1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học trong một số dịch chiết từ cây tầm gửi trên cây khế chua ở hòa vang đà nẵng

64 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Chiết Tách Và Xác Định Thành Phần Hóa Học Trong Một Số Dịch Chiết Từ Cây Tầm Gửi Trên Cây Khế Chua Ở Hòa Vang, Đà Nẵng
Tác giả Văn Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn TS. Trần Mạnh Lục
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Hóa dược
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA HÓA VĂN THỊ THÙY TRANG NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG MỘT SỐ DICH CHIẾT TỪ CÂY TẦM GỬI TRÊN CÂY KHẾ CHUA Ở HÒA V

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA

VĂN THỊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG MỘT SỐ DICH CHIẾT TỪ CÂY TẦM GỬI TRÊN CÂY KHẾ CHUA Ở HÒA VANG,

ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN HÓA HỌC Chuyên ngành: Hóa dược

Năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA

VĂN THỊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG MỘT SỐ DICH CHIẾT TỪ CÂY TẦM GỬI TRÊN CÂY KHẾ CHUA Ở HÒA VANG,

ĐÀ NẴNG

GVHD: TS Trần Mạnh Lục SVTH: Văn Thị Thùy Trang Lớp: 12CHD

Năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành, em xin chân thành tỏ lòng biết ơn đến người đã hết lòng chỉ dẫn tận tình, động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Trần Mạnh Lục người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo Khoa Hóa – Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã giảng dạy em trong bốn năm qua, những kiến thức bổ ích trên giảng đường đại học sẽ là hành trang giúp em vững bước trong tương lai

Em xin chân thành cảm ơn cha mẹ, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ

em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Cuối cùng, em xin gửi đến mọi người lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Sinh viên thực hiện Văn Thị Thùy Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là Trần Mạnh Lục Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu thập từ các nguồn tài liệu khác nhau được ghi trong phần tài liệu tham khảo

Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2016

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Một xã hội ngày càng phát triển thì người ta càng quan tâm đến vấn đề sức khỏe Hiện nay có nhiều loại cây thuốc đã và đang được sử dụng để chữa bệnh nhưng chỉ dựa vào kinh nghiêm dân gian, chưa được nghiên cứu kĩ về phương diện khoa học nhằm nâng cao hiệu lực chứa bệnh

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú (trên 12000 loài thực vật bậc cao) với nguồn dược liệu dồi dào (gần 4000 loài cây thuốc) và truyền thống sử dụng dược liệu có nguồn gốc tự nhiên từ lâu đời Đây là một nguồn nguyên liệu vô cùng quý giá cho các nghiên cứu về hợp chất thiên nhiên, cũng như những nghiên cứu về hoạt tính sinh học theo hướng hiện đại [1]

Nguồn dược liệu tự nhiên không chỉ bổ sung thuốc cho hóa trị liệu, mà còn góp phần vào việc khắc phục các tác dụng phụ do các hóa chất tổng hợp gây nên Nguồn tài nguyên đa dạng của sinh giới kết hợp với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ và tiến bộ của các thiết bị nghiên cứu là các loại bệnh tật

Từ lâu, Đông y đã sử dụng các loài Tầm gửi để làm thuốc chữa nhiều bệnh, rất công hiệu Đa số các loài Tầm gửi đều có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau nhức xương khớp, cơ nhục do phong thấp hoặc do chấn thương, té ngã, tăng huyết áp, rối loạn tâm thần Một số loài có tác dụng an thai, thúc sữa sau sinh Theo y học hiện đại, tầm gửi có tác dụng chống viêm, giảm đau, chống ôxy hóa và bảo vệ gan [4]

Cho đến nay những công bố về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của các loài tầm gửi trên thế giới còn rất ít Ở Việt Nam, y học cổ truyền thường dùng tầm gửi trên cây dâu (tang ký sinh) [5] Gần đây có một số luận văn cao học bước đầu nghiên cứu tầm gửi trên cây Bưởi, trên cây Dâu tằm và trên cây Trúc đào, tầm gửi trên cây Mít và một số khóa luận tốt nghiệp đại học sơ bộ nghiên cứu tầm gửi trên cây Nhãn, trên cây Quất hồng bì, trên cây Cao su Để góp phần tìm hiểu thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của một số loài Tầm gửi đang được dùng theo kinh

nghiệm dân gian ở một số địa phương, đề tài “Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học trong một số dich chiết từ cây Tầm gửi trên cây khế chua ở Hòa Vang, Đà Nẵng.”, nhằm góp phần làm sáng tỏ những kinh nghiệm dân gian trên

Trang 6

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xây dựng quy trình chiết tách hợp lý từ cây tầm gửi trên cây khế chua

- Xác định thành phần hóa học cây tầm gửi trên cây khế chua

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CÚU

- Đối tượng nghiên cứu

Cây Tầm gửi trên cây khế chua ở Hòa Vang – Đà Nẵng, tháng 4, năm 2015

- Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp chiết tách và xác định thành phần hóa học có trong cây tầm gửi trên cây khế chua

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Thu nhập, tổng hợp các tài liệu, tư liệu về nguồn gốc nguyên liệu, phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên, thành phần hóa học và ứng dụng của cây tầm gửi trên cây khế chua

+ Tìm hiểu phương pháp lấy mẫu, chiết tách và xác định thành phần hóa học các chất từ thực vật

+ Tim hiểu về các phương pháp chiết: chiết lỏng – lỏng bằng dung môi hữu cơ + Tổng quan các tài liệu về đặc điểm hình thái thực vật, thành phần hóa học, ứng dụng

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

+ Phương pháp lấy mẫu và xử lý mẫu

+ Xác định độ ẩm, hàm lượng tro bằng phương pháp trọng lượng

+ Xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp AAS

+ Chiết tách các chất bằng các dung môi khác nhau theo phương pháp chiết lỏng – lỏng

Trang 7

Cung cấp thêm thông tin về cây Tầm gửi như một số chỉ tiêu hóa lý, khảo sát thành phần hóa học và cấu tạo của một số hợp chất chính có trong cây Tầm gửi

6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu thực nghiệm

+ Xử lý mẫu: Thu hái, rửa sạch và xay nhỏ

+ Xác định các thông số: độ ẩm, hàm lượng tro, hàm lượng kim loại nặng + Định danh các chất trong dịch chiết bằng phương pháp GC-MS

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương

Chương 1- Tổng quan (21 trang)

Chương 2- Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm (8 trang)

Chương 3- Kết quả và thảo luận (16 trang)

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 TỔNG QUAN VỀ HỌ TẦM GỬI

1.1.1 Vị trí phân loại khoa học

Theo Từ Điển “Thực Vật Thông Dụng” tập 2, ta có vị trí phân loại họ Tầm Gửi

Nhóm cây, họ tầm gửi (Loranthaceae) là một họ thực vật có hoa, được các nhà

phân loại học công nhận rộng khắp Phần lớn tầm gửi phân bố ở xứ nóng

Có khoảng 60-68 giống và 700-950 loài ở vùng nhiệt đới và vùng cận nhiệt

đới Một vài loài bao gồm Macrosolen conchinchinensis, Scurrula parusitica và nhiều loài của Taxillus có đặc tính chữa bệnh Một vài loài, đặc biệt là Scurrula parasticia

và cùng họ với nó có thể là một thực vật ký sinh gây rắc rối nặng cho cây ăn trái và những cây rừng khác [3], [15]

Trang 9

Hình 1.1 Sự phân bố của Tầm gửi trên thế giới

b Đặc điểm hình thái

Cây tầm gửi (hay còn gọi là chùm gửi) là tên gọi chung của một nhóm các cây

thuốc, có tên khoa học là Ramus Loranthi, chủ yếu thuộc hai họ là Loranthaceae và Viscaceae Tầm gửi là các loài cây sống ký sinh trên các cây chủ khác nhau Sống

bằng những rễ mút cắm sâu hút nhựa của cây chủ mặc dù chúng cũng có lá xanh để có thể tự quang hợp Tùy thuộc vào cây chủ mới có nhiều loại tầm gửi khác nhau, mỗi loại có những đặc tính và công dụng riêng biệt

Là dạng bụi cây, thường sống ký sinh trên cành cây khác, chúng bám trên cây chủ bởi rễ đâm vào thân (epicoetical root) [5], [6]

Cành có đốt, không có lông, lá dày, mọc đối nhau hoặc mọc so le, không có lá kèm, cuống lá thường không rõ ràng, lá xanh có thể quang hợp được nhưng cây không vận dụng khả năng này mà lại sống nhờ cây chủ bằng những rễ mút thọc sâu hút nhựa của cây chủ [5], [15], [21]

Phiến lá đơn, gân lá thường có hình lông chim, mép lá nguyên

Cụm hoa mọc ở trên đỉnh hay nách lá

Lá bắc thường không lộ rõ và không dễ thấy (Tolypanthus) Hoa lưỡng tính, ít khi đơn tính, khoảng 4-6 cánh hoa , đối xứng hai bên hoặc đối xứng tỏa tia, tự do hoặc hợp sinh, mở bằng mảnh vỏ

Nhị hoa nhiều bằng cánh hoa, mọc đối mhau và hợp sinh với nhau

Bao phấn phần lớn là đính góp hoặc đôi khi đính lưng, có khoảng 2-4 ngăn, nứt

ra theo chiều dọc, các ngăn thỉnh thoảng phân chia theo chiều ngang Phấn hoa dẹp hai

Trang 10

đầu, thường có 3 thùy hoặc dạng hình tam giác Bầu nhụy ở bên dưới, 1-4 ngăn, không có noãn thật, bao mầm ở giữa trụ hoặc dưới đáy bầu nhụy Vòi nhụy đơn giản, đầu nhụy nhỏ

Quả mọng (ít khi là quả hạch hoặc là quả nang), có lớp viscin (lớp chất nhầy) trong mô và bên ngoài vỏ hạt Hạt có vỏ ngoài khó nhìn thấy; nội nhũ nhiều, phôi to

Tầm gửi được biết đến rộng rãi ở Braxin với cái tên ''Erva - de passarinho '' do

sự phụ thuộc của chúng vào sự phát tán của chim Chỉ có một loài biết đến được phát tán bằng một nhóm khác, thú có túi [1]

Từ Mistletoe (cây Tầm gửi) bắt nguồn từ thực tế rằng loài cây này thường xuất hiện ở những nơi chim muông để lại chất thải của mình Theo tiếng Anglo - Saxon, mistel có nghĩa là phân và toe có nghĩa là cành cây Vì vậy tên thông thường của nó có nghĩa là “phân trên cành cây” Tên khoa học của tầm gửi trong tiếng Hy Lạp, phoradendron có nghĩa là “ kẻ trộm trên cành cây” Hạt của Tầm gửi được phát tán qua mỏ, chân và cơ quan tiêu hoá của loài chim Đó là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi: Nhiều loài chim sử dụng Tầm gửi để làm tổ [10]

Cấu trúc xâm nhập vào gỗ cây chủ của các loài trong họ Tầm gửi được gọi là giác mút hay rễ mút Rễ mút hút nước và chất khoáng của cây chủ để cung cấp chất dinh dưỡng cho Tầm gửi [26] Năm 1998, Calvin và Wilson đã phân biệt rễ mút ở Tầm gửi thành 4 kiểu và đã được công nhận rộng rãi đó là:

- Kiểu 1: rễ Tầm gửi ở phía ngoài vỏ cành cây chủ, mọc dọc theo bề

mặt của cành và có rễ mút đâm vào libe của cây chủ để lấy chất dinh dưỡng

- Kiểu 2: nơi rễ mút đâm vào cây chủ phồng lớn gồm mô của rễ mút là chủ yếu

và một phần mô của cây chủ

- Kiểu 3: nơi rễ mút đâm vào cây chủ phồng lớn gồm mô của cây chủ là chủ yếu và một phần mô của rễ mút

- Kiểu 4: rễ cây kí sinh đâm vào vỏ cây chủ, lan truyền trong vỏ và đi đến vùng

gỗ của cây chủ để hút chất dinh dưỡng [19]

Hệ thống rễ mút của một số loài trong họ Tầm gửi đã được nghiên cứu và mô

tả Qua nghiên cứu của Blakely (1922), Calvin và Wilson (1998), Hamilton và Barlow (1963), Kuijt (1969) đã chỉ ra rằng có một sự thay đổi đáng kể về rễ mút của các loài Tầm gửi Hình thái rễ mút không chỉ biến đổi từ lúc non đến khi trưởng thành mà còn

Trang 11

thay đổi với loài cây chủ cũng như tuổi của cây (Thoday, 1961), (Bhojwani và Johri, 1977) Có thể, các loài cây chủ góp phần hình thành một phần hoặc toàn bộ về sự phát triển của rễ mút (Docters Van Leeuwen, 1954) [13], [15]

Một số loài của họ Tầm gửi có sự tiêu giảm cơ quan sinh dưỡng và chỉ xuất hiện rễ mút xâm nhập vào libe cây chủ [27]

Tầm gửi lấy được dinh dưỡng đáng kể bằng cách kết nối tới libe của cây chủ, nhưng phần lớn chúng lấy chất dinh dưỡng bằng cách xâm nhập vào mô gỗ của cây chủ Marshall và Ehleringer (1990) cho rằng Tầm gửi có thể có được một phần đáng

kể nhu cầu về carbon trực tiếp từ gỗ cây chủ Điều này được đưa ra để ước lượng tỷ lệ đạt được carbon dị dưỡng của Tầm gửi (ví dụ, Richter et al., 1995) Raven (1983) cho rằng Tầm gửi nhận được nitơ chủ yếu thông qua các hợp chất chứa nitơ hữu cơ từ nhựa gỗ của cây chủ [26]

1.1.3 Phân loại tầm gửi

Có thể phân ra làm 3 loại:

- Loại chỉ sống được trên một loại cây chủ nhất định Như cây tầm gửi càng

cua (Viscum articularum Burm) Có cành dẹt chia đốt như càng cua, chỉ sống trên cây sau sau (Liquidambar formosana)

- Loại sống được trên nhiều cây chủ khác nhau Như tầm gửi cây sến

(Elytranthe tricolor H.lee.), thường dùng để bó chỗ gãy xương, có thể mọc được cả trên cây dâu tằm (Morus alba)

- Cùng trên một cây chủ, có thể có nhiều loài tầm gửi mọc ký sinh Ví dụ: vị thuốc lấy từ cây tầm gửi ký sinh trên cây dâu (chữa đau lưng, an thai) gồm nhiều loài,

như ở Trung Quốc có Loranthus parasiticus (L.) Mer., ở Việt Nam có Scurrula

grscilifolia Danser và Loranthus estipitatus Stapf (Nguyễn Văn Trương và ctv, 1991)

[5]

Ngoài ra còn phân loại theo các đặc tính khác

Dựa vào hình thái, giải phẫu, phương thức sinh sống có thể phân ra thành các họ, các chi khác nhau [1]

1.2 Một số họ tầm gửi thường gặp ở Việt Nam

1.2.1 Phân loại

Trang 12

Gồm khoảng 20 loại, 850 loài (trong đó 400 loài thuộc họ Loranthus L.)

thường gặp nhiều ở vùng nhiệt đới

Ở nước ta, có 5 chi phổ biến: Dendrophthoe, Etytranthe, Helixanthera,

Macrosolen, Taxillus [2]

- Cây ký sinh thuộc họ này hầu hết bám vào các bộ phận trên đất của ký chủ, đặc biệt mới có một vài loại bám trên rễ, có rất ít loại có ít nhiều khả năng sống độc lập trong đất

- Họ này phân chia như dưới đây

Bảng 1.1 Một số loại và loài hay gặp của họ Tầm gửi Loại Loài đại biểu

Viscum cruciatum Sieb Viscum farafanganense Lec

Loranthus lancoleatus Pal De B

Loranthus chinensis D.C Loranthus pentapetalus Roxb

Phoradendron Nutt Phoradendron libocedri Nowell

Phorandendron crassifolium (Pohl.) Eichl

Arceuthobium Bieb Arceuthobium chinense Lec

Arceuthobium minutissimum Hook

Loại Viscum L có khoảng 60 loài, ở vùng nhiệt đới, có chủ yếu ở núi Tiêu biểu nhất cho loại này là Viscum album L., một loại cây sống ký sinh tương đối phổ

biến ở nhiều nước trên thế giới

Trang 13

Hình 1.2 Cây Tầm gửi loại Viscum L

Loại Loranthus L mọc rất nhanh thành những bụi cây um tùm, cành dài mọc

đứng lên; rễ hút chọc vào thân cây, rễ không phân nhánh Bộ lá rất phát triển, màu xanh đậm hay hơi đỏ; lá đối hay so le, đa dạng, kích thước thay đổi phụ thuộc vào đặc tính của loài ký sinh, ký chủ và vị trí mọc ở trên ký chủ Hoa lưỡng tính gồm một đài thùy, cánh hoa tự do hoặc gắn với nhau, nói chung nhuộm màu sặc sở, hạt có một lớp chính dính vào bọc, để có thể bám chặt vào cây Gồm nhiều loài rất phổ biến ở vùng nhiệt đới Thường phá hoại các cây cà phê, cao su, cam, chanh, phi lao và một số cây khác

Hình 1.3 Cây Tầm gửi loại Loranthus L

Loại Phoradendron Nutt có khoảng 240 loài, gần giống với Viscum Quả có

màu khác nhau (trắng, vàng, hồng hoặc đỏ) có cơm dính

Hình 1.4 Cây Tầm gửi loại Phoradendron Nutt

Trang 14

Loại Arcenthobium Bieb là những cây nhỏ sống dai, thân có màu sắc thay đổi

tuỳ theo điều kiện (vàng, nâu, xanh) thường đơn giản, dài khoảng 2 – 10 – 15 cm; lá biến thành vảy Quả màu xanh oliu, hình bầu dục, thịt quả lấy nhầy, có một hạt, ít khi

có hạt; quả chính vỏ mít mạnh dưới áp lực cao từ bên trong và bắn hạt ra xa khoảng 6 – 8 m

Hình 1.5 Cây Tầm gửi loại Arcenthobium Bieb

Loại Arcenthobium chinennse Lec phá hoại cây tùng

Loại Phthinisa Mart: cây mọc rất nhiều rễ, bò theo các hướng khác nhau, ở chỗ

tiếp xúc với ký chủ tạo thành vòi hút xâm nhập vào cây

Loại Phthirusa theobromae Elschl, phá hoại cây ca cao

Loại Struthanthus Mart: cây bụi, xanh, mọc nhiều rễ, hoa đài bé, cánh mở tự

do Loài Struthanthus marginatu Desr, ký sinh trên nhiều cây khác nhau: cà phê,

chanh, ổi, [2]

Hình 1.6 Cây Tầm gửi loại Struthanthus Mart Bảng 1.2 Một số lọai tầm gửi ký sinh thường gặp ở Việt Nam

Stt Tên Việt Nam Tên khoa học Loại tầm gửi

1 Cây bồ đề Styrax tonkinensis Lá trung bình

2 Cây điệp Dulcherrima (L.) Lá trung bình

3 Cây khế Rourea minor Lá trung bình

Trang 15

4 Cây thị D ehertioides Lá trung bình

5 Cây me tây Samanea saman Lá lớn

6 Cây lộc vừng B acutangula Lá lớn

7 Cây mận Prunus salicina Lá lớn

8 Cây xoài Mangifera indica Lá trung bình

9 Cây sung F drupacea Lá lớn

10 Cây bạch đàn Stantalum Lá nhỏ

11 Cây gòn C pentandra Lá nhỏ

12 Cây tràm Melaleuca cajupti Lá lớn

13 Cây sanh F.benjamina Không lá

14 Cây mít A.heterophyllus lam. Lá nhỏ

15 Cây điều Syzygium malaccense Lá nhỏ

16 Cây bàng Terminalia catappa Không lá

17 Cây cà phê Coffea dewevrei Struthanthus

Marginatus Desr

19 Chanh Citrus aqrantifolia Lá nhỏ

20 Phi lao Casuarinaequisetifolia Loranthus

2 Cây mai Prunus mume Lá nhỏ

26 Cây dẻ Castanopsis cerebrina

Korthalsella opuntia Thunb

Trang 16

27 Cây hồi Illicium verum Macrosolen

Cochinchinensis Lour

28 Cây bơ Persea americana Lá nhỏ

29 Cây sau sau Liquidambar formosana Viscum

Artialarum Burm.

30 Cây dâu tằm Morus alba Elytranthe lor H.lee

31 Cây dâu B anamensis Có đốt

32 Cây sến Shorea henryana không lá

33 Cây cóc Spondias cytherea Lá nhỏ

1.2.2 Giới thiệu về họ tầm gửi Loranthaceae

a Đặc điểm chi Dendrophthoe

Dendrophthoe Mart - Mộc ký Cây bụi ký sinh phân nhánh, nhánh hình trụ

Lá mọc đối hay mọc so le; thường dày hoặc dầu nguyên, với cuống lá có đốt ở gốc Cụm hoa bông hay chùm ở nách lá Hoa lưỡng tính, thường có màu sắc, mỗi hoa có một lá bắc Đài hợp với bầu, phiến nguyên hay chia thùy Tràng có cánh hợp dính thành ống, phiến hoa 5 thùy, xếp van Nhị 5, đính trên thùy và dính nhau nhiều hay ít với các thùy tràn; bao phấn đính gốc Nhụy có bầu một ô, vòi dạng sợi, đầu nhụy nguyên dạng đầu nhiều hay ít Quả mọng hình cầu, hình trứng hay dạng bầu dục, mang thùy đài tồn tại, hạt có phôi nhủ, dính với vỏ quả Gồm 30 loài ở các vùng nhiệt

đới cựu lục địa; ở nước ta có 3 loài [4]

Dendrophthoe frutescens (Benth.) Danser [Hensloia frutescens Benth.] -

Tầm gửi dây Cây bụi bán ký sinh có khi cành mọc dài thành dây, dài 2 – 8 m Cành

có gốc không lông, nâu đen; lá mọc so le, phiến lá bầu dục hay thon, dài 3 – 7 cm, rộng 1,5 – 3,5 cm, đầu tù tròn, gốc tù, không lông, gân chính 3, cuống 4 – 5 mm Hoa đơn tính cùng gốc; hoa đực mọc thành bông ngắn hay đầu ở nách lá; hoa cái cũng mọc

ở nách lá; bao hoa 5 thùy; nhị 5, nhụy vòi giảm còn có 1 mũi nhọn ở giữa Quả hạch xoan, dài 12 – 15 mm, màu đỏ Phân bố ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam Ở nước ta có gặp từ Thái Nguyên và Lầm Đồng Thường gặp trên cây gỗ trong rừng và trong các trang có cây to ở độ cao 500 – 1.900 m; có khi gặp ở rễ cây Ra hoa vào mùa đông, có quả tháng 2 – 5 [2]

Trang 17

b Đặc điểm chi Helixanthera

Helixanthera Lour - Họ tầm gửi – Loranthceae từ chữ Hy Lạp helix (- ikos):

xoắn vòng, anthera: bao phấn Cây mọc thành bụi Lá mọc so le hay mọc đối Cụm hoa chùm hay bông ở nách lá Hoa lưỡng tính mẫu 4 hay 5; cánh hoa rời nhau Gồm

50 loài ở các vùng nhiệt đới Châu Phi tới Xulavedi Ở nước ta có 9 loài [2], [4]

Helixanthera coccinea (Jack) Dans Tầm gửi đỏ Bụi lúc non có lông hoe,

mau rụng, lóng mảnh dài, lá mọc xen; phiến dai dai, chót tà Đáy tròn, gân – phụ rõ, 5 – 6 cặp Gié dài 6 – 12 cm, mảnh hoa đỏ; cánh hoa rời nhau Phì quả xoan, cao 7 – 8

mm, đầu có thẹo bao hoa còn lại Phân bố ở Bình Dương [5]

c Đặc điểm chi Macrosolen

Macrosolen (Blume) Rchb - Họ tầm gửi – Loranthaceae [từ Hy Lạp Markros:

dài, lớn và solen: cái lô]- Đại cán Cây bụi ký sinh lá mọc đối, có cuống, với phiến lá khá dày, hình ngọn giáo trái xoan hay trái xoan ngược, có gân lông chim Cụm hoa chùm ở nách lá mang hoa mọc đối, có khi chỉ một cặp; mỗi hoa ở nách một lá bắc, với hai lá bắc con mọc đối với lá bắc Đài hình trụ hay hình hủ; phiến khá phát triển, nguyên hay gần có thùy Tràng hợp, phình nhiều hay ít ở đoạn giữa, có hay không có

6 nếp xếp dọc, thùy 6 hình bay, ngã ra ngoài Nhị 6, đính trên các thùy; bao phấn dài, đính gốc, mở dọc Nhụy có bầu dính với ống đài, vòi nhụy dài hơn nhị, đầu nhụy hình cầu Quả mọng hình trứng hay hình cầu, mang phiến đài tồn tại, hạt hình bầu dục, có phần phụ nhỏ ở phía trên Gồm 23 loài ở Đông Nam Á Ở nước ta có 7 loài [2]

Macrosolen cochinchinensis (Lour.) Blume - Đại cán Nam, Đại quản hoa Nam

bộ, tầm gửi cây hồi Cây bụi ký sinh, không lông Nhánh xám, có khía dọc, có cuống ngắn, khá đa dạng, không lông, dai; phiến hình trái xoan hay ngọn dáo, dài 5 – 9 cm, rộng 2,5 – 5,5 cm, thon và tù ở đầu, thon hay tròn ở gốc; gân bên không đều, ít rõ; cuống lá 4 – 5 mm Chùm hoa ở nách, đơn hay từng đôi, dài 2 – 8 cm; cuống hoa 2 -6 mm; lá bắc một, hình trái xoan; lá bắc con 2; hoa mọc đối Đài hình rụ, hơi thắt ở gần đỉnh, thùy ngắn, dài 2,5 mm; tràng dài 12 – 20 mm; hình túi phình ở gốc, cổ hẹp, thùy

6, gập ra ngoài; nhị 6; bầu đính với đài Quả mọng hình trứng màu vàng Phân bố ở

Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia và Philippine

Ở nước ta có gặp từ Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội,

Trang 18

Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Lâm Đồng, Bình Dương, Đồng Nai và Tp HCM Cây

ký sinh trên cây hồi, cây nhót [2]

d Đặc điểm chi Taxillus

Taxillus Tiegh., họ tầm gửi – Loranthaceae – Mộc vệ Cây bụi ký sinh phân

nhánh Lá mọc đối hay gần đối, phiến dài mép nguyên Hoa xếp thành bó, chùm hay tán ở nách lá; lá bắc nhỏ hay dài Hoa lưỡng tính mẫu 4, thường có màu Đài dính với bầu, phiến nguyên hay xẻ thùy Tràng hợp đều hay không đều, các thùy xếp van Nhị

có số lượng bằng số thùy của cánh hoa Đĩa mật14 không có hay ít phát triển Bầu hình 1 ô, vòi hình sợi; đầu nhụy hình đầu nhiều hay ít Quả mọng hình cầu, hình trứng hoặc hình bầu dục Hạt có phôi nhũ Gồm 60 loài ở nhiệt đới cựu lục địa, nhất là ở Nam Phi và Madagasca Ở nước ta có 13 loài [2], [4]

Taxillus ferrugineus (Jack) Ban [Scurrula ferrugineus (Jack) Danser] –

Mộc sét, tầm gửi sét Bụi ký sinh; nhánh non phủ lớp lông mềm màu đỏ nâu, gồm lông dài, bình sao xếp tầng; nhánh già có nhiều lông bì Lá mọc đối hay gần đối; phiến hình trái xoan, tròn ở gốc và ở đầu, dài 5 – 7 cm, rộng 2,5 – 3,5 cm, ở mặt trên có lông rãi rác, mặt dưới phủ lớp lông mềm màu đỏ nâu; cuống lá ngắn, có lông, dài 4 – 5

mm Cụm hoa chùm rất ngắn (1 – 1,5 cm), hoặc bó 2 – 6 hoa Hoa có cuống ngắn 1

mm, có lông mềm, lá bắc ngắn, hình tam giác Đài hơi hình quả lê, dài 4 mm, màu đỏ nâu; tràng hợp, hình trụ, có lông dày, dài 7 – 12 mm, chia 4 thùy; nhị 4, ngắn, bao phấn hình bổ dọc, có 4 túi; bầu dính với đài gồm 4 lá noãn; vòi nhụy, có đĩa mật dạng vòng bao quanh Quả mọng hình quả lê phủ lông màu sét Phân bố ở Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine và Việt Nam Ở nước ta, có gặp từ Kon Tum đến Tp HCM, Bà Rịa Vũng Tàu và An Giang Cây ký sinh trên cây gỗ trong rừng ở độ cao dưới 200 m [2]

1.3 Cách lan truyền

- Một số loài chim ăn quả tầm gửi rồi “gieo hạt” lên cây khác Cơ chế phát tán này cũng khá đặc biệt hạt tầm gửi thường có gắn theo một đoạn dây (bao xung quanh hạt) rất dính Chim ăn quả tầm gửi, sau khi tiêu hoá hạt nhưng dây bao quanh hạt vẫn không tiêu hoá được Khi chim thải phân ra thì những đoạn dây bao quanh hạt này liền dính vào chùm lông quanh hậu môn và hạt cũng dính theo, khi chim gở bỏ hạt (bằng cách dùng mỏ hay cà chùm lông dính tầm gửi lên cành cây) vô tình làm hạt tầm gửi

Trang 19

dính vào cành cây và có thể phát triển thành cây tầm gửi mới Vì thế một loài tầm gửi

có thể gắn lên nhiều loại cây ký chủ khác nhau, khi chim bay từ cây này sang cây khác Cũng có loài tầm gửi thường ký sinh trên một loại cây, vì thế nếu loài chim nào

đó chỉ thích ăn quả hay trú ẩn trên một loài cây sẽ là trung gian gieo hạt thường xuyên của tầm gửi [6]

- Ngoài ra cũng có một giả thuyết khác về cách lan truyền Hạt của tầm gửi

(Turdus viscivorus) có thể phát tán trong khoảng cách rất xa Ở phía tây của Trung

Âu, vào khoảng tháng hai tháng ba Những đàn chim di cư bay từ hướng nam nơi có nhiều tầm gửi đồng thời mang theo hạt đến hướng bắc nơi mà không có tầm gửi Đã

có những giải thuyết sai lầm rằng hạt tầm gửi không thể phát tán vượt quá 2 km và hạt tầm gửi (sau khi chim ăn vào) thì chắc chắn sẽ được tiêu hoá sau 30 phút Vì vậy để hạt tầm gửi được phát tán trong một khoảng cách xa như vậy chắc phải có một cách khác Sau một thời gian nghiên cứu và quan sát người ta mới phát hiện rằng Khi những đàn chim di cư trong một khoảng cách xa, thì những hệ thống mạch máu to nhất sẽ được dồn hết đến các cơ để phục vụ cho việc bay và hệ thống tiêu hoá của chim hầu như ngừng lại hoàn toàn Vì vậy thời gian tiêu hoá và thải phân có thể kéo dài ra và cũng theo đó việc phát tán hạt không chỉ giới hạn trong một khoảng cách chỉ

2 km [1]

1.4 Cách ký sinh trên cây

- Hạt của tầm gửi được bao quanh bởi chất nhầy Khi chim ăn trái tầm gửi và gieo rắc những hạt này lên những cành cây khác hoặc bất cứ nơi nào có thể

- Hạt tầm gửi đã được gieo rắc này sẽ bám chặt vào cành cây và bắt đầu nảy mầm Chúng có thể nảy mầm ở mọi nơi thậm chí trên dây điện thoại, đá, cây cột Tuy nhiên những cây con không thể sống được lâu nếu chúng không nảy mầm trên cành cây sống

- Khi hạt được gieo rắc trên cành cây, đầu tiên rễ tầm gửi mọc ra một giác mút

để dính chặt vào cành cây và từ đó mọc ra một rễ xuyên qua vỏ cây chủ và phát triển rộng khắp cành cây [8]

1.5 Ảnh hưởng của tầm gửi lên những cây chủ

Trang 20

- Nếu tầm gửi tồn tại với số lượng dày đặc trên cây ký chủ có thể ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng sức khoẻ của cây chủ Cây tầm gửi có thể làm giảm sức sống của cây chủ trong ba cách sau:

+ Những cây bị nhiễm tầm gửi có thể sẽ chịu đựng những stress như khả năng chịu đựng hạn hán kém hơn những cây không nhiễm Vì tầm gửi xuất hiện sẽ sử dụng nước của cây chủ một cách tự do

+ Tầm gửi sẽ làm giảm sức sống của cây chủ bởi sự hút dinh dưỡng khoáng của chúng

+ Tầm gửi sẽ làm giảm một cách đáng kể số lượng lá của cây chủ, có thể giảm sức sống của cây chủ thông qua việc làm giảm sự quang hợp của chúng [5]

Sự lớn lên về chiều cao của cây chủ sẽ dễ bị tầm gửi xâm nhiễm hơn những cây lớn lên về đường kính Tình trạng sức khoẻ của cây chủ khi bị tầm gửi ký sinh thường

đi đôi với số lượng của tầm gửi Những cây chủ có thể bị chết khi nhiễm nhiều tầm gửi, nhưng những kết quả về tình trạng sức khoẻ của cây chủ thường là sự kết hợp của stress bao gồm: đất quá khô cằn, hạn hán, sự tấn công của sâu bọ với tình hình nhiễm tầm gửi trong cùng thời điểm Tuy nhiên sự gia tăng về số lượng của tầm gửi có thể trở nên hữu ích trong việc biểu lộ sự xuống dốc về tình trạng sức khoẻ hoặc sự không cân bằng về điều kiện môi trường vì thế cần đến những hoạt động xử lý của con người [3]

1.6 Công dụng của một số loài Tầm gửi

Trong thần thoại cổ cuae dân tộc Đức người ta gọi tầm gửi là “cành chữa bệnh” Các dân tộc khác ở Châu Âu đã dung liềm bằng vàng cắt Tầm gửi để có nước

uống thần kì [13]

Đầu thế kỷ 20 bác sĩ người Pháp Rone Gothiee nhận thấy nước ép lá Tầm gửi

có tác dụng chữa bệnh tim mạch (giai đoạn đầu)

Năm 1920 nhà triết Đức Rucđônphơ Staayne đề nghị dung nước ép tầm gửi để chữa bệnh ung thư nhưng chưa được công nhận [20]

Gần đây các nhà khoa học của viện y học Getingen (LBĐ) đã tìm ra trong nước

ép tầm gửi có chứa chất Protein miễn dịch, chất này làm tăng hoạt tính và sức “chiến đấu” cuae hệ thống miễn dịch Họ tập trung nghiên cứu những Protein đặc biệt cuae

Trang 21

thực vật có tên gọi Lectin - loại này gắn vào các tế bào động vậ có vú một cách chọn lọc

Một Lectin của Tầm gửi được phát hiện với tên ML-I bám dính một cách có chọn lọc vào bề mặt các tế bào miễn dịch tạo ra Interferon, Interleukin và chất diệt tế bào ung thư Các chất này còn hoạt hóa toàn bộ hệ thống miễn dịch [19]

Vai trò của ML-I được chứng minh bằng cách nếu loại Lectin ra khỏi nước ép Tầm gửi thì nước ép này sẽ không còn tác dụng nữa

Các nhà khoa học thuộc Đại học Charite (Đức) cho biết chất chiết xuất từ một

loài Tầm gửi (Loranthus), có khả năng kích hoạt một số tế bào miễn dịch tấn công

virut viêm gan C và có khả năng lọc sạch các tế bào bệnh, làm cho gan bệnh nhân sớm phục hồi Thành phần hóa học của họ Tầm gửi có nhiều lớp chất có hoạt tính sinh học như các flavonoid, các hợp chất phenolic và các pentacyclic, triterpen, coumarin, saponin, acid hữu cơ, chất béo, đường khử, steroid, polysaccharide…[23]

Mộc vệ Trung Quốc biểu hiện tác dụng ức chế sự tổng hợp axit béo và làm giảm trọng lượng ở chuột được thông qua một thí nghiệm sàng lọc các nhà khoa học Trung Quốc tiến hành Dựa trên cơ sở này, năm 2006, Wang Y và cộng sự đã xác định các đặc tính ức chế và thông số động lực học của tác dụng này ở Tầm gửi Kết quả thí nghiệm cho thấy dịch chiết Tầm gửi ức chế được sự tổng hợp axit béo thuận

nghịch và không thuận nghịch với giá trị IC50 là 0,48µg/ml, với giá trị này Taxillus chinensis (DC.) Danser được xem là cây thuốc có khả năng ức chế sự tổng hợp axit

béo tiềm năng nhất đã được báo cáo từ trước tới nay [6]

Tầm gửi trên cây Dâu –Ramulus Loranthi

Trị phong thấp, đau nhức xương, thần kinh ngoại biên, thần kinh tọa, chữa huyết áp, động thai, lợi sữa…

Tên thuốc là tang ký sinh có vị đắng, tính bình, vào 2 kinh can, thận Có tác dụng trừ phong thấp, mạnh gân cốt, dùng khi chức năng can thận kém dẫn đến đau lưng mỏi gối Dùng riêng bằng cách rửa sạch, phơi khô, chặt thành đoạn, sao vàng, sắc uống; hoặc phối hợp với các vị thuốc bổ can thận khác như tục đoạn, cẩu tích, đau xương, tang chi

Bài “Độc hoạt ký sinh thang”: tang ký sinh 18g; độc hoạt, tần cửu, phòng phong, đương quy, bạch thược, đỗ trọng, ngưu tất, mỗi vị 9g; tế tân 3g, sinh địa 15g;

Trang 22

đảng sâm, phục linh, mỗi vị 12g; nhục quế 1,5g, cam thảo 6g Bài này công năng chính là trừ phong thấp, bổ khí huyết, ích can thận Dùng trị chứng thấp tý, đau nhức thần kinh, cơ nhục, thần kinh ngoại biên, thần kinh tọa Sắc uống ngày một thang chia 3 lần trước bữa ăn Cũng có thể bào chế dạng thuốc hoàn hoặc ngâm rượu

Bài “Thiên ma câu đằng ẩm”: tang ký sinh, thảo quyết minh (sao vàng), mỗi vị 32g, thiên ma, câu đằng, chi tử, hoàng cầm, đỗ trọng, mỗi vị 12g, dây hà thủ ô đỏ, bạch linh, mỗi vị 20g, ngưu tất, ích mẫu, mỗi vị 16g Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, trước bữa ăn Dùng trị chứng tăng huyết áp, tim hồi hộp, khó ngủ

Những thang thuốc trên dùng tốt nhất cho người cao tuổi trong lúc giao mùa từ nóng sang lạnh, từ mùa thu sang đông

Ngoài ra, tang ký sinh còn được phối hợp với chư ma căn (củ cây gai), tô ngạnh (cành tía tô), ngải diệp; trị ít sữa của phụ nữ sau sinh [6]

Tầm gửi cây chanh

Dùng trị các chứng ho khan, ho gió, ho có đờm đặc Khi dùng thường cũng sao chế như tang ký sinh, có thể phối hợp với các vị trị ho khác như trần bì, tang bạch bì,

xạ can, mạch môn dưới dạng thuốc sắc, siro hay viên ngậm [6]

Tầm gửi cây na, cây mít

Còn dùng trị bệnh sốt rét hoặc chứng “hàn nhiệt vãng lai”, tức bệnh có lúc sốt, lúc rét Có thể phối hợp với thanh hao, sài hồ, hoàng cầm, thảo quả, binh lang [6]

Tầm gửi cây xoan

Chữa bệnh đường ruột, kiết lỵ, táo bón, viêm đại tràng [6]

Tầm gửi trên cây cúc tần

Cho hạt là vị thuốc thỏ ty tử tác dụng bổ thận tráng dương, chữa di tinh, liệt dương, tiểu dầm : hạt tơ hồng (thỏ ty tử) 8g, thục địa 16g, lục giác giao, đỗ trọng, mỗi vị 12g, kỷ tử, nhục quế, mỗi vị 10g, sơn thù du, phụ tử chế, đương quy, mỗi vị 8g Ngày một thang, dạng thuốc sắc [6]

Tầm gửi cây gạo

Có tác dụng tốt để điều trị viêm cầu thận, phù thận, sỏi thận, chức năng gan yếu, gan nóng; đặc biệt làm tăng khả năng thải độc của gan [6]

Tầm gửi cây khế

Trang 23

Chữa gãy xương: Lấy tầm gửi cây khế giã nhỏ trộn với nước vo gạo nướng rồi

đắp vào chỗ gãy xương

Chữa ho gà, sốt rét: sao vàng tầm gửi cây khế, sắc uống

Chữa ho và hen sữa trẻ em: dùng tầm gửi cây khế phối hợp với tầm gửi cây

ruối, rau má Mỗi thứ 20g, bạc hà, lá hẹ mỗi thứ 10g Sắc đặc, thêm mật ong cho đủ ngọt, uống [6]

Chùm gửi quả chùy - Scurrula Parasitica L

Làm thuốc bổ gan thận, mạnh gân cốt, lợi sữa, trị phong thấp, đau nhức xương,

di chứng bại liệt, động thai, cao huyết áp [6], [9]

Chùm gửi cây Dẻ - Korthalsella japonica (thunb.) Engl

Dùng trị cảm mạo, đau dạ dày, tổn thương, trị thấp khớp, viêm họng, các bệnh

dị ứng, bệnh ngoài da.…[6]

Chùm gửi lá nhỏ – Taxillus gracilifolius Schult

Chữa đau lưng, mỏi gối, phong thấp, mụn nhọt, làm chắc chân răng, làm sáng mắt, giúp tóc chóng mọc và cũng dùng làm trà uống cho phụ nữ mới sinh [6]

Chùm gửi Sét – Scurrula ferruginea (Jack.) Danser

Trị gân cốt mỏi đau, động thai, giúp phụ nữ sau khi sinh lợi sữa…[6]

Đại quản hoa Nam Bộ – Macrosolen cochinchinensis (Lour.) Blume

Dùng để chữa ho, tê thấp (nếu ký sinh trên cây Hồi), chữa tiêu chảy (nếu ký sinh trên cây Nhót),…[6]

Dendrophthoe falcate (f.l) Dans

Dùng làm thuốc an thần, chất gây mê, thuốc lợi tiểu, trị bệnh hen suyễn, điều kinh, trị bệnh lao phổi, trị viêm loét, giúp làm đông máu, ngừa sảy thai, sinh non…[6]

1.7 Thành phần hóa học

Vijay Sodde và cs [25] thu thập Macrosolen parasiticus (L.) Dans từ cây khỏe

mạnh ở vùng Manipal, Karrataka (Ấn Độ) trong tháng 9 năm 2011 để sàng lọc các thành phần hóa học Các tác giả chiết suất bột lá với các dung môi khác nhau theo thứ

tự phân cực: ether dầu hỏa, benzene, chloroform, aceton, ethanol thấy Macrosolen parasiticus (L.) Dans có chứa carbohydrat, phytosterol, các loại dầu và các hợp chất

phenolic, saponin, protein và flavonoid

Trang 24

Bảng 1.3 Thành phần hóa học của bột lá Macrosolen parasiticus (L.) Dans

Vũ Xuân Giang đã tiến hành phân lập một số thành phần hóa học trong cây tầm

gửi Taxillus chinensis (DC.) Dans., kí sinh trên cây Gạo; Macrosolen tricolor

(Lecomte) Danser Kí sinh trên cây Na

Trang 25

Hình 1.7 Các thành phần hóa học trong cây Tầm gửi Taxillus chinensis (DC.) Dans

và Macrosolen tricolor (Lecomte) Danser

Trang 26

Thành phần hóa học có trong cây Dandrophtoe falcata (L.f) Dans., họ Chùm gửi (Loranthaceae)[13,19,20,22,25,26] gồm:

Strospeside (1), Odoroside F (2), Neritaloside (3), β-Sitosterol (4),

Stigmasterol (5), Catechin (6), Oleanoic acid (7), Gallic acid (8), Ellagic acid

(9), Quercetin (10), Leucocyanidin (11), Quercitrin (12), Kaempferol-3-O-α rhamnopyranoside (13) , Myricitine (14), β-Amyrin acetate (15), 3β-Acetoxy-urs-12-ene-11-one (16), 3β-Acetoxy-lup-20(29)-ene (17), 30-Nor-lup-3β-acetoxy-20-one (18), (20S)-3β-Acetoxy-lupan-29-oic (19), 3β-acetoxy-1β-(2-hydroxy-2-propoxy)-11α-hydroxy-olean-12-ene (20), 3β-acetoxy-11α-ethoxy-1β-hydroxy-olean-12-ene (21), 3β-acetoxy-1β-hydroxy-11α-methoxy-olean-12-ene (22), 3β-acetoxy-1β,11α-dihydroxyolean-12-ene (23), 3β-acetoxy-1β,11α-dihydroxy-urs-12-ene (24)

Trang 27

L-Hình 1.8 Thành phần hóa học có trong cây Dandrophtoe falcata (L.f) Dans., họ

Trang 28

Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh

lý, sinh hóa của loài này [6], [14], [15], [18] Năm 2009, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hạt, khoa Hoá học, Trường ĐHSP TP, Hồ Chí Minh tách được 2 hợp chất kí hiệu là MM1 và MM2 từ lá TGNN kí sinh trên cây Mít [6]

OH

HO

Fridenlane β-Sitosterol-3-O-β-glucopyranoside

Hình 1.9 Cấu tạo hoá học của Fridenlane và β-Sitosterol-3-O-β-glucopyranoside

Năm 2006, nhóm tác giả người Indonesia, Nina artani, Yelli Ma’arifa and Muhammad Hanafi đã tách được quercitrin (C21H20O11) và querceti (C15H10O7) từ

cao ethanol của cây TGNN -Dendrophthoe pentandra (L.) Miq kí sinh trên cây Khế (Averrhoa carambola) [21]

Hình 1.10 Cấu tạo hoá học của quercitrin và querceti

1.8 Giới thiệu về Tầm gửi cây khế

Trang 29

Cây bán ký sinh có nhánh to, hình trụ, sù sì Lá mọc so le, có khi gần như đối; phiến đa dạng, chóp tù hay nhọn, gốc tù, không lông, dày như da, dài 5-9cm, rộng 3-6cm Hoa xếp thành bông, đơn độc hoặc từng đôi ở nách lá; hoa có 5 cánh, đính thành ống hơi phình, phía trong đỏ Quả xoan tròn, cao đến 1cm, bao bởi các thùy của đài [29]

Phân bố: trên thế giới, cây tàm gửi chi Dendrophthoe được tìm thấy ở Ấn Độ,

Lào, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Philipin Ở Việt Nam, cây thường mọc ở đồng bằng trung du cho tới rừng ngập mặn ven biển, từ Hà Tây tới Khánh Hoà, Lâm Ðồng, Ninh Thuận, Tây Ninh, Ðồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang Thường gặp ký sinh trên cây Trám trắng, Xoài, Khế, Mãng cầu và có khi cả trên cây Dâu [2], [9]

Trang 30

CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 NGUYÊN LIỆU

2.1.1 Thu gom nguyên liệu

Tầm gửi trên cây khế chua được thu hái ở Hòa Vang – Đà Nẵng, tháng 4, năm

2015 Tầm gửi trên cây khế chua thuôc họ tầm gửi (Loranthaceae)

2.1.2 Xử lý nguyên liệu

Tầm gửi trên cây khế chua sau khi thu hái loại bỏ lá hư

- Làm sạch: Thân lá tầm gửi trên cây khế chua bám bụi bẩn… được cho vào một

chậu lớn, cho nước ngập, để yên trong khoảng 5 phút, dùng tay khuấy cho bụi bẩn lắng xuống dưới sau đó vớt ra Tiến hành rửa như vậy đến khi sạch hoàn toàn

- Phơi phô: Thân lá tầm gửi sau khi được rửa sạch, đựng trong rá, dùng tay vẩy

mạnh rá đựng lá, cho nước dễ dàng chảy xuống Làm khô lá bằng ánh nắng mặt trời, thân và lá chuyển thành màu xanh đậm qua nhạt dần, bề mặt thân và lá khô hoàn toàn

là được Trong quá trình hong khô, xới thường xuyên để được khô đều

- Xay bột: Sau khi được hong khô, thân lá được xay nhỏ thành bột bằng máy

xay sinh tố gia đình

a Thân lá cây tầm gửi b Thân lá cây tầm gửi sau rửa sạch

c Thân lá cây tầm gửi sau phơi khô d Thân lá cây tầm gửi sau xay nhỏ

Hình 2.1 Tầm gửi qua các giai đoạn xử lý

2.2 HÓA CHẤT, THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM

Trang 31

- Thiết bị: Máy đo quang UV-VIS, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) (Đại học Bách Khoa – Đại họ Đà Nẵng), máy đo sắc kí khí ghép khối phổ GC-MS (Trung tâm Đo lường chất lượng II - Số 2/Ngô Quyền/Đà Nẵng), tủ sấy, lò nung, cân phân tích…

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Sơ đồ nghiên cứu

Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu

Trang 32

2.3.2 Các phương pháp kỹ thuật

Phương pháp chiết là phương pháp lấy chất từ hỗn hợp bằng dung môi để tách biệt, cô và tinh chế các cấu tử có trong hỗn hợp thành cấu tử riêng Có thể chiết từ hỗn hợp dung dịch hay từ chất rắn

2.3.2.1 Chiết Rắn – Lỏng

- Nguyên tắc: Thân lá cây tầm gửi đã xay mịn được đặt trong nồi innox có nắp đậy Rót nước cất vào nồi cho đến xấp xấp bề mặt lớp nguyên liệu Đun nóng khoảng 2h ở nhiệt đồ cao bằng bếp ga, để dung môi xuyên thấm vào cấu trúc tế bào thực vật

và hòa tan các hợp chất tự nhiên Sau đó dung dịch chiết được lọc bằng giấy lọc

Tiếp đó dung môi mới lại được đổ vào nồi chứa nguyên liệu và tiếp tục chiết thêm vài lần nữa

Sau đó làm bay hơi dung môi để thu được cao chiết

- Cách tiến hành: Cân 1kg thân lá tầm gửi cho vào nồi đã rửa sạch, hong khô Tiến hành chiết trong nhiệt độ cao với 6 lít nước cất trong vòng 2 tiếng thì thu dich chiết, lọc cặn Sau đó tiếp tục cho thêm 6 lít nước cất vào, chiết nóng trong 2 tiếng như trước Tiến hành chiết như trên trong 3 lần

2.3.2.2 Chiết Lỏng – Lỏng

- Nguyên tắc của kỹ thuật chiết này là dựa trên cơ sở sự phân bố của chất phân tích vào hai pha lỏng (2 dung môi) không trộn lẫn được vào nhau (trong hai dung môi này, có thể một dung môi có chứa chất phân tích) được để trong một dụng cụ chiết, như phễu chiết, bình chiết Và thế hệ số phân bố nhiệt động Kb của cân bằng chiết là một yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiếtvà tiếp đến là sự ảnh hưởng của nhiệt độ, môi trường axit Và Kpb là hằng số nhiệt động Chiết theo kiểu này có hai cách là chiết tĩnh và chiết theo dòng chảy liên tục Trong phân tích, kiểu tĩnh được ứng dụng nhiều hơn, và sự đơn giản của nó

Việc chiết lỏng - lỏng được thực hiện bằng bình lóng, trong đó cao nước thô ban đầu ở dạng sệt dẻo Sử dụng lần lượt ác dung môi hữu cơ, loại không hòa tan với nước hoặc loại có thể tạo hỗn hợp với nước, để chiets ra khỏi nước các hợp chất có tính phân cực khác nhau (tùy vào độ phân cực của dung môi) Tùy vào tỷ trọng so sánh giữa dung môi và nước mà pha hữu cơ nằm ở lớp trên hoặc ở dưới so với pha nước

Ngày đăng: 26/06/2021, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[13]. Einbond, L.S., Reynertson, K.A., Luo, X.D., Basile, M.J. and Kennelly, E.J. (2004), “Anthocyanin antioxidants from adible fruits”, Food Chemistry, 84, pp. 23-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anthocyanin antioxidants from adible fruits”, "Food Chemistry
Tác giả: Einbond, L.S., Reynertson, K.A., Luo, X.D., Basile, M.J. and Kennelly, E.J
Năm: 2004
[14]. Jiagang, D. (chief aditor) (2009), “Study on mango leaf and mangiferin”, The 1 st International Symposium on Screening Functional Components of Agriccultural Ressidues and Study on Mengiferin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study on mango leaf and mangiferin"”
Tác giả: Jiagang, D. (chief aditor)
Năm: 2009
[15]. Johannes L. González-Guevara, Herman Vélez-Castro, Kethia L. González-García, Armando L. Payo-Hill, José A. González-Lavaut, Jorge Molina-Torres, Sylvia Prieto-González (2006), “Flavonoid glycosides from Cuban Erythroxylum species”, Biochemical Systematics and Ecology, 34, pp. 539-542 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flavonoid glycosides from Cuban "Erythroxylum "species”, "Biochemical Systematics and Ecology
Tác giả: Johannes L. González-Guevara, Herman Vélez-Castro, Kethia L. González-García, Armando L. Payo-Hill, José A. González-Lavaut, Jorge Molina-Torres, Sylvia Prieto-González
Năm: 2006
[17]. K. R. Markham, B. Ternai (1976), “ 13 C NMR of flavonoids-II: Flavonoids other then flavone and Flavonol aglycones”, Tetrahedron, 32, pp. 2607-2612 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 13C NMR of flavonoids-II: Flavonoids other then flavone and Flavonol aglycones”, "Tetrahedron
Tác giả: K. R. Markham, B. Ternai
Năm: 1976
[18]. Nina Artani, Yelli Ma’arifa and Muhammad Hanafi (2006), “Isolation and identification of active antidioxant compound from star fruit (averrhoa carambola) Misletoe (Dendrophtoe pentandra (L.) Miq.) ethanol extract”, Journal of Applied Sciences, 6(8), pp. 1659-1663 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Isolation and identification of active antidioxant compound from star fruit ("averrhoa carambola") Misletoe ("Dendrophtoe pentandra "(L.) Miq.) ethanol extract”, "Journal of Applied Sciences
Tác giả: Nina Artani, Yelli Ma’arifa and Muhammad Hanafi
Năm: 2006
[19]. Sayyadakhatoon, Harfh singer, Anil Kumar Goel (2007), “Use of HPTLC to establish the chemotype of a parasitic plant Dendrophthoe falcata (Linn.f) Etting. (Loranthaceace), grouing on different substrates.Chemistry and Materials science”. Polish Journal of Ecology, 55(3), pp.579-583 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of HPTLC to establish the chemotype of a parasitic plant "Dendrophthoe falcata "(Linn.f) Etting. (Loranthaceace), grouing on different substrates. Chemistry and Materials science”. "Polish Journal of Ecology
Tác giả: Sayyadakhatoon, Harfh singer, Anil Kumar Goel
Năm: 2007
[20]. Severi, J.A., Lima, Z.P., Kushima, H., Monteiro, A.R., Brito, S., Santos, L.C., Vilegas, W. and Lima, C.A.H. (2009), “Polyphenol with antiulcerogenic action from aqueous decoction of mango leaves (Mangifera indica L.)”, Molecules, 14, pp. 1098-1110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polyphenol with antiulcerogenic action from aqueous decoction of mango leaves ("Mangifera indica "L.)”, "Molecules
Tác giả: Severi, J.A., Lima, Z.P., Kushima, H., Monteiro, A.R., Brito, S., Santos, L.C., Vilegas, W. and Lima, C.A.H
Năm: 2009
[21]. S.P.Pattanayak, P.Mitra Mazumder, P.Sunita (2008), “Dendrophthoe falcata (L.F) Ettingsh: A consenus Review”, Pharmacognosy Review [Phcog Rev], 2, Issue 4, Ful-Dec, pp. 359-368 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dendrophthoe falcata (L.F) " Ettingsh: A consenus Review”, "Pharmacognosy Review [Phcog Rev]
Tác giả: S.P.Pattanayak, P.Mitra Mazumder, P.Sunita
Năm: 2008
[22]. Talamond, P., Mondolot, L., Gargadennec, A., Kochko, A., Hamon, S., Fruchier, A. and Campa, C. (2008), “First report on mangiferin (C-glucosyl- xanthone) isolated from leaves of Mangifera indica”, Acta Bot.Gallica, 155(4), pp. 513-519 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First report on mangiferin (C-glucosyl- xanthone) isolated from leaves of "Mangifera indica"”, "Acta Bot.Gallica
Tác giả: Talamond, P., Mondolot, L., Gargadennec, A., Kochko, A., Hamon, S., Fruchier, A. and Campa, C
Năm: 2008
[26] (Venturelli, (1981), Venturelli và Kraus (1989), Sargent (1995), Calvin and Wilson (2006); similarly in related Viscaceae: Zuber, 2004) (Martı´nez del Rio et al., 1995, 1996; Mauseth et al., 1984, 1985; Medel et al., 2002; Silva and Martı´nez del Rio, 1996) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm