Số hiệu 1.1 Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên Barnthouse & 1.2 Khung tiếp cận đánh giá rủi ro 9 3.1 Mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp KKT Dung Mức độ rủi ro của nước thải c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
NGÔ THỊ LỆ THỦY
CHUYÊN NGÀNH: CỬ NHÂN SINH - MÔI TRƯỜNG
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS VÕ VĂN MINH
Đà Nẵng – 2014
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Lệ Thủy
Trang 4khoa Sinh – Môi trường, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cả về mặt vật chất lẫn tinh thần để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Võ Văn Minh và ThS Đàm Minh Anh, những người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Ngô Thị Lệ Thủy
Trang 5DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI 3
1.1.1 Khái niệm về đánh giá rủi ro sinh thái 3
1.1.2 Lịch sử phát triển đánh giá rủi ro sinh thái 3
1.1.3 Ý nghĩa của đánh giá rủi ro sinh thái 4
1.1.4 Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý môi trường trên thế giới và Việt Nam 5
1.1.5 Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường ở Việt Nam 10
1.2.TỔNG QUAN VỀ KKT DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG 11
1.2.1 Thông tin chung về KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
11
1.2.2 Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 13
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 13
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.3.1 Phương pháp hồi cứu dữ liệu 13
2.3.2 Phương pháp ma trận rủi ro 14
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 15
2.3.4 Phương pháp sơ đồ hóa 15
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 16
Trang 63.2 PHÂN NHÓM YẾU TỐ RỦI RO CỦA NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP KKT
DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG 22
3.3 CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG TỪ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP KKT DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG 26
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
1 KẾT LUẬN 29
2 KIẾN NGHỊ 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 PHỤ LỤC
Trang 7
CTNN Chất thải nguy hại CTR Chất thải rắn EcoRA Đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment) HRA Đánh giá rủi ro sức khỏe (Health Risk Assessment) KCN Khu công nghiệp
KKT Khu kinh tế MCD Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (Centre for
Marinelife Conservation and Community Development) OGTR Văn phòng quản lý công nghệ Gene Úc (The Office of the Gene
Technology Regulator) PEMSEA Chương trình Hợp tác Khu vực trong Quản lý môi trường các biển
Đông Á (Partnerships in Environmental Management for the Seas of East Asia)
USEPA Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (United States Environmental
Protection Agency)
Trang 82.2 Thang điểm đánh giá mức độ thiệt hại của nước thải công
2.3 Thang điểm ma trận rủi ro 15 2.4 Thang điểm phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công
3.1 Thang điểm ma trận rủi ro của nước thải công nghiệp
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong 16
3.2 Kết quả đánh giá rủi ro của nước thải công nghiệp KKT
Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong 17
3.3 Bảng phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công nghiệp
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong 23 3.4 Tác động của các yếu tố rủi ro đến hệ sinh thái 27
Trang 9Số hiệu
1.1 Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên (Barnthouse &
1.2 Khung tiếp cận đánh giá rủi ro 9
3.1 Mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp KKT Dung
Mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp tại đầu vào
và đầu ra hệ thống xử lý nước thải tập trung KCN Quảng Phú
21
3.5
Bản đồ phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công nghiệp KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
25
3.6 Sơ đồ tác động của các yếu tố rủi ro đối với hệ sinh thái 26
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ngãi với mục tiêu đến năm 2020 trở thành tỉnh công nghiệp có vị trí cao trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Theo đó, tỉnh sẽ tập trung phát triển công nghiệp đa ngành, đa lĩnh vực, đẩy mạnh đầu tư cho các khu công nghiệp (KCN), đặc biệt là khu kinh tế (KKT) Dung Quất – được đánh giá là KKT thành công nhất trong cả nước Công nghiệp phát triển đã đánh dấu sự phát triển của tỉnh trong thời kì hội nhập Tuy nhiên, nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết mà trước hết là nguy cơ ô nhiễm môi trường, trong đó đáng chú ý hơn cả là nguy cơ ô nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp Các dòng thải này không được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để được thải trực tiếp ra sông, hồ, kênh, rạch gây nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái [2]
Để phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các KCN, trong thời gian qua, các biện pháp và công cụ quản lý môi trường được tăng cường triển khai Các biện pháp và công cụ quản lý môi trường rất đa dạng như luật pháp, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, khoa học, kinh tế, Nhưng mỗi biện pháp và công
cụ có phạm vi và hiệu quả khác nhau trong từng trường hợp cụ thể [12] Vì vậy, để hoàn thiện và phát huy vai trò của các biện pháp và công cụ quản lý môi trường thì việc nghiên cứu triển khai và ứng dụng các công cụ mới có tính dự đoán là rất cần thiết
Một trong những công cụ được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng còn tương đối mới ở Việt Nam là công cụ đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment - EcoRA) [7] EcoRA cung cấp các thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với công tác dự báo các tác động đến hệ sinh thái và môi trường từ các hoạt động sản xuất của con người hay các dự án phát triển [21] Những dự báo này là cơ sở để xây dựng phương án phòng ngừa các sự cố môi trường nhằm hạn chế, giảm thiểu các tác động theo thứ tự ưu tiên Tại Việt Nam, EcoRA chỉ mới được ghi nhận trong các dự án có sự hợp tác với các tổ chức quốc tế như dự án “Đánh giá ban đầu rủi ro môi trường thành phố Đà Nẵng (2004)” [18] Đối với các KCN, nghiên cứu bước
Trang 11đầu đánh giá rủi ro sinh thái và sức khỏe cho khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (2009) đã xác định rủi ro sinh thái của nước thải công nghiệp tại hai KCN Tân Thới Hiệp và Vĩnh Lộc [14]
Để có cơ sở khoa học trong việc sử dụng rộng rãi và hiệu quả công cụ đánh
giá rủi ro sinh thái, chúng tôi tiến hành chọn đề tài:“Đánh giá rủi ro sinh thái đối
với nước thải công nghiệp tại khu kinh tế Dung Quất và một số khu công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi” nhằm mục đích xác định, đánh giá mức độ và phân nhóm yếu tố
rủi ro của nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và một số KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài là kết quả bước đầu trong việc sử dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh thái đối với nước thải công nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi nhằm hoàn thiện phương pháp đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường tại các KCN
Đề tài cung cấp cơ sở khoa học cho nhà quản lý môi trường trong dự đoán rủi ro do nước thải công nghiệp gây ra đối với các hệ sinh thái xung quanh các KCN
và KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI
1.1.1 Khái niệm về đánh giá rủi ro sinh thái
Đánh giá rủi ro sinh thái (EcoRA) là một quá trình đánh giá khả năng tác động có hại đến hệ sinh thái có thể xảy ra hoặc đang xảy ra như là kết quả của việc tiếp xúc với một hoặc nhiều yếu tố gây stress [19] Trong việc bảo vệ môi trường, công cụ này ngày càng được sử dụng hiệu quả để điều tra về bản chất và tầm quan trọng của tác động sinh thái đồng thời hỗ trợ cho việc ra quyết định của nhà quản lý môi trường [30], [34]
EcoRA được phát triển từ đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA) [33] EcoRA là quá trình đánh giá trên diện rộng, chú trọng đến quần thể, quần xã và những ảnh hưởng của hóa chất lên tỉ lệ tử vong và khả năng sinh sản [20] EcoRA có ba nhóm: (1) Đánh giá rủi ro sinh thái do hóa chất; (2) Đánh giá rủi ro sinh thái đối với hóa chất bảo vệ thực vật; (3) Đánh giá rủi ro sinh thái đối với sinh vật biến đổi gen
EcoRA là một quá trình linh hoạt về tổ chức và phân tích dữ liệu, thông tin, giả định và cả những khả năng không chắc chắn để đánh giá tác động bất lợi có thể xảy ra cho hệ sinh thái Một nghiên cứu đánh giá rủi ro nhất định có thể đánh giá cục bộ đối với yếu tố gây stress, một thành phần sinh thái, một hoạt động của con người hoặc đánh giá toàn diện đối với một hệ sinh thái cụ thể [30]
1.1.2 Lịch sử phát triển đánh giá rủi ro sinh thái
Đánh giá rủi ro sinh thái được phát triển tại USEPA vào năm 1980 trên cơ sở hợp nhất 2 quá trình: đánh giá rủi ro (bắt nguồn từ ngành công nghiệp bảo hiểm tại Anh và Hà Lan vào thế kỷ 17, sau đó mở rộng sang các lĩnh vực khác, trong đó bao gồm các quy định về ô nhiễm môi trường) và đánh giá sinh thái (là một phần quan trọng trong quản lý môi trường tại Hoa Kỳ với nhiệm vụ pháp lý cho việc đánh giá tác động môi trường vào năm 1970) [32] Kể từ khi được hình thành, EcoRA được thể chế cùng với sự phát triển của USEPA thông qua các khung đánh giá và văn bản hướng dẫn [33] Hiện nay, việc áp dụng khung đánh giá rủi ro sinh thái sẽ được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh và chính sách của mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực [25] Tuy
Trang 13nhiên, EcoRA vẫn được phát triển dựa trên khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên (Barnthouse & Suter 1986)
Hình 1.1 Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên (Barnthouse & Suter 1986) [19]
Với lịch sử hình thành và phát triển trong khoảng 40 năm nhưng EcoRA đã được áp dụng rộng rãi không chỉ ở các lĩnh vực hóa học, độc học sinh thái mà còn ở các lĩnh vực liên quan đến môi trường như đánh giá tác động môi trường, chính sách quy hoạch sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên,…[7]
1.1.3 Ý nghĩa của đánh giá rủi ro sinh thái
EcoRA là phương pháp được áp dụng trong nhiều lĩnh vực nhằm xác định và
dự đoán rủi ro đối với hệ sinh thái, cách tiếp cận này sẽ chỉ rõ thành phần nào trong
hệ sinh thái dễ bị tổn thương nhất, trên cơ sở đó lựa chọn và phát triển các thành phần phù hợp với sự phát triển của hệ sinh thái [6] Vì vậy, EcoRA được xem là công cụ hỗ trợ hữu ích giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra các quyết định dựa trên các kịch bản sinh thái nhằm đảm bảo cân bằng chi phí – lợi ích
Đánh giá rủi ro sinh thái cung cấp thông tin về rủi ro môi trường, giúp đưa ra các quyết định phòng ngừa các rủi ro và đưa ra các giải pháp kịp thời nhằm giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại về người và của [15] Vì vậy, đây là một trong những công cụ quan trọng khi thực hiện đánh giá tác động môi trường
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang gia tăng cả về tần suất và cường độ như hiện nay, EcoRA được đánh giá là một
Lựa chọn thiết bị đầu cuối
Phát triển nguồn lực
Mô tả môi trường
Đánh giá tiếp xúc Đánh giá tác động
Đánh giá rủi ro
Trang 14trong những công cụ có độ tin cậy cao, giúp nhận dạng và xác định mức độ ảnh hưởng của tất cả các yếu tố bất lợi đến hệ sinh thái [24] Nhờ vậy, các giải pháp ứng phó phù hợp sẽ được nghiên cứu và triển khai ứng dụng kịp thời, giảm thiểu tối đa các nguy cơ đe dọa cân bằng sinh thái và cuộc sống con người
1.1.4 Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý môi trường trên thế giới và Việt Nam
a)Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý môi trường trên thế giới
EcoRA đã được áp dụng ở nhiều lĩnh vực và được đưa thành luật ở một số nước như Mỹ, Trung Quốc, [34], [35], [36] Năm 1993, các nước châu Âu ban hành quy định và văn bản hướng dẫn về đánh giá rủi ro sinh thái do hóa chất Trong phạm vi hỗ trợ pháp luật, các nước châu Âu đã thực hiện đánh giá rủi ro sinh thái có
hệ thống do hóa chất và đánh giá rủi ro sinh thái toàn diện do các chất gây ô nhiễm công nghiệp và đạt được nhiều kinh nghiệm về đánh giá rủi ro sinh thái đối với các chất gây ô nhiễm [33] Năm 1998, USEPA ban hành hướng dẫn đánh giá rủi ro chính thức và thành lập quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về đánh giá rủi ro tương ứng với các hệ sinh thái khác nhau [34] Sau đó, USEPA đã nghiên cứu và đưa ra khung đánh giá rủi ro và các hướng dẫn thực hiện đánh giá rủi ro sinh thái trong các chương trình môi trường tại các ban đối với không khí, nước, độc chất và các khu vực bị ô nhiễm [19], [21], [26], [31]
Mặc dù các cơ quan, tổ chức áp dụng khung lý thuyết EcoRA vào các chương trình để giải quyết các nhiệm vụ pháp lý khác nhau, nhưng đặc trưng của EcoRA là một quá trình được thực hiện trong 3 giai đoạn: (1) xây dựng vấn đề với nhiệm vụ quan trọng là xác định thiết bị đánh giá đầu cuối; (2) phân tích rủi ro bao gồm phân tích tiếp xúc và mối quan hệ giữa tiếp xúc – đáp ứng; (3) mô tả rủi ro bao gồm xác định tính chất, khả năng tác động và trao đổi thông tin rủi ro với người ra quyết định Chính vì vậy, khi triển khai EcoRA trong các bối cảnh nhất định, EcoRA đã đáp ứng được nhu cầu của người ra quyết định [34] Tuy nhiên, một số chuyên gia về lĩnh vực môi trường cho rằng EcoRA là lý do để trì hoãn các hành động của cơ quan quản lý trong việc bảo vệ và phục hồi môi trường [33]
Trang 15Sau Mỹ, Liên hợp quốc và các tổ chức bảo vệ môi trường của các quốc gia khác trên thế giới đã nghiên cứu, phát triển các khung hướng dẫn triển khai EcoRA nói chung và chuyên biệt cho một số ngành có khả năng tác động lớn đến hệ sinh thái [36] Ngư nghiệp là một trong những ngành có tác động lớn đến hệ sinh thái biển, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động đánh bắt thủy sản mà còn từ các hoạt động khác như vận chuyển, chế biến,…Tại Úc, lý thuyết về đánh giá rủi ro sinh thái cho ngành đánh bắt thủy sản được hình thành và ứng dụng, cho phép định lượng rủi ro đối với các loài sinh vật biển và phát triển quản lý ngư nghiệp dựa vào
hệ sinh thái [22]
Trong lĩnh vực bảo vệ đa dạng sinh học, Ủy ban truyền thông đa dạng sinh học châu Âu đã bắt buộc sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro sinh thái khi đưa ra các chính sách về đa dạng sinh học và các giải pháp chống lại suy giảm đa dạng sinh học, giúp bảo vệ các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng và đang bị đe dọa bởi chính con người [29]
Đánh giá rủi ro do hóa chất cũng là một vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm Lý thuyết đánh giá rủi ro sinh thái đã được áp dụng vào các nghiên cứu để đánh giá rủi ro hóa chất, đặc biệt là thuốc trừ sâu Năm 2006, EcoRA được ứng dụng trong nghiên cứu ở Italya, trong việc đánh giá rủi ro sinh thái do sự tích lũy sinh học của PCDD/FS và dioxin trong một đầm phá ven biển ở Venice Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm thành phần hợp chất dioxin trong trầm tích, nước và các sinh vật tại 6 khu vực đầm phá để xác định sự phân bố không gian của chất gây
ô nhiễm Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro sinh thái cao ở phần trung tâm và thấp hơn ở phần đầm phá phía bắc đồng thời xác định mối nguy hại chủ yếu là do pentachloro, hexachloro PCDD/Fs và pentachloro PCBs [20] Năm 2011, nghiên cứu về đánh giá rủi ro dư lượng thuốc thuốc trừ sâu tại vùng đất ngập nước hồ Taihu, Trung Quốc đối với 8 loại thuốc trừ sâu Kết quả nghiên cứu xác định được 3 loại thuốc có nguy cơ cao đối với hệ sinh thái và chỉ ra được loại thuốc diệt cỏ được tìm thấy là độc hại hơn cho tảo, trong khi thuốc trừ sâu gây ra rủi ro cao hơn đối với động vật phù du, côn trùng và cá Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ xét đến các loài thuốc
Trang 16bảo vệ thông thường và không xem xét tác động mãn tính đối với hệ sinh thái do thiếu dữ liệu [27]
Trung Quốc đã áp dụng lý thuyết đánh giá rủi ro vào nhiều lĩnh vực và hoạt động khác nhau Nghiên cứu tại tỉnh Hồ Bắc năm 2007, đã sử dụng EcoRA để xác định rủi ro trước và sau khi hợp nhất đất đai Kết quả cho thấy rằng, các rủi ro về đất, nước và sinh học đều giảm đáng kể sau quá trình hợp nhất [28] Một nghiên cứu khác sử dụng EcoRA để đánh giá rủi ro sinh thái tại mỏ than do nhiều yếu tố như kim loại nặng, xói mòn và sạt lỡ đất gây ra Kết quả nghiên cứu đã đánh giá mức độ rủi ro và phân nhóm yếu tố rủi ro tại khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, đây là nghiên cứu bước đầu rủi ro sinh thái nên còn tồn tại nhiều sự không chắc chắn Chẳng hạn, rất khó để xác định giá trị rủi ro của các chất độc và nguy hại, vì vậy gây khó khăn trong việc đưa ra mối tương quan giữa các loài với liều lượng của các chất độc khác nhau [25]
b) Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý môi trường tại Việt Nam
Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu áp dụng lý thuyết đánh giá rủi ro sinh thái đã được tiến hành và đạt được một số thành công trong việc quản lý và bảo
vệ môi trường
Năm 2004, được sự hỗ trợ của Quỹ môi trường toàn cầu, UBND thành phố
Đà Nẵng và Chương trình Hợp tác Khu vực trong Quản lý Môi trường các biển Đông Á (PEMSEA) đã tiến hành đánh giá ban đầu rủi ro môi trường tại khu vực vùng bờ Đà Nẵng Đánh giá này sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro hồi cố và đánh giá rủi ro dự báo để đánh giá rủi ro vùng bờ, góp phần đưa công cụ đánh giá rủi ro sinh thái vào công tác quản lý môi trường Kết quả của dự án đã xác định rủi
ro sinh thái đối với toàn bộ vùng bờ thành phố Đà Nẵng tạo cơ sở để xây dựng kế hoạch hành động cho đánh giá rủi ro đầy đủ, tập trung vào các vấn đề ưu tiên Đánh giá này cũng cho thấy tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý, các
cơ quan nghiên cứu khoa học – kĩ thuật trong quá trình thực hiện đánh giá rủi ro Một cơ chế hỗ trợ việc chia sẻ thông tin và truy cập dữ liệu cần được xây dựng [18]
Năm 2006, nghiên cứu đánh giá nguy cơ của nước thải công nghiệp đối với
hệ sinh thái lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai Nghiên cứu này đã kiểm chứng các
Trang 17thử nghiệm độc học trên loài Ceriodaphnia cornuta nhằm phục vụ đánh giá nguy cơ
đối với hệ sinh thái từ nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau như nước thải công nghiệp
và đô thị, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã phân loại và đánh giá thứ tự về khả năng gây độc của các chất gây ô nhiễm đối với hệ sinh thái Trong nghiên cứu chỉ sử dụng các độc tính thứ cấp, do
đó cần có các nghiên cứu về độc tính mãn tính trong tương lai [5]
Một nghiên cứu khác về đánh giá rủi ro đối với nước thải công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng công cụ EcoRA để đánh giá và so sánh mức độ rủi ro do nước thải gây cho hệ sinh thái và rủi ro sức khỏe tại hai khu công nghiệp Vĩnh Lộc và Tân Thới Hiệp Kết quả đã chỉ ra sự khác nhau về mức độ rủi
ro sinh thái của nước thải qua và không qua hệ thống xử lý nước thải tập trung, rủi
ro sức khỏe đối với công nhân hai khu công nghiệp do ô nhiễm môi trường không khí Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp và hướng giải quyết các rủi ro đối với các hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng Kết quả nghiên cứu là cơ sở để nghiên cứu và ứng dụng công cụ này vào quản lý môi trường tại các KCN [14].
Không chỉ đánh giá rủi ro do hóa chất, đánh giá rủi ro rủi ro còn được áp dụng cho các dự án và các hoạt động kinh tế, xã hội Năm 2011, dự án ngăn chặn sốt xuất huyết Dengue đã áp dụng khung lý thuyết phân tích rủi ro của Văn phòng quản lý công nghệ Gene Úc (OGTR) với khung tiếp cận như sau:
Hình 1.2 Khung tiếp cận đánh giá rủi ro [6]
Rủi ro nào có thể xảy ra?
Rủi ro xảy ra như thế nào?
( Xác định nguy cơ)
9
Mức độ rủi ro?
(Ước tính rủi ro)
Thiệt hại nghiêm trọng đến đâu?
( Đánh giá hậu quả)
Khả năng rủi ro xảy ra (Đánh giá nguy cơ)
Trang 18Nghiên cứu đã xác định, mô tả và ước tính mức độ rủi ro của những tác động
không mong muốn có thể xảy ra do phóng thả muỗi có chứa vi khuẩn Wolbachia
đối với sự an toàn của con người và môi trường trong khoảng thời gian 30 năm Dự
án này là một đánh giá toàn diện và đảm bảo tính độc lập với phương pháp phù hợp trong bối cảnh của Việt Nam Các kết quả trong nghiên cứu này được các chuyên gia đánh giá chủ yếu dựa trên tài liệu tham khảo quốc tế và kinh nghiệm thực tế của
họ, do đó cần phải thực hiện các khuyến cáo về biện pháp giám sát dự án phóng thả
muỗi Asdes aegypti mang Wolbachia [6]
Trong lĩnh vực quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học phối hợp với các chuyên gia của các Bộ, ngành và các cơ quan nghiên cứu biên soạn tài liệu “Phân tích rủi ro của sinh vật biến đổi gen” Tài liệu này sử dụng khung phân tích rủi ro (2009) của Úc để giới thiệu và bình luận về cách tiếp cận trong đánh giá, quản lý và trao đổi thông tin rủi ro của sinh vật biến đổi gen, cũng như những tiến bộ trong phương pháp luận phân tích rủi ro [12]
Ngoài ra, đánh giá rủi ro còn được áp dụng cho nhiều ngành công nghiệp đặc biệt là các hoạt động sản xuất có tác động lớn đến môi trường và con người Một trong những hoạt động gây ra những biến đổi môi trường sinh học, vật lý, hóa học
và môi trường sống của con người là hoạt động khai thác cát Năm 2011, nghiên cứu phân tích rủi ro do khai thác cát trên sông Thị Tính (Bình Dương) được tiến hành Kết quả đã xác định các rủi ro có thể xảy ra và đề ra các biện pháp quản lý đối với hoạt động khai thác cát Nhưng để đánh giá rõ hơn các tác động đến môi trường
và xã hội do hoạt động này gây ra cần có thêm các nghiên cứu khoa học kèm theo các khảo sát thống kê và các quan trắc lâu dài đối với hệ sinh thái và các hoạt động thủy văn của lưu vực sông Thị Tính [1]
EcoRA ở nước ta còn được tiếp cận thông qua các khóa tập huấn Tháng 11 năm 2011, các chuyên gia từ Đại học Stockholm (Thụy Điển) đã tổ chức tập huấn tại các khu dự trữ sinh quyển ven biển phía Bắc Việt Nam ở Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định Hoạt động này nhằm góp phần tăng cường năng lực cho các nhà khoa học trong nước, cán bộ Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
Trang 19(MCD) bằng cách tiếp cận phương pháp EcoRA thông qua giới thiệu khái niệm cơ bản, kinh nghiệm thực hiện EcoRA của các nước trên thế giới Từ đó tư vấn và hỗ trợ địa phương xây dựng đề xuất phù hợp cho việc áp dụng và triển khai phương pháp này trong quản lý hiệu quả tài nguyên sinh thái khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
và sông Hồng, tạo điều kiện cải thiện sinh kế cho cộng đồng, ứng phó tốt hơn với các điều kiện thay đổi bao gồm cả biến đổi khí hậu [16]
1.1.5 Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường ở Việt Nam
Thông tin từ quá trình thực hiện EcoRA giúp các nhà khoa học có cách tiếp cận toàn diện hơn khi nghiên cứu về hệ sinh thái và các vấn đề liên quan; hỗ trợ các nhà quản lý cân nhắc khi đưa ra các quyết định, chính sách cũng như các khuyến cáo đến doanh nghiệp, cộng đồng; giúp các nhà đầu tư xác định khu vực nên đầu tư
và các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu sự cố do hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ra EcoRA là một công cụ đánh giá rủi ro hữu ích không những làm nổi bật các tác động nguy hiểm nhất mà còn giúp đánh giá các phương án khắc phục mang lại hiệu quả cao nhất và hỗ trợ xác định thứ tự ưu tiên xử lý [18]
Ở nước ta, EcoRA bước đầu được khuyến khích sử dụng và dần dần quy định bắt buộc áp dụng trong một số lĩnh vực: lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu; giám sát các hệ sinh thái nhạy cảm, các khu bảo tồn thiên nhiên, việc du nhập các loài vật nuôi, cây trồng mới, môi trường của các ngành công nghiệp, nông nghiệp,…[7]
Tuy nhiên, EcoRA ở nước ta cũng gặp phải những khó khăn, đặc biệt hệ thống thống kê lưu trữ số liệu về môi trường và sức khỏe còn thiếu đồng bộ và không đầy đủ Ngoài ra, do sự khác biệt về trình độ nhận thức về các vấn đề sinh thái, nhiều phong tục, tập quán gây trở ngại trong quá trình đánh giá và thực hiện các giải pháp giảm thiểu rủi ro đối với cộng đồng [11]
Trang 201.2.TỔNG QUAN VỀ KKT DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG
1.2.1 Thông tin chung về KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
Trong thời gian qua, kinh tế Quảng Ngãi không ngừng tăng trưởng và phát triển, công nghiệp dần dần chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 1 KKT và 2 KCN đang hoạt động Các thông tin chung về KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong được trình bày ở bảng 1.1
mở rộng
45 00 ha
Công nghiệp lọc, hóa dầu Công nghiệp nặng quy mô lớn (luyện thép, đóng tàu, chế tạo ô tô,…) Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch KCN
mở rộng 120,41 ha
Chế biến nông, lâm, hải sản Sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu
mở rộng
200 ha
Cơ khí lắp ráp Chế biến nông, lâm, sản Dệt may
Vật liệu xây dựng Kết quả bảng 1.1 cho thấy, quy mô cũng như loại hình sản xuất tại KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong rất khác nhau, điều này ảnh hưởng đến lưu lượng và nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nước thải công nghiệp
1.2.2 Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong được trình bày ở bảng 1.2
Trang 21Bảng 1.2 Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và KCN
Quảng Phú, Tịnh Phong
Địa
điểm
Lưu lượng
Thành phần nước thải Tình hình xử lý nước thải
cơ, chất dinh dưỡng, dầu mỡ
và một số kim loại nặng
Hệ thống xử lý nước thải tập trung mới chỉ xây dựng tại phân khu công nghiệp Sài Gòn – Dung Quất (công suất 2500 m3/ngày đêm)
Sử dụng 2 trạm xử lý nước thải thuộc dự án
hệ thống thoát nước mưa, hệ thống thu gom
và xử lý nước thải khu đô thị Vạn Tường với công suất mỗi trạm 900 m3/ngày đêm KCN
ts, P-ts, dầu mỡ
Hệ thống xử lý nước thải tập trung có công suất 4500 m3/ngày đêm, trong giai đoạn tiếp theo sẽ nâng công suất lên 6000
m3/ngày đêm KCN
Hệ thống xử lý nước thải tập trung đang được đầu tư xây dựng với công suất 1000
m3/ngày đêm (giai đoạn 1) và nâng công suất lên 2000 m3/ngày đêm vào giai đoạn 2 Kết quả bảng 1.2 cho thấy, sự khác nhau về lưu lượng và hiện trạng nước thải của KKT Dung Quất, KCN Quảng Phú, Tịnh Phong KKT Dung Quất là KKT
mở đa ngành, tập trung phát triển công nghiệp nặng nên lượng nước thải đa dạng về thành phần và tính chất Lượng nước thải phát sinh tại KCN Quảng Phú chủ yếu phát sinh từ quá trình chế biến thủy sản, thực phẩm nên hàm lượng nước thải chủ yếu gồm BOD, COD và TSS với nồng độ cao KCN Tịnh Phong tập trung phát triển các ngành như chế biến đá granite, sắt thép nên nước thải chứa hàm lượng lớn TSS
và một số kim loại nặng Các yếu tố trong nước thải công nghiệp là các mối nguy hại tiềm tàng đối với môi trường và các hệ sinh thái Do đó, cần có các biện pháp nhằm giảm thiểu và phòng ngừa rủi ro do các yếu tố đó gây ra bằng các công cụ quản lý môi trường thích hợp
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các thông số chất lượng môi trường của nước thải công nghiệp KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong để hình thành đánh giá rủi ro sinh thái (EcoRA)
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại KKT Dung Quất (huyện Bình Sơn), KCN Quảng Phú (TP Quảng Ngãi) và KCN Tịnh Phong (huyện Sơn Tịnh), tỉnh Quảng Ngãi, trong khoảng thời gian từ 11/2013 đến 04/2014
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi tiến hành thực hiện một số nội dung sau:
Thu thập, phân tích các tài liệu về đánh giá rủi ro sinh thái, hiện trạng nước thải và công tác quản lý nước thải công nghiệp tại các KCN và KKT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Phân tích, đánh giá rủi ro sinh thái của nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất, KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
Xác định, đánh giá mức độ và phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công nghiệp bằng phương pháp ma trận rủi ro
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành các nội dung nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện các phương pháp sau:
2.3.1 Phương pháp hồi cứu dữ liệu
Thu thập và tổng hợp các tài liệu từ sách, báo, Interner, về đánh giá rủi ro sinh thái, tình hình và hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
Thu thập và tổng hợp số liệu của báo cáo chương trình quan trắc và kiểm soát
ô nhiễm môi trường KKT Dung Quất năm 2013, báo cáo giám sát môi trường định
kì đợt 1 năm 2013 tại KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
Trang 232.3.2 Phương pháp ma trận rủi ro
Phương pháp ma trận rủi ro dùng để xác định mức độ thiệt hại, tần suất xảy
ra và phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công nghiệp Phương pháp này được tiến hành theo 4 bước, dựa trên nghiên cứu của Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009) [14]
Bước 1 Xác định khả năng xảy ra ô nhiễm dựa vào bảng 1 với 5 mức độ
tương ứng với 5 khả năng xảy ra khác nhau được cho điểm từ 1 đến 5
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá khả năng xảy ra rủi ro của nước thải công nghiệp
tháng Trung
bình 3 30 ≤ f < 50 % Đã xảy ra 1 - 2 lần trong 1 năm hoặc nhiều
hơn Thấp 2 10≤ f < 30 % Có thể xảy ra 1 lần trong 2 năm
Rất thấp 1 < 10% Hiếm khi xảy ra hoặc không xảy ra
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009)” [14], điều chỉnh
Bước 2 Xác định mức độ thiệt hại dựa vào bảng 2 với 5 mức độ thiệt hại
được cho điểm từ 1 đến 5
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá mức độ thiệt hại của nước thải công nghiệp
40 : 2011/BTNMT
Gây thiệt hại đến môi trường, biến đổi hệ sinh thái trên diện rộng nhưng khó hoặc không có khả năng phục hồi
Khá nghiêm
trọng 4
Vượt hơn 1 lần cột B QCVN 40:2011/BTNMT
Gây thiệt hại đối với môi trường, biến đổi cấu trúc hệ sinh thái trong thời gian tương đối dài nhưng vẫn có khả năng phục hồi
Trung bình 3 Đạt cột B QCVN
40:2011/BTNMT
Tác động đến môi trường và biến đổi cấu trúc hệ sinh thái nhất định có khả năng hồi phục trong thời gian ngắn