Một loạt các nghiên cứu kết luận rằng vốn con người có liên quan đến thành công của doanh nhân Cassar, 2006; Van der Sluis et al., 2005; Bosma et.al., 2004, cụ thể là vốn con người tăng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ THANH HẰNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA VỐN CON NGƯỜI VÀ KHỞI NGHIỆP
DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ THANH HẰNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA VỐN CON NGƯỜI VÀ KHỞI NGHIỆP
DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS Trần Ngọc Thơ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Ngọc Thơ Các số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Các kết quả này chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
Hồ Thị Thanh Hằng
Trang 4GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Bố cục bài nghiên cứu 5
KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 7
2.1 Khung lý thuyết 7
2.1.1 Lý thuyết về vai trò của khởi nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế 7
2.1.2 Lý thuyết về vốn con người và tinh thần khởi nghiệp 14
2.2 Bằng chứng thực nghiệm 27
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 36
3.1 Phương pháp ước lượng 36
3.2 Mô tả biến và dữ liệu 39
3.2.1 Mô tả biến 39
3.2.1 Dữ liệu 45
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 51
4.1 Kết quả thực nghiệm và giải thích 51
4.1.1 Kết quả hồi quy phương trình (1) 51
4.1.2 Kết quả hồi quy phương trình (2) 57
4.2 Các kiểm định cho mô hình hồi quy GMM 58
4.2.1 Kiểm định đa cộng tuyến 58
4.2.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 59
4.3 Thảo luận kết quả thực nghiệm 60
4.4 Các đề xuất từ kết quả nghiên cứu 62
KẾT LUẬN 64
5.1 Kết luận chung 64
5.2 Các hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu sắp tới 65
Trang 5DGMM Mô hình hồi quy GMM khác biệt
DPD Dữ liệu bảng động (Dynamic Panel Data)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GEM Dữ liệu giám sát khởi nghiệp toàn cầu (Global Entrepreneurship Monitor) GFDD Dữ liệu phát triển tài chính toàn cầu (Global Financial Development
Database) GMM Mô hình hồi quy GMM (Generalized Method of Moments)
KSA Kiến thức, kỹ năng, khả năng (Knowledge, skills, and abilities)
MLS Maximum Likelihood Estimation (Ước lượng hợp lý cực đại)
OLS Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất
R&D Nghiên cứu và phát triển (Research and development)
SGMM Mô hình hồi quy GMM hệ thống
WDI Chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators)
Trang 6Bảng 2.1 Các lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu khởi nghiệp của con người tính
đến tháng 9/2014 16
Bảng 2.2 Cấu trúc vốn nhân lực chung 17
Bảng 2.3 Các loại hình vốn nhân lực 22
Bảng 3.1 Thống kê mô tả biến 44
Bảng 3.2 Danh sách các nước sử dụng trong nghiên cứu 47
Bảng 3.3 Nguồn dữ liệu của các biến sử dụng trong mô hình 49
Bảng 4.1 Kết quả hồi quy GMM phương trình (1) 52
Bảng 4.2 Tác động biên của tuyển sinh đại học đối với tinh thần khởi nghiệp ứng với 3 thước đo phát triển tài chính ở một số quốc gia 54
Bảng 4.3 Tác động biên của tuyển sinh đại học đối với tinh thần khởi nghiệp ứng với 3 thước đo phát triển tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2015 56
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy GMM phương trình (2) 57
Bảng 4.5 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 59
Trang 7Hình 2.1 Trọng tâm của nghiên cứu trong quá khứ 20
Hình 2.2 Mô hình vốn nhân lực và quá trình khởi nghiệp 25
Hình 4.1 Mối quan hệ giữa tinh thần khởi nghiệp và phát triển tài chính 53
Hình 4.2 Mối quan hệ giữa tinh thần khởi nghiệp và phát triển tài chính 56
Trang 8Công trình nghiên cứu này của tôi tìm hiểu về mối quan hệ giữa vốn con người và khởi nghiệp dưới ảnh hưởng của mức độ phát triển tài chính ở Việt Nam và một số quốc gia khác Trong bài nghiên cứu, tôi sử dụng mẫu dữ liệu của 43 quốc gia trong giai đoạn từ
2001 – 2015, trong đó có Việt Nam Để tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu trong bài, tôi đã dựa trên những lý thuyết nền tảng và các bài nghiên cứu trước đây, từ đó xây dựng một mô hình để xem xét sự tác động lẫn nhau giữa ba yếu tố trên Tôi sử dụng
dữ liệu bảng cùng phương pháp ước lượng GMM hệ thống để ước lượng cho phương trình này, kèm theo đó là các kiểm định liên quan như: hiện tượng tự tượng quan, đa cộng tuyến để kiểm tra các “khuyết tật” có thể có của mô hình
Kết quả tôi thu được là sự tác động của nguồn vốn nhân lực lên tinh thần khởi nghiệp là lớn hay nhỏ phụ thuộc vào mức độ phát triển tài chính của một quốc gia Cụ thể, tác động của giáo dục đại học lên tinh thần khởi nghiệp mạnh nhất ở các quốc gia có mức độ vốn khả dụng và phát triển tài chính thấp và ngược lại Thêm vào đó, ở những quốc gia có thu nhập thấp hơn mức trung bình, để tăng tỷ lệ khởi nghiệp thì nên tập trung cải thiện giáo dục hơn là tập trung vào phát triển tài chính Qua những kết quả thực nghiệm trên tôi đã đưa ra những giải thích, đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo và các khuyến nghị cho chính sách giáo dục của Việt Nam để giúp nâng cao tinh thần khởi nghiệp và giúp đất nước phát triển một cách mạnh mẽ trong tương lai
Từ khóa: Khởi nghiệp, vốn nhân lực, tuyển sinh đại học, phát triển tài chính
Trang 9The previous literature is filled with mixed findings with regard to human capital’s impact on entrepreneurial outcomes In particular, the prior literature has treated human capital’s impact on entrepreneurship in isolation, while in reality its impact depends on access to financial capital This study of mine explores the relationship between human capital and entrepreneurship under the influence of the level of financial development in Vietnam and some other countries In the study, I used data samples from 43 countries in the period from 2001 to 2015, including Vietnam In order to find out the answers to the research questions in the paper, I have based on the fundamental theories of entrepreneurship, human capital of previous studies to build two models to consider the impact of mutual feedback between the above factors I use the table data and the GMM system estimation method to estimate the two equations proposed in the paper
My results show that a rise in tertiary enrollment benefits entrepreneurship most when the level of financial development is low For higher levels of financial development, the impact of tertiary enrollment on entrepreneurship is still positive but much lesser in magnitude compared to countries with lower level of financial development Through the above results, I have provided explanations and suggestions for Vietnam's education policy to enhance the entrepreneurial spirit and develop the country more strongly
Keywords: Entrepreneurship, Human Capital, Tertiary Enrollment, Financial Development
Trang 10GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Các tài liệu trước đây đã tìm thấy rất nhiều kết quả liên quan đến mối quan hệ giữa kết quả giáo dục và tinh thần khởi nghiệp Một loạt các nghiên cứu kết luận rằng vốn con người có liên quan đến thành công của doanh nhân (Cassar, 2006; Van der Sluis et al., 2005; Bosma et.al., 2004), cụ thể là vốn con người tăng lên rất quan trọng trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp (Haber và Reichel, 2007) Tuy nhiên, các nghiên cứu của Baum và Silverman (2004) cho rằng mối quan hệ giữa vốn con người và tinh thần khởi nghiệp đang được nhấn mạnh quá mức Trong bài nghiên cứu này, tôi tiếp tục làm rõ vấn
đề liên quan đến tác động của vốn con người đến tinh thần khởi nghiệp Trong khi lý thuyết vốn con người tiêu chuẩn (Becker, 1964) cho rằng kết quả giáo dục tốt hơn sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế, nhưng điều này không phải lúc nào cũng làm tăng tỷ lệ doanh nhân khởi nghiệp thực tế, vì tỷ lệ này còn chịu tác động của một số yếu tố khác
Yếu tố đầu tiên là giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, có thể cản trở sự không đồng nhất và tư duy sáng tạo cần thiết cho sự đổi mới (Baumol, 2004) Ông thấy rằng việc nắm vững các phương pháp khoa học được cung cấp bởi giáo dục đại học tiêu chuẩn là vô cùng quý giá đối với các hoạt động R & D của tập đoàn lớn nhưng cản trở sự sáng tạo thực sự cần thiết cho những đổi mới đột phá góp phần không nhỏ vào tăng trưởng (chủ yếu đến từ các công ty khởi nghiệp nhỏ và mới) Về bản chất, giáo dục đại học hầu hết đều dẫn đến những tiến bộ gia tăng hơn là tạo ra những đổi mới đột phá (Christensen, 1997) Đây chính xác là lý do tỷ phú doanh nhân Peter Thiel của PayPal đã tài trợ học bổng Thiel mang lại cho sinh viên 100.000 đô la trong hai năm cho những sinh viên nào dám bỏ học đại học và nỗ lực theo đuổi khởi nghiệp kinh doanh
Thứ hai, bởi vì một cá nhân có trình độ giáo dục cao và chất lượng sẽ dẫn đến cơ hội việc làm mở rộng trong các công ty và doanh nghiệp hiện tại có sẵn, điều đó làm tăng chi phí
cơ hội cho cá nhân trở thành một doanh nhân khởi nghiệp Đây chính xác là lý do tại sao các khu vực kém phát triển với môi trường kinh doanh kém và chính sách yếu kém có xu
Trang 11hướng có tỷ lệ tự khởi nghiệp cao, chính xác đây là những gì được chứng minh trong bài nghiên cứu về chi phí cơ hội của khởi nghiệp (Cassar, 2006)
Cuối cùng, giáo dục được cải thiện có thể khiến các cá nhân đánh giá tốt hơn các rủi ro, thất bại tiềm ẩn và các vấn đề với ý tưởng của họ, khiến các cá nhân khởi nghiệp phải từ
bỏ theo đuổi ý tưởng xấu và giảm tổng số khởi nghiệp mới Mặc dù yếu tố thứ ba này dẫn đến ít thất bại hơn trong kinh doanh vì ít ý tưởng tồi tệ hơn được thực hiện, nhưng nó cũng dẫn đến các doanh nghiệp khởi nghiệp ít được thành lập hơn
Các kết quả không đồng nhất về mối quan hệ giữa giáo dục đại học và tỷ lệ khởi nghiệp không những thể hiện qua các nghiên cứu lý thuyết trước đây mà chúng còn được tìm thấy trong thực tế, đặc biệt dành cho sinh viên tham gia các khóa học về kinh doanh và lập kế hoạch kinh doanh, và những phát hiện này được nhân rộng ở nhiều quốc gia khác nhau (Martin, McNally và Kay, 2013) Ví dụ, Oosterbeek, van Praag và Ysselstein (2010) nhận thấy rằng sinh viên đại học Ý định khởi nghiệp đã giảm bớt sau khi tham gia một khóa học về tinh thần kinh doanh và điều này đã được nhân rộng Mentoor và Friedrich (2007) tìm thấy các khóa học đại học ở Nam Phi tập trung vào quản lý doanh nghiệp nhỏ và kết quả là tinh thần kinh doanh có mối tương quan nghịch với các kỹ năng
và kiến thức kinh doanh, đồng thời Von Graevenitz, Harhoff, và Weber (2010) tìm thấy kết quả tương tự đối với các sinh viên Đức Một số nghiên cứu của sinh viên Pháp và Litva (Fayolle, Gailly và Lassas-Clerc, 2006; Garalis và Strazdiene, 2007) lại tìm thấy kết quả hỗn hợp Nhiều yếu tố có thể giải thích mối quan hệ nghịch đảo này bao gồm việc hiểu rõ hơn về rủi ro thực sự và khối lượng công việc liên quan đến việc bắt đầu một doanh nghiệp mới đã làm giảm tỷ lệ khởi nghiệp thực tế của sinh viên
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu giá trị về đề tài trên, tuy nhiên các kết quả lại khá hỗn loạn và chưa đi đến một câu trả lời xác đáng cho mối quan hệ trên, đồng thời còn tồn tại khá nhiều vấn đề cần khắc phục Đầu tiên, đa số các nghiên cứu nhầm lẫn và bỏ qua tác động phi tuyến tính của vốn con người đối với tinh thần kinh doanh Thứ hai, tác động của nguồn nhân lực đối với tinh thần kinh doanh còn phụ thuộc vào mức độ phát triển tài chính của quốc gia đó, tuy nhiên cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nào khai thác Cuối cùng, các nghiên cứu trước vẫn chủ yếu tập trung vào các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, hệ thống kinh tế thị trường được hình thành đồng bộ và vận
Trang 12hành hiệu quả, môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự phát triển nên chưa phản ánh một cách chung nhất và chính xác nhất về mối quan hệ này; dữ liệu nghiên cứu cũng chưa được cập nhật đầy đủ đến thời điểm gần nhất nên sẽ không phản ánh được chính xác mối quan hệ trên trong nền kinh tế nhiều biến động những năm gần đây
Ngoài ra, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tôi thấy rằng vấn đề khởi nghiệp và vốn con người đang được các nước trên thế giới ngày càng quan tâm vì nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế và phát triển chung của một quốc gia Hãy cùng điểm qua một vài quốc gia luôn chú trọng đến tinh thần khởi nghiệp trong những năm qua Đầu tiên phải nói đến quốc gia có tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ nhất trên thế giới trong vài chục năm qua là Israel Có lẽ vì thấy được tầm quan trọng của khởi nghiệp trong sự phát triển kinh tế mà họ đã rèn luyện và giáo dục tinh thần khởi nghiệp cho trẻ em ngay từ khi còn nhỏ Tiếp theo, không thể không nhắc đến nước Mỹ, đất nước với những tập đoàn lớn mạnh, hàng chục nhà bác học đạt giải Nobel, hàng trăm nhà tỷ phú, hàng nghìn nhà khoa học thiên tài, chiếm lĩnh hầu hết những công nghệ hiện đại nhất thế giới Vậy điều gì đã tạo nên điều đó cho nước Mỹ? Có rất nhiều yếu tố, nhưng yếu tố quyết định là tinh thần khởi nghiệp của người Mỹ Ở Việt Nam hiện nay, môi trường khởi nghiệp được đánh giá
là còn non trẻ so với thế giới nhưng có nhiều tiềm năng để khơi dậy tinh thần khởi nghiệp một cách mạnh mẽ Theo đó, có hàng trăm Trường đại học, Viện – nơi được coi là trung tâm của hệ sinh thái khởi nghiệp, đang hoạt động khắp cả nước và ngày càng nhân rộng Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có thật sự kết quả giáo dục (vốn con người) sẽ có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ khởi nghiệp hay không?
Thấy được những khoảng trống lý thuyết cũng như tính thực tiễn của đề tài này trong giai đoạn hiện nay, tôi đã quyết định thực hiện đề tài này nhằm kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ giữa tuyển sinh giáo dục đại học và tỷ lệ khởi nghiệp (sự hình thành các doanh nghiệp mới) trên khắp các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Tôi cố gắng làm
rõ vấn đề này bằng cách xem xét mối quan hệ giữa vốn con người và tinh thần khởi nghiệp dưới ảnh hưởng của các mức độ phát triển tài chính khác nhau Đặc biệt ở nước
ta, khi xu hướng khởi nghiệp đang bắt đầu lan tỏa mạnh mẽ và Chính phủ cũng đã quyết định chọn năm 2016 là năm khởi đầu cho năm năm quốc gia khởi nghiệp sắp tới, cho thấy các nhà chính sách cũng đã nhận ra tầm quan trọng của khởi nghiệp và đổi mới lên
Trang 13sự tăng trưởng của quốc gia, tuy nhiên lại chưa có nghiên cứu nào về đề tài này cho thực
tế Việt Nam Do đó, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn
con người và khởi nghiệp dưới ảnh hưởng của mức độ phát triển tài chính ở Việt Nam
và một số quốc gia khác”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích mối quan hệ của tinh thần khởi nghiệp
và vốn con người dưới ảnh hưởng của kênh phát triển tài chính ở Việt Nam cùng một số quốc gia khác trên thế giới Các tài liệu trước đây đã nhất trí rằng phát triển tài chính và vốn con người là thành phần quan trọng của tăng trưởng kinh tế; cùng với đó, những yếu
tố này cũng không thể thiếu cho sự thành công của một doanh nhân khởi nghiệp
Câu hỏi đầu tiên đặt ra trong nghiên cứu này là hai yếu tố giáo dục và phát triển tài chính
có tác động đến tinh thần khởi nghiệp của một quốc gia hay không và nếu có thì tác động theo chiều hướng nào?
Thứ hai là liệu mức độ phát triển tài chính có tác động phi tuyến tính đến tinh thần khởi nghiệp không? Nghĩa là đối với quốc gia có mức độ phát triển tài chính cao thì vốn tài chính tăng lên nữa có làm tinh thần khởi nghiệp tăng lên nữa không và ngược lại
Thứ ba, mức độ phát triển tài chính có ảnh hưởng đến sự tác động của nguồn vốn con người lên tinh thần khởi nghiệp hay không? Tức là đối với một quốc gia có mức độ phát triển tài chính thấp, thì sự tăng lên về nguồn vốn con người có làm tinh thần khởi nghiệp tăng lên hay không và ngược lại
Cuối cùng, ở những nước có thu nhập thấp hơn trung bình, để tăng tỷ lệ khởi nghiệp thì nên tập trung cải thiện giáo dục hay phát triển tài chính và một sự cải thiện trong yếu tố nguồn vốn con người có đủ khả năng bù đắp sự thiếu hụt của hiệu quả tài chính hay không? Bởi vì đối với nhiều nước đang phát triển, việc có cả lĩnh vực tài chính mạnh và mức vốn con người cao có thể khó xảy ra do hạn chế về nguồn lực
Để giải quyết những câu hỏi chưa được khám phá đó, tôi đã đào sâu và mở rộng các nghiên cứu lý thuyết trước đây về tinh thần khởi nghiệp, nguồn vốn con người và phát triển tài chính Đồng thời sử dụng một phân tích thực nghiệm cho một nhóm các quốc gia rộng lớn theo thời gian, tôi dùng các biến định lượng đặc trưng thay thế cho từng yếu tố
Trang 14trên để kiểm định mối quan hệ và những tác động lẫn nhau của chúng Từ đó, đưa ra những khuyến nghị cho các chính sách nhằm tạo động lực để gia tăng tinh thần khởi nghiệp và phát triển nền kinh tế đất nước
1.3 Phương pháp, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu này trình bày phân tích thực nghiệm mối quan hệ ba yếu tố: hoạt động khởi nghiệp, vốn con người và phát triển tài chính ở 43 quốc gia trên khắp thế giới trong
đó có Việt Nam Tôi sử dụng dữ liệu bảng cho các quốc gia đó trong giai đoạn từ 2001 đến 2015 Đồng thời tôi sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống để ước lượng
dữ liệu bảng động xuyên quốc gia để khắc phục triệt để hiện tượng nội sinh (nếu có) Ngoài ra tôi đã thực hiện các kiểm định liên quan như kiểm tra hiện tượng nội sinh bằng kiểm định kiểm tra tự tương quan bằng kiểm định Wooldridge và kiểm định đa cộng tuyến để xác định những “khuyết tật” có thể có của mô hình GMM để đảm bảo tính vững chắc của nghiên cứu Thậm chí ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm, phương pháp GMM hệ thống vẫn cho ra các hệ số ước lượng vững, không chệch và hiệu quả nên tôi đã chọn phương pháp này
1.4 Bố cục bài nghiên cứu
Để phục vụ cho việc tra cứu của độc giả, giúp độc giả có thể nắm tổng quan bài nghiên cứu một cách dễ dàng, tôi đưa ra các danh mục tra cứu như mục lục và các danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, danh mục biểu đồ Sau đó tôi mô tả một cái nhìn tổng quát cho toàn bài nghiên cứu bằng những giới thiệu tổng quan trong phần tóm tắt
Công trình nghiên cứu của tôi được chia thành năm chương Trong chương một, tôi nêu lên lý do thực hiện và mục tiêu nghiên cứu của đề tài này, tiếp sau đó tôi giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bài Ở chương 2, tôi sẽ trình bày những khung lý thuyết liên quan đến hoạt động khởi nghiệp, vốn con người, và phát triển tài chính, cùng với đó là những bằng chứng thực nghiệm từ các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế học đi trước, những bằng chứng thực nghiệm đã khẳng định vai trò của tinh thần khởi nghiệp trong quá trình đổi mới và tăng trưởng kinh tế Đến chương 3, tôi trình bày chi tiết về phương pháp ước lượng và các mô hình thực nghiệm Trong đó, tôi mô tả cụ thể hơn về phương pháp ước lượng mà tôi sử dụng trong bài, sau đó tôi đưa ra mô hình thực nghiệm cho công trình của mình dựa trên
Trang 15những lý thuyết đã nêu ở trên Tiếp sau đó, tôi giải thích các biến số trong mô hình và nguồn của bộ dữ liệu mà tôi thu thập Đến chương 4, tôi trình bày những kết quả thực nghiệm của mình sau khi chạy các mô hình hồi quy nêu trên, đồng thời tiến hành các kiểm định cần thiết để kiểm tra những khuyết tật có thể mắc phải của mô hình Hơn nữa,
ở phần cuối chương này, tôi đã đưa ra những giải thích cho kết quả thực nghiệm, sau đó trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra ở đầu bài và đưa ra các đề xuất đóng góp dựa trên nhưng kết quả mà tôi phát hiện được Chương cuối cùng, tôi đưa ra kết luận chung cho toàn bộ bài nghiên cứu, ngoài ra tôi cũng chỉ ra những hạn chế còn gặp phải cùng với hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài này trong tương lai
Trang 16KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM
2.1 Khung lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về vai trò của khởi nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế
Trước khi tiến hành nghiên cứu về động lực thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp có phải là nguồn vốn nhân lực không, ta phải thấy được tầm quan trọng của tinh thần khởi nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế Động lực của tăng trưởng kinh tế luôn là đề tài gây hứng thú cho các nhà kinh tế trong nhiều năm qua Trước đây, đã có rất nhiều công trình của những nhà nghiên cứu nổi tiếng về sự tác động của các yếu tố như vốn, lao động, khoa học công nghệ lên tăng trưởng kinh tế và nhiều trong số đó đã trở thành nền móng cơ bản cho các nghiên cứu mở rộng sau này Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Liệu có mối quan hệ nào giữa khởi nghiệp và tăng trưởng kinh tế không? Theo lý thuyết của Adam Smith cho rằng: Các thị trường đang ngày càng mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, từ đó năng suất lao động sẽ tăng lên và tạo ra sự tăng trưởng kinh tế Trái chiều với lý thuyết của Adam Smith, David Ricardo lại nhận định rằng sự kết hợp của các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động, nguồn vốn sẽ cho ta một hàm sản lượng nói lên sự tăng trưởng kinh tế Xem xét các yếu tố trên để nhận xét về tăng trưởng kinh tế, ông cho rằng: Nguồn vốn có thể tăng lên trong quá trình đầu tư nhưng đất đai thì hữu hạn và sự gia tăng dân số luôn cao hơn sự tăng trưởng kinh tế do đó phần lớn dân số chỉ có mức thu nhập vừa đủ Nhìn trên phương diện này, ông nhận xét rằng khởi nghiệp
sẽ không làm gia tăng nhanh của cải, hay nói cách khác, khởi nghiệp và sáng tạo đổi mới không phải là yếu tố chủ yếu trong sự tăng trưởng
Hai ý kiến về vấn đề khởi nghiệp và tăng trưởng kinh tế trên là những khái niệm cơ bản
và giản đơn nhất Smith kết luận rằng sự tăng trưởng kinh tế có một tiềm năng không giới hạn, còn Ricardo cho rằng tiềm năng đó không thể vô hạn mà bị hạn chế bởi những hữu hạn trong các yếu tố, các nguồn lực cấu thành nên sự tăng trưởng Ta thấy rằng, Adam Smith khi xem xét về sự tăng trưởng kinh tế đã có tầm nhìn rộng hơn Ricardo Nhưng các nghiên cứu kinh tế lại có vẻ gần gũi với tư tưởng của Ricardo hơn khi nhắc đến vấn đề tăng trưởng kinh tế Lý do là khi thiết lập các mô hình kinh tế, cách tiếp cận của Ricardo
Trang 17có tính ứng dụng tốt hơn vì quá trình mô hình hóa các hiện tượng kinh tế đòi hỏi mô hình phải tính toán và so sánh được, trong khi yếu tố “đổi mới sáng tạo” của Adam Smith lại rất khó đưa vào các mô hình kinh tế một cách chính xác
Trong hàm sản lượng của Ricardo, nguồn vốn (vốn đầu tư) là yếu tố chính của quá trình tăng trưởng kinh tế, còn theo Adam Smith, sự đổi mới sáng tạo mới là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế, nhưng quá trình đổi mới sáng tạo diễn ra như thế nào thì không được ông giải thích Về sau này, nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu và thảo luận vấn đề này, nhà kinh
tế học Kirzner cũng theo trường phái của Smith về tăng trưởng kinh tế khi ông chỉ đưa ra quan điểm rằng: Động lực của tinh thần khởi nghiệp chính là “cơ hội sinh lời chưa được phát hiện từ trước” Theo quan điểm đó, khởi nghiệp chính là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giống phát biểu của Smith Theo Kirzner, tri thức khởi nghiệp là việc nhận ra cơ hội kiếm lời mà từ trước đến giờ không ai chú ý đến Nhà khởi nghiệp thực hiện những ý tưởng tạo ra một năng suất cao hơn, sự thỏa mãn nhu cầu lớn hơn với mức chi phí thấp hơn Nhà kinh tế học Schumpeter phân tích một bối cảnh mà điểm cân bằng cạnh tranh làm tối thiểu hóa lợi nhuận, và một bối cảnh trong đó lợi nhuận chính là phần thưởng cho quá trình khởi nghiệp Schumpeter cho rằng, tinh thần khởi nghiệp là nền móng cho sự tăng trưởng kinh tế Bắt đầu từ những kinh nghiệm lịch sử, các tư tưởng và
ý tưởng về khởi nghiệp được sinh ra và phát triển, rồi những tri thức mới lại được tích góp làm kinh nghiệm để tạo ra những tư tưởng khởi nghiệp mới, quá trình này cứ tiếp diễn dấn đến sự tăng trưởng kinh tế Vậy theo Schumpeter quá trình tăng trưởng kinh tế diễn ra là do quá trình khởi nghiệp đã tạo ra một môi trường mà trong đó sự đổi mới sáng tạo được nuôi dưỡng và phát triển do vậy mà năng suất lao động ngày càng tăng, hiệu quả kinh tế của sản xuất ngày càng cao, tạo ra tăng trưởng kinh tế
Chúng ta sẽ cùng xem xét lại các mô hình tăng trưởng kinh tế từ sơ khai đến nay để có
cái nhìn tổng quát hơn Đầu tiên phải kể đến là mô hình tăng trưởng cơ bản Trong mô
hình này, phương trình hàm sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố: Nguồn vốn (K) và lực lượng lao động (L) Đây là mô hình cơ bản nhất và phương trình của hàm sản xuất (hay hàm tổng sản lượng) sẽ là:
Y = F (K, L) (2-1)
Trang 18Qua phương trình này ta thấy rằng: Nếu lực lượng lao động hay nguồn vốn gia tăng, sẽ dẫn đến sản xuất gia tăng Theo cách lập luận này thì tăng trưởng kinh tế diễn ra do tăng đầu tư (đầu tư vào nhà xưởng, máy móc, cơ sở vật chất, hạ tầng,…) hoặc tăng quy mô của lực lượng lao động, hay cả hai Dạng chính xác của hàm F (cho biết chính xác sản xuất sẽ tăng bao nhiêu khi thay đổi K và L) chính là điểm phân biệt giữa các mô hình tăng trưởng khác nhau
Mô hình này còn đơn giản và chưa đề cập nhiều đến các yếu tố quan trọng khác như sự đổi mới khoa học công nghệ, quá trình khởi nghiệp,…Và với nền kinh tế hiện đại ngày nay, các nghiên cứu mới cho rằng: nguồn vốn và số lượng lao động không còn là những yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế, và chúng chỉ là một thành phần trong quá trình tăng trường
Tiếp đến là mô hình tăng trưởng của Harrod-Domar, một mô hình dựa vào lý thuyết
trong trường phái Keynes Vào năm 1929-1933 thế giới phải đối mặt với cuộc đại khủng hoảng kinh tế thừa do các nước tư bản chạy theo lợi nhuận, sản xuất hàng hóa ồ ạt, trong khi sức mua giảm sút vì người dân đang còn nghèo Đến đây thì mô hình tăng trưởng cổ điển tỏ ra bất lực khi giải thích hiện tượng kinh tế này Bên cạnh đó, một sự xuất hiện của các thành tựu về khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, kỹ thuật thâm canh, và đặc biệt là máy kéo đã giúp cho sản lượng trong ngành nông nghiệp tăng lên nhanh chóng và tuy bị giới hạn bởi nguồn đất đai “hữu hạn” nhưng sản lượng thực phẩm cung cấp cho mọi người vẫn đầy đủ Và điều này đã khiến các nhà nghiên cứu
có một cái nhìn rộng hơn trong tăng trưởng kinh tế Phương trình của mô hình này có thể được mô tả như sau:
Y = K/v hay Y = 1/v x K (2-2) Trong đó, v là một hằng số Nguồn vốn (K) trong phương trình được nhân cho 1 số cố định (1/v) để tính tổng sản lượng Vậy v có ý nghĩa gì? Các nhà kinh tế thường gọi v là tỷ
số vốn tăng thêm trên sản lượng, hay v chính là tỷ số ICOR, cho biết cần bỏ thêm bao nhiêu đơn vị trong nguồn vốn để tạo ra thêm một đơn vị sản lượng Và tỷ số này giúp chúng ta đo lường năng suất của mỗi lượng vốn được đưa vào sản xuất
Mô hình Harrod Domar đã mở rộng hơn mô hình cổ điển nhưng vẫn mang một sự đơn giản, phương trình dễ dàng sử dụng và ước lượng Mô hình còn nhận xét rằng, các quyết
Trang 19định cá nhân về việc tiết kiệm bao nhiêu và tiêu dùng bao nhiêu từ thu nhập là trọng tâm của quá trình tăng trưởng Người ta thích tiêu dùng ngay bây giờ hơn là mai sau, nhưng càng tiêu dùng nhiều, thì càng có ít tiết kiệm để tài trợ đầu tư, vì thế mô hình đã tập trung vào vai trò cốt lõi của tiết kiệm trong tăng trưởng kinh tế theo thời gian Nhưng phải chăng mô hình Harrod Domar quá chú trọng vào tiết kiệm? Nếu xét đến các điều kiện của tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm được xem là một điều kiện cần, nhưng trong mô hình của Harrod Domar thì ngụ ý rằng tiết kiệm là điều kiện cần và đủ trong tăng trưởng kinh tế, nhưng thực tế thì điều này còn nhiều vấn đề cần làm rõ
Tiếp đến là mô hình tăng trưởng tân cổ điển - mô hình tăng trưởng Solow Năm 1956,
nhà kinh tế học MIT Robert Solow giới thiệu một mô hình tăng trưởng kinh tế mới, đó
là một sự phát triển từ mô hình Harrod Domar Solow thừa nhận là có nhiều vấn đề phát sinh từ hàm sản xuất khá cứng nhắc trong mô hình Harrod Domar Vì vậy Solow
đã đưa ra giải pháp là bỏ hàm sản xuất có hệ số cố định và thay thế nó bằng hàm sản xuất tân cổ điển, điều này cho phép mô hình có tính linh hoạt hơn và có sự thay thế giữa các yếu tố sản xuất Trong mô hình Solow, yếu tố thay đổi công nghệ được đưa vào phương trình như sau:
Y = F(K, TxL) (2-3) Trong đó, nguồn vốn (K) và nguồn lao động (L) được kết hợp với sự thay đổi công nghệ (T) Theo các mô tả này, phát triển công nghệ được đưa vào mô hình và làm thay đổi hiệu quả của yếu tố lao động (LxT) Khi công nghệ được cải tiến (T tăng), hiệu quả và năng suất của lao động tăng, vì cùng một giá trị lao động bây giờ có thể sản xuất được nhiều sản lượng hơn T có thể tăng lên nhờ những cải tiến trong công nghệ theo ý nghĩa khoa học (các phát minh và các quy trình mới) hay theo nguồn vốn nhân lực, như sự cải thiện
về y tế, giáo dục, hay kỹ năng của lực lượng lao động
Trong mô hình Solow, công nghệ là một biến ngoại sinh, vì thế mà nó được xác định độc lập với tất cả các biến và các thông số trong mô hình Tuy Solow không mô tả chính xác
sự thay đổi công nghệ diễn ra như thế nào nhưng rõ ràng sự đổi mới công nghệ đã bổ sung cho khả năng tăng sản lượng của các yếu tố sản xuất
Solow thừa nhận rằng tỷ lệ lợi nhuận trong đầu tư là một hàm giảm dần theo vốn bình quân đầu người, và thu nhập bình quân đầu người ở các nước khác nhau sẽ hội tụ vào
Trang 20một trạng thái dừng ổn định trong trường hợp không có thay đổi công nghệ ngoại sinh Quả thật, tiến bộ công nghệ đã trở thành một nhân tố chính đằng sau sự tăng trưởng kinh
tế, mô hình cho thấy việc tiếp thu công nghệ mới thông qua phát minh trong nước hay nhập khẩu công nghệ mới từ nước ngoài, có thể kích thích tăng trưởng kinh tế vô
c ù n g mạnh mẽ Tuy nhiên, những dự đoán của mô hình có phần không phù hợp với các quan sát trong thực tế, đặc biệt khi cho rằng tất cả các phần không giải thích được của tăng trưởng kinh tế là do các cú sốc công nghệ ngoại sinh
Mô hình tân cổ điển Solow chúng ta vừa đề cập ở phía trên đã mô tả được những đặc điểm chủ yếu của một mô hình kinh tế mang tính thực tế ở các nước phát triển Mô hình Solow có thể được gọi là cơ sở trong hầu hết các nghiên cứu thuộc kinh tế vĩ mô ở các nước phát triển Tuy nhiên, mô hình Solow chưa giải thích đầy đủ những thực tế trong tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Ở môi hình Solow, ngoài nguồn vốn (K) ra thì yếu tố quyết định sản lượng là hiệu suất của nguồn lao động (TxL) nhưng nguồn lao động có ý nghĩa như thế nào thì mô hình chưa làm rõ
Vậy làm sao để thấy được sự khác biệt giữa hai quan điểm về tăng trưởng của Smith và Ricardo? Trong bối cảnh của kinh tế học đương đại, một phương pháp có thể áp dụng để trả lời câu hỏi này đó chính là mô hình tăng trưởng Solow (1956) Theo mô hình này, Y
là sản lượng, K và L lần lượt là nguồn vốn và lao động, t là thời gian và hàm sản lượng là một hàm gồm sự kết hợp của các yếu tố trên
Y = f(K, L, t)
Giải thích cho sự có mặt của thời gian trong hàm sản lượng này, Solow cho rằng: Theo thời gian, đổi mới công nghệ sẽ xảy ra tạo ra một hiệu suất sử dụng nguồn vốn và lao động cao hơn Ta thấy rằng, để xây dựng mối quan hệ giữa các yếu tố sản lượng, nguồn vốn và nguồn lao động trong mô hình thì không khó nhưng để đưa vào mô hình sự ảnh hưởng của thời gian thì không phải việc đơn giản, chính vì thế người ta thường xem thời gian là một biến ngoại sinh Bên cạnh đó, lao động (L) cũng thường được xem là một biến ngoại sinh và nếu ta phân tích về thu nhập đầu người thì ta sẽ chia hàm số cho lao động (L) để chỉ còn lại nguồn vốn (K) và biến ngoại sinh thời gian (t) lúc này sẽ giúp ta giải thích được sự tăng trưởng Ở dạng hàm tổng quát trên, khi chia hàm số cho lao động (L), có khả năng ta vẫn chưa loại trừ được hết biến số đó bên vế phải của phương trình
Trang 21nhưng phép chia này giúp ta loại bỏ một cách cơ bản yếu tố tăng trưởng dân số trong khi xem xét quá trình tăng trưởng kinh tế Từ đây ta thấy, nguồn vốn tăng lên (K tăng) do đầu
tư tăng lên dẫn đến sản lượng tăng (Y) Đây là quan điểm của Ricardo về tăng trưởng kinh tế Các nhà hoạch định ngân sách cũng đã cân nhắc kỹ lưỡng mô hình tăng trưởng Ricardo khi tiến hành thiết lập các chính sách kinh tế quốc gia Có một vấn đề xảy ra như thế này: Nếu nguồn vốn (hay việc đầu tư) là yếu tố quyết định của tăng trưởng kinh tế thì tại sao những nỗ lực đầu tư rất đáng kể ở các nước kinh tế chưa phát triển không đem lại
sự tăng trưởng rõ rệt nào cho họ? một vài bằng chứng đã khẳng định rằng: Việc tăng đầu
tư chỉ góp phần rất nhỏ vào trong sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy, mô hình này cần phải được xem xét lại
Quay lại mô hình, như cách tiếp cận ở trên thì nguồn gốc của tăng trưởng phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn (K) và thời gian (t), vì nguồn gốc dễ phân tích hơn nên ta dường như
đã nâng tầm quan trọng của nó lên trong mô hình tăng trưởng, trong khi đó yếu tố thời gian (t) lại rất khó phân tích và có gì đó còn mơ hồ Thực tế cho thấy, không thể hiểu rằng tự bản thân thời gian sẽ sinh ra sự tăng trưởng, mà phải xem xét rằng phải có điều gì
đó trong nền kinh tế đã thay đổi và tạo ra sự tăng trưởng theo thời gian? Và đáp án cho câu hỏi này chính là: “Sự đổi mới sáng tạo hay sự tiến bộ khoa học công nghệ” Đây là một yếu tố có thể được đưa vào mô hình Solow để làm rõ vấn đề trên Ví dụ dễ thấy trong thực tế là nguồn chi tiêu R&D của các doanh nghiệp có thể làm tăng năng suất lao động theo thời gian Lucas (1988) lại cho rằng yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh
tế có thể là lao động (L), chứ không phải nguồn vốn (K) Và ông cho rằng nguồn nhân lực mới là chìa khóa cho quá trình phát triển Trong nghiên cứu của mình, ông đưa ra ý tưởng rằng: Khi dân số cao hơn có thể dẫn đến việc phân chia lao động xã hội thích hợp hơn và nguồn lao động có thể ảnh hưởng tích cực đến các yếu tố khác khiến chúng hoạt động hiệu quả hơn Có thể nói rằng, cách suy luận của Lucas đã làm cho tư tưởng của Smith và Ricardo bắt đầu có nét tương đồng Young (1928) coi tăng trưởng kinh tế như một kết quả của việc gia tăng lợi nhuận, ông cũng bước theo nền tảng của Smith trong nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc tập trung vào lợi nhuận lại không được quan tâm nhiều trong các mô hình kinh tế tân cổ điển (neo-classical) Paul Romer là một trong những nhà kinh tế vạch ra hướng đi cho hệ thống lý thuyết tân cổ điển Trong bài nghiên cứu của ông, Romer (1986), yếu tố gia tăng lợi nhuận có thể được xem xét
Trang 22trong mô hình và điều này gần gũi với thực tế hơn mô hình đơn giản của Solow Tiếp sau
đó, công trình của ông năm 1990 (Romer (1990)) đã đề cập đến yếu tố nguồn nhân lực và đưa ra nhận xét rằng mức chi tiêu trong R&D có thể là động lực làm tăng trưởng kinh tế Theo những phương pháp trong lý thuyết tân cổ điển, cách tạo ra tiến bộ khoa học công nghệ chính là sự đổi mới Sự đổi mới đem đến những phát minh, những công nghệ mới
Và chi tiêu cho R&D cùng với sự kết hợp các nguồn lực khác như nguồn vốn và lao động
sẽ tạo nên sự tiến bộ khoa học công nghệ Chính vì thế, ta có thể thấy được những thành công từ việc đầu từ vào R&D, nhưng việc chi tiêu vào R&D chưa phải là điểm kết thúc của câu chuyện tăng trưởng Vì khi các kết quả từ hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) hoàn tất, những phát minh đó phải được thiết lập chiến lược để đưa vào thực tế, tạo
ra một sự đổi mới, giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành,… hay nói cách khác, các phát minh khi ứng dụng vào thực tế phải sản xuất được các sản phẩm chưa từng được tung ra thị trường, đó là một sự đổi mới thật sự
Trong bài nghiên cứu năm 1973 của Kirzer, Kirzer (1973), ông đã đưa ra khái niệm thế nào là nhà khởi nghiệp: “Nhà khởi nghiệp là những người có đủ khả năng nhạy bén để phát hiện được các cơ hội sinh lời mà trước đó chưa có ai phát hiện ra, sau đó họ tận dụng cơ hội này để tạo ra sự đổi mới” Qua đó ta thấy, việc khởi nghiệp phụ thuộc vào khả năng phát hiện và chú ý đến những cơ hội khó nhận ra, thứ mà ít người có thể nhận
ra Sự nhạy bén trong khởi nghiệp không hẳn là có liên quan đến tri thức, tất cả mọi người đều có tiềm năng và những kiến thức cụ thể của mình để nhận ra và nắm bắt một
cơ hội khởi nghiệp nào đó Nhưng tùy vào kiến thức chuyên môn của mỗi người mà cơ hội của mỗi người đều rất khác nhau Ví dụ: Thật không có gì ngạc nhiên khi những phát minh về hệ thống tưới tiêu trong nông nghiệp được sáng tạo từ những người nông dân, chứ không phải từ một nhà kinh tế Nhưng nhà kinh tế là người đưa phát minh này đến thị trường với mục tiêu thu được một khoản sinh lời đáng kể Sau đây là một số ví dụ thực tế về các cơ hội có thể sinh lời mà các nhà khởi nghiệp vĩ đại trong lịch sử đã nhận
ra được: Sự phát triển của khoa học máy tính đã giúp Bill Gates trở thành người giàu nhất thế giới; John D Rockefeller, nhà sáng lập công ty dầu lửa Standard Oil có thể kiểm soát được hệ thống phân phối của công ty mình vì thời kỳ đó hoàn toàn phụ thuộc vào các công trình đường sắt mới được xây dựng; Ông vua thép Andrew Carnegie (1835 – 1913)
Trang 23nhờ dựa vào quy trình sản xuất Bessemer vừa mới ra đời, ông đã tạo dựng được một đế chế US Steel hùng mạnh ở Mỹ
Những nhà khởi nghiệp trên đây không tự mình tạo ra các công nghệ, mà họ nắm bắt được những cơ hội khởi nghiệp từ những công nghệ đó Trong hầu hết các trường hợp, các cơ hội tồn tại dưới trạng thái ít ai nhận ra, chúng xuất hiện bất ngờ và ai là người nhanh chân, người đó là người nắm ưu thế
Romer (1986, 1990) nói đến một hiệu ứng lan tỏa tri thức Tri thức là thứ chứa đựng trong nguồn vốn con người, nó là một yếu tố làm cho lợi nhuận gia tăng, qua đó cho thấy việc đầu tư vào nguồn nhân lực khiến cho các khoản đầu tư trong tương lai vào mảng này càng có hiệu quả Sở dĩ nói vậy vì nguồn nhân lực sẽ được kết hợp với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra một hiệu suất cao hơn trong quá trình sản xuất Qua đó có thể thấy vai trò quan trọng của nguồn vốn con người đối với khởi nghiệp và tăng trưởng kinh tế
2.1.2 Lý thuyết về vốn con người và tinh thần khởi nghiệp
2.1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết về vốn con người
Sự quan tâm đến vốn con người trong các tài liệu khởi nghiệp đã có từ lâu và tăng lên mạnh mẽ trong hai thập kỷ qua Lý thuyết vốn con người ban đầu được phát triển để nghiên cứu giá trị của giáo dục (Becker, 1964; Schultz, 1961) và cho thấy mọi người có kiến thức và kỹ năng khác nhau và đều có giá trị kinh tế Mincer (1958) lần đầu tiên thảo luận về khái niệm vốn con người như một lời giải thích cho bất bình đẳng thu nhập Schultz quan sát thấy rằng sự gia tăng sản lượng quốc gia là không tương xứng so với đất đai, giờ lao động, hoặc vốn vật chất, và lập luận đầu tư vào vốn con người có lẽ là lời giải thích chính Becker xây dựng trên những quan điểm này và đưa ra lý thuyết đầu tư vào vốn con người dựa trên số lượng bằng chứng khổng lồ cho thấy những người có trình độ học vấn và kỹ năng cao hơn hầu như luôn có xu hướng kiếm được nhiều tiền hơn những người khác
Lý thuyết này ngày càng được áp dụng trong lĩnh vực khởi nghiệp, liên tục liên kết các thuộc tính vốn con người với thành công của doanh nhân (Unger, Rauch, Frese, & Rosenbusch, 2011) Một số lập luận khác mô tả lý do tại sao vốn con người, hoặc kiến thức có tầm quan trọng đặc biệt đối với lĩnh vực kinh doanh (Ardichvili, Cardozo, & Ray,
Trang 242003; Shane, 2000) Đầu tiên, vốn con người rất quan trọng để khám phá và tạo ra cơ hội kinh doanh (Alvarez & Barney, 2007; Marvel, 2013) Vốn con người cũng hỗ trợ khai thác các cơ hội bằng cách tìm được các nguồn tài chính tung ra các dự án (Bruns, Holland, Shepherd & Wiklund, 2008; Dimov, 2010) Thứ ba, vốn con người hỗ trợ tích lũy kiến thức mới và tạo ra lợi thế cho các công ty mới (Bradley, McMullen, Artz, & Simiyu, 2012; Corbett, Neck & DeTienne, 2007) Trong nghiên cứu thực tế, vốn con người là tiêu chí lựa chọn được sử dụng thường xuyên nhất trong các dự án đầu tư mạo hiểm khi đánh giá hiệu quả tiềm năng của dự án (Zacharakis & Meyer, 2000) Ngoài ra, nghiên cứu về vốn con người và lợi nhuận công ty có thể được tìm thấy trong công trình của Unger et al (2011) và nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp; tài sản, hành vi và hiệu quả vốn con người được tìm thấy trong một bài viết của Martin, McNally và Kay (2013) Mỗi nghiên cứu đều cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng vốn con người là rất quan trọng để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp
Thêm vào đó, để tiến hành đánh giá toàn diện, bài nghiên cứu: “Vốn con người và khởi nghiệp” của Matthew R Marvel, Justin L Davis, Curtis R Sproul (2014) đã thống kê lại các nền tảng lý thuyết về vốn con người trong các bài nghiên cứu trước Ngoài việc lấy lý thuyết vốn con người làm trọng tâm thì các nghiên cứu khởi nghiệp còn tích hợp nhiều lý thuyết để giải thích các hiện tượng Cụ thể, 109 bài viết nghiên cứu về chủ đề này đã sử dụng chung 142 phương pháp lý thuyết khác nhau, trung bình hơn hai lý thuyết cho mỗi nghiên cứu Trong tổng số các nghiên cứu, 18 nghiên cứu (16%) chỉ sử dụng lý thuyết vốn con người và 52 nghiên cứu (48%) sử dụng phương pháp lý thuyết kép Ba mươi chín nghiên cứu (36%) tận dụng ba hoặc nhiều lý thuyết trong cùng một nghiên cứu chứng minh sự phổ biến của các phương pháp đa lý thuyết
Để hệ thống lại 142 lý thuyết được sử dụng, tác giả đã sắp xếp từng lý thuyết vào nguồn gốc xuất xứ của chúng Các lý thuyết đã được phân loại và tần số được mô tả trong Bảng 2.1
Trang 25Loại hình lý thuyết Số nghiên cứu sử dụng Tỷ lệ phần trăm
Theo Human Capital and Entrepreneurship Research, 2014
Bảng 2.1 Các lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu khởi nghiệp của con người tính
đến tháng 9/2014
Các lý thuyết từ chiến lược đã được áp dụng phổ biến nhất kết hợp với vốn con người (30,3%), và các lý thuyết về nhận thức, học tập và tâm lý học cũng đã phổ biến (23,2%) Các lý thuyết phổ biến thứ ba được kết hợp là từ khởi nghiệp (21,8%) Chúng bao gồm các lý thuyết về khám phá cơ hội, sáng tạo, khai thác, ý định khởi nghiệp, khởi nghiệp nhập cư và giới tính Các lý thuyết về mạng lưới kết nối và vốn xã hội đã được áp dụng với vốn con người trong 17,6% các nghiên cứu Đặc biệt lưu ý, mặc dù lý thuyết vốn con người có nguồn gốc từ các tài liệu kinh tế, chỉ có 5,6% bài viết trong dòng này áp dụng lý thuyết kinh tế hoặc tài chính kết hợp với vốn con người Tác giả đã cho rằng phát hiện này cần đặc biệt quan tâm và có thể là hướng nghiên cứu tiềm năng mà tác giả xem xét lại trong các phần sắp tới Kết hợp lại với nhau, những phát hiện cho thấy nghiên cứu khởi nghiệp vốn con người rất đa ngành và khá đa dạng về mặt lý thuyết vi mô và vĩ mô Tuy nhiên, chiến lược, nhận thức và khởi nghiệp là các lý thuyết phổ biến nhất khi nghiên cứu về vấn đề này
2.1.2.2 Cấu trúc vốn con người
Nghiên cứu vốn con người ban đầu nhấn mạnh các yếu tố cốt lõi của lý thuyết bao gồm kiến thức và kỹ năng (Schultz, 1961) cũng như các yếu tố bậc cao hơn bao gồm vốn con người nói chung và cụ thể (Becker, 1964) Theo nghiên cứu Matthew R Marvel, Justin
L Davis, Curtis R Sproul (2014) có tổng cộng 344 yếu tố vốn con người được đưa vào
Trang 26trong các nghiên cứu được phân tích, mặc dù nhiều yếu tố giống hệt nhau Số lượng yếu
tố vốn con người trung bình được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm là 3,3 nhưng dao động từ 1 đến 10 Tác giả đã thống kê và hệ thống lại để xác định những yếu
tố phổ biến nhất được sử dụng Số lượng và tần số của các yếu tố phổ biến nhất được mô
Theo Human Capital and Entrepreneurship Research, 2014
Bảng 2.2 Cấu trúc vốn nhân lực chung
Việc xây dựng vốn con người phổ biến nhất được điều tra là kinh nghiệm làm việc, chiếm 39,9% các công trình Tiếp theo là giáo dục, chiếm 26,6% cơ cấu vốn con người Phù hợp với những phát hiện trong quá khứ, đầu tư vào giáo dục và kinh nghiệm rõ ràng
là những loại công trình phổ biến nhất được sử dụng (Reuber & Fischer, 1994) Ví dụ về các biện pháp giáo dục điển hình bao gồm nhiều năm giáo dục hoặc hoàn thành bằng đại học hoặc bằng kỹ thuật Ví dụ về các biện pháp dựa trên kinh nghiệm bao gồm công việc trong quá khứ trong một ngành hoặc số lượng vị trí quản lý trước đây được giữ Biện pháp phổ biến thứ ba là kinh nghiệm khởi nghiệp (19,8%), chẳng hạn như kinh nghiệm khởi nghiệp trước đây hoặc quyền sở hữu doanh nghiệp trước đây, phản ánh một loại vốn con người cụ thể từ bối cảnh doanh nhân Các biện pháp ít được đánh giá bao gồm nhân khẩu học như tuổi tác, cho dù các thành viên trong gia đình là doanh nhân hay giới tính Một số ít các nghiên cứu bao gồm các biện pháp nhận thức và / hoặc tâm lý là các khía cạnh chính của vốn con người Ví dụ, cả địa điểm kiểm soát và định hướng thành tích đều được đưa vào như các cấu trúc vốn con người, điều này cho thấy sự mờ nhạt của ranh giới giữa vốn con người và các yếu tố tâm lý
Trang 27Tiếp theo tác giả điều tra các cấp độ của vốn con người theo cả khía cạnh cá nhân và doanh nghiệp Đánh giá về cấu trúc vốn con người đã được thực hiện ở cấp độ cá nhân trong 86% các nghiên cứu, so với 14% đánh giá nó ở cấp độ doanh nghiệp Phát hiện không cân xứng này một phần có thể là do sự dễ dàng truy cập vào dữ liệu cá nhân về số năm kinh nghiệm hoặc trình độ giáo dục Tuy nhiên, việc nghiên cứu ngắn gọn ở cấp độ
cá nhân làm thiếu đi dữ liệu của nguồn nhân lực cấp công ty trong một môi trường khởi nghiệp Xem xét sự cần thiết và nhấn mạnh vào định hướng khởi nghiệp của công ty (Lumpkin & Dess, 1996), nghiên cứu trong tương lai có thể được hưởng lợi từ việc khám phá vốn con người ở cấp độ doanh nghiệp tác động đến doanh nghiệp
Một đặc điểm khác biệt của vốn con người là lợi ích thiết thực liên quan đến công việc trực tiếp Ví dụ, tính hữu dụng của vốn con người có thể phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng hoặc loại vốn con người hơn là sự hiện diện đơn thuần của nó Unger et al (2011) nhấn mạnh tầm quan trọng của hai khía cạnh vốn con người khác nhau bao gồm (1) liên quan đến công việc và không liên quan đến công việc; (2) đầu vào và đầu ra của vốn con người
Trước tiên, tác giả thảo luận về vốn con người liên quan đến công việc Vốn con người đã được tranh luận là lợi ích cao hơn khi áp dụng cho các công việc cụ thể cần phải được thực hiện Ví dụ, việc chuyển giao giáo dục và kinh nghiệm hoạt động tốt nhất nếu các hoạt động cũ và mới chia sẻ các yếu tố phản ứng tình huống chung Vì vậy, có thể hữu ích để phân biệt giữa các yếu tố có liên quan đến công việc và không liên quan đến công việc (Cooper et al., 1994) Vốn con người liên quan đến công việc bao gồm các loại vốn con người liên quan đến công việc hiện tại của công việc mạo hiểm (ví dụ: kinh nghiệm khởi nghiệp, kinh nghiệm trong ngành, kỹ năng khởi nghiệp) Ngược lại, vốn con người không liên quan đến công việc bao gồm các loại vốn con người không liên quan trực tiếp đến các công việc mạo hiểm (ví dụ: giáo dục chính thức, kinh nghiệm làm việc) Do tầm quan trọng của sự liên quan đến công việc, các yếu tố vốn con người từ mẫu của tác giả được phân loại là liên quan đến công việc hoặc không liên quan đến công việc Phân tích của tác giả cho thấy 49% các cấu trúc vốn con người có liên quan đến công việc so với 51% không liên quan đến công việc Trong khi cuộc điều tra về công việc và vốn con người phi công việc này, việc sử dụng chúng tương đối cân xứng, bằng chứng khác cho
Trang 28thấy vốn con người đặc thù công việc có thể mang lại lợi ích lớn hơn cho việc hiểu về khởi nghiệp (Unger et al., 2011)
Theo hướng này, một đặc điểm khác biệt của vốn con người là sự phân chia giữa đầu vào vốn con người (đầu tư) so với đầu ra vốn con người (kết quả) Becker (1964) đưa ra giả thuyết rằng kiến thức và kỹ năng là kết quả của sự đầu tư vào giáo dục và kinh nghiệm làm việc Vì vậy, hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng giáo dục hoặc kinh nghiệm để đánh giá vốn con người Tuy nhiên, những khoản này đại diện cho các khoản đầu tư vào vốn con người thay vì nhận thức đầy đủ kiến thức và / hoặc kỹ năng (tức là kết quả) Nghiên cứu trong quá khứ đã cung cấp bằng chứng cho thấy các thành phần vốn con người dựa trên kết quả là các chỉ số trực tiếp tốt hơn về vốn con người, trong khi các chỉ số dựa trên đầu tư được xem là yếu tố dự báo gián tiếp về vốn con người (Davidsson, 2004) Ví dụ, Unger et al (2011) cho thấy mối quan hệ giữa tinh thần khởi nghiệp với kết quả của vốn con người là cùng chiều và mạnh mẽ hơn so với chỉ đầu tư vì đầu tư là chỉ số gián tiếp và
do đó một bước được loại bỏ Mặc dù một số doanh nhân có thể có cùng trình độ học vấn hoặc kinh nghiệm làm việc (đầu tư) rất giống nhau, nhưng kiến thức hoặc kỹ năng sẵn có
có thể khác biệt đáng kể (kết quả) (Keith & Frese, 2005)
Xem xét sự khác biệt và giá trị tiềm năng của kết quả vốn con người so với đầu tư vốn con người, tác giả đã phân loại các cấu trúc vốn con người tương ứng Đánh giá của tác giả chỉ ra rằng 80% các công trình được phân tích là các khoản đầu tư vốn con người so với 20% là kết quả vốn con người Một nguyên nhân cho sự chênh lệch và thiên vị này đối với các yếu tố đầu tư là sự dễ dàng truy cập vào dữ liệu này, trong khi dữ liệu về về kết quả thì khó thu thập hơn
Trang 29Theo Human Capital and Entrepreneurship Research, 2014
Hình 2.1 Trọng tâm của nghiên cứu trong quá khứ
Để phân tích sâu hơn các xu hướng và lỗ hổng trong cấu trúc vốn con người được sử dụng, tác giả phát triển khái niệm ba chiều bằng cách tích hợp các cấp độ phân tích, liên quan đến công việc và đầu tư so với đánh giá kết quả Hình 2.1 minh họa số lượng cấu trúc vốn con người được kiểm tra tương ứng với từng chiều Sự phân loại này dẫn đến tám kết hợp và cung cấp một số hiểu biết về các thành kiến đối với các kích thước xây dựng cụ thể cũng như các kích thước ít được chú ý Cho đến nay, nghiên cứu khởi nghiệp
đã rất ủng hộ sự kết hợp các khía cạnh của các khoản đầu tư ở cấp độ cá nhân Các nhóm xây dựng vốn con người này đã được phân chia tương đối trong mối quan hệ công việc của họ (115) so với không liên quan đến công việc (123) Trong số tám kết hợp có thể, hai phân loại này chiếm 72% trong số các khái niệm hóa và có thể phản ánh xu hướng sử dụng các cấu trúc cấp cá nhân truyền thống như giáo dục và kinh nghiệm trong ngành Có một sự sụt giảm rõ ràng và đáng chú ý trong phạm vi xây dựng các kỳ thi sau hai loại này
Một nhóm thứ hai của các phân loại, đã nhận được sự chú ý vừa phải, tập trung vào kết quả vốn con người ở cấp độ cá nhân, cả hai đều liên quan đến công việc (25) và không liên quan đến công việc (24) Ví dụ: kỹ năng khởi nghiệp cá nhân là cấu trúc kết quả liên quan đến công việc so với thu nhập trước đó, phù hợp với cấu trúc kết quả không liên quan đến công việc cá nhân Cùng với nhau, hai loại này chiếm 15% trong số các khái
Đánh giá vốn con người
Trang 30niệm được phân tích Như thể hiện trong hình, có một sự thiên vị rõ ràng trong lý thuyết đối với việc khái niệm hóa vốn con người ở cấp độ cá nhân
2.1.2.3 Đầu tư và kết quả vốn con người
Phần lớn các nghiên cứu về khởi nghiệp - vốn con người nhấn mạnh các khoản đầu tư giáo dục và giả định các khoản đầu tư này chuyển thành kết quả hữu ích (nghĩa là, các kỹ năng có giá trị kinh tế) Tuy nhiên kết quả vốn con người được cho là yếu tố có giá trị lớn hơn đối với tinh thần khởi nghiệp hơn sự đầu tư vào vốn con người Để hỗ trợ cho các nghiên cứu về sau và giải mã sự phức tạp của vốn con người, Matthew R Marvel, Justin
L Davis, Curtis R Sproul (2014) đưa ra một bảng phân loại (bảng 2.3) Kết quả vốn con người ở đây cụ thể là kỹ năng, kiến thức, khả năng (KSAs)
Tác động Giáo dục - Đầu tư vào hoạt động
học những kiến thức rõ ràng Thay đổi từ chung đến các loại hình giáo dục cụ thể
Khác nhau về chi phí, sự đa dạng
và thời gian đầu tư
Kiến thức – Hiểu về bản chất,
ý nghĩa, quy trình Được nhóm lại trong các lĩnh vực như những người được học thông qua giáo dục chính quy Thay đổi từ chung đến cụ thể
Phát triển Huấn luyện/ Kinh nghiệm – Đầu
tư vào việc học từ những hoạt động
Chung hoặc cụ thể cho từng ngành Khác nhau về chi phí, số lượng, thời gian và loại hoạt động
Kỹ năng – Ứng dụng kiến thức có thể quan sát để tạo ra các giải pháp cho các vấn đề để hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể
Kỹ năng chuyên ngành hoặc lĩnh vực cụ thể
Thay đổi từ người mới đến chuyên gia
Trang 31Kết quả Tuyển dụng – Đầu tư vào hoạt
động tuyển dụng để có được khả năng
Gồm các nhóm công việc mạo hiểm, liên minh vững chắc, mạng lưới chặt chẽ, R & D bên ngoài Khác nhau về chi phí, chất lượng
Khả năng – Bền bỉ, là đặc điểm hữu ích cho phạm vi công việc Tổng quát hơn với ý nghĩa đối với nhiều bối cảnh và nhiệm vụ Khó để phát triển nội bộ so với kiến thức hoặc kỹ năng
đã kêu gọi sự chú ý đến các lĩnh vực kiến thức trong tinh thần khởi nghiệp Ví dụ, Shane (2000) đã chứng minh kiến thức về các vấn đề của khách hàng, thị trường và cách phục
vụ thị trường tác động đến việc phát hiện ra các cơ hội Trong một nghiên cứu liên quan, Dimov (2007) đã minh họa cách các lĩnh vực của kiến thức thị trường và công nghệ tác động đến sự phát triển của các cơ hội Kết quả kiến thức như vậy có thể đạt được thông qua các khoản đầu tư vào giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm hoặc tuyển dụng các cá nhân quan trọng
Kỹ năng cũng là kết quả vốn con người nhưng tham khảo các ứng dụng hoặc bí quyết quan sát được Kỹ năng không nhất thiết phải là đặc điểm lâu dài và phụ thuộc vào kinh nghiệm hoặc thực hành Đây thường là các công việc cụ thể hoặc liên quan chặt chẽ đến một tập hợp các công việc Ví dụ, Heneman, Thẩm phán và Kammeyer-Mueller (2009)
đã xác định các kỹ năng khác nhau liên quan đến công việc, từ cơ bản (ví dụ: nói trước công chúng, toán học, học tập tích cực) đến chức năng chéo (ví dụ: kỹ năng xã hội, kỹ
Trang 32năng giải quyết vấn đề, kĩ năng công nghệ) Các kỹ năng áp dụng cụ thể cho một công việc khởi nghiệp có thể cung cấp lợi thế trong quá trình tiên phong Một loạt các kỹ năng
có thể được phát triển thông qua đầu tư vào đào tạo hoặc kinh nghiệm và cũng có thể được phát triển kết hợp với giáo dục và thực hành Quan tâm đặc biệt là làm thế nào các
kỹ năng cụ thể cho quá trình khởi nghiệp có thể được phát triển
Khả năng là kết quả vốn thứ ba của con người và là một công cụ hữu ích tiềm ẩn hoặc bền bỉ để thực hiện một loạt các công việc Ở cấp độ cá nhân, khả năng thường được liên kết với các đặc điểm chung như khả năng suy luận theo quy nạp Khả năng khác với các
kỹ năng ở chỗ chúng ít có khả năng thay đổi theo thời gian và chúng được áp dụng trên một loạt các công việc có thể gặp phải trong nhiều bối cảnh khác nhau (Nyberg, Moliterno, Hale, & Lepak, 2014) Mặc dù các khả năng không thể được phát triển theo cách tương tự như kiến thức hoặc kỹ năng, các doanh nhân và công ty có thể có được khả năng thông qua các khoản đầu tư vào các thành viên trong nhóm, liên minh và tổ chức Các KSA cần thiết (nghĩa là, kết quả vốn con người) sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của quá trình khởi nghiệp, nhưng có thể bao gồm các yếu tố như kiến thức ngành, bán hàng và đàm phán, lập kế hoạch, tạo mẫu, ra quyết định, giải quyết vấn đề, làm việc nhóm và giao tiếp Tác giả khẳng định rằng những nỗ lực trong tương lai có thể được hưởng lợi từ việc khám phá chất lượng kết quả vốn con người và tính cụ thể của các lĩnh vực vốn con người cho công việc khởi nghiệp Ví dụ, mỗi kết quả vốn con người này có thể khác nhau
về chất lượng như được thể hiện dọc theo tính liên tục Ở cấp thấp, một cá nhân hoặc công ty có thể không đủ năng lực về các kỹ năng tiếp thị, điều này có thể ảnh hưởng đến công việc bán sản phẩm cho một khách hàng đủ điều kiện Ở đầu kia của sự liên tục, sở hữu các kỹ năng chất lượng cao trong tiếp thị có thể liên quan đến việc tạo ra doanh số ban đầu hoặc thâm nhập thị trường Cụ thể, nghiên cứu trong tương lai sẽ được hưởng lợi
từ sự hiểu biết ngày càng tăng về kiến thức, kỹ năng cụ thể của ngành đó và cách thức phát triển
Các cá nhân, công ty và quốc gia có thể đầu tư vào nguồn nhân lực, nhưng việc tạo ra các
dự án khả thi và bền vững có thể phụ thuộc vào sự cân bằng giữa các KSA thích hợp Một số loại đầu tư vốn con người có thể dẫn đến sự quá tập trung vào các KSA cụ thể có thể không đảm bảo sự phát triển vững chắc của các sản phẩm hoặc doanh thu trong tương
Trang 33lai Ngược lại, các khía cạnh khác của đầu tư vốn con người có thể dẫn đến lợi ích của nhiều loại KSA Tác giả khuyến khích những nỗ lực trong tương lai để phân tích các loại đầu tư vốn con người, kết quả và ứng dụng của chúng vào các mốc quan trọng trong quá trình khởi nghiệp
2.1.2.4 Vai trò của vốn con người đối với tinh thần khởi nghiệp trong các nghiên cứu
trước
Trọng tâm chính của các nghiên cứu trước là kết quả mạo hiểm trong giai đoạn sau của quá trình khởi nghiệp, đặc biệt là hiệu suất công ty Có tương đối ít bài nghiên cứu về giai đoạn đầu của quá trình khởi nghiệp trong dòng nghiên cứu này Điều này khá đáng ngạc nhiên khi có nhiều lý thuyết nhấn mạnh vào khám phá cơ hội và sáng tạo mạo hiểm trong lĩnh vực khởi nghiệp Cho đến nay, các lý thuyết chính về nhận biết cơ hội cho rằng các doanh nhân sẽ tìm kiếm và khám phá các cơ hội hoặc tạo ra các cơ hội mà không cần tìm kiếm có chủ ý (ví dụ: Alvarez & Barney, 2007; Lumpkin et al., 2004) Cả lý thuyết khám phá cơ hội và tạo cơ hội đều nêu bật kiến thức và kinh nghiệm quan trọng đối với quá trình (Fiet, 1996; Sarasvathy, 2008) Các nghiên cứu trước còn khẳng định rằng vốn con người rất quan trọng trong suốt quá trình khởi nghiệp và khuyến khích nghiên cứu trong tương lai khám phá đầy đủ hơn các khía cạnh khác nhau của vốn con người qua các giai đoạn cụ thể trong quy trình
Trang 34Theo Human Capital and Entrepreneurship Research, 2014
Hình 2.2 Mô hình vốn nhân lực và quá trình khởi nghiệp
Matthew R Marvel, Justin L Davis, Curtis R Sproul (2014) đã đưa ra một mô hình về khởi nghiệp – vốn con người cho thấy tác động của vốn con người đến khởi nghiệp và được xem như một quy trình nghiên cứu cho đề tài này trong tương lai Tác giả bắt đầu với các yếu tố đầu tư và kết quả vốn con người Tác giả đề xuất rằng tinh thần khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu bằng một cơ hội khởi nghiệp, tiếp theo là các hoạt động phát sinh mạo hiểm và dẫn đến kết quả hoạt động mạo hiểm khác nhau Nhận thức cơ hội
là nhận thức có ý thức rằng một ý tưởng có thể được chuyển đổi thành một khái niệm khởi nghiệp làm tăng giá trị hoặc tạo doanh thu (Gaglio & Taub, 1992) Để các ý tưởng tiến triển thành các cơ hội mạo hiểm, phải có các giai đoạn nhận thức quan trọng về đánh giá và xây dựng tác động đến quá trình khởi nghiệp (Lumpkin & Lichtenstein, 2005) Đánh giá đòi hỏi phải phân tích xem các cơ hội có đủ giá trị và đáng để theo đuổi hay
Cơ hội khởi nghiệp
Yếu tố đa lý thuyết
Kết quả hoạt động mạo hiểm
Trang 35không, trong khi xây dựng bao gồm các công việc như giải quyết vấn đề, tổ chức tài nguyên, phản hồi và thử nghiệm
Một giai đoạn cơ bản khác trong quá trình khởi nghiệp là công việc mạo hiểm (Dimov, 2010), tuy nhiên trước đó vẫn chưa được quan tâm nhiều Các nghiên cứu đã bắt đầu thực hiện một cách tiếp cận quan trọng để đánh giá sự tích lũy của các thành tựu mạo hiểm Ví dụ: đánh giá lượng thời gian từ hành động khởi nghiệp đến thành lập pháp nhân, phát triển dự án, thử nghiệm dự án với khách hàng tiềm năng hoặc đảm bảo tài chính, mỗi yếu
tố đại diện cho sự phát triển và tiến bộ đáng kể (Delmar & Shane, 2004; Morse & Mitchell, 2005)
Những cột mốc cụ thể này đại diện cho các tiêu chí để các học giả khởi nghiệp xem xét đầy đủ hơn về tác động của nguồn nhân lực so với sự xuất hiện của công việc mạo hiểm Tác giả kết thúc mô hình quy trình của tác giả về vốn con người và tinh thần khởi nghiệp với kết quả công việc mạo hiểm truyền thống bao gồm sự tồn tại, đổi mới và tăng trưởng
về doanh số, lợi nhuận hoặc việc làm
Các khía cạnh của vốn con người ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi từ một giai đoạn của quá trình khởi nghiệp sang một giai đoạn khác Tuy nhiên, một yếu tố trong vốn con người cụ thể có thể là điều cần thiết để hoàn thành một cột mốc này nhưng nó có thể ít quan trọng hơn, hoặc thậm chí bất lợi, đối với các cột mốc khác trong quá trình Ví dụ, bằng cách sử dụng các khái niệm khái quát về vốn con người nói chung và cụ thể (vốn nhân lực cụ thể được sử dụng trong một tập hợp các ngành công nghiệp hạn chế, tức là, phần việc làm của nó thể hiện mức độ tập trung cao trong các ngành; còn vốn nhân lực chung được hiểu là vốn nhân lực được sử dụng trong sản xuất nhiều loại sản phẩm, tức
là, phần việc làm của nó có mức độ phân tán cao) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đầu tư vốn con người cụ thể có lợi cho các doanh nhân mới thành lập và phát triển mạo hiểm trong khi đầu tư vốn con người nói chung không có hiệu quả (Davidsson & Honig, 2003) Ngược lại, các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng các loại hình đầu tư vốn con người nói chung rất hữu ích cho việc đạt được các dịch vụ công cộng ban đầu, nhưng vốn con người cụ thể rất ít giá trị (Dimov & Shepherd, 2005) Bằng chứng này cho thấy rằng thực
sự các tác động của vốn con người có giá trị không đồng đều khi xem xét các giai đoạn khác nhau, hoặc các mốc quan trọng, cùng với quá trình khởi nghiệp
Trang 36Tóm lại ta thấy, mặc dù phần lớn các nghiên cứu cho rằng vốn con người có vai trò với khởi nghiệp trên toàn cầu, một số phát hiện cho thấy các khía cạnh của vốn con người cũng có thể cản trở các cột mốc mạo hiểm như khám phá cơ hội và đổi mới sản phẩm (Marvel, 2013; Marvel & Lumpkin, 2007)
Qua các lý thuyết trên, có rất nhiều biến số đại diện cho vốn con người, song có thể thấy hai yếu tố đại diện quan trọng là kinh nghiệm làm việc và giáo dục Tuy nhiên kinh nghiệm làm việc rất khó đo lường, chưa phổ biến rộng rãi trong các nghiên cứu về đề tài này và sẽ có sự không đồng nhất giữa các quốc gia, nên tôi không sử dụng trong nghiên cứu này Vì vậy, tôi chỉ dùng yếu tố giáo dục – cụ thể là tỷ lệ tuyển sinh đại học (dựa theo nghiên cứu “Khởi nghiệp và nguồn nhân lực: Vai trò của phát triển tài chính” của Nabamita Dutta và Russell S Sobel (2017)) để đại diện cho vốn nhân lực trong bài nghiên cứu này
2.2 Bằng chứng thực nghiệm
Ngày nay, các nước trên thế giới dần thấy được vai trò của khởi nghiệp trong quá trình tăng trưởng kinh tế, điều này đã tạo động lực cho nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác đề tài này Theo đó, các công trình nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp tăng lên đáng kể và chủ đề này đang trở thành một trong những vấn đề đáng được quan tâm nhất hiện nay Như đã đề cập ở trên, một yếu tố thường được xem xét là vốn nhân lực, tuy nhiên các kết quả về mối quan hệ giữa vốn nhân lực và tinh thần khởi nghiệp không đồng nhất qua các thời kỳ nghiên cứu bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Để có cái nhìn cụ thể hơn, tôi sẽ tóm tắt các bài nghiên cứu tiêu biểu trong dòng nghiên cứu này
Trước tiên, tác giả sẽ tóm tắt các bằng chứng cho rằng vốn nhân lực có tác động cùng
chiều và tích cực với tinh thần khởi nghiệp Thứ nhất là bài nghiên cứu “The value of
human and social capital investments for the business performance of startups” (Bosma,
2004), tác giả kết luận rằng đầu tư vào vốn nhân lực chẳng hạn như tích lũy kinh nghiệm trong một ngành cụ thể sẽ giúp nâng cao hiệu quả các dự án khởi nghiệp Bài nghiên cứu tìm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra: "Đầu tư vào vốn con người và xã hội ở mức độ nào, bên cạnh tác động của “tài năng”, sẽ nâng cao hiệu quả khởi nghiệp?" Tác giả phân biệt giữa ba loại hình đầu tư vào cả vốn con người và vốn xã hội: đầu tư chung, đầu tư theo ngành và đầu tư cụ thể Tác giả sẽ điều tra cấp độ nào các loại đầu tư ban đầu này đóng
Trang 37góp vào hiệu quả của người sáng lập doanh nghiệp nhỏ, tương đương theo kinh nghiệm của tác giả với doanh nhân Phân tích này dựa trên khảo sát của hội đồng đại diện trong
số gần 1.000 nhà sáng lập doanh nghiệp mới ở Hà Lan trong những năm 1994-1997 Tác giả sử dụng ba thước đo hiệu quả: tỷ lệ sống, lợi nhuận và tạo ra việc làm Phát hiện chính của tác giả là mức độ tài năng của một nhà sáng lập doanh nghiệp nhỏ không phải
là yếu tố quyết định duy nhất của hiệu quả khởi nghiệp Thay vào đó, đầu tư vào nguồn nhân lực và xã hội đặc thù của ngành và doanh nghiệp đóng góp đáng kể vào việc giải thích hiệu quả của các nhà khởi nghiệp Chính xác hơn: các khoản đầu tư đặc thù của ngành vào vốn nhân lực như kinh nghiệm trong ngành cụ thể giúp nâng cao hiệu quả, không phân biệt thước đo hiệu quả nào được sử dụng Ngoài ra, các khoản đầu tư vốn cụ thể của con người và doanh nghiệp xã hội, chẳng hạn như kinh nghiệm khởi nghiệp và thành viên của một hiệp hội cho các nhà sáng lập doanh nghiệp nhỏ tạo ra nhiều công trình khởi nghiệp hứa hẹn hơn Hơn nữa, hiệu quả của sự xuất hiện “các ngành công nghiệp tri thức" đã được khám phá Tác giả khuyến khích các nghiên cứu trong tương lai cần phải tính đến mối quan hệ tương quan giữa danh mục vốn nhân lực và xã hội, các loại chiến lược và hiệu quả khởi nghiệp, để khám phá vai trò của các ngành công nghiệp tri thức trong việc giải thích hiệu quả khởi nghiệp
Tiếp theo, bài nghiên cứu: “The cumulative nature of the entrepreneurial process: The contribution of human capital, planning and environment resources to small venture performance (Haber và Reichel, 2007) tiếp tục ủng hộ và cho rằng vốn nhân lực tăng lên
có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết về nguồn lực nội tại và áp dụng cho ngành dịch vụ - du lịch Nó đã kiểm tra hiệu quả của các dự án khởi nghiệp nhỏ bằng cách sử dụng một mô hình động tích hợp của các lựa chọn khởi nghiệp và tích lũy tài nguyên Kết quả từ 305 công ty khởi nghiệp
du lịch nhỏ cho thấy vốn nhân lực của doanh nhân khởi nghiệp, đặc biệt là kỹ năng quản
lý, là yếu tố đóng góp lớn nhất cho hiệu quả Giả thuyết chung của nghiên cứu quy định rằng vốn nhân lực của doanh nhân khởi nghiệp, loại hình mạo hiểm, tính hấp dẫn của địa điểm mạo hiểm, sự tồn tại của một kế hoạch kinh doanh cụ thể, mức độ lập kế hoạch, việc sử dụng các dịch vụ hỗ trợ tư vấn và tài chính ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án khởi nghiệp
Trang 38Khi thảo luận về vốn nhân lực của doanh nhân, tác giả đề cập đến giáo dục, kinh nghiệm trước khi khởi nghiệp và kỹ năng Mối quan hệ giữa giáo dục và tỷ lệ khởi nghiệp đã được kiểm chứng rộng rãi (Bird, 1989; Cooper và cộng sự, 1994; Robinson và Sexton, 1994), mặc dù các phát hiện liên quan đến tác động của giáo dục không nhất quán Có nghiên cứu cho rằng kinh nghiệm trước đây sẽ giúp cho doanh nhân khởi nghiệp có khả năng dự đoán tốt về những rủi ro và có thể đóng góp cho việc khởi nghiệp thành công (Ronstadt, 1988; Vesper, 1980) Các nghiên cứu khác kết luận rằng kỹ năng quản lý của các doanh nhân có lợi cho hiệu quả khởi nghiệp và tăng trưởng (Bird, 1993; Cooper và Gimeno-Gascon, 1992; Ronstadt, 1984) Hơn nữa, các học giả lập luận rằng các doanh nhân thành công thường có thể sử dụng một loạt các kỹ năng khác nhau trong các lĩnh vực như quản lý tài chính, kế toán và tiếp thị (Hood và Young, 1993) Các nghiên cứu trong các ngành dịch vụ như du lịch và khách sạn cung cấp một số cái nhìn sâu sắc trong việc xác định các nguồn lực của công ty có khả năng tạo ra sự bền vững, bao gồm các kỹ năng giao tiếp và phối hợp đúng đắn, kỹ năng thực hiện hành vi, kỹ năng trao đổi thông tin và tốc độ của năng lực quản lý giao dịch (Lundberg et al., 1995; et al., 1992) Lerner
và Haber (2001) nhận thấy rằng các kỹ năng quản lý tốt là rất quan trọng đối với hiệu quả của công ty khởi nghiệp du lịch nhỏ
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho rằng vai trò của vốn nhân lực trong khởi nghiệp đang được nhấn mạnh quá mức, thậm chí vốn nhân lực (giáo dục) còn tác động
tiêu cực lên tinh thần khởi nghiệp Cụ thể, bài nghiên cứu “Entrepreneurship, selection
and performance: A meta-analysis of the role of education” (Van der Sluis, 2005) về tinh
thần khởi nghiệp cho rằng giáo dục càng cao càng khiến người lao động muốn làm việc nhận lương hơn là khởi nghiệp – làm chủ một doanh nghiệp mới, song cũng có sự khác biệt theo giới tính, theo thành thị với nông thôn và theo nhóm nước Lý thuyết vốn con người nói rằng một trong những động lực chính việc đi học là do quan niệm rằng việc đi học tạo ra các kỹ năng nâng cao năng suất và thu nhập của người lao động Do đó, giả sử giáo dục có lợi cho tăng trưởng kinh tế Vì vậy, trong các tài liệu kinh tế phát triển, người
ta đã dành rất nhiều nỗ lực cho việc định lượng tỷ lệ lợi nhuận cho giáo dục Bài viết này cung cấp một đánh giá phân tích về các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của việc đi học đối với việc lựa chọn và thực hiện khởi nghiệp ở các nước kém phát triển Tác giả phân tích sự thay đổi của tác động này giữa các quốc gia, phương pháp ước tính, xác định
Trang 39các yếu tố đầu vào và hiệu suất, việc sử dụng các biến kiểm soát Tác giả thấy rằng một năm đi học làm tăng thu nhập doanh nghiệp lên trung bình 5% Con số này thấp hơn đáng
kể so với tỷ lệ lợi nhuận giáo dục trong việc làm trả lương ở các nước đang phát triển, trong đó mức trung bình dao động từ 7,2% ở các nước thu nhập trung bình đến hơn 11%
ở các nước thu nhập thấp và trung bình thấp (Psacharopoulos, 1994) Tuy nhiên, nó gần giống với lợi nhuận trung bình (6,1%) khi đi học trong các hoạt động khởi nghiệp ở Hoa
Kỳ, như đã được báo cáo trong phân tích tổng hợp của các nước công nghiệp (Van der Sluis, Van Praag và Vijverberg, 2003)
Lợi nhuận giáo dục thay đổi theo giới tính, cư trú nông thôn/ thành thị và tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế Hơn nữa, những người lao động có trình độ học vấn cao hơn thường thích việc làm nhận lương nhưng cũng thích kinh doanh phi nông nghiệp hơn làm nông nghiệp Giáo dục càng cao càng khiến người lao động không muốn tự làm chủ mà thích việc làm nhận lương hơn đối với phụ nữ nhiều hơn nam giới, đồng thời điều này cũng tác động mạnh hơn ở thành thị và ở các nền kinh tế kém phát triển nơi nông nghiệp chiếm ưu thế hơn và tỷ lệ biết chữ thấp hơn Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng phụ nữ ít học tập trung vào các lĩnh vực thu nhập thấp của thương mại thực phẩm và dệt may Do đó, dường như giáo dục khiến phụ nữ hướng tới các công việc trả lương chứ không phải trong kinh doanh - các lĩnh vực thu nhập cao Lý thuyết kinh tế chỉ ra rằng có những tác động đối nghịch mà giáo dục có thể có đối với việc khởi nghiệp, có thể diễn ra khác nhau
ở các nước đang phát triển, do cơ hội ở các nước đang phát triển lớn hơn, cũng như sự khác biệt về thu nhập giữa các ngành
Thêm vào đó, kết quả của bài nghiên cứu “The impact of entrepreneurship education on entrepreneurship skills and motivation” (Oosterbeek và Praag, 2010) chỉ ra rằng giáo dục
khởi nghiệp tại trường đại học đã làm giảm tỷ lệ sinh viên có dự định khởi nghiệp trong tương lai Bài viết này phân tích tác động của một chương trình giáo dục khởi nghiệp hàng đầu đối với sinh viên một trường đại học tại Ý dạy về kỹ năng và động lực khởi nghiệp, bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận biến công cụ trong khuôn khổ khác biệt Kết quả cho thấy chương trình không có tác dụng như mong muốn: ảnh hưởng đến kỹ năng tự đánh giá của sinh viên là không đáng kể, và ảnh hưởng đến ý định trở thành
Trang 40doanh nhân thậm chí còn tiêu cực Kết quả này trái ngược hoàn toàn với kết quả đánh giá tích cực trước đó dựa trên sự đánh giá của các bên liên quan
Nguyên nhân dẫn đến kết quả này có thể do các sinh viên đã có được những suy nghĩ thực tế hơn cả về bản thân cũng như những gì cần có để trở thành một doanh nhân như đã được dạy trong các buổi học được tổ chức với các huấn luyện viên Những thay đổi trong nhận thức bản thân có thể đã làm giảm nhẹ mức độ tự tin trong kỹ năng kinh doanh của những người tham gia chương trình so với những người không tham gia Một cách gián tiếp hơn, những người tham gia có thể đã mất đi sự lạc quan của họ và điều này có thể làm giảm sút tinh thần khởi nghiệp Ngoài ra, những người tham gia chương trình có thể đơn giản là không thích chương trình này Nhiều yếu tố khác nhau có thể góp phần vào đó: sự tham gia là bắt buộc, thời gian và nỗ lực đầu vào của người tham gia đòi hỏi cao
so với điểm tín dụng mà họ kiếm được và số lượng sinh viên mỗi nhóm lớn (trung bình mười) có thể cản trở sự tham gia tích cực và có thể đã khiến một số người tham gia miễn phí để hưởng lợi Bài nghiên cứu này của tác giả đã đóng góp một nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên trong việc đánh giá tác động của chương trình giáo dục sinh viên khởi nghiệp đối với tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trong tương lai Tuy nhiên, nghiên cứu còn nhiều khuyết điểm như thiếu tính phổ biến vì tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu chỉ trong một trường Ý nghĩa của nghiên cứu này là việc đánh giá tác động vì vậy nghiên cứu nên được tiến hành phối hợp với các trường để đảm bảo phân bổ ngẫu nhiên các học sinh trong các nhóm điều trị và kiểm soát
Theo đó, nghiên cứu “Picking winners or building them? Alliance, intellectual, and human capital as selection criteria in venture financing and performance of biotechnology startups” (Baum và Silverman, 2004) cũng cho rằng vai trò của vốn nhân
lực trong các dự án khởi nghiệp đang bị nhấn mạnh quá mức Trong môi trường kinh doanh, các trung gian tài chính như các công ty đầu tư mạo hiểm (VC) có vai trò định hình môi trường nơi mà các công ty khởi nghiệp mới phát triển Các VC ảnh hưởng đến việc lựa chọn cả hai bằng cách đóng vai trò là một trinh sát có thể xác định tiềm năng trong tương lai và là một huấn luyện viên có thể giúp nhận ra điều đó Mặc dù có nhiều tài liệu về vai trò của các VC trong việc khuyến khích các công ty khởi nghiệp, nhưng người ta thường cho rằng các VC là các chuyên gia trinh sát và huấn luyện viên, và vì