường gọi là dây lang rừng hay lá bợt ) bắt đầu phát triển mạnh Từ các khe suối, bìa rừng, loài cây này phát triên mạnh, leo đè luôn cánh rừng thông, rừng keo lá tràm và lan tỏa khắp với tốc độ nhanh Những tán lá rộng và dày đặc đã che kín không gian của các loại cây khác làm rừng và cả thực vật bên dưới chết vì thiếu ánh sáng

Ông Nguyễn Mạnh Tiến, Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng Chi cục kiểm lâm

Đà Nẵng cho biết: “trong năm 2008, đã có 9 vụ cháy rừng, trong đó phần lớn là các vụ cháy xảy ra là nơi có Bìm Bìm”

Đà Nẵng đã chi 100 triệu đồng để Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn thử nghiệm phương pháp diệt Bìm Bìm trên diện tích 80 ha của khu BTTN Sơn Trà Toàn

bộ khu vực Chân Mây, đèo Hải Vân, Bìm Bìm đã bao phủ tất cả những tán cây của rừng thứ sinh, đang phục hồi, đây là vấn nạn nghiêm trọng đối với công tác phục hồi

vì chúng làm chết cây tiên phong [2] Đứng trước những nguy cơ do TVXL gây ra tại các cánh rừng ở Đà Nẵng, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm đưa

ra những biện pháp phù hợp

Theo thống kê, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan về thực vật xâm lấn như sau:

Năm 1997, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng thực hiện đề tài: “ Điều tra khu

hệ động- thực vật và nhân tố ảnh hưởng, đề xuất phương án bảo tồn sử dụng hợp lý KBTTN Sơn Trà” do TS Đinh Thị Phương Anh là chủ nhiệm đã đưa ra các biện pháp

bảo tồn đa dạng sinh học KBTTN Sơn Trà trong đó có phương án ngăn chặn tác động nguy hại của thực vật xâm lấn [1]

Nghiên cứu “Đánh giá công tác quản lý rừng đặc dụng KBTTN Sơn Trà- thực

trạng và các giải pháp để phát triển bền vững KBTTN Sơn Trà” của Phan Thế Dũng

(2005) đã cho biết về sự xuất hiện nhiều loài thực vật xâm lấn đe dọa đến hệ sinh thái

và phát triển các loài bản địa ở KBTTN Sơn Trà, đặc biệt là loài dây leo Bìm Bìm

(Ipomoea eberhardtii) phát triển cực kỳ nhanh, leo đè lên cây khác để lấy ánh sáng [8]

Trang 10

Năm 2009, Nguyễn Duy Lam và cộng sự – Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng,

“Nghiên cứu mức độ xâm lấn và tác hại của dây leo Bìm Bìm tiểu khu 64, KBTTN Sơn

Trà, thành phố Đà Nẵng nhằm đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế tác hại của chúng”, đã có những kết luận về tốc độ sinh trưởng của loài dây leo Bìm bìm cũng như

tác hại của chúng đến hệ sinh thái KBTTN Sơn Trà [6]

Tuy hiện nay Đà Nẵng đã áp dụng một số biện pháp xử lý nhưng hiệu quả mang lại chưa cao cũng như đề ra biện pháp hữu hiệu để tiêu diệt được những loài xấm lấn đang ngày càng lan rộng trên địa bàn

1.2.4 Tình hình quản lý rừng ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang hiện nay

Tình hình quản lý rừng ở Xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang còn gặp nhiều khó khăn

do tình trạng chia rừng để “phát triển kinh tế hộ” Hàng trăm hecta rừng đã bị bán đi, bán lại qua nhiều chủ Diện tích đất rừng hầu như đã giao và khoán cho các tổ chức, cá nhân sử dụng Do đó rất khó khăn trong việc theo dõi, quản lý rừng Cùng với nạn khai thác trái phép lâm sản làm cho nhiều vạt rừng bị chặt phá Rừng bị tác động, mất dần tính ổn định là điều kiện để các loài xuất hiện, bùng phát và có khả năng tích lũy chất khô gây cháy rừng

Trước tình hình này, Ban Quản lý rừng tại xã Hòa Bắc đã huy động người dân tiêu diệt bằng các biện pháp thủ công: băm, chặt, phát, đốt Tuy nhiên việc xử lý không liên tục và không định kỳ nên cho đến nay việc ngăn chăn, quản lý loài dây leo vẫn là vấn đề cần quan tâm

Trang 11

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi hành chính [12][14]

Xã Hòa Bắc cách thành phố Đà Nẵng 25km về phía Tây Hòa Bắc thuộc địa phận quản lý của huyện Hòa Vang, có tổng diện tích đáng kể: 338,64km2 chiếm 45% tổng diện tích huyện Hòa Vang: 737.5 ha Trong đó rừng chiếm 96% diện tích

Lãnh thổ xã Hoà Bắc được giới hạn:

- Phía Bắc: Giáp với Thị trấn Khe Tre Nam Đông, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phía Tây: Giáp với huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

- Pha Nam: Giáp với xã Hòa Liên huyện Hòa Vang

- Phía Đông: Giáp với phường Hoà Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu

Dựa vào vị trí phân bố của xã Hòa Bắc thì đây được xem là vùng chuyển tiếp của các

vùng địa lý

2.1.2 Địa hình và địa thế

Hòa Bắc nằm trong lưu vực sông Cu Đê, có các dãy núi chạy theo hướng Tây Đông, trong đó dãy núi Cà Nhông có độ cao gần 1000 m Các hệ sông phụ chảy phần lớn theo hướng Nam Đặc điểm nổi bật của địa hình ở đây là phần lớn diện tích nằm trên một mái dông, trị thủy về phía đông sông Cu Đê Chiều dài của sườn núi hẹp nhưng độ chênh của địa hình lớn, độ dốc phổ biến từ 23o- 30o Địa hình bị chia cắt mạnh do đó ảnh hưởng đến sản xuất và xây dựng trong khu vực.

2.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng

- Theo “Luận chứng kinh tế khu rừng Nam Hải Vân năm 1990” thì Hòa Bắc được hình thành từ kỷ Cambri cách ngày nay khoảng 2000 triệu năm

Nền đá mẹ chủ yếu là đá Mắc ma và đá Biến chất

- Đất đai toàn khu vực có hai nhóm chính:

+ Nhóm đất Feralit vàng đỏ phát triển trên nền đá Mác ma: nhóm này phân bố

ở đỉnh dông chính đến 2/3 các dông phụ, chiếm 53% tổng diện tích Đặc điểm của nhóm đất này: tầng đất mỏng, đất xấu, nghèo dinh dưỡng, kết cấu hạt thô, thành phần

cơ giới thịt nhẹ…

Trang 12

+ Nhóm đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá Đát và đá Biến chất: nhóm này phân bố ở chân dông, chiếm 38% tổng diện tích Đặc điểm của nhóm đất này: thành phần cơ giới thịt nhỏ đến trung bình, đá lộ đầu trung bình, tầng đá mỏng, độ pH từ 4,5-5

Còn lại là đất dốc tụ, đất phù sa được bồi và đất cồn cát trắng…phân bố rải rác

Trong đó sự phân chia đất cho các lĩnh cực rất khác nhau:

+ Đất nông nghiệp: 325,09km2

+ Đất phi nông nghiệp: 319,5 ha

+ Đất sông, suối mạch nước chuyên dùng: 22,3 ha

+ Mùa khô: bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 8, giai đoạn nắng nhất trong năm từ tháng 5 đến tháng 8 Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là: 2058 giờ

+ Mùa mưa thường tập trung, kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 70% tổng lượng mưa cả năm

- Xã Hòa Bắc chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa:

+ Gió mùa Đông Bắc hoạt động từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thường khô

và lạnh

+ Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 9, thường nóng và khô Nhìn chung khí hậu của vùng mang đặc trưng khí hậu khu vực Nam Trung Bộ Khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và chăn nuôi

Bảng 2.1 Số liệu đặc trưng khí tượng ở Hòa Bắc

Trang 13

Nhiệt

độ cao nhất (oC)

Nhiệt

độ thấp nhất (oC)

Độ

ẩm

TB tháng (%)

Độ

ẩm thấp nhất (%)

Số giờ nắng (giờ)

Bốc hơi (mm)

Số ngày mưa

Số ngày dông

Bảng 2.2 Tốc độ dòng chảy của sông Cu Đê giảm qua các năm

Dòng chảy nhỏ nhất

[ Đài khí tượng thủy văn Trung Trung Bộ 2009]

2.2 Điều kiện kinh tế- xã hội

2.2.1 Tình hình dân số, dân tộc và sự phân bố dân cư

2.2.1.1.Dân số

Theo số liệu điều tra dân số thì Hòa Bắc hiện có 973 hộ với 3.617 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Cơtu 144 hộ với 620 khẩu, đạo thiên chúa giáo: 125 hộ với

Trang 14

477 nhân khẩu, đạo Cao Đài: 6 hộ với 24 nhân khẩu, mật độ dân số trung bình 12 người / km2, hằng năm tiếp nhận đáng kể dân nhập cư từ các khu vực lân cận đến khai thác tài nguyên rừng

2.2.1.2.Dân tộc

Dân cư ở đây rất phức tạp, nhiều dân tộc anh em đến định cư Song ở đây có hai dân tộc cơ bản:

- Dân tộc kinh: chủ yếu nhập cư từ nơi khác đến

- Dân tộc Cơtu: Dân bản địa 02 thôn Tà Lang và Giàn Bí

2.2.1.3.Sự phân bố dân cư

Dân cư ở đây phân bố không đồng dều, đại đa số tập trung ở vùng thấp và dọc thung lũng sông Nam và sông Bắc Một bộ phận dân tộc Cơtu chủ yếu phân bố ở các cánh rừng và những khu vực có địa hình hiểm trở

2.2.2 Tình hình kinh tế

Hòa Bắc là một xã nghèo của huyện Hòa Vang Cơ cấu kinh tế hiện nay của xã Hoà Bắc là nông- lâm nghiệp Trong đó tỷ trọng nông nghiệp chiếm 85% Tổng giá trị sản xuất năm 2009 khoảng 19 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng hằng năm bình quân từ 8 -8,5 %

+ Đất lâm nghiệp: 33.000 ha

+ Đất phi nông nghiệp: 319,5 ha

+ Đất sông, suối, mạch nước chuyên dùng 222,3 ha

Cây trồng chủ yếu là: lúa, ngô, sắn…, nhưng nền nông nghiệp chủ yếu là tự cung tự cấp và năng suất không cao Chăn nuôi ở đây phát triển phong phú với các loại gia súc gia cầm như: trâu, bò, dê, gà vịt, ngan ngỗng… hiện nay, kinh tế thương nghiệp dịch vụ bắt đầu được cải thiện

Kinh tế du lịch bước đầu được quan tâm phát triển Một số danh lam thắng cảnh

và điểm du lịch là: suối Mơ, Vũng bột, Khu du lịch sinh thái Thọ Yên…

2.2.3.Tình hình văn hóa- xã hội

Trang 15

Toàn xã Hoà Bắc có 1 trường trung học cơ sở (Có cơ sở nội trú cho gần 100 học sinh dân tộc Cơtu), 1 trường tiểu học (có 4 trường khu vực tại các thôn), 1 trường mẫu giáo mầm non công lập , 1 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế và 1 trạm y tế Quân dân

y kết hợp tại thôn Dàn Bí, 1 đài truyền thanh phát thanh FM, 1 nghĩa trang liệt sỹ

- Hằng năm tỷ lệ hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá chiếm 94% Thu nhập bình quân đầu người khoảng 6.000.000 đồng/năm

- Hộ nghèo theo chuẩn mới của thành phố Đà Nẵng, chiếm tỷ lệ 33% số hộ dân

Trang 16

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng

Tất cả các loài TVXL ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang - TP.Đà Nẵng

3.2 Địa điểm

Xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang - TP.Đà Nẵng

3.3 Thời gian:

Từ tháng 10/2011 đến tháng 05/ 2012

- Tổng quan và viết đề cương nghiên cứu: tháng 09 năm 2011

- Khảo sát thực địa: Từ tháng 12/2011 đến tháng 04/2012 Chia làm 3 đợt: + Đợt 1: Ngày 02/10/2011 đến ngày 15/11/2011

+ Đợt 2: Ngày 15/02/2012 đến ngày 25/03/2012 + Đợt 3: Ngày 08/04/2012 đến ngày 17/04/2012

- Tổng hợp thống kê, phân tích tài liệu và hoàn thành luận văn: Từ ngày 17/04/2012 đến ngày 15/05/2012

3.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thành phần loài TVXL ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang - TP.Đà Nẵng

- Nhận xét sự phân bố của các loài TVXL ở xã Hòa Bắc theo sinh cảnh

- Đánh giá mức độ xâm lấn của chúng ở khu vực nghiên cứu

- Nhận xét về tác hại của các loài TVXL

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu các loài thực vật xâm lấn tại xã Hòa Bắc

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc

Trang 17

Thu thập có chọn lọc các tài liệu, số liệu có liên quan về xã Hòa Bắc huyện Hòa

Vang TP Đà Nẵng, nguồn tài nguyên thực vật và những công trình nghiên cứu về TVXL trong và ngoài nước

3.5.2 Phương pháp điều tra thành phần loài

3.5.2.1 Phương pháp phỏng vấn

Xây dựng hệ thống bảng câu hỏi có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu

- Đối tượng phỏng vấn bao gồm:

+ Cán bộ BQL+ Kiểm Lâm + Người dân, người đi rừng

- Mục đích phỏng vấn: Qua những thông tin của BQL, người dân nhằm biết được thành phần loài, mức độ xâm lấn và tác hại của các loài TVXL ở xã Hòa Bắc

Qua những thông tin trên đây, tuy chưa hoàn toàn được chính xác, song bước đầu đã cho chúng ta một lượng thông tin liên quan về vấn đề nghiên cứu

3.5.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát tổng thể để xác định tuyến nghiên cứu, các tuyến nghiên cứu phải

được bố trí đi theo các vùng có điều kiện sinh thái khác nhau

a) Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

- Khảo sát theo tuyến nghiên cứu: ( có 3 tuyến nghiên cứu) (xem sơ đồ)

+ Tuyến 1: Từ Ủy ban nhân xã Hòa Bắc đi trở về phía thôn Phò Nam giáp Trung tâm Giáo dưỡng cũ

+ Tuyến 2: Từ Ủy ban nhân dân xã Hòa Bắc dọc theo đường chính lên thôn Nam

Mỹ đến thôn Giàn Bí, Tà Lang

+ Tuyến 3: Từ Ủy ban nhân xã Hòa Bắc qua cầu Nam Yên đến thôn Nam Yên Khi đi thu mẫu mang theo:

Trang 18

- Nguyên tắc thu mẫu:

+ Mỗi mẫu đều phải có đầy đủ bộ phận nhất là cành, lá cùng hoa quả hay cả cây đối với loài cây thân thảo

+ Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu

+ Tiến hành ghi chép ngay đặc điểm để nhận biết ngoài thiên nhiên, nhất là các đặc điểm dễ mất khi bị khô (màu sắc hoa, quả…) Đồng thời ghi chép nơi phân bố của cây

+ Đặt mẫu vào những tờ giấy báo gấp bốn rồi xếp lần lượt vào cặp gỗ mang về phòng thí nghiệm

b)Phương pháp ép và xử lý mẫu tại phòng thí nghiệm

- Ép mẫu: Mẫu được ép bằng giấy báo và kẹp gỗ, sau đó sấy bằng lò điện cho

đến khi khô

- Xử lý bảo quản mẫu: Mẫu được xử lý bằng cồn 960 và sunfat đồng

+ Quy trình xử lý như sau: Đổ cồn 960 vào một chậu men rộng, hòa tan CuSO4vào cho đến khi dung dịch bão hòa Nhúng mẫu cây vào dung dịch tẩm khoảng 10 phút rồi đem sấy lại cho đến khi khô

Mẫu xử lý có thể ngăn ngừa được nấm mốc, mối, mọt…

- Lên tiêu bản: Mẫu được đính trên giấy Croquy cứng cỡ 29 x 41 cm có dán

nhãn theo quy định

c)Phương pháp giám định tên cây

- Sử dụng phương pháp so sánh hình thái

- Trong quá trình giám định, sử dụng khóa phân loại của Phạm Hoàng Hộ 1991,

1992, 1993; danh sách “100 loài sinh vật ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất thế giới” (ISSG 2001); danh mục sinh vật xâm lấn của Viện Bảo vệ thực vật 2004, 2006

Trang 19

Trong quá trình nghiên cứu dựa vào phương pháp so sánh, đánh giá mức độ xuất hiện và tình trạng xâm lấn của GS TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn với 4 mức độ xâm lấn

là:

- Ít: Loài ở tình trạng có xuất hiện, chưa lan rộng, cá thể phân bố rải rác

- Vừa: Loài đã xuất hiện và hiện đã bắt đầu phát triển về số lượng, tập trung thành từng nhóm nhỏ

- Nhiều: Loài xâm lấn lan rộng thành các thảm, mảng lớn nhưng chưa liên tục

- Rất nhiều: Loài xâm lấn lan rộng thành các mảng lớn, liên tục, đe dọa nghiêm trọng

3.5.4.Phương pháp thống kê toán học

Số liệu sau khi nghiên cứu được tổng hợp, xử lý dựa vào thuật toán thống kê của chương trình Microsoft Excel

Trang 20

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 4.1 Kết quả điều tra thành phần loài TVXL ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang - TP.Đà Nẵng

4.1.1 Qua phỏng vấn

4.1.1.1 Thành phần loài thực vật xấm lấn qua phỏng vấn

Để biết được số lượng loài TVXL ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang - TP.Đà

Nẵng Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn Ở đây chúng tôi đã phỏng vấn được 100 người là người dân (người Kinh và đồng bào Cơ tu ), và 10 người là cán bộ BQL, kiểm lâm viên ( trạm kiểm lâm Bầu Bàn và trạm kiểm lâm Hòa Bắc) của xã Hòa Bắc huyện

Hòa Vang - TP.Đà Nẵng

Qua điều tra phỏng vấn, cùng với bảng định dạng các loài thực vật xâm lấn chúng tôi đã xác định được 38 loài TVXL thuộc 15 họ xuất hiện ở xã Hòa Bắc huyện

Hòa Vang - TP.Đà Nẵng (xem bảng 4.1)

Bảng 4.1 Thống kê những loài TVXL ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang – TP Đà Nẵng

Trang 21

8 Gnaphalium luteo Rau khúc tẻ

Merremia boisiana (Gagnep.) Ooststr

Ipomoea eberhardtii Gagnep

Stachytarpheta jamaicensis (L.) Vahl

IX Họ Cỏ roi ngựa

Ngũ sắc, bông ổi Đuôi chuột, Hải tiên

Trang 22

Kyllinga memocalis (Forst, et Forst.f.)

Thysanolaena maxima ( Roxb.) Kuntze

XIV Họ Cói

Cú dẹp

Cỏ gấu, Hương phụ Lác hến, Cói dùi thô

Cỏ bạc đầu Chít

Chrysopogon aciculatus (Retz)

Imperata cylindrica (L.) P Beauv

Eleusina indica Poir

Panicum repens L

Saccharum spontaneum L

Setaria glauca (L.) P Beauv

Thysanolaena maxima (Roxb) O Ktze

Cỏ đuôi chồn vàng Đót

Các loài thực vật xâm lấn xác định được qua phỏng vấn đều thuộc ngành Hạt kín, trong đó lớp Hai lá mầm có 13 họ, lớp Một lá mầm có 2 họ Trong tổng số 38 loài TVXL được xác định được họ có số loài TVXL chiếm đa số là họ Cúc (16%), họ Lúa (18%), họ Cói (13%), họ Bìm bìm (11%)

Số liệu so sánh số lượng loài giữa các họ được thể hiện qua biểu đồ 4.1

Trang 23

Kết quả qua phỏng vấn, điều tra còn cho chúng tôi biết về mối quan tâm của cán

bộ, người dân, người đi rừng, về các loài TVXL ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang -

TP.Đà Nẵng như sau:

Kết quả điều tra đối với các nhà quản lý rừng

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 10 cán bộ Kiểm lâm và cán bộ quản lý bảo vệ rừng

tại 02 trạm kiểm lâm là Hòa Bắc và trạm kiểm lâm Bầu Bàn

Kết quả thu được như sau:

- 100% Cán bộ Kiểm lâm, quản lý bảo vệ rừng ở 2 trạm kiểm lâm là Hòa Bắc và Bầu Bàn đều quan tâm đến TVXL

- 90% Cán bộ Kiểm lâm, quản lý bảo vệ rừng ở 2 trạm kiểm lâm là Hòa Bắc và Bầu Bàn đều nói rằng các loài TVXL phát triển tương đối nhanh và chủ yếu phát triển trên các rừng trồng và rừng tự nhiên

Trang 24

-90% Cán bộ Kiểm lâm, quản lý bảo vệ rừng ở 2 trạm kiểm lâm là Hòa Bắc và Bầu Bàn đều đánh giá các loài TVXL gây nguy hại đến rừng trồng và rừng tự nhiên đến các cánh rừng của xã

Hầu hết cán bộ Kiểm lâm, quản lý bảo vệ rừng ở 2 trạm kiểm lâm là Hòa Bắc và Bầu Bàn đều cho rằng nguyên nhân chủ yếu xuất hiện các loài TVXL tại xã Hòa Bắc là

do người dân chưa ý thức ngăn chặn và việc quản lý của cán bộ không được chặt chẻ, ngoài ra còn do nguyên nhân khí hậu, thời tiết

Qua khảo sát, điều tra phỏng vấn cho thấy hầu hết các nhà quản lý rừng đều có

sự am hiểu về TVXL Tuy nhiên, họ chỉ biết đến một số loài xâm lấn phổ biến như Bìm bìm, Mai dương, Trinh nữ, Mâm xôi, Lác, Đót và chưa đưa ra được biện pháp xử

lý có hiệu quả Các biện pháp xử lý đã sử dụng không mang lại hiệu quả cao như phát, đốt

Kết quả điều tra đối với người dân, người đi rừng

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 100 người dân 05 thôn quanh xã Hòa Bắc Tại mỗi thôn chúng tôi đến từng hộ dân và phỏng vấn người đại diện, sau khi phỏng vấn chúng tôi chia ra 4 nhóm:

 Nhóm 1: Những người rất quan tâm đến TVXL

 Nhóm 2: Những người quan tâm đến TVXL

 Nhóm 3: Những người ít quan tâm đến TVXL

 Nhóm 4: Những người không quan tâm đến TVXL

Bảng 4.2 Kết quả phỏng vấn ban đầu về mức độ quan tâm của người dân về TVXL ở

xã Hòa bắc huyện Hòa Vang - TP.Đà Nẵng

Trang 25

Ít quan tâm Không quan tâm

Biểu đồ 4.2 Mức độ quan tâm của người dân đến TVXL tại xã Hòa Bắc

Như vậy, nhóm người rất quan tâm đến TVXL gồm 48 người (chiếm 48%) và nhóm người quan tâm cũng chiếm tỷ lệ khá cao là 28 người (chiếm 28%) Tỷ lệ này chiếm tỷ lệ rất cao so với nhóm người ít quan tâm và không quan tâm đến TVXL, những người quan tâm đến thực vật xâm lấn này ở độ tuổi từ 31- 60 tuổi Họ là các cô, các chú, các bác làm ruộng, làm rẫy

Trong khi đó nhóm người ít quan tâm và không quan tâm đến TVXL cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ là 24 người (chiếm 24%) Nhóm người ít quan tâm này nằm ở

độ tuổi 16- 30 là những học sinh, sinh viên và những phụ nữ trẻ hầu như họ rất ít và không quan tâm Chứng tỏ người dân trung niên nơi đây khá quan tâm và hiểu biết về các loài TVXL Riêng những người ở tuổi thanh thiếu niên và thanh niên thì rất ít quan tâm Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan làm cho các loài TVXL ở đây phát triển

Do đó chúng ta cần tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân để họ biết được tác hại của các loài TVXL

Trang 26

Ngoài ra, kết quả điều tra còn cho chúng tôi biết được trình độ nhận thức của người dân về TVXL

Bảng 4.3 Kết quả điều tra ban đầu nguồn thông tin người dân biết về TVXL

Những loài TVXL được các hộ dân của xã Hòa Bắc quan tâm xử lý chỉ mang tính thủ công như dãy, cuốc, phát, băm và đốt mà chưa có những biện pháp nào mang tính khoa học, những loài đã xử lý là một số loài phổ biến gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của họ Số lượng thành phần loài mà họ quan tâm xử lý chiếm có 6 loài chiếm 16% trong tổng 38 loài TVXL mà họ biết đến

Bảng 4.4 Danh sách những loài TVXL được người dân xử lý tại các cánh rừng

của xã Hòa Bắc

Stt Tên khoa học Tên Việt Nam Biện pháp xử lý Hiệu quả

1 Mimosa pigra L Mai dương Chặt, phát và

đôt

Không triệt để, có khả năng tái sinh lại

2 Mimosa invisa C.Wright

ex Sauvalle

Trinh nữ móc Chặt, phát và

đôt

Không triệt để, có khả năng tái sinh lại

Trang 27

3 Rubus alceaefolius Tratt Mâm xôi Băm, phát và

Biểu đồ 4.3 So sánh số loài TVXL được quan tâm xử lý với tổng số loài TVXL mà họ

biết

Trang 28

Như vậy chỉ có 6 loài TVXL được người dân quan tâm tìm biện pháp xử lý còn

các loài khác hầu như họ không quân tâm và không có biện pháp xử lý

Tóm lại, qua phỏng vấn, điều tra cho chúng tôi thấy các nhà quản lý và đông

đảo người dân quan tâm, ý thức được tác hại của TVXL và những thông tin mà họ biết

được phần lớn từ quá trình lao động nên những biện pháp mà họ đã xử lý hiện nay vẫn

còn thủ công, không có kết quả nào là mỹ mãn

4.1.2 Qua khảo sát thực địa

4.1.2.1 Thành phần loài thực vật xâm lấn qua khảo sát thực địa

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thu được 82 mẫu, sau khi giám định,

chúng tôi thống kê được ở xã Hòa Bắc có 55 loài TVXL thuộc 46 chi, 20 họ, cụ thể

như sau:

+ Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 36 loài 30 chi 18 họ

+ Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) gồm 19 loài 16 chi 02 họ

Trong danh lục này, các loài TVXL được sắp xếp theo từng họ, từng ngành Sự

sắp xếp này dựa vào cách sắp xếp của Brummitt (1992)[15] Các ký hiệu về nơi phân

bố, đánh giá mức độ xâm lấn được chú thích ở cuối bảng 4.5 (Xem bảng 4.5)

Bảng 4.5 Danh lục các loài TVXL qua khảo sát thực địa ở xã Hòa Bắc

Trang 29

Bồ công anh lùn Rau khúc tẻ

RT, C

C, RT RT,B

Ipomoea eberhardtii Gagn

Merremia boisiana (Gagnepain van

Bìm bôi

Bìm ba răng

R,RT,B R,RT,B

Trang 30

21

22

23

24

Leucaena leucocephala (Lamk.)

Mimosa invisa C.Wright ex

Sauvalle

Mimosa pigra L

Mimosa pudica L

Keo dậu Trinh nữ móc

Mai dương Trinh nữ

R, RT,B

R, C, B

R,C,B B,C

RT, C, B RT,R

R, B

R, B

RN

RN

Trang 31

Kyllinga memocalis (Forst, et Forst.f.)

Thysanolaena maxima ( Roxb.) Kuntze

Paspalum conjugatum K

19 Họ Cói

Cú dẹp

Cỏ gấu, Hương phụ Lác hến, Cói dùi thô

Cỏ bạc đầu Chít

Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin

Imperata cylindrica (L.) P Beauv

Eleusina indica (L.) Gaertn

Setaria glauca (L.) P Beauv

Thysanolaena maxima (Roxb) O

Cỏ đuôi chồn vàng Đót

Sậy núi Trấu thảo

C, R B,C

C

B B,C

Ngày đăng: 26/06/2021, 18:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w