1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nguồn lợi cá mú serrenidae tại vùng biển cù lao chàm thành phố hội an quảng nam

38 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc khai thác hải sản đã và đang đặt ra nhiều vấn đề trong quản lý và sử dụng nguồn lợi, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là các vùng ven biển.. Trong đó, Hòn Lao là hòn

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƢ P M KHOA SINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Nghiên cứu nguồn lợi cá Mú ( Serrenidae) tại vùng biển

Cù Lao Chàm - TP.Hội An – Quảng Nam

Trang 2

MỞ ẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước có tiềm năng rất lớn về kinh tế biển như du lịch, nuôi trồng và khai thác tài nguyên… Trong đó, khai thác thủy sản đã và đang đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển của đất nước Nếu khai thác hợp

lý nguồn lợi hải sản sẽ mang lại hiệu quả kinh tế và đảm bảo cân bằng sinh thái trong vùng Tuy nhiên, việc khai thác hải sản đã và đang đặt ra nhiều vấn

đề trong quản lý và sử dụng nguồn lợi, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là các vùng ven biển

Cù Lao Chàm là một xã đảo nằm cách Hội An 18 km về phía biển Đông,

có tên hành chính là xã Tân Hiệp, thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Cù Lao Chàm có 8 hòn đảo lớn nhỏ gồm: Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn

Lá, Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Tai và Hòn Ông Trong đó, Hòn Lao là hòn đảo lớn nhất với tổng diện tích là 1.549 ha (các đảo còn lại có tổng diện tích là 327 ha), đây là hòn đảo duy nhất có dân cư sinh sống với tổng dân số khoảng 3.000 người, trong đó 60% hộ dân làm nghề khai thác thủy hải sản - nghề truyền thống của cư dân địa phương, mang lại thu nhập chính cho gia đình… Khu bảo tồn Cù lao Chàm là nơi sinh sống của hàng trăm loài cá, sinh vật nhuyễn thể, các rạn san hô, các thảm rong, cỏ biển và các loài hải sản có giá trị kinh tế Không chỉ có thế, nơi đây còn có nhiều loài động vật, thực vật

quý hiếm, đặc biệt là cá Mú ( Serrenidae), một đối tượng vừa có giá trị kinh

tế vừa là đối tượng thường xuyên được ngư dân ở đây đánh bắt với những

ngành nghề khác nhau Từ những năm trước đây cá Mú đem lại giá trị kinh tế cao và tạo việc làm cho ngư dân ở vùng này Tuy nhiên trong những năm gần đây, trước tình hình suy thoái rạn san hô ở nước ta cũng như trên thế giới thì rạn san hô cứng trong rạn san hô Cù Lao Chàm đã bị suy giảm nghiêm

Trang 3

trọng, ảnh hưởng tới hệ sinh thái vùng rạn cũng như làm nguồn lợi cá Mú ở vùng này suy giảm rõ rệt

Trước thực trạng trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nguồn lợi

cá Mú ( Serrenidae) tại vùng biển Cù Lao Chàm - TP.Hội An – Quảng Nam” nhằm làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý, khai thác nguồn lợi cá

Mú tại vùng biển Cù Lao Chàm

2 Mục tiêu

Nghiên cứu về nguồn lợi cá mú nhằm cung cấp dữ liệu quan trọng làm

cơ sở cho cơ quan quản lý có kế hoạch bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi cá Mú tại vùng biển Cù Lao Chàm

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Bổ sung thêm nguồn tư liệu khoa học giúp cho cơ quan quản lý có kế

hoạch bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi cá Mú tại vùng biển Cù Lao Chàm, đồng thời cung cấp tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 4

CHƯƠN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ Ở VIỆT NAM

1.1.1 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở Việt Nam

Vùng biển đặc quyền kinh tế của nước ta trữ lượng hải sản giao động trong khoảng 3,2 – 4,2 triệu tấn/năm với khả năng khai thác bền vững 1,4 – 1,8 triệu tấn; không kể trữ lượng cá đại dương di cư và sinh vật đáy vùng triều Trong đó, cá nổi nhỏ có trữ lượng 1,74 triệu tấn, cá đáy 2,14 triệu tấn,

cá nổi đại dương 0,3 triệu tấn[3]

Trải qua ba giai đoạn phát triển (trước năm 1954, từ năm 1954-1975 và

từ năm 1976 đến nay), công tác điều tra, nghiên cứu biển Việt Nam đã không ngừng gặt hái được những thành quả đáng kể Đặc biệt là giai đoạn từ sau khi đất nước thống nhất, tình hình nghiên cứu biển nói chung và nguồn lợi sinh vật biển nói riêng đã có những bước tiến khá mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng

Trong những năm 1965 – 1972, Trạm Nghiên cứu Cá biển (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản) đã triển khai một số nội dung nghiên cứu cá nổi ở một

số tỉnh trọng điểm như Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà T nh và Quảng ình và tiếp theo năm 1973 – 1976, Viện Nghiên cứu Hải sản tổ chức điều tra nguồn lợi cá nổi vùng biển ven bờ phía tây vịnh Bắc Bộ (cán bộ khoa học được cử

đi các tỉnh trọng điểm ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình thu thập số liệu về tình hình nguồn lợi và hiện trạng khai thác)

Từ năm 1979 - 1988, trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Liên Xô (cũ), chương trình nghiên cứu nguồn lợi cá biển Việt Nam đã tiến hành 33 chuyến khảo sát trên các loại tàu từ 800 - 3.800CV, được trang bị đầy đủ các loại ngư

cụ, thiết bị khác nhau và đã thu thập được nguồn dữ liệu rất lớn Kết quả đã

Trang 5

xác định được nguồn lợi, ngư trường của một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao: cá nục đỏ đuôi, cá mối thường, cá mối vạch, Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có báo cáo tổng kết chung nên việc tham khảo dữ liệu và khả năng

áp dụng các kết quả nghiên cứu còn hạn chế

Đánh giá của Bùi Đình Chung (1991) về nguồn lợi cá nổi đánh bắt bằng lưới kéo đôi ở các khu biển ven bờ tây vịnh Bắc Bộ cho thấy, có khoảng 390 nghìn tấn trữ lượng và khả năng khai thác 156 nghìn tấn/năm (các giá trị tương ứng của cá đáy là 48,4 và 31,3)[4] Cá nổi nhỏ, đặc biệt là những loài thuộc giống cá nục, cá trích, cá cơm, cá chuồn… phân bố rộng khắp vùng biển ven bờ nước ta Chúng là đối tượng khai thác chính của ngư dân Ở vịnh Bắc Bộ, cá nổi nhỏ chiếm trên 83% trữ lượng nguồn lợi hải sản của vịnh[20]

và là các đối tượng khai thác chính của nhiều loại nghề

Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ

ở biển Việt Nam - mã số KT.03.09 (1992-1995) đã đưa ra được các số liệu về thành phần loài khu hệ cá ngừ, phân bố và đánh giá nguồn lợi cá ngừ ở vùng biển xa bờ Việt Nam

Giai đoạn từ năm 1993-1997, đề tài “Điều tra tổng hợp nguồn lợi sinh vật biển và môi trường vùng biển Quần đảo Trường Sa” đã tiến hành nghiên cứu nguồn lợi cá nổi bằng lưới rê, khu hệ cá rạn san hô quanh các đảo và thu thập các yếu tố môi trường ở vùng biển này Năm 1999 – 2003, đề tài được tiếp tục trển khai thu thập số liệu về nguồn lợi sinh vật vùng biển Quần đảo Trường Sa Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được các đánh giá tương đối cơ bản

về nguồn lợi cá nổi, khu hệ cá rạn san hô ở các đảo trong vùng Quần đảo Trường Sa

Cũng trong giai đoạn này, dự án khảo sát nguồn lợi biển Việt Nam do JICA (Nhật Bản) (1995 – 1997) tài trợ đã tiến hành điều tra nguồn lợi cá nổi đại dương (chủ yếu là cá Ngừ, cá Thu…) ở vùng biển xa bờ từ Đồng Hới (Quảng Bình) đến Cà Mau Dự án đã đưa ra các đánh giá về một số đặc điểm

Trang 6

sinh học, sự phân bố năng suất khai thác theo không gian, thời gian của các loài cá kinh tế quan trọng và các chỉ số phong phú chung trong vùng biển nghiên cứu Dự án cũng đã đưa ra các khuyến nghị về việc tăng cường nghiên cứu về các chỉ số đánh giá nguồn lợi phục vụ cho sự phát triển nghề cá Theo

ùi Đình Chung (1997) thì trữ lượng cá nổi ở vùng biển Việt Nam là 2.040 ngàn tấn trong đó ở vịnh Bắc Bộ có 390 ngàn tấn, ở vùng biển miền Trung là

500 ngàn tấn, vùng Đông Nam ộ 524 ngàn tấn, vùng Tây Nam Bộ là 316 ngàn tấn và vùng giữa Biển Đông là 310 ngàn tấn Năm 2000 tác giả đã tính trữ lượng cá đáy là 1.029 ngàn tấn Vậy trữ lượng cá ở vùng biển Việt Nam là 3.069 ngàn tấn

Trong vòng 11 năm (2000 - 2011) số lượng tàu thuyền khai thác hải sản và công suất tàu thuyền ngày càng tăng Tổng số tàu đánh bắt hải sản xa

bờ ở nước ta năm 2000 là 9.766 chiếc, đến năm 2011 có 28.424 chiếc, tăng lên gấp 2,9 lần Tổng công suất tàu đánh bắt hải sản xa bờ tăng gấp 3,8 lần,

từ 1.385,1CV năm 2000 đến 5.264,3CV năm 2011 Tuy số lượng và công suất tàu thuyền tàu khai thác từ năm 2000 đến năm 2011 tăng 3 - 4 lần nhưng sản lượng khai thác thì chỉ tăng 1,6 lần Năm 2000 sản lượng khai thác hải sản đạt 1.419,6 nghìn tấn, đến năm 2011 đạt 2.300 nghìn tấn [10], [11] Qua đây có thể thấy nguồn lợi hải sản đang suy giảm nhanh chóng, đặc biệt là vùng ven bờ Việc đánh bắt các đối tượng gần bờ, có giá trị thấp ngày càng nhiều, khả năng tận dụng sản phẩm khai thác trong các mẻ lưới ngày càng tăng Trước đây việc khai thác có tính chọn lọc đối tượng cao, thì ngày nay việc chọn lọc ngày càng giảm Bên cạnh đó mặc dù tỷ lệ số lượng tàu khai thác xa bờ tăng nhưng khả năng đánh bắt với sản lượng lớn là không cao[11]

Theo Phạm Thược (2000) tính trữ lượng cá đáy và gần đáy của toàn vùng biển Việt Nam là 1.371 ngàn tấn trong đó: Vịnh Bắc Bộ tính năm 1984

là 504 ngàn tấn (cho toàn vịnh – 146.000 km2), tính năm 2000 là 116 ngàn

Trang 7

tấn (tính cho diện tích của Việt Nam là 77.000 km2); vùng biển miền Trung là

112 ngàn tấn (tính cho diện tích 78.000 km2); vùng biển Đông Nam ộ là 1.051 ngàn tấn (tính cho diện tích 222 ngàn km2); vùng biển Tây Nam Bộ là

92 ngàn tấn (tính cho diện tích 49.000 km2)

Theo Lê Trọng Phấn (2001) kết quả của đề tài 48.06.10 được thực hiện năm 1981 - 1985, cho thấy: Trữ lượng toàn vùng biển Việt Nam là 2.949 ngàn tấn; con số này thấp hơn so với thực tế vì diện tích vùng biển Tây Nam Bộ dùng để tính chỉ chiếm 50% diện tích vùng biển của Việt Nam và là vùng có

độ sâu dưới (cạn hơn) 50 mét nước trở vào bờ, nơi có ít cá nổi Tính theo các vùng nước có được kết quả như sau: Vịnh Bắc Bộ trữ lượng cá là 840 ngàn tấn, trong đó cá đáy và gần đáy là 420 ngàn tấn và cá nổi là 420 ngàn tấn (diện tích để tính là 90 ngàn km2); vùng biển Trung Bộ, trữ lượng cá nổi là

284 ngàn tấn, cá đáy và gần đáy là 83 ngàn tấn; vùng biển Đông Nam Bộ có trữ lượng là 1.430 ngàn tấn, trong đó cá nổi là 980 ngàn tấn và cá đáy và gần đáy là 480 ngàn tấn; vùng biển Tây Nam Bộ có trữ lượng 576 ngàn tấn (cho diện tích 50 ngàn km2 = 1/2 diện tích vùng biển Việt Nam, lại là vùng ít cá nổi và hiệu suất khai thác thấp Ước đoán trữ lượng vùng biển này phải là 800 ngàn tấn) trong đó cá nổi là 195 ngàn tấn và cá đáy và gần đáy 181 ngàn tấn Kết quả nghiên cứu của Võ S Tuấn (2002) cho thấy cá giò (cá kình) xếp thứ 3 sau cá hố và cá liệt về sản lượng Cho đến nay cá giò cũng nằm trong nhóm nguồn lợi có sản lượng và doanh thu cao

Theo Nguyễn Tiến Cảnh (2004) đối với cá đáy và cá gần đáy vùng biển quần đảo Trường Sa, bằng nghề câu tay, các chuyên gia đã tính được trữ lượng của cá gần đáy ở vùng rạn và gò nổi là 1937 tấn, khả năng khai thác cho phép 969 tấn, năng suất đánh bắt trung bình là 21,16 kg/người/ngày (trên tàu câu tay) và 19,56 kg/người/ngày (trên tàu điều tra) Sản lượng cá đáy khai thác từ nghề câu chủ yếu là họ cá hồng (40,8%), cá song, cá khế, cá mó Từ kết quả đánh bắt của lưới giã (74 mẻ ở 18 khu biển) đã xác định được trữ

Trang 8

lượng của cá đáy là 124.897 tấn, trong đó cá thuần đáy là 95.108 tấn (76,16%)[2]

Năm 2005, ộ Thủy sản đã phê duyệt thực hiện đề tài “Đánh giá nguồn

lợi cá cơm (Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp

bảo vệ, khai thác hợp lý” Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá được nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam Bộ và hoạt động khai thác của các đội khai thác nguồn lợi cá cơm[18]

Năm 2006-2008, đề tài “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp khôi phục,

bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá mòi cờ hoa (Clupanodon thrissa, Linnaeus

1758) ở vùng biển Việt Nam” Kết quả nghiên cứu trên bước đầu đã thông kê

và xác định được: Có trên 2.000 loài cá biển thuộc 528 giống, 222 họ, trong

đó có một số loài có giá trị kinh tế cao với trữ lượng khai thác bền vững tối đa vào khoảng 1,8 - 2 triệu tấn/năm

Cũng trong giai đoạn này, Phạm Văn Long (2007) đã tiến hành điều tra, thu thập số liệu hiện trạng khai thác và tình hình kinh tế - xã hội theo 2 cấp: điều tra thứ cấp được tiến hành ở 28 tỉnh/thành phố ven biển, điều tra sơ cấp được tiến hành ở 12 tỉnh/thành phố trọng điểm nghề cá Đề tài đã cho biết một số kết quả bước đầu tính toán xác định năng suất khai thác, tổng sản sản khai thác của các đội tàu công suất <90CV đang hoạt động đánh bắt ở vùng biển Tây Nam Bộ[8]

Kết quả ứng dụng mô hình LCA tại vùng biển xa bờ miền Trung đối với

2 loài cá nổi lớn đại dương (cá ngừ vây vàng và ngừ mắt to) cho thấy: 1) Sản lượng khai thác năm 2009 đối với cá ngừ vây vàng là 5557 tấn, tương ứng trữ lượng đầu năm của quần thể đạt 44112 tấn Các giá trị tương ứng đối với cá ngừ mắt to là: sản lượng 6641 tấn, trữ lượng 68208 tấn Mức khai thác này mới chỉ đạt trên dưới 10% trữ lượng là còn thấp; 2) Sản lượng khai thác cân bằng tối đa (MSY) đối với quần thể cá ngừ vây vàng là 6678 tấn khi hệ

số cường lực tăng 2,8 lần so với năm 2009, của quần thể cá ngừ mắt to là

Trang 9

8479 tấn khi hệ số cường lực bằng 3,2 Dự báo sản lượng khai thác năm 2010

sẽ đạt 5743 tấn cá ngừ vây vàng, 6900 tấn cá ngừ mắt to Với tốc độ đầu tư như hiện tại, đến năm 2017-2018 sản lượng khai thác các quần thể này mới đạt giá trị MSY[1]

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, sản lượng khai thác cá biển ở vịnh Bắc Bộ (chủ yếu ở nửa phía tây và bao gồm cả cá nổi, cá đáy) của các tỉnh từ Quảng Ninh tới Quảng Bình liên tục gia tăng hàng năm, từ 191,7 nghìn tấn năm 2005 đến 253,3 nghìn tấn năm 2010 và 268,2 nghìn tấn năm 2011[25] Với tỷ lệ trên 83% là cá nổi thì năm 2010 - 2011 sản lượng khai thác đối tượng này ở nửa tây vịnh Bắc Bộ đang ở mức 210 - 223 nghìn tấn/năm

Nguồn lợi cá biển ở vùng bờ Quảng Ninh – Hải Phòng phong phú về giống loài nhưng số lượng cá thể không nhiều, chủ yếu là các loài mang tính chất sinh thái gần bờ, tập tính hợp đàn ít tập trung, tỷ lệ các loài chiếm ưu thế trong mỗi mẻ lưới chỉ đạt 10 - 20% Sự phân bố của cá biển mang tính chất mùa vụ rõ rệt Từ tháng 4 - 11 là vụ cá Nam, các đàn cá nổi di cư vào gần bờ sinh sản và hình thành các bãi cá chính quanh đảo Thanh Lân, Cô

Tô, Long Châu, Bạch Long V và Cửa Ba Lạt,… Trong vụ cá Bắc (tháng 11

- 4 năm sau) các đàn cá có xu hướng di chuyển ra xa bờ và tập trung với mật độ dày ở tầng nước sâu gần đáy thuận lợi cho các nghề lưới kéo, lưới vây[5]

Theo đánh giá sơ bộ, trữ lượng cá biển của vùng bờ Quảng Ninh – Hải Phòng khoảng 200 ngàn tấn, chiếm 37% trữ lượng toàn vịnh Bắc Bộ; khả năng khai thác 65 - 70 ngàn tấn/năm, trong đó cá nổi 45 - 50 ngàn tấn/năm và cá đáy khoảng 20 ngàn tấn/năm Các bãi cá chính như Bạch Long Vỹ, Cát Bà, Long Châu, đều có sản lượng cao, tương đối ổn định và điều kiện khai thác thuận lợi Ngoài ra, hàng năm còn có thể khai thác 40 -

50 ngàn tấn tại các vùng biển lân cận[5]

Trang 10

Ngày 3 - 4/10/2011, tại Hải Phòng, Viện Nghiên cứu Hải sản (RIMF) phối hợp với Ủy ban nghề cá Trung - Tây Thái ình Dương (WCPFC) và Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tổ chức “Hội thảo triển khai Dự án điều tra tổng thể nguồn lợi hải sản biển Việt Nam và phương pháp đánh giá nguồn lợi hải sản”

Các kết quả nghiên cứu hệ sinh thái, tài nguyên sinh vật biển trong thời gian qua đã và đang khẳng định ý ngh a khoa học và thực tiễn Đó là cơ sở khoa học phục vụ cho việc hoạch định khai thác, nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn biển và an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam Tuy nhiên, công tác nghiên cứu tài nguyên sinh vật biển trong nhiều năm qua cũng còn một số tồn tại cần khắc phục Định hướng

nghiên cứu mới chỉ tập trung vào vùng nước ven bờ (coastal areas) mà ít có những nghiên cứu vùng biển xa bờ (offshore areas), nguồn lợi ven bờ bị khai

thác quá mức, nguồn lợi cá được nghiên cứu nhiều hơn các loại hải sản khác,

cá tầng đáy được nghiên cứu nhiều hơn cá tầng trên (nhất là vùng biển Vịnh Bắc Bộ và Đông Tây Nam ộ) Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu mang tính cục bộ cho từng khu vực và chưa đồng bộ Điều đó dẫn đến việc quy hoạch vùng nuôi, mùa vụ cũng như việc lý giải các nguyên nhân, mức độ tổn thương

hệ sinh thái, mức độ suy giảm nguồn lợi và đề xuất các biện pháp phục hồi còn nhiều hạn chế[19]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá Mú ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về nguồn lợi cá Mú hầu như chưa có, những thông tin cơ bản về loài này chưa được tập hợp thành các báo cáo chuyên đề

mà mới chỉ dừng lại ở việc thống kê danh sách loài nằm trong các báo cáo

tổng hợp của các đề tài, dự án

Biển Việt Nam thuộc vùng biển nhiệt đới gió mùa, có mùa đông nhiệt độ không quá thấp (16 – 23oC), là nơi thích hợp cho sự phát triển của giống các loài hải sản nói chung và các loài cá Mú nói riêng, nhất là khu vực miền

Trang 11

Trung[17] Thời gian cá giống xuất hiện: Miền Bắc thường từ tháng 3 đến tháng 7, miền trung từ tháng 3 đến tháng 8[17]

Theo số liệu điều tra 1992 – 1993, trong toàn vùng biển Việt Nam hằng năm khai thác được khoảng 30 – 40 vạn cá mú giống và 150 – 200 tấn cá mú thương phẩm[15]

Theo Đào Mạnh Sơn (1994) đã nghiên cứu đối với họ cá Mú là một trong những họ cá san hô điển hình, phân bố trong vùng biển nhiệt đới và ôn đới Trong vùng biển Việt Nam, cá mú phân bố chủ yếu trong các rạn đá và rạn san hô quanh các đảo, nhưng một số loài cũng thường phân bố rộng trong các vùng biển xa đảo, thậm chí vào cả vùng cửa sông Do đó trong thành phần

cá đáy đánh bắt bằng lưới giã, sản lượng cá Mú ở vịnh Bắc Bộ chiếm 1,6% tổng sản lượng trên tàu điều tra (Hợp tác Việt – Trung 1959 – 1965) hay 1,2 – 1,89% tổng sản lượng trong toàn vùng biển Việt Nam[15]

Theo Lê Trọng Phấn (1997)[14], Việt Nam có 11 giống và 48 loài Trong khi đó, Đào Mạnh Sơn & Đỗ Văn Nguyên (1998)[16] cho rằng họ cá

Mú Việt Nam có 13 giống và trên 40 loài Tuy nhiên, cá có giá trị kinh tế chỉ

có 23 loài thuộc 6 giống Anyperodon, Cromilepter, Plestropomus, Variola, Epinephelus

Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có những nghiên cứu và tổng kết đưa

ra một hệ thống phân loại họ cá Mú riêng trong vùng biển nước ta Trong cuốn “Các loài cá kinh tế ở biển Việt Nam”[7], có 23 hình ảnh và thông tin về đặc điểm hình thái cơ bản của 23 loài thuộc 6 giống Hay một số công trình

có đề cập đến đặc điểm sinh học như “Sơ bộ nghiên cứu họ cá Mú

(Serranidae) ở vùng biển Việt Nam” của Lê Trọng Phấn (1993)

Nghiên cứu của Heemstr P.C và cvt (1993), cá Song hổ (Epinephelus fuscoguttatus) phân bố chủ yếu ở các vùng biển Nam trung bộ và Nam bộ của

Việt Nam nhưng rất ít khi bắt gặp, chúng sống ở vùng nước nơi có độ sâu từ

1 đến 60m và có thể bắt gặp ở vùng cửa sông nơi có độ mặn thấp[16]

Trang 12

1.1.3 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá Mú ở vùng biển Cù Lao Chàm

Ở Cù Lao Chàm chưa có nghiên cứu nào về nguồn lợi cá Mú, những thông tin cơ bản về loài này chưa được tập hợp thành các báo cáo chuyên đề

mà mới chỉ dừng lại ở việc thống kê danh sách loài nằm trong các báo cáo tổng hợp của các đề tài, dự án Vì vậy, nước ta cần có sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu cho đối tượng còn khá mới này Sau đây là một số nghiên cứu có

liên quan đến cá Mú tại vùng biển Cù Lao Chàm:

Theo nghiên cứu của Võ S Tuấn (2004 - 2008), Tập hợp các kết quả nghiên cứu đã xác định được 270 loài thuộc 105 giống và 40 họ cá trên các rạn san hô trong vùng nước của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Các họ cá có

số lượng loài cao là họ cá Thia Pomacentridae và họ cá àng chài Labridae (46 loài) Tiếp theo là họ cá ướm Chaetodontidae (25 loài), họ cá Mó Scaridae (15 loài), họ cá Đuôi gai Acanthuridae (13 loài), họ cá Mú Serranidae (11 loài) và họ cá Dìa Siganidae (10 loài)[9]

Nguyễn Đăng Ngải (2009) cho thấy sự suy giảm về diện tích và độ phủ của rạn san hô đồng ngh a với việc nguồn lợi sinh vật biển cũng giảm theo, do mất nơi cư trú của các sinh vật biển Các kết quả nghiên cứu tại ãi ắc và

ãi Hương từ trước và sau khi bị suy thoái của san hô cho thấy sự suy giảm

về số lượn loài cá rạn từ 28,57 – 34,21% và ãi Hương từ 18,51 – 22,35% Đặc biệt là nhóm cá giữ như cá Hồng, cá Kẽm, cá Mú có mật độ rất thấp hoặc hầu như không bắt gặp[12]

Trang 13

1.2 ẶC ỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Phần đất liền của thành phố có hình thể gần giống như một hình thang cân, đáy là phía Nam giáp huyện Duy Xuyên với ranh giới chung là sông Thu Bồn, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Điện àn, phía Đông là bờ biển dài 7

km, với diện tích chiếm một phần tư thành phố Hội An Các hòn đảo này quần tụ thành hình cánh cung hướng mặt ra Biển Đông, được hình tượng hoá như người hoa tiêu khổng lồ, như bức bình phong che chắn cho đất liền Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là 6.171,25 ha, phần diện tích đất liền 4.850

ha chiếm 73,50% (trong đó diện tích đất 3.669 ha và diện tích mặt nước 1.180,3 ha), diện tích hải đảo 1.654 ha chiếm 26,50%[23]

1.2 ịa hình

Quần đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là vùng đồi núi thấp có dạng hình chóp cụt Hòn Lao là dãi núi chính lớn nhất và được xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam[13]

Cù Lao Chàm là một trong chuổi các khối đá hoa cương hình thành cánh cung Bạch Mã – Hải Vân – Sơn Trà – Cù Lao Chàm – Hòn Ông Điểm nổi bật ở đây là tính đối xứng, hướng Tây Bắc - Đông Nam với sườn Tây Bắc hẹp

và dốc đứng, sườn Tây Nam rộng và thoải hơn ờ biển sườn Đông ắc với

Trang 14

các vách đứng, trơ đá gốc còn bờ biển Tây Nam tạo thành các vịnh nhỏ với tích tụ cát lấp đầy tạo nên những bãi biển dài và đẹp[13]

Lượng mưa trung bình năm: 2045mm

Số ngày mưa trung bình năm: 145 ngày

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 chiếm 80% tổng lượng mưa của năm Từ tháng 2 đến tháng 7 thường có mưa giông

Mùa mưa bão hàng năm vào khoảng tháng 9, 10 và 11

1.2.4 iều kiện thuỷ văn

a Chế độ gió, dòng chảy

Chế độ gió phân thành 2 mùa rõ rệt: gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau với tốc độ 15-25m/s; gió mùa hè theo hướng đông và đông nam với những trận bão và áp thấp nhiệt đới nên tốc độ gió rất cao (40m/s) Tốc độ gió trên biển luôn luôn lớn hơn trên đất liền và hầu như không có thời

kỳ lặng gió

Phụ thuộc vào chế độ gió, chế độ song ở vùng cửa biển Hội An – Cù Lao Chàm cũng bao gồm 2 hệ thống: sóng mùa đông có hướng đông bắc và đông, cao từ 1,5 - 3m (ngoài khơi) và khoảng 1,5m (ven bờ); song mùa hè nhỏ, có hướng tây nam (ngoài khơi) và hướng đông, nam (ven bờ)

Chế độ dòng chảy cũng chuyển đổi theo 2 mùa: dòng chảy mùa đông (tháng 2) có hướng đông bắc – tây nam; dòng chảy mùa hè theo hướng tây nam – đông bắc

Trang 15

b Nhiệt độ nước biển

Nhiệt độ tối cao trên biển bao giờ cũng thấp hơn trên đất liền 1- 4oC và nhiệt độ tối thấp lại luôn cao hơn trên đất liền 1- 4 oC Nhiệt độ lớp nước mặt vùng nước xung quanh Cù Lao Chàm thường không thấp dưới 25oC, đa phần trên 26oC và tương đối ổn định, chênh lệch nhiệt độ giữa các khu vực chỉ trong khoảng trên dưới 1oC

c Độ mặn và trị số pH

Trị số pH luôn đạt giá trị trên 0,8, đa phần biến đổi trong khoảng hẹp 8,15 đến 8,4 và khá ổn định, thể hiện chất kiềm yếu của nước biển Còn độ

muối với giá trị biến đổi trong khoảng 31 đến trên 32‰

1.3 SƠ LƢỢC ẶC ỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA CÁ MÚ (CÁ

SONG)( Serrenidae)

Cá Mú là một trong những loài cá đáy có giá trị kinh tế cao, sống ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Hiện nay, nhiều loài trong giống cá này đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng ở khu vực Đông Nam Á như cá Mú chấm đỏ

(Epinephelus akaara), cá Mú mỡ (Epinephelus tauvina), cá Mú Ma – la – la (E.malabaricus), … Đại bộ phận cá Mú thuộc loại sinh sản biến tính, khi nhỏ

chúng là cá thể cái, lớn lên một số biến tính thành cá thể đực Cá Mú phân bố rộng rãi ở vùng nước ven bờ, cửa sông, quanh các đảo, các rạn đá san hô cho tới vùng biển sâu 70 – 80 m Cá đánh bắt được chủ yếu bằng các nghề câu tay, câu vàng, lồng bẫy và lưới rã Phần lớn cá Mú được sử dụng dưới dạng tươi sống và đông lạnh[16]

1.3.1 ệ thống phân loại

Theo tài liệu phân loại của Lindberg G.U (1969) và của FAO (1974) cá

Mú thuộc bộ cá vược (Perciformes), họ Serranidae, họ phụ Epinephelinae, loài Epinephelus spp Ở khu vực Ấn Độ - Thái ình Dương đã phát hiện được

63 loài thuộc giống cá Mú (Epinephelus) Ở biển Việt Nam, họ cá Mú có 13

giống và trên 40 loài, riêng giống cá Mú có tới 23 loài

Trang 16

Cá Mú có thân thuôn dài, mình hơi dẹp Miệng rộng, chếch, hàm dưới hơi nhô dài ra phía trước, ở hàm có nhiều răng nhỏ, sắc nhọn Mầu sắc cá Mú thay đổi thường xuyên tuỳ theo điều kiện môi trường và theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể Ở cá Mú, màu sắc, chấm, vạch là những đặc điểm quan trọng dùng để phân loại chúng[16]

- Cá Mú mỡ (E.tauvina) thường sống ở nơi nhiệt độ nước từ 200C – 300C, độ mặn từ 15 – 32%o, pH từ 7,5 – 9 và độ sâu từ 10 - 60 m

- Cá Mú chấm đỏ (E.akaara) sống ở vùng nước có nhiều rạn đá, hang hốc, nơi

có độ sâu 20 – 50 m Cá con (nhỏ hơn 10 cm) sống chủ yếu ở vùng nước ven

bờ Cá Mú chấm đỏ có sức chịu đựng lớn đối với sự thay đổi của nhiệt độ, độ mặn và lượng oxy hoà tan Nhiệt độ thích hợp nhất với loài cá này từ 22 –

280C, dưới 150C cá ngừng ăn và mọi hoạt động giảm tới mức tối đa (Tsseng, 1983)

1.3.3 Thức ăn và tập tính bắt mồi

Cá Mú thuộc loại động vật ăn thịt, thức ăn chủ yếu của chúng là các loài

giáp xác (Crustacae), cá (Pisces) và một số loài động vật không xương sống

Trong tự nhiên cá Mú thường sống ẩn nấp ở các rạn đá, hang hốc nằm chờ con mồi tới gần rồi đớp gọn Mồi của chúng đa phần là những loài vật sống ở đáy như tôm, cua, cá, mực… Cá Mú săn mồi mạnh nhất vào lúc chạng vạng tối và rạng đông Theo báo cáo của Randall (1965), thức ăn trong dạ dày cá

Trang 17

Mú đỏ biển Ca – ri – bê có tới 85% là giáp xác và 17% là cá Cá Mú thích ăn các loài giáp xác hơn cá, thích ăn mồi sống hơn mồi chết[16]

1.3.4 ặc điểm sinh sản

Mùa sinh sản của cá Mú kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, đỉnh cao là tháng 5 – 6 Đại bộ phận cá Mú đẻ trứng ở vùng nước sâu, trứng và ấu trùng trôi nổi theo dòng nước và thuỷ triều vào vùng nước ven bờ

a Biến tính đực cái

Hầu hết cá Mú thuộc loại sinh sản biến tính, ở giai đoạn đầu cuộc sống

chúng là loài cái sau chuyển thành cá đực (Protogynous hermaphrodite) Hầu

như toàn bộ cá con sau khi trưởng thành đều là cá cái, cá đực xuất hiện ở những năm về sau khi một số cá cái biến tính thành cá đực

+ Ở cá Mú đỏ (E.akaara) cá cái chuyển thành cá đực vào năm thứ 4 với chiều

dài từ 28 – 34 cm, khối lượng từ 0,5 – 1 kg Quá trình này xảy ra vào tháng 4 – 5 sau khi đẻ trứng hoặc tháng 9 – 11 vào thời kỳ tái phát dục (Tseng, 1983)

+ Ở cá Mú mỡ (E.tauvina) quá trình biến tính xảy ra đối với cá thể có chiều

dài từ 65 – 75 cm và khối lượng trên 10 kg Trên thực tế cá Mú đực rất hiếm, chỉ tìm thấy ở vùng biển sâu, thông thường cá có chiều dài trên 70 cm và khối lượng trên 11 kg (TAN and TAN, 1974)

b Chín muồi sinh dục

Cá Mú E.tauvina cái phát dục khi chiều dài đạt từ 42 – 50 cm với khối

lượng nhỏ hơn 10 kg trong khi đại bộ phận cá đực có chiều dài trên 74 cm và

khối lượng từ 10 kg trở lên Ở cá Mú E.suillus hầu như cá cái có khối lượng

nhỏ hơn 7 kg, còn cá đực có khối lượng lớn hơn hoặc bằng 10 kg Cá

E.akaara cái phát dục ở năm thứ 3 với chiều dài từ 28 – 32 cm và khối lượng

từ 500 – 700g, cá đực lớn hơn cá cái và phát dục vào năm thứ 4 Chiều dài cá đực thường lớn hơn 39 cm và khối lượng trên dưới 1kg Cá đực chín muồi sinh dục từ tháng 3 đến tháng 7

Trang 18

c Đẻ trứng

Cá Mú bắt đầu đẻ trứng vào thời kỳ ấm áp cuối xuân hoặc đầu mùa hè, khi nhiệt độ nước biển đạt từ 250C trở lên Tại Cô – oét cá Mú mỡ đẻ trứng từ giữa tháng 3 – 7 Ở biển Nam Hải cá Mú mỡ đẻ rộ vào giữa tháng 6, tháng 7

Ở Việt Nam cá Mú E.tauvina và cá Mú E.malabaricus đẻ rộ vào tháng 5

tháng 6

Trang 19

C ƯƠN Ố TƯỢNG, NỘI DUNG V P ƯƠN P ÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Ố TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Cá Mú hay cá Song thuộc họ Serranidae

2.2 ỊA ỂM NGHIÊN CỨU

Vùng biển Cù Lao Chàm – Thành phố Hội An – Quảng Nam

2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Bắt đầu từ tháng 01/2013 đến tháng 05/2013

2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.4.1 Hiện trạng khai thác nguồn lợi cá Mú tại vùng biển Cù Lao Chàm

2.4.2 Thành phần loài và phân bố của cá Mú

2.4.3 Cấu trúc các nhóm kích thước của cá Mú

2.4.4 ề xuất biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi cá Mú tại vùng biển Cù Lao Chàm

2.5 P ƯƠN P ÁP N ÊN CỨU

Thu thập thông tin về hiện trạng khai thác nguồn lợi cá Mú, cơ cấu ngành nghề và năng lực tàu thuyền khai thác thủy sản ở vùng biển Cù Lao Chàm bằng phương pháp tham vấn cộng đồng, có kết hợp với tham khảo các báo cáo của cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương

2.5.1 Phương pháp tham vấn cộng đồng

Theo phương pháp tham vấn cộng đồng chúng tôi tiến hành tổ chức tham vấn nhóm gồm 20 ngư dân chuyên khai thác nguồn lợi cá tại khu vực Cù Lao Chàm bằng các ngành nghề khác nhau, về các thông tin như tổng số tàu thuyền, công suất, cơ cấu ngành nghề, đối tượng thủy sản chính, năng suất sản lượng và mùa vụ khai thác, các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản

Ngày đăng: 26/06/2021, 18:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Tiến Cảnh (2004), Báo cáo tổng kết Dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển và hiện trạng môi trường vùng biển quần đảo Trường Sa, Lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển và hiện trạng môi trường vùng biển quần đảo Trường Sa
Tác giả: Nguyễn Tiến Cảnh
Năm: 2004
3. Nguyễn Duy Chính (2008), Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trương ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Chính
Năm: 2008
4. Bùi Đình Chung và ctv (1991), Hoàn thiện đánh giá trữ lượng cá biển Việt Nam, Tuyển tập Hội nghị khoa học công nghệ biển toàn quốc lần thứ 3- Sinh học và công nghệ sinh học biển, 1(33) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện đánh giá trữ lượng cá biển Việt Nam
Tác giả: Bùi Đình Chung và ctv
Năm: 1991
5. Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ (NOAA) , Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI), Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh (Quangninh PPC), Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng (Haiphong PPC), Khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng bờ Quảng Ninh – Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ (NOAA) , Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI), Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh (Quangninh PPC), Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng (Haiphong PPC)
6. Trần Duy (1995), Kỹ thuật nuôi lồng cá nước ngọt và cá biển, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lồng cá nước ngọt và cá biển
Tác giả: Trần Duy
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
7. Hội nghề cá Việt Nam (1998), Các loài cá kinh tế ở biển Việt Nam, Nhà xuất Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài cá kinh tế ở biển Việt Nam
Tác giả: Hội nghề cá Việt Nam
Năm: 1998
8. Phạm Văn Long (2007), Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản
Tác giả: Phạm Văn Long
Năm: 2007
9. Nguyễn Văn Long, Võ S Tuấn, Hoàng Xuân Bền, Phan Kim Hoàng, Hứa Thái Tuyến, Nguyễn Xuân Vỵ và Dương Trọng Kiểm(2008), Báo cáo tổng kết đề tài Đa dạng sinh học và chất lượng môi trường khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: 2004 – 2008, Viện Hải dương học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và chất lượng môi trường khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: 2004 – 2008
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Võ S Tuấn, Hoàng Xuân Bền, Phan Kim Hoàng, Hứa Thái Tuyến, Nguyễn Xuân Vỵ và Dương Trọng Kiểm
Năm: 2008
12. Nguyễn Đăng Ngải, “Sự suy thoái san hô Cù Lao Chàm, nguyên nhân và tác động”, tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, Phụ trương 1(2009), Tr 250 – 261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự suy thoái san hô Cù Lao Chàm, nguyên nhân và tác động”", tạp chí Khoa học và Công nghệ biển
Tác giả: Nguyễn Đăng Ngải, “Sự suy thoái san hô Cù Lao Chàm, nguyên nhân và tác động”, tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, Phụ trương 1
Năm: 2009
13. Nguyễn Thị Ngọc, Nghiên cứu homstay, mô hình lưu trú phù hợp công tác bảo tồn thiên nhiên tại cụm đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam, Luận văn tốt nghiệp, khoa Môi trường, Trường ĐH Khoa học tự nhiên, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu homstay, mô hình lưu trú phù hợp công tác bảo tồn thiên nhiên tại cụm đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam
14. Lê Trọng Phấn &amp; ctv (1997), Danh mục cá biển Việt Nam – tập III, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục cá biển Việt Nam – tập III
Tác giả: Lê Trọng Phấn &amp; ctv
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 1997
15. Đào Mạnh Sơn, 1994, Nghiên cứu cơ sở sinh vật học và các biện pháp bảo vệ nguồn lợi cá song ở vùng biển gần bờ Việt Nam, Báo cáo chuyên đề trong đề tài KN.04.02 thuộc chương trình “Phát triển các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao. KN.04”, Lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở sinh vật học và các biện pháp bảo vệ nguồn lợi cá song ở vùng biển gần bờ Việt Nam, "Báo cáo chuyên đề trong đề tài KN.04.02 thuộc chương trình “Phát triển các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao. KN.04
16. Đào Mạnh Sơn &amp; Đỗ Văn Nguyên (1998), Đặc điểm sinh học nuôi và sản xuất cá Song (Epinephalus spp) ở miền Bắc Việt Nam, Tuyển tập các nghiên cứu nghề cá, Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học nuôi và sản xuất cá Song (Epinephalus spp) ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Đào Mạnh Sơn &amp; Đỗ Văn Nguyên
Năm: 1998
17. SUMA – Hợp phần hỗ trợ nuôi trồng thủy sản biển và nước lợ (2002) Nuôi trồng và quản lý sức khỏe cá Mú, DANIDA – Bộ thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi trồng và quản lý sức khỏe cá Mú
18. Đặng Văn Thi (2007), Báo cáo tổng kết đề tài Đánh giá nguồn lợi cá cơm (Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý, Lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguồn lợi cá cơm (Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý
Tác giả: Đặng Văn Thi
Năm: 2007
19. Đỗ Công Thung, Điều tra, đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, NCVCC Viện Tài nguyên và Môi trường biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam
20. Phạm Thược (2003), Các khái niệm quản lý nguồn lợi vùng biển và ven bờ, Khóa tập huấn quốc gia về bảo tồn biển, Dự án Khu bảo tồn biển Hòn Mun, Nha Trang.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khái niệm quản lý nguồn lợi vùng biển và ven bờ
Tác giả: Phạm Thược
Năm: 2003
21. Heemstra P.C. &amp; J.E. Randall (1993), FAO Fisheries Synopsis No. 125, vol. 16. FAO Fisheries Synopsis, Pp. 248249, FAO, Rome.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: FAO Fisheries Synopsis No. 125, vol. 16. FAO Fisheries Synopsis, Pp. 248249
Tác giả: Heemstra P.C. &amp; J.E. Randall
Năm: 1993
24. Tổng cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê ngành thủy sản 2000- 2010, http://www.gso.gov.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm