Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của tổng lượng axit chiết được trong vỏ quả bứa khô vào thể tích nước 33 21 Hình 3.9.. Từ lâu, con người đã dùng lá, quả bứa để chế biến trong món ăn, chữa
Trang 1KHOA HÓA - -
NGHIÊN CỨU CHUYỂN HÓA AXIT HYDROXYCITRIC
THÀNH MUỐI CANXI HYDROXYCITRAT
TỪ VỎ QUẢ BỨA Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC
Sinh viên thực hiện : Phạm Hồng Vân
Lớp : 08 – CHD Giáo viên hướng dẫn : GS.TS Đào Hùng Cường
Đà Nẵng – 2012
Trang 21 Bảng 3.1 Kết quả xác định trong vỏ quả bứa 26
2 Bảng 3.2 Kết quả xác định hàm lượng tro trong vỏ quả bứa 27
3 Bảng 3.3 Kết quả hàm lượng một số kim loại trong
vỏ quả bứa
28
4 Bảng 3.4 Kết quả khảo sát sự phụ thuộc giữa tổng lượng
axit được chiết trong vỏ quả bứa khô vào thời gian chiết
30
5 Bảng 3.5 Kết quả khảo sát sự phụ thuộc giữa tổng lượng
axit được chiết trong vỏ quả bứa khô vào thể tích nước
Trang 35 Hình 1.5 Cấu trúc đồng phân của axit hydroxycitic 10
6 Hình 1.6 Cấu trúc lacton axit hydroxycitric 11
7 Hình 1.7 Công thức muối cặp nhóm IA và IIA 19
8 Hình 1.8 Cấu trúc các dẫn xuất của axit hydroxycitic 20
9 Hình 2.1 Quả bứa ở huyện Phong Điền 21
13 Hình 3.1 Vỏ quả bứa sau khi phơi khô 29
14 Hình 3.2 Vỏ quả bứa khô sau khi xay nhỏ 29
18
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của tổng lượng axit
chiết được trong vỏ quả bứa khô vào thời gian chiết
31
19
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của tổng lượng axit
chiết được trong vỏ quả bứa khô vào thể tích nước
33
21 Hình 3.9 Sắc kí đồ mẫu vỏ quả bứa khô chiết trong nước 34
23 Hình 3.11 Dịch chiết sau khi loại bỏ pectin 36
Trang 426 Hình 3.14 Phổ IR của sản phẩm muối HCCa 37
27 Hình 3.15 Phổ HPLC của sản phẩm muối HCCa 38
Trang 5STT Kí hiệu Tên đầy đủ
1 AAS Quang phổ hấp thụ nguyên tử
2 IR Quang phổ hồng ngoại
3 HPLC Sắc ký lỏng cao áp
4 HCA Axit hydroxycitric
5 HCCa Muối Canxi hydroxycitric
Trang 6TRƯỜNG ĐHSP Độc lập – Tự do –Hạnh phúc
-
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Phạm Hồng Vân
Lớp: 08CHD
1 Tên đề tài: “Nghiên cứu chuyển hóa axit hydroxycitric thành muối canxi
hydroxycitrat từ vỏ quả Bứa ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị
* Nguyên liệu: Vỏ quả Bứa
* Dụng cụ: Nồi áp suất, tủ sấy, lò nung, cân phân tích, cốc thuỷ tinh, bình tam giác, bếp điện, cốc sứ, bình hút ẩm, …
* Thiết bị: Máy sắc kí lỏng cao áp HPLC, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS, máy quang phổ hồng ngoại IR
3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định các chỉ số vật lý của nguyên liệu như độ ẩm, hàm lượng tro, hàm lượng kim loại
- Chiết axit hydroxycitric
- Xác định lượng tổng lượng axit bằng phương pháp chuẩn độ axit – bazơ
- Kiểm tra và định lượng axit (-)-HCA bằng phương pháp HPLC
- Khảo sát các điều kiện chiết theo thời gian và tỉ lệ rắn - lỏng
- Tạo muối canxi hydroxycitrat
- Kiểm tra sản phẩm muối canxi hydroxycitrat bằng phương pháp IR và phương pháp HPLC
4 Giáo viên hướng dẫn: GS.TS Đào Hùng Cường
5 Ngày giao đề tài: 10/2011
6 Ngày hoàn thành: 5/2012
Trang 7Lê Tự Hải GS.TS Đào Hùng Cường Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho khoa ngày 25 tháng 5 năm 2012
Kết quả điểm đánh giá:
Ngày … tháng … năm 2012 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 8Đầu tiên với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy Đào Hùng Cường và chị Nguyễn Thị Thủy học viên cao học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo động viên em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa, thầy cô công tác tại phòng thí nghiệm khoa Hóa, Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ công tác tại Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ, Trung tâm Kỹ Thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2, Công ty sắc ký Hải Đăng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, mặc dù có nhiều cố gắng xong khó có thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Phạm Hồng Vân
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, hiện nay số người mắc béo phì trên toàn cầu đã vượt quá 250 triệu, chiếm 7% dân số người trưởng thành trên thế giới
và đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ và tuổi thọ
Dựa vào số liệu thống kê ở Mỹ, hiện nay có khoảng 60 triệu người dân Mỹ bị béo phì, tăng gấp 3 lần so với năm 1991 Tại các nước châu Âu, có tỷ lệ béo phì người trưởng thành từ 10 – 25% Trong khi đó, các nước ở Châu Á, khi kinh tế tăng trưởng thì tỷ lệ người béo cũng tăng lên, đáng chú ý là một số nước tỉ lệ béo phì tăng lên đáng kể trong một thời gian ngắn như Trung Quốc tăng 97% trong vòng 10 năm qua Tại Nhật Bản, tỉ lệ thừa cân vào năm 1980 là 16% thì năm 2000 đã tăng lên đến 24%, chính vì vậy thừa cân béo phì được coi là một trong những vấn đề sức
khoẻ hàng đầu trong của nhiều nước trong những năm qua
Tại Việt Nam, trước năm 1995, các cuộc điều tra dịch tễ học cho thấy ở nước
ta tỷ lệ thừa cân không đáng kể, béo phì gần như không có nhưng do chế độ ăn uống
và điều kiện sống được cải thiện đã góp phần làm tăng tỷ lệ thừa cân - béo phì Từ năm 1996 đến nay tình trạng thừa cân - béo phì cũng có xu hướng gia tăng ở cả trẻ
em, người lớn, đặc biệt là khu vực các thành phố lớn
Sự gia tăng nhanh chóng tỉ lệ béo phì thực sự là vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu ở các nước, hệ quả kéo theo của bệnh này là sự gia tăng các bệnh nguy hiểm như tim mạch, huyết áp, tiểu đường, sơ vữa động mạch…và nó đã trở thành một bệnh khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy đã có nhiều phương pháp giảm cân ra đời với những thế mạnh riêng, song cách thức giảm cân từ các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên đang được giới chuyên gia và người tiêu dùng ở các quốc gia tiên tiến lựa chọn bởi tính hiệu quả và an toàn
Cây bứa là một loại cây thuộc họ bứa và chi bứa Trên thế giới việc nghiên cứu cây bứa đã được chú trọng từ lâu, tính đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu về cây bứa bao gồm các lĩnh vực chiết tách, xác định thành phần hóa học các hợp chất hữu cơ, ứng dụng trong công nghệ thực phẩm và công nghệ dược phẩm Trong đó, đáng chú ý nhất là đã chiết được axit HCA từ vỏ bứa, chất này có
Trang 10tác dụng kìm hãm quá trình chuyển hóa lượng đường thừa trong cơ thể thành mỡ, không những giúp giảm cân, HCA còn cải thiện giảm các loại mỡ xấu cho sức khỏe như tryglycerid, LDL cholesterol, cholesterol toàn phần và tăng HDL cholesterol là loại mỡ có tác dụng bảo vệ thành mạch Ngoài ra, HCA làm gia tăng nồng độ Serotonin, một chất dẫn truyền thần kinh chính yếu có vai trò kiểm soát sự thèm ăn Tuy nhiên, HCA ở dạng tự do không bền, dễ chuyển hóa thành dạng lacton, bền nhưng kém hoạt động Vì thế, cần phải tạo ra HCA tồn tại ở dạng dẫn xuất, bền và
có hoạt tính sinh học Tiêu biểu là muối kim loại của HCA
Những nghiên cứu trong thời gian gần đây đã chứng minh tính hiệu quả các loại muối của (-)-HCA, đặc biệt là muối Canxi vì dễ tạo thành do tạo hợp chất vòng bền Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu trên nguồn (-)-HCA được chiết tách từ các loài bứa của Ấn Độ
Ở Việt Nam, loại bứa có tên khoa học là Garcinia oblongifolia Champ Ex
Benth, là cây tương đối dễ trồng, phát triển tốt, cho năng suất cao và có mặt ở hầu hết các địa bàn trong cả nước, nhất là những vùng rừng núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên Từ lâu, con người đã dùng lá, quả bứa để chế biến trong món ăn, chữa trị một số bệnh ngoài da,… Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào mang tính cơ bản
về thành phần, tính chất, khả năng ứng dụng, công nghệ khai thác về các hợp chất hóa học có trong cây bứa Đây là những vấn đề rất đáng được quan tâm nghiên cứu nhằm góp phần quy hoạch, khai thác, chế biến và ứng dụng các sản phẩm của cây bứa một cách có hiệu quả, khoa học hơn Với những lý do trên, tôi chọn đề tài
“Nghiên cứu chuyển hóa axit hydroxycitric thành muối canxi hydroxycitrat từ vỏ quả bứa ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng quy trình chiết tách axit hydroxycitric từ vỏ quả bứa trên địa bàn
xã Phong Bình – huyện Phong Điền – Tỉnh Thừa Thiên Huế
- Xây dựng quy trình điều chế muối canxi hydroxycitrat từ axit hydroxycitric chiết từ vỏ quả bứa
Trang 113 Đối tượng nghiên cứu
Vỏ quả của cây bứa (Garcinia oblongifolia Champ Ex Benth) thu hái tại xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý thuyết
- Thu thập các thông tin tài liệu liên quan đến đề tài
- Xử lý các thông tin về lý thuyết để đưa ra các vấn đề cần thực hiện trong quá trình thực nghiệm
4.2 Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp chiết tách: phương pháp chưng ninh sử dụng dung môi là nước
- Phương pháp phân tích định lượng: phương pháp trọng lượng, phương pháp chuẩn độ axit – bazơ
- Phương pháp phân tích công cụ: phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC), phương pháp quang phổ hồng ngoại (IR)
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
- Xây dựng quy trình chiết tách axit hydroxycitric từ vỏ quả bứa
- Cung cấp những thông tin khoa học về thành phần và cấu tạo của axit hydroxycitric và muối canxi của axit hydroxycitric
- Cung cấp những thông tin, tư liệu làm cơ sở cho việc nghiên cứu sau này
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nhằm giúp cho việc quy hoạch, khai thác, chế biến và ứng dụng các sản phẩm
của cây bứa một cách có hiệu quả, khoa học hơn
6 Bố cục đề tài
Đề tài gồm 42 trang Nội dung của đề tài chia làm 3 chương
Chương 1- Tổng quan (17 trang)
Chương 2- Nguyên liệu và phương pháp thực nghiệm (5 trang)
Chương 3- Kết quả và thảo luận (16 trang)
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 GIỚI THIỆU CÂY BỨA [3], [5]
1.1.1 Đặc điểm, phân bố của cây bứa
Họ Bứa hay họ Măng cụt (danh pháp khoa học:
Clusiaceae) còn gọi là Guttiferae, được Antoine
Laurent de Jussieu đưa ra năm 1789
Họ gồm 40 chi và hơn 350 loài, trong đó
Garcinia là chi lớn nhất của họ Bứa (Clusiaceae) với
hơn 400 loài, phân bố trong giới hạn các nước nhiệt
đới ẩm như Đông Nam Á, nam Trung Quốc, bán đảo
Ấn Độ và vùng xích đạo Châu Phi Theo GS Phạm
Hoàng Hộ, chi Garcinia ở Việt Nam có 29 loài, cũng
là chi lớn nhất [5] (hình 1.1)
Chúng có đặc điểm là vỏ trái, vỏ cây và ngay cả gỗ thường tiết ra chất nhựa màu vàng, đôi khi màu trắng [3] (hình 1.2), lá mọc đối, không có lá kèm Hoa thường lưỡng tính, đôi khi đơn tính (hình 1.3) Đài gồm 2-6 mảnh tồn tại trên quả Tràng gồm 2-6 cánh hoa Nhị nhiều và tập hợp thành bó Nhụy gồm 3-5 lá noãn, bầu trên mỗi ô có 1- nhiều noãn Quả mở vách hay quả mọng (hình 1.4) Hạt thường nhiều, không có nội nhũ, có khi có áo hạt bao ngoài
Trang 13mangostana), bứa mọi (G harmandii), sơn vé (G merguensis), dọc (G multiflora) Nhiều loài được sử dụng trong y học cổ truyền để trị dị ứng, sưng, lở loét, sốt rét, tiêu chảy, viêm da kinh niên và làm thuốc trợ tim
Trái của loài G livingstonei dùng để lên men thức uống Lá và vỏ trái của một
số loài như tai chua (G cowa), bứa nhà (G cochinchinensis), bứa núi (G oliveri) có
vị chua và thường được dùng thái nhỏ nấu canh chua Dầu của cây dọc dùng làm xà
phòng và dầu nhờn Dầu lấy từ hạt G echinocarpa dùng để thắp sáng Mủ, vỏ trái
và vỏ cây của nhiều loài như G morella, sơn vé, bứa Delpy (G delpyana) được
dùng làm phẩm nhuộm vàng hoặc cam rất đẹp
Trong y học cổ truyền, vỏ cây bứa lá tròn dài (G oblongifolia) dùng trị loét dạ dày, loét tá tràng, kém tiêu hóa; dùng ngoài trị bỏng, mụn nhọt Trái của loài G indica dùng trị giun sán, trợ tim, kiết lỵ Búp non của cây bứa nhà ăn sống chữa động thai Ở Campuchia người ta dùng gôm nhựa của cây vàng nghệ (G handburyi)
để làm thuốc trị sổ mũi và viêm phế quản; còn ở Thái Lan được dùng bên ngoài để trị các vết thương nhiễm trùng
1.1.3 Phân loại bứa [2], [3], [5]
1.1.3.1 Bứa
Tên khoa học: Garcinia oblongifolia Champ Ex Benth
Mô tả: Cây gỗ cao 6-7m Cành non thường vuông, xoè ngang và rủ xuống Lá
hình thuẫn, hơi dài, đuôi nhọn, chóp dài, mép nguyên, nhẵn bóng Hoa đực mọc thành cụm 3-5 hoa ở nách lá, nhị có chỉ nhị ngắn Hoa lưỡng tính có lá đài và cánh hoa như ở hoa đực, màu hơi vàng hoặc trắng; bầu 4 (6-10) ô, hình cầu, vòi ngắn Quả mọng mang đài tồn tại, vỏ quả dày, có khía múi, khi chín màu vàng, phía trong hơi đỏ chứa 6-10 hạt
Bộ phận dùng: Vỏ (Cortex Garciniae)
Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang trong rừng thứ sinh của các tỉnh từ Hà
Tuyên, Vĩnh Phú đến Quảng Nam-Đà Nẵng Cũng thường được trồng lấy lá tươi và quả nấu canh chua Thu hái vỏ quanh năm, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, thái nhỏ, phơi khô
Tính vị, tác dụng: Vỏ có tính săn da và hơi đắng, mát, hơi độc, có tác dụng tiêu
viêm, hạ nhiệt, làm săn da, hàn vết thương
Trang 14Công dụng: Lá có vị chua thường được dùng thái nhỏ nấu canh chua Hạt có
áo hạt chua, ăn được, cũng dùng nấu canh chua
Chỉ định và phối hợp: Vỏ thường dùng trị: Loét dạ dày, loét tá tràng, kém tiêu
hoá, viêm miệng, ho ra máu Dùng ngoài trị bỏng, mụn nhọt, eczema, dị ứng mẩn ngứa, nhựa bứa dùng trị bỏng
Liều dùng: 20-30g dạng thuốc sắc, dùng ngoài giã vỏ tươi đắp
Tên khoa học: Garcinia harmandii Pierre
Mô tả: Cây gỗ cao 6-10m, phân nhánh nhiều từ gốc Lá thuôn, hình trứng
ngược hay hình ngọn giáo ngắn, cuống ngắn Hoa vàng vàng, hầu như không cuống; hoa đực xếp thành nhóm 3-6; hoa cái đơn độc Quả màu tía, hơi dẹp giữa các hạt
Bộ phận dùng: Vỏ (Cortex Garciniae)
Nơi sống và thu hái: Loài đặc hữu và phổ biến ở Nam Việt Nam, Campuchia
và Nam Lào Ở nước ta, cây mọc hoang trong rừng ở độ cao thấp từ Khánh Hoá tới Đồng Nai, Tây Ninh
Công dụng: Quả có nạc ngon, mùi thơm, vị ngọt, dùng ăn được Vỏ chát được
nhân dân Campuchia dùng ăn với trầu
Chỉ định và phối hợp: Người ta phối hợp với nhiều vị thuốc khác trị ỉa chảy 1.1.3.3 Bứa mủ vàng
Tên khoa học: Garcinia xanthochymus Hook f Ex J Anderson
Mô tả: Cây gỗ lớn nhánh non vuông, vàng vàng hay nâu Lá có phiến thuôn,
to, cuống ngắn Hoa ở nách lá già, hoa đực có 5 lá đài, có nhuỵ lép; hoa cái có bao hoa như hoa đực, nhị lép, bầu 5 ô Quả tròn có hạt 1-5
Bộ phận dùng: Lá, thân, nhựa mủ và quả (Folium, Caulis, Latex et Fructus Garciniae Xanthochymi)
Trang 15Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Ấn Độ, Nê Pan, Trung Quốc và Việt
Nam Ở nước ta, cây mọc ở rừng miền Nam
Tính vị, tác dụng: Lá, thân, mủ có vị đắng, chua, tính mát; có tác dụng sát
trùng Quả giải nhiệt, lợi mật, làm dịu và làm nhầy
Công dụng: Ở Ấn Độ, quả được dùng như quả loài Garcinia indica Chois, làm
thuốc chống bệnh scorbut Ở Trung Quốc, để trị đỉa vào mũi, người ta lấy mủ tươi với liều lượng thích hợp nhỏ vào xoang mũi, đỉa sẽ bò ra
1.1.3.4 Bứa nhà
Tên khoa học: Garcinia cochinchinensis Lour Chois
Mô tả: Cây cao 10-15m, vỏ ngoài màu đen, lá thuôn nhọn ở gốc Hoa đực mọc
thành chùm ở nách lá, màu vàng, có nhiều nhị, hoa lưỡng tính không cuống, thường mọc đơn độc, bầu 6-10 ô Quả hình trứng, vỏ quả nạc, có cơm hơi đỏ bao quanh hạt
Bộ phận dùng: Vỏ, lá, quả (Cortex, Folium et Fructus Garciniae)
Nơi sống và thu hái: Cây mọc chủ yếu ở rừng thưa, thông thường ở bình
nguyên và trung nguyên, từ Quảng Trị trở vào Cũng thường được trồng Thu hái
vỏ, lá quanh năm
Tính vị, tác dụng: Vỏ chát làm săn da Lá và quả giải nhiệt
Công dụng: Lá và vỏ quả thường dùng nấu canh chua Quả chín ăn giải khát;
áo hạt có vị chua ngọt Vỏ thường dùng trị dị ứng, mẩn ngứa và bệnh ngoài da Lá giã nát đắp trị sâu quảng Búp non nhai ăn chữa động thai
Đơn thuốc: Dị ứng, mẩn ngứa, dùng vỏ Bứa 20-30g, nước 500ml, sắc còn
150ml, chia 2-3 lần uống trong ngày
Ngoài ra còn loài Bứa rừng hay Bứa núi (Garcinia Oliveri Pierre), mọc khá
phổ biến ở miền Nam nước ta, có đọt non và lá cũng dùng nấu canh chua Quả có thịt và vỏ quả trong chua, dùng ăn được
1.1.3.5 Tai chua
Tên khoa học: Garcinia cowa là một loài cây mộc thuộc họ Bứa, cận chủng
với măng cụt
Mô tả: Tai chua là một cây cỡ trung bình, cao khoảng 15 - 16m, thân mọc
thẳng, lá đơn, sắc xanh lục, mọc đối nhau Hoa lưỡng tính Trái hình cầu hơi bẹp,
Trang 16tương tự trái ổi, vỏ dày màu xanh ngả vàng Tai chua có 4 - 8 múi Mỗi trái có 6 -
10 hạt
Bộ phận dùng: Vỏ, quả (Cortex,Fructus Garciniae)
Nơi sống và thu hái: Đây là một loại cây nhiệt đới cho quả ăn được, mọc
hoang ở ven rừng Đông Nam Á nhưng gần đây cũng được ươm trồng Ở Việt Nam tai chua mọc ở Bắc Bộ và bắc Trung Bộ tử Hà Tĩnh trở ra
Công dụng: Dùng trong ẩm thực Việt Nam nhất là những món ăn miền Bắc
Tai chua thường dùng ở dạng phơi khô Một số nơi nhân dân sắc uống chữa sốt, hát nước Kinh nghiệm trong nhân dân dùng tai chua làm chất cắn màu trong nhuộm vải, lụa, do tính axit nhẹ nên sử dụng trong việc làm bóng các loại vàng bạc Ngoài
ra cây tai chua cũng được dùng lấy gỗ
1.1.3.6 Garcinia Cambogia
Mô tả: Loại cây có kích thước nhỏ hoặc trung bình với các nhánh mọc đối
xứng và nằm ngang rũ xuống, lá có màu xanh đậm và bóng, hình elip, quả hình trứng màu vàng hoặc đỏ khi chín với 6-8 rãnh và mỗi quả có từ 6 đến 8 hạt được bao quanh bởi lớp áo
Bộ phận dùng: Vỏ, quả (Cortex, Fructus)
Nơi sống và thu hái: thường được tìm thấy tại các cánh rừng thường xanh phía
tây Ghats, từ phía nam của Konkan đến Travancore Ấn Độ, và trong rừng Shola của Nilgiris Nó ra hoa suốt mùa nắng và trái chín kéo dài trong mùa mưa
Công dụng: Quả có nhiều axit có thể ăn sông được nước sắc của vỏ quả có thể
chữa bệnh thấp khớp và bệnh đau đường ruột Nó cũng được sử dụng làm thuốc thú
y để rửa các bệnh ở mồm gia xúc Tại Ceylon (Ấn Độ) vỏ quả khô được sử dụng với muối trong muối cá, cũng được sử dụng như gia vị tạo mùi trong cari
1.1.3.7 Garcinia Indica
Mô tả: Là cây mảnh khảnh với các cành rũ xuống, lá hình trứng, màu xanh
đậm ở mặt trên và màu xanh nhạt ở phái dưới, quả có hình cầu, có màu tím đậm khi chín và được bao quanh từ 5-8 hạt lớn
Bộ phận dùng: Vỏ, quả, hạt (Cortex,Fructus, semen)
Trang 17Nơi sống và thu hái: Cây được tìm thấy tại rừng mưa nhiệt đới của Western
Ghát, từ phái nam Kokan đến Mysore, Coorg và Wynaad Ấn Độ Cây ra hoa từ tháng 11-2, quả chín vào tháng 4-5
Công dụng: Hạt có dầu ăn được trong thương mại nó được biết đến như là bơ
Kokeam, Quả có mùi hương dễ chịu và có vị chua ngọt nó được sử dụng làm hương
vị trong nấu cari và cũng được dùng làm siro trong mùa hè Quả của nó cũng có thể chữa giun sán và bệnh trĩ, bệnh lỵ, khối u, vết thương Vỏ khô còn được sử dụng tạo mùi trong cari để thay thế me và chanh
1.1.3.8 Garcinia Atro Viridis
Mô tả: Cây có kích thước trung bình cao 9-15 cm, lá dài, nhẵn bóng, mũi
nhọn, phần đuôi thon gọn, hoa ra theo từng quí, quả màu vàng, vỏ có các đường rãnh sâu và khá mảng cơm, có màu trắng đục với các hạt bao quanh
Bộ phận dùng: Vỏ, quả, rễ (Cortex, Fructus, radix)
Nơi sông và thu hái: tìm thấy phái Đông Bắc quận Assam- Ấn Độ
Công dụng: vỏ quả chứa nhiều axit và có thể ăn sống, Tại Malay (Ấn Độ) vỏ
quả chín được phơi khô làm gia vị nấu cari, kho cá Quả này cũng được sử dụng làm thuốc nhuộm với nhôm trong tơ lụa Nước sắc từ rễ và quả chữa bệnh đau tai
1.2 AXIT HYDROXYCITRIC (HCA)
1.2.1 Hóa học của (-)-HCA [11]
Lewis và Neelakantan đã chiết axit chủ yếu trong vỏ quả G.cambogia và xác
định (-)-HCA là chất chính và được nghiên cứu bằng phương pháp quang phổ Sự xác định và tách axit hydroxycitric bằng giấy Whatman No.1 được thực hiện bằng cách sử dụng n-butanol/axit axetic/nước (4:1:5) và n-propanol/axit focmic/nước (4:1:5) Các vạch được xác định bằng phun metavanadate 5% Kiềm hóa axit bằng cách trộn với lượng kiềm dư và cho đi qua cột trao đổi ion (Zeocarb 215), kết quả rửa cho thấy chỉ có vạch (Rf = 0,34) có giá trị thấp tương ứng với (-)-HCA tự do Trong nồng độ nước rửa còn có vạch cao hơn (Rf = 0,46) đó chính là lacton Nước chiết từ quả cho thấy có 2 vạch axit nổi trội trong sắc ký với 2 hệ dung môi khác nhau Trong trường hợp chuẩn độ dung dịch chiết này kiềm, sử dụng phenolphtalein làm chất chỉ thị màu, thu được 2 điểm tới hạn khác nhau, trong môi trường lạnh và
Trang 18sau đó đun nóng, điều này cho thấy đó là đặc điểm của lacton Hai vạch sắc ký đã được xem như là axit hydroxycitric và lacton của nó (hình 1.5 và 1.6) Điều này cũng chứng tỏ rằng 2 vạch trong sắc ký cũng là của axit -hydroxy và lacton của nó chứ không phải là của axit tactaric và axit citric
1.2.2 Hóa học lập thể của (-)-HCA
Axit hydrocitric ( a 1,2-dihydroxypropan-1,2,3- tri cacboxylic) có 2 trung tâm bất đối, vì vậy có thể tồn tại 2 cặp đồng phân lập thể hoặc 4 đồng phân khác nhau (hình 1.5) Martius và Maue đã tổng hợp thành công 4 đông phân lập thể của hydroxycitric Một trong các đồng phân này được tìm thấy trong Garcinia (hình 1.5.I) và một đồng phân nữa được tìm thấy trong loài cây dâm bụt (Hibiscus) (hình 1.5.II) Cấu hình chính xác của axit lacton hydroxycitric, axit hibiscus và axit garcinia, đã được xác định lần lượt là axit (2S, 3R) và (2S, 3R)-2-hydroxycitric-2,5-lacton (hình 1.6) Cấu hình chính xác được xác định bằng qui luật Hudson’s lacton, chiều quay quang học của ánh sáng phân cực , vòng tròn của ánh sáng lưỡng sắc, và tính toán góc quay của phân tử Glusket và những cộng sự đã báo cáo cấu trúc và cấu hình chính xác của canxi hydrocitrat và (-)-HCA lacton bằng chụp X-quang tinh thể
H H
COOH C H C COOH C
H H
H H
COOH C H C COOH C
H H
OH
Axit (-)-hydroxycitric (I) Axit (+)-hydroxycitric (II)
Axit (+)-allo-hydroxycitric (III) Axit (-)-allo-hydroxycitric (IV)
Hình 1.5: Cấu trúc đồng phân của axit hydroxycitric
Trang 191.2.3 Những ảnh hưởng của (-)-HCA lên sự tổng hợp chất béo và sự hình thành lipit [7], [8]
Enzyme chia tách muối citrat là ATP: citrat lyase (ATP: citrat oxaloaxetat lyase) xúc tác việc chia tách ngoại ty thể của ion axit citric thành oxaloaxetat và axetyl CoA Watson và các đồng sự đã tìm thấy sự ức chế mạnh mẽ của ATP: citrat oxaloaxetat lyase bởi (-)-HCA với enzyme từ gan chuột Trong thí nghiệm đã phát hiện (-)-HCA có ái lực nhiều lên các enzyme tinh chế hơn là tự nhiên đó chính là citrat và Ki của (-)-HCA cho enzyme chia tách citrat ở khoảng giữa 0,2- 0,6 µM, tùy thuộc vào điều kiện Sau đó, Cheema- Dhadli tìm thấy sự ức chế của enzyme này ở cả (-)-HCA tự do (Ki =8µM) và HCA este tuần hoàn (Ki =50-100µM) Các nhà khoa học thấy rằng este tuần hoàn của (-)-HCA là 1 chất ức chế rất hiệu quả của enzyme chia tách muối citrat Với những nghiên cứu tương tự nhau Sullivan và Stallings đã quan sát thấy trong 4 đồng phân của HCA, (-)-HCA là chất ức chế tiềm năng duy nhất của ATP: citrat lyase (-)-HCA được tìm thấy sẽ ngăn chặn ATP được tinh chế 1 phần citrat lyase từ gan người với citrat (Ki =3.10-4M)
Việc khám phá ra sự ức chế mạnh mẽ của enzyme chia tách citrat bởi (-)-HCA sẽ cung cấp một công cụ có giá trị cho việc nghiên cứu vai trò trao đổi chất của phản ứng chia tách muối citrat
Ảnh hưởng sinh học của (-)-HCA xuất phát từ sự ức chế chia tách ty ngoại thể citrat đến oxaloaxetat và acetyl-CoA Nguồn cơ bản của mọi nguyên tử cacbon của axit béo là acetyl-CoA, được cấu thành trong ty thể bởi sự oxy hóa khử gốc cacboxyl của pyruvate, sự oxy hóa thoái biến của một số amino axit hoặc oxy hóa
COOH
C C H H C=O O
Axit (-)-allo-hydroxycitric lacton Axit (+)-allo-hydroxycitric lacton
Hình 1.6: Cấu trúc của lacton hydroxycitric axit
Trang 20chuỗi dài các axit béo Sự tổng hợp axit béo mạnh mẽ nhất là lúc hidratcacbon ở mức cao và axit béo ở mức thấp Sự chuyển hóa hidratcacbon thành axit béo đòi hỏi phải có sự oxi hóa pyruvate thành acetyl-CoA Axit béo được tổng hợp trong cytosol, trong khi acetyl-CoA được hình thành từ pyruvate trong ty thể Để tổng hợp sống axit béo nhóm acetyl-CoA phải được chuyển hóa từ ty thể sang cytosol Acetyl-CoA do đó không thể rời khỏi ty thể vào cytosol Rào chắn tới acetyl-CoA được phá vỡ bởi sự hóa đặc của Acetyl-CoA với oxaloaxetat Khi ở mức độ cao citrat được chuyển tới cytosol theo hệ thống chuyển tải tricarboxylate Ở cytosol, acetyl-CoA lại được tái sinh từ citrat bởi ATP: citrat lyase sẽ làm xúc tác cho phản ứng sau: citrat + ATP + CoA acetyl-CoA + ADP + Pi + oxaloaxetat ATP: citrat lyase được phân bố nhiều ở nhiều ở mô đông vật Người ta cho rằng ATP: citrat lyase đống vai trò sinh lý học trong sự hình thành lipit từ hidrat cacbon và sự hình thành glucoza trong cơ thể động vật Những thay đổi trong tỉ lệ tổng hợp axit béo và cung cấp những dấu hiệu về sự liên quan của phản ứng chia tách citric trong tổng hợp axit béo Hoạt động của enzyme chia tách citric thay đổi phù hợp với tình trạng dinh dưỡng của động vật Do đó khi bị bỏ đói hoặc khi được cho ăn với một chế độ kiêng béo nghiêm ngặt thì mức độ enzyme giảm nhanh chóng, còn khi cho ăn với chế độ kiêng hidratcacbon cao mức ATP: citrat lyase cũng được nâng lên rõ rệt (-)-HCA là chất ức chế tiềm năng của ATP: citrat lyase đóng vai trò xúc tác kích thích sự phân chia ngoại ty thể của citrat thành oxaloaxetat và aceyl-CoA và giới hạn hiệu quả của các phân tử aceyl-CoA yêu cầu cho sự tổng hợp chất béo và
sự hình thành lipit Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả ở thí nghiệm và thực tế (-)-HCA ngăn chặn việc tổng hợp axit béo và sự hình thành lipit
Trong hệ thống tế bào tự do bao gồm mẫu tế bào chất tự do và ty thể được điều chế từ gan chuột, (-)-HCA cho thấy nó ngăn chặn sự tổng hợp axit béo từ citric
và cũng từ [14C]-alanine bằng cách đo lường sự kết hợp của 3H2O và 14C Sullivan
và các cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của chất đồng phân lập thể của hydroxy citrat trên tỷ lệ sự hình thành lipit ở chuột sống Họ thấy rằng chỉ có (-)-HCA là làm giảm đáng kể sự hoán chuyển của [14C]-citrat vào trong lipit trong gan tốc độ cao và hoán chuyển [14C]alanin vào trong lipit
Trang 21Beynen và Geelen đã quan sát sự ức chế của việc tổng hợp axit béo từ glucoza bằng (-)-HCA trong các tế bào gan được cô lập Tuy nhiên, nó không ảnh hưởng đến axit béo tổng hợp từ acetat Tác dụng này được nhận thấy ở gan chuột cô đặc và trong chất đồng nhất của cơ quan này và được thừa nhận là do sự hoạt hóa của enzyme acetyl-CoA cacboxylaza tương thích với các tricacboxylate khác Hơn nữa những phát hiện của hackenschmidt và các cộng sự đã chỉ ra rằng (-)-HCA là một tác nhân hiển nhiên của enzyme acetyl-CoA carboxylaza và các đồng dạng của (-)-HCA và sự hoạt hóa citrat của các enzyme hoạt tính rất rõ ràng khi sự kích thích lớn nhất Người ta kết luận rằng (-)-HCA đóng vai trò là một chất ức chế sự hình thành lipit chỉ khi tế bào chất acetyl-CoA được sản sinh bởi phản ứng enzyme phân chia citrat, nhưng nó sẽ hoạt hóa tổng hợp axit béo bất cứ nơi nào mà gốc acetyl-CoA Việc hình thành lipit trong mỡ cộng hưởng với thức ăn có chứa glucoza bị kiềm cheess bởi (-)-HCA Với những con chuột bị bỏ đói (-)-HCA không ức chế tỉ
lệ cơ bản của sự hình thành lipit béo và glucoza sử dụng tương ứng với isulin Bởi
vì tỷ lệ cơ bản của sự hình thành lipit không bị ức chế bởi (-)-HCA, người ta cho rằng axetat có thể là một nền thể lipogenic cho chất béo khi đói Báo cáo của Smith chỉ ra rằng các mô mỡ của thỏ có một dung tích thấp để tổng hợp axit béo từ glucoza nhưng lại có một dung tích cao để tổng hợp từ pyruvate và axetat Những thí nghiệm với (-)-HCA đã chỉ rằng enzyme phân chia citrat là một enzyme bắt buộc trong việc hinhg thành lipit từ pyruvate và chính hệ thống lipogenic của mô
mỡ thỏ giống mô mỡ của một loài nhai lại ở chỗ nó thích nghi với việc sử dụng cetate thay cho glucoza
(-)-HCA ức chế cục bộ sự kết hợp của 3H từ 3H2O và 14C từ [U-14C]lactate thành axit béo có thể hòa hóa xà phòng trong các tế bào gan từ chuột được cho ăn, nhưng sự kết hợp của 14C từ [14C]proline thì hoàn toàn bị ức chế Tuy nhiên sự kiềm chế một cách hoàn toàn tương tự sự kết hợp của 14C từ [14C]proline cũng được quan sát thấy ở chuột cho ăn, làm tiêu dịch glycogen các tế bào gan, hoặc các tế bào gan chuột bị bỏ đói Trong một quan sát khác, (-)-HCA làm suy yếu hình thành chất béo trong các tế bào gan từ chuột được cho ăn ủ với lactate cộng với các tế bào gan khoảng 51% nhưng lại ít có ảnh hưởng lên sự hình thành lipit trong làm tiêu dịch
Trang 22gycogen các tế bào gan được ủ tương tự Có một sự kiềm chế kết hợp của 14C từ [U-14C]lactate thành axit béo tương tự, và sự hình thành lipit được đo lường với
3H2O trong mỗi trường hợp Do đó, sự làm tan glycogen hay quá trình làm tan glycogen một cách rõ ràng gây ra sự thay đổi trong những bước giới han tỷ lệ cho
sự hình thành lipit từ lactate
(-)-HCA làm giảm một cách rõ rệt 3H2O kết hợp với axit béo bởi các mô phổi
Cơ thể những con chuột bị bỏ đói trong 72 giờ giảm rõ rệt 3H2O kết hợp vào các lipit pulmorany Việc tiêm (-)-HCA trước khi cho uống 3H2O cũng giảm xuống rõ rệt sự hợp nhất các chất đồng vị vào trong các phân tử lipit pulmorany Người ta cũng kết luận rằng trong cơ thể sự tổng hợp axit béo chịu ảnh hưởng bởi tình trạng dinh dưỡng của động vật và citrat có vẻ như là một nguồn hiệu quả của tế bào chất acetyl-CoA Sheehan và Yeh quan sát thấy rằng (-)-HCA ức chế sự tổng hợp axit béo trong phổi chuột mới sinh từ glucoza, pyruvate và -hydrobutyrat với tỷ lệ lần lượt là 88%, 70% và 60% nhưng hiệu quả lại không có ảnh hưởng như thế Sự hình thành lipit từ -hydrobutyrat bao gồm cả tế bào chất và các nhánh citrat Crabtree
và các đồng sự cũng nhận thấy rằng những luồng butyrat tới acetate và axit báo trong các tế bào gan của chuột được hạn chế tới phạm vi tương ứng bởi (-)-HCA mà không có một ảnh hưởng quan trọng nào tới ống butyrat Bởi vì butyrat được hoạt hóa chỉ trong mitochondria của gan chột và (-)-HCA không hạn chế nhánh butyrat một cách hiệu quả, sự hạn chế song song luồng butyrat tới axetat và axit béo gợi ra
ý nghĩa là sự sản sinh axetat diễn ra trong tế bào chất Người ta cho rằng (-)-HCA không thể ngăn ngừa sự sản sinh axetat thông qua hydrolaza mitochrondira Những thí nghiệm với (-)-HCA đã chỉ ra rằng con đường chính để trao đổi cacbon leuxine
tới lipit ở trong acini tuyến vú của chuột là thông qua sự di chuyển citrat từ ty thể
Mathias và các đồng sự đã cho rằng trong các tế bào gan cô lập từ chuột cái -những con chuột được cho ăn kiêng một lượng glucoza cao, (-)-HCA làm giảm sự hợp nhất của 3H2O, [14C]alanine, [2-14C]leuxine vào axit béo và cholesterol
Hood và các đồng sự cũng chỉ ra (-)-HCA làm suy giảm tổng hợp axit béo từ lactat trong mô mỡ bò và glucoza mô mỡ chuột, các nhà nghiên cứu cho rằng sự chuyển hóa lactat tới axit béo có thể xảy ra theo đường citrat Trong (-)-HCA của tế
Trang 23bào gan chuột được nghiên cứu có sự giảm sút việc hình thành các photpholipit và triglyceride từ lactat Vicaro và Medine đã ghi nhận sự hạn chế việc hình thành lipit
từ lactat trong não chuột bởi (-)-HCA và sự di chuyển cacbon lactat thông qua màng
ty thể
(-)-HCA hạn chế sự hình thành lipitt trong màng não chuột và tương tụ như vậy trong tuyến phân lập bao quy đầu của chuột sống (-)-HCA giảm quá trình sinh tổng hợp của các triglyceride, phospholipid,cholestorol, digricedies, este cholesterol
và axit béo tự do trong tế bào gan chuột được cô lập từ chuột thường và chuột hyperlipidemic (-)-HCA giảm tỉ lệ sản sinh cholesterol trong các tế bào gan chuột được cho ăn bằng cách cản trở dòng chất nền vào dòng tổng hợp sterol Việc đo lường trọng lượng của desmosterol sản sinh trong quá trình sinh tổng hợp với sự có mặt của 3H2O và triparanol đã cho phép xác định trực tiếp luồng quan hệ của cacbon
và 3H vào sterol trong các tế bào gan Sự suy yếu của quá trình sinh tổng hợp chuỗi axit béo 3--hydroxysterol và cholesterol bởi (-)-HCA một lần nữa đã được xác nhận trong hệ thống gan chuột Sự hạn chế của việc tổng hợp axit béo bởi (-)-HCA được kết hợp vơi giảm tỉ lệ colin vào kết hợp vào phosphatidylcholine không bão hòa
Berkhout và các đồng sự đã thử nghiệm (-)-HCA trong tế bào Hep G2 về những ảnh hưởng lên homeostasis cholesterol, sau 2-18 giờ ủ với (-)-HCA nồng độ
≥ 0,5 mM, sự hợp nhất [1,5-14C]citrat vào axit béo và cholesterol được ngăn chặn mạnh, điều này phản ánh sự ngăn chặn hiệu quả của ATP: citrat lyase Thời kỳ tiền
ủ bệnh với (-)-HCA ở nồng độ mức cao hơn đã làm tăng tế bào lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) – được xác định bởi sự giảm sút và sự liên kết hấp thụ trung gian Phép
đo liên kết hấp thụ trung gian chống nồng độ LDL đặt ra giả thuyết rằng sự tăng lên này là do sự tăng trưởng số lượng các hấp thụ LDL Sự tăng lên đồng thời lượng enzyme của enzyme 3-hydroxy-3-methylglutaryl-CoA (HMG) reductase cũng được giám sát thấy ở cùng 1 điều kiện Những kết quả này cho thấy rằng HMG-CoA của enzyme reductase vào các hấp thu LDL được bắt nguồn từ sự giảm sút luồng phân
tử cacbon trong dòng tổng hợp cholesterol, do hạn chế phân tử năng lượng ATP
Trang 24Hildebrant và các cộng sự nghiên cứu cách sử dụng và con đường trao đổi chất được ưu tiên của nhóm xeton cho sự hình thành lipit bởi những tế bào mới được cô lập Morris Hepatona Đó là những tế bào được xem là có thể chuyển hóa 1 cách tích cực nhóm xeton thành axit béo và cholesterol Trên cơ sở kết quả nghiên cứu (-)-HCA, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng đường trao đổi chất cho sự chuyển hóa acetoacetate thành lipit là không tính đến tế bào chất, trong khi 3-hydroxyl butyrat lại liên quan đến cả hai ngăn ngoại ty thể và nội ty thể Acetyl-L-carnitine được biết đến như là 1 nhân tố điều chỉnh chức năng trao đổi chất Ligona-Trulla và các đồng sự đã nghiên cứu quá trình hình thành lipit trong các tuyến tế bào khác nhau và các tế bào gan chuột và quan sát thấy rằng dòng acetyl-L-carnitine (ALC) tới lipit tăng lên mà không hề giảm xuống nhờ (-)-HCA Ngược lại, nhân tố kìm hãm này giảm nhanh chóng glucoza tới lipit Những kết quả này chỉ ra rằng dòng acetyl-L-carnitine tới lipit có thể không cho citrat đi qua và sử dụng cytosolic acetyl-CoA tổng hợp, và điều này chứng tỏ khi (-)-HCA được sử dụng, khả năng cung cấp các phân tử acetyl cho denovo hình thành lipit có thể tăng lên 1 cách đáng
kể Bởi vì ALC có thể cung cấp các phân tử acetyl cho các hoạt động trao đổi mà không cần hao tổn sự thủy phân ATP, khả năng tăng lên này cho thấy các cơ thể trong đó ALC có thể cung cấp các phân tử acetyl trong một vài trường hợp trao đổi chất Trong các tế bào 3T3LI phân biệt đặc trưng của isulin, (-)-HCA cho thấy nó ngăn ngừa quá trình hình thành lipit và kích thích sự phân giải lipit
Sự hợp nhất của 3H từ 3H2Ơ được sử dụng để đo lường tỉ lệ sự tổng hợp chất béo trong gan chuột Trong cơ thể sống, sự hạn chế tỉ lệ tổng hợp axit béo trong gan chuột được nhận thấy do sự phân phối (-)-HCA trong màng bụng và trong tĩnh mạch [20] Trong cơ thể sống, tốc độ hình thành lipit giảm xuống một cách rõ ràng [14C]alanine theo sự phân phối của (-)-HCAchỉ khi hợp chất được tạo ra trước giai đoạn cho ăn Tùy theo liều lượng hấp thụ (-)-HCA qua đường miệng của chuột mà
sự hấp thụ này sẽ làm giảm tốc độ của quá trình tổng hợp lipit trong cơ thể chuột sống tại mô mỡ, gan và rột non dẫn đến giảm tăng trọng, giảm hấp thụ thức ăn và tổng hợp lipit trong cơ thể (-)-HCA và axit (+)-allo-hydroxycitric cũng được
Trang 25nghiên cứu về những ảnh hưởng của chúng lên sự tổng hợp lipit trong cơ thể trong điều kiện của cả việc cho ăn hydrat cacbon liều cao hoặc nhịn đói trong 24 giờ
Ở chuột trưởng thành, chuột béo có thioglucoza vàng và khi chuột béo bị tổn thương vùng não điều khiển thần kinh bụng thì khả năng hấp thụ thức an, tăng cân
và suy giảm mức độ lipit của cơ thể giảm xuống một cách hiệu quả bởi sự điều chỉnh thường xuyên của (-)-HCA Chê và các đồng sự quan sát thấy các hình thái đặc biệt tương ứng vơi (-)-HCA (-)-HCA làm giảm hiệu quả tỉ lệ tổng hợp axit béo
và cholesterol trong gan và sự giảm sút trong huyết thanh triglyceride Người ta cũng nhận thấy rằng (-)-HCA làm giảm hypertriglyceridemia và hyperlipogenis trong chuột zucker béo di truyền, chuột được xử lý fructoza và chuột được xử lý triton Chuột Yuong Zucker gầy và chuột béo được cho ăn có chất (-)HCA đã được nhận thấy có sự sụt giảm trong cân nặng, hấp thụ thức ăn, phần trăm chất béo của
cơ thể và kích cỡ tế bào trong chuột gầy Trong chuột béo phì khả năng hấp thụ thức
ăn và cân nặng thì giảm xuống nhưng phần trăm chất béo trong cơ thể thì vẫn giữ nguyên và vẫn duy trì được kích cỡ tế bào chất béo tương ứng với cơ chế điều chỉnh chất béo Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng những con chuột béo phì mặc dù có sự giảm sút chắc chắn trong trong lượng cơ thể do (-)-HCA vẫn giữ được thành phần béo phì Rao và Sakariah quan sát thấy rằng thể vùi của (-)-HCA trong cơ thể kiêng lipogenic làm giảm đáng kể việc hấp thụ thức ăn, trọng lượng cơ thể, màng béo, và huyết thanh triglyceride trong chuột bạch và cũng làm giảm hiệu quả việc cho ăn
Sự suy giảm việc hấp thụ thức ăn, trọng lượng, hiệu quả việc cho ăn gây ra bởi HCA thì phụ thuộc vào hàm lượng (-)-HCA trong chế độ ăn kiêng Nghiên cứu này khuyến khích sự khảo sát tỷ mỉ hiệu quả của (-)-HCA trong việc điều chỉnh sự tổng hợp chất béo và hyper triglyceride
(-)-1.2.4 Tác dụng của HCA
Qua một số nghiên cứu hiện nay người ta phát hiện rằng:
1 Có tác dụng ngăn chặn quá trình tích mỡ và cải thiện bilance mỡ máu HCA
sẽ kiềm hãm quá trình chuyển hóa lượng đường thừa trong cơ thể thành mỡ, giúp ngăn chặn quá trình béo phì, đặc biệt đạt hiệu quả cao đối với những người dư cân
có chế độ ăn quá nhiều bột đường Không những giúp giảm cân HCA còn cải thiện
Trang 26giảm các loại mỡ xấu cho sức khỏe như tryglycerid, LDL cholesterol, cholesterol toàn phần và tăng HDL cholesterol là loại mỡ có tác dụng bảo vệ thành mạch
2 Làm tăng nồng độ Serotonin, một chất dẫn truyền thần kinh chính yếu có vai trò kiểm soát sự thèm ăn HCA kiềm hãm cảm giác thèm ăn đồng thời cải thiện tâm lý phiền muộn ở người dư cân, béo phì giúp họ giảm lượng khẩu phần ăn
3 Làm gia tăng quá trình tổng hợp glycogen và tăng độ oxy hóa, đốt cháy mỡ thừa Ở người dùng HCA, lượng đường thừa trong cơ thể sẽ không chuyển sang dạng mỡ dự trữ mà sẽ được tổng hợp thành glycogen dự trữ tại gan và cơ Khi mức glycogen bão hòa, dưới tác dụng của axit hydroxy citric lượng đường thừa này sẽ kích hoạt quá trình chuyển axit béo vào ty lạp thể để đốt cháy tạo năng lượng cho tế bào, làm giảm lượng mỡ thừa dự trữ trong cơ thể
1.3 CÁC MUỐI KIM LOẠI CỦA (-)-HCA
1.3.1 Các loại muối kim loại của (-)-HCA
Vỏ quả của Garcinia Cambogia và Garcinia Indica chứa 20 – 30% (-)-HCA
Vì vậy, nó là nguồn chủ yếu chứa (-)-HCA Bên cạnh đó, (-)-HCA dễ bị lacton hóa trong quá trình hóa hơi và cô đặc, do đó dẫn xuất bền (-)-HCA là: lacton, este, muối natri, kali và canxi của (-)-HCA Các hợp chất lacton không đem lại hoạt tính sinh học như mong muốn Dạng lỏng của HCA không bền trong quá trình cất giữ, vì vậy
nó không thể là dạng tối ưu nhất trong thực phẩm Người ta đã sử dụng hydroxit, oxit hoặc cacbonat kim loại tương ứng để tạo muối, nó bền hơn và hiệu quả của nó tương tự như (-)-HCA, là những chất bổ sung ăn kiêng, những những sản phẩm chức năng để giảm cân
Nhiều nghiên cứu đã được chứng nhận về việc pha chế muối của (-)-HCA Singh và các cộng sự mô tả việc pha chế muối Canxi của (-)HCA, hạn chế của muối này là không tan nhiều trong nước Ganga Raju mô tả việc pha chế muối
Majeed và những cộng sự đã báo cáo cách tạo muối Kali hydroxycitrat bằng cách sử dụng rượi alkyl để chiết (-)-HCA từ quả Garcinia, sau đó dịch chiết được sử
lý bằng KOH và kết tủa Kali hydroxycitrat (hình 1.8.I) hình thành lắng xuống đáy Ibnusaud và những cộng sự đã báo cáo cách chiết tách axit (-)-HCA từ vỏ quả tươi hoặc khô của G.cambogia, G.indica, G.antroViridis Nó bao gồm 4 đến 5 cách