Do vậy, đánh giá hiện trạng kim loại nặng trong môi trường trầm tích là rất cần thiết do bởi tính độc, tính bền vững và Trầm tích hồ đô thị rất giàu sulphide và vật chất hữu cơ, đây chín
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA -
TRẦN CÔNG LÂM
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KIỂM
SOÁT KIM LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH
HỒ BÀU TRÀM – TP ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC
Đà Nẵng – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA -
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KIỂM
SOÁT KIM LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH
HỒ BÀU TRÀM – TP ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC
Sinh viên thực hiện : Trần Công Lâm
Lớp : 10CQM Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Đình Chương
Đà Nẵng – 2014
Trang 3ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐHSP Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
KHOA HÓA -
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Trần Công Lâm
Lớp: 10CQM
1 Tên đề tài: Đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng và đề xuất biện pháp kiểm soát
đối với trầm tích của hồ Bàu Tràm – TP Đà Nẵng
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị:
Nguyên liệu: Mẫu bùn hồ Bàu Tràm, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng
Dụng cụ: Bình tam giác, bình định mức, pipet các loại, phễu, cốc, ống đong
Thiết bị: Cân, máy đo phổ hấp thu nguyên tử (AAS), thiết bị lấy mẫu bùn
Hóa chất: axit HNO3 1%
3 Nội dung nghiên cứu:
- Khảo sát lấy mẫu và đánh giá hiện trạng chất lượng trầm tích hồ Bàu Tràm
- Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và khả năng xử lý kim loại nặng của cây Chuối hoa khi qua mô hình đất ngập nước
4 Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đình Chương
5 Ngày giao đề tài: ngày 25/10/2013
6 Ngày hoàn thành: tháng 5/2015
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày….tháng….năm 2014
Kết quả điểm đánh giá……
Ngày…tháng….năm 2014
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình hoàn thành luâ ̣n vă n, em đã nhâ ̣n được sự hướng dẫn , giúp đỡ quý báu của các thầy cô và b ạn bè Với lòng kính tro ̣ng và biết ơn sâu sắc em xin đươ ̣c bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường, khoa Hóa học đã ta ̣o mo ̣i điều kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i giúp đỡ em trong quá trình ho ̣c tâ ̣p và hoàn thành luâ ̣n văn
Th.S Phạm Thị Hà – Phó chủ nhiệm khoa Hóa học đã đô ̣ng viê ̣n giúp đỡ và chỉ bảo cho em rất nhiều để em có thể hoàn thành được luâ ̣n văn này
Thầy giáo Nguyễn Đình Chương ngườ i thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ , dạy bảo, đô ̣ng viên và ta ̣o mo ̣i điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho em trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hô ̣i đồng chấm luâ ̣n văn đã cho em những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luâ ̣n văn này
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn Nguyễn Hữu Cưu, Nguyễn Anh Khoa trong nhóm nghiên cứu khoa học đã giúp đỡ, hỗ trợ mình trong suốt quá trình làm khóa luận
Đà Nẵng, ngày… tháng … năm 2014 Sinh viên
Trần Công Lâm
Trang 5MỤC LỤC
Nội dung Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình ảnh
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIM LOẠI NẶNG 1
1.1.1 Định nghĩa và nguồn phát sinh kim loại nặng 1
1.1.2 Tính chất của kim loại nặng 1
1.1.3 Ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam 2
1.1.4 Ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và sức khỏe con người 3
1.2 Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC HỒ ĐÔ THỊ 5
1.2.1 Chất lượng nguồn nước hồ thị 5
1.2.2 Các nguồn gây ô nhiễm hồ đô thị 6
1.2.2.1 Ô nhiễm do tự nhiên 6
1.2.2.2 Ô nhiễm do nhân tạo 6
1.2.2.3 Do một số nguyên nhân khác 8
1.2.3 Các chất gây ô nhiễm 8
1.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC 10
1.4 CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH HỒ ĐÔ THỊ 11
1.4.1 Tách nước thải và nước mưa đợt đầu ra khỏi hồ 11
1.4.2 Xử lý nước thải khi xả vào hồ 12
Trang 61.4.3 Tăng cường quá trình tự làm sạch hồ 12
1.4.4 Giảm thiểu nguồn ô nhiễm từ tầng đáy và bùn cặn 13
1.4.5 Tổ chức quản lý hồ đô thị 14
1.4.6 Tổ chức giám sát 14
1.4.7 Xử lý nước thải 14
1.5 HIỆN TRẠNG HỒ ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 14
1.5.1 Hiện trạng hồ đô thị thành phố Đà Nẵng 14
1.5.2 Hiện trạng hồ Bàu Tràm-Quận Liên Chiểu-Thành phố Đà Nẵng 16
1.5.3 Nguồn gây ô nhiễm hồ Bàu Tràm 17
1.6 ĐẤT NGẬP NƯỚC 19
1.6.1 Khái niệm 19
1.6.2 Phân loại đất ngập nước 20
1.6.2.1 Các hệ thống chảy trên bề mặt (Free water surface - FWS) 20
1.6.2.2 Các hệ thống với dòng chảy ngang dưới mặt đất (Horizontal subsurface flow - HSF) 20
1.6.2.3 Các hệ thống với dòng chảy thẳng đứng (Vertical subsurface flow - VSF) 21
1.6.3 Các nghiên cứu và ứng dụng 21
1.6.4 Cơ chế của quá trình xử lý nước thải bằng đất ngập nước nhân tạo 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1 ĐỐI TƯỢNG 24
2.1.1 Hồ Bàu Tràm 24
2.1.2 Mô hình đất ngập nước 24
2.2 NỘI DUNG 25
2.2.1 Thu thập các số liệu có liên quan 25
2.2.2 Đánh giá hiện trạng môi trường tại hồ Bàu Tràm 25
2.2.3 Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ, quản lý chất lượng trầm tích hồ Bàu Tràm 27
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
Trang 72.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.3.1.1 Thu thập số liệu qua tài liệu 29
2.3.1.2 Thu thập số liệu qua thực nghiệm 29
2.3.2 Phương pháp xây dựng mô hình 30
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu thực địa 30
2.3.5 Phương pháp khảo sát, lấy mẫu và phân tích mẫu 30
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 HÀM LƯỢNG KIM LOẠI NẶNG TRONG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH 33
3.1.1 Hàm lượng các kim loại nặng trong nước 33
3.1.2 Hàm lượng các kim loại nặng trong trầm tích 35
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH ĐẤT NGẬP NƯỚC 37
3.2.1 Sự sinh trưởng và phát triển của cây Chuối hoa 37
3.2.2 Hàm lượng chỉ tiêu thủy ngân (Hg2+) sau khi qua mô hình 38
3.2.2.1 Mô hình 1 và mô hình 2 (tỉ lệ bùn:nước là 75%:25%) 38
3.2.2.2 Mô hình 3 và mô hình 4 (tỉ lệ bùn:nước là 50%:50%) 39
3.2.2.3 Mô hình 5 và mô hình 6 (tỉ lệ bùn:nước là 25%:75%) 39
3.2.2.4 Mô hình 7 và mô hình 8 (tỉ lệ bùn:nước là 0%:100%) 40
3.2.3 Các thông số cơ bản của mô hình 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, đi kèm với sự công nghiệp hóa của đất nước, cụ thể là sự phát triển kinh tế tập trung tại các khu công nghiêp đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt sự hiện diện của kim loại nặng trong môi trường nước đã và đang là vấn
đề đang được toàn xã hội lưu tâm
Trong môi trường thủy sinh, trầm tích có vai trò quan trọng trong sự hấp thụ các kim loại nặng bởi sự lắng đọng của các hạt lơ lửng và các quá trình có liên quan đến bề mặt các vật chất vô cơ và hữu cơ trong trầm tích Sự tích tụ kim loại nặng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật thủy sinh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người thông qua chuỗi thức ăn Sự tích tụ kim loại nặng trong sinh vật có thể đe dọa sức khỏe của nhiều loài sinh vật đặc biệt cá, chim và con người Do vậy, đánh giá hiện trạng kim loại nặng trong môi trường trầm tích là rất cần thiết do bởi tính độc, tính bền vững và
Trầm tích hồ đô thị rất giàu sulphide và vật chất hữu cơ, đây chính là nơi lắng đọng và lưu giữ các chất ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền, nhất là kim loại nặng Trên
cơ sở các vấn đề vừa mới đề cập, đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp
kiểm soát kim loại nặng trong trầm tích hồ Bàu Tràm – TP Đà Nẵng” được thực hiện
với mục tiêu tổng quát là xác đánh giá hàm lượng kim loại nặng As, Cd, Hg, Cr, Cu,
Pb, Zn trong trầm tích tại hồ Bàu Tràm – thành phố Đà Nẵng Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm kiểm soát hàm lượng kim loại nặng bằng mô hình đất ngập nước
Trang 9Gs.TSKH :Giáo sư Tiến sĩ khoa học
QCVN :Quy chuẩn Việt Nam
TCVN :Tiêu chuẩn Việt Nam
BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường
ĐH : Đại học
NXB :Nhà xuất bản
ISO :International Organization for Standardization
FWS : Free water surface
HSF : Horizontal subsurface flow
VSF : Vertical subsurface flow
US-EPA :The current United States Environmental Protection Agency
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả quan trắc chất lượng trầm tích tại hồ công viên 29/3 15 Bảng 3.1 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong nước hồ Bàu Tràm 33 Bảng 3.2 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích hồ Bàu Tràm 35
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Nước thải của nhà máy xi măng Coseco xả vào hồ Bàu Tràm 7
Hình 1.2 Sơ đồ tuyến cống tách nước mưa ra khỏi hồ 11
Hình 1.3 Các phương án bổ cấp nước sạch cho hồ đô thị 12
Hình 1.4 Sơ đồ nguyên tắc thay nước tầng đáy 13
Hình 1.5 Bản đồ vị trí hồ Bàu Tràm 16
Hình 1.6 Quang cảnh hồ Bàu Tràm 17
Hình 1.7 Nguồn gây tác động đến hồ Bàu Tràm 18
Hình 1.8 Khảo sát khu vực xung quanh hồ Bàu Tràm 18
Hình 1.9 Các khu dân cư đang được xây dựng xung quanh hồ Bàu Tràm 19
Hình 1.10 Các cống xả nước thải sinh hoạt vào hồ Bàu Tràm 19
Hình 2.1 Bản đồ quy hoach khu vực hồ Bàu Tràm 24
Hình 2.2 Cây chuối hoa 25
Hình 2.3 Vị trí lấy mẫu bùn 26
Hình 2.4 Sơ đồ vị trí lấy mẫu tại hồ Bàu Tràm 26
Hình 2.5 Mô hình thùng có cây 27
Hình 2.6 Chuẩn bị dung dịch tưới 28
Hình 2.7 Tưới nước vào mô hình Ошибка! Закладка не определена Hình 3.1 Hàm lượng các kim loại nặng Cd2+, Cu2+, Pb2+, Zn2+, Hg2+, As2+, Cr6+ trong nước của hồ Bàu Tràm qua 3 lần khảo sát 34
Hình 3.2 Hàm lượng các kim loại nặng Cd2+ , Cu2+, Pb2+, Zn2+, Hg2+, As2+, Cr6+ trong trầm tích của hồ Bàu Tràm qua 3 lần khảo sát 36
Hình 3.3 Sự sinh trưởng và phát triển của cây chuối hoa trong mô hình 37
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa số lượng cây trong mô hình 38
Hình 3.5 Sự thay đổi hàm lượng kim loại nặng Hg2+ sau khi qua mô hình 1, 2 38
Hình 3.6 Sự thay đổi hàm lượng kim loại nặng Hg2+ sau khi qua mô hình 3, 4 39
Hình 3.7 Sự thay đổi hàm lượng kim loại nặng Hg2+ sau khi qua mô hình 5, 6 39
Hình 3.8 Sự thay đổi hàm lượng kim loại nặng Hg2+ sau khi qua mô hình 7, 8 40
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ KIM LOẠI NẶNG
1.1.1 Định nghĩa và nguồn phát sinh kim loại nặng
Kim loại nặng là những kim loại có tỷ trọng lớn hơn 5g/cm3 và thông thường chỉ những kim loại hoặc các á kim liên quan đến sự ô nhiễm và độc hại Tuy nhiên chúng cũng bao gồm những nguyên tố kim loại cần thiết cho một số sinh vật ở nồng độ thấp (Adriano, 2001) Kim loại nặng được được chia làm 3 loại: các kim loại độc (Hg, Cr,
Pb, Zn, Cu, Ni, Cd, As, Co, Sn,…), những kim loại quý (Pd, Pt, Au, Ag, Ru,…), các kim loại phóng xạ (U, Th, Ra, Am,…)
Kim loại nặng hiện diện trong tự nhiên đều có trong đất và nước, hàm lượng của chúng thường tăng cao do tác động của con người Các kim loại nặng do tác động của con người là nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng chủ yếu khi chúng đi vào môi trường đất và nước Các kim loại do hoạt động của con người như As, Cd, Cu, Ni và Zn thải ra ước tính là nhiều hơn so với nguồn kim loại có trong tự nhiên, đặc biệt đối với chì 17 lần Nguồn kim loại nặng đi vào đất và nước do tác động của con người bằng các con đường chủ yếu như bón phân, bã bùn cống và thuốc bảo vệ thực vật và các con đường phụ như khai khoáng và kỹ nghệ hay lắng đọng từ không khí
1.1.2 Tính chất của kim loại nặng
Kim loại nặng không bị phân hủy sinh học, không độc khi ở dạng nguyên tố tự do nhưng nguy hiểm đối với sinh vật sống khi ở dạng cation do khả năng gắn kết với các chuỗi cacbon ngắn dẫn đến sự tích tụ trong cơ thể sinh vật sau nhiều năm Đối với con người, có khoảng 12 nguyên tố kim loại nặng gây độc như chì, thủy ngân, nhôm, arsenic, cadmium, nickel… Một số kim loại nặng được tìm thấy trong cơ thể và thiết yếu cho sức khỏe con người, chẳng hạn như sắt, kẽm, magnesium, cobalt, manganese, molybdenum và đồng mặc dù với lượng rất ít nhưng nó hiện diện trong quá trình chuyển hóa Tuy nhiên, ở mức thừa của các nguyên tố thiết yếu có thể nguy hại đến đời sống của sinh vật Các nguyên tố kim loại còn lại là các nguyên tố không thiết yếu và
có thể gây độc tính cao khi hiện diện trong cơ thể, tuy nhiên tính độc chỉ thể hiện khi
Trang 14chúng đi vào chuỗi thức ăn Các nguyên tố này bao gồm thủy ngân, nickel, chì, arsenic, cadmium, nhôm, platinum và đồng ở dạng ion kim loại Chúng đi vào cơ thể qua các con đường hấp thụ của cơ thể như hô hấp, tiêu hóa và qua da Nếu kim loại nặng đi vào
cơ thể và tích lũy bên trong tế bào lớn hơn sự phân giải chúng thì chúng sẽ tăng dần và
sự ngộ độc sẽ xuất hiện Do vậy người ta bị ngộ độc không những với hàm lượng cao của kim loại nặng mà cả khi với hàm lượng thấp và thời gian kéo dài sẽ đạt đến hàm lượng gây độc Tính độc hại của các kim loại nặng được thể hiện qua:
(1) Một số kim loại nặng có thể bị chuyển từ độc thấp sang dạng độc cao hơn trong một vài điều kiện môi trường, ví dụ thủy ngân
(2) Sự tích tụ và khuếch đại sinh học của các kim loại này qua chuổi thức ăn có thể làm tổn hại các hoạt động sinh lý bình thường và sau cùng gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người
(3) Tính độc của các nguyên tố này có thể ở một nồng độ rất thấp khoảng 0.1-10 mg.L-1
1.1.3 Ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam
Ô nhiễm kim loại ở môi trường biển đã gia tăng trong những năm gần đây do dân
số toàn cầu gia tăng và sự phát triển công nghiệp Ô nhiễm kim loại nặng ở nhiều vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế giới đã được biết từ lâu bởi tính độc hại đe dọa đến sự sống của sinh vật thủy sinh, gây nguy cơ cho sức khỏe của con người
Ô nhiễm Pb và Zn là một trong những điều đáng quan tâm do ảnh hưởng độc hại của chúng lên hệ sinh thái tại các cửa sông ở Úc, với hàm lượng rất cao 1000μg.g-1 Pb,
2000 μg.g-1 Zn có thể tìm thấy trong các trầm tích bị ô nhiễm đã xác định hàm lượng chì vô cơ trong trầm tích cửa sông ở Anh biến động từ 25 μg.g-1 trong khu vực không
bị ô nhiễm đến hơn 2700 μg.g-1 trong cửa sông Gannel nơi nhận chất thải từ việc khai thác mỏ chì Hàm lượng của các hợp chất chì này có lẽ có nguồn gốc do sử dụng xăng
Trang 15dầu pha chì Tương tự như Pb, hàm lượng As cũng đã được xác định ở nhiều vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế giới
Hàm lượng Cd cũng được xác định ở Anh tại các cửa sông không bị ô nhiễm với hàm lượng 0.2 μg.g-1, tại các cửa sông bị ô nhiễm nặng hàm lượng này có thể lên đến 10 μg.g-1 Sông Deule ở Pháp là một trong những con sông bị ô nhiễm rất nặng do hứng chịu chất thải từ nhà máy luyện kim Hàm lượng kim loại trong trầm tích sông này rất cao (480 mg.kg-1)
Hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích tại vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế giới nơi có rừng ngập mặn cũng đã được xác định từ ít bị ô nhiễm cho đến ô nhiễm nặng
1.1.4 Ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và sức khỏe con người
Ô nhiễm môi trường do tính độc hại của kim loại nặng gây mất cân bằng sinh thái làm suy giảm nhiều quần thể sinh vật đã được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới The Severn Estuary là một trong những con sông lớn nhất ở Anh là nơi ở và sinh sản của nhiều loài cá Nhiều thập kỉ qua, sông này đã phải hứng chịu nhiều ô nhiễm kim loại nặng như chì, cadmium và nhiều nguyên tố khác từ nhiều nguồn khác nhau
Ngày nay con người tiếp xúc trực tiếp với kim loại nặng ở nhiều dạng thức khác nhau Kim loại nặng đã đi vào cơ thể con người và sinh vật qua chuỗi thức ăn Loài người tiếp xúc lâu dài với các kim loại độc hại trong môi trường với liều lượng khác nhau Giáo sư Jerome Nriagu thuộc trường đại học Michigan khẳng định: “Hơn 1 tỷ người đã thành các vật thí nghiệm thực sự khi tiếp xúc với những kim loại độc có hàm lượng cao trong môi trường” Theo tác giả này, nhiều triệu người bị các chứng nhiễm độc kim loại dưới mức phát bệnh Sự nhiễm độc ngày càng tràn lan, nhất là nếu như việc xả chất thải cứ tiếp tục theo mức độ hiện nay thì ta khó lòng hy vọng sự tăng trưởng này
có khi nào giảm đi được Trong một nghiên cứu số lượng kim loại xả ra trên toàn cầu, khẳng định là nó gia tăng ở thế giới thứ ba, có lẽ do việc các công nghiệp gây ô nhiễm nhất được đưa sang các nước phương Nam và giảm bớt ở các nước công nghiệp, do đó
Trang 16người và các sinh vật khác phải tiếp xúc với kim loại ở mức cao hơn nhiều so với mức
họ vẫn sống” Về mặt này, thuỷ ngân, Crom,Cadimi, Chì ở trong số những kim loại nặng độc hại nhất, sau đó đến Đồng Lẽ tất nhiên,nếu ta loại trừ các kim loại độc hại nhất hoặc các kim loại không có chút ích lợi nào cho người mà ta đã biết như Chì, Cadimi thì ở đây cũng thế, “ chính là liều lượng tạo chất độc”, như Paracelse đã nói ở thời Trung cổ Trong một chế độ ăn uống bình thường, người ta tiêu thụ từ 2 đến 5 mg đồng mỗi ngày Thấp hơn số lượng này sinh ra bệnh thiếu máu và ở trường hợp đặc biệt của các trẻ em, người ta thấy có sự chậm tâm thần vận động, nhưng nếu liều lượng cao hơn 15 mg/ngày, những triệu chứng nôn mữa và đau bụng xuất hiện và ở các ca nghiêm trọng có thể tiến đến hôn mê và tử vong Kim loại, hợp kim và hợp chất kim loại rất cần cho khoa học và công nghệ hiện đại dù rằng ngày nay, việc thay thế bằng các hợp chất hữu cơ trong một số ứng dụng quan trọng (sợi quang và những chất bán dẫn hữu cơ) không còn là ngoại lệ Rất hiếm thấy một kim loại mà không có một ứng dụng nào đó Văn minh và kinh tế của những quốc gia từ thời cổ đại đều dựa ít nhất là một phần vào các kim loại Đối với cuộc sống hiện đại thì luôn cần đến kim loại, dù rằng chất dẻo hiện nay đã thay thế kim loại trong một số ứng dụng Thế nhưng nhiều khi cũng cần đến các xúc tác kim loại để xúc tiến quá trình polyme hoá tạo thành các chất dẻo.Những chất xúc tác một khi dùng rồi được thải ra môi trường Các kim loại của chúng có thể gây ra những hiểm hoạ ghê gớm không lường trước được: bệnh Minamata chẳng phải là bắt nguồn từ thuỷ ngân của chất xúc tác phản ứng polyme hoá hay sao? Sự thật là không tránh được một quá trình công nghiệp tạo ra những chất thải kim loại làm cho môi trường trở nên một bãi rác Bệnh dịch âm ỉ và nguy hại của các
vụ nhiễm độc kim loại nặng càng thêm nghiêm trọng do các kim loại nặng hiển nhiên
là không phân huỷ được và là nguyên tố tồn tại lâu bền trong môi trường sống của con người và động vật Thật ra, chúng tồn tại vĩnh viễn nếu như ta so sánh thời gian tồn tại của chúng với tuổi thọ của sinh vật ( ta không bàn đến các phản ứng phóng xạ) Trong điều kiện bình thường thì không thể nào biến đổi và phá huỷ được chúng Thế nhưng, dưới tác động của một số vi khuẩn, chúng có thể kết hợp với các hợp chất hữu cơ để
Trang 17tạo nên những chất rất độc có khả năng len lỏi vào mạch thực phẩm và đi vào cơ thể con người như trường hợp metyl thuỷ ngân ở Minamata Người ta cho rằng sự độc hại gây nên do tất cả các kim loại nặng được thải hàng năm vào sinh quyển vượt xa độc hại của tất cả các chất thải hữu cơ và phóng xạ
1.2 Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC HỒ ĐÔ THỊ
1.2.1 Chất lượng nguồn nước hồ thị
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000
m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4+, NO2−, NO3− ở các hồ nội thành đều vượt quá quy định cho phép Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; oxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP
Sở Tài nguyên – Môi trường TP Đà Nẵng ngày 12/09/2008 đã có kết quả quan trắc chất lượng nước hồ công viên 29-3, theo đó, kết quả cho thấy hàm lượng oxy trong nước (DO) thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn Một số chất hữu cơ như COD, NH4+
đều vượt tiêu chuẩn cho phép Trong đó, COD vượt tiêu chuẩn 3,3 – 3,8 lần, NH4+ vượt tiêu chuẩn 3,26 – 5,58 lần Ngoài ra, hàm lượng kim loại nặng trong nước như Cu, Pb,
Trang 18cũng vượt tiêu chuẩn cho phép Sau đó, thành phố đã bịt 3 cống xả nước thải vào hồ, đồng thời xây dựng tuyến mương thoát nước bao quanh hồ có tổng chiều dài 727m và tiếp hành các biện pháp nạo vét, xử lý nước hồ ở đây Đến nay thì chất lượng nước đã được cải thiện nhiều
Trên địa bàn quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, kết quả quan trắc chất lượng nước
hồ trong các năm 2007 – 2009 cho thấy, mức độ ô nhiễm các hồ trên địa bàn quận chủ yếu là do ô nhiễm chất dinh dưỡng và ô nhiễm vi sinh Để khắc phục tình trạng này, quận Thanh Khê đã thực hiện nhiều giải pháp xử lý môi trường Đối với hồ Thạc Gián
- Vĩnh Trung, sau 4 năm thực hiện xử lý ô nhiễm bằng biện pháp sinh học dùng bèo lục bình kết hợp duy trì vệ sinh thường xuyên, đến nay chất lượng môi trường nước hồ đã được cải thiện rõ rệt, cảnh quan ven hồ sạch, đẹp Đối với hồ Xuân Hòa A, năm 2006, quận Thanh Khê đã giao cho Công ty TNHH Du lịch và Thương mại Viễn Nam (Công
ty Viễn Nam) quản lý, khai thác (hoạt động kinh doanh dịch vụ nhà hàng), đồng thời chịu trách nhiệm bảo vệ, xử lý ô nhiễm tại hồ này Công ty Viễn Nam đã dọn cỏ dại, bèo dưới lòng hồ và xây dựng một số công trình như khu dưỡng sinh, cây xanh và đèn trang trí trong khu vực hồ Đến năm 2007, Công ty Viễn Nam tiếp tục đề nghị UBND quận Thanh Khê giao hồ 2ha ở phường Thanh Khê Tây để khai thác, kinh doanh dịch
1.2.2.2 Ô nhiễm do nhân tạo
Từ hoạt động công nghiệp
Nước thải từ các hoạt động sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các khu công nghiệp Nước thải sản xuất có thành phần rất đa dạng
và phức tạp, ngoài các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng đến hàm lượng các kim loại nặng
Trang 19và các chất độc gây mùi,…Dù đa số các khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng vẫn còn tình trạng xả lắng nước thải vào các hồ đô thị
Hình 1.1 Nước thải của nhà máy xi măng Coseco xả vào hồ Bàu Tràm
Do hoạt động sản xuất nông nghiệp
Việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý các loại hóa chất trong sản xuất nông nghiệp, không tuân thủ theo đúng những qui định nghiêm ngặt về quy trình sử dụng
Từ đó, lượng hóa chất dư này theo dòng nước và đi vào hồ đô thị làm gia tăng chất ô nhiễm trong hồ
Chăn nuôi với quy mô lớn hay nhỏ thì chất thải vẫn chưa được xử lý, các chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng nặng nề đến không khí mà còn ngấm vào đất gây ảnh hưởng đến nguồn nước gây suy giảm chất lượng nước Việc xử lý xác động vật chết do dịch bệnh vẫn chưa được người dân xử lý một cách hiệu quả làm gia tăng lượng chất thải ngấm vào đất
Nước thải từ khu dân cư
Nước thải từ các khu dân cư và các khu vực công cộng chứa lượng chất gây ô nhiễm nhất định từ quá trình sinh hoạt và vệ sinh của con người Lượng nước này nếu không được thu gom vào hệ thống thu gom chung mà đổ trực tiếp vào hồ thì sẽ gây ô nhiễm nguồn nước Thành phần nước thải sinh hoạt không phức tạp như nước thải công nghiệp nhưng chứa lượng lớn các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng (NO3−, PO43−),
Trang 20các chất rắn và vi trùng Những chất này nếu gia tăng trong hồ thì sẽ gây suy giảm chất lượng nước, gây ảnh hưởng đến thủy sinh vật, đến cảnh quang xung quanh
Nước chảy tràn
Bên cạnh khu vực hồ thì thường có thể là các khu dân cư, khu bệnh viện, trường học, cơ quan và cả khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ Nếu lượng nước mưa không được thu gom bằng hệ thống riêng thì nó sẽ trực tiếp cuốn trôi các chất độc hại trên bề mặt các khu vực trên và đi vào hồ Loại nước này thường chứa nhiều chất dinh dưỡng, chất rắn, dầu mỡ và vi trùng…Điều này sẽ gây suy giảm chất lượng nước
hồ thị
1.2.2.3 Do một số nguyên nhân khác
+ Do tác động của ô nhiễm không khí: các khí thải từ nhà máy mang theo các khí
CO, CO2, SO2, NO2, … làm ô nhiễm không khí, kết hợp với hơi nước bốc hơi gây nên mưa axit, làm giảm độ pH của sông hồ, làm chết các loài thủy sinh
+ Hệ thống ao hồ không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước Các bãi chôn rác không đạt yêu cầu kỹ thuật, nước rỉ ra từ rác thấm vào mạch nước ngầm hoặc cho chảy tràn trên mặt đất vào kênh rạch Các dòng nước mặt trên sông, kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng dầu của các tàu bè đi lại, hoặc các sự cố vận chuyển khác trên sông, biển Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước như sử dụng bừa bãi hoang phí, không đúng mục đích sử dụng
Các kim loại nặng
Trang 21- Chì (Pb): có độc tính đối với não, có thể gây chết người nếu bị nhiễm độc nặng
- Thủy ngân (Hg): rất độc với người và thủy sinh
- Asen (As): rất độc, dễ dàng hấp thụ vào cơ thể qua ăn uống, hô hấp, qua da Gây ung thư da, phổi, xương, và làm sai lệch nhiễm sắc thể,
- Các nguyên tố khác có độc tính rất cao như: Cadimi, Crom, Niken, là tác nhân gây hại cho người và thủy sinh ngay ở nồng độ thấp
Các chất rắn: (chất rắn lơ lửng)
Có trong nước tự nhiên là do quá trình xói mòn, do nước chảy tràn từ đồng ruộng, do nước thải sinh hoạt và công nghiệp Có thể gây trở ngại cho việc nuôi trồng thủy sản, cấp nước sinh hoạt
Màu: có nguồn gốc
- Các chất hữu cơ dễ phân hủy bởi các tác nhân vi sinh vật
- Sự phát triển của một số loài thực vật nước: tảo, rong rêu,
- Có chứa các hợp chất sắt, mangan ở dạng keo
- Có chứa các tác nhân gây màu: kim loại (Cr, Fe, ), các hợp chất hữu cơ tanin, lignin,
Mùi: do các nguyên nhân
- Có các chất hữu cơ từ cống rãnh khu dân cư, các xí nghiệp chế biến thực phẩm
- Có các sản phẩm từ sự phân hủy các xác chết động vật
- Nước thải công nghiệp hóa chất, chế biến dầu mỡ
Các chất dinh dưỡng
Việc sử dụng dư thừa các chất dinh dưỡng vô cơ (photphat, muối amon, ure, nitrat, kali, ) trong quá trình sử dụng phân bón cho cây trồng sẽ gây lên hiện tượng phú dưỡng trong nước bề mặt v.v…
Trang 221.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
Chất lượng nguồn nước được đánh giá thông qua nồng độ hoặc hàm lượng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học có trong nước qua các tiêu chuẩn qui định cho từng mục đích sử dụng
Thông thường con người sử dụng nước cho 5 mục đích:
Nước cấp cho sinh hoạt ( ăn, uống, tắm…)
Nước phục vụ cho nông nghiệp ( thủy lợi, chăn nuôi gia súc,…)
Nước phục vụ cho thủy sản và bảo vệ đời sống hoang dã
Nước phục vụ cho nhu cầu giải trí, thể thao,…
Nước cấp cho nông nghiệp
Mỗi mục đích có tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá riêng về mức độ phù hợp cho nhu cầu sử dụng Nước cấp cho ăn uống cần độ tinh khiết cao nhất, nước phục vụ nhu cầu giải trí, thủy sản và bảo vệ đời sống hoang dã cũng cần có chất lượng cao Trong khi đó nguồn nước làm mát, nước rửa trong công nghiệp không yêu cầu độ tinh khiết cao
Để xem xét một nguồn nước có đạt yêu cầu sử dụng cho từng mục đích sử dụng hay không cần phải so sánh chất lượng nguồn nước đó với tiêu chuẩn chất lượng nguồn nước do các tổ chức chuyên môn quốc tế hoặc nhà nước qui định Trong các tiêu chuẩn chất lượng nước, người ta thường dùng các chỉ tiêu vật lý, hóa học, sinh học (thường là các tác nhân ô nhiễm) đặc trưng để đánh giá chất lượng nguồn nước theo các dạng tác động của chúng lên hệ sinh thái thủy vực Có thể đánh giá theo các phương pháp sau: Việc đánh giá trực tiếp và độc lập các thông số, chỉ tiêu sẽ có được thông tin nhanh về nguồn gốc gây ô nhiễm thông qua các chỉ tiêu ô nhiễm đặc trưng
o Các chỉ tiêu vật lý: nhiệt độ, pH, độ màu, độ đục, độ dẫn điện….đánh giá về mặt định tính ô nhiễm bẩn của nước do các loại nước thải công nghiệp, nước thải đô thị…
Trang 23o Các hợp chất hữu cơ được xác định bằng cách đo lượng oxy tiêu thụ cho quá trình phân hủy chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học do vi sinh vật hoặc cho quá trình oxy hóa các chất hữu cơ bởi các chất oxy hóa mạnh như K2Cr2O4, KMnO4 để biết mức
độ nhiễm bẩn chất hữu cơ trong nước thải, khả năng phân hủy chúng trong nguồn nước (theo tỉ số BOD/COD)…
o Chỉ tiêu oxy hòa tan (DO) đánh giá trực tiếp mức độ nhiễm bẩn chất hữu cơ của nguồn nước cũng như trạng thái chất lượng và khả năng tự làm sạch của nguồn nước
o Các chỉ tiêu Nitơ, Photpho (NH4+, NO3−, PO43−,…) để đánh giá mức độ, khả năng phú dưỡng của nguồn nước do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, hoặc nước chảy tràn vào các lưu vực tiếp nhận
o Các chỉ tiêu sinh học (Coliform, ) đánh giá mức độ tồn tại và khả năng gây dịch bệnh của nguồn nước,
1.4 CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH HỒ ĐÔ THỊ
1.4.1 Tách nước thải và nước mưa đợt đầu ra khỏi hồ
Khi xả vào hồ, các loại nước thải đô thị sẽ gây lắng cặn, ô nhiễm hữu cơ làm thiếu hụt oxy, gây phú dưỡng và độc hại đối với nguồn nước Vì vậy các loại nước thải này cần được tách khỏi hồ hoặc phải được xử lý đáp ứng yêu cầu vệ sinh mới được xả vào hồ Nước mưa từ các khu dân cư, đô thị và khu công nghiệp cuốn trôi các chất bẩn trên bề mặt và khi chảy vào sông, hồ sẽ gây nhiễm bẩn thuỷ vực Vì vậy, ngoài nước thải, nước mưa đợt đầu trong khu vực đô thị cũng cần phải tách khỏi hồ
Hình 1.2 Sơ đồ tuyến cống tách nước mưa ra khỏi hồ
Trang 24Ghi chú: 1 Đập tràn tách nước thải và nước mưa đợt đầu
2 Tuyến cống bao tách nước thải xả ra sông (mương) thoát nước hoặc dẫn
về trạm XLNT tập trung
3 Phai chắn điều chỉnh mực nước trong hồ
1.4.2 Xử lý nước thải khi xả vào hồ
Trong trường hợp đặc biệt, khi tổ chức thoát nước phân tán, nước thải được xử
lý đáp ứng các quy định về vệ sinh môi trường và phù hợp với khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận sẽ được xả vào hồ Sơ đồ tổ chức thoát nước và xử lý nước thải như thế sẽ có hiệu quả kinh tế cao do giảm được kinh phí đầu tư xây dựng các tuyến cống thoát nước thải Mặt khác, về mùa khô khi độ bốc hơi từ mặt nước hồ lớn, nước thải được làm sạch sẽ thường xuyên bổ cập để duy trì mực nước, đảm bảo cảnh quan cho hồ đô thị.[2]
1.4.3 Tăng cường quá trình tự làm sạch hồ
Tự làm sạch là tổ hợp các quá trình tự nhiên như các quá trình thuỷ động lực, hoá học, vi sinh vật học, thuỷ sinh học, diễn ra trong nguồn nước mặt bị nhiễm bẩn nhằm phục hồi lại trạng thái chất lượng nước ban đầu Như vậy, tự làm sạch bao gồm các quá trình vật lý pha loãng nước hồ với nước thải, làm giàu oxy cho hồ và quá trình sinh học, hoá học chuyển hoá các chất ô nhiễm trong hồ
a Nguồn nước sạch là hồ b Nguồn nước sạch là sông
Hình 1.3 Các phương án bổ cấp nước sạch cho hồ đô thị
Trang 251.4.4 Giảm thiểu nguồn ô nhiễm từ tầng đáy và bùn cặn
+ Nạo vét lòng hồ
Biện pháp này thường chỉ áp dụng cho các hồ nhỏ, đặc biệt là các hồ nội thành Vấn đề lớn nhất của giải pháp này là việc xử lý bùn cặn nạo vét (ô nhiễm các kim loại nặng gây độc, với yêu cầu diện tích lớn cho bãi chôn lấp bùn) và dễ gây ra hiện tượng phốt pho tái hoà nhập tức thời vào nước lớn, làm thay đổi môi trường sống của thuỷ sinh Chi phí cho giải pháp này thường cao Tuy nhiên, so với giải pháp bao phủ lát đáy, giải pháp này hiệu quả cao hơn do loại bỏ được toàn bộ chất ô nhiễm tích tụ ra khỏi hồ
+ Thay nước tầng đáy
Nước tầng đáy thường nghèo oxy và giàu chất dinh dưỡng do quá trình lắng và
bổ sung từ bùn đáy Biện pháp này nhằm bổ sung oxy cho tầng đáy và giảm lượng dinh dưỡng trong nước
Hình 1.4 Sơ đồ nguyên tắc thay nước tầng đáy
+ Thông khí tầng đáy
Khi nguồn nước bị ô nhiễm, một trong những biểu hiện là thiếu oxy hoà tan trầm trọng, đặc biệt ở tầng đáy Trong kỹ thuật thông khí tầng đáy, khối nước nghèo oxy ở tầng đáy được thiết bị hút lên và trải đều trên mặt thoáng Do được tiếp xúc trực tiếp với không khí giàu oxy nên hiệu quả trao đổi oxy hơn hẳn các phương pháp khác.[2],[6]
Trang 26ưu tiên
1.4.6 Tổ chức giám sát
Giám sát chất lượng nguồn nước các khu vực để đánh giá chất lượng nước, dự báo mức độ ô nhiễm nguồn nước Đó là cơ sở để xây dựng các biện pháp bảo vệ có hiệu quả Cần đánh giá các tác động do hoạt động của con người đối với nguồn nước
và khả năng sử dụng nước vào các mục đích khác nhau Xác định chất lượng nước tự nhiên, giám sát nguồn gốc và đường di chuyển của các chất bẩn và các chất độc hại đi vào nguồn nước Xác định xu hướng thay đổi chất lượng ở phạm vi vĩ mô Đồng thời, phải tổ chức hệ thống giám sát ở từng cơ sở, ở từng khu vực Trạm đánh giá xu hướng thay đổi chất lượng nước có quy mô lớn ở từng khu vực
Trang 27đã tiến hành thu thập số liệu quan trắc chất lượng nước một số hồ trên thành phố Đà Nẵng
Chất lượng trầm tích của hồ công viên 29/3, thành phố Đà Nẵng được trình bày
tụ kim loại nặng trong trầm tích hồ (đặc biệt là Pb và Hg) là rất lớn
Bên cạnh đó, theo báo cáo chất lượng môi trường thành phố Đà Nẵng giai đoạn
2005 – 2010, mặc dù chất lượng nước hồ có cải thiện hơn so với các năm trước do phân cấp quản lý cho các quận/huyện, địa phương đã có những nổ lực trong các hoạt động bảo vệ môi trường trong thời gian qua nhưng chất lượng môi trường nước hồ còn
ô nhiễm, một số hồ nước vẫn có màu đen, mùi hôi (Bàu Tràm) do các cống thoát nước
Trang 28sinh hoạt, sản xuất vào hồ hoặc nước hồ có màu xanh (Hồ 2 hecta, Hồ Công viên) do
sự bùng nổ và phát triển của tảo Một vài thời điểm cá chết gây mùi hôi thối, đặc biệt là vào mùa hè và trời nắng nóng Các số liệu thống kê kết quả quan trắc cho thấy, hàm một số kim loại nặng đo được tại các hồ vẫn còn vượt quy chuẩn nhiều lần [5]
Kết luận
Dựa trên các số liệu thống kê, thu thập từ báo cáo hiện trạng chất lượng môi trường thành phố và số liệu quan trắc chất lượng nước tại một số hồ đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho thấy, tại thời điểm khảo sát và đánh giá chất lượng nước hồ đô thị đã và đang bị ô nhiễm bởi các chất lơ lửng, chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng Nguy cơ chất lượng nước hồ đô thị diễn biến theo chiều hướng xấu, quá trình phú dưỡng hóa sẽ xảy ra vào thời điểm mùa hè nắng nóng là rất lớn Sự ô nhiễm được hình thành do sự tích lũy nhanh hàm lượng các hợp chất phốt phát và đã dẫn đến sự phát triển bùng nổ của tảo kéo theo sự ô nhiễm các chất hữu cơ, gây nên hiện tượng cá chết hàng loạt vào các tháng đầu mùa hè và sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không có biện pháp kiểm soát phù hợp [7]
1.5.2 Hiện trạng hồ Bàu Tràm-Quận Liên Chiểu-Thành phố Đà Nẵng
Bản đồ vị trí hồ Bàu Tràm
Hình 1.5 Bản đồ vị trí hồ Bàu Tràm
Trang 29Hồ Bàu Tràm là một hồ nước rộng khoảng 32ha với dung lượng nước khoảng 1 triệu m3 Hồ đem lại cảnh quan, mỗi khi mưa xuống thì lượng nước này sẽ chảy tràn vào hồ, giúp điều hòa khí hậu khu vực này Hồ đang được người dân nuôi cá, đồng thời
ở bên trái hồ một số hộ dân trồng rau xanh và sử dụng chính nguồn nước hồ để tưới rau Và một số hộ dân cũng sử dụng nước hồ cho mục đích sinh hoạt
Hình 1.6 Quang cảnh hồ Bàu Tràm
1.5.3 Nguồn gây ô nhiễm hồ Bàu Tràm
Khu công nghiệp Hòa Khánh có khoảng hơn 130 doanh nghiệp hoạt động trên diện tích gần 430ha Những nhà máy sản xuất xi măng, giấy, thép, dệt có nguy cơ gây
ô nhiễm cao Trước kia, nước thải của các nhà máy được thải ra hệ thống thoát nước chung của khu công nghiệp và đổ vào hồ mà không được xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu đã tập trung về đây và gây ô nhiễm nước mặt tại hồ Bàu Tràm, tình hình này
đã kéo dài trong nhiều năm Sau này, khi khu công nghiệp đã có hệ thống thu gom tập trung dẫn nước thải về một nơi để xử lý thì hồ không còn hứng chịu một lượng lớn nước thải
Trang 30Trong thời gian tiến hành đề tài, chúng tôi có đi khảo sát, điều tra ở một số hộ dân sống quanh hồ Thì theo một số hộ gần đây, vẫn còn tình trạng xả thải lén vào hồ của một số nhà máy
Hình 1.7 Nguồn gây tác động đến hồ Bàu Tràm
Ngoài ra, vùng đất trống bên cạnh hồ được người dân trồng rau thì khi người ta dùng hóa chất bảo vệ thực vật thì dư lượng thuốc sẽ theo dòng nước trôi vào hồ Hồ lại đang được sử dụng để nuôi cá nước ngọt, hàng ngày lượng thức ăn được hộ chăn nuôi đưa vào hồ Đồng thời, theo dự án quy hoạch của thành phố Đà Nẵng thì phía bên phải
hồ sẽ hình thành khu dân cư, khu vui chơi giải trí, du lịch
Hình 1.8 Khảo sát khu vực xung quanh hồ Bàu Tràm