1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá rủi ro sinh thái đối với môi trường nước các đầm hồ chính trong vùng kinh tế trọng điểm trung bộ

64 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Rủi Ro Sinh Thái Đối Với Môi Trường Nước Các Đầm, Hồ Chính Trong Vùng Kinh Tế Trọng Điểm Trung Bộ
Tác giả Bùi Thị Mỹ Hạnh
Người hướng dẫn TS. Võ Văn Minh, ThS. Nguyễn Văn Khánh
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Cử nhân Sinh – Môi trường
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, Đánh giá rủi ro sinh thái EcoRA là công cụ kỹ thuật đang được quan tâm và ứng dụng tại nhiều nước trên thế giới nhờ các hiệu quả do nó mang lại mà các công cụ khác không th

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG

BÙI THỊ MỸ HẠNH

ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI

MÔI TRƯỜNG NƯỚC CÁC ĐẦM, HỒ CHÍNH TRONG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG

BÙI THỊ MỸ HẠNH

ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI

MÔI TRƯỜNG NƯỚC CÁC ĐẦM, HỒ CHÍNH TRONG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ

Ngành: Cử nhân Sinh – Môi trường Người hướng dẫn: TS Võ Văn Minh

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ÐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai côngbố trong bất kỳ công trình nào khác

Bùi Thị Mỹ Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Võ Văn Minh và ThS Nguyễn Văn Khánh đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 22 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Bùi Thị Mỹ Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 TỔNG QUAN CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI 3

1.1.1 Các khái niệm có liên quan 3

1.1.2 Đánh giá rủi ro sinh thái 4

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái 5

1.1.4 Tình hình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường trên thế giới 7

1.1.5 Tình hình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường ở Việt Nam 8

1.1.6 Tầm quan trọng của công cụ đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường 10

1.1.7 Khả năng áp dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường ở Việt Nam 10

1.2 TỔNG QUAN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ 11

1.2.1 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ.11 1.2.2 Hiện trạng môi trường nước các đầm, hồ chính trong vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ 12

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

Trang 6

2.3.1 Phương pháp hồi cứu dữ liệu 15

2.3.2 Phương pháp ma trận đánh giá rủi ro 16

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 18

2.3.4 Phương pháp sơ đồ hóa 18

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 19

3.1 YẾU TỐ RỦI RO VÀ MỨC ĐỘ RỦI RO ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC CÁC ĐẦM, HỒ CHÍNH TRONG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ 19

3.2 DỰ BÁO, PHÂN NHÓM YẾU TỐ RỦI RO ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC CÁC ĐẦM, HỒ CHÍNH TRONG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ 30

3.3 TÁC ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ RỦI RO ĐẾN HỆ SINH THÁI ĐẦM, HỒ 36

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

1 Kết luận 40

2 Kiến nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BĐKH : Biến đổi khí hậu

EcoRA : Đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment)

Agency)

HACEM : Trung tâm quan trắc thành phố Hải Phòng (Haiphong Centre for

Environmental Monitoring)

and Resources)

Council of the United States)

PEMSEA: Chương trình khu vực xây dựng sự hợp tác trong quản lý môi trường

cho các biển Đông Á (Programme on Building Partnership in Environmental Management for The Seas of East Asia)

USEPA : Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (United States Environmental

Protection Agency)

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Số hiệu

3.6

Bản đồ thể hiện mức độ rủi ro và phân nhóm yếu tố rủi ro đối

với môi trường nước các đầm hồ chính trong vùng kinh tế

trọng điểm Trung Bộ

34

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầm, hồ có vai trò quan trọng trong đời sống con người cũng như góp phần tích cực trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước với các vai trò quan trọng: cấp nước sinh hoạt, phục vụ tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái, điều tiết nước, điều hòa vi khí hậu và đặc biệt là khả năng tiếp nhận và tự làm sạch nước thải [9] Tuy nhiên, đây lại là nơi xung yếu về môi trường, nhạy cảm về sinh thái nên dễ bị thay đổi bởi tác động của các hiện tượng tự nhiên cũng như các hoạt động khác nhau của con người [20]

Với sự ưu đãi của tự nhiên, vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ (VKTTĐ) tập trung nhiều đầm hồ lớn như đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế), đầm Thị Nại (Bình Định), hồ Phú Ninh (Quảng Nam), hồ Bàu Tràm (Đà Nẵng) Chúng đều có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội không chỉ đối với từng tỉnh mà còn của cả khu vực miền Trung và cả nước, nhất là đối với các ngành

du lịch, nông nghiệp và thủy sản [17] Tuy nhiên, các đầm hồ này đang dần suy thoái và có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng, nguy cơ tích tụ lượng chất thải qua nhiều năm có thể làm hồ mất khả năng tự làm sạch, mất đi chức năng điều tiết nước mưa [20], [10], gây ảnh hưởng lớn tới dịch vụ du lịch vốn là lĩnh vực tiềm năng và

là mũi nhọn kinh tế của vùng [17] Đứng trước nguy cơ đó, công tác quản lý và giám sát chất lượng môi trường được tăng cường với các phương pháp như tăng tần suất thực hiện quan trắc, sử dụng đánh giá tác động môi trường để sàng lọc những

dự án có nguy cơ gây ô nhiễm, thực hiện thu thuế phí, tuy nhiên nguy cơ gây ô nhiễm vẫn tiếp diễn Thực trạng này đang đặt ra những câu hỏi về tính hiệu quả của các công cụ quản lý cũng như sự minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường [19]

Trong khi đó, Đánh giá rủi ro sinh thái (EcoRA) là công cụ kỹ thuật đang được quan tâm và ứng dụng tại nhiều nước trên thế giới nhờ các hiệu quả do nó mang lại mà các công cụ khác không thực hiện được là xác định mức độ rủi ro của các yếu tố nguy hại, kể cả rủi ro tiềm tàng từ đó giúp cho các nhà quản lý đề ra phương án phòng ngừa, giảm thiểu thích hợp theo thứ tự ưu tiên góp phần đảm bảo chi phí - lợi ích hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Tại Việt Nam, công cụ này

Trang 11

cũng dần được quan tâm, ứng dụng trong một số công trình nghiên cứu, dự án triển khai có sự đầu tư và hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước [2], [21] Trong

đó, đánh giá rủi ro ban đầu vùng bờ Đà Nẵng là dự án đầu tiên ở nước ta có sử dụng công cụ EcoRA và đã đạt được một số kết quả đáng kể góp phần hoàn thiện quy trình quản lý ngay tại thành phố [21] Tuy nhiên, nghiên cứu kết hợp cùng với đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA) nên đánh giá rủi ro sinh thái chỉ được đánh giá sơ bộ và chỉ áp dụng cho một số khu vực được thực hiện đo đạc tại vùng bờ Đà Nẵng Xuất phát từ thực tiễn trên và để góp phần mở rộng đối tượng, phạm vi nghiên cứu tôi đã

thực hiện đề tài: “Đánh giá rủi ro sinh thái đối với môi trường nước các đầm, hồ

chính trong vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ” nhằm nhận dạng các yếu tố nguy

hại, mức độ và tác động của chúng đến hệ sinh thái đầm hồ và làm cơ sở cho việc

đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp và hiệu quả

2 Mục tiêu đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

phương đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro đối với môi trường nước các đầm, hồ chính VKTTĐ Trung Bộ

2.2 Mục tiêu cụ thể

Xác định yếu tố rủi ro tác động đến môi trường nước các đầm hồ và đối tượng chịu tác động của các yếu tố đó

Đánh giá và phân tích mức độ rủi ro, phân nhóm các yếu tố rủi ro

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài góp phần khẳng định tầm quan trọng, triển vọng và khả năng áp dụng công cụ Đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường ở nước ta Kết quả đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý môi trường có liên quan đề ra các biện pháp nhằm giải quyết và giám sát chất lượng môi trường nước các đầm hồ chính trong VKTTĐ Trung Bộ góp phần nâng cao năng lực quản lý, giám sát ô nhiễm môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Trang 12

3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI

1.1.1 Các khái niệm có liên quan

Mối nguy hại (Hazard) là những trường hợp, khả năng mà trong những tình

huống cụ thể có thể dẫn tới nguy hiểm (Royal Society, 1992) hoặc ảnh hưởng bất lợi trong những điều kiện cụ thể

Rủi ro (Risk) là sự kết hợp các xác suất, hoặc tần suất xảy ra của một mối nguy

hại xác định và mức độ hậu quả xảy ra (Royal Society, 1992) Rủi ro là sản phẩm của nguy hại, có thể xảy ra hoặc không thể xảy ra trong tương lai, nếu không xuất hiện nguy hại tiềm tàng thì cũng sẽ không có rủi ro Rủi ro bằng tần suất xảy ra nhân cho mức độ thiệt hại

Phân tích rủi ro (Risk analysis) là sử dụng những hệ thống thông tin có sẵn để

xác định các mối nguy hại và ước lượng rủi ro đối với cá nhân, quần thể, tài sản, hoặc môi trường Phân tích rủi ro bao gồm việc xác định các sự cố không mong muốn, các nguyên nhân và các hậu quả của các sự cố đó

Quản lý rủi ro (Risk management) là quá trình ra quyết định những rủi ro

không được phép chấp nhận và việc giảm nhẹ những rủi ro nên được thực hiện như thế nào Quản lý rủi ro bao gồm các thành phần về chính sách, tư vấn và kỹ thuật

Đánh giá rủi ro (Risk assessment) là một quy trình trong đó các rủi ro gây ra

bởi các mối nguy hại trong các quá trình hoặc các trường hợp được thường xuyên ước tính cả định tính và định lượng

Phơi nhiễm (Exposure) là sự tiếp cận với mối nguy hại hay là sự tiếp xúc của

các tác nhân sinh học, vật lý, hóa học với bên ngoài (bề mặt cơ thể) của sinh vật trong một thời gian xác định

Hệ sinh thái (Ecosystem) là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát

triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường

đó

Trang 13

1.1.2 Đánh giá rủi ro sinh thái

a Khái niệm: Đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment - EcoRA) là công cụ đánh giá khả năng gây tác động bất lợi ảnh hưởng đến hệ sinh thái do phơi nhiễm với một hay nhiều tác nhân được ước tính cả định tính và định lượng dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn và chỉ tiêu được chấp nhận, nó cung cấp thông tin cho các quyết định phòng ngừa rủi ro và đưa ra các biện pháp kịp thời, giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất

b Quy trình đánh giá rủi ro sinh thái

Đánh giá rủi ro sinh thái nhằm xác định và đánh giá mọi rủi ro tiềm ẩn trực tiếp và gián tiếp, ngắn, trung và dài hạn của các mối nguy hại đối với sức khỏe con người và môi trường Quy trình này bao gồm các bước: xác định nguy cơ có thể dẫn đến các tác động bất lợi, đánh giá hậu quả và khả năng xảy ra, xem xét các bằng chứng và ước lượng rủi ro [2], [6], [18] Trong đó, xác định nguy cơ là bước quan trọng, cần xem xét tổng thể để đảm bảo nhiều nguy cơ được xác định Các nguy cơ được xác định bằng nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào đối tượng được đánh giá

và người thực hiện đánh giá, có thể xác định bằng một số tiêu chí đã quy định trong pháp luật Đánh giá hậu quả chính là xác định mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy ra Mức độ thiệt hại được đánh giá thông qua quá trình so sánh với các mô tả về mức

độ ảnh hưởng đến môi trường, con người, phạm vi tác động theo không gian và thời gian Đánh giá khả năng xảy ra liên quan đến tần suất là xác định số lần xuất hiện trong một đơn vị thời gian sau đó so sánh với thang điểm được đề xuất Bước cuối

là ước lượng rủi ro, chính là sự kết hợp của khả năng xảy ra rủi ro và mức độ thiệt hại khi xảy ra rủi ro [15] Kết quả ước lượng rủi ro là cơ sở để lựa chọn và thực thi phương án quản lý rủi ro, để đảm bảo các rủi ro này được kiểm soát, hoặc giảm nhẹ tới một mức độ được cơ quan quản lý của quốc gia chấp nhận

Đề tài sử dụng khung đánh giá rủi ro sau:

Trang 14

5

Hình 1.1 Khung đánh giá rủi ro sinh thái áp dụng trong nghiên cứu [2, 18]

Kết quả đánh giá rủi ro sinh thái là nguồn thông tin trả lời các câu hỏi: Cái gì

có thể xảy ra? Tác hại nào sẽ xuất hiện nếu chúng xảy ra? Khả năng xảy ra như thế nào? Trong khi đó nội dung quản lý rủi ro dựa trên các kết quả của đánh giá rủi ro

và có thể được mô tả như là các câu trả lời cho các câu hỏi: Cần làm gì? Có thể làm gì? Cần làm như thế nào?

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái

Khái niệm Đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment - EcoRA) không phải là mới và từ lâu nó đã được áp dụng để góp phần giải quyết nhiều vấn

đề khác nhau, đặc biệt là các vấn đề sinh thái phức tạp đang gây tranh cãi tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, Canada và các nước khối cộng đồng châu Âu [28]

Đánh giá rủi ro bắt nguồn từ việc kinh doanh bảo hiểm ngành hàng hải tại Anh

và Hà Lan vào thế kỷ 17 với nhiệm vụ chính là phân tích số liệu thống kê về tần suất xuất hiện các hiện tượng, đưa ra xu hướng và đánh giá rủi ro nhằm đề xuất các hoạt động trong tương lai [29] Đến năm 1970, đánh giá rủi ro mới thực sự phát triển ở Mỹ và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình với việc thành lập cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA), ngay sau đó tổ chức này ban hành một loạt các luật về môi trường, các quy chế, quy định để hỗ trợ cho công cụ này Đánh giá rủi ro đã trở thành một phần quan trọng của công tác quản lí môi trường ở Mỹ cùng với các

Rủi ro nào có thể xảy ra?

Rủi ro xảy ra như thế nào?

(Xác định nguy cơ)

Khả năng rủi ro xảy ra? (Đánh giá nguy cơ)

Thiệt hại nghiêm trọng đến đâu ?

(Đánh giá hậu quả)

Mức độ rủi ro?

(Ước tính rủi ro)

Trang 15

nhiệm vụ pháp lý phục vụ cho việc đánh giá tác động môi trường Đến 1980, Viện khoa học quốc gia Hoa kỳ đưa ra nhiệm vụ, xem xét, quan tâm đánh giá rủi ro cho sức khỏe cộng đồng và đưa ra một chương trình quản lí rủi ro, đề xuất các lựa chọn

để giải quyết rủi ro USEPA tiếp tục đánh giá những tác động của con người lên các sinh vật khác và hệ sinh thái thông qua 3 phương pháp tiếp cận đánh giá: đánh giá tác động môi trường, đánh giá nguy hại và phát triển, ứng dụng các giá trị tiêu chuẩn [27] Từ đó “Đánh giá rủi ro” và “Đánh giá sinh thái” được sáp nhập thành

“Đánh giá rủi ro sinh thái” và được thể chế hóa cùng với sự phát triển cơ quan bảo

vệ môi trường của Mỹ Như vậy, về cơ bản, Đánh giá rủi ro sinh thái được phát triển từ Đánh giá rủi ro sức khoẻ, cả quy trình đánh giá và khái niệm tương tự nhau nhưng có lịch sử phát triển, hành pháp và chính sách ưu tiên khác nhau [29], [18] HRA quan tâm đến những cá nhân, cùng với tình trạng bệnh tật và số người tử vong, trong khi đó EcoRA lại chú trọng đến quần thể, quần xã và những ảnh hưởng của các chất lên tỷ lệ tử vong và khả năng sinh sản [4]

Năm 1983, khung Đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên được thiết lập bởi Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ (NRC), nó minh họa mối quan tâm đầu tiên của người đánh giá rủi ro sinh thái

Hình 1.2 Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên [29]

Giữa năm 1987 và 1990, USEPA cùng các tổ chức khác tiến hành một loạt các xem xét, hội thảo để thu thập thông tin (Noorton etal 1988; USTA 1989b, 1991a)

Lựa chọn các điểm kết thúc Lựa chọn các điểm bắt đầu

Mô tả môi trường

Đánh giá tính phơi nhiễm Đánh giá tác động

Đánh giá rủi ro

Trang 16

7

Hội thảo NRC 1991 và một số hội thảo khác xem xét, khuyến khích để hoàn thành một khuôn khổ cho tất cả các cơ quan của EcoRAs Khuôn khổ mới xác định các bước cụ thể của quá trình và mối quan hệ của chúng [31]

Năm 2005, các khung lý thuyết khác nhau của EcoRA tiếp tục được đề xuất, phổ biến và áp dụng tại nhiều quốc gia khác trên thế giới Tùy theo bối cảnh ứng dụng tại mỗi khu vực, quốc gia hay lĩnh vực nghiên cứu mà EcoRA có thể được tiếp cận với những cách khác nhau dựa trên những nguyên tắc cơ bản của phương pháp

1.1.4 Tình hình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường trên thế giới

Từ những năm 1980, Đánh giá rủi ro sinh thái đã được một số cơ quan chính phủ của các quốc gia trên thế giới ủng hộ mạnh mẽ với việc thành lập các tổ chức

và ban hành các chính sách, hướng dẫn liên quan đến Đánh giá rủi ro sinh thái (Patton, 1995) Nhiều nghiên cứu đã được công báo, sách và tạp chí khoa học giải thích chi tiết quá trình Đánh giá rủi ro sinh thái cũng được thực hiện (Suter, 1993; Molak, 1996) Mỹ được xem là quốc gia đi đầu trong Đánh giá rủi ro sinh thái và nó

đã trở thành một phần quan trọng trong công tác quản lí môi trường ở Mỹ Sau đó, công cụ Đánh giá rủi ro sinh thái được áp dụng ở nhiều nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Úc… trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu cùng với những cách tiếp cận khác nhau Hiện nay, có 4 vấn đề sinh thái có nguy cơ cao nhất là thay đổi môi trường sống, giảm đa dạng sinh học, suy giảm ôzôn trong tầng bình lưu và biến đổi khí hậu toàn cầu Các rủi ro như chất diệt cỏ, thuốc trừ sâu, hóa chất độc hại, và mưa axit là những vấn đề rủi ro trung bình Sự cố tràn dầu, ô nhiễm nước ngầm, hạt nhân phóng

xạ và ô nhiễm không khí có nguy cơ tương đối thấp [26] Với những vấn đề này,

hàng loạt các nghiên cứu ứng dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh thái đã được công báo cho thấy tầm quan trọng và mức độ ứng dụng của nó trên thế giới

Năm 2006, nghiên cứu Đánh giá rủi ro sinh thái của việc tích lũy sinh học của PCDD/FS và dioxin như PCB trong một đầm phá ven biển Venezia, Italy Đó là nghiên cứu thử nghiệm thành phần hợp chất dioxin trong trầm tích, nước và các sinh vật trong 6 khu vực đầm phá để xác định sự phân bố không gian của chất gây ô nhiễm Qua đó, một nguy cơ cao đã được tìm thấy cho sinh vật đáy và con trai,

Rủi ro nào có thể xảy ra?

Rủi ro xảy ra như thế nào?

(Xác định nguy cơ)

Khả năng rủi ro xảy ra? (Đánh giá nguy cơ)

Thiệt hại nghiêm trọng đến đâu ?

(Đánh giá hậu quả)

Mức độ rủi ro?

(Ước tính rủi ro)

Trang 17

trong khi rủi ro không đáng kể ước tính cho cá, người ta còn nhận thấy kết quả rủi

ro sinh thái cao ở phần trung tâm của khu vực đầm phá và thấp hơn phần đầm phá

phía Bắc [31]

Năm 2011, nghiên cứu Đánh giá rủi ro sinh thái xác suất cho 3 chlorophenols trong bề mặt vùng biển của Trung Quốc, người ta đã tiến hành đánh giá riêng lẻ và kết hợp các rủi ro tác động bất lợi đến hệ sinh thái thủy sinh của 3 chlorophenols

(CP), trong đó có 2,4 - dichlorophenol (2,4 - DCP), 2,4,6 - trichlorophenol (2,4,6 -

TCP) và pentachlorophenol (PCP) dựa trên nồng độ của CP có trong nước bề mặt

để xác định khả năng xảy ra các tác dụng phụ Nguy cơ tác dụng phụ hiệu ứng đã được kiểm tra là xác suất chung của các tiếp xúc và phản ứng Xác suất chung cho hỗn hợp CP và các loài ảnh hưởng là cao nhất, tiếp đến là PCP, và sau cùng là CP

đơn chất còn 2,4 - DCP và 2,4,6 - TCP được coi là chấp nhận được [23]

Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc là đánh giá rủi ro sinh thái cho các loài thủy sản khi tiếp xúc với chất gây ô nhiễm trong sông Keelung, Đài Loan Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá rủi ro đối với cá, côn trùng nước và sinh vật đáy chịu ảnh hưởng của các chất ô nhiễm trên sông để xếp hạng rủi ro sinh thái cho các hóa chất này 9 chất vô cơ và hữu cơ gây ô nhiễm đã được lựa chọn để đánh giá tác động đối với các loài thủy sản trên sông Keelung, kết quả cho thấy kẽm (Zn) và đồng (Cu) gây ra nguy cơ cao hơn ở những kim loại khác, trong khi COPCs hữu cơ

gây ra một nguy cơ đáng kể và rủi ro sinh thái tiềm tàng từ amoniac là lớn nhất [28]

1.1.5 Tình hình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đánh giá rủi ro sinh thái vẫn là một phương pháp tương đối mới, chưa được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu cũng như các báo cáo liên quan đến vấn đề môi trường và sinh thái Tuy nhiên, có 3 công trình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái đã được công báo bước đầu khẳng định được tầm quan trọng và khả năng ứng dụng công cụ này ở nước ta đó là đánh giá rủi ro ban đầu vùng bờ Đà Nẵng vào năm 2004 do Ủy ban nhân dân thành phố, Chương trình hợp tác khu vực trong quản lý môi trường và Biển Đông Á (PEMSEA) dưới sự hỗ trợ

Trang 18

9

của Quỹ môi trường toàn cầu Dự án đã xây dựng và phát triển một đường truyền rủi ro tại khu vực vùng bờ, xác định các tác nhân gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường góp phần giúp ích cho việc cải thiện và hoàn thiện quá trình đánh giá và quản lý rủi ro môi trường ngay tại thành phố [23]

Tiếp theo là nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái nước thải công nghiệp và rủi

ro sức khỏe do ô nhiễm không khí đối với công nhân giới hạn tại KCN Vĩnh Lộc và KCN Tân Thới Hiệp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung sẽ làm giảm rủi

ro của nước thải công nghiệp đối với môi trường nước mặt Đánh giá rủi ro không những giúp giảm thiểu ngăn ngừa được những vấn đề rủi ro về môi trường mà còn đạt được sự tối ưu về chí phí giảm thiểu thay vì chi phí xử lý và đền bù thiệt hại gây

ra [11]

Năm 2013 vừa qua, được sự hỗ trợ của các chuyên gia đến từ khoa Sinh thái học hệ thống – Đại học Stockholm Thụy Điển, Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) phối hợp với các đối tác trong nước (Viện tài nguyên

và môi trường biển – IMER, Trung tâm quan trắc môi trường thành phố Hải Phòng – HACEM, Ban quản lý VQG Cát Bà) thực hiện nghiên cứu thí điểm Đánh giá rủi

ro sinh thái tại xã Phù Long, huyện Cát Hải Các chuyên gia đã áp dụng thử nghiệm công cụ ERA để tính toán các thông số rủi ro đối với môi trường tự nhiên của rừng ngập mặn, khu Dự trữ sinh quyển Cát Bà và môi trường nuôi tôm của xã Phù Long

quả môi trường sinh thái với mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn và quản

lý hoạt động nuôi trồng thủy sản bền vững

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như nghiên cứu sử dụng độc tố sinh thái học trong việc cảnh báo sớm những nguy cơ sinh thái do ô nhiễm môi trường đối với các vùng nhạy cảm ven bờ Bình Định; Dự án ngăn chặn Sốt xuất huyết tại Việt Nam, một số phương pháp đánh giá rủi ro đã được áp dụng nhằm đánh giá tác động không mong muốn có thể xảy ra khi phóng thả muỗi Ades aegypti; hay công trình đánh giá một cách định tính định lượng các hình thức và quy mô sử dụng các vùng đất ngập nước làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp giảm

Trang 19

thiểu tác động, chia sẻ trách nhiệm, lợi ích trong bảo tồn giữa cộng đồng và vườn quốc gia Yok Đôn Những kết quả từ các nghiên cứu này cũng góp phần cho thấy tầm quan trọng, sự hiệu quả và khả năng ứng dụng EcoRA ở nước ta

1.1.6.Tầm quan trọng của công cụ đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường

Trong lĩnh vực môi trường, việc hướng tới mục tiêu xả thải ở mức không là không thực hiện được và chỉ có thể hài lòng với mức ô nhiễm môi trường với rủi ro

ở mức “chấp nhận được” (Fairman và cs, 2001) Hướng tới mức phát thải bằng

không hoặc sử dụng công nghệ tốt nhất có thể không đem lại hiệu quả và gây ra gánh nặng kinh tế quá mức đối với xã hội và ảnh hưởng xấu đến việc cung cấp thực phẩm và dịch vụ cho con người [23] Đánh giá rủi ro là một quá trình có tính hệ thống và rõ ràng, những kết quả đánh giá của nó, yếu tố nào gây ra rủi ro và làm thế nào để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro là cơ sở để cung cấp thông tin cho các nhà quản

lý môi trường và những người ra quyết định đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp nhất đảm bảo sự phát triển bền vững, góp phần cải thiện sức khỏe và bảo vệ môi trường, lựa chọn được giải pháp hiệu quả đối với các vấn đề môi trường ưu tiên, vừa cân nhắc giữa lợi ích và chi phí đối với xã hội cũng như sự thống nhất của các bên liên quan [23] Bên cạnh đó, các thông tin từ quá trình Đánh giá rủi ro sinh thái

có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhất là đối với công tác dự báo các tác động lớn đến

hệ sinh thái (HST) và môi trường từ các hoạt động sản xuất của con người hay các

dự án phát triển, giúp xác định các nguồn tài nguyên và sinh cảnh đang có rủi ro và phát hiện nguyên nhân gây ra rủi ro đó [5] Đặc biệt, việc xác định những lĩnh vực đáng quan tâm thông qua đánh giá rủi ro cũng ngăn ngừa những nổ lực trong việc giải quyết những vấn đề môi trường chưa cấp thiết

1.1.7 Khả năng áp dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh thái trong quản

lý môi trường ở Việt Nam

Đánh giá rủi ro sinh thái là một công cụ hữu hiệu và đang được ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên toàn thế giới Ở Việt Nam, công cụ này mới được áp dụng trong những năm gần đây với các công trình nghiên

cứu khoa học đã nêu ở mục 1.1.5 Tuy nhiên, trong nền kinh tế phát triển như Việt

Trang 20

11

Nam hiện nay, các nghiên cứu đánh giá rủi ro về sinh thái hiện có chưa đáp ứng yêu cầu BVMT đi đôi với việc phát triển kinh tế xã hội, mặc dầu, ở nước ta, EcoRA đã được khuyến khích sử dụng và dần dần quy định bắt buộc áp dụng trong một số lĩnh vực sau: Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động của BĐKH; giám sát du nhập các loài vật nuôi, cây trồng mới

Ðã đến lúc, đánh giá rủi ro sinh thái cần được nghiên cứu áp dụng rộng rãi hơn nhằm sử dụng hiệu quả các cơ sở dữ liệu môi trường thu thập được trong những năm qua, hoàn thiện các chương trình quan trắc môi trường trên cơ sở các thông tin quan trọng được xác định, tập trung vào những vấn đề ưu tiên, có nguy cơ gây rủi ro

cao, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho các đề xuất quản lý RRMT [4]

Tuy nhiên, cũng phải kể đến một số khó khăn gây cản trở cho quá trình áp dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh thái như: hệ thống thống kê, lưu trữ số liệu về môi trường, sức khỏe ở Việt Nam còn thiếu đồng bộ và không đầy đủ, số liệu quan trắc môi trường còn hạn chế về số lượng các thông số quan trắc, tần suất và vị trí quan trắc; trình độ nhận thức về các vấn đề sinh thái, môi trường, sức khỏe và các mối quan hệ nhân quả giữa các bên liên quan không đồng đều [21]; hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn dùng để so sánh, đánh giá chưa thực sự hoàn chỉnh Do đó để ứng dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh thái thật sự hiệu quả cần sự quan tâm đầu tư đúng đắn của nhà nước, các tổ chức, ban ngành trong và ngoài nước có liên quan

1.2 TỔNG QUAN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRUNG BỘ

1.2.1 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Trung

Bộ

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 5 đơn vị hành chính gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định với chuỗi 7 đô thị lớn là Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, Vạn Tường, Quảng Ngãi và Quy Nhơn Vùng này trải dài trên diện tích gần 28 nghìn km2 (8,5% diện tích tự nhiên cả nước) với tổng

số dân là 6,3 triệu người (7,4% số dân cả nước) Đây là vùng kinh tế lớn thứ 3 tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với định hướng phát triển kinh tế -

xã hội của khu vực miền Trung - Tây Nguyên mà còn có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của cả nước, với ngành kinh tế chủ đạo là kinh tế

Trang 21

biển gắn với công nghiệp và dịch vụ So với 2 VKTTĐ còn lại, vùng này nghèo hơn

về mặt hạ tầng và nhân lực nhưng lại có tiềm năng lớn về cảng biển và phát triển du lịch nghỉ dưỡng

Thế mạnh của vùng khá nhiều: nằm trên quốc lộ 1A chạy suốt từ Bắc vào Nam, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng không rất thuận lợi; hệ thống sân bay quốc tế phân bố khắp vùng: Đà Nẵng, Phú Bài, Chu Lai ; các cảng biển lớn như Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Vân Phong Đây còn là quê hương của bốn di sản và kiệt tác văn hóa của nước ta được UNESCO công nhận, bao gồm quần thể di tích cố đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế, phố cổ Hội An và thánh địa

Mỹ Sơn - đây chính là điều kiện thuận lợi cho du lịch của vùng phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đó, vùng KTTĐ miền Trung cũng còn nhiều hạn chế, đó là hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là các vùng nông thôn và cả vùng Chân Mây, Dung Quất Sản xuất công nghiệp nhỏ bé, thiếu vốn nên nhiều công trình, dự án đầu tư xây dựng và công tác xóa đói, giảm nghèo trong vùng gặp nhiều khó khăn, chậm tiến độ Kinh tế của vùng còn ở mức thấp, đời sống dân cư còn nghèo nàn nhất là

hơn mức trung bình cả nước

Từ thực tiễn tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Vùng KTTĐ Trung Bộ giai đoạn 2006 - 2010, tiếp cận từ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước đến năm 2020, Vùng đã xác định mục tiêu phát triển giai đoạn 2011- 2020 bao gồm các chỉ tiêu sau: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt khoảng 10 - 11%; tăng tỷ lệ đóng góp của Vùng trong GDP cả nước từ 5,28% năm 2010 lên 6,5 - 7% vào năm 2015; tăng giá trị xuất khẩu bình quân đầu người/năm từ 258 đô la Mỹ năm 2010 lên khoảng 1.000 đô la Mỹ năm 2020; phấn đấu mỗi năm giải quyết hơn 60.000 - 70.000 việc làm mới; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống khoảng 8% vào năm

Trang 22

13

như hồ Bàu Tràm, hồ Phú Ninh, hồ Phú Hòa hình thành nên những hệ sinh thái đặc thù, đa dạng và quan trọng như cỏ biển, đất ngập nước, bãi triều, là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật đồng thời là nơi dừng chân lý tưởng của các loài chim di

cư trú đông từ phương Bắc Hệ thống đầm phá nơi đây hoàn toàn có thể trở thành vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (điểm Ramsar) trong tương lai [16], tiêu biểu là vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai khi hệ sinh thái của nó được đánh giá cao về tính độc đáo và đa dạng về chủng loại với nguồn gen phong phú và nhiều loài thủy, hải sản nước lợ Theo các nghiên cứu trước đây cho thấy hệ thực vật đầm phá đã phát hiện được khoảng 400 loài: 250 loài thực vật phù du, 54 loài vi tảo đáy,

43 loài rong tảo,13 loài thực vật thủy sinh, 31 loài thực vật cạn Khu hệ động vật đã phát hiện được 445 loài trong đó: động vật nổi 66 loài, động vật đáy 76 loài, 230 loài cá và 73 loài chim [8], [13] Tuy nhiên đây lại là nơi có tính nhạy cảm rất cao, môi trường luôn có sự thay đổi theo không gian và thời gian, kéo theo các loài sinh vật phân bố trong đó cũng có sự biến động Đặc biệt là các loài cá, nguồn cung cấp thực phẩm cho người dân trong vùng và đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của vùng [7]

Trong những năm gần đây, việc đánh bắt ngày càng gia tăng, không có quy hoạch, cộng thêm những tác động khác của con người ảnh hưởng đến môi trường vùng ven biển nên đã làm cho nguồn lợi suy giảm đến mức báo động tại đầm Cầu Hai, đầm Thị Nại Tình trạng sử dụng mặt nước đầm hồ không có quy hoạch dẫn đến tình trạng ách tắc giao thông thuỷ và ảnh hưởng đến khả năng lưu thông của dòng chảy, khả năng tự làm sạch của lưu vực, vấn đề quy hoạch trong nuôi trồng thủy sản cũng đang có nhiều bất cập Đặc biệt, vấn đề xử lý nước thải, nước cấp cho các ao nuôi chưa được thực hiện đúng quy hoạch Vì vậy, để vừa đảm bảo hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường sinh thái, ngành tài nguyên môi trường đang phối hợp với các ngành để xây dựng những giải pháp mang tính thống nhất, đồng bộ, vừa mang lại lợi ích kinh tế, dân sinh và đảm bảo môi trường bền vững cho vùng đầm phá, ven biển [9] Đặc biệt là hai đầm phá lớn là đầm Cầu Hai

và đầm Thị Nại

Trang 23

Bên cạnh đó, do phải tiếp nhận nhiều chất thải từ tự nhiên và hoạt động con người nên từ lâu các hồ khu vực miền Trung cũng đã phát sinh một số vấn đề về môi trường nan giải Các hồ rơi vào tình trạng ưu dưỡng kèm theo nồng độ oxy hòa tan khá thấp, mật độ vi sinh vật lớn đặc biệt là hồ Phú Hòa (Bình Định) và hồ Bàu Tràm (Đà Nẵng) Nguyên nhân chủ yếu là do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, dịch vụ được xả trực tiếp hoặc gián tiếp vào hồ mà không qua xử lý Duy nhất chỉ có hồ Phú Ninh, Quảng Nam là vấn đề chất lượng nguồn nước và dung tích

hồ chứa hiện nay chưa phải là điều đáng lo ngại Giờ đây, nó không chỉ là công trình thủy lợi, thủy điện lớn nhất của Quảng Nam mà còn có nhiều chức năng khác, phục vụ lợi ích dân sinh, đặc biệt về du lịch Tuy nhiên, chúng ta cũng cần quan tâm nhìn lại một cách nghiêm túc về việc khai thác, bảo vệ nguồn nước này

Trang 24

15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng nước và hệ sinh thái các đầm hồ chính trong VKTTĐ Trung Bộ Nghiên cứu sử dụng công cụ Đánh giá rủi ro sinh thái đối với 12 thông số: COD, BOD5, TSS, N-NH4+, N-NO2-, N-NO3-, PO43-, Tổng Sắt, Pb, Cd, Coliform, dầu mỡ

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành đánh giá rủi ro sinh thái đối với môi trường nước 5 đầm hồ chính trong VKTTĐ Trung Bộ là đầm Cầu Hai (Thừa Thiên Huế), hồ Bàu Tràm (Đà Nẵng), hồ Phú Ninh (Quảng Nam), đầm Thị Nại, hồ Phú Hòa (Bình Định)

2.2 NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Thu thập, phân tích các tài liệu công cụ đánh giá rủi ro sinh thái, số liệu quan trắc môi trường nước các đầm, hồ chính trong VKTTĐ Trung Bộ

Xây dựng ma trận đánh giá rủi ro, xử lý số liệu, phân tích, đánh giá rủi ro đối với môi trường nước các đầm, hồ chính trong VKTTĐ Trung Bộ

Sơ đồ hóa mức độ rủi ro và phân nhóm yếu tố rủi ro

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp hồi cứu dữ liệu

Dữ liệu cho Đánh giá rủi ro sinh thái các đầm hồ chính trong VKTTĐ Trung

Bộ được lấy từ Báo cáo kết quả quan trắc môi trường VKTTĐ miền Trung từ năm

2005 - 2013, Báo cáo diễn biến môi trường vùng kinh tế trọng điểm miền Trung giai đoạn 2006 - 2010

Tiêu chuẩn sử dụng cho đánh giá rủi ro sinh thái này là QCVN 08:2008/BTMT, trong đó giá trị cột A2 được áp dụng để so sánh với giá trị trung bình của các thông số đo được nhằm xác định khả năng xảy ra Mức độ thiệt hại được xác định bằng cách so sánh với giá trị của từng cột A1, A2, B1, B2

Thu thập và tìm hiểu một số nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái trong và ngoài nước

Trang 25

2.3.2 Phương pháp ma trận đánh giá rủi ro

Nhằm xác định mức độ thiệt hại, tần suất xảy ra, phân nhóm yếu tố rủi ro đối với môi trường nước các đầm, hồ chính trong VKTTĐ Trung Bộ Phương pháp ma trận rủi ro được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Xác định khả năng xảy ra ô nhiễm dựa vào bảng 2.1 với 5 mức độ khả

năng xảy ra tương ứng với thang điểm từ 1 – 5

Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá khả năng xảy ra rủi ro đối với môi trường nước các

đầm, hồ chính trong vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ

hoặc nhiều hơn

“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2008), Tổng Cục Môi trường Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (2009)” [11], [18]

Bước 2: Xác định mức độ thiệt hại dựa vào bảng 2.2 với 5 mức độ thiệt hại

tương ứng với thang điểm từ 1 – 5

Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá mức độ thiệt hại đối với môi trường nước các đầm,

Khá nghiêm

Vượt cột B1 QCVN 08:2008/BTNMT

Gây thiệt hại đối với môi trường, biến đổi cấu trúc hệ sinh thái trong thời gian tương đối dài nhưng vẫn có khả năng phục hồi

Trang 26

08:2008/BTNMT

Có tác động nhưng tác động trong thời gian ngắn và chỉ gây ảnh hưởng đến một số cá thể/quần thể trong vùng

Đạt hoặc tốt hơn cột A1 QCVN

08:2008/BTNMT

Không có tác động hoặc tác động không đáng kể

“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2008), Tổng Cục Môi trường Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (2009)” [11],[18]

Bước 3: Xây dựng ma trận thang điểm rủi ro theo công thức

Rủi ro = tần suất xảy ra (frequency) x mức độ ảnh hưởng (consequence)

Bảng 2.3 Ma trận thang điểm rủi ro đối với môi trường nước các đầm, hồ chính

Khá nghiêm trọng (4)

Trung bình (3)

Đáng kể (2)

Không đáng kể (1)

“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2008)” [11]

Bước 4: Xác định mức độ rủi ro và phân nhóm yếu tố rủi ro

Trang 27

Bảng 2.4 Thang điểm đánh giá mức độ rủi ro đối với môi trường nước các đầm hồ

chính trong vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ

Nhóm yếu được chấp nhận rủi ro nhưng cần có biện pháp giảm thiểu

Nhóm yếu tố không được chấp nhận rủi

2.3.4 Phương pháp sơ đồ hóa

Sử dụng phần mềm Mapinfo 11.0 để thể hiện những thông tin về mức độ rủi

ro, phân nhóm yếu tố rủi ro tại các khu vực xác định trên bản đồ

MapInfo là hệ phần mềm GIS chuyên về quản lý dữ liệu và in ấn bản đồ với nhiều chức năng khác nhau Nhờ vào chức năng trao đổi dữ liệu với các phần mềm khác nhau (Import và Export) và chức năng mô tả các đối tượng bằng dữ liệu dưới dạng không gian và thuộc tính nên đề tài đã sử dụng phần mềm để vẽ bản đồ và biểu đồ thể hiện rõ kết quả nghiên cứu

Trang 28

19

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 YẾU TỐ RỦI RO VÀ MỨC ĐỘ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC CÁC ĐẦM, HỒ CHÍNH VKTTĐ TRUNG BỘ

Kết quả xác định các yếu tố rủi ro và mức độ rủi ro sinh thái đối với môi trường nước các đầm, hồ chính trong VKTĐ Trung Bộ là cơ sở cho các nhà quản lý môi trường và các tổ chức liên quan đề ra các phương án giải quyết và phòng ngừa rủi ro theo thứ tự ưu tiên mức độ rủi ro từ cao đến thấp nhằm đảm bảo cân bằng giữa trách nhiệm bảo vệ con người và môi trường với sự phát triển kinh tế

Từ các bảng đề xuất thang điểm trong phương pháp ma trận rủi ro kết hợp với các số liệu quan trắc chất lượng môi trường nước các đầm, hồ chính trong VKTTĐ miền Trung giai đoạn 2005 - 2013, nghiên cứu đã tiến hành xử lý số liệu, đánh giá, cho điểm và tổng hợp thang điểm từ 2 quá trình: xác định khả năng xảy ra, mức độ thiệt hại để cho kết quả ma trận rủi ro từ bảng 3.1 - 3.5 tại 5 vị trí đầm hồ tạo cơ sở cho việc xác định yếu tố rủi ro, mức độ rủi ro và diễn biến rủi ro do các thông số ô nhiễm đối với môi trường nước các đầm và hồ chính trong VKTTĐ Trung Bộ

Trang 29

Bảng 3.1 Ma trận rủi ro của các thông số ô nhiễm tại đầm Cầu Hai (Huế)

Rủi ro TB Rủi ro thấp Rủi ro thấp

Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thông số ô nhiễm tại đầm Cầu

Hai giai đoạn 2005 - 2013

Trang 30

21

Kết quả từ bảng 3.1 và biểu đồ hình 3.1 cho thấy, các yếu tố gây rủi ro tại đầm Cầu Hai gồm: TSS, N-NH4+, N-NO2-, dầu mỡ, coliform Trong đó dầu mỡ là yếu tố rủi ro gây rủi ro cao nhất với tần suất vượt quy chuẩn cho phép cột A2 (TCVN 08:2008/BTNMT) là 100%, hàm lượng trung bình vượt từ 5 - 6 lần so với quy chuẩn cho phép, thậm chí có thời điểm vượt quy chuẩn cho phép cột B2, nguyên nhân do sự gia tăng số lượng tàu thuyền lưu thông trên thủy vực ngày một nhiều

(CaoThị Thu Trang, Vũ Thị Lựu, 2010) Yếu tố gây rủi ro cao thứ 2 là TSS với mức

rủi ro TB và đang có xu hướng tăng rõ rệt với hệ số rủi ro năm 2012 là 4 đến năm

đến năm 2013 là rất thấp tuy nhiên hệ số rủi ro diễn biến không ổn định đặc biệt là N-NO2- với hệ số rủi ro dao động từ 1 – 20 trong giai đoạn từ năm 2008 – 2013 N-NH4+, coliform ít biến thiên hơn với hệ số rủi ro dao động từ 1 - 4 Nguyên nhân gây ra sự biến thiên phụ thuộc vào tải lượng các nguồn thải chủ yếu từ sinh hoạt của dân cư, khách du lịch, chăn nuôi gia súc, gia cầm, một phần từ nguồn thải công

nghiệp và nuôi trồng thủy sản có sự chênh lệch giữa mùa mưa và khô (Trần Đức Thạnh và cs, 2013) Đối với các thông số còn lại, ngoại trừ Pb, Cd, các chất hữu cơ

có mức độ rủi ro cao năm 2006, 2007 thì từ năm 2008 đến nay rủi ro do các thông

số này không đáng lo ngại với hệ số rủi ro tương đối ổn định, tần suất vượt quy chuẩn cột A2 bằng 0% và hàm lượng TB đạt quy chuẩn cho phép cột A1 cho mục đích cho cấp nước sinh hoạt Nhìn chung, chất lượng nước đầm Cầu Hai còn khá tốt, hàm lượng chất hữu cơ và KL nặng trong nước phù hợp với đời sống thủy sinh vật nhờ vào khả năng tự làm sạch của thủy vực còn khá tốt, đặc biệt trong mùa mưa

(Trần Đức Thạnh và cs, 2013)

Trang 31

Bảng 3.2 Ma trận rủi ro của các thông số ô nhiễm tại đầm Thị Nại (Bình Định)

Rủi ro TB Rủi ro thấp Rủi ro thấp

Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thông số ô nhiễm tại đầm Thị Nại

giai đoạn 2005 - 2013

Trang 32

23

Tương tự đầm Cầu Hai, kết quả phân tích trong bảng 3.2 và hình 3.2 tại đầm Thị Nại cho thấy các chỉ tiêu TSS, N-NH4+, dầu mỡ có khả năng gây rủi ro đối với

hệ sinh thái của đầm ở các mức độ khác nhau Xét theo diễn biến rủi ro giai đoạn

2005 - 2013 và mức độ rủi ro của từng chỉ tiêu trong những năm gần đây (2010 – 2013) thì dầu mỡ là yếu tố gây rủi ro cao nhất với hệ số rủi ro dao động từ 12 đến

20 và có xu hướng tăng dần mức độ, nguyên nhân là do hoạt động của các phương tiện vận tải thủy ngày một nhiều, đồng thời còn tiếp nhận nước thải trực tiếp từ nuôi

trồng thủy sản (Báo cáo diễn biến chất lượng môi trường miền Trung giai đoạn

2006 - 2010), đặc biệt là do các sự cố tràn dầu trên biển Quy Nhơn và nạn buôn lậu dầu tại cảng Quy Nhơn và cảng Thị Nại (Thu Dịu 2013, Theo vết dầu lậu) TSS là

yếu tố gây rủi ro cao thứ 2 sau dầu mỡ với mức độ rủi ro cao nhất vào năm 2006, giảm mạnh trong giai đoạn 2007 - 2008, sau đó tăng nhẹ trở lại từ năm 2009, đến năm 2013, mức độ rủi ro ở mức TB với tần suất vượt chuẩn cột A2 trên 50%, hàm lượng TSS trung bình vượt cả quy chuẩn cột B1 Nguyên nhân chủ yếu là do các nguồn thải từ sinh hoạt của dân cư và một phần từ nguồn thải nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng là nguồn thải trực tiếp N-NH4+ có mức độ gây rủi ro khá cao năm 2007, 2008 sau đó giảm dần mức độ và tiếp tục giảm trong những năm tiếp

(Cd, Pb, sắt tổng), Coliform không có rủi ro hay gây rủi ro ở mức rất thấp với mức

độ rủi ro cao nhất năm 2006 - 2007, giảm mạnh từ năm 2008 và tương đối ổn định trong giai đoạn từ năm 2008 – 2013 với hệ số rủi ro dao động từ 1 - 4, hàm lượng trung bình của các thông số này luôn đạt quy chuẩn cột A2, thậm chí có nhiều thời điểm đạt quy chuẩn cột A1 cho mục đích cấp nước sinh hoạt Nhìn chung, ngoài tình trạng ô nhiễm dầu mỡ nặng với mức rủi ro cao thì chất lượng nước đầm Thị Nại còn khá sạch

Ngày đăng: 26/06/2021, 17:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Hữu Cư (2010), Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Đánh giá chất lượng môi trường, lịch sử và xu thế một số thủy vực quan trọng làm cơ sở quản lý: các đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam và một số hồ có liên quan, Thƣ viện Bộ Nông nghiệp và PTNT-DT20101073 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng môi trường, lịch sử và xu thế một số thủy vực quan trọng làm cơ sở quản lý: các đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam và một số hồ có liên quan
Tác giả: Nguyễn Hữu Cư
Năm: 2010
[2] Trương Quang Học, Trương Uyên Ninh, Nguyễn Văn Tất, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Đình Cường (2011), Đánh giá các tác động không mong muốn có thể xảy ra khi phóng thả muỗi Aedes aegypti mang Wolbachia nhằm phòng chống Sốt xuất huyết tại Việt Nam, Dự án Ngăn chặn Sốt xuất huyết tại Việt Nam,tr.19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các tác động không mong muốn có thể xảy ra khi phóng thả muỗi Aedes aegypti mang Wolbachia nhằm phòng chống Sốt xuất huyết tại Việt Nam
Tác giả: Trương Quang Học, Trương Uyên Ninh, Nguyễn Văn Tất, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Đình Cường
Năm: 2011
[3] Hà Đức Hoài (2008), “Ủy ban kiểm tra thành ủy Nâng Cao Năng Lực Liên Kết Của Ba Kinh Tế Trọng điểm Bắc, Trung, Nam”, Cán bộ trẻ thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban kiểm tra thành ủy Nâng Cao Năng Lực Liên Kết Của Ba Kinh Tế Trọng điểm Bắc, Trung, Nam”
Tác giả: Hà Đức Hoài
Năm: 2008
[4] Lý Ngọc Minh (2010), Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng (LPG) ở Việt Nam, tr.11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng (LPG) ở Việt Nam
Tác giả: Lý Ngọc Minh
Năm: 2010
[5] Võ Văn Minh, Kiều Thị Kính, Đoạn Chí Cường, Nguyễn Văn Khánh, Vũ Thị Phương Anh, “Vai trò của đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường và khả năng ứng dụng tại Việt Nam”, Tạp chí Đại học Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường và khả năng ứng dụng tại Việt Nam”
[6] Trần Hiếu Nhuệ (2007), Nghiên cứu biên soạn tài liệu Đánh giá tác động môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Quản lý Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biên soạn tài liệu Đánh giá tác động môi trường
Tác giả: Trần Hiếu Nhuệ
Năm: 2007
[7] Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Chinh, Hồ Thị Hồng (2004), “Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá một số cửa sông ven biển miền Trung”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá một số cửa sông ven biển miền Trung”
Tác giả: Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Chinh, Hồ Thị Hồng
Năm: 2004
[8] Tôn Thất Pháp và cs (2009), Đa dạng sinh học ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nxb. Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Tôn Thất Pháp và cs
Nhà XB: Nxb. Đại học Huế
Năm: 2009
[9] Lê Sâm, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Đình Vƣợng (2011), Nghiên cứu hồ chứa theo quan điểm sinh thái, cách tiếp cận bền vững trong xây dựng các công trình chứa nước ở Việt Nam, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Tuyển tập KHCN 50 năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hồ chứa theo quan điểm sinh thái, cách tiếp cận bền vững trong xây dựng các công trình chứa nước ở Việt Nam
Tác giả: Lê Sâm, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Đình Vƣợng
Năm: 2011
[10] Hoài Thương (2012), “Bảo vệ môi trường nước vùng đầm phá”, Báo Thừa Thiên Huế, tr. kinh tế - môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường nước vùng đầm phá”
Tác giả: Hoài Thương
Năm: 2012
[11] Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009), Nghiên cứu bước đầu đánh gía rủi ro sinh thái và sức khỏe cho khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, trg 48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu bước đầu đánh gía rủi ro sinh thái và sức khỏe cho khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang
Năm: 2009
[13] Trần Đức Thạnh và cs (1996), Hệ sinh thái đầm phá Tam Giang Cầu Hai, Đề tài nhánh thuộc đề tài cấp nhà nước, Mã số KT- 03 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ sinh thái đầm phá Tam Giang Cầu Hai
Tác giả: Trần Đức Thạnh và cs
Năm: 1996
[18] Tổng Cục Môi Trường Cục Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học (2009), Phân Tích Rủi Ro Của Sinh Vật Biến Đổi Gen, Công ty Cổ phần TM & DV In Quang Hƣng [19] Trung tâm Khí tƣợng Thủy văn quốc gia, Đài Khí tƣợng Thủy văn Trung bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân Tích Rủi Ro Của Sinh Vật Biến Đổi Gen
Tác giả: Tổng Cục Môi Trường Cục Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học
Năm: 2009
[20] “Ảnh hưởng các nguồn thải đến đầm Thị Nại”, Tạp chí khoa học và công nghệ Bình Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng các nguồn thải đến đầm Thị Nại”
[23] Colin S.C, “Ecological risk assessment for aquatic species exposed to contaminants in Keelung River, Taiwan”, Institute of Biotechnology, National Kaohsiung Normal University, Kaohsiung 802, Taiwan Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Ecological risk assessment for aquatic species exposed to contaminants in Keelung River, Taiwan”, "Institute of Biotechnology, National Kaohsiung Normal University
[24] Hobday A.J and et al. (2011), “Ecological risk assessment for the effects of fishing, Fisheries Research”, Elsevier Publisher, 108: 372–384 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecological risk assessment for the effects of fishing, Fisheries Research”, "Elsevier Publisher
Tác giả: Hobday A.J and et al
Năm: 2011
[25] Micheletti. C, Critto. A, Marcomini. A, “Assessment of ecological risk from bioaccumulation of PCDD/Fs and dioxin-like PCBs in a coastal lagoon”, Ca Foscari University of Venice, Department of Environmental Science, Calle Larga S. Marta 2137, 30123, Venezia, Italy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of ecological risk from bioaccumulation of PCDD/Fs and dioxin-like PCBs in a coastal lagoon"”, Ca Foscari University of Venice, Department of Environmental Science
[26] Robert T. L, “Ecological Risk Assessment: Use, Abuse, and Alternatives”, U.S. Environmental Protection Agency Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Ecological Risk Assessment: Use, Abuse, and Alternatives”
[27] Committee on Environment and Natural Resources National Science and Technology Council (May 1999), “Ecological Risk Assessment in the Federal Government”, CENR/5-99/001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecological Risk Assessment in the Federal Government
[28] Robert T. Lackey, “The Future of Ecological Risk Assessment”, National Health and Environmental Effects Research Laboratory U.S Environmental Protection Agency Corvallis, Oregon 97333 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Future of Ecological Risk Assessment”, "National Health and Environmental Effects Research Laboratory U.S Environmental Protection Agency Corvallis

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm