1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của cư dân ven biển thừa thiên huế quảng nam quảng ngãi đối với việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều nguyễn 1820 1883

68 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 851,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lí do đó, mà tôi đã lựa chọn đề tài “Vai trò của cư dân ven biển Thừa Thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi đối với việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn 1802-1883” l

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Nguyễn 1802-1883

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hậu Chuyên ngành: Sư phạm Lịch sử Lớp: 11SLS

Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Xuyên

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

3 1 Đối tượng nghiên cứu 4

3 2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích nghiên cứu 4

4 2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5.1 Nguồn tư liệu nghiên cứu 4

5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Bố cục của đề tài 5

NỘI DUNG 7

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ LÀNG XÃ VEN BIỂN THỪA THIÊN HUẾ - QUẢNG NAM – QUẢNG NGÃI DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1883) 7

1.1 Khái quát tình hình nước ta dưới triều Nguyễn 7

1.1.1 Chính trị 8

1.1.2 Tình hình kinh tế 9

1.1.3 Văn hóa – xã hội 11

1.2 Tổng quan về làng xã ba tỉnh Thừa Thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi, dưới triều Nguyễn ( 1802- 1883) 11

1.2.1 Tổng quát về điều kiện tự nhiên ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi 14

1.2.2 Thành phần dân cư vùng ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi 14

1.3 Chính sách của triều Nguyễn đối với làng xã ven biển 16

Trang 3

Chương 2: VAI TRÒ CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN THỪA THIÊN HUẾ -

QUẢNG NAM - QUẢNG NGÃI VỚI VIỆC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ BIỂN

ĐẢO DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1883) 27

2.1 Khai thác các tài nguyên từ biển 27

2.1.1 Khai thác đánh bắt cá 27

2.1.2 Thu lượm các sản vật từ biển 29

2.2 Vai trò trong việc bảo vệ biển đảo 33

2.2.1 Tham gia vào lực lượng bảo vệ biển đảo 33

2.2.2 Tham gia vào lực lượng tuần tra cứu hộ cứu nạn 36

2.2.3 Chống hải tặc trên biển 37

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC 63

Trang 4

tổ quốc Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình dựng nước gắn liền với giữ nước Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, biết bao thế hệ cha ông đã ngã xuống

để tạo dựng một đất nước thống nhất như ngày nay, với bề dày lịch sử và văn hóa hào hùng đó luôn khiến mỗi người con Việt Nam cảm thấy tự hào Lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba bộ phận: vùng đất, vùng trời, vùng biển Hình dạng của lãnh thổ nước ta kéo dài theo chiều Bắc - Nam, hẹp chiều Đông - Tây, cong cong, uốn lượn như ghì sát ôm lấy biển Đông - một phần lãnh thổ quan trọng của nước ta Từ thời dựng nước, biển luôn đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị và

là vị trí chiến lược quan trọng về an ninh - quốc phòng của các triều đại phong kiến Triều Nguyễn được thành lập năm 1802, nhưng trước đó hơn 200 năm, kể từ năm

1558, các đời chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần đã có công lao to lớn trong việc mở mang bờ cõi, bao gồm toàn đất miền Nam và vùng biển đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc Quá trình đấu tranh để khôi phục và thống nhất đất nước của vị hoàng đế đầu triều Nguyễn- vua Gia Long cũng gắn liền với hoạt động trên biển đảo Vì vậy, các vua triều Nguyễn đều ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của biển đảo đối với việc bảo vệ đất nước, mở mang giao thông, phát triển kinh tế và khai thác các nguồn lợi từ biển, đảo

Hình thành và sinh sống trên dãi đất hình chữ S với đường bờ biển dài đã tạo nên những nét đặc sắc in đậm dấu ấn tính chất biển đối với cư dân Miền Trung nói chung và ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi nói riêng Họ gắn bó với biển sớm cùng với mọi hoạt động sinh sống đều liên quan tới biển, họ ý thức được rằng vai trò của biển đảo đối với kinh tế, sinh hoạt sản xuất, họ chấp nhận chung sống cùng với những khó khăn của một thời tiết nhiệt đới gió mùa sát biển

Trang 5

2

đầy khắc nghiệt Để thấy được giá trị mà cư dân Thừa Thiên Huế- Quảng Nam – Quảng Ngãi đang ngày đêm đóng góp và nhằm làm sáng tỏ những vấn đề vùng đất, con người, văn hóa ở vùng ven biển nói chung và cư dân ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam – Quảng Ngãi nói riêng Từ đó, đưa ra các chính sách đối với các cư dân tạo điều kiện tiếp tục khai thác biển đảo Ngài ra, khi tìm hiểu về vai trò cư dân ven biển sẽ giáo dục nhân dân ở các địa phương , nhất là giới trẻ giữ gìn giá trị truyền thống, phát huy những gì cha ông bao đời gây dựng cũng như bảo vệ biển đảo từ bao đời

Với những lí do đó, mà tôi đã lựa chọn đề tài “Vai trò của cư dân ven biển

Thừa Thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi đối với việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn 1802-1883” làm đề tài khóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những thư tịch cổ của Việt Nam đề cập đến vùng biển nước ta sớm nhất phải

kể đến: Toàn tập thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá Công Đạo (thế kỷ XVII),

Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn (1776),… các ghi chép, báo cáo, nhật ký của

người nước ngoài đến Việt Nam như: Xứ Đàng Trong của C.Borri, Hải ngoại kỷ sự

của Thích Đại Sán (1695)…

Đặc biệt là các bộ chính sử của triều Nguyễn như: Đại nam thực lục chính

biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Châu bản triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu,… Tất cả những tác phẩm trên đều là những văn bản lịch sử gốc quan

trọng, mang tính chính thống quốc gia, đề cập đến nhiều góc độ khác nhau như địa

lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, quân sự… của nước ta dưới triều Nguyễn, trong đó có ghi chép khá chi tiết, liên tục về vấn đề khai thác và bảo vệ chủ quyền biển và hải đảo Việt Nam

Giai đoạn 1954 - 1975, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Phan Khoang, Nguyễn Thế Anh đã đề cập đến một số khía cạnh của đề tài Đáng

chú ý là tác phẩm Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn của tác giả Nguyễn

Thế Anh, tác giả đã đề cập khá chi tiết những vấn đề kinh tế và xã hội căn bản dưới triều Nguyễn, trong đó có liên quan đến hoạt động khai thác kinh tế biển ở miền Trung cũng như ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam – Quảng Ngãi

Trang 6

3

Từ năm 1975, vấn đề biển đảo Việt Nam nói chung, dưới triều Nguyễn nói riêng được chú trọng và đã xuất hiện nhiều bài viết, các tác phẩm nghiên cứu Trong

đó các nghiên cứu có giá trị cao của một số tác giả như: Luận văn thạc sĩ Tổ chức và

bảo vệ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn (1802 - 1858) của tác giả Lê Tiến

Công (2006) đã khảo cứu khá chi tiết về việc tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển miền Trung của triều Nguyễn trong giai đoạn (1802 - 1858) Trong tác phẩm

Hệ thống phòng thủ miền Trung dưới triều Nguyễn của PGS.TS Đỗ Bang đã nói đến

vị trí chiến lược của các tỉnh miền Trung dưới triều Nguyễn và hệ thống công trình phòng thủ vùng biển, cũng như vai trò của cư dân ven biển duyên hải Trung trung

bộ Hay tác phẩm Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo Tổ quốc thế kỷ XIX

(2014) của PGS.TS Đỗ Bang đã có đề cập đến các vấn đề như vị trí chiến lược của

biển đảo của Việt Nam dưới triều Nguyễn, công cuộc bảo vệ biển đảo Tổ quốc Trong đó đặc biệt nổi bật lên chính sách của triều Nguyễn về biển đảo như: Xây dựng hệ thống phòng thủ ven biển, xây dựng lực lượng hải quân, ban hành và thực hiện các chính sách về quản lý thuyền bè, tuần tra cứu hộ, cứu nạn và chống hải tặc trên biển Trên cơ sở đó, vai trò của người dân ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam – Quảng Ngãi cũng được thể hiện, nhưng chưa sâu

Ngoài ra, còn có những bài nghiên cứu rải rác đăng trên hệ thống các tạp chí

như: Biển đảo trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam (2009) của Ngô Văn Minh đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự, hay Con đường tơ lụa trên

biển và vị trí của Việt Nam (2003) của Vũ Linh đăng trên Tạp chí Xưa và Nay đều

là những bài viết có liên quan đến một khía cạnh của đề tài Tuy nhiên, các công trình này mới giới hạn trong một phạm vi tìm hiểu nhất định về vai trò của biển đảo đối với đất nước chứ không đề cập cụ thể đến vai trò của cư dân ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam –Quảng Ngãi

Tuy nhiên, chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu một cách trọn vẹn, tổng thể

về vấn đề này đặc biệt là ở khu vực miền Trung, mà hầu hết các tác phẩm này chỉ nêu và nghiên cứu một khía cạnh nào đó của đề tài, chủ yếu là trên lĩnh vực quân

sự Song, đó cũng là những nguồn tài liệu tham khảo bổ ích và quan trọng, phục vụ cho chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài này

Trang 7

4

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài vai trò của cư dân ven biển ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi đối với việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn

3 2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Với đề tài này, phạm vi mà chúng tôi nghiên cứu là cư dân ven

biển ba tỉnh Thừa Thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi

Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu là dưới triều Nguyễn, từ năm 1802

đến năm 1883, tức là từ lúc triều Nguyễn được thiết lập đến khi triều Nguyễn kí Hiệp ước Hác - măng đầu hàng thực dân Pháp

4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chủ yếu của đề tài là nhằm làm sáng tỏ vai trò của cư dân ven biển ba tỉnh Thừa Thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi đối với việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn

4 2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích trên, chúng tôi hướng vào thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử của triều Nguyễn, chính sách đối với ngư dân làng xã ven biển, hải đảo ở miền Trung nói chung và ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam

- Quãng Ngãi nói riêng

- Phân tích vai trò của cư dân Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi trong công cuộc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn (1802- 1883) Từ đó đưa

ra những nhận xét, đánh giá về tầm quang trọng của ngư dân, làng xã ven biển, hải đảo và rút ra bài học kinh nghiệm đối với việc thi hành các chính sách biển đảo đối với cư dân ven biển nước ta hiện nay

.5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu nghiên cứu

Trang 8

5

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu nguồn tư liệu gốc mang tính chất chính thống của nhà nước đương thời, đó là các bộ chính sử do Quốc sử

quán và Nội các triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam

thực lục chính biên, Châu bản Triều quán, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí,…

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo thông tin liên quan từ một số công trình nghiên cứu của một số học giả

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận: Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nghiên cứu dựa

trên quan điểm sử học Mácxit như phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá vấn đề

Về phương pháp nghiên cứu: Với đề tài này chúng tôi kết hợp giữa hai phương

pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử là phương pháp lịch sử cụ thể và phương pháp logic

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp sưu tầm, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu,… để rút

ra những tư liệu có độ chính xác, khái quát cao

6 Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu thành công đề tài “ Vai trò của cư dân ven biển Thừa Thiên Huế -

Quảng Nam - Quảng Ngãi với việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn (1802- 1883)” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn

Thứ nhất, đề tài góp phần làm sáng tỏ vai trò của cư dân ven biển ba tỉnh trong việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới thời Nguyễn

Thứ hai, đây là nghiên cứu có tác động mạnh mẽ tới nhận thức, thái độ của nhân dân ta đối với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo

Thứ ba, từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp cho việc khai thác và bao

vệ biển đảo trong tình hình hiện nay

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài gồm hai chương:

Trang 9

6

Chương 1: Tổng quan về triều Nguyễn, chính sách của triều Nguyễn đối với

làng xã ven biển ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi

Chương 2: Vai trò của cư dân ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng

Ngãi trong việc khai thác và bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn

Trang 10

7

NỘI DUNG

CHương 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ LÀNG XÃ VEN BIỂN

THỪA THIÊN HUẾ - QUẢNG NAM – QUẢNG NGÃI DƯỚI TRIỀU

Công việc đầu tiên của nhà Nguyễn phải tập trung giải quyết ngay sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn và thiết lập một hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trên một lãnh thổ rộng lớn, tương đương với lãnh thổ Việt Nam hiện nay Vua Gia Long quyết định xây đựng một thể chế quân chủ quan liêu chuyên chế, trong đó vua là người đứng đầu triều đình và toàn quyền quyết định mọi việc hệ trọng của đất nước Dưới vua có sáu bộ ( Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công), đứng đầu mổi bộ là Thượng Thư Dưới bộ có các ti chuyên trách Đến thời Minh Mạng, tổ chức bộ máy nước được hoàn thiện chặt chẽ hơn Ngoài đô sát viện, Nội các, Cơ mật viện ,vua Minh Mạng lần lượt bãi bỏ Bắc Thành và Gia Định thành cũng như các chức Tổng trấn (thời Gia Long), chia lại cả nước thành 30 tỉnh và một phủ (Thừa Thiên) Các tỉnh đều do Tổng Đốc hay Tuần Phủ đứng đầu, nhưng đều thuộc chính quyền Trung ương Dưới huyện là phủ, huyện, châu, tổng và xã, thôn Ở vùng miền núi, về cơ bản vẫn duy trì mô hình tổ chức, quản lý thời vua Lê Thánh Tông (1490), đứng đầu là các miền Thượng là các tù trưởng, già làng hay quan do nhà nước cử

Trang 11

8

Để bảo vệ uy quyền tuyệt đối của Hoàng đế, triều Nguyễn không đặt chức Tể tướng, không lấy đỗ Trạng Nguyên, không lập Hoàng hậu và không phong tước Vương cho người ngoài họ Triều nguyễn cũng rất coi trọng pháp luật Năm 1815,

bộ Hoàng việt lệ (hay còn gọi là Luật Gia Long) gồm 398 điều, chia làm 7 chương,

được chính thức ban hành

Cũng nhua các triều đại phong kiến khác, việc xây dựng quân đội luôn là mối quan tâm và ưu tiên lớn của các nhà nước Triều Nguyễn chủ trương xây dựng quân đội thường trực mạnh với khoảng 20 vạn quân, chia làm 4 binh chủng: Bộ binh, Thủy binh, Pháo binh và Tượng binh

Trong ngoại giao, triều Nguyễn chủ trương thuần phục nhà Thanh, trong khi

đó, lại sử dụng lực lượng quân sự bắt Cao Miên và Lào thuần phục Đối với các nước phương Tây, ngay từ đầu triều Nguyễn đã thấy được âm mưu xâm lược của chúng, vì vậy triều Nguyễn rất đề phòng và cảnh giác Trong giai đoạn đầu, do sự giúp đỡ của Pháp mà triều Nguyễn được thành lập nên vua Gia Long thi hành chính sách tương đối cởi mở với Pháp và đạo Thiên chúa, nhưng đến thời Minh Mạng, triều Nguyễn khước từ dần mối quan hệ với các nước phương Tây, bắt đầu thi hành

chính sách đàn ápThiên chúa giáo và “đóng cửa” ngăn cản ảnh hưởng của người

phương Tây trên đất Việt Nam

Triều Nguyễn thành lập trong hoàn cảnh như vậy đã đặt ra yêu cầu cũng cố, xây dựng và phát triển đất nước Để đưa đất nước phát triển đi lên trong bối cảnh họa xâm lăng đang đến gần, vấn đề hoạch định các chính sách nội trị trở thành mối

quan tâm hàng đầu của triều Nguyễn

1.1.2 Tình hình kinh tế

Sau những năm chiến tranh chia cắt, trong bối cảnh hòa bình thống nhất, nền kinh tế đất nước dần được phục hồi Trong nông nghiệp, nhà nước khuyến khích nhân dân khai hoang, phục hóa để mở rộng diện tích canh tác Sản xuất thủ công nghiệp không có điều kiện để phát triển, các chính sách của nhà Nguyễn đối với thủ công nghiệp thì vô cùng lạc hậu Dù vậy, thủ công nghiệp cũng có sự phát triển, đặc biệt là thủ công nghiệp trong dân gian Ngược lại, thương nghiệp lại không có điều kiện để phát triển Nếu như ở thế kỉ XVIII, đặc biệt là ở thời Tây Sơn thương

Trang 12

9

nghiệp nước ta đang trên đà phát triển thì đến thời Nguyễn nền kinh tế hàng hóa ngày càng bị thu hẹp lại Chính sách “trọng nông ức thương” được coi là quốc sách, triều đình nắm độc quyền việc buôn bán và đã đặt ra nhiều luật lệ hà khắc để kiềm chế nội thương, Minh Mạng còn cấm cả họp chợ Cùng với sự sa sút của kinh tế thương nghiệp, các đô thị cũng lụi tàn dần Về ngoại thương, chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn đã hạn chế việc quan hệ, buôn bán với nước ngoài

1.1.3 Văn hóa – xã hội

- Về văn hóa

Sau gần 300 năm nội chiến, chia cắt, nhà Nguyễn đã bước đầu xác lập được sự thống nhất về chính trị cũng như lãnh thổ của đất nước Trên cơ sở của một nền chính trị thống nhất, một nền kinh tế ổn định thì nền văn hóa dân tộc cũng có điều kiện để phát triển Nền văn hóa dưới triều Nguyễn đã có bước phát triển vượt bậc so với các triều đại trước đó Có thể thấy chưa bao giờ, chưa có một thời kì nào mà văn hóa Việt Nam lại phát triển rực rỡ và đạt được nhiều thành tựu đến như vậy

Sự phát triển vượt bậc về văn hóa được thể hiện trên tất cả các phương diện,

cả về văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần Về văn hóa vật thể, triều Nguyễn đã để lại nhiều công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao, nổi bật lên là quần thể cung điện nhà vua và các lăng tẩm ở Huế Trên cơ sở lấy tư tưởng Nho gia, Khổng - Mạnh lỗi thời làm nền tảng cho sự thống trị, nhà Nguyễn độc tôn Nho giáo, tư tưởng trọng Nho đã chi phối rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Mặt khác, nó cũng là nguyên nhân khiến triều Nguyễn có thái độ coi thường các ngành khoa học

tự nhiên và đề cao những giá trị văn hóa tinh thần

Dưới thời Nguyễn, các ngành khoa học xã hội nhân văn rất phát triển, đạt nhiều thành tựu đáng chú ý là các ngành văn học, địa dư học, lịch pháp, pháp luật, y học, lịch sử… Dòng văn học chữ Hán không còn chiếm ưu thế như trước nữa ngược lại dòng văn học chữ Nôm lại phát triển mạnh mẽ, ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn Xuất hiện các tác phẩm văn học nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của những tác giả tiêu biểu đó là: Truyện Kiều của Nguyễn Du, các bài thơ nôm của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,… Đáng nói là ngay cả các vị vua triều Nguyễn

Trang 13

10

như: Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức cũng tham gia sáng tác văn học Văn học dân gian phát triển mạnh và phổ biến trong nhân dân Thời Nguyễn cũng là thời có nhiều tác phẩm địa lý học và địa lý lịch sử lớn được biên soạn và ấn hành như:

Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Gia Định Thành Thông Chí… Nhà Nguyễn

bấy giờ cũng đã quan tâm đến việc soạn lịch, chủ động học hỏi kinh nghiệm làm lịch của người phương Tây

Dù tôn sùng Nho giáo nhưng nhà Nguyễn cũng đề cao tư tưởng pháp trị và coi

đó là công cụ để duy trì trật tự xã hội, nhiều bộ luật được biên soạn như: Hoàng Triều luật lệ hay còn gọi là luật Gia Long do Nguyễn Văn Thành chủ biên Đây được đánh giá là bộ luật lớn nhất và hoàn chỉnh nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam

Sử học dưới triều Nguyễn đặc biệt được quan tâm, đây được xem là ngành văn hóa phát triển nhất dưới thời Nguyễn Nhờ nhận thức được tầm quan trọng của lịch

sử, nên ngay khi chính quyền mới thành lập, triều Nguyễn đã chú ý ngay tới việc

làm sử và xem “sử học là vũ khí văn hóa quan trọng góp phần ổn định và củng cố

lòng người sau một thời kỳ nội chiến kéo dài, để trên cơ sở đó củng cố vai trò và uy thế của dòng họ” Năm 1820, Quốc sử quán được thành lập chuyên sưu tầm, biên

soạn, lưu trữ sử sách, các vua triều Nguyễn chăm lo xây dựng sử quán và đặt vấn đề biên soạn quốc sử lên hàng đầu Nhiều tác phẩm sử học chính thống của vương triều

lần lượt ra đời như: Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Việt sử

thông giám cương mục, Đại Nam Hội điển sự lệ,… Những thành tựu sử học mà

triều Nguyễn đạt được đã phần nào thể hiện thái độ trân trọng quá khứ của các vị vua triều Nguyễn, cũng như ý thức gìn giữ những giá trị văn hiến dân tộc của triều đại này

Nếu không nói đến những mặt tiêu cực còn tồn tại, thì những di sản văn hóa

mà triều Nguyễn để lại là cả một kho tàng đồ sộ, đáng để tự hào và gìn giữ Chính những cố gắng đáng ghi nhận trong các chính sách văn hóa của triều Nguyễn, đã tạo nên sự chuyển biến tích cực và sự khởi sắc thực sự cho nền văn hóa dân tộc

- Về xã hội:

Trang 14

11

Dựa vào sức mạnh quân sự của người Pháp và sự ủng hộ của giai cấp địa chủ, Nguyễn Ánh đã lật đổ vương triều Tây Sơn và lập nên nhà Nguyễn Nhà Nguyễn ra đời vào đúng thời điểm mà chế độ phong kiến Việt Nam đang suy tàn, triều đại Tây Sơn được nhân dân hết lòng ca tụng lại bị chính Nguyễn Ánh lật đổ Có lẽ chính vì vậy, mà ngay từ khi mới ra đời, triều Nguyễn đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt từ phía nhân dân, đặc biệt là những người nông dân Trong suốt thời gian tồn tại của mình, nhà Nguyễn đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn và hàng loạt thách thức, mâu thuẫn đặt ra Sau khi lật đổ Tây Sơn, xóa bỏ những cải cách tiến bộ của triều đại này, nhà Nguyễn thực thi những chính sách mới nhằm khôi phục, phát triển kinh

tế và ổn định xã hội nhưng vẫn không giải quyết được sự khủng hoảng của chế độ phong kiến, mặt khác lại làm cho sự phản kháng đối với chế độ của các tầng lớp trong xã hội ngày càng quyết liệt hơn Tất cả việc làm của triều Nguyễn trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội đều bộc lộ những sai lầm, điều đó đã đào sâu cái

hố ngăn cách giữa triều đình với nhân dân Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt mà đỉnh điểm là mâu thuẫn giữa một bên là triều đình phong kiến Nguyễn và một bên

là nhân dân lao động

Việc nhà Nguyễn tăng cường bộ máy đàn áp và thi hành những chính sách bóc lột nặng nề đối với nhân dân lao động đã khiến cuộc sống của người nông dân rơi vào cảnh khốn cùng: ruộng đất ngày càng bị thu hẹp, thiên tai, mất mùa…Các cuộc khởi nghĩa của nông dân không ngừng nổ ra và phát triển rầm rộ trên khắp cả nước, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành, Cao Bá Quát…nhưng chỉ kéo dài được một thời gian thì bị đàn áp Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân dù bị đàn áp tàn khốc nhưng đã làm lung lay nghiêm trọng nền thống trị của nhà Nguyễn

Như vậy, mặc dù ra sức khôi phục quyền thống trị, củng cố sự ổn định của xã hội nhưng với những chính sách lạc hậu về kinh tế, bảo thủ về chính trị - xã hội, cùng với đó trong một bối cảnh mà chế độ phong kiến đã mục rỗng, suy tàn thì những cố gắng của triều đình nhà Nguyễn vẫn không tạo được sự đột phá nào lớn

để thay đổi tình hình

1.2 Tổng quan về làng xã ba tỉnh Thừa Thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi, dưới triều Nguyễn ( 1802- 1883)

Trang 15

12

1.2.1 Tổng quát về điều kiện tự nhiên ba tỉnh Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi

- Thừa Thiên Huế:

Nằm ở toạ độ địa lý: 107o31’45 - 107o38' kinh Ðông và 16o30'45 - 16o24'

vĩ Bắc Thừa Thiên Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú và diện mạo riêng tạo nên một không gian hấp dẫn, được xây dựng trong không gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An - Vọng Cảnh, Thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông, hồ Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyền thống đặc sắc với du lịch mà không một Thành phố, địa danh nào ở nước ta có được và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia Huế nằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha - Kẻ Bàng) và gần với các Thành phố cố đô của các nước trong khu vực

Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta

Hệ thống thuỷ văn ở Thừa Thiên Huế hết sức phức tạp và độc đáo Tính phức tạp và độc đảo thể hiện ở chỗ hầu hết các con sông đan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: sông Ô Lâu - phá Tam Giang - sông Hương - sông Lợi Nông

- sông Đại Giang - sông Hà Tạ - sông Cống Quan - sông Truồi- sông Nong - đầm Cầu Hai Tính độc đáo của hệ thống thuỷ văn Thừa Thiên Huế còn thể hiện ở chỗ nơi hội tụ của hầu hết các con sông trước khi ra biển là một vực nước lớn, kéo dài gần 70 cây số dọc bờ biển, có diện tích lớn nhất Đông Nam Á (trừ sông A Sáp chạy

về phía Tây, và sông Bu Lu chảy trực tiếp ra biển qua cửa Cảnh Dương) Đó là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đầm phá tiêu biểu nhất trong 12 vực nước cùng loại ven bờ biển Việt Nam và là một trong những đầm phá lớn nhất thế giới Mạng lưới sông - đầm phá đó còn liên kết với rất nhiều trằm, bàu tự nhiên, có tên và không tên, với các hồ, đập nhân tạo lớn, nhỏ Tổng diện tích mặt nước của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai khoảng 231 km2 và tổng lượng nước mặt do các sông bắt nguồn từ Đông Trường Sơn chảy ra lên tới hơn 9 tỷ mét khối

Trang 16

13

Lãnh thổ Thừa Thiên Huế được chia thành 4 vùng sinh thái: vùng núi, vùng gò đồi, vùng đồng bằng và vùng đầm phá và cồn cát ven biển Các vùng sinh thái này bao gồm nhiều hệ sinh thái tiêu biểu, có giá trị quốc gia và quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi Ba hệ sinh thái có giá trị nhất về đa dạng sinh học là hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đầm phá, và hệ sinh thái biển khu vực Hải Vân - Sơn Chà

- Quảng Nam:

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng

và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Nhiệt độ trung bình năm 20 – 210C, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm Lượng mưa trung bình 2.000 – 2.500 mm nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 –

12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ Quảng Nam có trên 125 km bờ biển Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi, 10 hồ nước (với 6000 ha mặt nước) Có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác

307 km sông (chiếm 32,62%), gồm 11 sông chính Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều

đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà Toàn bộ đường sông đang khai thác vận tải thuỷ của tỉnh Quảng Nam dài 207 km, gồm 11 tuyến: Sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Vu Gia, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Hội An, sông Cổ Cò, sông Duy Vinh, sông Bà Rén, sông Tam

Kỳ và sông An Tân

- Quảng Ngãi:

Trang 17

14

Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Việt Nam Đường bờ biển Quảng Ngãi có chiều dài khoảng 129 km với vùng lãnh hải rộng lớn 11.000 km2 và 6 cửa biển vốn giàu nguồn lực hải sản với nhiều bãi biển đẹp Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp, có xu hướng thấp dần từ tây sang đông với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển, phía tây của tỉnh là sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng, có nơi núi chạy sát biển Khí hậu ở Quảng Ngãi là khí hậu nhiệt đới và gió mùa, nên nhiệt độ cao và ít biến động Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt

độ trung bình 25-26,9°C Khí hậu nơi đây phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, gồm có mùa mưa và mùa nắng Đất đai trong địa bàn tỉnh được chia làm 9 nhóm đất chính với

25 đơn vị đất và 68 đơn vị đất phụ Các nhóm đất chính là cồn cát, đất cát ven biển, đất mặn, đất phù sa, đất giây, đất xám, đất đỏ vàng, đất đen, đất nứt nẻ, đất xói mòn trơ trọi đá Trong đó, nhóm đất xám có vị trí quan trọng với hơn 74,65% diện tích đất tự nhiên, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và nhóm đất phù sa thuộc hạ lưu các sông chiếm 19,3% diện tích đất tự nhiên, thích hợp với trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu… Đất Quảng Ngãi có thành phần cơ giới nhẹ, hơi chặt, thích hợp với trồng mía và các cây công nghiệp ngắn ngày

1.2.2 Thành phần dân cư vùng ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi

- Thừa Thiên Huế:

Do ảnh hưởng của địa hình, đại bộ phận dân cư của tỉnh Thừa Thiên Huế phân

bố không đều: phía đông mật độ dân số trung bình trên 250 người/km2, phía tây thưa dân (A Lưới, Nam Đông) mật độ dân số trung bình dưới 40 người/km2 Miền núi là địa bàn cư trú của đồng bào thiểu số, người Kinh phần lớn cư trú ở đồng bằng

Sự phân hoá của địa hình đã tạo nên nhiều vùng tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển nhiều ngành kinh tế khác nhau như: sản xuất nông nghiệp trồng trọt được cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc lớn, phát triển thủy sản…phát triển lâm nghiệp, giao thông vận tải nhiều loại hình, phát triển du lịch sinh thái…

Trang 18

Cuối thế kỷ XIV, Phạm Nhữ Dật (Dựt), con trai thứ năm của danh tướng Phạm Ngũ Lão đã được triều Trần cử vào trấn nhậm vùng Quế Sơn, Quảng Nam Gia phả tộc Phạm ở xứ Đồng Tràm, xã Quế Phú còn ghi rõ sự kiện này Thời nhà

Hồ, sau khi lấy được Chiêm Động, Cổ Luỹ, Hồ Hán Thương cho di dân vào vùng đất mới để khai phá Đây là đợt di dân quy mô, bài bản, nhưng do sự sụp đổ của nhà

Hồ quá sớm, đã làm ngưng trệ, thậm chí phá sản Thời Hậu Lê, sau khi thành lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam, vua Lê Thánh Tông đã bố trí các tướng lĩnh, chiến binh ở lại trấn giữ, đồng thời cho di dân vùng Thanh Hoá, Nghệ An vào khẩn hoang, lập ấp Trong thời Lê-Mạc, Đô tướng Bùi Tá Hán (1490-1568) đã tổ chức khai phá vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi hết sức cơ bản Tuy nhiên phải đến thời các chúa Nguyễn, việc khai phá vùng đất Quảng Nam của lưu dân người Việt mới

ổn định và phát triển, thu hút sụ chú ý và tham gia tích cực của nhân dân Đàng Ngoài trong các đợt di dân được tở chức quy củ hơn

Quá trình Nam tiến cũng là quá trình cộng cư giữa người Việt mới đến với người Chăm bản địa diễn ra từ từ và không phải lúc nào cũng ôn hoà Nhiều giai đoạn đấu tranh gay go, phức tạp Nhưng cuối cùng, nhờ cách quản lý xã hội mang nặng đức hoá của người Việt đã thực sự thu phục người Chăm Điều này dễ dàng nhận thấy qua một số tộc họ có nguồn gốc Chăm như Ông, Ma, Chà, Chế trên đất Quảng Nam nói riêng và Nam Trung bộ nói chung, đã Việt hoá hoàn toàn Tuy nhiên, văn hoá Chăm vẫn được người Việt tôn trọng và tiếp biến một cách hiệu quả Bằng chứng là các đền tháp Chăm trên đất Quảng Nam đã tồn tại sau nhiều thế kỷ vẫn còn nguyên vẹn Về sau do bom đạn của thực dân, đế quốc đã tàn phá nặng nề

Trang 19

n họ trước đây đều không có chữ viết

- Quảng Ngãi:

DÂN SỐ QUẢNG NGÃI QUA CÁC THỜI KỲ

1769 18.072 (số đinh) Phủ biên tạp lục

Đời Gia Long 15.400 (số đinh) Đại Nam nhất thống chí

1885-1889 21.788 (số đinh) Đồng Khánh địa dư chí

1890 25.766 (số đinh) Phương Đình địa dư toàn biên

1906 khoảng 300.00 An Nam năm 1906

1975 758.500 Quảng Ngãi, đất nước – con người – văn hóa

1989 1.041.900 Quảng Ngãi, 10 năm đổi mới

2000 1.216.592 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

2001 1.230.476 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

2002 1.244.814 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

2003 1.257.972 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

2004 1.271.370 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

Trang 20

17

2005 1.285.728 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

2006 1.296.883 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

2007 1.306.307 Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2007

( Nguồn: www.quangngai.gov.vn)

Hiện có hơn 15 dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc Kinh, nhưng tỷ trọng dân tộc Kinh đã giảm liên tục, các dân tộc Hrê, Cor, Xơ đăng, Hoa, Mường, Tày,…có tỷ trọng ngày càng tăng

1.3 Chính sách của triều Nguyễn đối với làng xã ven biển

Dưới thời Nguyễn, khu vực biển đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập từ Bắc chí Nam, tương đương với khu vực biển đảo của chúng ta hiện nay,

đó là vùng biển từ Quảng Yên (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) với các đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa

Biển, đảo dưới thời Nguyễn luôn được xem là một phận lãnh thổ quan trọng của đất nước Triều Nguyễn đã ban hành và thực thi cả một hệ thống chính sách về quân sự, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế… về biển đảo nhằm bảo vệ, khai thác vùng lãnh thổ này

Thứ nhất, triều Nguyễn quan tâm đến việc xây dựng hệ thống phòng thủ ven biển

Ý thức sâu sắc về vị trí chiến lược của biển, đảo đối với vấn đề an ninh quốc

phòng và bảo vệ nhân dân, các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đều quan tâm xây dựng hệ thống phòng thủ quân sự và kiểm soát an ninh ven biển

Theo Đại Nam nhất thống chí, trong thời Nguyễn đã có hàng chục tòa pháo

đài, đồn bảo, cửa tấn được xây dựng kiên cố dọc theo vùng biển của đất nước bao gồm cả trên bờ và các đảo gần bờ từ Bắc chí Nam.Tại kinh đô Huế, ngoài tuyến phòng thủ từ xa và tuyến phòng thủ trung tâm trên đường bộ, triều Nguyễn còn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng hệ thống đồn lũy, cữa tấn ven biển Năm 1813, vua Gia Long cho xây Trấn Hải thành ở cửa biển Thuận An Đây là một pháo đài quân

sự kiên cố hình tròn, chu vi 285m, cao 6,3m, dày 4m; xung quanh có hào nước sâu bao bộc, ngoài đóng cọc, xây kè và cho trồng 4000 cây dừa để ngăn sóng biển [32,

tr 149] Ngoài pháo đài này là một hệ thống đồn lũy khác bên cạnh cửa Thuận An, gồm đồn Hòa Duân, đồn Côn Sơn, đồn Hạp Châu và đập chắn Thuận An Hệ thống

Trang 21

18

đồn lũy này được bố trí một lực lượng lớn binh lính và các vũ khí mạnh nhất của triều Nguyễn Cuối năm 1861, tại khu vực này có 1.961 binh lính, 308 đại bác các loại (đại pháo, Oanh sơn, Quá sơn, Thần công, Vũ công, Đăng uy, Thần cơ, Chấn uy); đến những năm 1881-1882, số binh lính và vũ khí còn được tăng cường nhiều hơn nữa Ngoài cửa Thuận An, triều Nguyễn còn xho xây dựng hệ thống đồn lũy phòng thủ ở các cửa biển Hải Vân, Chu Mãi (Chu Mây), Cảnh Dương và cửa Từ Hiền để bảo vệ các vùng biển quan trọng thuộc kinh đô

Tại cửa biển Đà Nẵng-Quảng Nam, khu vực được xem là cửa ngõ mặt nam của kinh đô Huế, nơi có cang quốc tế Hội An vốn đã hoạt động từ hàng trăm năm trước, triều Nguyễn cũng đặc biệt chú ý đến việc phòng thủ cửa biển Vua Gia Long quy định việc đón tiếp các đoàn sứ ngoại quốc đến quan hệ với vương triêu bắt buộc phải qua cảng Đà Nẵng Các vua triều Nguyễn kế tiếp sau như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… đều nhất quán thực thi luật định này một cách nghiêm túc

Nhằm tăng cường hiệu quả của hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, vương triều Nguyễn đã tập trung xây dựng một loạt căn cứ quân sự với những thành trì, đồn lũy được bố trí tại mặt Bắc và mặt Nam cảng biển Đà Nẵng Năm 1813, vua Gia Long cho đắp pháo đài Điện Hải bên tả, bảo An Hải ở bên hữu cửa biển Đà Nẵng Số lượng quân lính được phân bố về phòng giữ ở hai pháo đài lúc đầu là 500 người Viên quan đứng đầu ở mỗi thành là Thành thủ úy [44, tr.518] Đến cuối triều Minh Mạng, hệ thống bố phòng với những vũ khí hiện đại đã được xây dựng khá hoàn chỉnh tại các pháo đài trên Năm 1840, sau khi đi thanh tra hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, Nguyễn Công Trứ kiến nghị với triều đình bổ sung tăng cường lực lượng thủy quân cho hai thành Điện Hải và An Hải: Các thuyền hiệu Thụy Long, Phấn Bằng, Thanh Loan mỗi thuyền phải phái thêm 100 thủy binh, 100 súng trường (điếu thương), 10 khẩu đại bác, 15 cây giáo dài Nhà vua không những đồng ý với mọi kiến nghị của ông, mà còn cấp thêm 10 thuyền bọc đồng cho hai thành Điện Hải và

An Hải, đồng thời bổ sung 500 - 600 quân cho lực lượng của tuần phủ Quảng Nam,

để hỗ trợ bảo vệ hai thành trên [44, tr.955] Năm 1823, vua Minh Mạng cho xây dựng pháo đài Định Hải, ở tây bắc Đà Nẵng Pháo đài này có chu vi 25 trượng 3

Trang 22

Sau sự kiện quân Pháp tấn công, bắt 5 chiến thuyền bọc đồng của triều Nguyễn tại Đà Nẵng, vua Thiệu Trị càng Đặc biệt chú ý tới hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, lệnh cho triều thần đặt 7 đồn, bố trí hỏa lực mạnh, thường gọi là "Trấn Dương thất bảo" thuộc vùng biển Quảng Nam

Năm 1857, theo lời tâu của Đào Trí, Tổng đốc Quảng Nam xin lập một đồn (bảo) lớn trên đỉnh núi ở cửa biển Đà Nẵng; vua Tự Đức đã cho xây dựng Đồn Trấn Dưởng đỉnh núi (Sơn Trà), để 20 khẩu đại bác,từ thành An Hải đến Sơn Trà, từ thành Điện Hải đến cửa Thanh khê đều đắp lũy cát, trồng cây gai góc ngăn giữ [44, tr.975]

Phía bắc Đà Nẵng chính là phía nam của kinh đô Huế, cũng là một hướng mà triều Nguyễn thấy cần thiết phải xây dựng vững chắc để hoàn thiện cho hệ thống phòng ngự cảng biển Đà Nẵng Đài Phong Hỏa trên đảo Sơn Trà có nhiệm vụ đốt lữa báo hiệu khi phát hiện ra tàu thuyền của giặc đi vào Đà Nẵng Dưới chân núi phía Nam Hải Vân có đồn Chân Sảng, tiếp theo là pháo đài Định Hải, phía nam pháo đài này là tấn Cu Đê

Triều Nguyễn, ngoài việc tăng cường sức mạnh quân sự, an ninh cho hệ thống cảng biển Đà Nẵng, còn rất quan tâm đến việc cải tiến và tăng cường hiệu quả hoạt động của cảng Đà Nẵng như lập quy chế về kiểm soát tàu thuyền ra vào Đà Nẵng, cải tiến hệ thống thông tin liên lạc…

Hệ thống phòng thủ cảng biển Đà Nẵng được triều Nguyễn đầu tư và xây dựng khá kiên cố, với trang bị vũ khí mạnh đã phát huy tích cực khả năng chặn đánh quân xâm lược Vào năm 1859, quan quân triều đình và nhân dân tại Đà Nẵng

đã chiến đấu anh dũng, ngăn chặn được cuộc tiến công rầm rộ, muốn đánh nhanh thắng nhanh vào kinh hành Huế của liên quân Pháp-Tây Ban Nha do Đô đốc

Trang 23

20

Rigault de Genouilly (tháng 9-1859, Đô đốc Pape sang thay thế) chỉ huy Thắng lợi của cuộc chiến đấu quả cảm này đã khiến quân viễn chinh Pháp bị cầm chân, vây chặt tại Đà Nẵng và hoàn toàn thất bại trong mưu đò lấn chiếm Việt Nam

Ngoài Huế và Đà Nẵng, các địa phương ven biển khác cũng được triều Nguyễn quan tâm xây dựng hệ thống đồn lũy phòng thủ ở các vị trí xung yếu, nhất

là vùng cửa sông, cửa biển Quảng Trị có tấn Việt An, tấn Trùng Luật; Quảng Bình

có tấn Tuần Quảng, Nhật Lệ, Linh Giang, Tấn Ròn, An Náu và Lý Hòa; Hà Tĩnh có bảo Thống Lĩnh, tấn Cửa Nhựng và tấn Cửa Khẩu; Nghệ An có cửa quan Yên Quấc, cửa quan Khả Lưu, cửa quan Lương Trường, các tấn cửa Hội, cửa Xá, cửa Hiền, cửa Cờn, cửa Vạn, cửa Quèn, cửa Thơi, cửa Quy Hợp, Hà Tân, Trại phúc, Cương Gián… tất cả là 21 đồn phòng thủ; tỉnh Thanh Hoá có 13 tấn, 2 bảo và 2 pháo đài Tĩnh Hải, Vinh Trụ; Ninh Bình có 4 tấn; tỉnh Quảng Ngãi có 7 đồn, bảo, tấn, đặc biệt là có đồn phòng thủ trên đảo Lý Sơn, đối diện với cửa tấn Sa Kỳ; tỉnh Khánh Hòa có 9 đồn phòng thủ ven biển, quan trọng nhất là pháo đài Ninh Hải ở vùng biển Nha Trang v.v…

Thứ hai là xây dựng lực lượng hải quân

Trước khi lên ngôi, vua Gia Long - Nguyễn Ánh đã có một thời gian khá dài đối đầu trực tiếp với lực lượng thủy quân của Tây Sơn và đã bị thất bại nhiều lần Bản thân ông trong chiến tranh cũng đã từng phải buôn tẩu đến nhiều nơi thuộc vùng biển phía nam như đảo Thổ Chhu, đảo Hòn Khoai, đảo Phú Quốc… Vì vậy, ông khá am hiểu vùng biển đảo này và nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng một đội thủy quân để bảo vệ đất nước Sau đó, bằng sự nổ lực cá nhân, cộng thêm sự giúp đỡ của các cố vấn Pháp, lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh được tăng cường mạnh hơn trước rất nhiều Vào năm 1783, khi bắt đầu cuộc chiến tranh với quân Tây Sơn, quân đội Nguyễn Ánh chỉ có một chiến thyền tham gia, nhưng chỉ trong vòng không đầy 10 năm, đến năm 1793, số lượng được tăng lên đến 1.200 chiếc thuyền Trong đó, bao gồm: 3 chiếc thuyền đóng theo kiểu châu Âu, 20 chiếc thuyền đóng theo kiểu mành lớn Trung Quốc, nhung được trang bị đầy đủ vũ khí, số còn lại là thuyền chiến và thuyền vận tải Năm 1799, hạm đội tàu của Nguyễn Ánh

Trang 24

Vào năm 1819, J.White, một người Mỹ khi đến Đàng Trong từng nhiều lần đến xưởng đóng tàu của triều vua Gia Long ở cảng Sài Gòn Ông đã ghi lại cảnh quan và ca ngợi kỹ thuật cùng những vật liệu, trang thiết bị dùng trên thuyền chiến trong cơ sở đóng tàu, theo ông, nhưng xưởng này nằm ở đông bắc Sài Gòn, cạnh bờ sông, có thể cạnh tranh với những xưởng tốt nhất ở châu Âu…

Sau khi kế vị, vua Minh Mạng tiếp tục quan tâm phát triển thủy quân, đưa quân đội triều Nguyễn trở thành một lực lượng hùng hậu ở Đông Nam Á Biên chế thủy quân thời Nguyễn được phiên thành các doanh (2500 lính), vệ (500 lính),đội (50 lính) do các chức đo thông, chưởng vệ, suất đội chỉ huy Thời Gia Long thủy quân có khoảng 17.000 người, thời Minh Mạng tăng lên đến 28.600 người Việc bố trí thủy quân cũng tùy thuộc tính chất quan trọng của từng vùng để định số ít nhiều Vua Minh Mạng có ý thức học hỏi, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của phương Tây đương thời Ông chú ý việc cải tiến kỹ thuật đóng thuyền của các nước

để ứng dụng và nâng cao năng lực thuyền chở, chiến đấu cho đội thủy quân triều đình Năm 1822, tức là chỉ 2 năm sau khi lên ngôi, Minh Mạng đã cho mua một chiếc tàu bọc đồng của Pháp đưa về công xưởng tại Kinh đô Huế, để làm mẫu đóng các thuyền khác

Tháng 6 năm 1822 triều Nguyễn sai Thống chế Thủy sư Phan Văn Trường chỉ huy binh lính các vệ Thần Uy, Cơ Chấn Thủy… đóng thuyền kiểu Tây (Pháp), thuyền đóng xong đặt tên là Thụy Long Nhà vua thưởng cho tốp thợ 2.000 quan

tiền Sách Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực cho biết, vào tháng 4 năm Canh Dần

Trang 25

22

(1830),"vua nghe nói ngoại quốc có xe hỏa, tàu thủy và nhiều vật lạ Vua Minh Mạng cũng là người đã đúc rút kinh nghiệm, tìm tòi, sáng tạo ra loại thuyền tuần tiễu trên biển dựa trên việc kết nhũng ưu điểm giữa các loại thuyền đã có của thủy

quân triều Nguyễn Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chép: Nhà vua nhận

thấy: "Trong việc tuần tra lùng bắt giặc biển, từ trước đến nay, đều phái các thuyền thuộc hạng dài, lớn, nên xoay chậm đến nỗi giặc thường chạy thoát Thuyền Ô, Lê lại thấp bé, khi có giặc, mình (chỉ thủy quân triều Nguyễn) không khỏi ở thế thấp đánh cao Nay ra lệnh châm chước giữa 2 thứ ấy đóng riêng một thuyền Tuần dương bọc đồng dài 4 trượng 4 thước 1 tấc, rộng 1 trượng 4 tấc, sâu 7 thước 2 tấc" Quy chế thủy quân cũng được Minh Mạng cải tiến, triều Nguyễn định kích thước và kiểu dáng cho từng hạng thuyền, thống nhất cả nước để các xưởng thuyền

ở Kinh đô cũng như các địa phương theo các quy thức mà tiến hành chế tạo theo mẫu chung Thuyền bọc đồng triều Nguyễn được phân thành 4 hạng khác nhau gồm: Hạng rất lớn, hạng lớn, hạng vừa và hạng nhỏ Trong đó, hậng rất lớn thường được các sách sử ghi là Đại hạng với các chiến thuyền tên gọi là: Bảo Long, Thái Loan, Kim Đỉnh, Linh Phụng, Phấn Bằng Chiến thuyền Bảo Long lớn nhất dài 9 trượng 9 thước, rộng 2 trượng 3 thước, sâu 1 trượng 7 thước

Vua Minh Mạng cũng đặc biệt quan tâm đến việc luyện tập cho hải quân và tăng cường công tác luyện tập khi tuần tra: "Đi tuần phòng ven bể, một là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thiện dòng nước, một là để tập đánh dưới nước, biết

rõ đường bể, khiến cho bọn giặc khi nghe tin không dám gây sự Thế có phải là một việc mà ba điều lợi không” [41, tr.310]

Lực lượng thủy quân dưới thời Minh Mạng được sự quan tâm thích đáng của triều đình, đã trở thành một lực lượng hùng mạnh vớ nhiều loại thuyền chiến và vận tải khác nhau, có thể đáp ứng những yêu cầu phục vụ cho chiến trận cũng như giao thương trân sông nước của triều đình và các địa phương

Đáng tiếc là từ thời Thiệu Trị trở về sau, thủy quân triều Nguyễn ít được quan tâm đầu tư và củng cố nên đã nhanh chóng tụt hậu và không đáp ứng được yêu cầu bảo vệ đất nước Đến thời Tự Đức, sự tụt hậu đó thể hiện rất rõ qua các cuộc giao tranh giữa quân đội triều Nguyễn với quân đội phương Tây

Trang 26

23

Thứ ba là ban hành và thực hiện các chính sách quản thuyền bè, tuần tra, cứu

hộ, cứu nạn và chống hải tặc trên biển

Ý thức rõ vai trò và hoạt động của tàu thuyền trên biển cả về vấn đề quân sự, kinh tế nên triều Nguyễn đã ban hành và thực thi những chính sách chặt chẽ liên quan đến việc đóng tàu thuyền, phân loại các tàu thuyền đi trên biển và quản lý hoạt động của tàu thuyền Hàng năm triều đình đều cho đóng mới một số tàu thuyền, nhất là thuyền lớn Các thuyền này đều theo quy cách do bộ Công ấn định Triều đình cũng định ra quy thức thống nhất cho từng hạng thuyền mà biểu hiện thể chế

rõ nhất là ở tên gọi Từ năm 1809, trừ thuyền ngự của vua, thuyền hải đạo ở các tỉnh, thuyền ván sam dùng ở kinh sư, các hạng thuyền còn lại gồm: thuyền hiệu Ba, hiệu Lăng, hiệu Hải, hiệu Dương, hiệu An, hiệu Tĩnh, thuyền Lê, thuyền Ô, thuyền Châu, thuyền Sai, thuyền Khoái, thuyền Khinh… Để quản lý chặt chẽ hoạt động của tàu thuyền, triều Nguyễn đã ban hành nhiều chỉ dụ, nội dung bao gồm: Tuần hành xem xét tàu qua các cửa biển và ra khơi theo đoàn; quản ký chặt chẽ tàu thuyền ra vào lạch và cửa biển dưới hình thức "nhật ký công tác"; tổ chức tìm kiếm thuyền bị nạn hay niêm phong thuyền khi cần thiết Thời vua Tự Đức, năm 1876, còn cho lập lực lượng tuần dương thuộc nha Tuần hải do Bùi Viện chỉ huy Lực lượng này có quân luật riêng, chia hai nhóm Thanh Đoàn và Thủy Dũng, có nhiệm vụ tuần tiễu, canh phòng mặt biển và chống hải tặc Tuy nhiên năm 1878, sau khi Bùi Viện chết, lực lượng này không còn được duy trì Đối với tàu thuyền nước ngoài, triều Nguyễn quản lý nghiêm ngặt theo tình hình Nếu là thuyền đến buôn bán chính thức, chính quyền địa phương thực hiện đo khám, kiểm tra số người và đói chiếu thuyền bài Đây là việc làm bắt buộc đói với địa phương có thuyền buôn nước ngoài đến buôn bán

Đối với thuyền quá cảnh chờ đến nơi khác, chính quyền địa phương thực hiện

đo khám, cấp phép và thu nạp thuế

Trong trường hợp bất thường, việc xử lý thật dứt khoát trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật và đảm bảo an toàn, an ninh cho quốc gia

Đối với việc giữ gìn an ninh vùng biển và chống hải tặc, triều Nguyễn luôn cố gắng nắm sát tình hình để có biện pháp bảo vệ an ninh hiệu quả Trong thời

Trang 27

Thứ tư là xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quân dảo Hoàng Sa và Trường Sa

Việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quân đảo Hoàng Sa và Trường

Sa đã có từ thời chúa Nguyễn, bằng chứng rõ nhất là việc thành lập đội Hoàng Sa với các nhiệm vụ rõ ràng nhằm khai chiến, xác lập và thực thi chủ quyền trren các vùng quần đảo giữa Biển Đông Tiếp nối và phát huy trên một tầm cao mới truyền thống và kinh nghiệm khai thác và bảo vệ biển đảo từ thời các chúa Nguyễn, vua Gia Long đã đảy mạnh việc thực thi quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa Theo Đại Nam thực lục, ngay sau khi thành lập vương triều Nguyễn, vào năm

1803 vua Gia Long " lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập đội Hoáng Sa" [38, tr.164] Cùng với đội Hoàng Sa, nhà vua cũng cho lập lại đội Bắc Hải vốn đã có từ thời các chúa Đến đây đội Hoàng Sa đã thực

sự trở thành một đơn vị quân đội của nhà Nguyễn dưới sự chỉ huy trực tiếp của Phú Nhuận hầu Võ Văn Phú là người xã An Vinh Năm 1805, ông: "Hạ lệnh cho từ Quảng Bình vào đến Nam Bình Thuận đều ghi số thuyền, số người các đội Trường

Đà đề tâu lên (Quân Trường Đà trước có các đội công sai là Kỵ Hải, Mã Hải, Chẳng hạn Lệnh truyền ngày 4/5 năm Gia Long thứ 4 (1805) ghi: "Công đường

Trang 28

25

quan các doanh Quảng Đức, Quảng Nam, và Quảng Ngãi được rõ: nay hộ tống 17 phu thuyền người Trung Quốc bị gió bão tạt vào Kinh Vậy truyền công đường quan các doanh trấn cấp phát lương ăn hàng ngày và tiền cho họ về nước"

Hoàng Sa (sách chép nhầm là Sa Hoàng), Bắc Hải, Long Yên, Trường Thọ, Đại Lê lấy dân ở ven biển sung vào, Quảng Bình 10 xã thôn phường Cừ Hà, Lý Hoa, Thuận Cô, Cảnh Dương, Lộc Điền, Chi Giáp, An Náu Bắc Biên và An Náu Nam Biên, Nội Hà, Để Võng, có 183 chiếc thuyền, 1427 người; từ Quảng Trị vào Nam đến Bình Thuận có 327 chiếc thuyền, 1604 người) Đổi đội Trường Thọ làm đội Trường Thuận" Như thế có thể biết các đội Hoàng Sa, Bắc Hải thời Gia Long thuộc quân Trường Đà và người của đội Hoàng Sa đều được các nguồn tài liệu ghi chép thống nhất là "quân nhân" (tức là lính của nhà nước) [24, tr.21-23]

Liên tục trong các năm 1815, 1816, vua Gia Long đã sai đội Hoàng Sa "ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển" Một chức năng nữa của dội Hoàng Sa (hay một nhiệm vụ chính của đội Hoàng Sa) trong những năm 1815-1816 là khảo sát, đo đạc, xác định hải trình ở khu vực giữa Biển Đông Việc Vua Gia Long quan tâm sâu sắc đến vị trs và hải trình quần đảo Hoàng Sa thể hiện rõ quyết tâm của Vương triều là kiểm soát và bảo vệ đến cùng biển đảo của đất nước

Đội Hoàng Sa khi mới thành lập chỉ là lực lượng bán quân sự Trong quá trình hoạt động, do yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển đảo mà tổ chức, kỷ luật ngày càng chặt chẽ, chức năng quân sự ngày càng được tăng cường Sang đầu thế kỷ XIX, một mặt chức năng quân sự của đội Hoàng Sa tiếp tục được nâng cao, mặt khác từng bước đã có sự thâm nhập của đội Thủy quân vào trong nội bộ của đội Hoàng Sa, hay ngược lại cũng đã có sự tham gia của người đội Hoàng Sa vào Thủy quân Vào

tháng 3 năm 1816, theo Đại Nam thục lục, vua Gia Long "sai Thủy quân và đội

Hoàng Sa cưỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường biển". Đây là lần đàu tiên sử chép về sự phối hợp giữa đội Hoàng Sa và đội Thủy quân trong một nhiệm vụ chung ở Hoàng Sa Văn khế bán đoạn một phần đất ở phường An Vĩnh đè ngày 12 tháng 3 năm Gia Long thứ 15 (1816) còn lưu giữ được ở nhà ông Nguyễn Quang

Kế thuộc thôn Tây, xã Lý Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi không chỉ minh chứng mà còn cung cấp thông tin cụ thể để hiểu rõ hơn về sự kiện này: "Nay bản xã

Trang 29

26

thừa lệnh quy tập đội Hoàng Sa tới Kinh đô nhận tờ sai để thi hành công vụ, cần dùng đến lễ và xin cho Thủy quân quy vào đội Hoàng Sa cũng cần đến sự quyên góp cho binh lính trong xã…"

Trong lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, năm 1816

là năm có ý nghĩa hết sức đặc biệt Đây là thời điểm mà vua Gia Long đã thi hành các biện pháp rất quyết liệt để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Vương triều Nguyễn ở Hoàng Sa và Trường Sa, cho nên ông không thể không đưa lưc lượng Dẫn theo Nguyễn Quang Ngọc, " Cách thức thực thi chủ quyền độc đáo của Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông trong các thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX

Thủy quân hùng mạnh của mình trực tiếp quản lý và bảo vệ chủ quyền ở các quần đảo giữa Biển Đông Đến đây chức năng bảo vệ biển đảo bắt đầu chuyển dần

từ đội Hoàng Sa sang đội Thủy quân Vua Minh Mạng đã cho triển khai hàng loạt các hình thức và biện pháp thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa như vãng thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ để lưu dấu nghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Lực lượng mà ông đưa ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa và Trường Sa bao gồm các đội Thủy quân, Vệ giám thành, Biền binh, binh đinh và dân phu Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa, Trường

Sa đều phải có quyết định của triều đình dưới hình thức "tờ sai để thi hành công vụ"

và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho tàu ra khơi hay tạm dừng vì bão gió Sau khi kết thúc công việc họ phải chạy thẳng về Huế để báo cáo tình hình, khai nộp hóa vật, hải vật Nhà vua thông qua Bộ Công để kiểm tra đánh giá và tùy mức độ đóng góp hay vi phạm mà luận công hay định tội, thưởng phạt công minh Cũng bắt đầu từ thời Minh Mạng tên các nguồn tư liệu chính thức của nhà nước không còn thấy chép đến đội Hoàng Sa nữa, mà vai trò và chức năng của đội Hoàng Sa đã được chuyển hẳn cho đội Thủy quân Tuy nhiên khi đi sâu nghiên cứu các nguồn tư liệu cụ thể và nhất là nguồn tư liệu thực địa tại quê hương đội Hoàng Sa thì chúng ta vẫn có thể hình dung ra hình bóng của đội Hoàng Sa vẫn còn

Trang 30

và tương đối chặt chẽ, từ xây dựng hệ thống bản đồ, lập bia cắm mốc đến thường xuyên cử đội thuyền ra các đảo hay thực hiện việc cứu hộ các tàu buôn nước ngoài… Tất cả những điều đó đã minh chứng triều Nguyễn là chủ nhân thực sự cử một vùng rộng lớn trên Biển Đông, bao gồm các đảo gần bờ và hai quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa

Triều Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam, cũng là triều đại

có công lao to lớn trong việc xác lập và thực thi chủ quyền của người Việt trên toàn

bộ vùng biển đảo và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Nghiên cứu hệ thống chính sách của triều Nguyễn đối với biển đảo và những kết quả của nó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc ban hành và thực thi các chính sách về biển đảo của nhà nước Việt Nam hiện nay

Trang 31

28

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN THỪA THIÊN HUẾ -

QUẢNG NAM - QUẢNG NGÃI VỚI VIỆC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ BIỂN

ĐẢO DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1883)

2.2 Khai thác các tài nguyên từ biển

2.1.1 Khai thác đánh bắt cá

Cuộc sống gắn bó và nuôi sống ngư dân ven biển ba tỉnh Thừa thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi là khai thác đánh bắt cá Với dụng cụ và thuyền bè còn thô sơ cũng như điền kiện tự nhiên và khí hậu vùng này rất khắc nghiệt; nắng gió, giông bão thường xuyên, thiếu nước ngọt, nhiều đảo không có cây nên đã làm người ngư dân gặp không ít khó khăn Ngư dân cũng thực hiện khai thác ở quần đảo Trường

Sa, bởi đó không chỉ đóng vị trí quân sự chiến lược án ngữ phía Đông Nam nước

ta, bảo vệ vùng biển và hải đảo ven bờ, mà còn là một vùng có trữ lượng cá, tôm nhiều loại cũng như lượng phốt phát khá lớn, có nhiều loại động thực vật và có nhiều dầu Đối với Việt Nam, từ các triều đại quân chủ phong kiến biển đảo không chỉ là đối tượng khai thác các nguồn lợi về kinh tế (đánh bắt hải sản và các sản phẩm từ biển, giao thương mậu dịch) mà còn giữ vị trí chiến lược về quân sự quan trọng, đảm bảo an ninh quốc gia Chính vì vậy, bảo vệ và khai thác lợi thế của biển đảo đã trở thành đường lối nhất quán xuyên suốt qua lịch sử dân tộc Ngư dân vừa đóng vai trò khai thác nguồn lợi từ biển vừa phối hợp với quân đội triều đình thực hiện nhiệm vụ chính là vừa kiểm soát và bảo vệ trên biển Đông, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, nên hoạt động của ngư dân bắt

đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về Theo Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ

Thư hay Toản Tập An Nam Lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về; và

theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn thì thường đi vào tháng giêng âm lịch đến

tháng 8 về (nếu lương thực mang đi có 6 tháng, chép tháng giêng là nhầm).Từ tháng

3 đến tháng 8 âm lịch (tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) ở Quảng Ngãi

là mùa khô, có gió Tây Nam rất thuận lợi cho việc đi biển, nhất là vùng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9 dương lịch đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch Như thế việc chọn thời

Trang 32

đủ lực lượng tự mình đi khắp nơi song lại kiêm quản các đội khác nên phạm vi hoạt động của các đội rất rộng, khắp các đảo trên Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung, từ phía tây nam đảo Hải Nam xuống tới vùng Trường Sa Phủ Biên Tạp Lục cũng chép rất rõ những hoạt động của ngư dân cũng như đội Hoàng

Sa ở phía Bắc, năm thứ 18 (1753) niên hiệu Càn Long có 10 lính Hoàng Sa bị bão trôi dạt vào cảng Thanh Lan của Trung Quốc Viên quan địa phương tra xét rõ nguyên nhân xong liền cho thuyền áp chở những người lính Hoàng Sa trở về nguyên quán Điều này chứng tỏ từ xưa chính quyền Trung Quốc vẫn luôn tôn trọng quyền hành xử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa Chính quyền phong kiến Trung Quốc đã không hề có phản ứng nào về những hoạt động của đội Hoàng Sa

mà còn Ngư dân sử dụng một loại thuyền buồm nhẹ và nhanh nên dễ dàng né tránh các đá san hô cũng như dễ dàng cập được vào bờ các đảo san hô như ở Hoàng Sa và cũng thích hợp với hoàn cảnh của dân chài vùng biển Sa Kỳ, Cù lao Ré giúp đỡ những người lính Hoàng Sa khi họ gặp bão trôi dạt vào đất Trung Quốc

Bắt đầu từ tháng ba âm lịch đi từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa

là 3 ngày 3 đêm Riêng Đại Nam Nhất Thống Chí ghi 3, 4 ngày đêm Thời gian trên

đều là thời gian thực tế đối với loại thuyền buồm nhẹ chạy nhanh khởi hành từ đất liền hay cù lao Ré đến đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa Dĩ nhiên trong suốt 6 tháng hoạt động, đội Hoàng Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, suốt các đảo từ phía Bắc Riêng các hòn đảo xa phía Nam, ở cuối quần đảo Trường Sa hiện nay là Côn Đảo, Hà Tiên thì đã có đội Bắc Hải phụ trách và cũng lệ thuộc vào đội Hoàng Sa Đội Hoàng Sa còn được giao nhiệm vụ kiêm quản đội Bắc Hải, một tổ chức được lập ra để thực thi nhiệm vụ trên khu vực quần đảo Trường Sa Đội Bắc Hải được thành lập sau đội Hoàng Sa vào khoảng trước năm 1776 Địa bàn hoạt động của đội

Trang 33

30

Bắc Hải chủ yếu là ở khu vực quần đảo Trường Sa, khu vực biển Côn Sơn, Hà Tiên

Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2, của Lê Quý Đôn đã ghi chép về đội Bắc Hải như sau:

“Họ Nguyễn còn thiết lập đội Bắc Hải Đội này không định trước bao nhiêu suất Hoặc chọn người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm nhiệm vụ” “Những người được

bổ sung vào đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt, như tiền đi qua đồn tuần, qua đò” “Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, Cù lao Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi mồi, hải ba, đồn ngư (cá heo lớn), lục quý ngư, hải sâm” Việc lập thêm nhiều hải đội có nhiệm vụ như đội Hoàng Sa hoạt động trên các địa bàn khác cho thấy triều đình nhà Nguyễn ngày càng phát hiện ra thêm nhiều đảo san hô trên một khu vực hết sức rộng lớn của Biển Đông Như vậy, người dân ven biển đã thực hiện khai thác đánh bắt cá song song với hoạt động bảo vệ biển đảo Đó cũng chính là những nguồn sống cho ngư dân bám biển, khai thác hết nguồn lợi mà từ biển mang lại

2.1.2 Thu lượm các sản vật từ biển

Nguời dân ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi có hoạt động đó là thu lượm các sản vật từ các tàu đắm các hải sản quý từ vùng biển quần đảo Hoàng

Sa và quần đảo Trường Sa Ngoài ra, về sau còn đảm trách đi xem xét, đo đạc thủy trình vùng Hoàng Sa Trong sách Phủ Biên tạp lục (Quyển II), Lê Quý Đôn đã khảo

tả khá cụ thể về hoạt động chính của đội Hoàng Sa nơi mà tập trung chủ yếu những

ngư dân ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Quảng Ngãi : “ cắt phiên mỗi

năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiến, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo,

Trang 34

31

đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ

ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về” [14, tr.98]

Còn trong công việc khai thác tài nguyên, người dân đã thu lượm nhiều hải vật quý

lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng có châu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai châu song vỏ

ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng để dát các đồ dùng; có con đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn) Những hải sản quý trên tuy cũng có nộp cho nhà vua theo quy định, song vẫn cho đội Hoàng Sa bán, thường thì bán cho thị trường Hội

An - nơi tiêu thụ nhiều và có giá hơn

Quan trọng hơn là các hàng hóa thu được từ các tàu đắm, và thu được phần nhiều là

vàng bạc, tiền tệ, súng ống Phủ Biên Tạp Lục thì ghi:” “những đồ hải vật như

gươm và ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ” [14.tr.134]

Lê Quý Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hóa trong Phủ Biên Tạp Lục có cho biết,

trong sổ biên của cai đội Thuyên Đức Hầu, người chỉ huy đội Hoàng Sa trong nhiều năm, đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa cụ thể như sau:

- Năm Nhâm Ngọ (1702), đội Hoàng Sa lượm được 30 thoi bạc

- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được 5100 cân thiếc

- Năm Ất Dậu, lượm được 126 thoi bạc

Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng

Chắc chắn trong thời còn chiến tranh, súng đạn thu được ở các tàu đắm ở Hoàng Sa

là rất quý giá Việc đi biển xa (viễn dương) khiến các thành viên đội Hoàng Sa rất

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w