Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển ngành chăn nuôi lợn thịt ở các xã ven thành phố Thái Nguyên.” em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
2.1.1 Vai trò và vị trí của chăn nuôi
Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, chiếm tỷ lệ khá lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân và kinh tế hộ gia đình Là một ngành tạo ra nguồn thực phẩm tươi sống, chế biến, đóng hộp và các chế phẩm phụ khác cho đời sống nhân dân và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Nói chung chăn nuôi có một số vai trò nổi bật như sau: a Cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người b Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
VD: Hiện nay thịt lợn là nguyên liệu chính cho các công nghiệp chế biến thịt xông khói, thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người Việt Nam như giò nạc, giò mỡ… c Cung cấp phân bón cho cây trồng, phân lợn, gà, bò… là một trong những nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì của đất, đặc biệt là đất nông nghiệp d Góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người Một số giống vật nuôi được tạo ra từ giống cũ để làm cảnh hoặc nuôi trong nhà e Chăn nuôi có thể tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học trong công nghệ sinh học y học Một số loại vật nuôi đã được nhân bản gen để phục vụ cho mục đích nghiên cứu nâng cao sức khỏe cho con người f Chăn nuôi làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình nông dân tăng khả năng chi tiêu trong gia đình Đồng thời thông qua chăn nuôi , người nông dân có thể an tâm đầu tư cho con cái học hành và các chi tiêu khác như cúng giỗ, cưới hỏi, ma chay g Một số là vật nuôi có thể coi như biểu tượng may mắn cho người Á Đông trong các hoạt động tín ngưỡng như “ Cầm tin tuổi hợi ” hay ở Trung Quốc có quan niệm lợn là biểu tượng của sự may mắn đầu năm mới
2.1.2 Đặc tính kỹ thuật của chăn nuôi
Sự thành bại của ngành chăn nuôi không chỉ có vấn đề kỹ thuật mà vấn đề đầu ra cũng đang là một yêu cầu bức thiết Sản phẩm làm ra đòi hỏi phải có giá thành hạ, chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu thị hiếu của người tiêu dùng là điều rất quan trọng Để chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế, đòi hỏi những nhà chăn nuôi cần có sự lựa chọn các giống vật nuôi thích hợp, những giống có giá trị cao về dinh dưỡng, khả năng sinh trưởng nhanh, trọng lượng xuất chuồng lớn, tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng trọng thấp là những giống vật nuôi đang được ưa chuộng hiện nay
Ngoài giống là yếu tố quyết định đến phẩm chất vật nuôi, khâu kỹ thuật chăm sóc cũng đóng vai trò không kém quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả kinh tế sau này Vì vậy để chăn nuôi thành công trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm như ở Việt Nam, người chăn nuôi cần nắm được những hiểu biết cơ bản về: Giống, sinh lý, đặc điếm sinh trưởng phát dục và kĩ thuật chăn nuôi lợn trong gia đình
Con nuôi dễ bị dịch bệnh, độ rủi ro cao do khí hậu, thời tiết thất thường, thiên tai bão lụt, hạn hán ảnh hưởng đến khả năng sản xuất Mặt khác giá cả đầu vào, đầu ra luôn biến động do cạnh tranh và cung cầu thị trường
Sản xuất hàng hóa theo lối công nghiệp đòi hỏi lượng thức ăn cao, nguồn vốn lớn, đặc biệt là vốn cố định để xây dựng chuồng trại chăn nuôi, Vốn ở đầu mỗi chu kỳ sản xuất là rất cần thiết Khi sản xuất thâm canh, chu kỳ sản xuất ngắn nên thu hồi vốn nhanh, hiệu quả vốn cao
Nhiều loại giống nhập ngoại giá thành cao, khó chủ động trong việc đáp ứng nhu cầu sản xuất Chưa kể đến các giống khi nhập về nhưng phải nuôi trong môi trường đặc biệt do không hợp với khí hậu thời tiết tự nhiên của nước ta
2.1.3 Đặc điểm chính của nghề chăn nước ta
Ngàng chăn nuôi ở nước ta chủ yếu lấy thành phẩm là thịt của các con nuôi để phục vụ nhu cầu lương thực Nuôi lợn, gà là một trong những ngành nghề truyền thống của nước ta, ở tất cả những vùng nông thôn đều có nuôi lợn, gà và được xem như là một hình thức tiết kiệm, tăng thu nhập của hộ gia đình Dần dần các trại chăn nuôi với quy mô lớn ngày càng xuất hiện nhiều và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi các con vật này được quan tâm hơn Cùng với việc công nghiệp hóa hiện đại hóa, các con vật như trâu, bò nay cũng được thay thế bằng các máy mọc Việc chăn nuôi các con vật trước đây để lấy sức kéo được thay bằng nuôi lấy thịt
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, nắng ấm, sản xuất cây lương thực, có nhiều loại ngũ cốc tạo ra nguồn thức ăn phong phú phù hợp với chăn nuôi đàn lớn Công nghiệp thức ăn gia súc phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, kết hợp với những giống có chất lượng cao mở ra hướng phát triển thuận lợi cho nghề nuôi
Tuy nhiên, do sản lượng thịt tăng nhanh trong khi lượng xuất khẩu hạn chế và mức tiêu dùng trong nước còn yếu, nên giá bán trên thị trường trong nước cũng bấp bênh, không ổn định
VD: Thông thường định kỳ khoảng 2-3 năm người nuôi lợn phải chịu cảnh rớt giá và thời gian rớt giá dài hay ngắn cũng biến đổi thất thường, giá thành sản xuất thịt lợn còn rất cao, nhất là ở các hộ chăn nuôi nhỏ
Vì vậy, muốn nghề chăn nuôi phát triển bền vững và ổn định đòi hỏi các nhà chăn nuôi phải có những cải tiến các khâu trong quá trình chăn nuôi Nhằm hạ giá thành, tăng chất lượng sản phẩm thịt để tồn tại trong quá trình hội nhập thương mại trong khu vực cũng như kích thích thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
2.1.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, biểu hiện của sự tập trung theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh
Hay nói cách khác, hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến việc xem xét sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được hoặc là hiệu quả kĩ thuật hoặc là hiệu quả phân phối thì mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt được hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt tiêu chuẩn cả hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế Hiệu quả kĩ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kĩ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kĩ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Hiệu quả phân phối là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân phối là hiệu quả kĩ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và giá cả đầu ra, vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình chăn nuôi trên thế giới
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của thế giới và Việt Nam Những thập kỷ qua, nhân loại chứng kiến sự thay đổi ngoạn mục của ngành hàng này cả về quy mô, phương thức sản xuất, năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, những thập niên tới, ngành chăn nuôi của thế giới sẽ phải thay đổi cách phát triển theo xu khác khi mà các nguồn lực, tài nguyên đất đai ngày càng cạn kiệt, biến đổi khí hậu đang diễn ra gay gắt trên toàn cầu Đô thị hóa có tác động đáng kể đến các mô hình tiêu thụ lương thực nói chung và nhu cầu đối với các sản phẩm chăn nuôi nói riêng Đô thị hóa thường kéo theo sự giảm diện tích sản xuất và dân số làm nông nghiệp, nhưng sẽ làm gia tăng tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi đông lạnh và chế biến
Một nguyên nhân dẫn đến tăng nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi là tăng trưởng thu nhập Từ năm 2020 đến năm 2050, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trên toàn cầu hàng năm ước tính 2,5% Khi thu nhập tăng, thì chi tiêu cho các sản phẩm chăn nuôi cũng sẽ tăng Tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục trong tương lai, dự báo ở mức từ 1,0 - 3,5%/năm Tăng trưởng tiêu thụ thịt, sữa ở các nước công nghiệp được dự đoán sẽ chậm hơn so với các nền kinh tế đang phát triển
Dự báo mức tiêu thụ thịt và sữa bình quân/người/năm ở các nước phát triển đến năm 2030 tương ứng là 89 và 209kg và đến năm 2050 tương ứng là
94 và 216kg Ở các nước đang phát triển đến năm 2030 tương ứng là 38 và 67kg, đến năm 2050 là 44 và 78kg
Tổng mức tiêu thụ thịt, sữa ở các nước phát triển đến năm 2030 tương ứng là 121 triệu tấn và 284 triệu tấn, đến năm 2050 là 126 và 295 triệu tấn Còn ở các nước đang phát triển, tổng mức tiêu thụ thịt và sữa đến năm 2030 tương ứng là 252 và 452 triệu tấn; đến năm 2050 là 326 và 585 triệu tấn
Phát triển hệ thống chăn nuôi trong những thập kỷ tới chắc chắn sẽ liên quan đến sự cân bằng giữa an ninh lương thực, nghèo đói, bình đẳng, bền vững môi trường và phát triển kinh tế Trong lịch sử, sự phát triển chăn nuôi được đặc trưng bởi hệ thống sản xuất cũng như sự khác biệt ở các khu vực trên thế giới Hệ thống sản xuất chăn nuôi công nghiệp ở các nước phát triển đã góp phần gia tăng sản phẩm thịt gia cầm và thịt lợn trên thế giới, và các hệ thống sản xuất này đang được thiết lập ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng Ước tính ít nhất 75% tổng tăng trưởng sản xuất đến năm 2030 sẽ nằm trong các hệ thống chăn nuôi công nghiệp, nhưng sẽ có ít sự tăng trưởng của hệ thống này ở các nước châu Phi Trong khi sự tăng trưởng sản lượng cây trồng chủ yếu do tăng năng suất chứ không phải từ việc mở rộng diện tích, thì việc gia tăng sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng lên nhờ vào việc mở rộng số lượng vật nuôi ở các nước đang phát triển, đặc biệt là động vật nhai lại Giá các loại cây lương thực thực phẩm có khả năng tăng với tốc độ nhanh hơn so với giá của các sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên, việc sản xuất thức ăn thay thế cho động vật nhai lại trong các hệ thống trồng trọt và chăn nuôi hỗn hợp có thể bị hạn chế bởi cả đất và nước, đặc biệt là các hệ thống tưới tiêu
Dự báo sự gia tăng đáng kể nhu cầu lương thực sẽ có tác động sâu sắc đối với hệ thống chăn nuôi trong những thập kỷ tới Ở các nước phát triển, tăng trưởng năng suất sẽ góp phần tăng tỷ trọng tăng trưởng sản xuất chăn nuôi khi việc mở rộng quy mô sẽ chậm lại
Giá thịt, sữa và ngũ cốc có khả năng tăng trong những thập kỷ tới, đảo ngược đáng kể xu hướng trong quá khứ Sự tăng trưởng nhanh chóng về nhu cầu thịt và sữa có thể làm tăng giá ngô và các loại ngũ cốc thô và các loại nguyên liệu thức ăn khác
Ngành sản xuất nông nghiệp đang phục vụ ngày càng nhiều cho chế độ ăn toàn cầu hóa Việc bán lẻ qua các siêu thị tăng 20% mỗi năm ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam, và điều này sẽ tiếp tục trong vài thập kỷ tới khi người tiêu dùng đô thị cần nhiều thực phẩm chế biến hơn, do đó gia tăng vai trò của kinh doanh nông nghiệp Rõ ràng, xu hướng sử dụng thực phẩm giàu protein ngày càng cao, và như vậy, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển là điều dễ hiểu
Dự báo trong các thập kỷ tới, chăn nuôi của thế giới sẽ phát triển theo hướng nâng cao chất lượng; sản xuất thực phẩm hữu cơ; thân thiện với môi trường và coi trọng phúc lợi động vật Nhu cầu tiêu dùng các loại thực phẩm hữu cơ tiếp tục tăng cao nên doanh số bán các loại mặt hàng này trên thị trường toàn cầu tăng bình quân 12-13%/năm trong những năm qua và xu hướng tiêu dùng này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai
Thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ lớn nhất là Mỹ với 24,4 tỷ USD, trong khi nước tiêu thụ loại thực phẩm này theo đầu người hàng năm lớn nhất là Thụy Sĩ (204 USD) Hiện đã có một số công ty lớn trên thế giới liên kết với người chăn nuôi để tạo dựng thị trường thực phẩm hữu cơ ổn định
Do áp lực từ các tổ chức xã hội, nhiều tập đoàn chăn nuôi đa quốc gia, công ty phân phối và chế biến thực phẩm đều đang thực hiện cải thiện phúc lợi động vật bằng việc thay đổi dần các quy trình sản xuất
Phần lớn người tiêu dùng ở các nước phát triển đều quan tâm đến phúc lợi động vật và họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho những động vật có xuất xứ từ trang trại nuôi dưỡng được đảm bảo tính nhân đạo
Ngành chăn nuôi toàn cầu được đánh giá vừa là tác nhân gây ô nhiễm môi trường vừa là đối tượng chịu hậu quả của ô nhiễm môi trường do chính ngành này gây ra Theo các nhà khoa học, hành tinh chúng ta đang sống không khác gì một trang trại khổng lồ vì 40% diện tích bề mặt trái đất được sử dụng để sản xuất thực phẩm cho con người Ước tính ngành chăn nuôi phát thải khoảng 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính của con người, gần như tương đương với lượng khí thải trực tiếp từ giao thông vận tải
Tại các nước đang phát triển ngành này đóng góp tỷ lệ hiệu ứng nhà kính cao nhất, trong đó 75% từ hoạt động chăn nuôi động vật nhai lại và 56% từ chăn nuôi gia cầm và heo Do đó, thịt heo và gà luôn được đánh giá là “thân thiện môi trường” nhất khi tỷ lệ hiệu ứng nhà kính là 10%
2.2.2 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam Ở Việt Nam sự phát triển của ngành chăn nuôi cùng với việc thu nhập của người lao động tăng, dẫn đến thay đổi lớn trong cách chi tiêu Theo một tính toán của Ngân hàng Thế giới, tổng chi tuyệt đối cho gạo giảm 4% trong khi chi cho thịt và sữa tăng gấp đôi Tại khu vực đô thị, chi tiêu cho gạo giảm từ 25%
(2002) xuống còn khoảng 17,2%, trong khi chi cho sản phẩm chăn nuôi tăng từ 32,7% lên 37,8% trong cùng kỳ Tại khu vực nông thôn, chi tiêu cho gạo giảm từ 38,9% xuống 25,4% và chi cho sản phẩm chăn nuôi tăng từ 23,4% lên 34% Chăn nuôi Việt Nam hiện đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, sau khi nước ta gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Những cơ hội và thách thức sẽ xuất hiện cả trên thị trường nội địa và quốc tế Nhưng muốn cạnh tranh hiệu quả thì ngành chăn nuôi nước ta phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cả về phương thức tổ chức sản xuất, quy mô, công nghệ và thị trường tiêu thụ Trong đó tập trung giải quyết các điểm yếu về năng suất, chất lượng sản phẩm, VSATTP, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và mở rộng thị trường xuất khẩu
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu tình hình phát triển chăn nuôi lợn thịt của các nông hộ trên địa bàn các xã ven thành phố trên cơ sở đã nghiên cứu kỹ các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng như: tài nguyên đất, nước… và tình hình dân số lao động trong vùng, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ, cơ chế chính sách đối với các hộ chăn nuôi
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng phát triển của ngành chăn nuôi lợn thịt của các hộ gia đình thuộc các xã ven Thành phố Thái Nguyên
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các xã ven Thành phố Thái Nguyên.
Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên
- Tìm hiểu các hộ và trang trại chăn nuôi trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Các thuận lợi khó khăn của ngành chăn nuôi trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Đề xuất giải pháp phát triển ngành chăn nuôi các xã vùng ven TP Thái Nguyên
Phương pháp thu thập thông tin
* Phương pháp thu thập số liệu:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các thông tin được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như: các tài liệu nghiên cứu, sách, báo, tài liệu thống kê, internet,…
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp xử lý, phân tích và tổng hợp số liệu
+ Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu
Số liệu điều tra sau khi thu thập đầy đủ, rà soát và chuẩn hóa lại thông tin, loại bỏ thông tin không chính xác, sai lệch trong điều tra và chuẩn hóa lại các thông tin Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, phân tổ Việc xử lý thông tin là cơ sở cho việc phân tích
+ Phương pháp phân tích số liệu
Là một phương pháp nghiên cứu dùng để giải thích nội dung dữ liệu thông qua quá trình phân loại, sắp xếp mã và xác định chủ đề hay mô thức
+ Phương pháp phân tích SWOT Để xác định những mặt mạnh, yếu, triển vọng và rủi ro của một điều kiện sản xuất, một đặc điểm kinh tế xã hội nào đó trong một thời gian nhất định của một làng, xã, cộng đồng hay một tổ chức, một nông hộ
+ Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự nào đó : lập theo vần của tên, hoặc theo quy mô, hoặc theo địa chỉ…, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách; rồi rút thăm, quay số, dùng bảng số ngẫu nhiên, hoặc dùng máy tính để chọn ra từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Tình hình cơ bản của thành phố Thái Nguyên
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên
4.1.1.1 Địa hình, đất đai Địa hình của thành phố Thái Nguyên được coi như miền đồng bằng riêng của tỉnh Thái Nguyên Ruộng đất tập trung ở hai bên bờ sông Cầu và sông Công được hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hai con sông này Tuy nhiên, vùng này vẫn mang tính chất, dáng dấp của địa mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích (đất dốc tụ) Khu vực trung tâm thành phố tương đối bằng phẳng, địa hình còn lại chủ yếu là đồi bát úp, càng về phía Tây bắc thành phố càng có nhiều đồi núi cao
Nhìn chung, địa hình thành phố khá đa dạng phong phú, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đô thị, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mặt khác tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp phù hợp với kinh tế trang trại kết hợp giữa đồi rừng, cây ăn quả và các loại cây công nghiệp khác như chè, các loại cây lấy gỗ
So với diện tích đất tự nhiên thì tổng diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 3.125,35ha, chiếm 17,65% so với tổng diện tích tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua, glây yếu có 100,19ha, chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bổ chủ yếu ở phường Phú Xá; đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua có 379,84ha, chiếm 2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất (Pcb1) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ có 271,3ha, chiếm 1,53%; đất (Pcb2) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nặng có 545,6ha, chiếm 3,08% Đất đai thổ nhưỡng là một trong những yếu tố hết sức quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, là căn cứ để xác định cây trồng và cơ cấu cây trồng hợp lý
Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đông bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh giá ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Do đặc điểm địa hình của vùng đã tạo cho khí hậu của thành phố có những nét riêng biệt
Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.617 giờ Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5˚C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 7 là 28,5˚C, thấp nhất vào tháng 1 là 15,5˚C Lượng mưa trung bình hàng năm 2.025,3mm Lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, có chênh lệnh lớn giữa mùa mưa và mùa khô Về mùa mưa cường độ lớn, lượng mưa chiếm 87% tổng lượng mưa trong năm (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó, riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm nên đôi khi gây ra tình trạng lũ lụt lớn Thành phố có độ ẩm không khí cao, độ ẩm trung bình năm là 82% Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 gió đông nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nóng ẩm mưa nhiều Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít thời tiết khô hanh
Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông-lâm nghiệp và là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
Trên địa bàn thành phố có sông Cầu chạy qua địa bàn, con sông này bắt nguồn từ Bắc Kạn chảy qua thành phố ở đoạn hạ lưu dài khoảng 25 km, lòng sông mở rộng từ 70 – 100m Về mùa lũ lưu lượng đạt 3500 m³/giây, mùa kiệt 7,5 m³/giây
Sông Công chảy qua địa bàn thành phố 15 km, được bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá thuộc huyện Định Hoá Lưu vực sông này nằm trong vùng mưa lớn nhất của thành phố, vào mùa lũ, lưu lượng đạt 1.880 m³/giây, mùa kiệt 0,32m³/giây Đặc biệt, trên địa bàn thành phố có Hồ Núi Cốc (nhân tạo) trên trung lưu sông Công, có khả năng trữ nước vào mùa mưa lũ và điều tiết cho mùa khô hạn.
Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên
4.2.1 Tình hình dân số và lao động
Dân số trung bình của thành phố Thái Nguyên năm 2018 là 367134 người dân số trong độ tuổi lao động của thành phố là 245980 người, bằng 67% tổng dân số toàn thành phố
4.2.2 Tình hình sử dụng đất đai Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được, đất đai vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động
4.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Về giao thông đường bộ: hiện có 3 tuyến quốc lộ chạy qua thành phố (QL
3, QL1B và QL37) Tháng 11 năm 2009, thành phố đã khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, con đường này sẽ tạo điều kiện cho thành phố trở thành đầu mối vận chuyển hàng hoá, vật tư rất quan trọng đối với tỉnh và vùng trung du miền núi Bắc bộ Thành phố đang xây dựng Bến xe khách Trung tâm và Bến xe phía Nam, phía Bắc thành phố Hệ thống đường nội thị được thành phố quan tâm đầu tư xây dựng hoàn chỉnh theo quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt
Về giao thông đường sắt: hiện có 4 sân ga, diện tích 13,3 ha, Ga Thái Nguyên là một trong những ga vận chuyển hàng hoá và hành khách quan trọng của tuyến đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên Lưu lượng tàu chạy qua với một chiều đi và một chiều về hàng ngày; lưu lượng vận chuyển hành khách khoảng 150.000 khách/năm Hệ thống đường sắt của Thái Nguyên gồm 3 tuyến chính với tổng chiều dài trên địa bàn Tỉnh là 98,55 km ( bao gồm tuyến Quan Triều –
Hà Nội dài 75km, tuyến Thái Nguyên – Kép dài 57 km phục vụ vận chuyển gang thép, tuyến Quan Triều – Núi Hồng qua Đại Từ dài 39km phục vụ vận tải than) Khá thuận tiện cho việc tổ chức liên kết vận tải đường bộ, đường sắt và đường sông
Thành phố Thái Nguyên có hệ thống lưới điện 220, 110KV khá phát triển Nguồn cung cấp điện cho thành phố hiện nay do điện lực Thái Nguyên quản lý là nguồn điện lưới quốc gia, lấy từ các tuyến Thái Nguyên – Bắc Giang; Thái Nguyên – Tuyên Quang, với hệ thống đường dây cao thế 110KV, 220KV thông qua đường hạ thế 35KV- 12KV- 6KV/380V/220V
Hệ thống chiếu sáng của thành phố Thái Nguyên tương đối hoàn chỉnh, nguồn điện được cung cấp cho khoảng 146 trạm với tổng công suất 1.078W, chiếu sáng khoảng 153 tuyến đường với chiều dài 168 km
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm giáo dục đào tạo lớn thứ 3 cả nước sau thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống trường lớp được sắp xếp và đầu tư xây dựng ngày càng khang trang hơn với tổng diện tích khoảng 295,7 ha, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học được tăng cường Cơ cấu các ngành học được nâng cấp bổ sung Ngoài hệ thống giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá, đã hình thành nhiều loại hình đào tạo như các lớp dạy nghề, trung tâm ngoại ngữ, tin học, các lớp kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp…phong phú, đa dạng, tạo điều kiện cho ngành giáo dục đào tạo phát triển cả về quy mô và chất lượng
Ngoài hệ thống giáo dục phổ thông, trên địa bàn thành phố có hệ thống các trường đại học, cao đẳng, THCN và dạy nghề do trung ương và địa phương quản lý Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên có 6 cơ sở đào tạo thuộc cấp đại học (diện tích 172,58 ha) và 11 cơ sở đào tạo thuộc cấp cao đẳng (diện tích 41,16 ha) với tổng số trên 2.500 giáo viên tham gia giảng dạy hàng nghìn sinh viên Hiện trên địa bàn thành phố có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên gồm 4.269 học sinh và 29 giáo viên và 1 trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp – dạy nghề cùng các trung tâm học tập cộng đồng và
5 trung tâm dịch vụ việc làm cho số học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, tỉnh và các tỉnh lân cận
Trong những năm qua, thành phố tập trung các nguồn lực để hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển mạng lưới đô thị và điểm dân cư tập trung theo hướng hiện đại Đặc biệt là các khu đô thị mới 2 bên bờ sông Cầu, sẽ là điểm nhấn để phát triển thành phố bên bờ sông đang dần trở thành hiện thực Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng được tập trung chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả Đến nay, gần như toàn bộ diện tích đất nội thị đã được lập quy hoạch chi tiết xây dựng Đối với các xã ngoại thị, trung tâm các xã đã và đang được lập quy hoạch chi tiết Việc quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch được duyệt được thực hiện tương đối tốt Khu dân cư nông thôn của thành phố được phân bố ở 8 xã Với phong tục, tập quán có từ lâu đời, các điểm dân cư nông thôn thường được hình thành và phát triển dọc theo các tuyến giao thông chính, gần nguồn nước, nơi có địa hình bằng phẳng, thuận tiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Hệ thống cơ hạ tầng như trụ sở UBND xã, trường học, sân thể thao, bưu điện văn hoá… tập trung chủ yếu ở trung tâm các xã
Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn đang ngày càng được cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống vật chất tinh thần của người dân
Năm 2016, thành phố Thái Nguyên đạt các chỉ tiêu kinh tế như sau: Tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất năm 2016 đạt 15,5% Trong đó: - Giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt 15.130 tỷ đồng, tăng 18,1% - Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt 38.903 tỷ đồng, tăng 15% - Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.202 tỷ đồng, tăng 5% - Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương (theo giá so sánh 2010) năm 2016 ước đạt 6.300 tỷ đồng, vượt 1,6% so với kế hoạch - Thu ngân sách: năm 2017 đạt 2.500 tỷ đồng
8 tháng đầu năm 2017, thành phố đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 15,1% GDP bình quân đầu người đạt 80 triệu đồng/người/năm Thu ngân sách 8 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1.900 tỷ đồng Tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 30 nghìn tỷ đồng
Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng phát triển kinh tế năng động của tỉnh Thái Nguyên (bao gồm TP Sông Công và TX Phổ Yên), là trung tâm công nghiệp lâu đời với trung tâm công nghiệp Gang Thép Ngoài ra thành phố còn có tiềm năng lớn để phát triển du lịch, với Hồ Núi Cốc, các di tích lịch sử, cách mạng Thành phố Thái Nguyên có đội ngũ cán bộ, công nhân có kinh nghiệm, năng lực, trình độ cao và đội ngũ sinh viên tốt nghiệp hàng năm từ các trường Đại học, chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố
Thực trạng chăn nuôi lợn thịt thành phố Thái Nguyên
Hoạt động chăn nuôi nói chung trong những năm qua không ngừng được quan tâm, chú trọng nhằm nâng vị trí của ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố Các chương trình phát triển chăn nuôi, mô hình trình diễn lần lượt ra đời để hướng dẫn và khuyến khích các hộ phát triển chăn nuôi theo hướng thâm canh sản xuất hàng hóa
.Các dự án đa dạng hóa nông nghiệp, Đề án phát triển chăn nuôi tổng hợp…cùng với việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân và bước đầu được người dân ứng dụng vào sản xuất Do đó, kết quả chăn nuôi trong những năm gần đây đã đạt được mức tăng trưởng khá, chất lượng đàn vật nuôi từng bước cải thiện
4.3.2 Nguồn lực sản xuất của các hộ chăn nuôi
Nhân khẩu và lao động là yếu tố liên quan đến nguồn lực cho quá trình sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình Trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, hoạt động chăn nuôi do các hộ gia đình đảm nhận Trong đó, quyết định của chủ hộ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của từng hộ
Năng lực của chủ hộ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, khả năng chọn lựa các biện pháp đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động chăn nuôi
Với số lượng người trong độ tuổi tăng theo từng năm, lượng lao động đông ,trình độ văn hóa của các hộ ở đây hầu hết đều ở mức khá Điều này ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức và khả năng tiếp thu, áp dụng các biện pháp kỹ thuật, từ đó ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động sản xuất
Một số xã trong thành phố như Thịnh Đức, Phúc Xuân, Phúc Trìu…hoạt động chăn nuôi đã gắn bó với người nông dân từ lâu nay, kèm theo đó là sự đầu tư để chăn nuôi thành các trang trại lớn giúp cho ngành chăn nuôi của thành phố thực sự phát triển trong những năm gần đây Để đánh giá năng lực của chủ hộ điều tra, trong thời gian thực tập, em đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên 50 hộ ở 3 vùng Đó là Thịnh Đức, Phúc Xuân, Phúc Trìu của thành phố Thái Nguyên Thông qua cuộc điều tra chăn nuôi hàng năm của Chi cục thống kê TP Thái Nguyên Thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.2 Nhân khẩu và lao động của các hộ chăn nuôi lợn thịt năm 2018
(Nguồn : Số liệu điều tra nông hộ năm 2018)
Chỉ tiêu ĐVT Thịnh Đức Phúc Xuân Phúc Trìu
1 Số hộ điều tra Hộ 17 15 18
3.Số nhân khẩu /hộ Khẩu/ hộ 5,0 4,53 4,67
4.Số lao động /hộ Lđ/hộ 3,82 3,67 3,67
5 Tuổi BQ của chủ hộ Tuổi 44,82 46,2 44,17
6.Trình độ văn hóa của chủ hộ Lớp 8,00 6,47 7,67
Số liệu cho thấy, tuổi trung bình của chủ hộ nuôi lợn thịt là 45 tuổi, trong đó vùng Thịnh Đức là 44,82 tuổi, vùng Phúc Xuân là 46,2 tuổi, vùng Phúc Trìu là 44,17 tuổi Đây là độ tuổi có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, đồng thời cũng có đủ sức khỏe để có thể đảm đương các công việc, lại tích lũy được một lượng vốn cho hoạt động này
Trình độ văn hóa bình quân của các chủ hộ là 7,42 năm; trong đó vùng
Thịnh Đức là 8 năm, vùng Phúc Xuân là 6,47 năm, vùng Phúc Trìu là 7,67 năm Trình độ văn hóa của các hộ ở đây hầu hết đều ở mức khá Điều này ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức và khả năng tiếp thu, áp dụng các biện pháp kỹ thuật, từ đó ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động sản xuất nói chung và hoạt động nuôi lợn thịt nói riêng
Thành phố Thái Nguyên cũng như các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, hoạt động nuôi lợn đã từ lâu, nhưng nuôi lợn thịt chỉ thực sự phát triển mạnh hơn 10 năm trở lại đây Số năm kinh nghiệm bình quân của các hộ là 6,63 năm Trong đó vùng Thịnh Đức là 7,13 năm, vùng Phúc Xuân là 6,34 năm Vùng Phúc Trìu là 6,39 năm Vì thế hầu hết các hộ nông dân đã có một số kinh nghiệm cơ bản về chăn lợn thịt Trong 50 hộ điều tra của thành phố Thái Nguyên, số bình quân nhân khẩu/hộ là 4,74; trong đó ở vùng Thịnh Đức là 5 người, vùng Phúc Xuân là 4,53 người, vùng Phúc Trìu là 4,67 người, số nhân khẩu bình quân trên hộ khá cao Đây là đặc trưng cơ bản của các vùng nông thôn mà sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, cung cấp một lượng lao động đông đảo song cũng có nhiều khó khăn trong việc ổn định cuộc sống và giải quyết việc làm Lao động bình quân của hộ điều tra là 3,72 người Trong đó ở vùng Thịnh Đức là 3,82 người, vùng Phúc Xuân và vùng Phúc Trìu là 3,67 người Đây là một nguồn lao động dồi dào cho hoạt động nuôi lợn thịt Do hoạt động nuôi lợn thịt của các chủ hộ diễn ra trong suốt năm, mỗi năm nuôi được 3-3,5 lứa, mỗi lứa nuôi trong vòng 3-4 tháng Vì vậy, có thể tận dụng được thời gian nhàn rỗi, quay vòng vốn nhanh tạo ra lợi nhuận đáng kể cho các hộ
4.3.3 Tình hình đất đai của các nông hộ điều tra
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu và không thể thay thế được Trong trồng trọt, đất đai là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động Đối với chăn nuôi, đất đai vừa là nơi xây dựng chuồng trại, vừa là nơi sản xuất thức ăn chăn nuôi Như vậy, đất đai vừa có ảnh hưởng trực tiếp vừa có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động chăn nuôi của các nông hộ Đất đai của các nhóm hộ có sự khác biệt Để thấy được điều đó, ta xem xét bảng số liệu sau đây
Bảng 4.3 Quy mô và cơ cấu đất đai của các hộ chăn nuôi điều tra năm 2018
(tính bq/hộ) Loại vùng
Thịnh Đức Phúc Xuân Phúc Trìu BQC
Nguồn: Số liệu điều tra nông hộ năm 2018
Qua số liệu điều tra cho thấy tổng diện tích đất giữa các nhóm có sự chênh lệch, bình quân mỗi hộ ở Thịnh Đức là 11.824,02 m2 , Phúc Xuân bình quân mỗi hộ là 3.982,26 m 2 , và Phúc Trìu bình quân mỗi hộ là 5.470,33 m 2 , bình quân chung là 7.184,16 m2
Cơ cấu đất đai lại có sự khác biệt, đối với hộ ở Thịnh Đức có diện tích đất vườn, đất chuyên lúa lớn hơn Phúc Trìu và Phúc Xuân Cụ thể, diện tích đất vườn và nhà ở Thịnh Đức bình quân mỗi hộ là 4.888,94, Phúc Trìu bình quân mỗi hộ là 2.709,78 m2 và Thịnh Đức bình quân mỗi hộ là 3.982,26 m2 , bình quân chung là 3.297,76 m2 ; trong đó diện tích chuồng trại bình quân mỗi hộ chiếm 40,12 m2
Tóm lại, diện tích đất đai của Thịnh Đức và Phúc Trìu tương đối khá lớn, ngược lại hộ ở Phúc Xuân thiếu đất sản xuất Để tạo điều kiện cho hộ ở Phúc Xuân phát triển sản xuất cần có chính sách cấp đất, quản lý, khai thác và sử dụng đất đai đúng mục đích, có hiệu quả…
4.3.4 Tình hình về vốn và trang bị kĩ thuật phục vụ sản xuất của các nông hộ Để thấy được tình hình về vốn và trang bị kỹ thuật Ta xem xét bảng số liệu 11 sau: Tổng giá trị tài sản bình quân của các nông hộ là 43.896,99 ngàn đồng, nhóm hộ Phúc Xuân là 17.693,37 ngàn đồng/hộ, nhóm hộ Phúc Trìu 32.096,98 ngàn đồng/hộ và cao nhất là nhóm hộ Thịnh Đức 79.509,40 ngàn đồng/hộ
Tùy theo khả năng tài chính và quy mô sản xuất của mình mà các nông hộ có sự cân nhắc đầu tư trang thiết bị sản xuất cho phù hợp
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngành chăn nuôi của các xã ven TP Thái Nguyên
Không quá nếu nói thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sản xuất Trong nền kinh tế hàng hóa, mục đích của các nhà sản xuất là sản xuất ra hàng hóa ra để bán, để thỏa mãn nhu cầu của người khác Các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải gắn với thị trường
Chính sách của Nhà Nước và của địa phương như chính sách về đất đai, chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách phát triển kinh tế xã hội, cơ chế liên kết hộ sản xuất và các cơ sở chế biến… là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi lợn thịt phát triển Đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay, đất nước đang hội nhập trong khi đó thực phẩm sạch trong nước chưa được chính người tiêu dùng tin tưởng và lựa chọn tiêu dùng
4.3.3 Nhận thức và trình độ người chăn nuôi
Lao động trong nông nghiệp với phương thức làm ăn tiêu nông là lao động giản đơn nhưng hiện nay trong thời buổi kinh tế hội nhập muốn làm giàu từ nông nghiệp không có cách nào khác là sản xuất hàng hóa, sản xuất ra sản phẩm có tính cạnh tranh vì vậy đòi hỏi lao động trong các hộ đòi hỏi có kiến thức nhất định để có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật phù hợp vào sản xuất
Không có lao động hoặc lao động thiếu kinh nghiệm là nguyên nhân hạn chế sự phát triển các ngành kinh tế trong nông nghiệp nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng
Không thể phủ nhận trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế, trong chăn nuôi muốn phát triển được cần một diện tích đủ lớn để xây dựng hệ thống chuồng trại, công trình phụ trợ, hệ thống xử lý chất thải Lợn thịt là loại động vật có lượng chất thải rất lớn nếu không được xử lý đúng cách sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường sống xung quanh, nhiều trang trại trên cả nước đã phải đóng cửa vì phát triển trong khu chăn dân cư và không có hệ thống xử lý chất thải