Có một vị trí rất quan trọng trong ngôn ngữ và giao tiếp nên khi nghiên cứu về từ xưng hô sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về danh từ, đại từ cách sử dụng từ xưng hô nhằm điều chỉnh trong g
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
- -
CAO THỊ MAI HƯƠNG
Từ xưng hô trong một số truyện ngắn của
Nguyễn Công Hoan
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ bao đời nay người Việt vốn rất coi trọng việc xưng hô trong giao tiếp Lựa chọn từ xưng hô đúng mực đó là truyền thống văn hóa trong việc thể hiện thái độ, quan hệ, tình cảm, vị trí của người nói đối với người nghe Trong ngôn ngữ tiếng Việt, hệ thống từ xưng hô rất đa dạng và phong phú trong đó
có danh từ, danh ngữ và các đại từ xưng hô Có một vị trí rất quan trọng trong ngôn ngữ và giao tiếp nên khi nghiên cứu về từ xưng hô sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về danh từ, đại từ cách sử dụng từ xưng hô nhằm điều chỉnh trong giao tiếp sao cho phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng và mục đích nói năng ứng
Trong thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan cũng như tác phẩm của ông, nhưng cho tới nay tôi vẫn chưa tìm thấy công trình cụ thể nào nghiên cứu về từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Với mong muốn hiểu rõ hơn vị trí, giá trị của từ xưng hô trong ngôn ngữ truyện
ngắn nên tôi đã mạnh dạn đi vào khảo sát Từ xưng hô trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
2 Lịch sử vấn đề
Trang 3Xưng hô từ lâu đã là một vấn đề thú vị và được bàn đến khá nhiều trong giới ngôn ngữ Việc nghiên cứu từ xưng hô và cách xưng hô trong tiếng Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như: Lê Biên, Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Hữu Quỳnh, Đỗ Thị Kim Liên, Đỗ Hữu Châu…
Hàng loạt các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề xưng hô như:
Đỗ Hữu Châu với Đại cương ngôn ngữ học – tập 2, Nguyễn Đức Thắng với bài viết Về giới và ngôi ở những từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt, Đỗ Thị Kim Liên với Giáo trình ngữ dụng học
Một số bài viết và công trình nghiên cứu cũng đã khảo sát việc xưng hô
tiếng Việt như: Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Việt (Bùi Minh Yến), Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt (Bùi Minh Yến), Xưng hô trong tiếng Việt (Hồng Huy), Các biểu hiện của lịch sự chuẩn mực trong xưng hô (Vũ Tiến Dũng), Cách xưng hô trong tiếng Việt (Phan Thâm), Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt (Trương Thị Diễm), Nét nghĩa chỉ quan hệ của danh từ thân tộc trong tiếng Việt (Nguyễn Thị Ly Kha) …
Tác giả Đỗ Hữu Châu coi từ xưng hô là một phương thức chiếu vật
“phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi bao gồm những phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xứng) vào diễn ngôn” [8, tr.73] Qua đó tác
giả đã đưa ra những nhân tố chi phối việc dùng các từ xưng hô trong giao tiếp, chú ý đến chức năng chiếu vật của các từ xưng hô
Với việc tìm hiểu từ xưng hô, nhiều bài viết đã khảo sát thực tế xưng
hô của người Việt thông qua những hoàn cảnh, những mối quan hệ khác nhau… và tìm ra những đặc trưng của chúng Mai Thị Kiều Phượng nghiên
cứu về Từ xưng hô và cách xưng hô trong câu hỏi mua bán bằng tiếng Việt Bài viết cho rằng “Hành vi ngôn ngữ xưng hô phải được cộng đồng chấp
Trang 4nhận và có những quy ước nhất định phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, mối quan hệ cá nhân, truyền thống văn hóa …” [18, tr.15]
Tác giả Lê Biên trong cuốn: Từ loại tiếng Việt hiện đại có phần viết về
đại từ xưng hô, theo tác giả: Những đại từ xưng hô trong tiếng Việt có thể chia làm hai lớp (xưng hô gốc và đại từ hóa) Lớp đại từ hóa lại chia thành
nhiều nhóm khác nhau
Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung với cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tập1 có phần viết về đại từ xưng hô Các tác giả này chia đại từ xưng hô thành
2 nhóm: Đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định và đại từ xưng hô dùng ở
nhiều ngôi linh hoạt “Đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi trong ý nghĩa của đại từ Vì vậy có thể phân biệt đại từ dùng ở một ngôi xác định và đại từ có thể dùng ở nhiều ngôi khác nhau” [2, tr.111]
Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (2009) đã đề cập đến
vấn đề từ xưng hô, khi bàn về nhân xưng từ tiếng Việt đã chú ý đến lớp nhân xưng từ đích thực, phân biệt với các lớp từ khác được dùng làm nhân xưng từ
Cụ thể ông đề cập đến các lớp từ sau: Nhân xưng từ đích thực; Danh từ chỉ quan hệ thân tộc; Danh từ chỉ chức vị; Một số từ, tổ hợp từ khác
Bùi Minh Toán trong Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt 2007 Hà Nội: NXBĐHSP cho rằng: Các đại từ xưng hô, người nói tự xưng (tôi, tao, chúng
ta, chúng mình, chúng tớ), người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi,…) hoặc chỉ người được nói tới (nó, hắn, thị, y, chúng, nó) Ngoài ra, trong tiếng Việt, nhiều danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ xưng hô: Ông,
bà, anh, chị, em, cháu,…(dùng rộng trong giao tiếp xã hội) Bùi Minh Toán cũng nhấn mạnh việc dùng đại từ và nhất là đại từ xưng hô, người Việt rất chú
ý đến việc bày tỏ thái độ, tình cảm của mình đối với người khác Đó cũng là một trong những sắc thái riêng của đại từ xưng hô trong tiếng Việt
Trang 5Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt 2004 Hà Nội: NXBGD cho rằng: “Bên cạnh các đại từ nhân xưng (tôi, tao, mày, nó, hắn,…) trong tiếng Việt còn dùng những từ chỉ quan hệ gia đình huyết tộc (ông, bà, cha, mẹ, con, cháu) để xưng hô” Đinh Trọng Lạc chú trọng phân tích sắc thái
biểu cảm của hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt Ông cũng nhấn mạnh một
số điểm cần lưu ý là: “Các đại từ nhân xưng của tiếng Việt không có sắc thái trung tính như trong tiếng Pháp, Nga, Hán…” Ông cũng miêu tả cách sử
dụng các từ xưng hô và đại từ nhân xưng trong một số tình huống thân mật, tình huống xã giao và tình huống thông báo khách quan
Trong cuốn Ngữ nghĩa lời hội thoại, Đỗ Thị Kim Liên cũng đã đánh
giá từ xưng hô có vai trò quan trọng trong hội thoại, đã xác định các nhân tố chi phối từ xưng hô và những biểu hiện của từ xưng hô
Nói chung, nội dung của các công trình nghiên cứu về từ xưng hô là rất
đa dạng ở mọi khía cạnh trong giao tiếp người Việt Điểm qua một số công trình trên, chúng tôi thấy xưng hô được nghiên cứu dưới những góc nhìn khác nhau trong đời sống Tuy nhiên,theo khảo sát ban đầu của chúng tôi thì các từ dùng để xưng hô trong một tác phẩm chưa được đề cập nhiều, đặc biệt là hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các từ xưng hô trong các tác phẩm của các tác giả Kế thừa thành quả các công trình của những nhà nghiên cứu trước đây, chúng tôi hi vọng luận văn này sẽ có hướng đi mới trong việc tìm hiểu từ xưng hô của người Việt nói chung và các tác phẩm văn học nói riêng
Xung quanh Nguyễn Công Hoan đã có nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá về con người cũng như tác phẩm của ông, nhưng ít có công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và cụ thể hơn là từ xưng hô trong truyện ngắn của ông Một số công trình ít nhiều đề cập đến ngôn ngữ trong tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan: Kĩ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và
Trang 6Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (Lê Thị Đức Hạnh), Chất hài trong câu văn của Nguyễn Công Hoan, Lời văn song điệu trong truyện ngắn của Nguyến Công Hoan, Kịch hóa trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ( Nguyễn Thanh Tú) Nhìn chung, các bài viết trên
đã ít nhiều đề cập đến một số khía cạnh về ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các tác giả trên
chúng tôi đã đi vào nghiên cứu Từ xưng hô trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn này chúng tôi tập trung đi vào
nghiên cứu, tìm hiểu Từ xưng hô trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công
Hoan
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát những từ xưng hô trong những đoạn hội thoại giao tiếp giữa các nhân vật được nhà văn thể hiện trong truyện ngắn của mình
Do yêu cầu của đề tài, chúng tôi đi vào tìm hiểu từ xưng hô trong 30
truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan gồm: (Sóng vũ môn, Răng con chó nhà
tư sản, Oẳn tà roằn, Hai thằng khốn nạn, Ngựa người và người ngựa, Thằng
ăn cắp, Báo hiếu trả nghĩa cha, Cụ chánh Bá mất giày, Mất cái ví, Kép Tư Bền, Cái vốn để sinh nhai, Thầy cáu, Thằng ăn cướp, Một tấm gương sáng, Thanh! Dạ, Thế cho nó chừa, Thằng điên, Ngậm cười, Đồng hào có ma, Xuất giá tòng phu, Một tin buồn, Nạn râu, Gánh khoai lang, Quanh cái xác chết, Chị Liền, Cây mít, Bãi cứt trâu, Thằng Giảng với Đảng, Xóm bên sim, Lưu manh)
4 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, luận văn nhằm: Góp phần nghiên cứu từ xưng hô trong ngôn ngữ giao
Trang 7tiếp tiếng Việt Nghiên cứu từ xưng hô để thấy được đặc điểm ngôn ngữ và giá trị sử dụng của chúng trong các truyện ngắn Đồng thời thông qua việc nghiên cứu đưa ra một bức tranh chung về từ xưng hô, cách xưng hô của các vai xưng hô, nhân vật giao tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Từ đó phần nào hiểu thêm về văn hóa xưng hô của người Việt
Luận văn cũng nhằm góp phần tìm hiểu những đóng góp của Nguyễn Công Hoan cho nền văn học Việt Nam Đồng thời, giúp cho người học, người yêu thích văn của ông có thêm cách tiếp cận mới trong việc tìm hiểu tác phẩm Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần trong việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm văn học của Nguyễn Công Hoan tốt hơn trong các trường trung học
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
Chương I: Những giới thuyết liên quan đến đề tài
ChươngII: Khảo sát từ xưng hô trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
ChươngIII: Giá trị biểu đạt của từ xưng hô trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
Trang 8NỘI DUNG
CHƯƠNG I NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Hoạt động giao tiếp
1.1.1 Khái niệm ngữ cảnh giao tiếp
Nghiên cứu từ xưng hô không thể đặt ngoài quá trình giao tiếp Theo
Đỗ Hữu Châu, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ đáng chú ý là sự có mặt của các nhân tố giao tiếp sau: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Trong khuôn khổ phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ xin trình bày nhân tố ngữ cảnh giao tiếp
Ngữ cảnh giao tiếp là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn Nó là một tổng thể của những hợp phần như: nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn (hoàn cảnh giao tiếp) Đỗ
Hữu Châu đã từng định nghĩa; “Ngữ cảnh là tập hợp các nhân tố giao tiếp: Nhân vật giao tiếp (người nói, người nghe), hiện thực được nói tới, hoàn cảnh giao tiếp” Thật vậy, trong giao tiếp yếu tố ngữ cảnh đóng vai trò cực kì quan
trọng Ngữ cảnh giúp hiểu đúng đích tại lời của người nói và giúp cho việc sử dụng từ, câu thể hiện hiệu quả khi tạo lập văn bản Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu cụ thể nhân tố này trong việc ảnh hưởng đến việc lựa chọn các từ dùng
để xưng hô trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan
1.1.1.1 Nhân vật giao tiếp
“Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó
mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ.” [8,tr.15]
Trang 9Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, nó
có thể thúc đẩy hoặc tự kết thúc cuộc thoại do đó nó chính là linh hồn của cuộc thoại
Trong giao tiếp, các nhân vật tham gia giao tiếp có sự khác nhau về lứa tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa vị xã hội và tâm lí cũng khác nhau Hơn nữa, các phương tiện xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú và mang màu sắc biểu cảm Việc lựa chọn các phương tiện xưng hô sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp không chỉ thể hiện mối quan hệ, mà còn thể hiện
“chuẩn mực lịch sự trong giao tiếp của người Việt”
1.1.1.2 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố chủ đạo chi phối hoạt động giao tiếp của con người Đó là thế giới thực tại với tất cả những nhân
tố xã hội - ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, như: hiểu biết về thế giới xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử, phong tục, tập quán, trình độ học vấn, kinh nghiệm xã hội, thói quen sử dụng ngôn ngữ, phạm vi giao tiếp (công sở, gia đình, ngoài xã hội, trong các vùng lãnh thổ riêng ), đề tài, chủ đề hay hình thức giao tiếp
Trong phạm vi đề tài, xin thu hẹp lại hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: nói ở đâu, trong trình trạng tâm lí như thế nào, mối quan hệ thân mật hay xã giao, nghiêm túc hay cười cợt…
1.1.2 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là một hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người Vấn đề hội thoại đã được nghiên cứu và được đặc biệt quan tâm trong ngữ dụng học Xoay quanh khái niệm “hội thoại”, chúng ta có thể kể đến khái niệm của một số tác giả sau:
Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm “hội thoại” một cách bao quát và rộng
lớn, có thể áp dụng cho nhiều loại hình ngôn ngữ: “Hội thoại là hình thức
Trang 10giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau” [7, tr.201]
Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau”
Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành
vi nhận thức nhằm đi đến một mục đích nhất định”
Tóm lại, hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên căn bản, phổ biến của ngôn ngữ Hội thoại rất quan trọng trong cuộc sống, nhưng là ngôn ngữ, nó vẫn chỉ là một công cụ Cách sử dụng công cụ ấy sẽ góp phần vào kết
quả của các cuộc giao tiếp
1.2 Phạm trù xưng hô
1.2.1 Khái niệm từ xưng hô
Từ xưng hô bao gồm các từ, ngữ, được sử dụng để xưng hô trong giao tiếp Từ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng về chủng loại, linh hoạt và giàu màu sắc biểu cảm trong sử dụng Vì thế, từ xưng hô cần được xem xét trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan hệ trực tiếp giữa những người giao tiếp, trong mối quan hệ trực tiếp giữa những người giao tiếp mới bộc lộ đầy đủ giá
trị thực của chúng
Khái niệm phạm trù “xưng hô” cũng được hiểu và lý giải theo nhiều
cách khác nhau Nói đến từ xưng hô người ta thường đề cập đến hai nhóm:
Đại từ xưng hô đích thực và danh từ thân tộc chuyển hóa thành từ xưng hô
Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa “xưng hô
là tự mình xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị
Trang 11tính chất của mối quan hệ với nhau” Định nghĩa xưng hô của từ điển tiếng
Việt là định nghĩa chỉ ra hoạt động nói một cách khái quát
Cách xưng hô của người Việt rất phong phú và linh hoạt, ngoài các đại
từ xưng hô, tiếng Việt còn có một số lượng khá lớn danh từ và một số ít các loại từ khác được sử dụng làm từ xưng hô
Vũ Tiến Dũng khi viết “Các biểu hiện của lịch sự chuẩn mực trong xưng hô” cho rằng “Xưng hô là một hoạt động diễn ra liên tục, thường xuyên trong khi trò chuyện và là lời của người nói lẫn người nghe Hành động xưng hô chỉ diễn ra trong cuộc thoại và một người có thể “và thường” thực hiện cả hai hoạt động xưng (tự quy chiếu mình) và hô (quy chiếu đến người đối thoại) Ngôi thứ ba không phải là nhân vật hội thoại do đó nhân vật này không tham
dự vào hoạt động xưng hô Như vậy, chức năng xưng hô là chỉ thị người nói, người nghe trong một cuộc hội thoại” [9, tr.32]
Theo Trương Thị Diễm, hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt bao gồm
2 nhóm lớn là: Đại từ nhân xưng và những yếu tố xưng hô phi đại từ nhân xưng
Diệp Quang Ban và Nguyễn Hữu Quỳnh quan niệm từ xưng hô bao
gồm từ chuyên dùng để xưng hô (đại từ xưng hô đích thực) và các đại từ xưng
hô lâm thời (danh từ thân tộc)
Theo Đỗ Thị Kim Liên : “Từ xưng hô là những từ dùng để xưng hô giữa các nhân vật khi giao tiếp Xưng hô được xem là một phạm trù, đó là phạm trù ngôi” [16, tr.174]
Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống số 3 năm 2007 có bài Cần phân biệt từ
xưng hô với đại từ xưng hô của Nguyễn Thị Trung Thành Trong bài báo này,
Nguyễn Thị Trung Thành khẳng định : “Khái niệm từ xưng hô có nội hàm rộng hơn khái niệm đại từ xưng hô Từ xưng hô trong tiếng Việt gồm có các loại sau : đại từ dùng để xưng hô, danh từ chỉ quan hệ họ hàng dùng để xưng
Trang 12hô, danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp Như vậy, đại từ xưng hô chỉ là một
bộ phận nhỏ nằm trong từ xưng hô”
Tác giả Phan Ngọc Tưởng trong luận án tiến sĩ của mình đã mạnh mẽ
quả quyết rằng: “Những đại từ nào chỉ rõ vai nhân vật tham gia trực tiếp vào hành vi xưng hô mới được coi là những đại từ xưng hô thực thụ… Đại từ xưng hô ngôi thứ 3 không phải là từ xưng hô” ( dẫn theo Trương Thị Diễm [10, tr.22] )
Ngoài ra một số tác giả lại nghiên cứu từ xưng hô dưới góc độ văn hóa
như: Cao Xuân Hạo trong cuốn Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, có phần viết
về mấy vấn đề văn hóa trong xưng hô của người Việt Hay Trần Ngọc Thêm
trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam có phần viết về văn hóa giao tiếp và nghệ
thuật ngôn từ Tác giả cũng có nói qua về đặc điểm hệ thống từ xưng hô tiếng Việt như: Tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), tính chất cộng đồng hóa, tính tôn ti “xưng nghiêm – hô tôn”, nghi thức trọng cách nói lịch sự…
Tóm lại, từ xưng hô là những từ dùng để tự xưng mình và hô (gọi) người khác trong khi giao tiếp nhằm biểu thị tính chất của mối quan hệ giao tiếp với nhau Trong hoạt động giao tiếp, các vai giao tiếp phải trực tiếp giao thiệp với nhau bằng lời, trong đó các phương tiện xưng hô sẽ được sử dụng
Từ xưng hô tiếng Việt không chỉ dùng để “xưng” và “hô” nhằm định vị
mối quan hệ giữa các đối tượng khi giao tiếp mà còn là phương tiện biểu đạt tình cảm, góp phần tạo nên nhịp cầu giao cảm giữa đôi bờ tâm hồn Nhiều nhà nghiên cứu đã nói về sự phong phú của lớp từ xưng hô tiếng Việt Sự phong phú đó không chỉ cho thấy ở số lượng từ xưng hô mà còn thể hiện bởi cách
xưng hô Và trong quá trình tìm hiểu đó, việc dùng các từ để “xưng” và “gọi”
nhau góp phần thể hiện bao cung bậc tình cảm của người trong cuộc Qua đó thử cảm nhận về sắc thái biểu cảm của lớp từ rất đa dạng và phong phú này cùng vẻ riêng trong cách nói năng của người dân
Trang 13So với các ngôn ngữ khác, hệ thống từ xưng hô trong ngôn ngữ tiếng Việt nhiều về số lượng, đa dạng về xuất xứ và kiểu cấu tạo, uyển chuyển về cách dùng Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, hệ thống từ xưng hô ấy đã thể hiện rõ nhiều nét đặc trưng cho văn hóa ứng xử của cộng đồng dân tộc Việt Tôi thấy mỗi nhà ngiên cứu có những cách định nghĩa và đưa ra những lý luận khác nhau cho chính kiến của mình, riêng tôi cũng tán thành với quan điểm:
Hệ thống từ xưng hô ấy bao gồm từ xưng hô chuyên dụng (tức các đại từ nhân xưng) và các từ xưng hô không chuyên dụng (từ ngữ thuộc các từ loại khác được lâm thời dùng để xưng hô - chủ yếu là danh từ chỉ quan hệ thân tộc, danh từ chỉ quan hệ xã hội, từ xưng hô bằng họ tên, từ xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp chức danh, xưng hô bằng các từ xưng hô khác)
1.2.2 Phương tiện xưng hô
1.2.2.1 Đại từ nhân xưng (nhân xưng từ đích thực)
Đại từ nhân xưng là những đại từ chỉ người, dùng để xưng gọi các thành viên tham gia giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp, bao gồm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai và đại từ nhân xưng ngôi thứ ba
Từ điển Bách khoa Việt Nam 1995 ghi rõ “Đại từ nhân xưng (còn gọi
là đại từ xưng hô) là đại từ dùng để tự xưng (ngôi thứ nhất), để gọi người đối thoại (ngôi thứ hai), để gọi người hay sự vật thứ ba (ngôi thứ ba) Đại từ nhân xưng gồm số ít và số nhiều”
Theo tác giả Lê Biên đại từ nhân xưng (xưng hô) được chia làm hai lớp:
- Đại từ nhân xưng (xưng hô) đích thực: tôi, tao, tớ, hắn, họ …
- Đại từ hóa dùng để xưng hô : đó là những từ nguyên là danh từ đã trở thành đại từ thực sự: tôi, tớ, mình … những danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại từ đó là những danh từ chỉ người trong quan hệ thân thuộc được lâm
Trang 14thời dùng làm đại từ nhân xưng (xưng hô): ông, bà, cô, dì, chú, bác, cậu, anh, dượng, mợ
Diệp Quang Ban cho rằng: “Đại từ nhân xưng là những từ dùng để chỉ người hay vật tham gia quá trình giao tiếp Theo đó: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp” [2,
tr.111] Theo ông thì đối tương tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3 và đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh
những đại từ chỉ ngôi thứ nhất (tôi, tao, tớ, ) và đại từ chỉ ngôi thứ hai (mày,
mi ) mới được coi là đại từ xưng hô thực thụ
Theo Trương Thị Diễm thì: “Tiếng Việt có trên 20 đại từ nhân xưng chuyên dùng: tôi, tao, tớ, ta, người ta, mày, bay, người, ngài, mình, nó, hắn,
vị, gã, thị, ả, chúng, họ, chúng tôi, chúng ta, chúng nó, chúng mày, bay, nàn g, chàng, thiếp, ngươi…”[16, tr.25]
Nhìn chung, khi nghiên cứu về đại từ nhân xưng trong tiếng Việt, các
nhà Việt ngữ đều thống nhất quan điểm đó là: “Đại từ nhân xưng có chức năng thay thế, chỉ trỏ Trong xưng hô, việc sử dụng các đại từ nhân xưng
Trang 15không thật phổ biến vì chúng mang sắc thái thân mật, suồng sã hoặc không kính trọng”
Theo chúng tôi, đại từ nhân xưng là những đại từ chỉ người, dùng để xưng gọi các thành viên tham gia giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp, bao gồm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai và đại từ nhân xưng ngôi thứ ba Nhìn chung, đại từ nhân xưng trong tiếng Việt thường xuyên được thay thế bằng các danh từ như: anh, chị, ông, bà, cha, mẹ, ngài, nàng, chàng, cậu, mợ … tạo thành những sự chuyển đổi phong phú nhằm diễn đạt các ý nghĩa biểu cảm và tu từ rất tinh tế
1.2.2.2 Từ xưng hô lâm thời
Theo quan điểm của các nhà Việt ngữ trước đây trong các giáo trình và sách nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như Cao Xuân Hạo (2001); Nguyễn Đức Thắng (2002) đều cho rằng: Bên cạnh nhóm đại từ nhân xưng đích thực dùng trong xưng hô, người Việt còn dùng các đại từ nhân xưng lâm thời gồm các danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp để xưng hô
Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt 2009 NXBGD” cho rằng:
“Nhân xưng từ là những từ không mang nghĩa, chúng thuộc vào số những từ dùng để quy chiếu…Việc xưng hô theo ngôi trong tiếng Việt có điểm riêng là không chỉ dùng nhân xưng từ mà còn dùng các lớp từ khác làm từ chỉ ngôi”
[1,tr.519]
Ông quan niệm: “Bên cạnh các nhân xưng từ đích thực, trong xưng hô người Việt còn sử dụng các lớp từ sau: Danh từ chỉ quan hệ thân tộc, danh từ chỉ chức vụ, một số từ, tổ hợp từ khác” Ông cũng nhấn mạnh: “Trong xưng
hô, chính lớp từ thứ hai tức danh từ chỉ quan hệ thân tộc cho thấy rõ nhất nghĩa liên nhân của nhân xưng từ trong tiếng Việt” [1 tr.520]
Ông còn cho rằng: “Trong tiếng Việt, việc dùng từ nhân xưng trong xưng hô không thật phổ biến, vì chúng đem lại sắc thái không kính trọng,
Trang 16chúng mang nhiều tính thân mật, suồng sã” [1,tr.521] Chính vì vậy ông đưa
ra quan niệm là: “Trong xưng hô hàng ngày, thay vì việc sử dụng các nhân xưng từ đích thực thì người Việt sẽ sử dụng các danh từ thân tộc và danh từ chỉ chức vụ để xưng hô với nhau”[1, tr.521] Ngoài ra, Diệp Quang Ban còn
đề cập đến một số từ ngữ khác dùng trong xưng hô Như vậy, Diệp Quang Ban đã đề cập đến việc dùng nhân xưng từ đích thực và các lớp từ khác được dùng trong xưng hô Ông chẳng những phân biệt nhân xưng từ đích thực với các lớp từ khác được dùng làm nhân xưng từ, mà ông còn chú ý đến sắc thái của các từ này trong xưng hô của người Việt
Thật vậy, trong giao tiếp người Việt thường mượn các từ chỉ quan hệ gia đình, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm, học vị,…để xưng gọi, đặc biệt là các từ chỉ quan hệ gia đình chiếm số lượng lớn và xuất hiện trong nhiều môi trường hoạt động của con người Trong giao tiếp, người Việt có xu hướng
“thân tộc hóa” khi hô gọi “Từ xưng hô và cách xưng hô trong câu hỏi mua bán bằng tiếng Việt” (Mai Thị Kiều Phượng (2004) “Từ xưng hô và cách xưng hô trong câu hỏi mua bán bằng tiếng Việt”)
Theo Trương Thị Diễm thì hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt ngoài nhóm đại từ nhân xưng còn có nhóm những yếu tố xưng hô phi đại từ nhân
xưng “Bên cạnh các đại từ nhân xưng chuyên dùng, tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các từ và ngữ khác để xưng hô Trong số này có: Danh từ chỉ quan hệ thân tộc, danh từ chỉ quan hệ xã hội, danh từ chỉ chức vụ xã hội cao hoặc những nghề nghiệp đặc biệt, tổ hợp từ gồm danh từ chỉ quan hệ thân tộc và đại từ chỉ định, danh từ riêng mà cụ thể là tên riêng của nhân vật giao tiếp hoặc tên của các người thân, các kết hợp giữa từ xưng hô với tên, chức danh với tên…” [10.tr 26]
Trang 17* Xưng hô bằng danh từ thân tộc
Trong tiếng Việt, danh từ thân tộc là các danh từ chỉ những người trong gia đình, họ hàng thuộc các thế hệ, lớp tuổi, thứ bậc tôn ti (riêng bốn từ: vợ, chồng, dâu, rể không dùng) Đó là các từ: “Ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, chú, bác, cô, dì, con, cháu,…” và cả một số danh từ chỉ bạn bè hay ngôi thứ như:
“Bạn, đồng chí, ngài, vị,…” được dùng trong xưng hô Khi trở thành từ xưng
hô, các danh từ thân tộc đã biểu thị vị trí của các nhân vật trong giao tiếp là người nói, người nghe hay người được nói tới Đó chính là phạm trù ngôi Hơn nữa, danh từ thân tộc không chỉ nhằm biểu thị phạm trù ngôi mà còn nhằm thông báo gián tiếp về tuổi tác, vị thế xã hội, tình cảm,…giữa các nhân
vật tham gia giao tiếp
Từ ngữ xưng hô thân tộc sản sinh trong quan hệ giao tiếp giữa gia đình với gia đình trong chừng mực những gia đình đó phải có quan hệ huyết thống, hôn nhân hay pháp luật, gồm nhiều thế hệ, nhiều thành viên Nó là tiểu lớp từ phản ánh quan hệ thân tộc, chuyên dùng để chỉ các mối quan hệ tương hỗ giữa các thành viên trong gia tộc khi tiến hành giao tiếp ngôn ngữ với nhau,
có khả năng phân loại và miêu tả các quan hệ thân tộc
Về bản chất danh từ chỉ quan hệ thân tộc đã phản ánh rõ nét quan hệ các thành viên trong gia đình người Việt, từ ngữ xưng hô thân tộc có thể chia làm hai loại:
- Từ ngữ xưng hô nảy sinh trong nội bộ giao tiếp gia đình gồm hai thế hệ cha mẹ, con cái, anh chị em, thuộc quan hệ huyết thống bố mẹ, con trai, con gái, anh, chị em
- Từ ngữ xưng hô thân tộc sản sinh trong quan hệ giao tiếp giữa gia đình với gia đình trong chuẩn mực gia đình đó phải có quan hệ huyết thống hôn nhân hay pháp luật gồm nhiều thế hệ, nhiều thành viên như ông, bà, cô, dì, chú, bác
Trang 18Như vậy từ xưng hô thân tộc là tiểu lớp từ phản ánh quan hệ thân tộc, chuyên dùng để chỉ các mối quan hệ tương hỗ giữa các thành viên trong gia đình khi tiến hành giao tiếp ngôn ngữ với nhau
Trong gia tộc, cơ sở để gắn kết mọi người là dựa trên quan hệ về mặt huyết thống trực tiếp hay gián tiếp của các thành viên Do đó xưng hô trong gia tộc không chỉ với mục đích xưng hô mà còn thực hiện chức năng miêu tả
Theo đó, Đỗ Hữu Châu đã chia các danh từ thân tộc thành ba nhóm:
- Nhóm 1: u, bầm, cha, má (dùng để xưng hô)
- Nhóm 2: anh, chị, em, chú, bác ( dùng để xưng hô và để miêu tả quan hệ)
- Nhóm 3: anh trai, em gái, chị dâu (dùng để miêu tả quan hệ) [ 8,tr 76]
* Xưng hô bằng những từ thân tộc ngoài xã hội
Danh từ thân tộc làm phương tiện xưng hô không chỉ được sử dụng trong gia đình mà còn được sử dụng một cách rộng rãi và chiếm ưu thế trong các mối quan hệ xã hội, giới nghiên cứu gọi đó là xu hướng “gia đình hoá” các danh từ thân tộc trong xưng hô
Bởi vì, trong giao tiếp, người nói thường hướng tới người đối thoại với hai thái độ: Lịch sự hoặc không lịch sự, gắn với các kiểu sắc thái biểu cảm: Trang trọng, trung hòa, thân mật, suồng sã và thô tục, khinh thường Trong khi đó, các đại từ nhân xưng đích thực trong tiếng Việt ít mang sắc thái trung tính chủ yếu mang sắc thái không lịch sự Mặt khác, trong giao tiếp, xưng hô thường thể hiện ở hai phạm vi: Xưng hô trong gia tộc và xưng hô ngoài xã hội Hơn nữa, điểm đặc biệt trong giao tiếp của người Việt là quan hệ giữa người và người trong gia tộc chuyển thành quan hệ giữa người và người trong xưng hô ngoài xã hội Nên bên cạnh những danh từ thân tộc được sử dụng trong gia đình còn có lớp từ xưng hô thân tộc ngoài xã hội
Xưng hô bằng những từ thân tộc ngoài xã hội là cách xưng hô với những người phi huyết thống bằng các danh từ thân tộc Trong tiếng Việt,
Trang 19phần lớn các danh từ biểu thị quan hệ thân tộc đều có thể chuyển hóa thành từ xưng hô ngoài xã hội Điều đó phản ánh rõ nét tính chất gia đình hóa xa hội trong quan hệ giao tiếp của người Việt
Tiếng Việt có các từ biểu thị quan hệ thân tộc (cụ, ông, bà, bố, mẹ, bác, chú, cô, dì, cậu, mợ, anh, chị, em, con, cháu … được sử dụng trong xưng hô ngoài xã hội
* Xưng hô bằng họ tên
Cũng như xưng hô bằng đại từ nhân xưng, xưng hô bằng họ tên thường không nói lên tiêu chí, vị thế và đặc trưng xã hội của người tham gia giao tiếp Tuy nhiên, trong tiếng Việt, khi nào dùng họ tê, khi nào dùng tên, khi nào dùng cả họ và tên đều có tác dụng thể hiện sắc thái trang trọng hay suồng sã của cuộc thoại
Họ tên được dùng trong giao tiếp với sắc thái ý nghĩa trung tính, thể hiện sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội Tuy nhiên, trong các môi trường giao tiếp khác nhau, nhằm thể hiện các sắc thái tình cảm hoặc trân trọng, hoặc thân mật, suồng sã mà bản thân cách xưng hô bằng họ hoặc tên hoặc cả họ và tên không thể hiện hết được, người ta thường kết hợp họ/ tên hoặc họ tên với các thành tố biểu thị xưng hô khác để tạo thành cụm từ dùng
để xưng hô lâm thời, như đại từ nhân xưng, danh từ chỉ quan hệ thân tộc, danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ hoặc các từ xưng hô thông dụng
Thông thường một cấu trúc đầy đủ về tên của người Việt bao gồm ba yếu tố: họ + tên đệm (lót) + tên riêng Tuy nhiên, vì vai trò của tên lót không
có tính bắt buộc nên nhiều khi có thể vắng mặt Việc sử dụng họ và tên riêng trong xưng hô ở tiếng Việt cũng có nhiều điều đáng lưu ý Trong tiếng Việt,
cả ba yếu tố (họ + tên đệm + tên riêng) đều có thể đứng độc lập làm từ xưng
hô tuy nhiên, mức độ sử dụng của chúng cũng khác nhau
Trang 20Dùng họ để xưng hô chủ yếu phổ biến trong xã hội phong kiến Hiện nay cách xưng hô này chỉ tồn tại trong giao tiếp của người nước ngoài ở Việt Nam
Việc dùng tên riêng để xưng hô khá phổ biến trong giao tiếp của người Việt, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mối quan hệ giữa các cá nhân, hoàn cảnh giao tiếp Xưng hô bằng tên riêng giúp tạo sự thân mật và đạt hiệu quả giao tiếp cao Tuy nhiên, trong hoàn cảnh giao tiếp có tính quy thức và đối với những người có vị thế xã hội cao hơn mình hay căn cứ vào
“chức vị trong gia đình mà chủ thể giao tiếp thường có sự kết hợp “danh
từ thân tộc, danh từ chỉ quan hệ xã hội + tên riêng” Ví dụ: cậu Việt, cô Hằng, ;
* Xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức danh
Từ chỉ nghề nghiệp là từ chỉ những công việc được coi là nguồn sống chính mà cá nhân theo đuổi, chẳng hạn như: công nhân, nông dân, giáo viên, bác sĩ …
Từ chỉ chức danh là từ chỉ những học hàm, học vị để phân biệt đẳng cấp của cán bộ công chức như: giáo sư, thạc sĩ, tiến sĩ …
“Khi sử dụng từ xưng hô người nói có thể sử dụng từ xưng hô chỉ nghề nghiệp, chức vụ, từ chỉ quan hệ thân tộc của người nghe (do người nói quy chiếu) để gọi người nghe với mục đích đề cao, tôn trọng người nghe, hoặc tỏ thái độ lịch sự” [16, tr 180]
Thật vậy, trong xưng hô danh từ chỉ nghề nghiệp, chức danh thường được dùng trong hoàn cảnh giao tiếp có tính quy thức để miêu tả đối tượng giao tiếp Trong tiếng Việt, khi giao tiếp, lớp từ chỉ nghề nghiệp (như: giáo viên, học sinh, bộ đội, công nhân ) thường không đứng một mình Người ta
ít sử dụng các phát ngôn như: học sinh ơi, công nhân kia mà phải có các danh từ thân tộc đi kèm, như: em học sinh ơi, bác bảo vệ ơi Việc kết hợp
Trang 21này không chỉ tạo sự thân mật mà còn mang ý nghĩa miêu tả, chỉ thị đối tượng Ngược lại, lớp từ chỉ chức vị lại có thể đứng độc lập để xưng hô mà không cần yếu tố đi kèm nào Điều đặc biệt là lớp từ chỉ chức vị thường chỉ được dùng ở một phía, khi người có chức vị thấp dùng để “hô” với người có chức vị cao hơn mình
* Xưng hô bằng những danh từ chỉ quan hệ xã hội
Ngoài các nhóm chính, trong tiếng Việt còn sử dụng một số kiểu loại xưng hô khác lâm thời làm phương tiện xưng hô Tính lâm thời thể hiện ở nhóm này khá rõ nét, nếu tách các yếu tố này khỏi ngôn cảnh thì ta khó xác định được vai trò của yếu tố đó (nhất là đối với các cụm từ lâm thời làm phương tiện xưng hô)
Theo của chúng tôi, để cho giao tiếp phát triển và tạo sự hứng thú đối với đối phương, ngoài các nhóm đóng vai trò là từ xưng hô chủ yếu trên thì chủ thể giao tiếp còn sử dụng rộng rãi các nhóm từ sau:
- Các danh từ chỉ nơi chốn: đây, ấy, đó, đằng ấy, đằng này
- Các danh từ chỉ quan hệ xã hội: bạn, đồng chí, đồng niên
- Một số động từ, tính từ chuyển hoá như: cưng, nhỏ, bé, mập, móm… Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung vào nhóm từ xưng hô danh từ chỉ quan hệ xã hội với từ xưng hô thông dụng: Đồng chí
Từ “đồng chí” vốn là từ ghép hợp nghĩa biểu thị, những người có cùng chí hướng, có cùng mục đích, cùng lí tưởng Từ “đồng chí” xuất hiện cùng với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện tinh thần đoàn kết của những con người cùng chung lí tưởng, cùng khát vọng
Từ “đồng chí” mang màu sắc chính trị rõ rệt không phân biệt độ tuổi và giới tính cũng như không phân biệt vị thế xã hội cao thấp, mọi người đều có thể xưng hô là “đồng chí” với những độ tuổi khác nhau có tiểu đồng chí, lão đồng chí Với những người lạ mặt mặc dù chưa rõ thân thế của người ta vẫn
Trang 22có thể xưng bằng từ đồng chí vừa thyaan mật, vừa trang trọng, được người nghê chấp nhận một cách thoải mái
1.3 Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của ông
1.3.1 Về Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu,
xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình nho học Ông thân sinh là Nguyễn Đạo Khang làm huấn đạo Vì nhà nghèo lại đông anh em nên năm lên bốn tuổi, Nguyễn Công Hoan được người bác nuôi là Nguyễn Đạo Quán cho ăn học, ông là người luôn chăm sóc việc học hành cho con cháu, thích sưu tầm tục ngữ, ca dao, soạn sách dạy chữ nho với đề tài Việt Nam Bà nội ông hay dạy truyền khẩu nhiều thơ phú, truyện cổ dân gian cho các cháu nên niêm luật của thơ ca, thanh điệu của ngôn ngữ và sự say mê văn học đã thấm dần vào ông ngay từ hồi thơ ấu
Năm lên 6 tuổi, Nguyễn Công Hoan học chữ nho, rồi chuyển sang học chữ Pháp Khi 9 tuổi ông bắt đầu lên Hà Nội học trường Bưởi Năm 1922 ông thi đỗ vào trường sư phạm và đến năm 1926 thì đi dạy học Xuất thân từ gia đình quan lại lép vế, sống trong cảnh bị chén ép luôn chứng kiến được bao cảnh xấu xa thối nát của bọn quan lại, chính điều này đã tác động đến tư tưởng của ông sau này Bước vào đời nhà văn phải nếm trải nhiều mất mát và chịu nhiều ngược đãi của chế độ Chính hoàn cảnh đó đã đem đến cho nhà văn một vốn ống dồi dào để cống hiến cho độc giả những trang viết hay về cuộc sống
Ông bắt đầu viết văn từ năm 1920 lúc đang học ở trường Bưởi Năm
1923 (20 tuổi), ông có tập truyện ngắn đầu tiên (Kiếp hồng nhan) được xuất
bản Đầu năm 1930 ông có nhiều truyện đăng báo được mọi người chú ý và
đến năm 1935 (tập Kép Tư Bền ra đời) thì nổi tiếng khắp Trung, Nam, Bắc
Trang 23Nguyễn Công Hoan khi lớn lên đã có nhiều năm làm nghề dạy học, trong lúc vừa dạy học vừa viết văn có đụng chạm đến bộ máy cai trị của thực dân và có thời gian tham gia Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học và các tổ chức khác nên ông luôn bị mật thám theo dõi Ông đã mấy lần bị bắt và phải
chuyển nhiều nơi Lê Thị Đức Hạnh đã nói “Với người khác thì đó là điều đáng ngại, nhưng với Nguyễn Công Hoan thì dường như “thượng đế” đã ban cho ông một “ân huệ” có dịp “đi thực tế” để tích lũy vốn sống nhiều mặt về cái xã hội đương thời”.[11, tr.18]
Là người có trực quan nhạy bén, có tấm lòng trung thực, có lương tâm trong sạch, Nguyễn Công Hoan luôn cảm thấy băn khoăn, day dứt trong lòng
Để giải tỏa những nỗi niềm ấy, là một người vốn có năng khiếu văn chương lại được ảnh hưởng văn học của gia đình nên ông đã dùng ngòi bút viết văn châm biếm để đả kích nhằm vào những sự tàn ác, bất công trong xã hội Từ những nỗi đau của đời người đến sự dồn nén bức bối của đời mình đã khiến
lòng ông quặn thắt Lê Thị Đức Hạnh đã từng viết “Cho nên với Nguyễn Công Hoan từ trước đến sau, viết văn là để giải bày tâm sự và tỏ thái độ đối với cuộc sống, chứ ông chưa bao giờ “có ý định viết văn để được gọi là nhà văn” Ông chỉ khiêm tốn nhận mình là “người viết văn” [11, tr.19]
Ngoài việc viết văn và dạy học, Nguyễn Công Hoan còn tích cực tham gia hoạt động kháng chiến và giữ nhiều chức vụ khác nhau nhưng ngòi bút viết văn của ông vẫn không bao giờ biết ngừng nghỉ Dù cho dạy học, viết văn hay tham gia cách mạng thì Nguyễn Công Hoan vẫn luôn là con người thẳng thắn, nhân hậu Trong cuộc đời dù có nhiều lúc chán nản nhưng ông luôn sống vui vẻ, hòa mình vào đời sống xã hội Cũng chính điều này đã giúp ông thấy được hiện thực cuộc sống xung quanh, đặc biệt là bộ mặt thật của bọn quan lại Tuy vậy trong cuộc sống Nguyễn Công Hoan luôn luôn khiêm tốn
giản dị nhân ái và độ lượng Ông từng viết “Tôi chịu ảnh hưởng của các bậc
Trang 24tiền thân không nhỏ” (Đời viết văn của tôi, tr 50) dẫn theo Lê Thị Đức Hạnh
[11, tr.41] Ông chịu khó đọc và thẳng thắn khen người đi trước, thường động viên khích lệ, khi cần cũng sẵn sàng giúp đỡ những người cầm bút ở thế hệ trẻ Khi nhìn người, nhìn việc, ông thường nhìn mặt tốt nhiều hơn Với bản thân ông không thích tự đề cao cũng không thích ai khen mình quá đáng Sau gần 60 năm cầm bút, ngày 6/6/1977 ông đã qua đời, sự ra đi của ông là niềm mất mát lớn lao của nền văn học nước nhà và để lại niềm thương tiếc khôn nguôi cho bao thế hệ bạn đọc
Một tài năng và một nhân cách đẹp như Nguyễn Công Hoan thật xứng đáng với một vị trí trang trọng trong văn học nước nhà
1.3.2 Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan được nhắc đến trước hết là một bậc thầy truyện ngắn trong dòng văn học hiện thực phê phán Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn trò đời” Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều nét giống với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân, muốn dùng tiếng cười như một “vũ khí của người mạnh” để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng
Nói đến Nguyễn Công Hoan là nói đến “một đời văn lực lưỡng” Ông không chỉ có những đóng góp to lớn cho sự hình thành và phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán mà còn có công xây dựng nên một nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
Nguyễn Công Hoan bắt đầu nghiệp văn chương từ những năm 1920 với
những truyện ngắn đầu tay Kiếp hồng nhan, Sóng vũ môn, Cô hàng nước…
lấy đề tài từ những chuyện xung quanh trong cuộc sống Những truyện ngắn này tuy không mấy tiếng vang và còn nhiều hạn chế về cả nội dung và nghệ thuật nhưng đây có thể coi là một dấu ấn quan trọng, bộc lộ tinh thần, tư tưởng cơ bản của ông trong việc có ý thức dân tộc, chống sự bất công vô lí và
Trang 25có khuynh hướng trào phúng Và thời kì này cũng có thể coi là thời kỳ tập dượt quan trọng và hứa hẹn một tài năng nảy nở sau này
Những năm 1930 - 1935 thì tài năng của Nguyễn Công Hoan thực sự
nở rộ Bám sát vào cuộc sống, những truyện ngắn có giá trị mang ý nghĩa phê
phán, châm biếm mạnh mẽ ra đời như: Ngựa người và người ngựa, Răng con chó của nhà tư sản, Thế là mợ nó đi Tây… Và cùng với sự ra đời của Kép Tư Bền, nhà văn đã vượt lên vị trí hàng đầu trong số những người viết văn hiện
thực và góp phần thúc đẩy khuynh hướng văn học này phát triển thành một trào lưu mạnh mẽ Mỗi truyện ngắn thời kì này là một câu chuyện, một mảnh đời, một kiếp người trong xã hội Tất cả hợp thành một thế giới rộng lớn bao quát đầy đủ xã hội cũ suy đồi
Với nghệ thuật viết truyện ngắn, phải nói rằng Nguyễn Công Hoan là người có nhiều khả năng và kinh nghiệm Truyện của ông thường rất ngắn Lời văn khúc chiết, giản dị Cốt truyện được dẫn dắt một cách có nghệ thuật
để hấp dẫn người đọc
Nguyễn Công Hoan là một nhà văn viết sớm và viết nhiều, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hợp thành một bức tranh rộng lớn, khá đầy đủ về xã hội cũ Hầu hết các tầng lớp trong xã hội thực dân phong kiến đều có mặt: nông dân, công nhân, tiểu tư sản, trí thức, thầy thuốc, nhà văn, nhà giáo, các nghệ sĩ, tư sản, nhà buôn, địa chủ, quan lại, cường hào, học sinh, cô đào, đứa
ở, phu xe, kẻ cắp…
Bước sang thời kì mặt trận dân chủ 1936 – 1939, Nguyễn Công Hoan viết càng mạnh mẽ, sắc sảo, đề tài khai thác thêm đa dạng, đa diện hơn trước Ông khai thác cả một đề tài mà trước đây chưa có điều kiện đề cập tới, vạch mặt, kể tội, đi sâu vào từng bản chất xấu xa của bọn thực dân Trong đó đáng
chú ý phải kể đến truyện ngắn “Bước đường cùng”, “Cái thủ lợn”, “Đồng
Trang 26hào có ma” Nguyễn Công Hoan đã đề cập mối mâu thuẫn giai cấp, mâu
thuẫn dân tộc với những nét sâu sắc mới mẻ và táo bạo
Nguyễn Công Hoan sáng tác ở cả truyện ngắn và truyện dài song đặc biệt tài năng và tâm huyết của ông tập trung ở truyện ngắn Chỉ ở thể loại truyện này, nhà văn mới bộc lộ hết tài năng nghệ thuật, óc hài hước, châm biếm, cái nhìn rất riêng về con người, cuộc đời
Chọn cho mình lối đi riêng ngay từ những năm đầu của nền văn xuôi chữ quốc ngữ, Nguyễn Công Hoan đã khẳng định được vị thế của mình trong nền văn học nước nhà Với một khối lượng tác phẩm đồ sộ và lối viết văn độc đáo trong cách xây dựng nhân vật và đặc biệt là ứng xử xưng hô của nhân vật rất đa dạng và linh hoạt đó là cơ sở để tôi tiến hành nghiên cứu, khảo sát từ xưng hô trong truyện ngắn của ông
* Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chúng tôi giới thiệu một số vấn đề lý thuyết về giao tiếp và hội thoại ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện xưng hô của người Việt nói chung cũng như trong tác phẩm văn học nói riêng
Xưng hô là biểu hiện của lối ứng xử văn hoá của những người tham gia giao tiếp “Xưng” là hình thức tự quy chiếu mình và “hô” là hình thức mà người nói đưa người nghe vào trong cuộc thoại Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung tìm hiểu các yếu tố xưng hô bằng lời qua các đoạn hội thoại tồn tại dưới các dạng: đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc, danh từ thân tộc ngoài xã hội, danh từ chỉ nghề nghiệp, chức danh, danh từ chỉ họ tên, kiểu loại xưng hô bằng danh từ chỉ quan hệ xã hội làm phương tiện dùng để xưng hô nên bước đầu chúng tôi đi tìm hiểu các khái niệm của phạm trù xưng
hô
Trang 27NỘI DUNG CHƯƠNG II KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYỄN CÔNG HOAN 2.1 Xưng hô bằng đại từ nhân xưng
Trong tiếng Việt có trên 20 đại từ nhân xưng chuyên dùng, nhưng tần số xuất hiện của lớp từ này khá lớn và chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong quan hệ giao tiếp Chúng tôi tiến hành khảo sát 30 truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan [13, 14] Để thấy được nhà văn sử dụng cách xưng hô bằng đại từ nhân xưng trong các cuộc hội thoại giữa các nhân vật như thế nào và số lần xuất hiện của lớp từ này là bao nhiêu Qua khảo sát chúng tôi thấy số lần xuất hiện của lớp từ này trong 30 truyện ngắn là 1375 lần Bảng thống kê sẽ cho thấy rõ hơn điều này
Bảng thống kê đại từ nhân xưng xuất hiện trong các hội thoại của
các nhân vật trong truyện ngắn
Ta Tao Người ta
Trang 28Nhiều Chúng mày 26 5
Nó Lão
Chúng nó Chúng bay Người ta
- Về số lượng, các đại từ nhân xưng số ít chiếm một số lượng đáng kể
trong xưng hô Cao nhất là đại từ “tôi” (630 lượt sử dụng), “mày” (172 lượt
sử dụng), “tao” (168 lượt sử dụng), …
- Các đại từ nhân xưng số nhiều: số lượng xuất hiện chiếm một số
lượng ít so với đại từ nhân xưng số ít Cao nhất là đại từ “chúng nó” (37 lượt sử dụng), “chúng ta” (35 lượt sử dụng)…
Về cấu tạo, đại từ nhân xưng số ít được cấu tạo bằng một hình vị (tôi,
ta, tao, mày, ngài…), đại từ nhân xưng số nhiều được cấu tạo đa số từ hai
hình vị trở lên Ví dụ: chúng ta, chúng tao, chúng mình, chúng nó, chúng tôi, chúng mày …
Tuy nhiên có một điều đáng lưu ý là, trong những truyện ngắn chúng tôi tiến hành khảo sát, có những đại từ nhân xưng hầu như không hề xuất hiện
trong bất kì truyện ngắn nào chẳng hạn như: tớ, mụ, gã, y, thị, nàng, chàng, bay, chúng, bọn bay, bọn tao, người … Nhưng, ngược lại nhìn vào bảng thống
kê ta thấy lại có những từ xuất hiện với số lượng lớn như đại từ nhân xưng:
Trang 29tôi, nó, tao, mày Nhưng cũng có những từ xuất hiện với số lượng rất ít như từ
“chúng tao” 2 lần, “Họ” 3 lần, “hắn” 4 lần Và cũng có những từ xuất hiện ở mức trung bình như: “ta” 42 lần, “chúng tôi” 41 lần, “chúng mày”26 lần
Điều này cho thấy vốn từ nhân xưng trong tiếng Việt được Nguyễn Công Hoan sử dụng trong truyện ngắn của ông là không cân xưng nhưng theo ý đồ giao tiếp của các nhân vật và phù hợp với đề tài trong sáng tác của tác giả
2.1.1 Xưng hô bằng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
2.1.1.1 Đại từ nhân xưng “tôi”
Là một đại từ mang sắc thái trung tính và ít dùng trong những hoàn cảnh xưng hô thân mật, nó được thể hiện trong những cách xưng hô khác nhau như: Những người ngang hàng tự xưng khi giao tiếp với nhau Diễn ra trong cách xưng của người trên đối với người dưới Người dưới xưng với
người trên Với 630 lần, đại từ nhân xưng “tôi” xuất hiện trong cách xưng hô
của các nhân vật trong các cuộc hội thoại
Qua những vấn đề trình bày ở trên, ta thấy đại từ nhân xưng “tôi” là
một đại từ thông dụng có mặt hầu hết trong quan hệ giao tiếp giữa các nhân vật Cách xưng hô được sử dụng rất linh động và đa dạng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Đầu tiên phải kể đến cách xưng hô này diễn ra trong tầng lớp người lao động, nông dân nghèo khổ ngang hàng với nhau:
“Ông Tư thường khuyên ông nên giữ gìn sức khỏe, ông đáp:
- Bên ông có ba người, bên tôi có một nên tôi phải cố
Ông Tư cười:
- Bên tôi có ba người nhưng vẫn phải thua một mình ông.” [14, tr.108]
Trong đoạn hội thoại trên ta thấy những người giao tiếp ở đây thuộc vai cùng nhau đều là nông dân, cho nên khi giao tiếp với nhau họ dùng đại từ
Trang 30nhân xưng “tôi” mang sắc thái trung tính không phân biệt kẻ trên, người dưới
trong xã hội khi những người nông dân này khuyên bảo nhau
Ngoài ra thì cách xưng hô “tôi” còn kết hợp với các từ xưng hô lâm thời làm cho cách xưng hô trở nên linh động và phong phú Chẳng hạn như
“tôi” - “cô” cũng chỉ quan hệ giao tiếp ngang bằng
“ - Ôi thôi! Tôi lạy cô, nhỡ cô đổ bệnh cho tôi thì bỏ mẹ tôi
- Thôi Tôi chắp tay tôi van cô, cô thương thì mời cô xuống xe cho tôi về” [13, tr 71]
Đây là cách xưng hô ngang vai với nhau giữa hai nhân vật xa lạ không quen nhau, nhưng đây là cách xưng hô vừa suồng sã nhưng vẫn tỏ thái độ có chút lịch sự đối với khách hàng
Tiếp đó, là cách xưng hô thể hiện quan hệ trên dưới qua việc dùng đại từ
nhân xưng “tôi” Cách xưng hô này diễn ra chủ yếu giữa tầng lớp quan lại,
địa chủ, cường hào, ông chủ với những người nông dân, người lao động nghèo khổ
“- Anh xem, gần tất cả cây ăn quả ở xóm này là của tôi mua hết Cũng như cây mít của anh Nhưng có ai kêu ca phàn nàn gì đâu? Có ai đến nói nhường vườn cho tôi không? Ai cũng trông nom cho tôi rất cẩn thận, không cây nào suy suyển quả nào Hơn hai mươi năm nay, tôi ăn mít Vòng đã quen rồi Thôi anh về đi, nói lắm, rác tai tôi” [14, tr.60]
Bên cạnh đó nó còn thể hiện trong mối quan hệ giao tiếp gia đình giữa cha và con
- “Anh nghi cho ai lấy tiền của anh?” [13, tr.133]
-“Tôi báo cho anh biết, tôi cũng nghèo thật nhưng tôi lấy cái ví của anh
để tôi phải tội lòi mắt” [13, tr 134]
- “Tôi đi về ông bà xử sự với tôi như thế, thì tôi còn mặt mũi nào nữa!”
[13, tr.135]
Trang 31Từ xưng hô “tôi - anh” thường mang sắc thái trung tính, nhưng “tôi - anh” ở đây không phải trong quan hệ ngang bằng giữa người xưng với người
hô Mà “tôi - anh” ở đây là quan hệ cha con, cha xưng “tôi” còn gọi con bằng
“anh” Đằng sau cách xưng hô rất tôn trọng này, là một sự trách móc của người cha với người con khi bị sỉ nhục là người ăn cắp
“Tôi” xưng hô giữa người dưới với người trên Cách xưng hô này vẫn diễn ra giữa người lao động làm thuê với ông chủ
Trong truyện “Kép Tư Bền” cũng là cách xưng hô bằng đại từ nhân
xưng “tôi” trong quan hệ giao tiếp của anh Tư Bền với tư cách là người thuộc vai dưới xưng hô với ông chủ bằng đại từ nhân xưng “tôi”
-“Thưa ngài, xin ngài hãy thư cho ít bữa, khi nào thư thả tôi sẽ đi làm và nộp sau” [13, tr.138]
Và ta cũng bắt gặp cách xưng hô bằng đại từ nhân xưng “tôi” trong
quan hệ vợ chồng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Trong cách xưng hô
này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát trong phạm vi xưng hô giữa các cặp vợ chồng trong gia đình quan lại:
- “Kìa tôi tưởng mợ sắm sửa xong rồi
- Tôi nhức đầu quá, mà cơm cúng ở nhà cũng chưa sắp sửa được gì cả Tôi chịu thôi” [13, tr.217]
Và cách xưng hô trong quan hệ vợ chồng của người nông dân cũng được thể hiện trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
- “Này u nó quan đã cắt tôi rồi” [13, tr.211]
Ta nhận thấy một điều rằng, trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đại từ nhân xưng “tôi” được dùng rất linh hoạt và phong phú, nó vừa thể hiện được mục đích hướng đến của nhân vật khi xưng gọi vừa tỏ được quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp
Trang 322.1.1.2 Đại từ nhân xưng “ta”
“Ta” là một từ dùng để tự xưng khi nói với người khác, “ta” thường được dùng: Với tư cách người trên, ví dụ:
-“Không, ta không chấp Ta còn muốn nhờ anh một việc to tát, anh mà làm được thì không những ta trọng thưởng, mà ơn ấy ta không quên được” [13,
“Một hôm, ông Hai Mạ bảo với anh:
- Ta không nên làm thuê, làm mướn mãi, vì cùng lắm chỉ đủ ăn hai miệng, mà suốt đời vẫn tay không Hai bàn tay ta phải làm cho ta thành chủ đời ta, chứ không làm mãi đầy tớ người Bán hết cả sức cho người, thì còn sức đâu mà gánh vác gia đình cho mình được” [14, tr 102]
2.1.1.3 Đại từ nhân xưng “tao”
Trong tiếng Việt, “tao” là từ dùng để: Tự xưng khi khi nói với người ngang hàng hoặc người hàng dưới, tỏ ý coi thường, coi khinh Trong 30 truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan chúng tôi bắt gặp từ xưng hô “tao” với ý như thế
Từ “tao” được dùng tự xưng khi nói với người ngang hàng:
-“ Hú vía! Tao tưởng con Nguyệt nó chửa với tao, tao sợ quá! [13,tr.47]
Trang 33Từ “tao” dùng để xưng hô người trên đối với kẻ dưới tỏ thái độ coi khinh:
“- Mày ranh quái vừa vừa chứ Tao trả tiền công mày, nhưng rồi có đường có nẻo thì xéo Tao không mượn nữa”.[14, tr 68]
Tự xưng một cách thân mật khi nói với người có quan hệ rất gần gũi, rất thân mật, ngang hàng hoặc hàng dưới (thường dùng cho lớp người nhỏ tuổi, trẻ tuổi)
“Em Cu hỏi:
- Mày tên là gì?
Em bé mới đáp:
- Thế mày tên là gì?
- Tao tên là Cu
- Thế ông ấy cũng đặt tên tao là Cu”.[14, tr 68]
Trong truyện ngắn Ngắn Công Hoan, khi khảo sát xuất hiện với số lượng rất nhiều từ “ta” (168 lượt sử dụng” Ta thấy ngoài việc dùng để xưng
hô trong những trường hợp trên thì đại từ nhân xưng “ta” còn được sử dụng
để xưng hô trong những trường hợp khác nữa Điển hình như: Dùng với ý thân mật, gần gũi giữa cha mẹ với con cái
Trong truyện “Cây mít”, khi gia đình ông Lũng đã lấy lại được cây mít
từ tay địa chủ đến lúc bổ mít ra ăn, ông nói với con:
“Nhưng ông Lũng ăn có ba miếng Ông đứng phắt dậy, lấy cái dĩa, xếp vào đó độ hai chục múi to nhất và nói:
- Để đến tối, họp xong, tao đánh lừa anh cán bộ về nhà, để mời anh ấy ăn với
ta, thì tao mới thật thấy ngon, thấy sướng” [13, tr 62]
Trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, từ “Tao” dùng để xưng hô hết sức đa dạng và linh hoạt, qua đó nói lên được tài năng sử dụng từ xưng hô của ông
Trang 34Từ “tao” trong tiếng Việt là một đại từ nhân xưng có khả năng hô - ứng với những từ khác như “tao – mày”, “tao – mi”, “tao – nó”, “tao – hắn” Đến với truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thì trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy ông sử dụng cặp xưng hô “tao - mày” có số lượng rất lớn trong truyện ngắn của mình,
Trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, cặp xưng hô “mày - tao”,
“tao - mày” được sử dụng rất thành công để thể hiện mối quan hệ bất hòa giữa người nông dân với bọn quan lại, địa chủ Nhà văn còn đề cập đến mối quan
hệ giữa những ông chủ, bà chủ với những người làm thuê, qua cách xưng hô của từng nhân vật
Ngoài việc thể hiện mối quan hệ trong gia đình, bà chủ với
“- Tao chả ngờ nó chửa với mày, nhưng tao thấy cái mồm thằng bé giống mồm tao, tao đã giật mình Nó ăn vạ tao, thì tao bỏ mẹ! May được cái nước da thằng bé nó minh oan cho tao” [13, tr 47]
Chỉ cần nhìn vào cách xưng hô ta thấy, mối quan hệ giao tiếp ở đây thuộc những người có vai ngang nhau Họ đều là những người thanh niên với vai ngang hàng nhau, trong cách xưng hô vẫn nhận thấy một tình bạn rất thân mật, không kém phần suồng sã
Qua đó ta thấy, đại từ nhân xưng “tao” được nhà văn sử dụng và kết hợp với những cách xưng hô khác tạo thành những cách xưng hô đa dạng
2.1.1.4 Đại từ nhân xưng “người ta”
“Người ta” là một đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít dùng để xưng, trong 30 truyện ngắn mà chúng tôi khảo sát thì từ “người ta” dùng ở ngôi người “xưng” xuất hiện 4 lần trong 3 truyện ngắn
Trong truyện “Răng con chó của nhà tư sản” thì từ “người ta” là từ
người nói tự xưng
Trang 35“Nhưng cái tiếng hết hơi của hắn đập đến màng tai ông chủ, thì ông chủ trợn mắt, hầm hập quát:
- Làm gì mà nheo nhéo lên thế? Làm át cả câu chuyện của người ta! Bước ngay! Không ông đá cho một cái thì chết bây giờ” [13, tr.38]
Hay trong truyện “Ngựa người và người ngựa”, “người ta” cũng là từ
quy về bản thân mình lúc anh xe mắng người đi xe
“- Thế mà cũng vác mặt mặc cả xe giờ, lại còn vay tiền người ta mà mua thuốc lá với hạt dưa” [13, tr 71]
2.1.1.5 Đại từ “chúng ta”, “chúng tao”, “chúng tôi”
Đại từ “chúng ta” bao gồm người nói và người nghe “Chúng ta” luôn luôn được xác định là số nhiều Đại từ “chúng tôi” là đại từ nhân xưng của
ngôi thứ nhất (người nói) và cũng được xác định là số nhiều
Trong 20 truyện ngắn chúng tôi khảo sát, các đại từ nhân xưng này cũng có
số lần xuất hiện tương đối trong các truyện ngắn
“Nói đến đây, ông rất buồn, nhìn lại các bạn, thấy người nào cũng yếu đuối, xanh xao Ông nói:
- Hiện nay, thế chúng ta chưa thể địch được chúng nó, nhưng nhất định chúng ta không sợ chúng nó” [14, tr 112]
Trong cách xưng hô, ta thấy quan hệ giao tiếp giữa người xưng và người
hô là bằng vai, “chúng ta” bao gồm cả người xưng và người nghe Ở đây, người nông dân nói với người cùng nghe là những người bạn cố nông với mình với thái độ rất chân thành và cũng rất quả quyết
Từ xưng hô “chúng tôi”, được Nguyễn Công Hoan sử dụng trong truyện ngắn của mình:
“- Trong khi xã nhà được phát động, mà mấy hôm này xảy ra nhiều chuyện không hay như thế này, thật là phiền Tôi có ý kiến là người giác ngộ quyền lợi, thì không nên có lòng tự tư tự lợi, để mang tiếng cho cả giai cấp
Trang 36Nên đấu tranh với tư tưởng địch mà trả lại anh bộ đội Đừng để chúng tôi phải khám xét, rồi lại trách.” [14, tr 123]
Khi sử dụng “chúng tôi” thì người nói là người đại diện cho một phía,
muốn bộc lộ quan điểm, thái độ, lập trường về một vấn đề nào đó của riêng nhóm mình
Còn khi sử dụng thì tác giả hướng “chúng ta” thì người nói muốn chỉ
chung tất cả những người tham gia cuộc giao tiếp đó, bao gồm cả người nói
và người nghe
Từ xưng hô “chúng tao”, đây cũng là một đại từ nhân xưng được xác định là số nhiều, là từ của người xưng Trong 30 truyện ngắn chúng tôi khảo sát thì từ này rất ít được sử dụng Chỉ xuất hiện 2 lần và trong một truyện ngắn Từ “chúng tao” là từ chỉ có thể xưng hô của những người trên đối với người dưới tỏ thái độ khinh thường nhưng Nguyễn Công Hoan đã sử dụng từ này trong hoàn cảnh người nông dân nghèo khổ bị áp bức nên đã bật ra lời nói
để đấu tranh:
-“Rồi đời mày với đời tao, xem ai khổ, ai sướng? Mày cậy giàu khinh nghèo Nhưng anh em tao cậy có hai cánh tay khỏe Chúng tao không hèn Quyết thế nào chúng tao cũng lại có ruộng” [13, tr.102]
2.1.2 Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai
2.1.2.1 Xưng hô bằng đại từ “mày”
Trong 30 truyện ngắn chúng tôi khảo sát thì từ xưng hô “mày” được Nguyễn Công Hoan sử dụng rất linh hoạt
Trong truyện “Thằng ăn cướp” từ “mày” dùng để gọi người ngang hàng
hoặc hàng dưới, khi nói với người ấy (tỏ ý coi thường, coi khinh)
“Ông huyện lắc đầu: