Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ: Một là, khái quát chung về ca dao, tục ngữ và môn Giáo dục công dân lớp 10; Hai là, vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
VẬN DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ TRONG GIẢNG DẠY
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
Giáo viên hướng dẫn : TS ĐINH THỊ PHƯỢNG
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi trên cơ sở tham khảo tài liệu có chọn lọc và đầu tư cẩn thận, dưới sự hướng dẫn của TS Đinh Thị Phượng và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2017
Tác giả Nguyễn Hoàng Kim Liên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo, các anh, chị, em và bạn bè trong khoa Giáo dục chính trị - trường Đại học Sư phạm, Đại Học Đà Nẵng đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm kiếm thông tin và nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến sĩ Đinh Thị Phượng, người đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi về nội dung, hình thức của đề tài, định hướng toàn bộ quá trình nghiên cứu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo và các em học sinh ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Hiền, Đà Nẵng đã hợp tác, tạo điều kiện để tôi thực hiện được quá trình thực nghiệm sư phạm và có thể hoàn thành được đề tài này đúng thời hạn Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình, người thân, bạn bè của tôi là nguồn động viên lớn giúp tôi hoàn thành
Đề tài chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô, các anh chị, em và những người có kinh nghiệm để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cơ sở lý luận 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Bố cục của đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
B NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CA DAO, TỤC NGỮ VÀ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 6
1.1 Nguồn gốc, đặc điểm và nội dung cơ bản của ca dao, tục ngữ 6
1.1.1 Nguồn gốc ra đời của ca dao, tục ngữ 6
1.1.2 Khái niệm ca dao, tục ngữ 8
1.1.3 Đặc điểm của ca dao, tục ngữ 12
1.1.4 Nội dung cơ bản của ca dao, tục ngữ 17
1.2 Môn Giáo dục công dân lớp 10 26
1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ, chức năng môn Giáo dục công dân lớp 10 26
1.2.2 Đặc điểm tri thức và phân phối chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 28
1.3 Vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10 33
1.3.1 Từ góc độ đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học 33
1.3.2 Từ góc độ dạy học tích hợp 34
1.3.3 Từ góc độ khơi dậy hứng thú học tập môn Giáo dục công dân 35
1.3.4 Từ góc độ đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá 38
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 QUA THIẾT KẾ BÀI GIẢNG 40
2.1 Ca dao, tục ngữ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10 40
Trang 52.1.1 Ca dao, tục ngữ trong phần Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương
pháp luận khoa học 40
2.1.2 Ca dao, tục ngữ trong phần Công dân với đạo đức 46
2.2 Vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân 10 thông qua thiết kế bài giảng 55
2.2.1 Vận dụng ca dao, tục ngữ trong giới thiệu bài học (Đặt vấn đề) 55
2.2.2 Vận dụng ca dao, tục ngữ trong củng cố bài học 57
2.3 Vận dụng ca dao, tục ngữ trong thiết kế kế hoạch giảng dạy 62
2.4 Thực nghiệm giảng dạy tại trường trung học phổ thông Nguyễn Hiền 73
2.4.1 Mục đích thực nghiệm 73
2.4.2 Đối tượng thực nghiệm 73
2.4.3 Cách thức tổ chức thực nghiệm 74
2.4.4 Nhận xét và đánh giá kết quả 75
C KẾT LUẬN 78
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ca dao, tục ngữ là viên ngọc trong kho tàng văn học dân gian, đi sâu vào tiềm thức mỗi chúng ta như những gì tự nhiên, nhẹ nhàng và sâu lắng nhất Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, ca dao, tục ngữ là tấm gương trung thực về cuộc sống cần cù, giản dị, chất phát, đậm đà tình người của dân tộc Việt Nam Nó còn là tấm gương phản ánh tinh thần kiên cường, bất khuất trong đấu tranh, lạc quan, yêu đời trong lao động, kiêu hãnh trong chiến đấu Ca dao, tục ngữ Việt Nam còn thể hiện mãnh liệt tình yêu thiên nhiên bao la, khát khao sống hòa nhập cùng thiên nhiên của người dân bao đời Di sản ca dao, tục ngữ là biểu tượng tập trung cao nhất về trình độ văn hóa, văn minh của một dân tộc trong một thời kì lịch sử nhất định Nó còn là thói quen, tập quán, truyền thống của một tộc người, một dân tộc, được xem là bộ luật không thành văn về lối sống, suy nghĩ và cách làm Bộ luật ấy hướng dẫn con người cách suy nghĩ về các trường hợp tốt - xấu mà ta hay gặp phải trong các mối quan hệ Thế nhưng, dưới ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và ảnh hưởng mạnh mẽ của thành tựu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, cuộc sống của con người một mặt được nâng cao về chất lượng nhưng mặt khác những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của ca dao, tục ngữ phần nào bị bào mòn
Trong xu hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, cả xã hội nói chung, ngành giáo dục nói riêng đã có những nhìn nhận mới về vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân ở trung học phổ thông Đây chính là bước đệm quan trọng đào tạo con người có tri thức, năng động, sáng tạo trong thực tiễn Môn Giáo dục công dân là một môn học có ý nghĩa rất lớn trong toàn bộ chương trình giảng dạy ở trung học phổ thông Nó không chỉ trang bị cho người học những tri thức đạo đức mà còn rèn luyện cho học sinh thói quen, kỹ năng và thực hiện hành vi giao tiếp, ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức chung của xã hội
Môn Giáo dục công dân lớp 10 là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy Giáo dục công dân bậc trung học học phổ thông Nội dung trong chương trình Giáo dục công dân lớp 10 được sắp xếp gồm hai phần rõ ràng Phần thứ nhất
“Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” có nội dung tri thức mang tính khái quát, trừu tượng, tổng hợp và có tính thời sự cao Phần này
Trang 7gồm các đơn vị kiến thức trình bày về thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, sự vận động, nguồn gốc, cách thức và khuynh hướng vận động, phát triển của
sự vật, hiện tượng; thực tiễn, vai trò của thực tiễn đối với xã hội; trình bày được chủ thể của lịch sử, mục tiêu phát triển của xã hội chính là con người Phần thứ hai “Công dân với đạo đức” gồm các đơn vị kiến thức gần gũi với đời sống của học sinh như: công dân với các giá trị đạo đức, công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình, cộng đồng, tổ quốc; công dân với các vấn đề cấp thiết của nhân loại, tự hoàn thiện bản thân Chính vì thế, phát huy hiệu quả của ca dao, tục ngữ và vận dụng nó một cách sáng tạo, linh hoạt vào giảng dạy sẽ góp phần phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh, giữ gìn, truyền thụ những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, lồng ghép
ca dao, tục ngữ vào giáo dục sẽ nâng cao niềm tin, tăng cường lý tưởng sống, định hướng đúng đạo đức và nhân cách cho thế hệ thanh niên, học sinh Việt Nam, những người tương lai làm chủ đất nước
Vì những lý do trên tác giả đã chọn đề tài “Vận dụng ca dao, tục ngữ trong
giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu nguồn gốc, đặc điểm, nội dung của ca dao, tục ngữ; đặc điểm tri thức và phân phối chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10, đề tài phân tích những đơn vị kiến thức trong chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy Bên cạnh đó, đề tài thiết kế cách đặt vấn đề, củng cố bài học và kế hoạch giảng dạy có vận dụng ca dao, tục ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ: Một là, khái quát chung về ca dao, tục ngữ và môn Giáo dục công dân lớp 10; Hai là, vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10 qua thiết kế bài giảng; Ba là, thực nghiệm sư phạm tại trường trung học phổ thông để kiểm chứng mức độ vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Ca dao, tục ngữ Việt Nam trong việc giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10
Trang 8- Phạm vi nghiên cứu: những câu ca dao, tục ngữ được tuyển chọn, có nội dung phù hợp trong chương trình giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về văn học, nghệ thuật và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối Đảng cộng sản Việt Nam về tư tưởng giáo dục
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp Trong đó, với phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp cho phép tác giả lựa chọn và tìm kiếm những câu ca dao, tục ngữ phù hợp với nội dung giảng dạy của môn Giáo dục công dân lớp 10 Đây là phương pháp chính mà tác giả dùng để nghiên cứu nội dung ca dao, tục ngữ Bên cạnh đó, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp lô gíc - lịch sử, phương pháp khái quát hóa - trừu tượng hóa để tìm hiểu về nguồn gốc, đặc điểm, nội dung nghệ thuật của ca dao, tục ngữ Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp phụ khác là quan sát, xử lý thông tin
5 Đóng góp của đề tài
Một là, đề tài khái quát vai trò, đặc điểm của ca dao, tục ngữ Việt Nam Hai là, phân tích, thiết kế cách lồng ghép, vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Ca dao, tục ngữ Việt Nam là một gia tài phong phú và quý báu gồm những kinh nghiệm đời sống xã hội, kinh nghiệm lịch sử xã hội đã tích lũy lại được từ hàng ngàn năm lao động và đấu tranh của nhân dân ta Chính vì vậy ca dao, tục ngữ đã thu hút được khá nhiều sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều độc giả và bước đầu đã đạt được
Trang 9những kết quả quan trọng Hai đầu sách của tác giả Vũ Ngọc Phan “Tục ngữ, ca dao
Việt Nam” (1995), tác giả Đinh Gia Khánh “Văn học dân gian Việt Nam” (2000) Hai
đầu sách đó đã đề cập đến khái niệm, nguồn gốc hình thành và phát triển, nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao, tục ngữ nói chung Bên cạnh đó cũng làm rõ mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ với các loại hình văn học dân gian khác Tác giả Chu
Xuân Diên trong “Tục ngữ Việt Nam” (1998), Lương Văn Đang, Phương Tri đã giới
thiệu tục ngữ dưới những góc độ khác nhau như một hiện tượng xã hội, như một lối sống của thời đại, như một lối nghĩ của nhân dân và như lối nói của dân tộc Tác giả
Vũ Thị Thu Hương với “Ca dao Việt Nam và những lời bình” (2007) đưa ca dao đến
với người đọc qua lăng kính khác, cách nhìn khác Ca dao trong công trình nghiên cứu này giới thiệu một số câu ca dao tiêu biểu và bình luận về nội dung cơ bản của các câu
đó Cuốn sách “Tục ngữ ca dao Việt Nam” (2014) của tác giả Ngọc Hà đã sưu tầm và
tuyển chọn những câu ca dao, tục ngữ rất hay, rất ý nghĩa và điển hình trong kho tàng
ca dao, tục ngữ Việt Nam Tác giả đã sắp xếp các câu ca dao, tục ngữ theo từng chủ đề giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nghiên cứu Đây là một tài liệu tham khảo rất hữu ích cho những người muốn đọc và tìm hiểu về ca dao, tục ngữ Công trình sưu tập ca dao, tục ngữ công phu nhất, có nội dung phong phú nhất của Nguyễn Văn Ngọc là
“Tục ngữ phong dao”, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1928 Tập 1 của bộ sách gồm
6.500 câu tục ngữ của các miền Bắc, Trung, Nam cho nên đến nay nó vẫn được coi là
công trình sưu tập đồ sộ nhất Việt Nam Nguyễn Nghĩa Dân trong “Đạo làm người
trong tục ngữ, ca dao Việt Nam” (2011) đã sưu tập hàng nghìn câu tục ngữ, ca dao về
đạo lý làm người Cuốn sách gồm 2 phần chính Phần thứ nhất tác giả trình bày đặc điểm của ca dao, tục ngữ về đạo làm người, đồng thời tiến hành phân loại và trình bày nội dung ca dao, tục ngữ Phần thứ hai tác giả sưu tầm, lựa chọn, phân tích một số câu
ca dao, tục ngữ tiêu biểu về đạo làm người Đây là công trình rất hay và có ý nghĩa, trình bày đầy đủ, cụ thể về đạo lý làm người qua ca dao, tục ngữ Tác giả Vũ Hùng
trong bài viết “Tìm hiểu yếu tố triết học trong tục ngữ Việt Nam” in trên Tạp chí Triết
học, 03/2006, tác giả chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa tục ngữ Việt Nam và triết học, đồng thời cũng phân tích để làm rõ một cách chung chung về các yếu tố triết học trong tục ngữ, chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể vào một khía cạnh nào Bà Hoàng Thị Ánh Thu
trong đề tài “Một số tư tưởng biện chứng trong tục ngữ, ca dao Việt Nam” (2011),
Trang 10đề cập đến tư tưởng biện chứng trong ca dao, tục ngữ với hai nội dung cơ bản được thể hiện qua hai chương Cụ thể là trong chương 2, tác giả trình bày tư tưởng về mối quan
hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Trong chương 3, tác giả đã trình bày tư tưởng về mối quan hệ biện chứng giữa con người với con người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Ở đề tài này, tư tưởng biện chứng chủ yếu chỉ được đề cập ở mối quan hệ giữa con người với gia đình và xã hội Những vấn đề như quan niệm về sự vận động phát triển, quan niệm về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng chưa được tác giả đề cập đến
Điểm sơ qua tình hình nghiên cứu trên cho thấy việc nghiên cứu, vận dụng hiệu quả của ca dao, tục ngữ trong việc giảng dạy Giáo dục công dân 10 chỉ dừng lại ở việc
đề cập, khai thác nội dung mà chưa đề cập đến việc vận dụng nó vào quá trình thiết kế giáo án giảng dạy Vì vậy kết quả của quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần vào quá trình giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh, nhất
là trung học phổ thông
Trang 11B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CA DAO, TỤC NGỮ
VÀ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
1.1 Nguồn gốc, đặc điểm và nội dung cơ bản của ca dao, tục ngữ
1.1.1 Nguồn gốc ra đời của ca dao, tục ngữ
Mỗi dân tộc, quốc gia trên thế giới đều có những nét đặc trưng riêng về bản sắc nền văn hoá phản ánh lòng tự tôn, tự hào dân tộc Dân tộc ta cũng có một kho tàng văn hóa văn minh lúa nước hình thành rất sớm Người Việt cổ đã biết lao động và hình thành tư duy (tiếng nói, chữ viết, âm nhạc, hội hoạ ) ngày càng hoàn chỉnh hơn trong đời sống tinh thần của họ Nền văn hóa ấy dần dần phát triển mãi đến ngày nay, đúc kết trong cuộc sống và những kinh nghiệm thiết thực trong xã hội, đặc biệt được lưu truyền theo cách truyền miệng từ người này qua người khác
M.Gorki trong “Bàn về nghệ thuật” từng phân tích: Nghệ thuật ngôn ngữ sinh ra
do quá trình lao động của con người từ xưa, chính là xu hướng mà con người muốn đúc kết kinh nghiệm lao động vào một hình thức ngôn ngữ khác, dễ nhớ và bám chặt vào ký
ức - những hình thức thơ hai chữ, tục ngữ, truyền ngôn là những khẩu hiệu lao động
thời cổ [17, tr.229] Ca dao, tục ngữ là sản phẩm tất yếu của lịch sử khi mà xã hội đạt
đến giai đoạn canh tác nông nghiệp, khi yêu cầu của thực tiễn đấu tranh sản xuất đòi hỏi con người phải giải thích tự nhiên để tác động vào tự nhiên, đúc kết những kinh nghiệm, những điều quan sát được trong quá trình lao động Những kinh nghiệm của ca dao, tục ngữ rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và xã hội, được thể nghiệm trong thực tiễn rồi trở thành những tri thức kinh nghiệm, được nhân dân công nhận và
sử dụng
Trong xã hội có giai cấp, ca dao, tục ngữ được nhân dân dùng như một công cụ
để diễn đạt những nhận thức về các kinh nghiệm thực tiễn, các hiện tượng lịch sử xã hội Nhân dân lao động dùng ca dao, tục ngữ thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của mình Đứng về mặt lịch sử của tư duy mà nói thì ca dao, tục ngữ ra đời cũng còn là kết quả của trình độ khái quát hóa và trừu tượng hóa tư duy của con người đã phát triển đến một trình độ nhất định
Trong điều kiện kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo và gắn với nó là chế
Trang 12đã trở thành cơ sở quyết định hình thành một kiểu kết cấu kinh tế - xã hội đa dạng trong lịch sử Việt Nam Thực tiễn xã hội đó đã đặt con người trước câu hỏi vì sao những người phải lao động nặng nhọc, phải hy sinh trong chiến tranh mà lại sống một cuộc đời hết sức thiếu thốn khổ sở, trong khi những kẻ không phải lao động, cũng không phải hy sinh trong chiến tranh lại được sống sung sướng, ấm no? Khi không tìm được con đường giải thoát, khi không thể lên tiếng được họ tìm đến ngôn ngữ nghệ thuật Ca dao, tục ngữ là cách giải quyết lý tưởng nhất cho con người về mặt tư tưởng Với đặc thù ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc, ca dao, tục ngữ ra đời là tiếng nói thay cho những áp bức bóc lột đó
Theo quan điểm của triết học Mác, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội
Ca dao, tục ngữ Việt Nam là tấm gương phản chiếu đời sống kinh tế xã hội và các quan
hệ xã hội của người dân lao động Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử Tuy nhiên, khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử không xem ý thức xã hội như yếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh tác dụng tích cực của ý thức xã hội đối với đời sống kinh tế xã hội, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội Cũng tương tự như thế, ca dao tục ngữ Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta từ xưa đến nay Bằng sự truyền đạt những giá trị tinh thần của mình, ca dao, tục ngữ đã giúp cho bao thế hệ người Việt Nam củng cố lòng tự hào dân tộc, tiếp nối hoài bão, nối gót các thế hệ cha ông để khai thác và làm giàu thêm di sản truyền thống của dân tộc
Ca dao, tục ngữ Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của người dân lao động Việt Nam, là bức tranh toàn diện về cuộc sống lao động Việt Nam, đời sống tinh thần của người bình dân Suy đến cùng là do những điều kiện lịch sử - xã hội của đời sống nhân dân, do những hình thức sinh hoạt vật chất và tinh thần của đời sống nhân dân quy định Chính cuộc sống sản xuất, chiến đấu gắn chặt với quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã vẽ nên bức tranh sinh hoạt vật chất, tinh thần sinh động của con người Việt Nam qua bao thế hệ Văn học dân gian nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng đều xuất phát trực tiếp từ lao động rồi lại trực tiếp phục vụ cho sản xuất và lao động của nhân dân
Theo Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi trong “Tục ngữ Việt Nam”
phân tích: ca dao, tục ngữ có nguồn gốc từ thời kì mẫu hệ, nhưng cũng có học giả lại
Trang 13khẳng định chúng xuất hiện vào thời kỳ phong kiến, giai đoạn mà chế độ tông pháp thịnh hành [10, tr.91] Thực tế, việc xác định thời gian và nguồn gốc ra đời của các câu
ca dao, tục ngữ không phải là dễ và có lẽ không phải lúc nào cũng cần thiết Ca dao, tục ngữ kì diệu ở khả năng thích ứng của nó Rất nhiều câu ca dao, tục ngữ đã được “bay” rất xa, vượt thời gian và mang thêm cho mình một lớp nghĩa mới trong lớp vỏ bọc ngữ
âm vốn có
1.1.2 Khái niệm ca dao, tục ngữ
Ca dao, tục ngữ của dân tộc Việt Nam là một thể loại văn học dân gian độc đáo thể hiện nghệ thuật sống đẹp, bảo vệ chân - thiện - mỹ, đề cao cái hay, phê phán, chỉ trích cái xấu trong xã hội Đặc điểm của ca dao, tục ngữ được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, hình ảnh hết sức giản dị, chân thật, gần gũi với đời sống người dân Do đó, chỉ cần đọc qua là ta có thể nhớ được dễ dàng, nhưng phải đọc đi đọc lại và suy ngẫm ta mới thấy hết được cái hay, cái đẹp Ca dao, tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do
nhân dân trực tiếp sáng tác
Trong giáo trình văn học dân gian của Đại học quốc gia Hà Nội, ông Lê Chí Quế bàn về khái niệm ca dao dân ca, cho rằng bắt đầu từ nguồn gốc Hán - Việt “Ca” tức là bài hát có hòa với nhạc, còn “dao” có nghĩa là lời của bài hát đó Và sở dĩ có hiện tượng chiết tự khái niệm “ca” và “dao” bởi lẽ trong thư tịch cổ Trung Quốc chỉ có khái niệm “ca” và “dao” mà không có thuật ngữ “ca dao dân ca” như các công trình nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam vẫn thường gọi [35, tr.124]
Trong giáo trình về văn học Việt Nam - “Việt Nam văn học sử yếu” - ông
Dương Quảng Hàm có bàn về ca dao (ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân Có lẽ đây chỉ là một định nghĩa còn dừng lại ở mức nhận định chung chung
sơ sài, nhằm để bước đầu phân biệt thể loại này với thể loại khác [19, tr.85] Nhấn mạnh sự khác nhau của ca dao với phong dao (những bài ca phong tục), với đồng dao (những bài ca của trẻ con gắn với những trò vui của trẻ con), với tục ngữ (những câu tục ngữ mang hình thức lục bát của ca dao), Trần Vĩnh, Nguyễn Tấn Phát định nghĩa ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm [14, tr.67] Ông Trần
Trang 14kiến vẫn còn phiến diện Một là ca dao có nguồn gốc ban đầu là dân ca, sau đó lời bài hát phát triển thành một thể thơ dân gian, vậy ca dao thật ra là phần lời của dân ca Hai
là ca dao là những câu mang tính chất trữ tình đậm đà được sáng tác theo phong cách
riêng [14, tr.75]
Còn dân ca là những bài hát dân gian do quần chúng nhân dân sáng tác, diễn xướng và lưu truyền Đó là những bài hát có hoặc không có chương khúc, phổ biến trong dân gian ở từng vùng, miền, có quan hệ với sinh hoạt văn hóa tinh thần ở đó (Quan họ Bắc Ninh, hát dặm Nghệ Tĩnh, Hò Đồng Tháp ) hoặc lưu hành rộng rãi ở nhiều vùng có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về âm nhạc Ở dân ca, phần lời và phần nhạc điệu cùng thể thức diễn xướng gắn bó trong một chỉnh thể thống nhất Dù được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng các định nghĩa trên có xu hướng tách rời hai khái niệm ca dao và dân ca Có thể xem đó là cách tiếp cận thứ nhất Một cách tiếp cận khác thường định nghĩa đồng nhất ca dao và dân ca Tức là ca dao chính
là một tên gọi khác của dân ca và ngược lại
Ông Chu Xuân Diên cho rằng ca dao, dân ca là tên gọi chung các thể loại trữ tình dân gian kết hợp lời thơ và giai điệu nhạc, nội dung miêu tả những tâm trạng, những tư tưởng và tình cảm của con người Phần lớn lời thơ của dân ca được gọi là ca dao Mặt khác, ca dao không chỉ là lời hát, mà còn là lời nói (dùng xen vào lời nói
thường) [12, tr.56]
Tương tự, ông Đỗ Bình Trị định nghĩa dân ca - ca dao là tên gọi chung các thể loại trữ tình dân gian Trong diễn xướng đó là những bài ca, là thơ được hát lên theo những giai điệu nhạc nhất định Các thể loại dân ca có bản chất chung là trữ tình (tức là chủ yếu biểu hiện những tâm trạng, những cảm nghĩ của con người) và khác nhau về chức năng sinh hoạt là chính Và theo ông, thuật ngữ ca dao và dân ca hoàn toàn tương đương với nhau Hiểu theo nghĩa rộng, đây là một khái niệm bao hàm ba yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau Đó là lối hát (tức là hình thức sinh hoạt ca hát hay phương thức diễn xướng), có hát trong lễ hội và hát trong ngày thường (sinh hoạt, lao động), có hát trơn
và hát kèm theo (kèm theo khí nhạc, múa, trò chơi), có hát cuộc (hát lề lối) và hát vặt,
có hát theo “bọn” (hát tập thể) và hát một người Thứ hai là điệu hát (tức là làn điệu nhạc của những câu hát) bao gồm cả hệ thống phong phú, từ những điệu hát mộc mạc như hát - nói - kể đến những điệu hát đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao (đã thành giai điệu như lý, hò, hát ) Thứ ba là lời hát (tức là lời ca đã tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy,
Trang 15tiếng đưa hơi) còn gọi là lời thơ Lời của ca dao chính là thơ Từ đó, ông Đỗ Bình Trị rút ra nhận định rằng, khi nghiên cứu , giới thiệu “những câu hát - bài hát dân gian” một cách toàn vẹn hoặc chỉ riêng về mặt âm nhạc, ta gọi đó là dân ca Còn khi nghiên cứu và giới thiệu thì chỉ riêng phần lời của những câu hát - bài hát ấy, ta gọi đó là ca dao [14, tr.102]
Như vậy, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ không phải miêu tả cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề Cho nên, trong ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam qua quá trình lịch sử Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy màu sắc Việt Nam, thể hiện một cách sâu sắc, rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốc con người;
đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương thân tương ái giữa những con người lương thiện; đó còn là những nhận thức sâu sắc về bạn, về thù, về chính nghĩa Tóm lại, qua ca dao, ta có thể thấy rõ hiện thực cuộc sống của nhân dân, cái hiện thực vốn có được hiện lên một cách chân thực nhất
Tục ngữ là một trong những thể loại gần gũi và quen thuộc nhất của văn học dân gian Việt Nam Tục ngữ gắn liền với đời sống của mỗi con người bởi nó chính là lời ăn tiếng nói thường ngày Vậy tục ngữ là gì? Ông Chu Xuân Diên định nghĩa “Tục ngữ là những sáng tác dân gian ngắn gọn, có đơn vị là câu, nội dung ghi lại những điều quan sát về thiên nhiên con người và xã hội, những kinh nghiệm sống, những lời khuyên răn
Có thể coi tục ngữ là một thể loại triết lý dân gian” [11, tr.35] Cũng đồng nhất với ý kiến này, ông Đỗ Bình Trị bàn về tục ngữ là những câu (nói) chắc gọn, xuôi tai, diễn đạt những kinh nghiệm về thiên nhiên, về con người và về xã hội của nhân dân Những sáng tác dân gian “nhỏ” nhất ấy (bằng một câu tục ngữ) kết tinh hầu như toàn bộ kho tàng kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân dân suốt mấy ngàn
năm [14, tr.92]
Tục ngữ là câu nói thường ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra một
Trang 16ngữ do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội công nhận Có nhiều ý kiến khác như: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì” [19, tr.58]; Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một nhận xét, một luân
lý, một công lý, có khi là một sự phê phán [29, tr.36]; Ông Hoàng Tiến Tựu cũng góp vào một định nghĩa, tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền Xét về chức năng ngữ pháp và nội dung ý nghĩa thì dù ngắn, mỗi câu tục ngữ đều diễn trọn một ý (một phán đoán) Ông Trần Hoàng: Tục ngữ là một loại sáng tác dân gian - một loại câu nói ngắn gọn, có cấu trúc tương đối bền vững và thường có vần, nhịp được dùng trong lời nói, trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Nội dung tục ngữ là những nhận xét phán đoán, những kinh nghiệm, kết luận của nhân dân về tự nhiên, lịch sử - xã hội và con người Như vậy, các định nghĩa trên đã trình bày nội hàm khái niệm tục ngữ khá rõ ràng và đầy đủ Tục ngữ của dân gian thường có dung lượng rất ngắn gọn, nội dung hàm súc sâu sắc và thâm thúy về những kinh nghiệm, triết lý về tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống
Để hiểu rõ hơn thể loại này cũng cần đặt nó vào trong sự so sánh giữa thành ngữ
và tục ngữ Ông Hoàng Trinh thậm chí còn khẳng định ngay cả một số nhà tục ngữ học đầu ngành cũng đã phải thừa nhận là không một định nghĩa nào có thể cho phép xác định rõ ràng như thế nào là một câu thành ngữ, tục ngữ Có hiện tượng các nhà nghiên cứu xếp chung thành ngữ và tục ngữ thành “Tự điển thành ngữ - tục ngữ”, hoặc giả tựa
đề là Tục ngữ Việt Nam, nhưng nội dung bên trong lại nhập nhằng hai thể loại này Xét
về phương diện lý thuyết, không thể tách biệt rõ ràng, chính xác ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ Bởi chúng có mối quan hệ thâm nhập, giao hòa và cách sử dụng linh hoạt ngoài thực tế Còn xét về phương diện thực tế, có trường hợp, thành ngữ kết hợp
với thành ngữ hoặc thành ngữ kết hợp với một số từ để tạo ra một câu tục ngữ “Rồng
đến nhà tôm” là một câu thành ngữ, nhưng “Mấy đời rồng đến nhà tôm” lại là một câu
tục ngữ Hay các câu sau đây đứng độc lập thì chúng tồn tại như những thành ngữ:
“Thuận buồm xuôi gió”; “Chén chú chén anh”; “Lên thác xuống ghềnh”; “Mày tao chi
tớ” Nhưng khi kết hợp chúng lại với nhau thì nó lại là một câu tục ngữ rất thâm thúy
và đặc sắc: “Thuận buồm xuôi gió (thì) chén chú chén anh (còn khi) lên thác xuống
ghềnh (là) mày tao chi tớ” Tóm lại, ta có thể dựa vào một số tiêu chí cụ thể như sau để
Trang 17phân biệt thành ngữ và tục ngữ: Về hình thức, thành ngữ thể hiện một cụm từ cố định, còn tục ngữ thể hiện bằng câu; Về nội dung, thành ngữ thể hiện khái niệm còn tục ngữ thể hiện một phán đoán; Về chức năng, thành ngữ có chức năng định danh trong khi tục
ngữ có chức năng thông báo
1.1.3 Đặc điểm của ca dao, tục ngữ
Thứ nhất, ca dao, tục ngữ có tính lịch sử
Được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, ca dao, tục ngữ phản ánh những hiện tượng lịch sử, xã hội và quan điểm của nhân dân Nội dung tư tưởng ca dao, tục ngữ Việt Nam rõ ràng bao hàm những phần tinh hoa nhất của dân tộc, góp phần giải thích sức mạnh và những thắng lợi rực rỡ trong cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh giai cấp và đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta
Ca dao, tục ngữ là sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân trong quá trình lao động sản xuất và nhận thức thế giới khách quan Do trải dài theo thời gian, những dấu ấn lịch sử của xã hội, của dân tộc dù ít dù nhiều cũng được lưu lại trong một số câu
ca dao, tục ngữ Những câu ca dao, tục ngữ nói về đặc sản nổi tiếng một thời của một
vùng nước ta trước đây hiện vẫn còn ghi lại, như: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương
Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét”, hay: “Chim mía Xuân Phổ, cá bống sông Trà, kẹo gương Thu Xà, mạch nha Thi Phổ”, hoặc “Bánh đúc kẻ Đanh, bánh hành kẻ Láng”.v.v Chế độ phong kiến với những quan niệm lạc hậu, hủ tục nặng nề cũng còn
lưu lại trong các câu tục ngữ như: “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “Chồng chung
chồng chạ ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng”.v.v Hoặc những câu mỉa mai những
tên quan tham trong xã hội cũ: “Năm tiền có chứng, một quan có cứ”, “Miệng quan,
trôn trẻ”, “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ” v.v
Trong ca dao, tục ngữ Việt xuất hiện rất nhiều nhân vật lịch sử của dân tộc như
Hùng Vương, Lê Lai, Lê Lợi, “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mồng mười
tháng ba” hoặc “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” Ngoài ra trong ca dao, tục ngữ
Việt chúng ta cũng thường bắt gặp tên riêng của những vùng đất với những đặc trưng
về sản vật, phong cảnh và những danh nhân hay truyền thống của các địa phương:
“Chè Yên Thái, gái Tiên Lữ”, “Đậu phụ Thuỷ Nhai, tú tài Hành Thiện” Chi tiết hơn,
nói về chất liệu làm gốm có: “Cỏ Chũ, đất Choá, đá Đông Triều”; Nói về sở trường từng vùng có: “Trâu Ngo, bò Chêu, dưa Chều, lợn Khám, cám Nhẹm, lẹm Ngò” Và
Trang 18với hàm ý rất đỗi tự hào: “Trai Khúc Toại, gái Hiên Ngang”, “Trai Mĩ Thái, gái Bến
Tuần”, “Trai đáp Cầu đi thầu nuôi vợ, gái Thị Cầu đi chợ nuôi chồng” v.v Đây cũng
là những nét đặc trưng về văn hoá của mỗi vùng miền
Thứ hai, ca dao, tục ngữ có tính dân tộc
Nghiên cứu ngôn ngữ của một dân tộc, tất phải liên hệ đến lịch sử, văn hoá v.v của dân tộc đó Có thể nói chính đặc điểm lịch sử, văn hoá dân tộc đã hoá thân vào từng câu ca dao, tục ngữ khiến chúng thấm đượm tính dân tộc Tính dân tộc của ca dao, tục ngữ còn thể hiện ở sự khác nhau trong tập quán và chất liệu ngôn ngữ Cùng biểu đạt một ý nghĩa, cùng một quan hệ logic nhưng mỗi dân tộc lại có cách diễn đạt khác nhau
(1) “Trẻ cậy cha, già cậy con.”
(2) “Bé nhờ cha, già nhờ con.”
(3) “Bé thì nhờ mẹ nhờ cha, lớn lên nhờ vợ, khi già nhờ con.”
Về cấu trúc, ca dao, tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh,
ổn định hình thức tương đối cao Nhiều câu ca dao, tục ngữ lưu truyền trong dân gian qua bao thế hệ vẫn giữ nguyên vẹn dạng sẵn có của nó Chính đặc điểm định hình đó cùng với nội dung vốn có bao gồm những chân lí , đạo lí mang tính nhân văn sâu sắc và những kinh nghiệm quí báu về mọi mặt đối với thiên nhiên, xã hội đã làm nên giá trị của tục ngữ Cùng với đó thì ca dao, tục ngữ cũng mang trong mình tính linh hoạt bởi quá trình lưu truyền trong dân gian, tục ngữ - kho tri thức dân gian đó cũng không ngừng được quần chúng gia công, gọt giũa, nhuận sắc khiến ca dao, tục ngữ được hoàn hảo hơn, súc tích hơn và phù hợp hơn với đối tượng, địa phương cũng như thời đại Sự gia công đó đã làm xuất hiện một số biến thể của ca dao, tục ngữ, tuy nhiên những biến thể này cũng không quá phức tạp, chủ yếu tập trung ở cách nói khác nhau của một số câu tục ngữ mang cùng một nội dung, biểu hiện ở một số từ ngữ khác nhau hoặc có thể thay đổi chút ít về cấu trúc Có câu ca dao, tục ngữ xuất hiện một vài từ khác nhau, thậm chí có thêm cả nhóm từ mới nhưng ý nghĩa biểu đạt của chúng hầu như không thay đổi
Trong ca dao, tục ngữ Việt có trường hợp chỉ thay đổi một từ mà chủ đề và hàm
ý thay đổi theo
Ví dụ:
(1) “Người ta là hoa dách.” : Nói về vẻ đẹp của đứa bé
(2) “Người ta là hoa đất.” : Ca ngợi con người (tinh hoa)
Trang 19Có khi chỉ thay đổi một từ mà làm đảo lộn chủ đề, hàm ý Ví dụ:
(1) “Cái khó bó cái khôn.”
(2) “Cái khó ló cái khôn.”
Đúng như Chu Xuân Diên đã từng nói: “Nói đến ca dao, tục ngữ là người ta thường nghĩ đến tính hàm súc của nó Với tính chất ấy, tư tưởng của ca dao, tục ngữ dường như bị nén chặt trong một hình thức câu hết sức ngắn gọn Khi được vận dụng
ca dao, tục ngữ thường thì tư duy đòi hỏi được mở tung ra Do đó có nhiều trường hợp, cấu trúc hình thức dưới dạng đã có sẵn của nó cũng thường bị phá vỡ” [10, tr.48]
Thứ ba, ca dao, tục ngữ có tính giai cấp
Những đặc điểm về đề tài, chủ đề, tư tưởng, tình cảm cùng các biện pháp nghệ thuật của ca dao, tục ngữ đều thể hiện ý thức của một tầng lớp, một giai cấp xã hội nhất định Dù người nghệ sĩ cố ý hay không cố ý, muốn hay không muốn, bao giờ cũng sáng tạo nghệ thuật theo quan điểm của một giai tầng nhất định Tính giai cấp của ca dao, tục ngữ được biểu hiện trong tác phẩm rất đa dạng, nhiều màu sắc, cung bậc, đậm nhạt khác nhau Ðó có thể là nói một cách xa xôi bóng gió thân phận quẩn quanh của kiếp người dân xưa:
“Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cụt leo ra, leo vào Con kiến mà leo cành đào Leo phải cành cụt leo vào leo ra.”
Hoặc thân phận người phụ nữ bị ràng buộc trong lễ giáo phong kiến khắt khe:
“Em như con hạc đầu đình Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay.”
Đối tượng được đề cập nhiều nhất trong ca dao, tục ngữ chính là xã hội phong kiến đương thời - xã hội tồn tại bộ máy chính quyền lạc hậu Ca dao, tục ngữ dân tộc có nhiều hình thức chống lại chế độ phong kiến, tập trung vạch trần bộ mặt xấu xa cùng những tội ác của bọn quan lại phong kiến:
“Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.”
Câu hát ấy đã chứa đựng tinh thần đấu tranh, phản kháng của người nông dân Không chỉ dừng lại ở việc vạch trần bộ mặt và tội ác xấu xa của bọn quan lại phong
Trang 20kiến, người bình dân còn thể hiện tinh thần phản kháng, đấu tranh của mình qua thái độ
hạ nhục, khinh thường, chế giễu bọn quan lại
Bên cạnh đó, vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ được khẳng định mạnh mẽ, đó
là đức hạnh, tấm lòng trong trắng, thuần khiết đáng trân trọng Âm điệu của câu ca vang vọng nỗi ngậm ngùi, chua xót về cuộc đời, xã hội với những áp bức bất công
Không chỉ dừng lại ở các câu ca dao về “Thân em” mà nỗi lòng về sự bất bình trong xã
hội đã cho ra đời những câu ca:
“Thân em như hạt gạo lắc trên sàng Thân anh như hạt lúa lép giữa đàn gà bươi.”
Đề cao vai trò, vị trí của “thân em” hơn “thân anh” không chỉ là nỗi lòng mà
còn là niềm khát khao về cuộc sống bình quyền Nơi đó, người phụ nữ tìm được tiếng
nói, vị thế và hạnh phúc đích thực Thiên chức người phụ nữ đâu chỉ “lấy nước, sinh
con, giữ lửa” mà còn khẳng định tầm vóc của bản thân đã góp phần làm nên cuộc
sống tốt đẹp Các câu hát than thân, trách phận thường sử dụng thể thơ lục bát hay lục bát biến thể đầy hàm súc, mang đậm tính dân tộc, thuần Việt
Thứ tư, ca dao, tục ngữ có tính nhân văn
Chất nhân văn trong ca dao, tục ngữ, gắn với quan niệm về con người của người bình dân, thể hiện ý thức và tình cảm của người bình dân Là quá trình tự nhận thức bản thân trong hoàn cảnh cuộc sống vất vả, chịu đựng nhiều nỗi bất bình, tủi nhục, đắng cay vẫn giữ được bản chất tốt đẹp, tình nghĩa đậm đà Trước hết, đó là vẻ đẹp con người trong mối quan hệ với tự nhiên: con người bao giờ cũng là trung tâm của những vẻ đẹp tự nhiên, đem lại sức sống và nét hài hoà cho thiên nhiên vũ trụ Thiên nhiên trong ca dao, tục ngữ bao giờ cũng được mô tả ở nét tinh tế, gợi cảm và trữ tình nhất, gắn với cảm quan thẩm mĩ dân gian cụ thể:
Trang 21Tiếp đến là vẻ đẹp con người trong các quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội Sức sống con người bộc lộ ở nét cứng cỏi trong nhân cách, không chịu khuất phục trước hoàn cảnh, luôn tìm cách vượt lên những áp lực, định kiến xã hội, chiến thắng số phận, tin tưởng tương lai và đứng về phía lẽ phải Chất nhân văn bộc lộ rõ nhất trong lao động sản xuất và đấu tranh xã hội: cần cù, bền bỉ, nhẫn nại, luôn ý thức rõ giá trị của chính mình Đó là tầm vóc vĩ đại của những con người bình thường Không những thế,
vẻ đẹp nhân văn còn bộc lộ trong những quan hệ riêng tư, gắn kết con người với con người, đi sâu vào đời sống tình cảm của con nguời Vẻ đẹp ấy hiện lên đằm thắm, nồng hậu, trọn vẹn cả hai mặt nghĩa và tình Từ đó, ca dao, tục ngữ tạo nên những cung bậc trạng thái, cảm xúc uyển chuyển, đa dạng diễn tả tâm hồn người bình dân, hướng tới những giá trị ổn định, vững bền như thương người, tương thân tương ái, đoàn kết:
“ Thương người như thể thương thân.”
Hay:
“ Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”
Hoặc:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”
Đặc biệt, vẻ đẹp con người trong mối quan hệ với bản thân tạo nên tiếng nói nội tâm thầm kín và mãnh liệt nhất, luôn thể hiện tấm lòng nhân hậu, vị tha, hướng đến cái cao cả hoàn thiện Vẻ đẹp đáng quí ở cái hồn nhiên chân thật, mạnh mẽ đầy cá tính, giản dị bộc trực Bên cạnh đó là sự bay bổng của trí tưởng tượng ắp tràn ước mơ, khát vọng sống của người lao động Giá trị của chất nhân văn trong ca dao, tục ngữ, giúp người đọc khám phá những vẻ đẹp hiện thực cuộc sống bình thường, làm phong phú nhận thức của con người, nâng cao đời sống tinh thần và bồi đắp tâm hồn con người ngày càng tốt đẹp hơn Chất nhân văn là kết tinh, hội tụ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, tạo nên sức cuốn hút, hấp dẫn mọi thế hệ, là sự gắn kết mạch nguồn dân tộc từ quá khứ đến tương lai
Trang 221.1.4 Nội dung cơ bản của ca dao, tục ngữ
Thứ nhất, ca dao, tục ngữ là kinh nghiệm trong lao động, sản xuất
Thơ ca là giác quan, là triết gia và trí tuệ của nhân loại Thơ ca không chỉ là “cây đàn muôn điệu” của trái tim, của cảm xúc mà còn là lăng kính phản ánh thế giới quan của tác giả Ca dao, tục ngữ - những thể thơ dân gian là thi liệu tuyệt vời đan dệt nên những tác phẩm hiện đại cũng là nơi chứa đựng tinh hoa trí tuệ của tác giả dân gian Điều này đã được thể hiện thông qua kho tàng ca dao, tục ngữ có nội dung đúc rút kinh nghiệm lao động, sản xuất của người bình dân xưa Nền văn hóa nông nghiệp, sản xuất lúa nước của dân tộc Việt đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa, sinh hoạt, lao động Trải qua nhiều thế hệ, ông cha ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất lao động và dự báo những hiện tượng thời tiết Đây chính là những bài học quý giá mà người bình dân xưa để lại cho hậu thế:
“Tháng Chạp là tháng trồng khoai
Tráng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Tháng ba cày vỡ ruộng ra Tháng tư làm mạ,mưa sa đầy đồng Tháng năm gặt hái đã xong Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy.”
Ông cha ta hết sức coi trọng những kinh nghiệm trồng lúa, qua những câu tục
ngữ: “Cấy thưa hơn bừa kỹ”, “Cấy thưa bừa thóc, cấy mau dốc bồ” Và cả trong
những bài ca dao hết sức bình dị, nhẹ nhàng:
“Nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống.”
Hay:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.”
Không chỉ đề cập đến kinh nghiệm trồng lúa, tác giả bình dân còn có các sáng tác liên quan đến các đặc tính khác nhau của từng loại lúa Chẳng hạn, với rất nhiều loại lúa mạ sẽ được kèm với các đặc điểm khác nhau, lúa chiêm, lúa bông vàng, mạ chiêm, mạ mùa
“Lúa bông vang thì vàng con mắt”
Hay:
“Lúa chín hoa ngâu đi đâu chẳng gặt.”
Hoặc “Lúa ré là mẹ lúa chiêm.”
Trang 23Ngoài lúa là loài cây lương thực chủ yếu ta còn thấy xuất hiện nhiều câu ca dao, tục ngữ mang kinh nghiệm trồng nhiều loại cây khác:
“Đất đập nhỏ, luống đánh to Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào Phân tro chăm bón cho nhiều Đậu ngô hai gánh một sào không sai.”
Và còn có cả các loại cây ăn quả:
“Cảnh cau, màu chuối.”
“Cày trâu loan, bán trâu đồ.”
Khi còn chưa có khoa học khí tượng, cha ông ta đã biết dựa vào quá trình quan sát thời tiết, sự vật, hiện tượng để rút ra những quy luật ngắn gọn, cụ thể về những biến động mưa nắng:
“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa.”
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.”
Quá trình lao động là quá trình phát triển khoa học và văn nghệ Trong lao động,
lý trí của con người phát triển, cảm quan thẩm mỹ được tôi luyện; những sáng tác dân gian truyền miệng sản sinh trên cơ sở của lao động
Thứ hai, ca dao, tục ngữ thể hiện khát vọng chinh phục giới tự nhiên
Trang 24Cuộc sống gắn bó mật thiết với thiên nhiên đã tạo nên nét đặc trưng rất chung của người lao động Việt Nam Đó là khát vọng hòa hợp và chinh phục thiên nhiên:
“Trông trời trông đất trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng, đá mềm Trời yên, bể lặng mới yên tấm lòng.”
Từ trong chính cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, nhân dân lao động Việt Nam
đã đúc rút ra một quy luật của tự nhiên phản ánh mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa
người và đất: “Đất lành chim đậu”, “Bồi ở, lở đi”, “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn” và
đó cũng chính là một quy luật, một triết lý sống của con người trong mối quan hệ bền chặt với cuộc sống của con người, đời người: sinh ra từ đất, là “hoa của đất”, sống được
cũng nhờ đất quý trọng đất: “Đất sỏi có chạch vàng”, “Tấc đất, tấc vàng” hay:
“Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.”
Và khi chết đi, con người lại trở về với đất như “lá rụng về cội” Bởi thế nên từ
ngàn đời nay, đối với người Việt Nam, đặc biệt là những người lao động, ngày ngày
gắn với đất, “chết đất chôn, sống đất nuôi” thì bao giờ “quê cha, đất tổ” cũng gắn bó
gần gũi, thiêng liêng
Ca dao, tục ngữ là tiếng nói của nhân dân lao động nên chúng ta luôn tìm thấy ở
đó cuộc sống lao động của con người qua các thời kỳ lịch sử Dù thời kỳ nào thì cuộc sống lao động của con người cũng không bao giờ tách khỏi mối quan hệ mật thiết với
thiên nhiên Từ nguyên thuỷ “ăn lông ở lỗ”, “mình trần thân trụi” giữa thiên nhiên
bao lâu nhưng lại vô cùng dữ dội, con người chật vật kiếm tìm cái ăn, cái mặc, kiếm chốn nương thân cho đến khi biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động Cuộc sống lao động của con người vẫn hoàn toàn dựa vào thiên nhiên Để sống còn, người dân lao động buộc phải sống hòa vào thiên nhiên như một bộ phận không thể tách rời và điều
đó đã dần tạo nên tình cảm gắn bó rất tự nhiên của con người với thiên nhiên, với cây
cỏ, núi rừng muôn thú xung quanh
Ca dao, tục ngữ Việt Nam đã thể hiện một cách rất chi tiết sinh động và khá đầy
đủ thái độ của con người dân Việt Nam đối với thiên nhiên, với điều kiện địa lí tự nhiên Do tính đặc thù của hoạt động lao động sản xuất nông nghiệp, do truyền thống, văn hóa, tâm lý, đạo đức của dân tộc nên ca dao, tục ngữ Việt Nam đã thể hiện sâu sắc
Trang 25khát vọng, mong muốn và cuộc sống thực của người dân lao động Việt Nam trong mối quan hệ thân thiết với thiên nhiên, trong sự nỗ lực hòa hợp với thiên nhiên, trong sự phấn đấu không mệt mỏi để giải quyết các mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên bên ngoài Mặc dù có những quan niệm duy tâm khách quan nhận định về tự nhiên, về trời đất xong việc cơ bản ca dao, tục ngữ Việt Nam đã phản ánh một cách nhìn nhận tích cực cùng những quan niệm về thế giới tuy giản đơn nhưng đúng như nó đang tồn tại và hơn hết là thái độ trân trọng khát vọng sống chinh phục và hòa hợp với thiên nhiên của nhân dân lao động Việt Nam qua nhiều thế hệ
Thứ ba, ca dao, tục ngữ là kho tàng văn hóa, địa lý, lịch sử của dân tộc
Ca dao, tục ngữ là loại văn chương truyền khẩu, biểu hiện nhiều mặt sinh hoạt của quần chúng Việt Nam, nhất là về mặt tình cảm, nên trong ca dao, tục ngữ rất phong phú khúc hát trữ tình Đặc biệt ca dao, tục ngữ còn biểu lộ những nhận định của dân chúng đối với những hành vi tốt, xấu của con người trong xã hội, hay bình luận, phê phán giới lãnh đạo trong chính quyền hiện tại Tìm về với ca dao, tục ngữ chính là chúng ta đã tìm về với kho tàng văn hóa, lịch sử, địa lý dân tộc Với nội dung này, ca dao, tục ngữ có thể xem là một hình thức ngôn luận của quần chúng ở thời đại xưa, khi
xã hội chưa phát triển, chưa có điều kiện phổ biến dư luận của người dân như là báo chí hoặc các hình thức thông tin trong thời đại mới, mặc dù từ trước đã có thư tịch nhưng chỉ là để chuyển tải văn chương, sử liệu, mô phạm (thánh mô hiền phạm) v v
Nho giáo có quan niệm trọng nam khinh nữ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết
vô” Nhưng đối với người dân Việt thì không có quan niệm kỳ thị đó, nhất là đối với
“Ở đời muôn sự của chung
Trang 26Các biến cố lịch sử ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân chúng Chiến tranh gây cảnh điêu tàn, chết chóc, nhà tan cửa nát Nhân dân chỉ biết kêu trời, bày tỏ nỗi oán thán Tất cả bi cảnh của lịch sử đều đi vào ca dao, tục ngữ truyền khẩu:
“Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.”
Hay
“Em về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.”
Thời Pháp thuộc người dân không khỏi buồn lòng nhìn thế sự rối ren:
“Đêm đêm chớp bể mưa nguồn Hỏi người quân tử có buồn chăng ai ?”
Và trên dòng Hương Giang, nhiều năm sau, trên các chuyến đò dọc, người ta còn nghe mấy câu hò trầm thống, bi đát, đầy tâm sự của kẻ mang hoài bão cứu nước không thành:
“Trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai mong Thuyền ai thấp thoáng bên sông Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.”
Ca dao, tục ngữ phản ánh một phần nào dư luận của quần chúng đối với các hiện tượng trong xã hội ở thời kỳ các phương tiện truyền thông chưa phát triển Với người dân, các hành vi của giới cầm quyền, cũng như hành động của các nhân vật trong nước, đều phải chịu sự bình phẩm, phán xét của công luận Những hành vi có đạo đức, thiện tâm được khen ngợi, ca tụng, trái lại xấu xa, đê tiện đều bị chê bai, nguyền rủa
“Trăm năm bia đá cũng mòn Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”
Ca dao, tục ngữ, nhất là loại ca dao, tục ngữ có liên quan đến lịch sử, văn hóa, địa lý Việt Nam là tấm bia miệng để đời cho người ta ghi nhớ, là tấm gương cho nhiều thế hệ soi chung và bản thân những câu ca dao, tục ngữ đó cũng là những nhận định
của lịch sử dành cho các nhân vật lịch sử
Trang 27Thứ tư, ca dao, tục ngữ phản ánh đời sống nội tâm của con người
Ca dao, tục ngữ là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng của người dân đất Việt, là đời sống nội tâm được phản ánh qua từng nét chữ, từng giọng điệu Những câu ca đằm thắm, trữ tình mang chở cả điệu tâm hồn và chứa chan những tình cảm thiết tha, sâu nặng, đặc biệt là tình cảm gia đình Những lời hát ấy đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người qua tiếng ru của bà, của mẹ và nhắc nhở chúng ta về công ơn trời biển của mẹ cha:
“Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”
Phép so sánh được sử dụng liên tiếp khiến hai câu thơ vừa cụ thể, vừa gợi hình, sinh động Công cha và nghĩa mẹ được ví với những hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng: núi, nước biển Đông Ơn cha to lớn không thể đo đếm còn tình mẹ sâu nặng, đong đầy Những lời thơ gợi nhắc về công ơn sinh thành, dưỡng dục, bao la, vô tận của mẹ cha Những lời ca dao thấm đượm nghĩa tình như ru hồn người vào thế giới của đạo lý, yêu thương
Ca dao, tục ngữ còn thể hiện tình cảm nhớ thương quê mẹ của người con gái xa xứ:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.”
Câu ca mở ra một âm điệu trầm buồn sâu lắng với hai từ “chiều chiều” Thời
khắc ấy gợi cái tàn lụi của một ngày và cũng gợi cảm giác sum họp gia đình Những lời hát của người con gái lấy chồng xa hướng về quê mẹ như thấm đẫm nỗi buồn xót xa ấy
Hai từ “ngõ sau” gợi một không gian khuất nẻo - nơi người con gái có thể bày tỏ nỗi
lòng Cả thời gian và không gian như đã nói lên tâm trạng con người đang mong nhớ thiết tha
Bên cạnh tình cảm cha mẹ - con cái, ca dao, tục ngữ còn là những lời nhắn nhủ cảm động về tình cảm ông bà và cháu con:
“Ngó lên nuộc lạt mái nhà Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.”
Trang 28Nuộc lạt - một hình ảnh quen thuộc trên những mái nhà tranh của làng quê Việt Nam đã được đưa vào câu ca dao một cách rất tự nhiên, giản dị và gần gũi Biện pháp
so sánh bao nhiêu – bấy nhiêu đã thể hiện tình cảm nhớ thương, sự gắn bó bền chặt, ruột thịt của cháu con với ông bà Âm điệu lời thơ tha thiết thể hiện sự kính trọng biết
Sự hòa thuận của anh em chính là niềm vui của cha mẹ, gia đình Với âm điệu thiết tha, sâu lắng cùng lối ví von so sánh đặc trưng, những câu thơ lục bát đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc và thấm thía, nhắc nhở nhẹ nhàng mà không khô khan, khuyên nhủ mà không giáo huấn Ca dao, tục ngữ chính là tiếng lòng mang chở cả tư tưởng, triết lý đạo đức của nhân dân Nó đã trở thành viên ngọc quý trong kho tàng văn
học Việt Nam
Thứ năm, ca dao, tục ngữ đề cao giá trị đạo đức truyền thống
Đề cao các giá trị đạo đức là đặc điểm khá nổi bật trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Tinh thần yêu nước, lòng thương người, tình đoàn kết và tinh thần lao động cần
cù, tiết kiệm là những giá trị đạo đức căn bản và xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Những giá trị đó, qua các thời đại, được những thế hệ nối tiếp nhau bồi đắp, kế thừa và chúng trở thành động lực, bản sắc của nhân cách con người Việt Nam Tuy nhiên, trong nội dung của các giá trị đạo đức truyền thống đó còn có một số hạn chế mang tính thời đại và giai cấp Yêu cầu đạo đức đối với con người Việt Nam hiện nay
là tiếp tục mở rộng, đổi mới và nâng cao - với tinh thần kế thừa có lọc bỏ - những giá trị đạo đức được kết tinh trong truyền thống của dân tộc Do đó, trong nấc thang giá trị
xã hội, việc ưu tiên các giá trị cộng đồng, hay nói cách khác, việc đề cao các giá trị đạo đức là đặc điểm nổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam nói chung và trong ca dao, tục ngữ nói riêng
Theo giáo sư Vũ Khiêu, truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bao gồm: lòng yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu
Trang 29thương và quý trọng con người Ông cho rằng, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người,
vì nghĩa Cụ thể trong Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng cho rằng: Những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của dân tộc
Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý “thương người
như thể thương thân”, đức tính cần cù của dân tộc
Xét ca dao, tục ngữ dưới góc độ di sản giá trị đạo đức thì nổi bật nhất vẫn là tinh thần yêu nước Tinh thần yêu nước là nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc Ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc Việt Nam,
là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, “là tiêu điểm của mọi tiêu điểm” Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình dị, đơn sơ của mỗi người dân
“Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.”
Hay
“Ai đi trẩy hội chùa Hương Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm
Mớ rau sắng, quả mơ non
Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?”
Hay
“Biên Hòa có bưởi thanh thanh,
Có cô bán bưởi xinh xinh trữ tình
Anh đây lên thác xuống ghềnh,
Đá mòn sông cạn quyết chung tình với em.”
Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước; nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước Chính tinh thần
Trang 30yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm lược
Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu quý con
người - “Người ta là hoa của đất” Chính trong quá trình lao động sản xuất và đấu
tranh bảo vệ Tổ quốc, cha ông ta đã rút ra triết lý: con người là vốn quý hơn cả, không
có gì có thể so sánh được Mọi người luôn luôn “thương người như thể thương thân”
và vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử hàng ngày, người Việt Nam luôn coi trọng tình, luôn
đặt tình nghĩa lên trên hết - “vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy” Chữ “tình” chiếm một
vị trí quan trọng trong đời sống của người dân Trong gia đình, đó là tình cảm vợ chồng
“đầu gối tay ấp”, tình anh em “như thể tay chân”, tình cảm đối với bố mẹ: “Công cha
như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Rộng hơn là tình cảm đối
với làng xóm: “Sớm khuya tối lửa tắt đèn có nhau” Và rộng hơn cả là tình yêu đất
Chính sự coi trọng chữ “tình” mà trong những xung đột, người Việt Nam
thường cố gắng giải quyết theo phương châm “có lý có tình”, “chín bỏ làm mười” Bởi
với họ, tình cảm con người là cao quý hơn cả, không thể vì những điều khác mà bỏ đi
được, “một mặt người hơn mười mặt của”, “người sống đống vàng”,… Tinh thần
thương yêu con người còn biểu hiện trong sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau theo kiểu
“lá lành đùm lá rách”, “chị ngã em nâng”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”…, ở tình cảm bao dung, vị tha: “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại”
Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam Nó là nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Nhờ đó, con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có được sức mạnh to lớn trước mọi thử thách Ý thức về tinh thần đoàn kết của người Việt Nam đã phản ánh nhu cầu và mong ước của người xưa về sự gắn bó giữa những con người với nhau trong ca dao, tục ngữ Việt Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, trước tiên, được thể hiện trong gia đình, trong cộng đồng làng xã, và hơn hết, trong toàn
Trang 31thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong gia đình, sức mạnh đoàn kết được thể hiện
qua: “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn” Bên cạnh đó, chính nhờ có truyền
thống đoàn kết mà chúng ta mới có được một dân tộc độc lập như ngày nay Những câu
tục ngữ như “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, “một cây làm chẳng nên non, ba cây
chụm lại thành hòn núi cao”,… không chỉ là một lời khuyên nhủ, mà còn là phương
châm, mục đích của sự đoàn kết dân tộc Nó trở thành sức mạnh tinh thần và đặc trưng cho nhân cách con người Việt Nam
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi bật trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam Uớc vọng về một đức tính lao động cần cù đã được thể
hiện nhiều trong dân gian Việt Nam Người Việt luôn nhắc nhở với nhau rằng, “năng
nhặt chặt bị”,“kiến tha lâu đầy tổ” Người ta luôn luôn phê phán thói “ăn không ngồi rồi”, bởi với họ thì “nhàn cư vi bất thiện” Lao động cần cù của người Việt Nam luôn
gắn với tiết kiệm, bởi lẽ, “buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện”, “khi có mà
không ăn dè, đến khi ăn dè chẳng có mà ăn”
Ngoài những giá trị nói trên, dân tộc Việt Nam còn có nhiều giá trị đạo đức khác tạo nên cốt cách con người Việt Nam, như đức tính khiêm tốn, lòng thuỷ chung, tính trung thực… Những đức tính này không tồn tại riêng rẽ mà liên quan đến nhau - đức tính này là điều kiện, là biểu hiện của đức tính kia Tất cả những giá trị ấy đều được kết tinh thành câu chữ vô cùng súc tích, ngắn gọn trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam Chính ca dao, tục ngữ đã đề cao những giá trị đạo đức truyền thống này đã tạo nên lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam Chúng là nhân tố quan trọng định hướng tư tưởng, tình cảm, hành động của con người Việt Nam trong suốt quá trình phát triển của mình Chúng đã tạo nên những con người biết sống xả thân vì nghĩa, vì đồng bào, dân
tộc, bất kể con người đó thuộc tầng lớp, giai cấp nào trong xã hội
1.2 Môn Giáo dục công dân lớp 10
1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ, chức năng môn Giáo dục công dân lớp 10
Vị trí của môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông được xác định trong Chỉ thị số 30/1998/CT-BGD & ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày
20 tháng 5 năm 1998, theo đó, “Môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức - nhân văn, đường lối, chính sách lớn
Trang 32Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại.” [7, tr.3] Việc giáo dục phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức cho học sinh do tất cả các môn học, các hình thức giáo dục của nhà trường thực hiện Song môn Giáo dục công dân lớp 10 khác với các môn học khác ở chỗ, trực tiếp hình thành phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh Nó góp phần quan trọng trong việc đào tạo học sinh thành những người lao động mới, hình thành những phẩm chất tốt đẹp, tích cực của một người công dân tương lai, có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến, có đạo đức trong sáng
Môn Giáo dục công dân vừa có vị trí thông thường của một môn học, vừa có vị trí đặc biệt của nó Ở vị trí thông thường, môn Giáo dục công dân được xếp ngang hàng với các môn khoa học khác trong hệ thống các môn học Nó có nhiệm vụ như các môn khoa học khác: trang bị học sinh những tri thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm, rèn luyện
kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ học sinh Ở vị trí đặc biệt, môn Giáo dục công dân có những đặc điểm riêng, khác biệt so với các môn học khác Một là, môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông đề cập và giải quyết một cách toàn diện hệ thống kiến thức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Nam trong thời đạo mới Hai là, môn Giáo dục công dân mang tính định hướng chính trị sâu sắc vì nó trực tiếp đề cập, trực tiếp giải quyết những vấn đề chính trị, tư tưởng của giai cấp công nhân, của Đảng, trực tiếp xác lập củng cố định hướng xã hội chủ nghĩa cho học sinh Ba là, hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân mang tính tích hợp, chứa đựng nhiều kiến thức của các môn khoa học khác nhau: Triết học, Kinh tế, Chính tri, Đạo đức, Pháp luật v.v….và ở một mức độ nhất định còn chứa đựng cả kiến thức của các môn khoa học tự nhiên Bốn là, môn Giáo dục công dân đòi hỏi chặt chẽ việc dạy học phải gắn liền một cách trực tiếp,
cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện, tu dưỡng của mỗi học sinh Dạy và học Giáo
dục công dân là dạy và học để trở thành công dân của nước Việt Nam
Môn Giáo dục công dân lớp 10 gồm hai phần Phần thứ nhất, trang bị cho thế hệ trẻ một thế giới quan khoa học, nhân sinh quan; trong cuộc sống biết nhìn nhận mọi vấn
đề một cách khách quan, không áp đặt ý kiến chủ quan của mình; nhận thức đúng đắn quá trình hình thành và phát triển của thế giới; tin tưởng vào sự phát triển của xã hội, tránh xa những hủ tục, lạc hậu và mê tín dị đoan; trở nên bình tĩnh trước mọi tình huống của cuộc sống; có thái độ cầu thị trong học tập, rèn luyện và lao động sản xuất; tránh cho học sinh tư tưởng chủ quan, coi thường việc nhỏ Đây là những đức tính tốt
Trang 33giúp ích rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu của học sinh sau này Đây là con đường để hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa Học sinh sẽ vận dụng lượng kiến thức đã học vào thực tiễn để giải quyết vấn đề Nhiệm vụ này được thể hiện
rõ nét nhất trong phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận
khoa học Phần thứ hai, giáo dục cho học sinh lẽ sống, lý tưởng, niềm tin lành mạnh,
không ngừng nỗ lực phấn đấu để tự hoàn thiện bản thân, vươn tới “chân- thiện- mĩ”, giáo dục học sinh trở thành những công dân có ích cho xã hội, phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức và có đời sống tinh thần phong phú Nhiệm vụ này trình bày
trọng tâm phần 2: Công dân với đạo đức
Để thực hiện tốt chức năng của mình, môn Giáo dục công dân lớp 10 cần hướng vào ba mục tiêu cơ bản: thứ nhất, trang bị tri thức công dân trên các lĩnh vực chính trị,
tư tưởng, đạo đức, kinh tế, pháp luật; thứ hai, hình thành ý thức công dân, ý thức quyền
và nghĩa vụ, giáo dục tinh thần, trách nhiệm, tình cảm lành mạnh của công dân; thứ ba, rèn luyện hành vi, thói quen, ý thức, tình cảm, đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã tích lũy, giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
1.2.2 Đặc điểm tri thức và phân phối chương trình môn Giáo dục công dân lớp
10
Tri thức môn Giáo dục công dân lớp 10 có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, tri thức môn Giáo dục công dân lớp 10 mang tính tổng hợp, khái quát, trừu tượng
Đặc điểm này thể hiện ở cấu trúc nội dung chương trình cũng như ở từng bài học, từng đơn vị kiến thức trong sách giáo khoa Hệ thống tri thức của môn Giáo dục công dân lớp 10 ở trường trung học phổ thông được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều
bộ môn khác nhau như triết học, đạo đức học, kinh tế học Bên cạnh đó, mỗi phần, mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức lại có những nội dung liên quan đến các lĩnh vực vật lý, sinh học, hóa học, văn học, địa lý
Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân lớp 10 trước hết thể hiện ở những nội dung được đề cập trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức Tính khái quát trừu tượng của tri thức môn Giáo dục công dân còn thể hiện thông qua một hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật Những khái niệm phạm trù
Trang 34học, Đạo đức học như: thế giới quan, phương pháp luận, lượng, chất, phủ định biện chứng, thực tiễn, phương thức sản xuất, đạo đức, lương tâm, nghĩa vụ, sản xuất vật chất, phát triển kinh tế được trình bày một cách ngắn gọn như sự vận động và phát triển của thế giới vật chất, nguồn gốc vận động phát triển của sự vật và hiện tượng, cách thức vận động phát triển của sự vật và hiện tượng, khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng, tồn tại xã hội và ý thức xã hội Phạm vi phản ánh của những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật nói trên rất rộng vì thế chúng đều mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa rất cao
Thứ hai, môn Giáo dục công dân lớp 10 mang tính thời sự
Tri thức của môn học dù khái quát, trừu tượng hay cụ thể đều tập trung phản ánh những vấn đề những hiện tượng nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày như: tình yêu, hôn nhân, gia đình, hay sự tập trung phản ánh những vấn đề báo động, cấp thiết của nhân loại như dân số, dịch bệnh, môi trường
Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân lớp 10 phải luôn làm cho tri thức của bài học bắt nhịp với cuộc sống Để làm được điều đó người giáo viên Giáo dục công dân có tâm hồn nhạy cảm biết cảm nhận lắng nghe những thay đổi cuộc sống, biết nắm bắt, sàng lọc, cập nhật, phân tích và xử lý thông tin, luôn luôn gắn bài giảng với thực tế đời sống, đặc biệt là tư tưởng, nhận thức của học sinh Mỗi giờ học phải mang lại cho người học những hiểu biết mới, kích thích học sinh suy nghĩ, xem xét lại những nhận thức của mình Đó là nhiêm vụ chính của một giờ học hấp dẫn, sinh
động, có hiệu quả
Thứ ba, môn Giáo dục công dân lớp 10 mang tính định hướng chính trị sâu sắc
Môn Giáo dục công dân lớp 10 trước hết tập trung vào việc xây dựng cho học sinh phổ thông thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản và phương pháp luận khoa học đúng đắn bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau Tất cả đều làm cho học sinh có quan niệm, niềm tin Triết học làm nền tảng cho thế giới quan Từ đó học sinh có định hướng đúng đắn trong hoạt động thực tiễn, giải quyết đúng các mối liên hệ của bản thân, với cộng đồng trên các lĩnh vực, các phạm vi khác nhau
Cùng với việc hình thành thế giới quan một cách trực tiếp, môn Giáo dục công dân lớp 10 giúp học sinh trả lời một cách khoa học, đúng đắn câu hỏi: Sống để làm gì? Sống thế nào cho xứng đáng với vai trò, vị trí người công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với mục tiêu là giáo dục học sinh trở thành một công dân có
Trang 35ích cho xã hội Nội dung của mỗi tiết học, bài học Giáo dục công dân lớp 10 luôn định hướng cho học sinh về trách nhiệm của các em đối với bản thân gia đình và xã hội cũng như xác định thái độ trách nhiệm của các em với các vấn đề lớn lao của dân tộc và thời đại
Mỗi môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp khoa học, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh Lợi thế hơn các môn học khác, môn Giáo dục công dân lớp 10 thực hiện nhiệm vụ này một cách trực tiếp Đặc điểm này mở ra khả năng và trách nhiệm cho môn Giáo dục công dân lớp 10
Chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 được cấu trúc thành 2 phần khác
nhau Phần 1: Công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa
học và phần 2: Công dân với đạo đức Chương trình được thực hiện với thời lượng cả
năm là 37 tuần ( 35 tiết ) Học kỳ I có thời lượng 19 tuần (18 tiết): Dạy từ bài 1 đến hết bài 9 Trong đó có 1 bài kiểm tra 1 tiết và 1 bài kiểm tra kết thúc học kì I Học kỳ II có thời lượng 18 tuần (17 tiết ): Dạy từ bài 10 đến hết bài 16 Trong đó có 1 bài kiểm tra 1 tiết và 1 bài kiểm tra kết thúc học kì II
Theo công văn số 5842/BGDĐT-VP, ngày 01 tháng 09 năm 2011 của Bộ Giáo dục và đào tạo, để thực hiện nội dung giảm tải, có những phần trong Chương trình được lược bỏ, không dạy hoặc cho học sinh đọc thêm Ngoài bài 2 và bài 8 còn có các đơn vị kiến thức nằm trong chương trình giảm tải cần được lưu ý như sau:
thực hiện
1,2 Tiết 1,2 Bài 1 Thế giới quan
duy vật và phương pháp luận biện chứng
- Mục 2: Chủ nghĩa duy vật
biện chứng- sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng
- Câu hỏi 1, 2, trong phần Câu hỏi và bài tập
- Không dạy
- Không yêu cầu học sinh trả lời
Trang 36Bài 2 Thế giới vật chất tồn tại khách quan
6,7 Tiết 6,7 Bài 5 Cách thức vận
động và phát triển của
sự vật hiện tượng (2 tiết)
trang 37, đoạn nói về Văn
kiện Đại hội IX)
- Câu hỏi 2 phần Câu hỏi và bài tập
- Không yêu cầu học sinh trả lời
Bài 8 Tồn tại xã hội
17,18 Tiết Bài 9 Con người là - Bài tập 4 phần Câu hỏi và - Không yêu
Trang 37sự điều chỉnh hành vi của con người
- Bài tập 1 phần Câu hỏi và bài tập
- Tư liệu 4 (trong mục III
Tư liệu tham khảo)
- Chỉ dạy nội dung: Phân biệt đạo đức với pháp luật
- Không yêu cầu học sinh làm
- Không yêu cầu học sinh đọc
20,21 Tiết
20,21
Bài 11 Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học (2 tiết)
- Điểm b mục 1: Nghĩa vụ
của người thanh niên Việt Nam hiện nay
- Điểm b mục 4: Hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc
- Điểm a mục 2: Hôn nhân
hôn…” đến “Em có nhận xét gì về suy nghĩ của cô gái này?” (từ dòng 13 đến
22)
- Điểm c mục 3: Mối quan
hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viên
- Không dạy
Trang 38Nguồn: Công văn số 5842/BGDĐT-VP, ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo dục và đào tạo
1.3 Vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10
1.3.1 Từ góc độ đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học
Nghị quyết 88/2014/QH13 xác định: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích
24 Tiết 24 Ôn tập kiểm tra 45
KHÔNG
30 Tiết 30 Bài 15 Công dân với
một số vấn đề cấp thiết của nhân loại
- Điểm a mục 2: Thông tin
1, đoạn từ “Thế nào là bùng
nổ dân số? ” đến “dân số thế giới ở mức 3,5 tỉ người là phù hợp”
- Điểm a mục 3: Đoạn nói
Trang 39
cực, chủ động, sáng tạo”, quá trình đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo như được tiếp thêm sức mạnh mới, kế thừa và phát huy những thành tựu, phát triển nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới Vì vậy việc giảng dạy kiến thức môn Giáo dục công dân không chỉ sử dụng những phương pháp truyền thống mà cần phải sử dụng phối hợp linh hoạt các phương pháp, tích hợp các nội dung thì bài giảng mới đảm bảo truyền đạt cho người học tối đa lượng kiến thức, kỹ năng và hình thành được thái độ cần thiết
Vận dụng ca dao, tục ngữ trong giảng dạy là một trong những phương pháp vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại Ưu điểm của nó chính là sự gần gũi trong ngôn từ, cách diễn đạt của ca dao, tục ngữ giúp học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu, tránh trừu tượng, khô khan Bên cạnh đó, mỗi câu ca dao, tục ngữ không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà bao giờ cũng ẩn chứa ý nghĩa giáo dục, một sự đúc kết kinh nghiệm, một lời khuyên, một phương châm xử thế, một lời răn dạy Tính chất răn dạy của ca dao, tục ngữ rất thâm thúy nhưng lại được diễn đạt dưới hình thức bình dị, linh hoạt, dí dỏm, gần gũi nên rất dễ hiểu và có khả năng cảm hóa rất cao
Việc khai thác ca dao, tục ngữ thông qua các bài giảng Giáo dục công dân 10 là một hướng đi Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay Từ góc độ đổi mới phương pháp giảng dạy và kĩ thuật dạy học cho thấy sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các dẫn chứng được chọn lưạ kĩ càng từ kho tàng
ca dao, tục ngữ của dân tộc Việt Nam có thể đưa lại nhiều hiệu quả tích cực đối với người học Sự gần gũi, quen thuộc của các câu ca dao, tục ngữ với cuộc sống mỗi ngày của mỗi người sẽ khiến học sinh rất thích thú khi được hướng dẫn để hiểu sâu hơn ý nghĩa cũng như giá trị của chúng Chẳng hạn học sinh trung học phổ thông đều biết và
sử dụng thường xuyên câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo”, nhưng nếu chúng ta
phân tích sâu sắc cả về mặt bản thể lẫn mặt nhận thức, cả về khía cạnh thế giới quan lẫn nhân sinh quan trong khi giảng về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, về vai trò của sản xuất vật chất đối với đời sống xã hội thì chắc chắn học sinh sẽ hiểu thấu đáo hơn ý nghĩa và biết cách sử dụng câu tục ngữ này đúng lúc, đúng chỗ
1.3.2 Từ góc độ dạy học tích hợp
Sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin thì lượng tri thức của nhân loại phát minh ngày càng nhiều, kiến thức giữa các lĩnh
Trang 40tế đòi hỏi con người phải giải quyết rất nhiều tình huống trong cuộc sống nhưng khi giải quyết các vấn đề đó, kiến thức của một lĩnh vực chuyên môn sẽ không thể thực hiện được mà cần phải tích hợp kiến thức liên ngành một cách sáng tạo Một quan điểm mới, hiện đại trong dạy và học hiện nay là dạy học theo chủ đề, dạy học tích hợp và tích hợp liên môn Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học nhất là môn Giáo dục Công dân Thực tiễn quá trình giảng dạy Giáo dục công dân 10 đã chứng tỏ rằng việc hiểu đúng và làm đúng quá trình tích hợp
sẽ giúp nâng cao năng lực của học sinh, kỹ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý trong giải quyết các tình huống khác nhau trong cuộc sống hiện đại và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ Đồng thời dạy học tích hợp, liên môn giúp hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực cần thiết của một người lao động trong tương lai như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng công nghệ thông tin
và truyền thông
Việc lựa chọn ca dao, tục ngữ để giảng dạy tích hợp là điều cần thiết Đặc điểm của ca dao, tục ngữ là ngắn gọn, dễ hiểu, gần gũi, không cần giải thích nhiều tránh mất thời gian của tiết học Bên cạnh đó, tích hợp ca dao, tục ngữ chính là tích hợp nội dung lớn trong việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh lớp 10
1.3.3 Từ góc độ khơi dậy hứng thú học tập môn Giáo dục công dân
Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học là vấn đề mà bất kì giáo viên nào khi lên lớp cũng đều mong muốn mình có thể làm tốt, song thực tế không phải ai cũng thành công Bằng chứng cho thấy, có những giáo viên khi lên lớp, học sinh rất thích học, nhưng cũng có những giáo viên khi lên lớp học sinh không có hứng thú, gây ra mất trật tự Giáo viên phải hiểu rõ rằng thầy là người gợi mở còn học sinh tự do phát triển Giáo viên dẫn dắt vấn đề, đưa kiến thức và tình huống bên ngoài cuộc sống để cho giờ học thêm sinh động Trong giờ học, học sinh phải được “phát ngôn” theo sự hiểu biết của mình gắn với bài học, giúp học sinh say mê với môn học Giáo viên như một người bạn, có vướng mắc là các em hỏi ngay
Ca dao, tục ngữ là di sản tinh thần quý báu, là kho tri thức về kinh nghiệm cuộc sống và đạo lí làm người mà ông cha ta đã để lại Ca dao tục ngữ chiếm một vị trí quan