Mặc dù nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình nhưng trên thực tế, thế giới nghệ thuật của Sống mòn hầu như chỉ mới được tìm hiểu về nội dung phản ánh hay bức tranh xã hội tr
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
LÊ THỊ ÁNH VỌNG
NÓI MỈA TRONG SỐNG MÒN
CỦA NAM CAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
NÓI MỈA TRONG SỐNG MÒN
CỦA NAM CAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Trọng Ngoãn Các nội dung nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học công bố trong công trình này
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
LÊ THỊ ÁNH VỌNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Bùi Trọng Ngoãn Tôi xin gửi lòng tri ân sâu sắc đến thầy Đồng cảm ơn sự quan tâm của các thầy cô, giảng viên khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, bạn bè, người thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận này Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng biết ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬNVÀ TỔNG QUAN VỀ SỐNG MÒN CỦA NAM CAO 6
1.1 Khái niệm “nói mỉa” 6
1.1.1 “Nói mỉa” trong các công trình phong cách học 6
1.1.2 “Nói mỉa” theo quan niệm của Bùi Trọng Ngoãn 7
1.1.3 Phân biệt nói mỉa với châm biếm, trào phúng 8
1.2 Các phương tiện ngôn ngữ của thủ pháp nói mỉa 11
1.3 Về Sống mòn của Nam Cao 15
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC HÌNH THỨC NÓI MỈATRONG SỐNG MÒN CỦA NAM CAO 22
2.1 Thủ pháp nói mỉa được xây dựng từ các phương tiện tình thái 22
2.1.1 Cấp độ ngữ âm 22
2.1.2 Cấp độ từ vựng 28
2.1.3 Cấp độ cú pháp 35
2.1.4 Cấp độ văn bản 37
2.2 Thủ pháp nói mỉa được xây dựng từ các biện pháp tu từ ngữ nghĩa 40
2.2.1 Dùng phương thức ẩn dụ 40
Trang 62.2.2 Dùng phương thức nói vòng, nói tránh 42
2.2.3 Dùng phương thức nghịch ngữ 45
2.2.4 Dùng phương thức giễu nhại 47
2.3 Thủ pháp nói mỉa được xây dựng từ cách sử dụng các thành ngữ, ca dao 51
2.3.1 Dùng thành ngữ 51
2.3.2 Dùng ca dao 52
2.4 Thủ pháp nói mỉa được xây dựng từ cách sử dụng hình thức rút tỉa ngụ ngôn 53
CHƯƠNG 3: TẦM TÁC ĐỘNG CỦA THỦ PHÁP NÓI MỈA ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA SỐNG MÒN 55
3.1 Tầm tác động của thủ pháp nói mỉa đối với ngôn ngữ người kể chuyện 55
3.1.1 Nghệ thuật châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thúy 55
3.1.2 Câu văn hài hước, dí dỏm nhưng sâu cay 58
3.2 Tầm tác động của thủ pháp nói mỉa đối với nghệ thuật cá tính hóa nhân vật 59
3.2.1 Nhân vật tự soi chiếu nhau bằng ngôn ngữ đối thoại 59
3.2.2 Nhân vật tự phơi bày bằng ngôn ngữ độc thoại 61
3.3 Tầm tác động của thủ pháp nói mỉa đối với giọng điệu của Nam Cao trong Sống mòn 62
3.3.1 Giọng bỡn cợt, trào phúng 62
3.3.2 Giọng chua chát, buồn thương 63
PHẦN KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bước vào làng văn, khi mà trào lưu hiện thực chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc nhưng Nam Cao đã thực sự tìm được cho mình một hướng đi mới và riêng trong việc tiếp cận và phản ánh hiện thực Nếu như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, những nhà văn xuất sắc khắc tên mình trên bia vàng vào thời kì đầu của chủ nghĩa hiện thực, đều tập trung phản ánh trực tiếp những mâu thuẫn, xung đột xã hội thì sáng tác của Nam Cao, đại biểu ưu tú của trào lưu hiện thực ở chặng cuối cùng cũng đã kịp chạm trổ tên mình lên bảng vàng, đã hướng ngòi bút tìm đến sự tế vi trong thế giới nội tâm của nhân vật Để lại một sự nghiệp văn chương độc đáo, từ hơn năm mươi năm nay, vị trí của Nam Cao trong văn học sử đã được thừa nhận
Và trong sự nghiệp của ông, Sống mòn là một đỉnh cao của văn chương hiện
thực Tác phẩm này sẽ là một đối tượng đầy thú vị đặt ra đối với giới nghiên cứu văn học khi thế giới nghệ thuật của nó vẫn còn nhiều điều chưa được đề cập, chưa được khơi sâu Đó là những mảnh đất trống, hứa hẹn và chờ đời người đọc
Sống mòn là một tác phẩm lớn trên nhiều phương diện, như nhà phê
bình Phong Lê đã thừa nhận: “ Đây là cuốn tiểu thuyết không có cốt, không
có truyện, không có gay cấn và li kì; bối cảnh truyện chỉ là sinh hoạt của mấy nhà giáo dạy tư nhưng sao lại có sức gắn đến thế với cả cuộc đời rộng lớn; cái tiếng thì thầm của tác phẩm lại có sức ám ảnh đến thế đối với nhiều lớp người trong hành trình cuộc đời, giữa bao thăng trầm của lịch sử Cuốn tiểu thuyết tách ra một lối riêng giữa bao nhiêu kiểu, dạng giống nhau hoặc khác nhau, từ văn xuôi lãng mạn đến văn xuôi tả chân- xã hội; và trong khi trung thành đến từng chi tiết của đời riêng và tràn ngập những chuyện đời tư, trong khi hội nhập được hai mặt tương phản sống và chết, của sự sống và cái chết trong một
Trang 8định ngữ mòn lại nói được bao điều vừa tủn mủn vừa lớn lao của nhân thế” [18, tr.353 ] Mặc dù nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình
nhưng trên thực tế, thế giới nghệ thuật của Sống mòn hầu như chỉ mới được
tìm hiểu về nội dung phản ánh hay bức tranh xã hội trong khi đó vẫn còn hàng
loạt vấn đề như: cá tính hóa nhân vật trong Sống mòn hay đặc điểm ngôn ngữ trong Sống mòn hay ngôn ngữ người kể chuyện đến ngôn ngữ các nhân vật trong Sống mòn… vẫn là những đề tài chờ đợi các nhà nghiên cứu Được dệt
nên bằng toàn những “cái hằng ngày”, những sự việc vặt vãnh, nhỏ nhoi, tủn mủn nhưng qua cách nhìn nhận và phân tích của Nam Cao nó có khả năng khái quát những vấn đề nhân sinh và có ý nghĩa nhân vân rất lớn, trong đó có vấn đề “nói mỉa”
Một nguyên lí của văn chương là phản ánh đời sống bằng phương thức
là hình tượng nghệ thuật và bằng phương tiện là ngôn ngữ Do đó, đối với người học Văn và dạy Văn, năng lực làm chủ ngôn ngữ là rất cần thiết Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có cơ hội trau dồi năng lực ngôn ngữ và bồi dưỡng khả năng tiếp nhận văn học của mình
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Thiện trong bài nghiên cứu Bút pháp tự sự đặc sắc trong
“Sống mòn” đã đề cập rất rõ đến ngôi kể và sự luân phiên điểm nhìn trong tác
phẩm Theo nhà nghiên cứu, Sống mòn “… được kể ở ngôi thứ ba… Nhưng
khi muốn người đọc nhìn vào thế giới bên trong của nhân vật… thì lúc đó người kể trao quyền kể và xét đoán cho nhân vật” [25, tr.331] Chính sự chuyển đổi điểm nhìn đó đã tạo nên sự hòa tấu, đa thanh, đa giọng điệu trong tiểu thuyết Bên cạnh đó, tác giả cũng nói đến tính chất của ngôn ngữ trong
Sống mòn Tác giả cho rằng: “ Bằng cách để nhân vật nói về mình như nói về
nhân vật đang đối thoại hoặc như về một người thứ ba nào khác tức để nhân vật tự phân thân, tự tách ra khỏi bản thân… Nam Cao đã làm cho ngôn ngữ
Trang 9nhân vật có tính chất song thanh” [25, tr.333] Minh họa cho điều đó, người viết đã lấy chứng liệu từ một số tác phẩm thuộc văn học nước ngoài Những thành công trên phương diện bút pháp tự sự góp phần khắc họa tâm lí, tính cách nhân vật trong tiểu thuyết mà tiêu biểu là nhân vật Thứ Với những phát hiện ban đầu, Nguyễn Ngọc Thiện đã cho chúng ta có cái nhìn tương đối khái quát và đầy đủ về một số phương diện của bút pháp tự sự làm nên nét mới và
độc đáo cho Sống mòn của Nam Cao
Không đặt hướng quan tâm vào phương diện bút pháp tự sự, Đỗ Đức Hiểu lại có hứng thú với mảng không gian nghệ thuật trong bài nghiên cứu
Hai không gian sống trong “Sống mòn” Ông cho rằng: “sức năng động của Sống mòn chính là sự xung đột giữa không gian xã hội (“xó nhà quê” và ngoại
ô Hà Nội nhem nhuốc) và không gian tinh thần, mơ ước, không gian hồi tưởng, không gian khát vọng”[13, tr.338] Qua đó, tác giả còn phân tích sự giằng co đầy phức tạp trong quá trình đấu tranh tâm lí của nhân vật khi xê dịch từ không gian sống này tới không gian sống khác mà tính chất của chúng
là khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Một không gian o bế, tù đọng với gánh nặng của cơm, áo, gạo tiền đã kìm hãm, đè bẹp mất không gian của lí tưởng, ước mơ, hoài bão lớn Nhân vật trong tác phẩm cứ quẩn quanh trong
đó, không tìm được lối ra với những dằn vặt, tự vấn, tự trách mình Tiêu biểu
là nhân vật Thứ, người nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa nhân vật này với các nhân vật khác bằng đối thoại, độc thoại Qua sự tranh luận giữa các nhân vật, người đọc nhận ra những ngóc ngách nội cảm của Thứ cũng như quá trình tha hóa tâm hồn ở nhân vật Trong bài viết này, Đỗ Đức Hiểu còn đề cập đến một cách thức được Nam Cao sử dụng khi miêu tả tâm lí nhân vật là
“cách trùng lặp sơ đồ: cái khẳng định, những lí lẽ nhiều mặt để phủ định, rồi cuối cùng quay trở lại ý định đầu tiên” [13, tr.341] Điều đó cho thấy sự quẩn
Trang 10quanh, bế tắc và tâm lí ngại thay đổi của nhân vật Thứ nói riêng và người trí thức đương thời nói chung
Phong Lê trong Đọc lại và lại đọc “Sống mòn” đã khẳng định khả năng hướng ngoại ở Sống mòn Tác giả đã nói đến sự sắc sảo trong bút pháp khắc
họa hiện thực khách quan và thế giới nội tâm của nhân vật Qua đó, người viết phơi bày cho độc giả thấy được sự khắc nghiệt của hiện thực cuộc sống và quá trình lật trở cảm xúc, sự bức bí, ngột ngạt với sự sống đang dần mòn đi Ở bài viết này, Phong Lê cũng có đưa ra một số cảm nhận đơn giản về ba không
gian sống chủ yếu của nhân vật Sống mòn “ Đó là gian ở nơi nhà trường, gian
nhà ông Học và gian nhà của Thứ ở quê” [18, tr.349].Trong những không gian ấy, người nghiên cứu nêu lên sự đối lập trong tần số xuất hiện của ánh sáng và bóng tối: “ Nếu sự sáng sủa chỉ đập vào giác quan chúng ta có hai lần như một sự tương phản - thì sự tối tăm, mù xám cứ triền miên, dai dẳng như một nền cảnh thích hợp cho cái buồn, những mặc cảm xấu hổ, bi quan và sự
vô vọng ở tương lai”[18, tr.350] Với những phân tích trên, bài nghiên cứu
này góp phần khẳng định và vinh danh giá trị lâu bền của Sống mòn
Điểm qua tình hình nghiên cứu về Sống mòn, ta thấy các bài viết chủ
yếu phát hiện và khai thác một cách chung chung về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm này trên những phương diện đơn lẻ từ những góc nhìn và đánh giá mang tính cá nhân của người viết Đặc biệt chưa tìm thấy công trình nào
nghiên cứu đi sâu vào khám phá thủ pháp nói mỉa trong Sống mòn Chính vì
vậy, trên cơ sở lĩnh hội có chọn lọc những điểm nhìn và khám phá từ những bài viết trên, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu sâu hơn, rõ ràng hơn về nói mỉa - một thủ pháp chuyên chở độ thâm thúy của Nam Cao
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nói mỉa trong Sống mòn của Nam Cao
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm Sống mòn của nhà văn Nam Cao
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học sau đây:
- Phương pháp thống kê- miêu tả
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp cải biến
- Phương pháp so sánh- liên hội
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận và tổng quan về Sống mòn của Nam Cao Chương 2: Khảo sát các hình thức nói mỉa trong Sống mòn của Nam Cao
Chương 3: Tầm tác động của thủ pháp nói mỉa đối với thế giới nghệ thuật của
Sống mòn
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
VÀ TỔNG QUAN VỀ SỐNG MÒN CỦA NAM CAO
1.1 Khái niệm “nói mỉa”
Nói mỉa xuất hiện rất sớm trong lời ăn tiếng nói của người Việt Chính vì thế, nói mỉa thành hình trong các thể loại của folklore như ca dao, tục ngữ, thành ngữ… khá nhiều với đa màu sắc, đa cung bậc Chẳng hạn như bài ca dao sau:
Trông xa cứ tưởng bí tây Bắc cầu sang hái hóa cây rau dền Trông xa cứ tưởng là vàng Lại gần mốc thếch như quang treo nồi
Cắm rễ từ đó, nói mỉa ngày càng phát triển bền vững và phong phú trong đời sống sinh hoạt con người Người Việt mặc định sử dụng nó như một phương thức nói năng mang hiệu quả giao tiếp cao và đầy nghệ thuật Cứ thế, nói mỉa luôn chiếm lĩnh một vị trí đắc địa trong khu vườn ngôn ngữ tiếng Việt cho đến tận bây giờ Sử dụng thủ pháp nói mỉa thật tài tình nhưng việc hiểu tường nguyên nội hàm của khái niệm này thì phải đến những năm cuối của thế kỉ XX với bước đi tiên phong của nhà nghiên cứu ngôn ngữ Đinh Trọng Lạc
1.1.1 “Nói mỉa” trong các công trình phong cách học
Nói mỉa, lần đầu tiên được miêu tả với tư cách là một phương tiện tu từ ngữ nghĩa trong công trình nghiên cứu của Đinh Trọng Lạc Theo đó, “nói mỉa là một phương thức chuyển tên gọi từ một biểu vật này sang một biểu vật khác, dựa vào sự đối lập giữa cách đánh giá tốt được diễn đạt một cách hiển
Trang 13minh với cách đánh giá ngụ ý xấu theo nghĩa hàm ẩn đối với biểu vật” [16, tr.80]
Như vậy, trong quan niệm của nhà ngôn ngữ học này, phép nói mỉa có hai chỉ tố quan trọng làm thành cơ sở tồn tại cho nó: (1) chuyển đổi tên gọi từ một biểu vật này sang một biểu vật khác và (2) hiển minh đánh giá tốt, hàm
ẩn đánh giá ngụ ý xấu
Với những bước đi đầu tiên, Đinh Trọng Lạc đã vạch ra được những đường hướng cơ bản cho việc tiếp nhận và chiếm lĩnh thủ pháp nghệ thuật này nhưng vẫn gây khó khăn trong quá trình nắm vững lý thuyết Vì thế, có lẽ cần sự phân chia rõ ràng với những tiêu chí cụ thể hơn về thủ pháp đặc biệt
này – nói mỉa
1.1.2 “Nói mỉa” theo quan niệm của Bùi Trọng Ngoãn
Với bài viết Các dạng nói mỉa, Bùi Trọng Ngoãn đã có những nét
khám phá mới, góp phần hoàn chỉnh khái niệm nói mỉa Từ hướng nghiên cứu của Đinh Trọng Lạc, Bùi Trọng Ngoãn đã phát hiện những mặt hạn chế đồng thời bổ sung, hoàn thiện nội hàm khái niệm nói mỉa Theo đó, “biện pháp tu
từ nói mỉa phải bao gồm các đặc điểm hay tiêu chí như sau: (1) chuyển đổi tên gọi từ một biểu vật này sang một biểu vật khác và (2) giễu cợt bằng cách nói cạnh, khóe hoặc nói lại điều ai cũng thấy rõ nhưng buộc người nghe phải hiểu khác đi” Như vậy, nghĩa của từ nói mỉa cũng được hiểu tương đương với nghĩa của nói cạnh, nói khóe và được biểu hiện qua 3 phương thức: dùng lối hiển ngôn trực tiếp; dùng lối suy ý, ngụ ý; dựa vào hoàn cảnh cụ thể Chẳng hạn, câu ca dao sau dù dùng trong ngữ cảnh nào cũng là một lối mỉa mai:
Tưởng rằng duyên đẹp như tiên,
Ai ngờ như mực mài nghiên vẽ vành Tưởng rằng duyên đẹp như tranh
Ai ngờ duyên lại như mành rách tan
Trang 14Ý đồ mỉa lộ rõ trên bề mặt phát ngôn
Hoặc như chuyện “Đậu phụ cắn”, sư thầy lén chú tiểu ăn thịt chó trong phòng nhưng khi tiểu hỏi thì sư thầy lại nhận rằng ăn đậu phụ Khi nghe tiếng chó sủa ầm ĩ trước cổng chùa, thầy hỏi và tiểu đã nhanh nhạy đáp: “ đậu phụ làng cắn đậu phụ chùa” Trong thực tế không thể xảy ra chuyện lạ đời như thế Suy ý từ câu nói trên của chú tiểu là một lời nói mỉa về thói giả tạo, đạo đức giả của sư thầy
Dưới góc độ tu từ học, tác giả đã đưa ra ý kiến của mình về việc phân chia các dạng nói mỉa Việc phân chia này của tác giả giúp ta có cái nhìn cụ thể, rõ ràng hơn khi đi vào khảo sát tác phẩm Thiết nghĩ, áp dụng mô hình
nói mỉa này vào việc nghiên cứu nói mỉa trong tác phẩm Sống mòn của nhà
văn Nam Cao là hợp lí
1.1.3 Phân biệt nói mỉa với châm biếm, trào phúng
Trong giao tiếp, ba khái niệm nói mỉa, châm biếm, trào phúng được sử dụng rất nhiều, rất quen thuộc nhưng để phân biệt rạch ròi nội hàm của các khái niệm này không phải là điều dễ dàng Ranh giới giữa chúng quá mong manh nhưng việc tồn tại cả ba khái niệm qua thời gian là điều cần thiết phải
vẽ viền chắn cho chúng Và hướng đi khôn ngoan nhất chính là truy nguyên
từ điển
Từ “trào phúng” trong tiếng Việt là từ Hán Việt, trong đó mỗi tiếng đều
có nghĩa riêng Trong Hán Việt từ điển giản yếu của nhà nghiên cứu Đào Duy
Anh, tiếng “trào”, tiếng “phúng” và từ ghép “trào phúng” có nghĩa như sau:
“Trào: cười nhạo
Phúng: nói ví để cảm người ta
Trào phúng: nói ví để cười nhạo.” [1, tr.720]
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa trào phúng như sau: “Có
tác dụng gây cười để châm biếm phê phán.” [23, tr.1315]
Trang 15Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên, trào phúng mang một nội hàm rộng hơn Theo đó, trào phúng là “một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước,… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc
ác trong xã hội.” [9, tr.363] Trước hết, trào phúng còn được gọi là hoạt kê, là một loại hình của sáng tác văn học làm thành một dạng riêng mang tên văn học trào phúng Chưa hết, trào phúng còn được biết đến với vị trí là một phương thức nghệ thuật cấu thành tác phẩm Ví dụ, người ta có thể nói “Nghệ
thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong tiểu thuyết Số Đỏ”
Trong khi đó, Hán Việt từ điển giản yếu của dịch giả Đào Duy Anh
định nghĩa “châm biếm” như sau:
“Châm: cái kim để may vá
Biếm có 2 nghĩa: (1) Việc lấy miếng đá nhọn mà lể người bệnh và (2)
Can răn điều lỗi
Châm biếm, theo đó cũng có 2 nghĩa: (1) Kim và đá dùng để lể huyệt
và trị bệnh, (2) Nghĩa bóng: Răn điều lỗi, trị thói xấu.” [1, tr.104]
Trên cơ sở đó, “châm biếm” được Hoàng Phê định nghĩa như sau: “Chế giễu một cách hóm hỉnh nhằm phê phán” [23, tr.191]
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “châm biếm” như sau: Châm
biếm là “một dạng của văn học trào phúng, dùng lời lẽ sắc sảo, cay độc, thâm
thúy để vạch trần thực chất xấu xa của những đối tượng và những hiện tượng này hay hiện tượng khác trong xã hội Châm biếm gắn liền với tình cảm xã hội như yêu nước, yêu lẽ phải, tình yêu con người Châm biếm khác với amua, hài hước ở mức độ gay gắt của sự phê phán và ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nghệ thuật” [9, tr.53-54]
Trang 16Như vậy, có thể nói “châm biếm” là một loại bút pháp dùng để chỉ rõ ra cái đáng chê/ lên án/ phê phán của đối tượng bằng lối nói sâu cay Người ta có
thể gọi là “Nghệ thuật châm biếm trong Vi hành của Nguyễn Ái Quốc” là vì
thế
Trong Tự điển Việt Nam, xuất bản năm 1971 của Ban tu thư Khai trí không định nghĩa “nói mỉa” nhưng thay vào đó là “mỉa” và “mỉa mai”:
“Mỉa: Nói chế nhạo một cách kín đáo
Mỉa mai có 2 nghĩa: (1) Nht Mỉa, (2) Chua chát làm khó chịu ngầm” [2, tr.555]
Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên giải thích các từ “mỉa” và “mỉa
mai” như sau:
“Mỉa: Giễu cợt bằng cách nói cạnh khóe hoặc nói lại điều ai cũng thấy
rõ
Mỉa mai có 2 nghĩa: (1) Mỉa bằng cách nói ngược lại ý mà mình muốn cho người ta hiểu và (2) Trái ngược một cách đáng buồn với điều người ta nghĩ” [23, tr.810]
Có thể nói, cách giải thích nghĩa của “mỉa” và “mỉa mai” (nghĩa 1), theo nhóm tác giả Hoàng Phê cũng là nghĩa của từ “nói mỉa”
Theo đó, “nói mỉa” là một thủ pháp của bút pháp châm biếm, đồng thời cũng là một thủ pháp của nghệ thuật trào phúng
Tóm lại, về nội hàm, trào phúng phải rộng hơn châm biếm, đả kích, nói mỉa, mỉa mai Còn về sắc độ phê phán thì nhận định của Bùi Trọng Ngoãn là hoàn toàn chính xác Theo nhà nghiên cứu: “Nếu ở châm biếm, người nói hướng hẳn tới mục đích phê phán thì ở nói mỉa, người nói chỉ nhằm giễu cợt Mặt khác, nếu ở châm biếm người nói thường tìm cách sao cho người nghe hiểu ngay nhằm tạo hiệu quả trực tiếp thì ở nói mỉa, người nói sẽ tìm cách diễn đạt thật khéo, thật tế nhị để giấu đi sự sỗ sàng Hơn nữa, nếu ở châm
Trang 17biếm là một thái độ chê bai, đả kích mạnh mẽ thì ở nói mỉa chỉ là một cách dùng lời để cạnh khóe nhẹ nhàng”
1.2 Các phương tiện ngôn ngữ của thủ pháp nói mỉa
Đinh Trọng Lạc trong công trình 99 phương tiện và biện pháp tu từ
tiếng Việt cho rằng: “Trong lời nói miệng, xuất hiện với tư cách là những chỉ
số như vậy, trước hết phải kể đến ngữ điệu rồi sau đến những phương tiện kèm ngôn ngữ khác nhau: cử chỉ, nét mặt, dáng điệu
Trong lời nói viết, những phương tiện diễn cảm của lối nói mỉa có thể
là từ, cụm từ, phát ngôn mà nhờ chỗ được thông dụng chúng có được ý nghĩa hàm chỉ cố định là tính nói mỉa và duy trì được nó ngay ở bên ngoài ngữ cảnh (…) Như vậy, ý nghĩa mỉa mai gắn bên trong với những từ, cụm từ này làm cho chúng nằm trong thế đối lập ngữ nghĩa – tu từ học với những từ, cụm từ
có giọng điệu tu từ học trung hòa làm cho chúng thành những thành phần được đánh dấu trong những thế đối lập đó, tức xác định chúng như là những phương tiện diễn cảm ngôn ngữ của lối nói mỉa” [16, tr.81- 82]
Bùi Trọng Ngoãn trong bài viết Các dạng nói mỉa cũng đã khái quát
khá đầy đủ và chi tiết các phương tiện ngôn ngữ của thủ pháp nói mỉa Theo tác giả, phương tiện ngôn ngữ của thủ pháp nói mỉa gồm có 4 loại chính: phương tiện tình thái; biện pháp tu từ ngữ nghĩa; các thành ngữ, tục ngữ, ca dao; hình thức rút tỉa ngụ ngôn Đây cũng chính là những biểu hiện, kiểu dạng của lối nói mỉa trong tiếng Việt Theo đó, mỗi loại cũng được nhà nghiên cứu trình bày rất chi tiết:
(1) Dùng các phương tiện tình thái:
+ Cấp độ ngữ âm: ngữ điệu và nhại giọng
+ Cấp độ từ vựng: các phương tiện thể hiện tính tình thái được sử dụng
để nói mỉa rất phong phú như: động từ tình thái, tiểu từ tình thái, động từ chỉ thái độ mệnh đề, phó từ và các quán ngữ tình thái
Trang 18+ Cấp độ cú pháp: đó là một số kiểu câu thể hiện rõ thái độ của người nói như:
Ở trên, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Ngoãn đã có cái nhìn rất khái quát về các phương tiện tình thái biểu thị thủ pháp nói mỉa Để làm rõ hơn bản chất của vấn đề, chúng tôi sẽ bàn thêm về ý nghĩa tình thái và các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong câu tiếng Việt
Theo Nguyễn Văn Hiệp, hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học bao hàm những ý nghĩa sau:
“(a) Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội dung thông báo về độ tin cậy, về tính hợp pháp của hành động, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn), là điều bất ngờ, ngoài chờ đợi hay bình thường, đánh giá về tính khả năng, tính hiện thực của điều được thông báo…
(b) Các ý nghĩa đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình
(c) Những đặc trưng liên quan đến diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung ngữ nghĩa – ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (ý nghĩa về thời, thể và các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái, cho biết chủ thể có ý định, có khả năng, mong muốn, thực hiện hành động…)
Trang 19(d) Các ý nghĩa phản ánh đặc trưng khác nhau của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh, xét theo quan điểm đánh giá của người nói Chẳng hạn đặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác nhau…
(e) Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói hay theo lí thuyết hành vi ngôn ngữ, là thể hiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, đề nghị, ra lệnh, cho phép, bác bỏ, khuyên răn, mời mọc, cảm
ơn…)” [11, tr.91-92]
Cùng với sự phong phú của các ý nghĩa tình thái, các phương tiện dùng
để biểu thị ý nghĩa tình thái cũng rất đa dạng Tuy nhiên có thể tổng hợp một
số phương tiện chính biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt như sau:
Các phương tiện ngữ âm dùng để biểu thị tình thái trong câu nói thực chất là người nói dùng ngữ điệu, trọng âm nhấn trong câu nói để thể hiện thái
độ, tình cảm hoặc đánh giá… Dường như bất kể ngôn ngữ nào cũng sử dụng ngữ điệu, trọng âm để phân biệt các mục đích phát ngôn khác nhau đối với cùng một nội dung mệnh đề Ví dụ, trong tiếng Việt, cùng một câu nói là “ăn đi” nhưng nếu lên/xuống giọng khác nhau thì có những ý nghĩa khác nhau Nếu câu nói “ăn đi” được phát âm bình thường thì nó mang nội dung khuyên nhủ, khuyến cáo người nào đó hãy tự đưa vào cơ thể thức nuôi sống bản thân mình Cũng câu nói ấy nhưng khi phát âm hạ thấp giọng thì nó diễn tả sự nhường nhịn miếng ăn giữa những con người cùng cảnh ngộ - cùng đói khổ Nhưng nếu ta phát âm cao giọng thì nó là câu chửi diễn tả thái độ hằn học, cay cú của những người hẹp hòi, ích kỉ đến cả miếng ăn
Các phương tiện ngữ âm (ngữ điệu, trọng âm) biểu thị tình thái sẽ rất dễ nhận thấy trong giao tiếp hằng ngày Tuy nhiên, trong văn bản viết, để nhận
Trang 20biết phương tiện ngữ âm biểu thị tình thái đòi hỏi phải gắn với văn cảnh và dựa vào các dấu câu
(a) Phương tiện ngữ pháp
Trong các ngôn ngữ biến hình, thời (tense) và thức (mood) của động từ
có vai trò tích cực trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái Còn đối với các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, các phương tiện ngữ pháp được kể đến là đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc của câu để thực hiện ý đồ của người nói khi họ muốn nhấn mạnh vào điểm nào đó trong phát ngôn
(b) Các phương tiện từ vựng
Các phương tiện từ vựng là kiểu phương tiện được sử dụng phổ biến và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc biểu thị các ý nghĩa tình thái tiếng Việt Sau đây là một số nhóm chính các phương tiện từ vựng biểu thị tình thái trong tiếng Việt:
- Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới…
- Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ động từ: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ, hãy, đừng, chớ…
- Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: tôi e rằng, tôi sợ rằng, tôi nghĩ rằng, tôi hi vọng rằng…
- Các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào, tội gì, đằng thằng ra, kể ra, làm như thế…
- Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện
về ngôi, chỉ tố thời…) như: ra lệnh, van xin, đề nghị…
- Các thán từ: ôi, than ôi, ồ…
- Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật…
Trang 21- Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái (là), đáng buồn (là)…
- Các trợ từ: đến, ngay, chính, đích thị…
- Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó cho rồi, hỏi cái đếch gì…
- Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu …thì…, giá…thì…, cứ…thì…,…
Có thể thấy rằng, các phương tiện từ vựng biểu thị tình thái được sử dụng với tần số cao và linh hoạt hơn so với các phương tiện ngữ pháp
+ Dùng phương thức giễu nhại
+ Dùng phương thức nói quá
(3) Dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao
(4) Dùng hình thức rút tỉa ngụ ngôn
Về đại thể là vậy, nhưng khi đi vào từng tác phẩm sẽ có những biến tấu khác nhau Vì vậy, người nghiên cứu cần linh hoạt để nắm bắt được những biến chuyển ấy
1.3 Về Sống mòn của Nam Cao
Nam Cao được bạn đọc đặc biệt quan tâm từ cái bóng dáng vất vưởng
dở say dở tỉnh của Chí Phèo bước ra trang giấy đi “gây sự” với cuộc đời
Nhưng phải đến Sống mòn thì Nam Cao mới thực sự xứng đáng trở thành một
trong những đỉnh cao của văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 và
Trang 22góp phần đưa chủ nghĩa hiện thực lên đến cao trào rực rỡ nhất Vị trí của Sống
mòn trong văn học sử đã được khẳng định từ trước đến nay và đã ngời lên
một dấu son chói lóa không dễ phai mờ
Sống mòn là tiểu thuyết phác họa một cách chân thực, rõ nét cuộc sống
mòn mỏi, bế tắc cả về vật chất lẫn tinh thần của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám Từ đó, Nam Cao làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm: nỗi đau xót trước bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ, những người phải chịu kiếp “sống mòn”, “chết mà chưa sống” Có thể nói
Sống mòn ở là chặng đường mà Thứ từ một chàng trai trẻ tuổi đầy mơ mộng,
đầy lí tưởng và hoài bão, hăm hở phấn đấu, muốn sống có ích hơn cho xã hội nhưng lại bị tống về xó nhà quê ăn bám vợ, trở thành ích kỉ, nhỏ nhen, sĩ diện hão; từ một người muốn lấy tình thương để đối xử với người khác lại có lúc thèm muốn những giá trị vật chất làm cằn cỗi lương tâm của mình
Những mòn mỏi, bế tắc này hiện lên sinh động qua kết cấu tâm lý Kết cấu tâm lý giúp Nam Cao đi sâu vào những biến động tinh vi, đời sống nội tâm của Thứ cũng như bi kịch tinh thần của cả giới trí thức nghèo trong cuộc
đời tù túng, chật hẹp, bị áo cơm ghì sát đất Sống mòn không phải là một tiểu
thuyết bộn bề sự kiện, biến cố mà là một tiểu thuyết hướng nội Kết cấu tâm
lý khiến tác phẩm phác hoạ thành công không chỉ cuộc sống mòn mỏi, ngày càng đen tối của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo mà còn nhấn mạnh sự
“chết mòn” của họ về tinh thần, tâm hồn Vì thế, nó không những giúp chủ đề
tư tưởng của tác phẩm hiện lên đặc sắc mà còn góp phần quan trọng vào việc thể hiện thành công tính cách nhân vật
Trong Sống mòn, những bi kịch không có lối thoát của Thứ còn được
Nam Cao miêu tả qua lối kết cấu vòng tròn - một vòng tròn luẩn quẩn mà nhân vật ở trong đó đối diện với nó nhưng không thoát ra được Đó là những chuyện ghen tuông, những nghèo túng, đố kị, tự ái và những chuyện thèm đi
Trang 23để đổi đời Quanh quẩn bởi vòng tròn đó, với những đoạn độc thoại nội tâm
dài, Sống mòn khiến người đọc như được nếm trải cụ thể cái không khí ngột
ngạt, bức bối, khó chịu mà nhân vật đang sống Kiểu kết cấu này khiến những
bế tắc trở nên đậm đặc hơn, thể hiện đầy đủ hơn tư tưởng của tác giả
Sống mòn còn thành công với nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng chất
liệu đời thường Cuộc sống của từng nhân vật đều được khắc họa từ những chuyện vặt vãnh trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người, từ trí thức đến nông dân Đó là một thế giới nhân vật sống động, vừa gần gũi vừa mới lạ, mang đậm dấu ấn đặc sắc của bút pháp miêu tả Các nhân vật đi vào cuộc sống tự nhiên như thực tại đang diễn ra và con người hiển nhiên phải sống với hoàn cảnh đó Mỗi nhân vật trí thức của Nam Cao luôn tự đối mặt và đối thoại
với nhau Nhân vật điển hình trong Sống mòn là Thứ - một thanh niên trí thức
nghèo luôn luôn suy nghĩ, dằn vặt giữa nỗi lo tồn tại với khát vọng cao xa về một lý tưởng tốt đẹp Nhưng trong bản thân Thứ lại tồn tại những mâu thuẫn khó lý giải Đó là sự giằng xé nội tâm, một sự trộn lẫn nhiều tính cách trong một con người ở từng hoàn cảnh cụ thể Cuộc sống đã vùi dập ước vọng của Thứ, khiến y một mặt muốn đối xử với mọi người bằng tình thương nhưng một mặt y lại hẹp hòi, tàn nhẫn vì sĩ diện hão Thứ đã nhanh chóng trở thành một anh nhà giáo lù rù, xo xúi, an phận Những ước mơ cao rộng của y dần dần bị lụi tắt, mọi suy tính của y không vượt ra nổi vòng vây áo cơm cứ thít chặt quanh cái gia đình bé nhỏ của anh Đó là hình ảnh một con người trí thức
bị bào mòn dần về nhân cách và tinh thần, họ như đang chết mòn trong cái cuộc sống chật hẹp khốn khổ không thể thực hiện được lí tưởng của chính mình
Sống mòn còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí
nhân vật, đặc biệt là Thứ Trong con người y hầu như lúc nào cũng có cuộc giằng co giữa hai tiếng nói: một bên là tiếng nói tự phê phán của con người
Trang 24giàu lòng tự trọng, có nhân cách, biết yêu thương, biết chia sẻ còn một bên là tiếng nói đầy tự ái của một anh chàng sống che đậy bởi cái giả dối bề ngoài,
có khi ôm ấp những lãng mạn viển vông.Thông qua những giằng xé nội tâm, những ngờ vực, tự thú, tự lên án và tự vượt mình như vậy, nhân vật thể hiện khát vọng nhân bản - cuộc sống thật sự “người” hơn
Trong từng nhân vật, Nam Cao đã phanh phui, bóc trần mọi ngõ ngách sâu kín vốn có trong lòng dạ con người Tâm lí nhân vật được thể hiện qua những cảnh cắn rứt hành hạ lẫn nhau, giữa cái chật hẹp của hạnh phúc và tự làm tình làm tội mình qua một chuỗi ân hận, dằn vặt, xót xa Chính nghèo hèn
đã đẩy nhân vật vào cuộc sống chạy theo cơm áo gạo tiền mà không biết mình đang bị bào mòn bởi chính cái nghiệt ngã đó Có thể nói Thứ chính là hình dáng của Nam Cao - một thanh niên được học hành có chí hướng và hoài bão
Nếu quan sát với một ngoại diên rộng hơn, nhân vật của Nam Cao
không chỉ nói về riêng trí thức Trong Sống mòn, cuộc sống của những người
dân lao động cũng hiện ra rất rõ nét Hình ảnh những nhân vật khác còn được
tác giả miêu tả rất sinh động trong cuộc sống hằng ngày của họ Vì vậy, Sống
mòn chính là một tác phẩm hiện thực đã kết tinh và thành công nổi bật trong
cách xây dựng nhân vật, đặc biệt là nhân vật điển hình đại diện cho tầng lớp trí thức đương thời
Ngôn ngữ là một phương diện đặc biệt thành công trong Sống mòn
Nam Cao đã xây dựng được một hình thức ngôn ngữ đa thanh, giàu tính tạo hình, vừa sinh động lại vừa phản ánh rõ nét tính cách nhân vật Sự thành công
ấy được thể hiện ở cả ngôn ngữ kể chuyện lẫn ngôn ngữ nhân vật, cả ngôn
ngữ độc thoại lẫn ngôn ngữ đối thoại Sống mòn được kể ở ngôi thứ ba, nghĩa
là không có nhân vật xưng “tôi” nào đứng ra kể lại câu chuyện Nhưng điều đặc biệt là ở đây người kể chuyện không hề tách riêng hẳn ra mà nhiều lúc đứng lẫn vào nhân vật, có khi phân thân, hoà hợp vào nhân vật, làm cho tác
Trang 25phẩm không còn đơn thanh, một giọng mà trở thành đa thanh, phức điệu, tạo nên nét độc đáo cho tác phẩm Ngôn ngữ kể chuyện hoà lẫn, không phân biệt với ngôn ngữ độc thoại nội tâm nhân vật Sự chuyển đổi điểm nhìn từ người
kể chuyện sang nhân vật, từ ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất đã khiến khoảng cách giữa người đọc và nhân vật được thu hẹp lại, người đọc như đang tham gia vào câu chuyện, là một đối tượng tiếp xúc trực tiếp, nhìn nhận, đánh giá nhân vật
Thời gian và không gian trong sáng tác của Nam Cao khi đi vào nghệ thuật được soi rọi bằng tư tưởng, tình cảm, được nhào nặn và trở thành một hiện tượng nghệ thuật mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Vì vậy, nó không chỉ đơn giản là không gian, thời gian vật chất mà còn là một phương thức biểu hiện thế giới tinh thần, hiện thực đời sống
Một trong những nét đặc sắc của thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao là đã tạo ra một kiểu thời gian hiện thực hàng ngày Trong đó các nhân vật của ông dường như bị giam hãm, tù túng, lẩn quẩn trong vòng những lo âu thường nhật: nhà cửa, miếng cơm, manh áo Cùng với việc phác họa những chi tiết chân thật, mô tả những mối quan hệ nhân sinh, Nam Cao
đã sáng tạo ra trong tác phẩm một kiểu thời gian hiện thực hàng ngày với những lo âu về kinh tế, mòn mỏi về tâm hồn, góp phần tạo nên hình ảnh một cuộc sống bế tắc, ngột ngạt
Bên cạnh thời gian hiện tại, thời gian hồi tưởng cũng được nhà văn vận dụng luân phiên, hài hòa Trong tác phẩm, hồi tưởng hiện ra từ từ, nó không tồn tại độc lập mà trong mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với hệ thống thời gian nghệ thuật Hồi tưởng không đơn giản đẩy lùi những phạm vi thời gian của sự trần thuật, trái lại nó tạo ra khả năng đối chiếu giữa quá khứ, hiện tại
Trong Sống mòn, những kỉ niệm cũ hiện lên thông qua sự hồi tưởng của nhân
vật có thể trong sáng, ấm áp nhưng bao giờ cũng gợi lên một nỗi buồn Đối
Trang 26với họ, những cảnh vật ngày hôm nay như khêu như gợi những kỉ niệm của ngày qua Và kỉ niệm cũ hiện về chỉ làm tăng thêm nỗi buồn chán khổ đau
trước mắt Các nhân vật trong Sống mòn, đặc biệt là đối với Thứ, thời gian
như chiếc bào đang bào mòn đi những mơ ước những lí tưởng con người
Không dừng lại ở quá khứ và hiện tại, Nam Cao còn miêu tả thêm viễn cảnh của tương lai Hiện tại tối tăm, ảm đạm còn tương lai cũng nhuốm màu xám xịt Hiện tại đối với Thứ thật mòn mỏi, nhưng tương lai còn thê thảm hơn nhiều Song tương lai ấy cũng không hoàn toàn tuyệt vọng, trong cái thế giới nghệ thuật nhuốm màu ảm đạm của Nam Cao đôi khi cũng lóe lên những tia
hi vọng ở cuối tác phẩm Tuy nhiên, tia sáng lạc quan cách mạng ấy, nhìn chung còn rất mong manh, chưa có cơ sở vững chắc trong thế giới quan của nhà văn, vì thế không đủ sức xua tan không khí bi quan ảm đạm bao trùm toàn bộ tác phẩm Các kiểu thời gian riêng biệt nói trên liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên nhịp điệu chung của sự vận động trong tác phẩm, một nhịp điệu chậm, nặng nề, nhàm chán và mòn mỏi Trong cái nhịp điệu chung
ấy, đời sống các nhân vật của ông như bị tù đọng, ứ lại
Cùng với việc khai thác thời gian, Nam Cao còn khai thác không gian nghệ thuật Từ không gian thành thị đến không gian làng quê, tuy địa điểm có khác nhau nhưng nhìn chung vẫn là không gian sống của những kiếp người nghèo khó Làng quê thì vắng lặng, hoang vu, thành thị mà cụ thể là ở vùng ngoại ô Hà Nội, một phố nhem nhuốc, lổn nhổn đủ hạng người cũng chật chội, cũng lam lũ, ảm đạm không khác gì nhau Các nhân vật của Nam Cao dường như muốn thoát ra khỏi không gian ngột ngạt, tù túng ấy nhưng đành bất lực Không gian cư trú như sợi dây vô hình trói buộc con người
Không gian tâm tưởng vì thế luôn đè nặng trong tâm hồn Thứ, cùng với những lo toan hiện tại, làm cho đời sống tinh thần của anh luôn ngột ngạt, bế tắc Với không gian này, Nam Cao đã để nhân vật của mình tự phơi bày đời
Trang 27sống phức tạp bên trong con người mình: ý nghĩa cuộc sống, tình yêu, sự ghen tuông, cách xử thế với bạn, với mọi người xung quanh… Ở cuối tác phẩm, hình ảnh đối lập giữa thực tại nghiệt ngã với dự cảm mong manh về sự đổi đời sau cuộc chiến đã gợi ra cho người đọc nhiều suy nghĩ khác nhau Vì
thế, không gian nghệ thuật của Sống mòn là không gian mở
Cùng với việc đổi thay không gian, thời gian nghệ thuật cũng được mở
ra nhiều chiều, tạo cho tác phẩm có được một giá trị sâu sắc, giúp cho người đọc thấy được cái nhìn và thái độ của nhà văn đối cuộc đời, với con người
Đó là một cái nhìn vừa thẳng thắn, khách quan vừa giàu chất nhân văn
Tiểu thuyết Sống mòn với những suy nghĩ, trăn trở về cách sống, mục
đích cuộc đời trong niềm xót xa, dằn vặt khôn nguôi đã thể hiện được cái nhìn thấu suốt của nhà văn về con người, về những uẩn khúc rối ren của cuộc đời
Sống mòn không có những xung đột căng thẳng, không đao to búa lớn mà cứ
đời thường giản dị, thông qua các tình huống, các cuộc đời nhân vật đã nêu bật những giằng xé trong nội tâm, những ước mơ về một tương lai tốt đẹp Bằng văn phong điềm đạm, cốt truyện đơn giản, Nam Cao đã phản ánh được những điều tồi tệ, nhỏ nhen, tha hóa của nhân cách con người và lòng khát khao thay đổi cuộc sống nhọc nhằn bằng một cuộc đời tốt đẹp và nhân bản hơn Có thể nói bao trùm lên toàn tác phẩm là một tấm lòng nhân ái, tình người thấm đẫm trong từng trang viết của ông
Trang 28CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC HÌNH THỨC NÓI MỈA
TRONG SỐNG MÒN CỦA NAM CAO
2.1 Thủ pháp nói mỉa được xây dựng từ các phương tiện tình thái
2.1.1 Cấp độ ngữ âm
Như trên đã trình bày, nói mỉa ở cấp độ ngữ âm được thể hiện thông qua hai yếu tố: ngữ điệu và nhại giọng Đây là hai yếu tố được sử dụng rất hiệu quả
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Nhưng ngôn ngữ là cái gì đó rất trừu tượng còn thực tiễn hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ lại đòi hỏi cái rất cụ thể, đó là lời nói Ngôn ngữ được coi là
“nguyên liệu” còn lời nói là sản phẩm do cá nhân tạo ra từ nguyên liệu chung
ấy Trong chuỗi lời nói, mỗi câu được thể hiện như một chỉnh thể toàn vẹn về ngữ âm, được tách ra giữa hai chỗ ngừng giọng Hình thức ngữ âm của câu chính là ngữ điệu của câu Cùng là hiện tượng điệu tính nhưng thanh điệu và trọng âm chỉ có giá trị phân biệt nghĩa nhưng bản thân chúng, tự nó không có nghĩa hay mang nội dung ngữ nghĩa, trong khi đó, ngữ điệu có khả năng mang nghĩa
Ngữ điệu có hai mặt: ngữ điệu giao tiếp và ngữ điệu tình thái Ngữ điệu tình thái là ngữ điệu biểu thị một sắc thái tình cảm nào đó phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc của người nói Ngữ điệu tình thái không nhất thiết phải liên quan đến nội dung mệnh đề của phát ngôn Cùng một phát ngôn, cùng một nội dung ý nghĩa đó nhưng có thể thông báo dưới nhiều màu sắc cảm xúc khác nhau
Ngữ điệu được thể hiện ở cao độ, trường độ, cường độ và khoảng ngừng của tiếng nói Ngữ điệu mỉa mai là một trong những cấp độ của ngữ điệu tình thái, gắn với chức năng biểu cảm Theo đó, cái được thể hiện trên bề mặt phát ngôn không phải là đích đến cuối cùng mà muốn hiểu được nội hàm câu nói
Trang 29phải tìm hiểu nghĩa hàm ẩn của nó, đó mới chính là đích ở lời của hành vi ngôn ngữ mang ẩn ý mỉa mai
Trong tác phẩm Sống mòn, thủ pháp nói mỉa được biểu thị bằng phương
tiện ngữ âm được tác giả triển khai với mật độ khá cao từ đầu đến cuối tác phẩm, được thể hiện trong bảng thống kê sau:
Bảng 2.1 Thủ pháp nói mỉa đƣợc biểu thị ở cấp độ ngữ âm
không chịu đi cho, thì có chết người không!
voi giày, ngựa xé…
ta cũng dám mua ư?
toét nốt, mới chết người ta chứ! Sao mà họ khéo tìm người thế!
nể
chửi Lúc ấy thì đẹp mặt!
Trang 3014 Chắc là đồ lề của hiệu ảnh cho thuê chứ sắm thì những mã ấy,
lấy tiền đâu Mà mượn thì ai rỗi hơi mà cho những quân ấy
mượn?
chơi đâu! Rõ thật dơ! Giáo khổ trường tư mà cũng đòi nhìn mặt gái tân thời
Ví dụ 1:
“- Chó tây nhà nó ăn thịt bò thì mỗi ngày hết mấy hào?
- A, thưa cậu, có sáu xu
- Thịt bò mà chỉ có sáu xu?
- Vâng, thịt bò nhà da ấy mà! (…)
- Kể như thế thì cũng rẻ Sao mày không bàn ngay với cô giáo nhà mày, lấy tháng cái thịt bò ấy về mà ăn?
- Gớm! Gớm! Thế thì cậu khinh cô giáo con quá!” [22, tr 50]
Trong câu nói này, thái độ của Mô với việc lấy mỗi ngày sáu xu thịt bò nhà da ấy là không xứng với vị thế của Oanh nhưng sự thật thì ngày nào nó đi chợ cũng chỉ có mớ rau muống và nước mắm cũng không đủ ăn cho mặn Với
ba dấu chấm than cùng hành động ngửa mặt lên cười cũng đã tố cáo cho thái
độ của Mô Ngoài miệng thì Mô trách Thứ khi Thứ khinh Oanh nhưng thật lòng thì Mô cũng đã ngấm ngầm coi thường thói keo kiệt, ích kỉ, hẹp hòi của Oanh
Ví dụ 2: “Mất một bữa cỗ để tống tiễn quan ôn, mà quan ôn lại giở
mặt, không chịu đi cho, thì có chết người không!” [22, tr.76]
Trong câu nói mỉa trên, thái độ mỉa mai đã bộc lộ ngay trên ngữ điệu của San Câu dài, nhiều nhịp ngắt như cố ý dài giọng ra để nêu cho được cái
Trang 31trớ trêu của sự kiện Dùng ngữ điệu có vẻ “nhừa nhựa” giọng rượu ấy và cái trớ trêu trong cách ứng xử của “quan ôn” để mỉa thói giả nhân giả nghĩa của Oanh Với ý mỉa đó, Oanh đãi họ ăn một bữa no nê như thế không phải vì tốt bụng mà vì từ đây Oanh không phải tranh nhau từng ngụm ôxi trong căn gác chật hẹp của trường, cũng không phải tốn nhiều tiền hơn vào việc ăn uống nữa và nhất là không phải chung sống với những con người quá hiểu bản chất của Oanh
Ví dụ 3: “Đời bây giờ, người ta cứ văng tê! Thử ngày xưa xem! Cứ
gọi là voi giày, ngựa xé…” [22, tr.123]
Câu chuyện về cô vợ anh xe thuê cái nhà lá của ông Học đã để lại khá
nhiều ấn tượng với cuộc sống của các nhân vật còn lại trong tiểu thuyết Sống
mòn Với ông Học, ông hằn học, đay nghiến thói lẳng lơ, trắc nết của cô ả
Theo ngữ điệu ấy, ông nói hùng hồn, mạnh mẽ như tố cáo tội lỗi của người phụ nữ lăng nhăng, bạc tình ấy với lễ giáo của xã hội cũ Giữa hai từ “voi giày” và “ngựa xé” dường như có một khoảng ngừng lại, ngắt ra, tạo âm điệu nặng nề như những hình phạt mà chính ông Học muốn thực thi ngay
Ví dụ 4: Đoạn đối thoại sau:
“- Lớp này, cô ấy không dệt vải, cô ấy đi buôn
(…) Thứ cười nhạt hỏi:
- Buôn gì?
(…) Vẫn bằng cái giọng kéo dài ra, bà mẹ bảo:
- Buôn vải, chung với mợ giáo San.” [22, tr.149-150]
Bằng ngữ điệu kéo dài ra như thế thì hẳn cái sự “đi buôn” của Liên là khác lạ lắm mà lại đi buôn chung với vợ San thì càng đáng ngờ Theo đó, Liên chỉ mượn cớ đi buôn để đánh bạc và trăng hoa đấy thôi Cùng cảnh ngộ như nhau, vợ San ngoại tình thì Liên cũng có thể lắm chứ Với giọng điệu ấy thì có lẽ cái sự đánh bạc của Liên là điều hiển nhiên và bà mẹ Thứ cũng hùng
Trang 32hồn lắm khi khẳng định: “Này, mày ạ! Hình như lớp này cô ấy cũng đánh bạc
ra việc đấy! Mà phỏng chừng thua, nên gắt như mắm thối, mà rạc người đi, trông như con khỉ ấy!” Ôi! Mẹ chồng - nàng dâu có bao giờ dung hòa, ấy thế
mà Thứ vẫn để trong lòng lắm, y ngờ vợ ra mặt: “Biết đâu được đấy…” Câu nói mỉa của Thứ với ngữ điệu cao dần ở cuối câu cùng dấu chấm lửng bộc lộ thái độ không tin tưởng vợ Nội dung mà Thứ giấu sau dấu chấm lửng ấy có thể là Liên có đánh bạc và thậm chí còn có thể cặp kè với một tay cờ bạc nào đấy, giống với vợ San Dù chỉ là nghi ngờ nhưng nó hành hạ tâm can Thứ dai dẳng và cuối cùng, Thứ đã tát vợ, làm rạn nứt tình cảm vợ chồng bấy lâu
Ví dụ 5: “Không biết chúng nó giết ai ra quần áo mà trong bức ảnh, cả
hai đứa cũng ăn mặc tân thời, giày cao gót, cổ lại đeo kiềng vàng tử tế Chắc
là đồ lề của hiệu ảnh cho thuê chứ sắm thì những mã ấy, lấy tiền đâu Mà mƣợn thì ai rỗi hơi mà cho những quân ấy mƣợn? ” [22, tr.89]
Nghe giọng điệu ấy thì chắc Mô ghét Lân lắm, nó dùng những cụm danh từ “những mã ấy”, “những quân ấy” để chỉ Lân và con sen nhà bà Phán Nghe nó nói ra thì có vẻ nó coi thường, khinh bỉ, mạt sát Lân, coi Lân không phải là con người mà chỉ là những dạng tầm thường, mạt hạng Ấy thế mà đã
có lúc Mô hí hửng khi nói về mối tình của nó với Lân và ý định cưới Lân làm
vợ cho Thứ và San nghe Thì ra, người ta vẫn cứ chê nho xanh khi họ không thể nào hái được để cho vào mồm Tính nhỏ nhen, sĩ diện hão ấy vốn là bản chất cố hữu của con người Vậy làm gì để đổi thay?
Bên cạnh ngữ điệu, nhại giọng cũng là một yếu tố quan trọng thuộc phương diện ngữ âm để tạo nên thái độ mỉa mai trong phát ngôn Theo Bùi Trọng Ngoãn thì “Nhại giọng có thể là nhại giọng nói mang âm sắc địa phương, có thể là nhại giọng điệu cá nhân Người một địa phương khác phát
âm theo kiểu giọng địa phương của người đối thoại có thể là một cách nói mỉa Hoặc lặp lại y nguyên kiểu cách nói năng của một người nào đó cũng là
Trang 33một cách mỉa bằng lối giễu nhại.” Nhại giọng được tác giả dân gian sử dụng rất nhiều trong thể loại văn học truyền miệng – ca dao để gửi gắm những tư tưởng, bài học khác nhau Chẳng hạn như bài ca dao sau:
Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè Ông Nghè sai lính ra ve
Trăm lạy ông Nghè tôi đã có con
Có con thì mặc có con
Thắt lưng cho tròn mà lấy chồng quan
Sự nhại giọng ở đây được thể hiện ở lời đối đáp của ông Nghè Ông Nghè là chức quan thất phẩm, bằng với tri huyện nhưng lại có lời nói và hành động đi ngược lại với địa vị của mình Bài ca dao là lời mỉa mai, chế giễu những vị quan dâm ô, quấy nhiễu dân lành
Trong Sống mòn, thủ pháp nhại giọng cũng được Nam Cao sử dụng khá
linh hoạt, như ở các ví dụ được phân tích dưới đây:
Ví dụ 6: Đoạn đối thoại giữa Mô và Hà:
“- Ai? Ai thế?
- Tôi đây Sao anh tệ thế, anh Mô?
- A! Cô Hà đấy à? Gì thế? Tôi ngủ mê, chẳng nghe thấy gì
Câu chữa mình chỉ tố cáo thêm Người con gái mỉa:
- Tôi biết rồi! Ngủ! Chẳng nghe thấy gì!” [22, tr.28]
Ở đây, Hà đã nhại lại câu nói của Mô: “Ngủ! Chẳng nghe thấy gì!” với
ý nghĩa mỉa mai là Mô nói dối, Mô chưa ngủ, nghe tiếng Hà gọi nhưng không
ra gặp Thật ra thì Mô còn thức đấy, nghe đấy nhưng nó còn phân vân tìm cách đối phó và cũng không muốn cho người khác nghe được câu chuyện của
nó nên chưa chịu ra gặp Hà thôi
Trang 34Ví dụ 7:
“Nó rút cái quả nắm bằng đồng Nước rít lên ở bên trong máy rồi chảy
ồ ồ, sủi bọt Mô kêu lên:
- Đây rồi! Xách ra!
Hà đặt nốt chiếc thùng nữa Tiện tay!
Một anh con trai đứng gần Hà, sỗ sàng:
- Tiện tay! Anh Mô ạ, tiện tay anh hộ cô ấy luôn cái nữa.” [22,
tr.33]
Anh con trai đã nhại lại câu nói “Tiện tay!” của Hà và chuyển câu nói đến một ý nghĩa hàm ẩn khác Phát ngôn này không đơn giản là nói Mô tiện tay xách luôn cho Hà một thùng nước nữa mà nghĩa hàm ẩn của nó có phần dung tục nhằm trêu chọc Hà
2.1.2 Cấp độ từ vựng
Các phương tiện từ vựng thể hiện tính tình thái để nói mỉa rất phong phú, có thể kể tới các động từ tình thái, tiểu từ tình thái, động từ chỉ thái độ
mệnh đề, các phó từ và các quán ngữ tình thái Qua khảo sát tác phẩm Sống
mòn, các đơn vị nói mỉa được biểu thị ở cấp độ từ vựng được thể hiện trong
bảng thống kê sau:
Bảng 2.2 Thủ pháp nói mỉa được biểu thị bằng phương tiện tình thái ở cấp độ từ vựng
đâu! Rõ thật dơ! Giáo khổ trường tư mà cũng đòi nhìn mặt gái tân
thời!
Thằng Mô tha hồ thích nhé!
Trang 354 Anh phí của vừa vừa chứ! Tôi còn đang ăn cơm nhạt đây Làm xái nhất rồi cũng phải để cho người khác nhờ cái xái nhì chứ lại!
thì thích nhỉ?
cứ ở đây Ở đây cũng có cơm rau chứ gì!
ăn quà thì con cũng đến chết già rồi, còn ăn gì được nữa Với lại
dẫu cậu Đích có gửi thư về bảo cho, thì cô giáo cũng chẳng cho nào!
cũng dám mua ư?
mới chết người ta chứ! Sao mà họ khéo tìm người thế!
13 Ai bảo tiếc của giời? Còn hám lợi lắm thì rồi thế nào cũng chết
già ở cái trường này…
14 Ai bảo dại? Đang yên lành, tự nhiên dở chứng, trả lại nhà, đến
rúc vào đây Đã được suốt ngày nhức đầu chưa?
16 Làm như Liên là một tiểu thư chẳng có việc gì ngoài cái việc nhí
nhảnh và vui vẻ, trẻ trung! Làm như chính y chẳng còn có việc gì
phải lo, ngoài cái việc giữ gìn vợ yêu!
Trang 3618 Tôi còn thấy cả u em cũng toét nốt, mới chết người ta chứ!
không chịu đi cho, thì có chết người ta không!
mình cứ thổi tắt mẹ nó đi rồi lấy tay che mặt, như thế mới là người
đàn bà đứng đắn…
ta
* Động từ tình thái
Động từ tình thái là những động từ biểu thị quan hệ chủ quan (thái độ,
sự đánh giá, ý muốn, ý chí…) của người nói đối với nội dung của câu nói hoặc với hiện thực khách quan, là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc tạo nên nghĩa mỉa mai cho phát ngôn nói mỉa Để nhận thấy điều
đó, chúng ta tiến hành phân tích ví dụ sau:
Ví dụ 1: “Những lúc ấy, chắc mặt y phải vênh váo lắm đấy chứ chẳng
chơi đâu! Rõ thật dơ! Giáo khổ trường tư mà cũng đòi nhìn mặt gái tân thời!”
[22, tr.43]
Với động từ “đòi”, ý nghĩa mỉa mai đã lộ rõ trên bề mặt phát ngôn Giáo khổ trường tư, bụng chứa toàn rau muống luộc mà cũng muốn nhìn mặt gái tân thời, liệu lương có đủ để cho họ ăn diện? Mỉa thế, người kể chuyện chế giễu thói mơ mộng viễn vông của người trí thức nghèo nhưng đằng sau lời mỉa ấy, vẫn cuộn lên tình cảm xót xa, cảm thông của tác giả dành cho họ, những người “làm đến chết người đó, chỉ để được ngày vài bữa cơm rau đổ vào mồm rồi đêm ngủ một mình, tưởng nhớ đến vợ con, trong khi vợ y ở nhà quê cũng vậy, làm, làm đến chết người, cũng chỉ vì mỗi ngày mấy bữa cơm,
Trang 37ngoài ra, chẳng hề có một cái lạc thú gì khác nữa, chẳng có một cái hi vọng gì hơn nữa.”
* Tiểu từ tình thái
Bên cạnh động từ tình thái, Sống mòn sử dụng rất nhiều tiểu từ tình
thái như một phương tiện thể hiện ý nghĩa mỉa mai Tiểu từ tình thái cuối câu được Nam Cao sử dụng xuyên suốt tác phẩm Chẳng hạn như trong một số ví
dụ dưới đây:
Ví dụ 2:
“Một lần, ăn mới xong một bát cơm đã thấy hết cả thức ăn, San cầm lấy cái đĩa đựng đậu kho chỉ còn có đĩa không với một tí nước và vài cái lá hành, đổ cơm vào trộn đi, trộn lại sạch như lau Trộn xong, y trút cơm vào bát của y, thong thả và cẩn thận gạt từng hạt cơm dính trong lòng đĩa xuống Rồi
y đặt cái đĩa không ra hẳn ngoài mâm, thủng thỉnh nói một mình:
- Để riêng nó ra đấy Sạch lắm rồi Lát nữa không cần phải rửa Thằng
Trang 38người ích kỉ, keo kiệt đã ăn chặn từng xu, từng hào thức ăn của họ, những bữa
ăn mà thức ăn không đủ ăn nữa bữa cơm, thì ở ví dụ 11 Oanh rất “hào phóng”
đã cho họ một bữa ăn ngon và còn có cả món tráng miệng, nhưng sự thật Oanh là người giả nhân giả nghĩa Trên bề mặt ngôn từ thì câu nói của San là lời tán thưởng, thích thú nhưng đằng sau nó là hàm ý mỉa mai sâu sắc Trợ từ
“lại” kết hợp với tiểu từ tình thái “kia à” cùng với điệp từ “nhỉ” được lặp lại hai lần thì ý nghĩa mỉa mai dường như ngoa nguýt: hôm nay có chuối nữa, chẳng bù cho mọi hôm, cơm ăn còn chẳng đủ dính răng nữa là… Phát ngôn mỉa của San dường như tố cáo tất cả bản tính hẹp hòi, ích kỉ của Oanh
Ví dụ 4:
“- Thức ăn thì cần gì? Miễn là có cơm thì được Chúng tao không đòi thức ăn đâu mà sợ
- Thưa cậu, cậu thì cậu nghĩ thế, chứ chúng con thì lại phải nghĩ khác
Đã nhận cơm nước cho hai cậu thì phải dọn cho nó ra hồn một mâm cơm
- Không ra hồn cũng được Chúng ta bằng lòng chỉ ăn cơm không thôi kia mà!
- Thưa cậu, thế thì hai cậu cần gì phải đi đâu cho tốn tiền? Hai cậu cứ ở
đây Ở đây cũng có cơm rau chứ gì!” [22, tr.65]
Đặt trong ngữ cảnh của cuộc đối thoại, khi không chịu nổi tính bủn xỉn của Oanh, sợ “ở với những người tồi rồi chính mình cũng sinh tồi”, Thứ và San quyết định nhờ Mô tìm nhà trọ và kiếm người lo ăn uống Thế nhưng ai sống cũng cần tiền mà đồng tiền đối với người nghèo thì eo hẹp quá nên cuộc điều đình với Mô về chuyện để bà cụ Hà lo cơm nước cũng không êm xuôi Câu nói của Mô chẳng được bình thường, nó có vẻ nhiếc móc, chì chiết: muốn ăn ngon nhưng lại không muốn mất tiền, hai người cũng chẳng khác gì
cô giáo thậm chí còn đê tiện