Tương tự, nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện các dự án cải cách thuế tại Úc và lấy trường hợp nghiên cứu điển hình là Airport Link, Banks 2008, sửa đổi 2017 cho rằng một hệ thống quản lý t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
- -
LÊ XUÂN THỌ
QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
- -
LÊ XUÂN THỌ
QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã ngành: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS ĐINH VĂN SƠN
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Đinh Văn Sơn Các số liệu, tư liệu trình bày trong luận văn
đều có trích dẫn nguồn gốc xuất xứ rõ ràng theo quy định
Tác giả
Lê Xuân Thọ
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
3.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
4.ĐỐI TƯỢNG VÀ P HẠM VI NGHIÊN CỨU 5
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 6
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 7
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THUẾ VÀ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế 7
1.1.2 Hộ kinh doanh cá thể 10
1.1.3 Các loại thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 12
1.2 QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 15
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể .15
1.2.2 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 18
1.2.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu thuế đối với HKD cá thể25 1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 28
1.3.1 Các nhân tố chủ quan 28
1.3.2 Các nhân tố khách quan 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA 34
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ SƠN LA 34
Trang 52.2 KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN
LA 37
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 37 2.2.2 Các hoạt động chủ yếu 39 2.2.3 Kết quả công tác thu thuế tại Chi cục thuế thành phố Sơn La trong thời gian gần đây 41
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA - SƠN LA 44
2.3.1 Thực trạng ban hành văn bản hướng dẫn và tổ chức bộ máy quản
lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại thành phố Sơn La 44 2.3.2 Thực trạng tổ chức triển khai các hoạt động quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại thành phố Sơn La 50
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA B ÀN THÀNH PHỐ SƠN LA 58
2.4.1 Phân tích thực trạng quản lý thuế theo các tiêu chí đánh giá 58 2.4.2 Đánh giá chung thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 67
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA 77 3.1 MỤC TIÊU, YÊU CẦU CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỔ SƠN LA 77
3.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội Thành phố Sơn La giai đoạn 2020-2025
và tác động của nó đến phát triển hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn 77 3.1.2 Mục tiêu và yêu cầu của hoạt động quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 78
3.2 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ THÀNH PHỐ SƠN LA 82
3.2.1 Giải pháp về quản lý người nộp thuế 82
Trang 63.2.2 Giải pháp về quản lý căn cứ tính thuế 84
3.2.3 Giải pháp về quản lý thu nộp tiền thuế 88
3.2.4 Giải pháp về quản lý thanh tra, kiểm tra thuế 89
3.3 KIẾN NGHỊ 92
3.3.1 Với cơ quan thuế cấp trên 92
3.3.2 Với Nhà nước 93
KẾT LUẬN 96
Trang 7HKD
56
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Số lượng doanh nghiệp và HKD có nghĩa vụ nộp thuế
TNDN tại Chi cục thuế thành phố Sơn La
42
Hình 2.2 Tổng số tiền thuế thu thu được 43 Hình 2.3 Thu nhập tính thuế của HKD trên địa bàn thành phố Sơn La 46 Hình 2.4 Tổng chi phí được trừ khỏi thuế của HKD trên địa bàn
thành phố Sơn La
47
Hình 2.5 Tổng số tiền thuế thu được từ HKD trên địa bàn thành phố 49 Hình 2.6 Hiệu quả của công tác dự toán 53 Hình 2.7 Đối chiếu chỉ tiêu 𝒀𝟏, 𝒀𝟐 và 𝒀𝟑 54 Hình 2.8 Đối chiếu chỉ tiêu 𝒀𝟒, 𝒀𝟓 và 𝒀𝟔 55
Hình 2.9 Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟏, 𝒁𝟓 và 𝒁𝟔 57
Hình 2.10 Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟐, 𝒁𝟑 và 𝒁𝟒 58
Hình 2.11 Công tác quản lý nợ thuế tại chi cục Thuế thành phố Sơn La 60 Hình 2.12 Nhóm chỉ tiêu khác 61
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã làm cho các thành phần kinh tế trong xã hội có điều kiện cạnh tranh một cách lành mạnh để phát triển
và dần khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế Kinh tế của các HKD trong đó bao gồm các HKD hoạt động trên nhiều lĩnh vực có đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và đóng góp vào NSNN nói riêng Với phạm vi hoạt động rộng lớn và mang tính chất đa dạng phong phú, bộ phận này không những đạt hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà hàng năm còn đóng góp vào số thu của ngân sách Nhà nước một tỷ lệ khá lớn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội cũng như số lượng HKD, công tác quản lý thu thuế cũng gặp rất nhiều khó khăn bởi những doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không thực hiện tốt các nghĩa vụ với Nhà nước, luôn lợi dụng những sơ hở của chính sách chế độ và sự yếu kém trong công tác quản lý để thực hiện hành vi trốn lậu thuế gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước
Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2018, toàn thành phố Sơn La có trên 13.000 HKD Với sự phát triển mạnh cả về số lượng và qui mô, thời gian gần đây, HKD đã góp một phần đáng kể vào tổng thu NSNN trên địa bàn, giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động, là khởi đầu cho sự ra đời của nhiều doanh nghiệp, công ty lớn hoạt động trong địa bàn, qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương ngày càng phát triển HKD trên địa bàn thành phố Sơn La tập trung chủ yếu vào các ngành nghề thương mại - dịch vụ Vào thời điểm cuối năm 2019, số HKD thuộc nhóm ngành nghề này chiếm 86,1% trên tổng số hộ ĐKKD và tổng vốn kinh doanh (Cục thống kê Sơn La, 2019)
Theo số liệu của Chi cục Thuế TP Sơn La, tỉnh Sơn La, số lượng tờ khai thuế của HKD mà Chi cục đã tiếp nhận và xử lý năm sau luôn cao hơn năm trước Tuy nhiên số lượng tờ khai thuế đối với HKD nộp thuế theo hình thức khoán còn hạn chế so với số lượng tờ khai phải thực hiện theo quy định Cụ thể, năm 2015 Chi cục
Trang 11thuế tiếp nhận và xử lý 2.373/2.936 tờ khai trực tiếp, đạt 80,1%; năm 2016 tiếp nhận và xử lý 2.610/3.106 tờ khai trực tiếp, đạt 84 %; năm 2017 tiếp nhận và xử lý 2.634/3.305 tờ khai trực tiếp, đạt 79,7%; năm 2018 tiếp nhận và xử lý 2.804/3.512
tờ khai trực tiếp, đạt 80 %; năm 2019 tiếp nhận và xử lý 3.005/3.710 tờ khai trực tiếp, đạt 81%
Một vấn đề khác cho thấy Chi cục thuế thành phố Sơn La trong việc kiểm tra, phúc tra các HKD có đơn xin nghỉ nhằm hạn chế tối đa tình trạng lợi dụng việc xin ngưng, nghỉ kinh doanh để trốn lậu thuế Cụ thể tỷ lệ số HKD được kiểm tra xác minh năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên tỷ lệ hộ được kiểm tra còn thấp, nên tỷ
lệ nghỉ giả vẫn còn xảy ra nhan nhản Năm 2015 tỷ lệ nghỉ giả là 3,8%, tuy nhiên chỉ tiêu này có giảm dần qua 5 năm như sau: năm 2016 tỷ lệ nghỉ giả là 2,1%, năm
2017 là 2,3%, năm 2018 là 2,2%, nhưng năm 2019 lại tăng vọt lên 6,6% Đây là chỉ
số đáng lo ngại Điều này cho thấy ý thức tự giác chấp hành pháp luật về thuế của một số hộ chưa cao, còn cố tình lợi dụng sơ hở để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước Đồng thời qua đây cung cho thấy hiệu quả của công tác tuyên truyền còn hạn chế, các biện pháp chế tài còn chưa đủ mạnh nên tính răn đe chưa cao
Xuất phát từ thực tiễn, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Quản lý thu thuế
đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La"
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về quản lý thuế nói riêng và quản lý thu thuế HKD nói chung tại Việt Nam khá đa dạng Tuy nhiên, đa phần các công trình này mới đề cập đến một khía cạnh nào đó của thuế
Nghiên cứu kinh điển về vấn đề này có thể kể đến Joseph (1995, sửa đổi 2017) Tác giả này đã hệ thống các lý thuyết về ngân sách nhà nước, nguồn thu ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước từ thuế của Mỹ và một số nước châu Âu Một trong những kế thừa lớn của ông là đã tổng hợp các lý thuyết đi trước, bao gồm lý thuyết của Adam Smith, Keynes và Semuelson về động viên tiền của nền kinh tế vào ngân sách nhà nước, từ đó nêu ra một số cách quản lý nguồn
Trang 12này và sử dụng vào các dự án phát triển Tuy nhiên, một trong những hạn chế của nghiên cứu này là mang tính sách giáo khoa quá nhiều, và được coi là một nguồn lý thuyết gốc cho các nghiên cứu tiếp theo chứ không tập trung cụ thể vào nguồn nào, cũng như không đưa ra được một nghiên cứu cụ thể về quản lý thuế - đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp
Kế thừa và phát triển học thuyết của Joseph thì có thể kể đến các nghiên cứu khác trên thế giới như của Cuttaree (2016) Tác giả này nghiên cứu đến nguồn tài trợ cho các dự án phát triển tại Mexico và Chile – chủ yếu bằng nguồn hình thành từ ngân sách nhà nước, sau đó tập trung vào phân tích thực trạng nguồn thu thuế để tập trung vào đầu tư một số ngành cần thiết trong nền kinh tế Tuy nhiên, nghiên cứu này vấp phải một số ý kiến rằng mang tính chất định tính quá cao, không lượng hóa được tác động của từng yếu tố đối với quản lý ngân sách nhà nước, đặc biệt là đối với nguồn thu từ các doanh nghiệp – vốn được coi là rất năng động và dồi dào trên nền kinh tế Mexico và Chile Tương tự, nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện các dự
án cải cách thuế tại Úc và lấy trường hợp nghiên cứu điển hình là Airport Link, Banks (2008, sửa đổi 2017) cho rằng một hệ thống quản lý thuế được cho là thành công thì phải thực hiện tốt các vấn đề sau: (1) cam kết chính trị mạnh mẽ của nhà nước; (2) có luận chứng kinh tế đúng đắn; (3) gặp sự phản ứng không quá mạnh mẽ
từ các đối tượng thu thuế (4) năng lực của nhóm cán bộ thực hiện Pascual (2017) khi nghiên cứu dự án cải cách một số vấn đề về thủ tục thuế và tài trợ cho dự án phát triển thông qua nguồn thuế đó ở Philippine đã cho thấy, một dự án cải cách được coi là thành công khi được hỗ trợ về khung pháp lý, chính sách và phải có chương trình truyền thông tốt Các nghiên cứu này cho thấy phần nào các chỉ tiêu phải đánh giá về quản lý dự án, song lại khó áp dụng tại các nước đang phát triển như Việt Nam
Nguyễn Thị Bất (2003, sửa đổi 2018) đã hệ thống hóa những lý luận về quản lý thuế và phân tích thực trạng quản lý thuế tại Việt Nam Tác giả đã đưa ra các giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam Tương tự, Nguyễn Thị Thùy Dương (2018) cũng đã khái quát thực trạng quản lý thuế tại Việt
Trang 13Nam dưới 2 góc độ là thực trạng công tác bộ máy quản lý thu thế và thực trạng công tác hành thu, từ đó đề ra một số giải pháp cho tình hình Việt Nam lúc đó Tuy nhiên, tác giả này lại không đề cập các vấn đề lý thuyết cơ bản như quản lý thuế, phương pháp quản lý thuế Các cải cách hành chính của nhiều nước trên thế giới khá đa dạng và phong phú, nhưng lại không áp dụng được vào Việt Nam, giải pháp đưa ra không đột phá để cải thiện công tác thu thuế
Nguyễn Thanh Phong (2018), Nguyễn Minh Ánh (2017), Phạm Xuân Hòa (2014) đều đã tìm hiểu các nghiên cứu về quản lý thuế tại Việt Nam, và đi từ góc độ định tính đến định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế Đặc biệt, Phạm Xuân Hòa (2014) đã đánh giá được tác động của từng yếu tố được nêu trong nghiên cứu của Banks (2008) đến hệ thống thuế Việt Nam, từ đó đưa ra một
số hàm ý chính sách đối với các cơ quan quản lý Tuy nhiên, tác giả này để ngỏ một phần hàm ý chính sách và thực tiễn tại các vùng biên giới, vốn được coi là phức tạp
và có nhiều đối tượng trong nền kinh tế hoạt động
Khoảng trống nghiên cứu: từ các nghiên cứu nước ngoài và nghiên cứu trong nước, có thể thấy, còn một số hướng nghiên cứu để lại, đó là nghiên cứu về quản lý các nguồn hình thành thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập
cá nhân tại các nước đang phát triển, hoặc các nước sau hội nhập Một vấn đề cũng đáng lưu tâm là hiện tại, quá trình hội nhập đang diễn ra rất mạnh mẽ, và những yêu cầu về tránh đánh trùng thuế cũng đang để lại nhiều yêu cầu cấp bách Tóm lại, các nghiên cứu trước đây tại trong nước và quốc tế đã đề cập đến nhiều lĩnh vực trong quản lý thuế, song không có nghiên cứu nào đề cập sâu đến vấn đề tăng cường thu thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm tránh thất thoát Do đó, đề tài của tác giả chọn nghiên cứu là đề tài mới, không trùng lắp với các vấn đề đi trước
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu: đề xuất được một số giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học và thực tiễn để hoàn thiện và tăng cường quản lý thu thuế đối với HKD tại chi cục thuế thành phố Sơn La
Trang 14Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản về quản lý thu thuế đối với HKD tại 1 đơn vị hành chính cấp thành phố Phân tích thực trạng quản lý thu thuế đối với HKD dựa trên những nội dung quản lý và chỉ tiêu đánh giá, từ đó đánh giá xem chi cục thuế thành phố Sơn La đã làm được những vấn đề gì đối với quản lí thu thuế KHD cá thể, còn hạn chế gì cần giải quyết; đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý thu thuế đối với HKD trên địa bàn Thành phố
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý thu thuế HKD tại thành phố Sơn La Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu của luận văn từ năm 2016 đến năm
2019 và tập trung nghiên cứu quản lý thu thuế HKD tại chi cục thuế thành phố Sơn
La – do đây là đơn vị đầu mối đứng ra quản lý thu thuế của HKD cá thể trên địa bàn Trong các loại thuế - phí – lệ phí mà HKD phải nộp, bao gồm phí môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập cá nhân Tuy nhiên, do thuế tiêu thụ đặc biệt không có tại chi cục thuế Sơn La, đồng thời thuế xuất nhập khẩu có tỉ trọng rất nhỏ nên tác giả chỉ tập trung vào phí môn bài, thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp luận: sử dụng phương pháp luận trong học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin bao gồm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thống kê: Số liệu thu thập từ báo cáo thường niên của các hộ kinh doanh tự kê khai hoặc kê khai trực tuyến gửi lên chi cục thuế Thành phố Sơn La Phương pháp so sánh: So sánh và đối chiếu các số liệu, phân tích giữa các năm
và so sánh với kế hoạch để thấy được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với việc thu thuế HKD trên địa bàn Thành phố Sơn La
Phương pháp tổng hợp: Sàng lọc và đúc kết thực tiễn, từ đó đề ra giải pháp thực hiện trên địa bàn thành phố Sơn La
Trang 156 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Thành phố Sơn La
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Thành phố Sơn La
Trang 16CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ1.1 KHÁI QUÁT VỀ THUẾ VÀ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế
Khái niệm về thuế
Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và ngân sách của địa phương Mặc dù đã ra đời từ lâu, song rất khó có một định nghĩa chung nhất về thuế cho tất cả các quốc gia trên thế giới
Joseph (1995) cho rằng: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” Đây là quan điểm tổng quát nhất về thuế, nhưng gây ra cảm giác hiểu lầm là thuế có thể hoàn trả Do đó, các quan điểm về sau thường cho rằng: phải thêm tính chất hoàn trả của vấn đề vào định nghĩa thuế
Theo Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2012, trang 15) thì: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và cá nhân cho nhà nước theo mức độ
và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng, được nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật và không mang tính hoàn trả trực tiếp” Như vậy, về cơ bản, hoạt động đánh thuế và nộp thuế chịu sự quản lý của các cơ quan nhà nước thông qua các văn bản pháp luật và các hướng dẫn dưới luật, nhằm tạo nguồn để phân phối lại thu nhập trong xã hội, chi trả cho các hoạt động của chính phủ cũng như đầu tư mới
Thuế gồm nhiều loại, tùy theo căn cứ phân loại
- Theo cơ sở đánh thuế có thể chia thành thuế tiêu dùng, thuế thu nhập, thuế tài sản Thuế tiêu dùng là loại thuế được đánh dựa trên phần thu nhập được mang đi tiêu dùng, biểu hiện như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… Thuế thu nhập
là loại thuế được đánh dựa trên thu nhập của cá nhân và tổ chức Vì cá nhân và thể nhân trên thị trường có nhiều nguồn thu nhập nên loại thuế này cũng có nhiều cách
Trang 17biểu hiện, như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp… Thuế tài sản được đánh trên giá trị tài sản Tài sản có thể biểu hiện dưới dạng tài sản tài chính, thể hiện qua tiền mặt và các khoản đầu tư tài chính (thường là cổ phiếu, trái phiếu hoặc hợp đồng tài chính phái sinh); tài sản cố định như nhà cửa, đất đai, máy móc; tài sản có định vô hình như thương hiệu doanh nghiệp…
- Theo tính chất đánh thuế, có thể chia thành 2 loại là thuế trực thu và thuế gián thu Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh gián tiếp thông qua việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của cá nhân, tổ chức trên thị trường Một số loại thuế gián thu điển hình như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Ngược lại, thuế trực thu lại đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của cá nhân, tổ chức Có một số loại thuế trực thu tại Việt Nam như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp
Đặc điểm của thuế
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển
và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác Những đặc trưng đó là:
(1) Tính bắt buộc
Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước Joseph (1995) cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc” Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước, theo đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình bắt buộc người dân và các tổ chức phải chuyển giao một phần thu nhập cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT Điều này xuất phát từ quyền lực có tính chất cưỡng chế đơn phương của nhà nước Do việc nộp thuế mang tính bắt buộc gắn với quyền lực của Nhà nước mà NNT không
có quyền từ chối nộp thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thoả thuận mức
Trang 18đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp hành Nhờ đó, Nhà nước mới có nguồn thu ổn định thường xuyên đảm bảo tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu công Việc sử dụng quyền lực nhằm cưỡng chế NNT phải tuân thủ pháp luật thuế, song việc không tự nguyện hoặc có hành vi trốn nộp thuế cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thu thuế Vì vậy, việc tuyên truyền giáo dục tâm lý chấp nhận nộp thuế và nâng cao ý thức tuân thủ của NNT luôn được coi trọng trong công tác quản lý thuế
(2) Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế không phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước do được hưởng các hàng hoá công mà nhà nước cung cấp cho NNT thông qua các dịch vụ công cộng của nhà nước Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước, trong và sau khi thu thuế: (i) Tại thời điểm nộp thuế, NNT không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào và cũng không được quyền đòi hoàn trả số thuế đã nộp cho nhà nước; (ii) Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT;
và (iii) Sau khi nộp thuế, cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào từ Nhà nước cho NNT Nhìn chung, NNT phải chấp nhận sự không hoàn trả đó và coi đó là nghĩa vụ thuế của mình đối với xã hội
(3) Tính định trước trong pháp luật và tính pháp lý cao
Các khoản nộp thuế và mức nộp thuế đã được luật pháp quy định trước và mang tính pháp lý cao Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Vì vậy, để bắt buộc các công dân tự nguyện nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng luật pháp Tuy nhiên, việc thu thuế không phải tùy tiện, mà các yếu tố điều chỉnh hành vi nộp thuế đã được quy định trước trong luật pháp, như đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, mức thuế phải nộp và những chế tài mang tính cưỡng chế khác
Trang 191.1.2 Hộ kinh doanh cá thể
Khái niệm hộ kinh doanh cá thể
Trên quan điểm thống kê, Liên hiệp quốc đưa ra định nghĩa: “Hộ là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có chung một ngân quỹ”
Hộ kinh doanh cá thể là đơn vị kinh tế cơ sở được ra đời từ rất lâu Trong bất
kỳ giai đoạn phát triển nào của đất nước thì nó cũng luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Chính vì vậy, khái niệm về hộ kinh doanh cá thể cũng có nhiều khái niệm khác nhau
Raul (1989 nhìn nhận hộ KD cá thể dưới góc độ nhân chủng học như sau: “Hộ kinh doanh cá thể là những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng” Tuy nhiên, chính tác giả này lại đưa ra một quan điểm khác tiếp cận trên vấn đề thu nhập là: “Thành viên của hộ không nhất thiết phải sống chung dưới mái nhà, miễn
là họ có đóng góp chung vào ngân quỹ của gia đình”
Ở Việt Nam, hộ kinh doanh cá thể là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng và thu thuế cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của
cả hộ Trong các văn bản pháp luật hiện hành ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ “hộ kinh doanh cá thể” là “hộ”, “hay “hộ sản xuất”
Theo điều 106 về “Hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.”
Tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP có định nghĩa rất rõ hộ gia đình hoạt động sản xuất kinh doanh là “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một
Trang 20nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Do có quy mô nhỏ nên trong trường hợp gặp điều kiện thuận lợi, hộ có thể huy động mọi nguồn lực để đầu tư, khi gặp điều kiện bất lợi có thể thu hẹp quy mô sản xuất Tuy nhiên, thiếu vốn để mở rộng kinh doanh là một trong những vấn đề khó khăn thường thấy ở các hộ gia đình Chính vì vậy, việc tạo điều kiện để các hộ tiếp cận với tín dụng có vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất kinh doanh
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rằng hộ kinh doanh cá thể là một đơn vị sản xuất cơ bản vừa kinh doanh vừa tiêu dùng Nó sử dụng nguồn nhân lực tự có, quy
mô sản xuất nhỏ, ngành nghề đa dạng phong phú, và vốn kinh doanh chủ yếu từ tiết kiệm trong hộ
Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể
Về nhân lực: Hộ gia đình chủ yếu sử dụng nguồn lực tự có trong gia đình, bạn
bè thân thuộc Cụ thể hơn, hộ kinh doanh cá thể mang tính chất của một hộ gia đình, hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của chính bản thân và những người trong gia đình
Về quy mô kinh doanh: Hộ gia đình có quy mô nhỏ, phạm vi kinh doanh nhỏ hẹp Hoạt động của hộ kinh doanh mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động
Vốn kinh doanh: chủ yếu là vốn tự có của gia đình, vay mượn bạn bè, người thân Số hộ gia đình được tiếp cận với các khoản vay ngân hàng chưa nhiều
Về quản lý kinh doanh: Khả năng quản lý của hộ còn hạn chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tích lũy từ người đi trước để lại Bên cạnh đó, quản lý tài chính theo gia đình, người chủ thống nhất và quyết định mọi việc liên quan đến kinh doanh
Vì quy mô nhỏ lẻ, quy trình đăng ký đơn giản và chỉ có duy nhất một địa điểm kinh doanh xác định nên hoạt động kinh doanh của hộ gia đình có thể có nhiều lợi thế
Trang 21từ thủ tục thành lập đơn vị kinh doanh đến cải cách quản lý thuế theo hình thức thuế khoán – kê khai và nộp thuế một lần hằng năm, không ghi sổ kế toán…
1.1.3 Các loại thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Đối với hộ kinh doanh cá thể, các loại thuế, phí, lệ phí phải nộp bao gồm phí môn bài, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu tác giả luận văn chỉ nghiên cứu thuê môn bài (hoặc
lệ phí môn bài), thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân
Thuế môn bài
Thuế môn bài (lệ phí môn bài) là loại thuế trực thu đánh trên số vốn (vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư) đã đăng ký của doanh nghiệp (đối với tổ chức) hoặc doanh thu của năm liền kề trước đó (của hộ kinh doanh cá thể) Thuế môn bài là loại thuế được thu hàng năm
Thuế môn bài là một khoản thu mang tính chất của thuế, vừa mang tính chất của phí và lệ phí, tức là nó có hoàn trả (một phần) một cách trực tiếp
Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Như vậy, bản chất của thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ
Là một loại thuế độc lập nên thuế giá trị gia tăng cũng có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt nó với các loại thuế khác như sau:
Một là, thuế giá trị gia tăng có đối tượng chịu thuế rất lớn Đó là mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội Việc đánh thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội Đối với trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người
Trang 22tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất
Hai là, thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn
bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế giá trị gia tăng với những loại thuế gián thu khác Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở khâu sản xuất hay nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất – nhập khẩu chỉ đánh ở khâu xuất hoặc nhập khẩu thì thuế giá trị gia tăng lại đánh ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa
Ba là, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế giá trị gia tăng phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước, nhập khẩu và lưu thông hàng hóa nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi, các phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế giá trị gia tăng phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu
Thuế TNCN
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay đầu tư ) đều phải trích một phần từ thu nhập để nộp cho nhà nước dưới dạng thuế TNCN Thuế TNCN là khoản thu bắt buộc đánh trên thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế theo quy định của pháp luật
Thuế TNCN có những đặc điểm sau đây: (1) Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu Tính chất trực thu biểu hiện sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật
và đối tượng chịu thuế trên phương diện kinh tế Vì thuế TNCN đánh trực tiếp vào
Trang 23thu nhập nhận được của NNT sau chu kỳ kinh doanh, vì thế tại thời điểm đánh thuế, người chịu thuế TNCN ít có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế cho các đối tượng khác Vì vậy, thuế TNCN ảnh hưởng khá đậm nét đến tâm lý và hành vi NNT (2) Thuế thu nhập cá nhân đánh vào thu nhập chịu thuế Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại thu nhập có tính chất khác nhau: thu nhập, thu nhập tính thuế, thu nhập chịu thuế, nhưng thuế TNCN chỉ đánh vào thu nhập chịu thuế của NNT Thu nhập chịu thuế phải là thu nhập hợp pháp, phản ánh đúng khả năng nộp thuế và khả năng tiêu dùng cá nhân của NNT Vì thế, đánh thuế TNCN vào thu nhập chịu thuế
sẽ đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập (3) Thuế thu nhập cá nhân mang tính chất lũy tiến Thuế TNCN mang tính lũy tiến so với thu nhập chịu thuế Điều đó có nghĩa là thu nhập của cá nhân càng cao thì mức nộp thuế càng nhiều Trong một số trường hợp, thuế lũy tiến phải đảm bảo tốc độ tăng của thuế luôn cao hơn tốc độ tăng của thu nhập
Đối với hộ kinh doanh cá thể, khi nộp thuế giá trị gia tăng và TNCN còn có đặc điểm sau:
- Cá nhân nộp thuế khoán khai thuế khoán một năm một lần tại Chi cục Thuế nơi cá nhân có địa điểm kinh doanh và không phải quyết toán thuế
- Cá nhân nộp thuế khoán sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế thì ngoài việc khai doanh thu khoán, cá nhân tự khai và nộp thuế đối với doanh thu trên hóa đơn theo quý
- Cá nhân kinh doanh theo hình thức hợp tác kinh doanh với tổ chức, tài sản tham gia hợp tác kinh doanh thuộc sở hữu của cá nhân, không xác định được doanh thu kinh doanh thì cá nhân ủy quyền cho tổ chức khai thuế và nộp thuế thay theo phương pháp khoán Tổ chức có trách nhiệm khai thuế và nộp thuế thay cho cá nhân nộp thuế theo phương pháp khoán tại cơ quan thuế quản lý tổ chức
Trang 241.2 QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Theo Dương Thị Bình Minh (2005): quản lý thuế là những biện pháp nghiệp
vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách nhà nước thực hiện; là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ kịp thời và đúng luật định Như vậy, theo quan điểm này quản lý thuế là quản lý thu thuế, và phù hợp với khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế nêu trên
Cũng từ khái niệm trên, có thể khái quát, quản lý thu thuế đối với HKD cá thể là quá trình các cơ quan thu thuế sử dụng hệ thống công cụ và phương pháp thích hợp để tác động lên các HKD cá thể nhằm đảm bảo thu thuế đúng, đủ, theo quy định của pháp luật
Theo khái niệm này, cơ quan thu thuế là tổng thể các cơ quan hành chính có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quan hệ công tác được quy định để tổ chức thực thi các luật thuế - và trong trường hợp nghiên cứu của luận văn này thì cơ quan thuế được đại diện chính là chi cục thuế thành phố Sơn La
Công cụ của quản lý thuế là các văn bản liên quan đến pháp luật như Luật giá trị gia tăng; luật thuế thu nhập cá nhân…, các văn bản hướng dẫn thực thi luật, chính sách của nhà nước trong từng thời kỳ và các công cụ khác Trong số các công
cụ này thì các văn bản liên quan đến pháp luật đóng vai trò quan trọng nhất vì nó có tính định hướng và có khả năng điều tiết
Trang 25Phương pháp quản lý thuế gồm có một số phương pháp như phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế Phương pháp hành chính được sử dụng khi các cơ quan quản lý thuế muốn HKD phải tuân thủ một cách bắt buộc, vô điều kiện Việc này có một tác dụng là đơn giản, có thể tránh gây rắc rối đối với các cán bộ thu thuế, nhưng lại gây bất lợi cho người nộp thuế trong việc phân định hay tranh chấp các khoản mục phải nộp, và có thể tạo ra tính quan liêu, lạm dụng quyền hành, gây bất cập đối với các HKD Phương pháp kinh tế được sử dụng thông qua việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các HKD khi nộp thuế cho nhà nước, như ưu đãi về thuế, giảm chi phí phải nộp…, thậm chí còn có thể giao khoán việc đối với các cán bộ thuế địa phương
Sự cần thiết của quản lý thu thuế HKD cá thể
Quản lý thu thuế đối với HKD cá thể có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế nói chung và Ngân sách nhà nước nói riêng
Quản lý thu thuế đối với HKD cá thể có vai trò quyết định trong việc tổ chức, triển khai và thực hiện hệ thống các chính sách thuế đối với HKD cá thể trong thời kỳ
đi với cuộc sống
Quản lý thu thuế của HKD giúp các nhà lãnh đạo nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của bộ máy thu thuế, theo đó kịp thời xây dựng một bộ máy thu thuế khoa học, đảm bảo tuân thủ theo các quy tắc quản lý nhà nước về kinh tế, nguyên tắc quản lý thuế cơ bản bản như: tập trung dân chủ, công khai, tiết kiệm và hiệu quả, nhờ đó cho phép hệ thổng chính sách thuế đối với HKD cá thể đặt ra hoạt động ổn định và đạt được những mục tiêu đề ra trong thời kỳ
Bên cạnh đó, Quản lý thu thuế đối với HKD cá thể tốt sẽ giúp cơ quan thuế nhận ra và giải quyết các vấn đề phát sinh để tập trung và kịp thời huy động đầy đủ
số thu cho Ngân sách nhà nước
Thêm vào đó, Quản lý thu thế TNDN tốt sẽ giúp hệ thống thế TNDN không ngừng phát triển, nuôi dưỡng các nguồn thu, hỗ trợ người nộp thuế trong quá trình chấp hành luật thuế TNDN, tạo ra sự công bằng, hiệu quả, minh bạch trong quá trình quản lý thu thuế
Trang 26Mục tiêu của quản lý thuế đối với HKD cá thể
Tùy vào đặc điểm của từng nước mà quản lý thuế đối với HKD cá thể sẽ có các mục tiêu khác nhau Song nhìn chung quản lý thuế đối với HKD cá thể ở các nước thường nhằm vào các mục tiêu:
Một là, phải tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu – trong đó có nguồn thu từ thuế đối với HKD cá thể Thuế đối với HKD cá thể là một trong những nguồn thu của NSNN, vì vậy, quản lý thuế đối với HKD cá thể phải hướng đến việc khai thác tối
đa nguồn thu này Tuy nhiên, để tăng trưởng và ổn định số thu của NSNN trong tương lai, công tác quản lý thuế đối với HKD cá thể cũng cần chú ý duy trì và phát triển các cơ sở tạo ra nguồn thu thuế Không nên thu thuế với thuế suất quá cao, thu thuế bằng mọi giá Xây dựng một chính sách thuế phải phối hợp với việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô khác Các chính sách thuế đối với HKD cá thể của nhà nước, dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động đến thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, tác động đến các hoạt động kinh tế - cơ sở tạo ra nguồn thu thuế trong tương lai
Hai là, phải tối thiểu hóa chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với HKD cá thể Chi phí cho quản lý thuế đối với HKD cá thể trước hết là những chi phí của chính phủ liên quan đến quản lý thuế Nó bao gồm chi phí trả lương cho đội ngũ cán bộ ngành thuế, chi phí in ấn tài liệu, ghi chép lưu giữ sổ sách hóa đơn chứng từ, chi cho cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc… Nếu Nhà nước chỉ quan tâm đến tối thiểu hóa chi phí cho bộ máy hành thu thuế, đẩy gánh nặng chi phí cho đối tượng nộp thuế thì không giải quyết tốt được mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người nộp thuế Người nộp thuế trước những chi phí tuân thủ cao sẽ tìm cách tránh thuế, trốn thuế gây khó khăn cho cơ quan thuế
Ba là, phát huy tối đa vai trò của thuế đối với HKD cá thể trong nền kinh tế Vai trò của thuế đối với HKD cá thể mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Thuế nói chung và thuế đối với HKD cá thể nói riêng là nguồn thu của NSNN, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, điều tiết thu nhập, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo, thuế góp
Trang 27phần kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh Song, những vai trò đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động từ phía con người Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế
Bốn là, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho dân cư Quản lý thuế đối với HKD cá thể là một trong những nội dung cơ bản của quản lý tài chính nhà nước Giống như các hoạt động quản lý khác, quản lý thuế cũng phải thông qua công cụ luật pháp, chính sách để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế Đồng thời, trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách đó, bằng công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế, ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân được nâng cao Ý thức chấp hành pháp luật biểu hiện một xã hội văn minh, hiện đại Nhà nước phải quản lý bằng luật pháp, mọi người dân trong nước phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật
1.2.2 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.2.2.1 Ban hành văn bản hướng dẫn và tổ chức bộ máy quản lý thu thuế
Nhìn chung theo luật pháp các nước, chi cục thuế không có thẩm quyền ban hành chính sách nhưng có thể ban hành các văn bản hướng dẫn quy trình nội bộ trong đơn vị và hướng dẫn người nộp thuế
Các văn bản hướng dẫn của chi cục được thiết lập dựa vào các luật về thuế, các văn bản hướng dẫn từ phía Bộ Tài chính và sau đó là tổng cục thuế Các văn bản này thường sẽ dựa vào tổ chức bộ máy quản lý thu thuế để ban hành ra, và từ đó làm cơ sở để thu thuế của các HKD cá thể
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể thường sẽ là các loại thuế thu nội địa Do đó, về cơ bản thì bộ máy quản lý thu thuế sẽ như sau:
Tổng cục Thuế: là cơ quan cao nhất trong hệ thống thu thuế Nhà nước cùng với Tổng cục hải quan Theo quyết định thành lập, Tổng cục thuế có nhiệm vụ tư vấn soạn thảo các văn bản pháp luật về thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật thuế Xây dựng và điều hành kế hoạch thu trong cả nước và từng địa phương;
Trang 28tổ chức phổ biến, hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ thực hiện các Luật thuế trong cả nước; nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước về thuế và sử dụng cán bộ; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra qúa trình chấp hành các Luật thuế để việc thực hiện các Luật thuế đạt được kết qủa cao; giải quyết các khiếu nại, tố cáo
về thuế
Cục thuế là tổ chức trực thuộc Tổng cục thuế được tổ chức tại tất cả các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương Cơ cấu bộ máy Của cục thuế bao gồm một số phòng chức năng và một số phòng nghiệp vụ, phòng thu thuế được tổ chức theo đối tượng thu thuế Cục thuế có nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau: Phổ biến, hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức thi hành các Luật thuế; xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch thu trong toàn địa bàn và từng Chi cục thuế trực thuộc; hướng dẫn kiểm tra các Chi cục thực hiện các nghiệp vụ quản lý, giải quyết các khiếu nại về thuế; trực tiếp thực hiện việc thu thuế và thu khác đối với các đối tượng thuộc trách nhiệm quản lý trên địa bàn
Chi cục thuế: là tổ chức trực thuộc Cục thuế, thường được tổ chức tại tất cả các quận, huyện Cơ cấu bộ máy Chi cục thuế gồm các tổ chuyên môn, nghiệp vụ và các đội, tổ, trạm trực tiếp quản lý việc thu thuế Chi cục thuế có nhiệm vu, quyền hạn sau: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thu chi tiết đối với từng Luật thuế phát sinh trên địa bàn Huyện; tổ chức thực hiện các nghiệp vụ quản lý các đối tượng nộp thuế; đôn đốc, kiểm tra các đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành Luật thuế Từng cơ quan thuế thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình sẽ tạo nên sự phối hợp đồng bộ trong việc thực hiện mục tiêu hoàn thành kế hoạch thu của Nhà nước Nhưng để thực hiện nhiệm vụ được giao, pháp luật thuế có quy định cho cán bộ lãnh đạo và cán bộ thu thuế có một số quyền hạn nhất định
1.2.2.2 Tổ chức triển khai các hoạt động quản lý thu thuế
Quản lý người nộp thuế
Các loại thuế phải nộp của hộ kinh doanh vừa là thuế trực thu (đối với thuế thu nhập cá nhân), vừa là thuế gián thu (ví dụ như thuế giá trị gia tăng) nên để thuận tiện người nộp thuế cũng là chính là các hộ gia đình
Trang 29Trong số những hộ cần nộp thuế những hộ có nghĩa vụ mang tính thường xuyên, định kỳ mới phải đăng ký thuế Khi đăng ký thuế, người nộp thuế kê khai những thông tin của mình theo mẫu, kèm chứng minh thư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế và được cấp một
mã số thuế để thực hiện quyền nghĩa vụ về thuế
Quản lý căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế và thuế suất
Thu nhập tính thuế và doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân là thu nhập bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Sau khi tính được thu nhập chịu thuế của từng hộ gia đình và cá nhân trong hộ gia đình, sẽ nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng để tính ra khoản thuế giá trị gia tăng cần nộp Đối với thuế thu nhập cá nhân sẽ tính theo biểu lũy tiến từng phần
Đối với lệ phí môn bài, trường hợp của HKD cá thể sẽ được áp một mức thuế phù hợp với doanh thu mà HKD thu được trong một năm
Quản lý thu nộp tiền thuế
Các cơ quan thuế quản lý thu nộp tiền thuế thông qua các hoạt động: Đăng
ký thuế, kê khai và nộp thuế, quyết toán thuế Theo đó:
Đăng ký thuế: là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của mình theo
quy định của pháp luật và nộp tờ khai này cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước theo quy định của pháp luật Đât là hoạt động đầu tiên trong việc quản lý thuế, trong đó cơ quan thu thuế sẽ có được những thông tin đầu tiên về HKD phải nộp thuế
Kê khai thuế: Người nộp thuế phải có trách nhiệm tính số thuế phải nộp
NSNN do mình kê khai, thông tin kê khai phải chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế và nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp theo quy định của pháp luật
Nộp thuế: các HKD cá thể có nghĩa vụ thuế đối với nhà nước sẽ nộp thuế
Trang 30theo thời gian quy định tại kho bạc nhà nước địa phương hoặc thông qua các ngân hàng thương mại được ủy quyền thu thuế
Quyết toán thuế: là việc xác định số thuế phải nộp của năm tính thuế hoặc
thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc thời dian tính từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật Khi kết thức kỳ tính thuế, cơ sở kinh doanh phải thực hiện quyết toán thuế đối với cơ quan thuế và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của tờ khai quyết toán thuế Kỳ tính thuế là năm dương lịch Thường thì cơ sở kinh doanh phải nộp tờ khai quyết toán thuế cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý trong thời hạn quy định của từng nước kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc kết thúc năm tài chính Nếu số thuế tạm nộp trong năm thấp hơn số thuế phải nộp theo báo cáo quyết toán thuế thì cơ sở kinh doanh phải nộp đầy đủ số thuế còn thiếu trong thời hạn quy định, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính Nếu số thuế tạm nộp trong năm lớn hơn số thuế phải nộp theo báo cáo quyết toán thuế thì cơ sở kinh doanh được trừ số tiền thuế nộp thừa vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo Cơ sở kinh doanh sau khi đã nộp tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ quan thuế mới phát hiện ra sai sót và cần điều chỉnh số liệu thì
xử lý như sau: Nếu trong thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế, cơ sở kinh doanh được nộp tờ khai quyết toàn thuế điều chỉnh để thay thế tờ khai quyết toán thuế đã gửi cho cơ quan thuế Nếu quá thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế nhưng vẫn trong thời hạn quy định nộp số thuế còn thiếu theo tờ khai quyết toán thuế thì cơ sở kinh doanh nộp tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh thay thế tờ khai quyết toán thuế
đã nộp cho cơ quan thuế và nộp thuế theo tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh, đồng thời nộp phạt về hành vi chậm nộp tờ khai quyết toán thuế Trường hợp nộp tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh đã quá hạn nộp số thuế còn thiếu theo tờ khai quyết toán thuế đã gủi thì ngoài việc phải nộp số thuế còn thiếu theo tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh còn phải nộp phạt về hành vi chậm nộp tờ khai và chậm nộp thuế Đối với cơ sở kinh doanh không nộp tờ khai quyết toán thuế thì phải nộp thuế theo số thuế ấn định của cơ quan thuế
Trang 31Quản lý miễn, giảm thuế
Cơ sở quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được quy định tại các văn bản pháp luật thuế Cơ
sở kinh doanh tự xác định các điều kiện được ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, mức miễn thuế, giảm thuế, sô lỗ được trừ vào thu nhập chịu thuế để tự kê khai và tự quyết toán thuế với cơ quan thuế Trường hợp hồ sơ miễn thuế, giảm thuế được nộp trực tiếp tại cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế tiếp nhận và đóng dấu tiếp nhận hồ sơ, ghi thời gian nhận hồ sơ, ghi số lượng tài liệu trong hồ sơ Trường hợp hồ sơ miễn thuế, giảm thuế chưa đầy đủ theo quy định, trong thời hạn làm việc,
kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế phải thông báo cho người nộp thuế
để hoàn chỉnh hồ sơ Cơ quan thuế khi kiểm tra, thanh tra đối vơi cơ sở kinh doanh phải kiểm tra các điều kiện được hưởng ưu đãi thuế, số thuế cơ sở kinh doanh được miễn thuế, giảm thuế, số lỗ cơ sở kinh doanh được trừ vào thu nhập chịu thế theo đúng điều kiện thực tế mà cơ sở kinh doanh đáp ứng được Trong thời hạn quy định,
kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý thuế ra quyết định miễn thuế, giảm thuế hoặc thông báo cho người nộp thuế lý do không thuộc diện miễn thuế, giảm thuế
Quản lý thanh tra, kiểm tra quyết toán thuế của HKD cá thể
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của HKD cá thể, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội Kiểm tra, thanh tra thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến các HKD cá thể thuộc diện phải đóng thuế nhằm đánh giá việc chấp hành nghĩa
vụ đối với nhà nước
Mục đích của kiểm tra thuế, thanh tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của các HKD cá thể, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, thanh tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Nguyên tắc kiểm tra thuế, thanh tra thuế gồm có:
- Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp
Trang 32thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cư để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế
- Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nộp thuế
- Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Ngoài ra, công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế còn phải tuân thủ các nguyên tắc khác như nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan, nguyên tắc công khai, dân chủ; nguyên tắc bảo vệ bí mật; và nguyên tắc hiệu quả
Kiểm tra thuế là hoạt động được thực hiện thường xuyên Việc kiểm tra thuế
có thể được thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế hoặc tại trụ sở của đối tượng nộp thuế
Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật thuế đối với người nộp thuế Công chức thuế, khi nhận được hồ sơ khai thuế sẽ thực hiện đối chiếu hồ sơ khai thuế, tức là thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ thuế, so sánh với dữ liệu của người nộp thuế có cùng ngành nghề kinh doanh, mặt hàng kinh doanh để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện trường hợp gian lận thuế Sau khi kiểm tra, công chức thuế xác nhận kết quả kiểm tra thuế vào hồ sơ thuế theo một trong các trường hợp sau: Nếu hồ sơ khai thuế chưa đầy đủ nội dung, chỉ tiêu theo quy định thì cơ quan thuế thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn chỉnh hồ sơ Nếu hồ sơ cần làm rõ hơn thì ghi rõ nội dung để kiểm tra tiếp Trường hợp hồ sơ khai thuế chưa đầy đủ nội dung, chỉ tiêu theo quy định thì cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế biết, và đề nghị người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu trong khoảng thời gian cụ thể
Sau khi người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu đầy đủ theo yêu cầu của cơ quan thế, nếu hồ sơ thuế sau giải trình mà đầy đủ nội dung và tài liệu theo yêu cầu thì hồ sơ được chấp nhận, nếu hồ sơ không đủ chứng minh số thuế đã khai là đúng thì cơ quan thuế yêu cầu người nộp thuế khai bổ sung tiếp trong thời hạn quy định kể từ ngày cơ quan thế ra thông báo yêu cầu khai bổ sung Hết thời
Trang 33hạn này mà người nộp thế không giải trình, bổ sung thông tin tài liệu hoặc bổ sung nhưng vẫn không chứng minh được số thuế đã khai thì cơ quan thuế ấn định số thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế để có đủ căn cứ ấn định số thuế phải nộp Quyết định kiểm tra thuế phải được gửi cho người nộp thuế trong thời gian cụ thể, kể từ ngày ký
Kiểm tra thuế tại trụ sở của đối tượng nộp thuế chỉ được thực hiện khi có quyết định kiểm tra thuế tại trụ ở của đối tượng nộp thuế do thủ trưởng của cơ quan thuế ban hành và phải đảm bảo các nội dung như căn cứ pháp lý để kiểm tra, đối tượng kiểm tra, nội dung kiểm tra… Khi tiến hành kiểm tra thuế, trưởng đoàn kiểm tra thuế có trách nhiệm công bố quyết định kiểm tra thuế và giải thích nội dung quyết định kiểm tra để đối tượng kiểm tra hiểu và có trách nhiệm chấp hành quyết định kiểm tra
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối lương thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và
xử lý những hành vi trái pháp luật Việc thanh tra thuế chỉ được tiến hành với các trường hợp sau:
- Đối với HKD cá thể có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không qua một lần Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm khi xảy ra
- Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế: Trường hợp qua kiểm tra thuế
mà phát hiện hành vi vi phạm về thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thì trong thời hạn cụ thể (khoảng bao nhiêu ngày làm việc), kể từ ngày phát hiện, đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo thủ trưởng cơ quan thuế để chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra thuế và bổ sung vào kế hoạch thanh tra
- Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ tài chính
Việc lập kế hoạch thanh tra phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin về người nộp thuế, từ đó phát hiện, lập danh sách người nộp thuế có dấu hiệu bất thường trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra Kể
Trang 34hoạch thanh tra bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: đối tượng thanh tra, kỳ thanh tra, loại thuế thuộc diện thanh tra, thời gian dự kiến tiến hành thanh tra
Trên cơ sở kế hoạch thanh tra, bộ phận thanh tra soạn thảo quyết định thanh tra trình lãnh đạo cơ quan thuế Quyết định thanh tra thuế phải có các nội dung như căn cứ pháp lý để thanh tra, đối tượng thanh tra, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra, thời hạn tiến hành thanh tra…
1.2.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu thuế đối với HKD cá thể
Các tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu thuế đối với HKD cá thể, tác giả dựa trên quyết định số 688/2013/QĐ-TCT về việc ban hành các tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thuế ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Tổng cục Thuế Vì các tiêu chí này đánh giá chung cho tất cả các hoạt động quản lý thuế nên tác giả điều chỉnh cho phù hợp hơn với luận văn của mình
* Các tiêu chí định tính
Mức độ chấp hành chỉ đạo của cơ quan thuế
Việc tuân thủ đúng chỉ đạo của cơ quan thuế là cơ sở để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu thuế được giao Tiêu chí này được đánh giá trên góc độ: Thứ nhất, Chi cục thuế thực hiện đúng chỉ đạo của cơ quan thuế cấp trên như là triển khai kịp thời các quy định, nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt kế hoạch được giao Thứ hai, Đội thuế trực thuộc, cán bộ quản lý thuế thực hiện triển khai và hoàn thành tốt các chỉ thị, nhiệm vụ do Chi cục thuế giao cho Mức độ chấp hành chỉ đạo của cơ quan thuế thể hiện nguyên tắc tập trung, sự thống nhất trong công tác quản lý thuế
Mức độ tự giác của đối tượng nộp thuế
Đây là tiêu chí đo lường hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, công tác quản lý thuế Đối tượng nộp thuế tự giác tuân thủ đúng chính sách thuế thì điều đó phản ánh hiệu quả quản lý thu thuế là tốt Ngược lại, nếu đối tượng nộp thuế thể hiện các hành vi như không thực hiện tự khai tự nộp, gian lận và trốn thuế, nộp tờ khai thuế không đúng quy định…thể hiện mức độ tự giác là thấp, điều này cho thất công tác quản lý thuế của cơ quan thuế là thấp
Trang 35Mức độ trung thực, nhiệt tình, trách nhiệm của cán bộ quản lý thuế
Đây là một tiêu chí rất quan trọng trong công tác quản lý thuế Tiêu chí đánh giá này cần thiết trong tất cả các khâu của quy trình quản lý thuế hiện nay, từ khâu lập dự toán thu thuế, quản lý đối tượng nộp thuế đến khâu quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế Cán bộ quản lý thuế mà có trách nhiệm, nhiệt tình, và trình độ nghiệp
vụ cao thì chất lượng quản lý thuế sẽ được nâng cao Ngược lại, cán bộ quản lý thuế
có trình độ hạn chế, cửa quyền, quan liêu sẽ làm cho công tác quản lý thuế kém hiệu quả, phát sinh những tiêu cực trong công tác quản lý thuế, thất thoát nguồn thu Mức độ trung thực, nhiệt tình còn được thể hiện qua mức độ hài lòng của các khách hàng của cục thuế các tỉnh, chi cục thuế các huyện Nếu khách hàng càng hài lòng thì tiêu chí này càng cao
Các chỉ tiêu định lượng đánh giá công tác quản lý thu thuế
Hoạt động của cơ quan thuế các cấp hiện nay được định hình theo các chức năng chủ yếu sau: Công tác lập dự toán thu thuế, tuyên truyền hỗ trợ, tin học và xử
lý dữ liệu, quản lý kê khai và kế toán thuế, quản lý thu nợ thuế, thanh tra kiểm tra thuế…Mỗi chức năng phải xây dựng một hệ thống các tiêu chí đo lường hiệu quả công tác quản lý thu thuế theo các nội dung cơ bản sau
Nhóm tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác lập dự toán thu thuế: F1 =( X1,X2, X3,X4) với các biến số:
X1 là tỷ lệ dự toán do địa phương xây dựng trên số thực thu năm trước
X2 là tỷ lệ dự toán do địa phương xây dựng trên dự toán pháp lệnh
X3 là tỷ lệ thực thu năm nay trên dự toán pháp lệnh (hoặc dự toán phấn đấu)
X4 là tỷ lệ thực thu năm nay trên thực thu năm trước (Loại trừ các yếu tố khách quan làm tăng giảm đột biến)
Nhóm tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác hỗ trợ người nộp thuế (hay công
tác tuyên truyền hỗ trợ): F2 = (Y1,Y2, Y3,Y4,Y5, Y6); với các biến số Yi
Y1 là tỷ lệ HKD cá thể mới ra kinh doanh chấp hành tốt năm nay trên tổng số lượng HKD cá thể mới ra kinh doanh trong năm
Y2 là tỷ lệ số lượng HKD cá thể mới ra kinh doanh có vi phạm hành chính
Trang 36thuế năm nay trên tổng số lượng HKD cá thể mới ra kinh doanh trong năm
Y3 là tỷ lệ HKD cá thể mới ra kinh doanh có hành vi trốn thuế năm nay trên tổng số lượng HKD cá thể mới ra kinh doanh trong năm
Y4 là tỷ lệ số lương HKD cá thể trốn thuế năm nay trên tổng số lượng HKD
cá thể trốn thuế năm trước
Y5 là tỷ lệ số lượng HKD cá thể vi phạm hành chính thuế năm nay trên số lượng HKD cá thể vi phạm hành chính năm trước
Y6 là tỷ lệ số lượng HKD cá thể chấp hành tốt pháp luật thuế năm nay trên số lượng HKD cá thể chấp hành tốt pháp luật thuế năm trước
Nhóm tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác quản lý đăng ký, kê khai thuế:
N1 là tỷ lệ nợ chờ xử lý năm nay trên nợ chờ xử lý năm trước
N2 là tỷ lệ số nợ khó thu năm nay trên nợ khó thu năm trước
N3 là tỷ lệ nợ có khả năng thu năm nay trên nợ có thể thu năm trước
N4 là tỷ lệ nợ phải thu theo kế hoạch năm nay trên tổng số nợ
Trang 37N5 là tỷ lệ nợ thu được của năm nay trên tổng số phải thu theo kế hoạch
N6 là tỷ lệ số nợ thu được của năm nay trên tổng số nợ thu được của năm trước
N7 là tỷ lệ số HKD cá thể bị cưỡng chế thuế trên tổng số lượng HKD cá thể trong năm
Ngoài các nhóm tiêu chí nêu trên, có thể sử dụng thêm một số tiêu chí đánh giá tổng hợp như sau: F6 = (M1,M2, M3, M4) với các biến số Mi
M1 là tỷ lệ số lượng HKD cá thể quản lý thuế của một cán bộ năm nay so với năm trước
M2 là tỷ lệ số thuế thực thu bình quân của 1 cán bộ năm nay so với năm trước
M3 là tỷ lệ số thuế thực thu của 1 đồng chi tiêu năm nay so với năm trước
M4 là tỷ lệ tổng số tiền chi tiêu của 1 cán bộ năm nay so với năm trước
Hệ thống các tiêu chí nêu trên tạo nên cơ sở lý luận cho việc đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thu thuế nói chung và công tác quản lý thu thuế nói riêng của cơ quan thuế các cấp trong quá trình cải cách và hiện đại hóa
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
ký thuế, kê khai thuế, hoàn thuế, công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, thực
Trang 38hiện tốt công tác này sẽ hạn chế tối thiếu sai sót khi thực hiện chính sách thuế, nâng cao tinh thần tự giác, trung thực của người nộp thuế, công tác thanh tra, kiểm tra thuế sẽ tăng lên, từ đó hiệu quả công tác quản lý thuế được nâng lên Ngoài ra, đối với những người thực hiện công tác thu thuế, nếu như nghiệp vụ chuyên môn tốt sẽ bóc tách được các khoản thuế phải nộp của HKD cá thể, tránh tình trạng thu trùng, thu sai hoặc thất thu thuế Điều này vừa đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, vừa đảm bảo được sự hài lòng của khách hàng nộp thuế Ngược lại, nếu công chức thuế hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm không cao sẽ là rào cản thực hiện mục tiêu của ngành thuế, mức độ sai phạm trong công tác quản lý sẽ tăng lên như những sai sót trong lúc đăng ký thuế, kê khai thuế, nẩy sinh những tiêu cực, gian lận, trốn thuế Những tiêu cực này có thể sẽ gây ra thất thu thuế đối với nhà nước, vừa làm các HKD cá thể nhờn luật, gây ra những phản ứng tiêu cực của xã hội đối với ngành thuế
Các yếu tố thuộc về mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động là những mục tiêu mà công tác quản lý thu thuế nói chung, công tác quản lý thu thuế nói riêng đã đặt ra trong một thời kỳ Trong công tác lập dự toán thu thuế cũng cần đặt ra các tiêu chí kế hoạch phấn đấu thực hiên Các tiêu chí này cần được xây dựng có căn cứ thực tiễn, việc lập cần được tiến hành một cách nghiêm túc, trung thực, khách quan
và khoa học Quản lý kinh tế bằng kế hoạch là một phương pháp khoa học, vì vậy
dự toán thu thuế là một khâu quan trọng trong quản lý thu thuế Tuy nhiên, các tiêu chí này được xây dựng trong dự đoán lại chịu tác động lớn của các nhân tố chủ quan thuộc về người xây dựng, chịu áp lực rất lớn về thành tích của cơ quan thuế Nếu địa phương do “sợ” không thu đủ theo tiêu chí nêu nên thường lập dự toán trong thời gian quá sớm Lại có cơ quan thuế do không nắm được nguồn thu của mình, không thống kê được số thu mới từ các hoạt động của HKD cá thể dẫn đến dự toán sai lệch với thực tế Nếu cơ quan thuế lại “quá tự tin” đăng ký số thu cao hơn nhiều
để phấn đấu tương xứng với nhiệm vụ chính trị được Hội đồng nhân dân giao phó,
ví dụ như là chào mừng một dịp nào đó của tỉnh, thành, để rồi sang năm kế tiếp không hoàn thành dự toán, xin giảm số thu Nếu địa phương xây dựng dự toán thiếu
Trang 39dẫn tới hụt thu; nếu quản lý không tốt, thì khâu việc truy thu sẽ rất vất vả Tất cả các hoạt động này đều làm hiệu quả công tác quản lý thu thuế giảm xuống Không phản ánh thực chất công tác quản lý thu thuế của cơ quan thuế Tóm lại, nếu những mục tiêu hoạt động này không phù hợp với sự phát triển chung của tình hình hoạt động của các HKD cá thể trên địa phương cũng như sự phát triển của nền kinh tế nói chung thì rất khó có thể thực hiện được Thậm chí, đối với một mục tiêu được coi là phù hợp thì cũng còn nhiều yếu tố tác động
Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất là yếu tố giúp cho công tác quản lý thu thuế được thực hiện khoa học, nhanh chóng Cơ sở vật chất thể hiện như văn phòng làm việc, các phương tiện hỗ trợ công việc như máy máy tính, máy in, phần mềm tin học quản lý… Nếu cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại sẽ thúc đẩy các hoạt động quản lý thuế được thực hiện hiệu quả hơn như công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, công tác lập dự toán thu thuế… Văn phòng làm việc đầy đủ, thiết kế liên hoàn giữa các phòng, đội thuế sẽ thuận lợi cho người nộp thuế hoàn thành thủ tục thuế, thực hiện nghĩa vụ dễ dàng Cơ quan thuế có trang website sẽ là nơi truyền đạt các thông điệp về chính sách thuế hữu hiệu, công chức thuế và người nộp thuế có thể truy cập để tìm kiếm các thông tin phục vụ tốt cho công việc của mình, nâng cao nhận thức về nghĩa vụ tốt cho công việc của mình, nâng cao nhận thức về nghĩa vụ thuế Chất lượng tuyên truyền sẽ nâng cao, hạn chế các sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, cũng như nghĩa vụ thuế Hiện nay, phần mềm khai thác thuế được cấp miễn phí cho các HKD cá thể, đây là trang bị rất tốt cho các HKD cá thể, từ đo nâng cao chất lượng quản lý thuế của cơ quan thuế
Hệ thống văn bản pháp luật về thuế và quản lý thu thuế: Muốn công tác quản
lý thu thuế được thuận lợi, khoa học thì yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất đó là cần
có hệ thống văn bản pháp luật về thuế và quản lý thu thuế hoàn thiện, thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng và dễ hiểu Muốn vậy, cần có những nghiên cứu toàn diện về kinh
tế xã hội, cơ chế thu thuế làm cơ sở ban hành quy trình quản lý thống nhất Hiện nay với việc luật hóa toàn bộ nội dung quy trình quản lý thuế thì tất cả đối tượng áp dụng của Luật Quản lý thuế bao gồm các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế,
Trang 40nộp các khoản thu khác; các tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, tổ chức cá nhân nộp thuế thay, tất cả các cơ quản lý thuế các cấp đều có trách nhiệm trong việc thực thi Quy định này tạo điều kiện cho người nộp thuế hiểu biết và giám sát cơ quan thuế trong việc thực hiện các thủ tục hành chính thuế Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thuế và cơ quản lý thu thuế, ngoài những tiện ích, thuận lợi cho công tác quản lý của cơ quan thuế hướng tới mục tiêu công khai, minh bạch, rõ ràng, chuyên nghiệp… còn tạo nhiều điều kiện để người nộp thuế phát huy tinh thần chủ động trong mọi khâu công việc, từ tính thuế, kê khai, nộp thuế, đến tự xác định mức độ miễn, giảm, hoàn thuế… Đặc biệt, các tổ chức cá nhận còn được quyền đòi hỏi cung cấp thông tin về thuế, được gia hạn nộp thuế khi bị thiệt hại vật chất do các nguyên nhân khách quan… Điều này, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế của
cơ quan thuế và nghĩa vụ thực hiện chính sách thuế của đối tượng thuế Tuy nhiên, đối với hệ thống thuế còn nhiều điểm chưa rõ ràng, đặc biệt là hiện tượng trùng lặp thuế phải nộp, hoặc các khoản mục được miễn hay giảm chưa có những điểm phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của HKD cá thể có thể gây ra tình trạng dây dưa trốn lậu thuế, hoặc những phản ứng không tích cực trong việc tranh chấp thuế
1.3.2 Các nhân tố khách quan
Đạo đức của người nộp thuế: thể hiện các hành vi chấp hành luật thuế của người nộp thuế như sự nhận thức, tinh thần trách nhiệm, tự giác của người nộp thuế với nghĩa vụ của mình Điều này có vai trò đặc biệt quan trọng đối vơi công tác quản lý của cơ quan thuế, công tác tổ chức thu thuế góp phần nâng cao hiệu quả thu thuế, tiết kiệm chi phí về thời gian và tiền bạc Nếu đạo đức của người nộp thuế mà tốt thì người nộp thuế sẽ tự giác với tinh thần trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế cao của mình, hạn chế sự sai sót trong các khâu kê khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế đúng kỳ hạn, cơ quan thuế không cần phải thực hiện các biện pháp như cưỡng chế thuế, hiệu quả công tác quản lý thu thuế sẽ được tăng lên Nếu đạo đức người nộp thuế kém, xuất hiện những hành vi khai giảm thuế, kê khai không đúng tình hình thực tế nhằm giảm số thuế phải nộp bằng cách khai giảm doanh thu tính thuế,