Bài nghiên cứu xem xét sự tác động của yếu tố Vốn chủ sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần tại Việt Nam nhằm mục đích xác định được những ngân hàng nào hoạt động có
GIỚI THIỆU
Đặt vấn đề
Năm 2018 là khoảng thời gian ngành ngân hàng Việt Nam trải qua nhiều biến động lớn Từ những tác động của Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 đã tạo những áp lực tăng vốn đáng kể lên toàn bộ hệ thống Thông tư 41 định hướng theo những quy định về an toàn vốn của Ủy ban Basel trong các tài liệu về Basel II Theo đó đảm bảo hoạt động của các ngân hàng với lượng vốn an toàn hơn đủ để phòng ngừa các rủi ro chính bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng
Quy định về tỷ lệ an toàn vốn được áp dụng cho các NHTM tại Việt Nam đã được triển khai từ năm 1999 tại Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN ngày 25/8/1999 theo tiêu chuẩn của Basel I Từ đó đã được sửa đổi nhiều lần qua các quyết định của Ngân hàng nhà nước Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% được thực hiện kéo dài trong 3 năm Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007-2008, Ngân hàng nhà nước đã quyết định nâng tỷ lệ an toàn vốn lên 9% qua Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 Đến 20/11/2014, Ngân hàng nhà nước đã ban hành bổ sung Thông tư 36/2014/TT- NHNN với nhiều cách tiếp cận tiệm cận với những điều khoản mà Basel II quy định
Cụ thể Thông tư này điều chỉnh chỉ số CAR xuống trở lại 8% nhưng yêu cầu vốn cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, những điểm mới trong Basel II
Trở lại với Thông tư 41/2016/TT-NHNN, khi Thông tư này được đưa vào áp dụng vào ngày 01/01/2020, tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng bị sụt giảm đáng kể do Tổng tài sản nhạy cảm với rủi ro, phần mẫu số trong công thức tính CAR, phải bao gồm tất cả các tài sản nhạy cảm với rủi ro, đặc biệt là rủi ro hoạt động Từ đó, để đáp ứng được hệ số an toàn vốn, buộc các NHTM, mà trước tiên là 10 ngân hàng thí điểm phải đạt được mức vốn tối thiểu cao hơn bằng nhiều cách
Từ những lập luận trên, tác giả đặt giả thuyết liệu khi Thông tư 41 được áp dụng, đồng loạt các ngân hàng bằng mọi cách phải tăng hệ số an toàn vốn Theo cách thông thường, điều đầu tiên mà các NHTM nghĩ đến tăng vốn cổ phần thường bằng cách phát hành thêm cổ phiếu Vấn đề đặt ra là liệu tăng vốn, hay rộng hơn là tăng tỷ lệ an toàn vốn sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của NHTM?
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Để đánh giá được tác động của một chính sách vĩ mô, cụ thể là Thông tư 41 đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là một đề tài phức tạp, yêu cầu nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau
Nghiên cứu này được thực hiện chỉ nhằm mục tiêu đánh giá tác động của sự thay đổi vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động tại các NHTM cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017 Từ đó định hướng và cung cấp thêm thông tin cho các quyết định đầu tư vào các cổ phiếu ngành ngân hàng trong tương lai
Với mục tiêu trên, nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, việc tăng vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động, cụ thể là lợi nhuận của NHTM
- Thứ hai, thay đổi tỷ lệ vốn chủ sở hữu và thay đổi tỷ lệ an toàn vốn có tác động như thế nào đối với lợi nhuận.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này dựa vào dữ liệu của hệ thống các NHTM cổ phần trong nước, bao gồm 31 ngân hàng theo thống kê tại website của Ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày 31/12/2018 1 Tuy nhiên, vì lý do dữ liệu một số ngân hàng không có sẵn để thu thập nên dữ liệu thống kê chỉ còn 26 ngân hàng theo danh sách tại Phụ lục 1
Việc ra đời và áp dụng Basel II của các NHTM xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 Khi đó, các quy định của Basel I đã không dự báo được cuộc khủng hoảng Do đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài này được bắt đầu từ năm 2008 đến năm 2017.
Nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu phục vụ cho các biến làm thước đo cho đặc điểm ngân hàng được thống kê từ các báo cáo tài chính qua các năm công bố tại website thông tin tài chính VietstockFinance 2 và nguồn dữ liệu mua từ CTCP Dữ Liệu Kinh Tế Việt Nam- Vietdata 3
Các dữ liệu đại diện cho biến vĩ mô được thu thập từ nguồn dữ liệu Các chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới 4
Kết cấu đề tài
Các nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến lợi nhuận được trình bày ở Chương 2 Cũng tại chương này, tác giả tìm hiểu về mối quan hệ giữa Vốn và Lợi nhuận của ngân hàng trên phương diện lý thuyết Từ những khuôn khổ lý thuyết, trình bày về dữ liệu và mô hình nghiên cứu được thực hiện trong Chương 3 Kết quả nghiên cứu được trình bày ở Chương 4 và thảo luận trong Chương 5
1 https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/htctctd/nh/nhtm/nhtmcp?_afrLoop13732880 7227577#%40%3F_afrLoop%3D15137328807227577%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2 525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl- state%3D11l673kwue_4
3 https://finance.vietdata.vn/ExtAppCommon/Home/BCTC1
4 https://databank.worldbank.org/data/source/world-development-indicators
Bài nghiên cứu này kỳ vọng nhận diện được mối quan hệ giữa Vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động với quy mô mẫu là các NHTM tại Việt Nam.
KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT
Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng
Lợi nhuận của các NHTM bị tác động như thế nào từ các yếu tố trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như các tác động từ nền kinh tế trong nước và thế giới? Vấn đề này là một chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới quan tâm Có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng, một số nghiên cứu tại các ngân hàng trong phạm vi một quốc gia cụ thể, một số tập hợp các dữ liệu chéo trên nhiều quốc gia như châu Âu, các nước thuộc Đông Nam Á, hay dữ liệu từ các nền kinh tế mới nổi Bourke (1989) sử dụng phương pháp chuỗi thời gian gộp để ước lượng phương trình tuyến tính, hồi quy các thước đo hiệu quả hoạt động dựa trên nhiều yếu tố nội bộ (tỷ lệ vốn chủ sở hữu, chi phí nhân viên, tính thanh khoản) và các yếu tố bên ngoài (tỷ lệ tập trung, sở hữu chính phủ, lãi suất, tăng trưởng thị trường và lạm phát) để ước lượng lợi nhuận ngân hàng Để kết luận được các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng, Short (1979) đã phát triển nhiều mô hình dưới dạng các hàm khác nhau và đi đến kết luận rằng hàm tuyến tính là lựa chọn phù hợp để ước lượng Mô hình tuyến tính đi đến kết luận có ba nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến lợi nhuận Thứ nhất là biến giả đại diện cho mức độ sở hữu của chính phủ, đại diện cho yếu tố ảnh hưởng từ chính sách nhà nước Thứ hai là mức độ tập trung thị trường ngân hàng tại 12 nước trong nghiên cứu này Biến thứ ba, Short (1979) xác định là sự thay đổi của dòng vốn được đại diện là lãi suất chiết khấu và lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn Nghiên cứu kết luận về sự biến động tài sản không có ít nghĩa thống kê trong mô hình của Short (1979) Ba nhóm yếu tố này đã tạo tiền đề cho các nghiên cứu sau này Các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong mô hình của Short (1979) đã được phát triển trong những nghiên cứu về sau Bourke (1989) mở rộng các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài
Molyneux và Thornton (1992) kế thừa mô hình của Bourke (1989) xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng gồm các yếu tố bên trong: lương nhân viên, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tính thanh khoản và các yếu tố bên ngoài gồm: tỷ lệ tập trung, sở hữu chính phủ, lãi suất, tốc độ tăng trưởng và lạm phát Nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992) có một số kết luận trái ngược với những phát hiện của Short (1979) nhưng lại phù hợp với kết luận của Bourke (1989), đặc biệt là mối tương quan giữa lợi nhuận và sở hữu chính phủ Molyneux và Thornton (1992) cũng đã phát hiện rằng tỉ lệ vốn chủ sở hữu tác động thuận chiều đối với lợi nhuận, mặc dù mối quan hệ này bị giới hạn chỉ đối với những ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước Ngoài ra, Molyneux (1993) cũng nhận thấy mối quan hệ tương quan đồng biến giữa chi phí tiền lương và lợi nhuận Điểm cần chú ý trong nghiên cứu này là khi quan sát các biến về vốn cần chú ý đến ngân hàng sở hữu chính phủ vì các ngân hàng này có xu hướng duy trì tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn khu vực tư nhân
Quy mô tài sản quan hệ nghịch biến với hai biến số khác: tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản (Boyd và Runkle, 1993) Quy mô tài sản ngân hàng lớn có xu hướng lợi nhuận trên tổng tài sản cao do tận dụng được lợi thế quy mô cũng như các gói bảo hiểm của chính phủ lớn hơn để tránh bị phá sản Tương tự, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có tỷ lệ cao đối với các ngân hàng này Boyd và Runkle (1993) lập luận rằng những khoản nợ xấu không thể hiện trên báo cáo tài chính nên sử dụng giá trị thị trường của cổ phẩn để ước tính tài sản Tuy nhiên, các khoản nợ phải trả thường là ngắn hạn nên có thể dùng giá trị sổ sách Từ đó ước lượng tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thông qua giá trị thị trường của cổ phiếu và cổ tức
Berger (1995) phân tích mối quan hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tự có và tỷ lệ an toàn vốn ở một số ngân hàng Mỹ từ năm 1983-1992 nhận thấy mối quan hệ đồng biến không đổi trong những năm 1980 nhưng thay đổi từ những năm đầu thập niên 1990
Demirgỹỗá-Kunt và Huizinga (1999) xem xột dữ liệu của 80 quốc gia từ năm 1988-1995 để nghiên cứu các yếu tố quyết định đến biên lãi ròng và lợi nhuận ngân hàng Các yếu tố tác động gồm: đặc điểm ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, thuế (bao gồm cả thuế “ngầm”), quy định bảo hiểm tiền gửi, cấu trúc tài chính và chính sách nhà nước Thu nhập hoạt động trước thuế được dùng làm thước đo hiệu quả, chỉ số này bao gồm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cộng với lợi nhuận từ tài sản không sinh lãi trừ đi chi phí và các khoản trích lập dự phòng Kết quả hồi quy cho thấy yếu tố cơ bản về đặc điểm ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, có mối quan hệ đồng biến với lợi nhuận ngân hàng và biên lãi ròng
Chiuri, Feeri và Majnoni (2002) kiểm tra một bảng dữ liệu cho 572 ngân hàng ở 15 quốc gia đang phát triển Nghiên cứu này tìm thấy bằng chứng giống nhau rằng việc áp dụng quy định tỷ lệ an toàn vốn đã gây ra giảm nguồn cung cho vay và do đó, trong tổng vốn vay ở các quốc gia này Tuy nhiên, các yêu cầu về vốn lại không ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng Các yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến lợi nhuận là quy mô ngân hàng và hiệu quả trong quản lý chi phí hoạt động
Nhưng với bất kỳ áp lực tăng tỷ lệ an toàn vốn phần nào đồng nghĩa với việc vốn chủ sở hữu tăng lên, và do đó tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sỡ hữu (ROE) lại giảm, cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa vốn chủ sở hữu và ROE Berger
(1995) đã tranh luận điều ngược lại rằng lợi nhuận của NHTM có thể đạt hiệu quả tích cực nếu ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu bằng lợi nhuận giữ lại thay vì phát hành cổ phần mới Đối tượng nghiên cứu là các ngân hàng ở Mỹ vào cuối thập niên 1980
Nghiờn cứu của Demirgỹỗ-Kunt và cộng sự (2003) phõn tớch tỏc động của cỏc quy định ngân hàng cũng như các yếu tố quyết định nội bộ khác, bao gồm sự tập trung và thể chế, đối với tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng Nghiên cứu phân tích dữ liệu từ các ngân hàng trên 72 quốc gia đồng thời kiểm soát một loạt các đặc điểm kinh tế vĩ mô, tài chính và của từng ngân hàng cụ thể
Doliente (2005) điều tra các yếu tố quyết định tỷ suất lợi nhuận ròng của các ngân hàng ở bốn quốc gia Đông Nam Á Biên lãi ròng được giải thích bởi các yếu tố đặc thù ngân hàng, cụ thể là chi phí hoạt động, chất lượng cho vay vốn, tài sản thế chấp và tài sản lưu động
Barth, Caprio và Levine (2004) sử dụng cơ sở dữ liệu mới dựa trên các quy định và giám sát của ngân hàng tại 107 quốc gia để đánh giá mối quan hệ giữa thực tiễn quản lý và giám sát cụ thể và phát triển, hiệu quả và sự mong manh của ngành ngân hàng Kết quả đưa ra một nhận định thận trọng liên quan đến các chính sách của chính phủ phụ thuộc quá mức vào sự giám sát và điều tiết trực tiếp của chính phủ đối với các hoạt động của ngân hàng
Những quy định về hệ số an toàn vốn có tác dụng tích cực, đóng vai trò là biện pháp thận trọng giúp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của những khủng hoảng kinh tế trong tương lai đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và cả kinh tế vĩ mô Mặt khác, các quy định quá mức có thể làm tăng chi phí trung gian và làm giảm lợi nhuận của ngành ngân hàng Đồng thời, khi các ngân hàng trở nên hạn chế hơn, khả năng mở rộng tín dụng và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế sẽ bị cản trở trong điều kiện nền kinh tế bình thường Naceur và Kandil (2009) phân tích ảnh hưởng của an toàn vốn đối với hai chỉ số hiệu suất cụ thể: chi phí trung gian và lợi nhuận Nghiên cứu cho thấy rằng việc tăng vốn chủ sở hữu làm tăng chi phí trung gian và dẫn đến khả năng sinh lợi cao hơn của tài sản và vốn với những tác động không bền vững trong dài hạn
Mô hình của Witowschi và Luca (2016) dựa trên số liệu của 68 NHTM tại Châu Âu trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2011 đã chỉ ra có mối quan hệ đồng biến giữa vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động Nghiên cứu này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ngoài nghiên cứu các biến về vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động, bài nghiên cứu còn tập trung vào tác động của vốn đến rủi ro, cũng như các tài sản nhạy cảm với rủi ro ở các ngân hàng có trụ sở tại các nước châu Âu
Brahmaiah và Ranajee (2018) nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Ấn Độ Mô hình nghiên cứu xem xét 10 biến số đại diện cho đặc điểm ngân hàng gồm: quy mô, vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, năng suất lao động, trích lập dự phòng, chi phí huy động vốn, thu nhập từ lãi, tỷ lệ nợ xấu, chủ sở hữu và tỷ lệ các khoản cho vay ưu tiên áp dụng đối với các ngân hàng Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn chủ sở hữu là yếu tố quan trọng nhất tác động đến lợi nhuận Trong khi đó, do mức độ canh tranh cao tại Ấn Độ nên mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận không đáng kể
Bảng 2.1 Tổng kết các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng (nguồn: tác giả tổng hợp từ lý thuyết)
Brahmaiah và Ranajee (2018) Witowschi và Luca (2016) Trujillo-Ponce (2013) Dietrich và Wanzenried (2011) Alexiou và Sofoklis (2009) Athanasoglou và cộng sự (2008) Pasiouras và Kosmidou(2007) Naceur (2003) Demirguỗ-Kunt và Huizinga (1999) Molyneux và Thornton(1992) Short (1979)
Biến phụ thuộc ROA ROE ROAA ROAA ROEA ROAA ROEA NIM ROE ROA ROA ROAA ROA ROA ROE ROA ROA
Các biến độc lập đại diện đặc điểm từng ngân hàng
Chi phí huy động vốn - - - +
Mối quan hệ giữa Vốn và Lợi nhuận
3.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Một trong những vấn đề chính trong việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận của ngân hàng là đặc tính nội sinh tiềm tàng của các yếu tố quyết định nhất định Ví dụ, các ngân hàng có lợi nhuận cao hơn có thể có nhiều nguồn lực hơn để tăng vốn chủ sở hữu của họ; họ cũng có thể thấy dễ dàng hơn để tăng cơ sở khách hàng của mình thông qua ngân sách nhiều hơn cho quảng cáo và do đó nâng cao lợi nhuận Mối quan hệ nhân quả thậm chí có thể theo hướng ngược lại; ví dụ: lợi nhuận ngân hàng cao hơn có thể cần đến nhiều nhân viên hơn và hiệu quả thấp hơn (García- Herrero và cộng sự, 2009) Ngoài ra, một số đặc điểm của các ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ rất khó đo lường hoặc xác định trong một phương trình Nếu các đặc điểm đó không được tính đến, có thể dẫn đến tự tương quan giữa một số hệ số của các biến giải thích và các lỗi làm sai lệch các hệ số này
Theo nghiên cứu của Brahmaiah và Ranajee (2018), Witowschi và Luca
(2016), Trujillo-Ponce (2013), Pasiouras và Kosmidou (2007) và Short (1979), tác giả tổng hợp và sử dụng 2 mô hình sau để ước lượng:
ROAAit = α + β1CARit + β2lnAsset it + β3NIMit + β4CIRit + β5LLPit + β6NPLit + β7GDPt + β8INFt + β9HHIt + εit (1)
ROAAit = α’ + β’1EAit + β’2lnAsset it + β’3NIMit + β’4CIRit + β’5LLPit + β’6NPLit + β’7GDPt + β’8INFt + β’9HHIt + εit (2) Đề tài sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 26 NHTM Mục đích tác giả đưa ra cả hai mô hình để phân tích và so sánh tác động của 2 biến độc lập EA và CAR tương ứng với từng phương trình lên biến phụ thuộc ROAA Điều này nhằm tạo cơ sở để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai: thay đổi tỷ lệ vốn chủ sở hữu và thay đổi tỷ lệ an toàn vốn có tác động như thế nào đối với lợi nhuận.
DỮ LIỆU, CÁC BIẾN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Một trong những vấn đề chính trong việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận của ngân hàng là đặc tính nội sinh tiềm tàng của các yếu tố quyết định nhất định Ví dụ, các ngân hàng có lợi nhuận cao hơn có thể có nhiều nguồn lực hơn để tăng vốn chủ sở hữu của họ; họ cũng có thể thấy dễ dàng hơn để tăng cơ sở khách hàng của mình thông qua ngân sách nhiều hơn cho quảng cáo và do đó nâng cao lợi nhuận Mối quan hệ nhân quả thậm chí có thể theo hướng ngược lại; ví dụ: lợi nhuận ngân hàng cao hơn có thể cần đến nhiều nhân viên hơn và hiệu quả thấp hơn (García- Herrero và cộng sự, 2009) Ngoài ra, một số đặc điểm của các ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ rất khó đo lường hoặc xác định trong một phương trình Nếu các đặc điểm đó không được tính đến, có thể dẫn đến tự tương quan giữa một số hệ số của các biến giải thích và các lỗi làm sai lệch các hệ số này
Theo nghiên cứu của Brahmaiah và Ranajee (2018), Witowschi và Luca
(2016), Trujillo-Ponce (2013), Pasiouras và Kosmidou (2007) và Short (1979), tác giả tổng hợp và sử dụng 2 mô hình sau để ước lượng:
ROAAit = α + β1CARit + β2lnAsset it + β3NIMit + β4CIRit + β5LLPit + β6NPLit + β7GDPt + β8INFt + β9HHIt + εit (1)
ROAAit = α’ + β’1EAit + β’2lnAsset it + β’3NIMit + β’4CIRit + β’5LLPit + β’6NPLit + β’7GDPt + β’8INFt + β’9HHIt + εit (2) Đề tài sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 26 NHTM Mục đích tác giả đưa ra cả hai mô hình để phân tích và so sánh tác động của 2 biến độc lập EA và CAR tương ứng với từng phương trình lên biến phụ thuộc ROAA Điều này nhằm tạo cơ sở để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai: thay đổi tỷ lệ vốn chủ sở hữu và thay đổi tỷ lệ an toàn vốn có tác động như thế nào đối với lợi nhuận.
Các biến trong mô hình
Biến phụ thuộc: Các nghiên cứu trước đây đều đo lường khả năng sinh lời bằng cách sử dụng tỷ lệ hoàn vốn của tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROA phản ánh khả năng quản lý của ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ tổng tài sản, trong khi chỉ số ROE chỉ ra lợi nhuận cho cổ đông trên vốn chủ sở hữu và bằng ROA nhân với tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu ROE bỏ qua các rủi ro liên quan đến đòn bẩy cao và các quy định về tỷ lệ dự trữ Witowschi và Luca (2016), Trujillo- Ponce (2013), Dietrich và Wanzenried (2011) và Pasiouras và Kosmidou (2007) xem xét tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân để đo lường hiệu quả hoạt động Nghiên cứu dựa vào giá trị tài sản trung bình để hiểu được những thay đổi về quy mô tài sản trong năm tài chính Như Golin (2013) chỉ ra rằng ROAA là một chỉ số quan trọng để để đánh giá lợi nhuận của ngân hàng và trở thành thước đo phổ biến nhất về lợi nhuận của ngân hàng trong tài liệu nghiên cứu Do dó, bài nghiên cứu này sử dụng tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân ROAA là đại diện cho lợi nhuận ngân hàng Biến ROAA được đo lường bằng tỷ số giữa Lợi nhuận sau thuế chia cho Tổng tài sản bình quân (trung bình cộng giữa số liệu ghi nhận tài sản đầu năm và cuối năm)
1 Vốn Yếu tố này được chú ý nhất từ mục tiêu chính của đề tài nghiên cứu
Do đó, tác giả sử dụng 2 chỉ tiêu để tính vốn để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu a Thứ nhất, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EA) để đánh giá những thay đổi về vốn ảnh hưởng thế nào đến ROAA Các nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992); Demirguỗ-Kunt và Huizinga (1999); và Naceur (2003) đều cho kết quả tỷ lệ thuận giữa vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA Dấu kỳ vọng của biến này đối với biến phụ thuộc là dấu dương b Thứ hai, tỷ lệ an toàn vốn CAR Mối quan hệ thuận chiều giữa vốn và lợi nhuận không phải là một phát hiện mới bởi suy cho cùng vốn có thể tăng lên cũng do bởi lợi nhuận tăng lên từ hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, vấn đề ở đây chính là việc tăng vốn là yêu cầu bắt buộc về quy định tỷ lệ an toàn vốn Witowschi và Luca (2016) phát hiện ra rằng trong các điều kiện thị trường khác nhau, quy định an toàn vốn là một công cụ giám sát hiệu quả, nghiên cứu xác nhận rằng sự gia tăng nhu cầu vốn dường như làm giảm rủi ro của các ngân hàng, nên có khả năng hạn chế phần nào lợi nhuận từ mang lại từ những tài sản rủi ro cao
2 Tác giả sử dụng giá trị tổng tài sản dưới dạng lnAsset để kiểm soát yếu tố quy mô Ảnh hưởng của quy mô đối với lợi nhuận đã được phân tích từ những nghiên cứu của Alexiou và Sofoklis (2009), Pasiouras và Kosmidou
(2007) và Demirguỗ-Kunt và Huizinga (1999) Đối với cỏc ngõn hàng trở nên cực kỳ lớn, ảnh hưởng của quy mô có thể là tiêu cực do quan liêu và các lý do khác Hiệu quả không rõ ràng Một mặt, các ngân hàng với quy mô lớn hơn có thể giảm chi phí từ các nền kinh tế có quy mô và phạm vi Mặt khác, một số ý kiến cho rằng các ngân hàng nhỏ có thể đạt được quy mô kinh tế bằng cách tăng quy mô của họ đến một điểm nhất định trong đó việc tăng thêm quy mô sẽ dẫn đến sự không hiệu quả về quy mô Vì vậy, không có kỳ vọng trước về tác động của biến này đến lợi nhuận của ngân hàng
3 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM): cho biết khả năng của một ngân hàng trong việc trang trải các chi phí trung gian Biên độ thấp có thể phản ánh chi phí cao với lãi suất do phụ thuộc vào các khoản nợ ngắn hạn và thái độ thận trọng của ngân hàng dẫn đến thu nhập lãi thấp hơn Giá trị cao của chỉ số này có thể là kết quả nếu có sự chênh lệch lãi suất đáng kể giữa lãi suất thưởng của các nguồn vốn và lãi cho các khoản vay Ngoài ra, tỷ lệ thu nhập lãi thuần cao có thể là kết quả của việc tăng khối lượng cho vay, được phản ánh trong phần thu nhập lãi cao hơn Trong trường hợp này, chúng ta có thể giả định rằng các ngân hàng áp dụng một hành vi rủi ro 3 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) được đo lường bằng tỷ số giữa Thu nhập lãi thuần chia cho Tổng tài sản có sinh lời bình quân Tác giả kỳ vọng biến NIM có mối quan hệ thuận chiều với biến ROAA
4 Tỷ lệ chi phí hoạt động so với thu nhập hoạt động (CIR) cho biết khả năng của các ngân hàng trong việc kiểm soát chi phí hoạt động Giá trị của CIR càng thấp, lợi nhuận được tạo ra càng cao, kỳ vọng biến CIR có hệ số âm Biến CIR được tính bằng tỷ lệ phần trăm so sánh giữa Chi phí hoạt động và Thu nhập từ hoạt động
5 Dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) Bản chất của chi phí trích lập dự phòng rủi ro (trong đó, phần lớn là trích lập dự phòng rủi ro tín dụng) là một chi phí không chi bằng tiền mặt của ngân hàng và chỉ đơn thuần được tạo lập bởi một nghiệp vụ kế toán Vì thế dòng tiền của ngân hàng không bị ảnh hưởng bởi chi phí này Mục tiêu của các khoản dự phòng là để bù đắp rủi ro của các khoản vay có xu hướng không thu hồi được Một ưu điểm khác của khoản dự phòng này là nó được khấu trừ khởi thu nhập của năm hiện tại giúp giảm một phần thuế thu nhập doanh nghiệp Tỷ lệ LLP là tỷ lệ phần trăm giữa khoản Dự phòng rủi ro tín dụng so với Tổng dự nợ Tỷ lệ này được quy định dành cho các khoản nợ xấu, nợ thuộc nhóm 3, 4, và 5
6 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL) phản ánh chất lượng các khoản nợ hay có thể nói là chất lượng tài sản ngân hàng vì cho vay là hoạt động chính
Tỷ lệ này thấp cho thấy ngân hàng phân phối rủi ro của các khoản cho vay tốt, đảm bảo được các khoản lợi nhuận trong tương lai Biến NPL và LLP là hai biến đại diện cho thước đo rủi ro Tác giả kỳ vọng lợi nhuận tỷ lệ nợ xấu càng thấp tạo nên lợi nhuận cao, hệ số mang dấu âm
7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) Tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua tăng trưởng GDP, có nhiều tác động đối với các chủ thể trong nền kinh tế Các doanh nghiệp này đều là khách hàng của hệ thống các tổ chức tín dụng Khi nhu cầu vay và gửi tiền cao, hoạt động của các ngân hàng trở nên tấp nập hơn Các nhà nghiên cứu cho rằng nó có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng do thực tế là nhu cầu cho vay tăng lên trong các đợt tăng trưởng theo chu kỳ Tăng tiền gửi ngân hàng và các khoản vay có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Khi hoạt động kinh tế giảm, nhu cầu cho vay và tiền gửi giảm và ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận
8 Lạm phát (INF) là một yếu tố vĩ mô khác quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động được xem xét trong hầu hết các nghiên cứu trước đây
9 Tập trung thị trường (HHI) đại diện cho đặc điểm ngành ngân hàng trong các nghiên cứu của Short (1979), Bourke (1989), Dietrich và Wanzenried
(2011) đo lường bằng Chỉ số Herfindahl-Hirschman Index Chỉ số HHI được tính bằng công thức Tổng bình phương thị phần về doanh thu của 26 ngân hàng trong bài nghiên cứu Theo thông lệ quốc tế, các cơ quan quản lý cạnh tranh thường phân loại các thị trường theo cơ sở sau: a HHI < 1.000: Thị trường không mang tính tập trung b 1.000 ≤ HHI ≤ 1.800: Thị trường tập trung ở mức độ vừa phải c HHI > 1.800: Thị trường tập trung ở mức độ cao
Thống kê mô tả
3.3.1 Tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân
Hình 3.1 Tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân và Tỷ lệ thu nhập lãi thuần tính trung bình năm của các NHTM từ năm 2008-2017 (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)
Hình 3.1 cho thấy tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân theo xu hướng giảm mạnh từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và có dấu hiệu phục hồi từ năm 2015 nhờ nỗ lực tái cấu trúc toàn hệ thống ngân hàng Trong 4 năm trở lại đây, tỷ số ROAA của các NHTM có xu hướng ổn định, năm sau cao hơn năm trước, tăng từ mức 0.48% (năm 2015) lên 0.71% (năm 2017) Khảo sát giá trị trung bình của toàn bộ mẫu quan sát trong 10 năm đạt 0.96% với độ lệch chuẩn là 1.08%, phân bố tỷ suất sinh lợi trong Hình 3.2 cho thấy sự ít biến động trong tỷ số này trong 10 năm qua cũng như chênh lệch về hiệu quả hoạt động giữa các NHTM
Hình 3.2 Phân bố tỷ lệ ROAA của các NHTM trong 10 năm (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu) 3.3.2 Quy mô tổng tài sản
Hình 3.3 Thay đổi tổng tài sản các NHTM trong giai đoạn 2008-2017 (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)
Quy mô tổng tài sản các NHTM tăng mạnh trong 10 năm qua thể hiện Hình 3.3, đạt hơn 7 triệu tỷ đồng (tương đương 306 tỷ đô la Mỹ) vào cuối năm 2017, tăng 467% so với năm 2008 Từ đó cho thấy hệ thống ngân hàng đã phát triển mở rộng theo cấp số nhân thông qua việc thành lập thêm nhiều chi nhánh và phòng giao dịch trong cả nước Song song với mở rộng quy mô, các NHTM đã duy trì mức lợi nhuận ổn định trong những năm qua
3.3.3 Vốn chủ sở hữu và tỉ lệ an toàn vốn
Hình 3.4 Vốn chủ sở hữu và tỉ lệ an toàn vốn trung bình hàng năm trong vòng
10 năm 2008-2017 (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)
Từ công thức tính hai chỉ số Tỷ lệ an toàn vốn và Tỷ lệ vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản, tác giả nhận thấy hai biến số này có mối tương quan cao với nhau Kiểm chứng lại dữ liệu đã thu thập trên biểu đồ tại Hình 3.4 nhận thấy rõ mối tương quan thuận chiều này
Tỷ lệ CIR thể hiện được mối tương quan giữa chi phí hoạt động so với thu nhập của ngân hàng đó Tỷ lệ này cho nhà đầu tư 1 cái nhìn rõ hơn về hiệu quả hoạt động của tổ chức; tỷ lệ càng nhỏ thì ngân hàng đó càng hoạt động hiệu quả Chi phí hoạt động có mối tương quan rõ ràng là nghịch chiều với lợi nhuận của ngân hàng thể hiện trong Hình 3.5
Hình 3.5 Mối quan hệ giữa Chi phí hoạt động và Tỷ suất sinh lợi (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)
3.3.5 Nợ xấu và trích lập dự phòng
Hình 3.6 Mối tương quan giữa tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng và ROAA
(nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)
Bản chất của chi phí trích lập dự phòng rủi ro (trong đó, phần lớn là trích lập dự phòng rủi ro tín dụng) là một chi phí không chi bằng tiền mặt của ngân hàng và chỉ đơn thuần được tạo lập bởi một nghiệp vụ kế toán Vì thế dòng tiền của ngân hàng không bị ảnh hưởng bởi chi phí này Mặt khác, trích lập dự phòng rủi ro là một khoản chi phí bắt buộc theo quy định của các ngân hàng nhằm xử lý nợ xấu Và xử lý nợ xấu từ dự phòng là phương án khả thi nhất bởi nó là tiền thật của chính ngân hàng Khi ngân hàng xử lý được khoản nợ xấu (thu hồi được một phần hoặc toàn bộ khoản nợ), số tiền trích lập dự phòng sẽ được hoàn nhập vào dự phòng hoặc hạch toán trực tiếp vào thu nhập bất thường Do đó, nếu các ngân hàng cố trích lập dự phòng nhiều để "giấu lãi" thì sớm hay muộn khoản chi phí này cũng sẽ quay trở lại và làm tăng lợi nhuận tính thuế trong tương lai
Dưới góc độ của các nhà đầu tư và cổ đông các ngân hàng, rõ ràng trích lập dự phòng rủi ro là một "gánh nặng", vì trích càng nhiều thì lợi nhuận càng "teo tóp" thì không còn lại gì để chia cổ tức Cùng với đó, lợi nhuận trên báo cáo suy giảm thì trong ngắn hạn, sức hấp dẫn của cổ phiếu nhà băng đó cũng sẽ giảm theo Những ngân hàng có tỉ lệ bao phủ nợ xấu ở mức cao đồng nghĩa khả năng được hoàn nhập chi phí dự phòng của các ngân hàng này cũng cao hơn nhiều Do đó, tác động của trích lập dự phòng đối với lợi nhuận ngân hàng rất khó để dự báo
3.3.6 Mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng
Hình 3.7 Chỉ số ROAA so với thay đổi chỉ số tập trung thị trường Herfindahl-
Hirschman (HHI) (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)
Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng để nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường là hoàn hảo hay độc quyền cao Bộ Tư pháp Mỹ sử dụng chỉ số này để đánh giá mức độ độc quyền giữa các ngân hàng trong hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) HHI xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi ngân hàng trong toàn hệ thống Short (1979) đã tìm ra bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm rằng mức độ tập trung thị trường cao hơn sẽ dẫn đến tỷ suất sinh lợi tốt hơn, nhưng hệ số này nhỏ, cần một sự thay đổi thật sự lớn mới ảnh hưởng đến một điểm phần trăm tỷ suất sinh lợi
Chỉ số HHI của ngành ngân hàng tính theo thị phần thu nhập hoạt động trong
10 năm qua ở mức thấp, dưới 1000 điểm, cho thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đảm bảo được mức độ cạnh tranh trung bình Nghiên cứu của Nguyễn Thế Bính
(2015) kết luận rằng sau quá trình M&A, chỉ số tập trung của ngành ngân hàng có xu hướng tăng nhưng ở mức vừa phải, ngay cả đối với nhóm ngân hàng lớn Phạm Minh Điển và cộng sự (2017) kết luận chỉ số HHI không có ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các NHTM
Dựa vào dữ liệu đã thu thập, tác giả trình bày trong biểu đồ Hình 3.7 cho thấy chỉ số HHI không biến động nhiều qua các năm và không có mối tương quan với tỷ lệ ROAA của các NHTM
3.3.7 Tốc độ tăng trưởng GDP và tỉ lệ lạm phát
Hình 3.8 So sánh tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP với ROAA (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)
Quan sát biểu đồ tại Hình 3.8 so sánh giữa tốc độ tăng trưởng GDP so với sự thay đổi trong hiệu qua hoạt động của các NHTM thông qua chỉ số ROAA Trong giai đoạn từ 2012-2015, GDP tăng trưởng tốt trong khi ROAA lại có xu hướng giảm Mặc dù kỳ vọng một nền kinh tế phát triển có thể tương ứng với hiệu quả hoạt động tốt trong hệ thống tài chính, nghiên cứu của Nguyễn Minh Sáng và cộng sự (2014) cho kết quả ROA tương quan ngược chiều với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2012-2015 đều cao hơn tương đối so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Khi đặt mối quan hệ giữa ROAA và tăng trưởng GDP trong một mối quan hệ tương quan với một biến vĩ mô khác là tỷ lệ lạm phát (INF), có thể giải thích được phần nào mối quan hệ ngược với kỳ vọng này
3.3.8 Thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan
Bảng 3.1 dưới đây cho thấy thống kê mô tả từ dữ liệu của 26 NHTM Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân (ROAA) của các NHTM dao động từ mức thấp là -5.99% tới mức cao nhất là 11.9% và ROAA trung bình đạt 0.96% Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản dao động mạnh từ 3.46% đến 46.24% cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các ngân hàng
Chỉ số HHI đo lường sự tập trung của thị trường đạt giá trị từ 757 – 1072 và độ lệch chuẩn là 88.92 Theo thông lệ quốc tế, các giá trị này đều ở mức hợp lý để xác định thị trường các NHTM ở Việt Nam không mang tính tập trung
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Kết quả hồi quy của phương trình (1)
Dựa vào dữ liệu thu thập được cùng với hai mô hình đề xuất, nghiên cứu tiến hành hồi quy dữ liệu bảng với hai tác động: tác động cố định (Fixed effect) và tác động ngẫu nhiên (Random effect) Kết quả hồi quy đối với phương trình (1) được trình bày trong Bảng 4.1
Bảng 4.1 Kết quả hồi quy mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên cho phương trình (1)
Tác động cố định Tác động ngẫu nhiên
ROAA Hệ số β Giá trị P Hệ số β Giá trị P
Dựa vào giá trị R 2 , có thể nhận thấy mô hình tác động cố định có thể giải thích tốt hơn biến phụ thuộc ROAA với 66,08% so với mô hình tác động ngẫu nhiên Để xác định mô hình tác động cố định hay tác động ngẫu nhiên có hiệu quả hơn trong mô hình này, tác giả tiến hành kiểm định Hausman để đánh giá Kiểm định Hausman với giả định:
H0: Ước lượng của mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên không khác nhau
H1: Ước lượng của mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên là khác nhau
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Hausman cho mô hình (1)
Tác động cố định Tác động ngẫu nhiên Chênh lệch
Kiểm định Hausman cho thấy P = 0.0427 < 5% nghĩa là có cơ sở để bác bỏ H0 và chấp nhận H1 Khi có sự khác biệt của ước lượng của mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên thì nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định giải thích được tốt hơn Do đó, tác giả có căn cứ để lựa chọn mô hình tác động cố định
Tác giả sử dụng kiểm định Wooldridge cho hiện tượng tự tương quan, với giả định H0 là không có hiện tượng tự tương quan Kết quả cho giá trị P = 0.2537 > 0.05, tức là có cơ sở để chấp nhận giả định H0, giữa các biến không có hiện tượng tự tương quan
Một trong những giả định của mô hình hồi quy tuyến tính là không có mối quan hệ tuyến tính chính xác giữa các biến giải thích, hay còn gọi là đa cộng tuyến Để chuẩn đoán hiện tượng này, tác giả sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF) và hệ số chấp nhận (TOL) được tính toán từ phần mềm Stata trong Bảng 4.3:
Bảng 4.3 Chuẩn đoán đa cộng tuyến Collin cho các biến phương trình (1)
Tên biến VIF sqrt VIF Tolerance
Các giá trị VIF đều tương đối thấp, không có giá trị nào vượt quá 4, giá trị trung bình là 2.05, nên có thể kết luận các biến giải thích trong mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến nhưng không nghiêm trọng
Một trong những vấn đề thường gặp trong dữ liệu chéo hay dữ liệu bảng là phương sai thay đổi (phương sai không bằng nhau) trong hạng nhiễu Do đã xác định được mô hình hình tác động cố định phù hợp để ước lượng ROAA, nên tác giả sử dụng kiểm định Wald để chuẩn đoán mô hình có bị hiện tượng phương sai không đồng nhất hay không? Với giả định H0 là phương sai giữa các mẫu dữ liệu là không đổi Kết quả giá trị P của kiểm định Wald là 0.0000 < 0.05, nên bác bỏ giả định H0, tức là mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi Để khắc phục vấn đề này, tác giả sử dụng thủ tục điều chỉnh được đề xuất bởi White để có được các sai số chuẩn điều chỉnh phương sai thay đổi hay còn gọi là mô hình sai số chuẩn mạnh Kết quả hồi quy được thể hiện trong Bảng 4.4
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình sai số chuẩn mạnh đối với phương trình (1)
Tác động cố định, sai số chuẩn mạnh
Sai số chuẩn hiệu chỉnh Giá trị P
Kết quả hồi quy cho thấy Tỷ lệ chi phí hoạt động so với thu nhập hoạt động CIR có ảnh hưởng ngược chiều đối với Tỷ suất sinh lợi bình quân với mức ý nghĩa cao Điều này phù hợp với kỳ vọng ban đầu cũng như các kết quả nghiên cứu của Witowschi và Luca (2016), Trujillo-Ponce (2013) và Pasiouras và Kosmidou (2007), với kết luận rằng Chi phí hoạt động càng cao càng làm giảm lợi nhuận Với mức ý nghĩa 5%, tỷ lệ thu nhập lãi thuần tăng lên 1% sẽ đóng góp vào khoảng 0.04% tăng lên trong tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản Kết quả này là hợp lý với kỳ vọng đối với biến NIM Đối với biến tốc độ tăng trưởng GDP, không có ý nghĩa thống kê trong cả hai mô hình hồi quy tác động cố định và tác động ngẫu nhiên ban đầu (Bảng 4.1) Tuy nhiên khi áp dụng mô hình sai số chuẩn, tác giả nhận được mối tương quan đồng biến với biến phụ thuộc ROAA, với mức ý nghĩa 10% Với mức ý nghĩa này, hệ số β của biến GDP là -7,95% cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến các yếu tố liên quan đến cung cầu vốn vay, Pasiouras và Kosmidou (2007) giải thích cho hệ số âm của biến GDP này là do đối tượng phục vụ của NHTM là rộng lớn nên chịu sự tác động khác nhau trong cùng một điều kiện kinh tế vĩ mô
Chỉ số tập trung thị trường cũng có tác động đồng biến với hiệu quả hoạt động của NHTM Điều này hàm ý rằng môi trường kinh doanh càng ít cạnh tranh tạo điều kiện tốt để các ngân hàng có lợi nhuận tốt hơn Hệ số của biến HHI là tương đối thấp, 0.09%, phù hợp với phát hiện của Short (1979) cần có một sự biến động lớn trong chỉ số tập trung thị trường để có được ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng
Brahmaiah và Ranajee (2018) và Trujillo-Ponce (2013) đã kết luận tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Với kết quả hệ số β của biến NLP là 0.00521 trong giai đoạn nghiên cứu này lại trái ngược với các nghiên cứu trước Tuy nhiên, với mức ý nghĩa 10% và hệ số β thấp, có thể kết luận các NHTM có xu hướng xử lý tốt các khoảng nợ xấu để tránh làm ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận
Giá trị hệ số β mà tác giả chủ yếu quan tâm trong bài nghiên cứu này là hệ số của biến CAR, nhằm xác định ảnh hưởng của Tỷ lệ an toàn vốn đến lợi nhuận Tuy nhiên kết quả hồi quy không có ý nghĩa thống kê với hệ số mang dấu âm Điều này có thể giải thích rằng để đạt được Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các NHTM đã sử dụng tỷ lệ nhiều hơn các nguồn vốn không phải là Vốn chủ sở hữu để nâng tỷ lệ CAR, theo đó chi phí trung gian của nguồn vốn cấp 2 này tăng lên đáng kể đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Đối với các biến Quy mô tổng tài sản, Trích lập dự phòng và Tỷ lệ lạm phát đều không có ý nghĩa thống kê khi ước lượng tác động đến Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng.
Kết quả hồi quy với phương trình (2)
Quay trở lại với mô hình được trình bày ở phương trình (2), tức là dùng biến
EA thay cho biến CAR để ước lượng tỷ suất sinh lợi bình quân ROAA Trước khi đi vào xác định mô hình, tác giả dùng các kiểm định để xác định các lỗi ước lượng của mô hình về kiểm định đa cộng tuyến và hiện tượng tự tương quan Dùng kiểm định Collin để kiểm định đa cộng tuyến giữa các biến cho kết quả VIF trong Bảng 4.5
Bảng 4.5 Chuẩn đoán đa cộng tuyến Collin cho các biến phương trình (2)
Tên biến VIF sqrt VIF Tolerance
Tương tự với các biến trong phương trình (1), các giá trị VIF đều tương đối thấp nên có cơ sở để kết luận các biến giải thích trong môt hình (2) có hiện tượng đa cộng tuyến không nghiêm trọng, do có giá trị VIF nhỏ hơn 10
Tác giả sử dụng kiểm định Wooldridge cho hiện tượng tự tương quan, với giả định H0 là không có hiện tượng tự tương quan Kết quả cho giá trị P = 0.1524 > 0.05, tức là có cơ sở để chấp nhận giả định H0, giữa các biến không có hiện tượng tự tương quan
Dùng kiểm định Hausman để xác định lựa chọn mô hình giải thích phù hợp giữa tác động cố định và tác động ngẫu nhiên, cho kết quả giá trị P = 0.0254 < 5% Tức là có sự khác nhau giữa hai mô hình, khi đó các giá trị hệ số β được ước lượng từ mô hình tác động cố định là phù hợp để lựa chọn Tuy nhiên, để kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi từ mô hình tác động cố định, tác giả sử dụng kiểm định Wald cho kết quả giá trị P = 0.0000 < 5%, tức là có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình nghiên cứu (2) Một lần nữa, tác giả sử dụng mô hình sai số chuẩn mạnh để ước lượng các hệ số β của phương trình (2) cho kết quả trong Bảng 4.6
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình sai số chuẩn mạnh cho phương trình (2)
Tác động cố định, sai số chuẩn mạnh
ROAA Hệ số β Sai số chuẩn hiệu chỉnh Giá trị P
Các kết quả hồi quy của phương trình (2) đối với các biến GDP, CIR và NIM không khác so với kết quả của phương trình (1) Riêng đối với biến Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản EA cho kết quả hồi quy mang dấu dương và không có ý nghĩa thống kê, phù hợp với các kết luận của Witowschi và Luca (2016), Berger (1995), Athanasoglou và cộng sự (2006) và Staikouras và Wood (2004).
So sánh hai mô hình hồi quy
Bảng 4.7 So sánh kết quả hồi quy 2 mô hình
*, **, *** tương ứng mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%
Bảng 4.7 so sánh kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định, có hiệu chỉnh sai số chuẩn mạnh từ hai phương trình khác nhau đối với biến Vốn ngân hàng đều cho kết luận có ý nghĩa thống kê đối với các biến Chi phí hoạt động trên tổng thu nhập CIR, Tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM trong các biến đại diện cho đặc điểm của từng ngân hàng Đối với các biến vĩ mô, tăng trưởng GDP được xác định có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tỷ lệ lạm phát không có tác động đáng kể đến ROAA cũng như không có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn nghiên cứu
Sự khác biệt giữa hai phương trình hồi quy là các biến giải thích về Vốn Cả hai hệ số β của các biến này đều không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, điểm khắc biệt của dấu hệ số dương của biến EA, trong khi dấu âm đối với biến CAR, cho thấy hai cách tác động khác nhau của những chỉ số vốn khác nhau đối với tỷ suất sinh lợi của ngân hàng.
THẢO LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bài nghiên cứu này tập trung tìm kiếm sự ảnh hưởng của yếu tố vốn đối với hiệu quả hoạt động của 26 NHTM cổ phần trong nước trong giai đoạn 10 năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu Thước đo hiệu quả hoạt động được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu là chỉ số Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân ROAA Sau khi kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng đúc kết từ các nghiên cứu trước đó, tác giả xây dựng mô hình hồi quy tác động cố định để ước lượng Nhìn chung, lợi nhuận hoạt động của NHTM chủ yếu được giải thích bởi hiệu quả kiểm soát chi phí, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi thuần và yếu tố kinh tế vĩ mô GDP cũng như đặc điểm tập trung thị trường của ngành ngân hàng, mặc dù không đáng kể
Riêng đối với biến Vốn là biến khảo sát của tác giả để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu không cho kết quả có ý nghĩa thống kê Với giá trị hệ số dương, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cao có thể có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM nói chung Tuy nhiên, với giá trị hệ số ngược lại hoàn toàn của biến tỷ lệ an toàn vốn, tác giả có thể xác nhận được câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai Đó là, với áp lực tăng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước, các NHTM nên có biện pháp tăng vốn chủ sở hữu hay vốn điều lệ lên mức tốt nhất có thể sẽ tốt hơn so với các hình thức tăng vốn khác Đối với góc độ nhà đầu tư vào những chứng khoán ngân hàng trong tương lai, tác giả định hướng quan sát những ngân hàng có khả năng tăng vốn điều lệ cao để đầu tư Đồng thời, qua bài nghiên cứu tác giả đã nhận diện được một số yếu tố khác tác động đến hành vi lợi nhuận của ngân hàng Nên lựa chọn những ngân hàng tối thiểu hóa được chi phí hoạt động cũng như tạo được các mức lãi suất cho vay và huy động tốt Yếu tố vĩ mô cũng cần được xem xét khi đầu tư vào các chứng khoán này
Mặc dù dữ liệu nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm là tương đối dài, bài nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số hạn chế Hạn chế thứ nhất là khả năng tiếp cận dữ liệu về ngân hàng của tác giả chưa đầy đủ, không bao gồm các ngân hàng nhà nước và chi nhánh các ngân hàng nước ngoài Điều này tạo ra mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn để có kết luận chính xác Hạn chế thứ hai là tác giả vẫn chưa có điều kiện đi sâu vào tìm hiểu các yếu tố có khả năng tiềm năng tác động đến lợi nhuận để xác định được mô hình tối ưu Các yếu tố liên quan đến thông tin đặc thù của ban quan trị ngân hàng, ví dụ như kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ cũng như tính độc lập trong điều hành vẫn chưa được xem xét Những vấn đề này, tác giả hy vọng sẽ được trình bày trong các nghiên cứu sau này
Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thiên Kim, 2014 Tác động của hoạt động kinh doanh ngân hàng đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số
Nguyễn Thế Bính, 2015 Tập trung thị trường trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 26 (36) - Tháng 01 - 02/2016
Phạm Minh Điển, Dương Thị Kim Hoàng và Dương Quỳnh Nga, 2017 Ảnh hưởng của chỉ số Lerner, chỉ số HHI và chi phí cơ hội của dự trữ đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NHTM Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 58(1), 3-
Athanasoglou, P., Delis, M and Staikouras, C., 2006 Determinants of bank profitability in the South Eastern European region
Alexiou, C and Sofoklis, V., 2009 Determinants of bank profitability: Evidence from the Greek banking sector Ekonomski Anali/Economic Annals, 54(182)
Altunbas, Y., Carbo, S., Gardener, E.P and Molyneux, P., 2007 Examining the relationships between capital, risk and efficiency in European banking European Financial Management, 13(1), pp.49-70
Athanasoglou, P.P., Brissimis, S.N and Delis, M.D., 2008 Bank-specific, industry- specific and macroeconomic determinants of bank profitability Journal of international financial Markets, Institutions and Money, 18(2), pp.121-136
Barth, J R., Caprio, G., and Levine, R., 2004 Bank regulation and supervision: What works best? Journal of Financial Intermediation, 13, 205–248
Berger, A.N., 1995 The relationship between capital and earnings in banking Journal of money, credit and Banking, 27(2), pp.432-456
Bitar, M., Pukthuanthong, K and Walker, T., 2018 The effect of capital ratios on the risk, efficiency and profitability of banks: Evidence from OECD countries Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 53, pp.227-262
Bourke, P., 1989 Concentration and other determinants of bank profitability in Europe, North America and Australia Journal of Banking & Finance, 13(1), pp.65-
Boyd, J.H and Runkle, D.E., 1993 Size and performance of banking firms: Testing the predictions of theory Journal of monetary economics, 31(1), pp.47-67
Brahmaiah, B and Ranajee, 2018 Factors Influencing Profita-bility of Banks in India Theoretical Eco-nomics Letters, 8, 3046-3061
Chiuri, M C., Feeri, G., & Majnoni, G., 2002 The macroeconomic impact of bank capital requirements in emerging economies: Past evidence to assess the future
Journal of Banking and Finance, 26, 881–904
Delis, M.D and Staikouras, P.K., 2011 Supervisory effectiveness and bank risk
Demirgỹỗ-Kunt, A and Huizinga, H., 1999 Determinants of commercial bank interest margins and profitability: some international evidence The World Bank Economic Review, 13(2), pp.379-408
Demirgỹỗ-Kunt, A and Huizinga, H., 2000 Financial structure and bank profitability World Bank Policy Research Working Paper, (2430)
Demirguc-Kunt, A., Laeven, L and Levine, R., 2003 Regulations, market structure, institutions, and the cost of financial intermediation (No w9890) National Bureau of Economic Research
Dietrich, A and Wanzenried, G., 2011 Determinants of bank profitability before and during the crisis: Evidence from Switzerland Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 21(3), pp.307-327
Doliente, J.S., 2005 Determinants of bank net interest margins in Southeast Asia Applied Financial Economics Letters, 1(1), pp.53-57
García-Herrero, A., Gavilá, S and Santabárbara, D., 2009 What explains the low profitability of Chinese banks? Journal of Banking & Finance, 33(11), pp.2080-
Goddard, J., Liu, H., Molyneux, P and Wilson, J.O., 2013 Do bank profits converge? European Financial Management, 19(2), pp.345-365
Goddard, J., Molyneux, P and Wilson, J.O., 2004 The profitability of European banks: a cross‐ sectional and dynamic panel analysis The Manchester School, 72(3), pp.363-381
Golin, J and Delhaise, P., 2013 The bank credit analysis handbook: a guide for analysts, bankers and investors John Wiley & Sons
Lee, C.C and Hsieh, M.F., 2013 The impact of bank capital on profitability and risk in Asian banking Journal of international money and finance, 32, pp.251-281
Jacques, K and Nigro, P., 1997 Risk-based capital, portfolio risk, and bank capital:
A simultaneous equations approach Journal of Economics and business, 49(6), pp.533-547
Molyneux, P., 1993 Structure and performance in European banking (Doctoral dissertation, Prifysgol Bangor University)
Molyneux, P and Thornton, J., 1992 Determinants of European bank profitability:
A note Journal of banking & Finance, 16(6), pp.1173-1178
Naceur, S.B., 2003 The determinants of the Tunisian banking industry profitability: panel evidence Universite Libre de Tunis working papers, pp.1-17
Naceur, S.B and Kandil, M., 2009 The impact of capital requirements on banks’ cost of intermediation and performance: The case of Egypt Journal of Economics and Business, 61(1), pp.70-89
Pasiouras, F and Kosmidou, K., 2007 Factors influencing the profitability of domestic and foreign commercial banks in the European Union Research in International Business and Finance, 21(2), pp.222-237
Revell, J., 1980 Costs and margins in banking: an international survey (Vol 1)
Organisation for Economic Co-operation and Development;[Washington, DC: sold by OECD Publications and Information Center
Rime, B., 2001 Capital requirements and bank behaviour: Empirical evidence for Switzerland Journal of Banking & Finance, 25(4), pp.789-805
Short, B.K., 1979 The relation between commercial bank profit rates and banking concentration in Canada, Western Europe, and Japan Journal of Banking & Finance, 3(3), pp.209-219
Staikouras, C.K and Wood, G.E., 2004 The determinants of European bank profitability International business and economics research journal, 3, pp.57-68 Trujillo‐ Ponce, A., 2013 What determines the profitability of banks? Evidence from Spain Accounting & Finance, 53(2), pp.561-586
Witowschi, I.R.B and Luca, F.A., 2016 Bank capital, risk and performance in European banking A case study on seven banking sectors Prague Economic Papers, 2016(2), pp.127-142.