Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong tập truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, chúng tôi thấy rằng từ láy được sử dụng với tần số khá cao và từ láy trở thành một trong những đặc trưng độc đáo nhất
Trang 1KHOA NGỮ VĂN -
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
TỪ LÁY TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3Tôi, Ngô Thị Ngọc Diễm, sinh viên Lớp 10CVH1, Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng xin cam đoan: Những nội dung trong khóa luận tốt nghiệp này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trương Thị Diễm Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Ngọc Diễm
Trang 4Để hoàn thành công trình nghiên cứu lần này tôi xin gởi lời cảm ơn đến cô giáo PGS TS Trương Thị Diễm, người đã chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy (cô) giáo khoa Ngữ Văn cùng tổ thư viện trường Đại học Sư phạm, thư viện khoa học và tổng hợp Đà Nẵng, trung tâm thông tin tư liệu Đại học Đà Nẵng và các bạn sinh viên đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình viết khóa luận
Tuy nhiên đề tài nghiên cứu lần này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô và các bạn sinh viên để công trình hoàn chỉnh hơn
Tác giả khóa luận xin tiếp thu, lĩnh hội những ý kiến quý báu đó Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Ngọc Diễm
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Phương pháp thống kê và phân loại 5
4.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ 6
4.3 Phương pháp so sánh đối chiếu 6
5 Bố cục của khóa luận 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Một số vấn đề chung về từ láy 7
1.2 Phân loại từ láy 9
1.3.Chức năng từ láy 14
1.3.1 Chức năng gợi tả 14
1.3.2 Chức năng biểu cảm 15
1.3.3 Chức năng thay thế 17
1.4 Nghĩa của từ láy 17
1.4.1 Nghĩa sắc thái hóa 17
1.4.2 Nghĩa tổng hợp - khái quát 18
1.4.3 Nghĩa của các khuôn vần láy 19
1.5 Vài nét về truyện ngắn và từ láy trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh 20
1.5.1 Truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh 20
1.5.2 Từ láy, một trong những phương diện quan trọng góp phần thể hiện nội dung truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 22
Trang 62.1 Thống kê và phân loại 25
2.1.1 Thống kê 25
2.1.2 Phân loại 28
2.2 Tác dụng biểu hiện của từ láy 37
2.2.1 Bức tranh cuộc sống thời hiện đại “dề dà”, “vơ vẩn” và “đơn điệu” 37
2.2.2 Chân dung lớp trẻ thời hiện đại bồng bột, “ngông nghênh” và vô nghĩa 44
Chương 3 NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG TỪ LÁY CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH 50
3.1 Biến đổi các yếu tố cấu tạo từ láy 50
3.1.1 Biến đổi về mặt ngữ âm và cấu tạo 50
3.1.2 Biến đổi về mặt ý nghĩa 56
3.2 Sự kết hợp khéo léo các từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh 59
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC HỆ THỐNG TỪ LÁY XUẤT HIỆN TRONG
TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mười năm đầu của thời kì Đổi Mới kể từ cột mốc 1986, văn đàn đã chứng kiến sự đột khởi của truyện ngắn cả về số lượng lẫn chất lượng Bên cạnh những cây bút nữ trưởng thành trong chiến tranh như: Lê Minh, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Như Trang, Lê Minh Khuê… phải kể đến những gương mặt truyện ngắn tài năng đại diện cho tiếng nói của thế hệ trẻ Đó là: Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Lí Lan, Trần Thùy Mai, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư,… Tất cả đã góp phần vẽ nên diện mạo của nền văn học nữ quyền thời kì mới
Ngay từ khi xuất hiện với tập truyện ngắn Khi người ta trẻ, Phan Thị Vàng
Anh đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng văn học mà nhà văn Nguyễn Khải gọi là “Nguyễn Huy Thiệp mặc váy” “Phan Thị Vàng Anh đã sớm định hình trong nền văn học Việt Nam đương đại một cá tính khó lẫn lộn: ngắn gọn, sắc sảo, thâm thúy và trí tuệ Chị biết cách “lạ hóa những điều quen thuộc, biết làm da diết những điều tưởng chừng nhạt nhẽo” [19] Truyện ngắn miêu tả những sự việc rất nhẹ, rất khẽ, chớp lại những khoảnh khắc của thực tại, những ấn tượng nội tâm trong những lát cắt cực mỏng của đời người… nhưng kì thực vĩ thanh của nó thì mênh mang đến khôn cùng Khoảng trắng của truyện ngắn để lại là khá lớn Sự thách đố của thể loại đòi hỏi người cầm bút phải huy động mọi tinh lực để cô đọng, dồn nén những chi tiết, sự kiện nhằm thể hiện cái nhìn của mình về cuộc sống
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là hiện tượng mang tính chất xã hội, là lớp
vỏ vật chất phản ánh trình độ tư duy và là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của loài người Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, có thanh điệu, không biến hình vì thế ngôn ngữ Việt có độ mềm mại, uyển chuyển và giàu sức gợi hình ảnh, âm thanh Từ láy là một trong những phương thức cơ bản để cấu tạo từ tiếng Việt Với sự hài hòa về mặt ngữ âm và giá trị nổi bật về sắc thái nghĩa, từ láy có một vị trí quan trọng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt
Trang 8Đến với thế giới của vi truyện Phan Thị Vàng Anh ta bắt gặp xu hướng tỉnh lược ngôn từ và cấu trúc đặc sắc Tỉnh lược nhưng vẫn có sức gợi rất lớn, giàu chất cảm xúc và trí tuệ Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong tập truyện ngắn Phan Thị
Vàng Anh, chúng tôi thấy rằng từ láy được sử dụng với tần số khá cao và từ láy trở
thành một trong những đặc trưng độc đáo nhất trong kĩ thuật viết truyện của Phan Thị Vàng Anh Cũng chính vấn đề này đã gây hứng thú cho chúng tôi quyết định đứng trên góc nhìn ngôn ngữ học nghiên cứu về một trong những hình thức biểu
hiện của tác phẩm cụ thể là: “Từ láy trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu về từ láy
“Láy là một hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng” [7, tr.9] Từ láy và các vấn đề xung quanh từ láy từ lâu đã được sự quan tâm nghiên cứu, tranh luận của các nhà ngôn ngữ học Các công trình được nghiên cứu với nhiều chiều hướng khác nhau, song cũng xoay quanh về định nghĩa và phân loại từ láy Một số tác giả tiêu biểu có thể kể đến như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Diệp Quang Ban,…
Trong cuốn Từ vựng và ngữ nghĩa tiếng Việt, bên cạnh việc định nghĩa, phân
loại từ láy, Đỗ Hữu Châu đi sâu vào phân tích mặt ngữ nghĩa của từ láy Tác giả cho
rằng: “Ý nghĩa của từ láy hình thành từ ý nghĩa của hình vị cơ sở Do đó, khi xét ý
nghĩa của từ láy cần phải đối chiếu ý nghĩa của nó với ý nghĩa của hình vị cơ sở”
[2, tr.49]
Ở giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ), Nguyễn Tài
Cẩn đã khảo sát và miêu tả tỉ mỉ các kiểu loại của từ láy Ông nêu rõ sự khác nhau
giữa từ láy và dạng láy của từ Trong chuyên khảo Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt
hiện đại, Hồ Lê miêu tả cấu tạo những kiểu dạng cụ thể của từ láy [13]
Với chuyên luận Từ láy trong tiếng Việt, Hoàng Văn Hành xem láy như một
cơ chế, một biện pháp cấu tạo từ theo những nguyên tắc nhất định, tác giả đã đi vào phân tích khá sâu về mặt hình thức ngữ âm lẫn ý nghĩa của từ láy Nhà nghiên cứu nhấn mạnh: “Sở trường của từ láy là làm chất liệu để xây dựng văn bản nghệ thuật
Trang 9làm phương tiện cho tư duy nghệ thuật Sở dĩ như thế là vì từ láy là từ giàu giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm Mà văn bản nghệ thuật rất cần những ngôn ngữ như thế để xây dựng hình tượng Cho nên nhà văn, nhà thơ rất chú ý sử dụng từ láy Và lịch sử văn học Việt Nam đã từng quen biết những nhà thơ, nhà văn có tài trong việc sử dụng ngôn ngữ, trong đó có từ láy, như: Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, [7, tr.142]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt gọi từ láy là ngữ láy âm: “Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do sự lặp
lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã cho Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả Hiện tượng láy không chỉ riêng tiếng Việt mà còn ở nhiều ngôn ngữ khác trong vùng Đông Nam Á” [5, tr.86]
Các tác giả trên đã đi sâu vào nghiên cứu từ láy từ nhiều phương diện khác nhau như định nghĩa, đặc điểm, cơ sở phân loại, cơ chế hoạt động, vai trò, ý nghĩa của nó Về mặt lí thuyết, đây là những kiến thức cơ sở cần thiết để chúng tôi tham khảo, vận dụng khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Những công trình và bài viết nghiên cứu về truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh không nhiều, chỉ vỏn vẹn trên dưới 40 truyện mini nhưng đã góp phần định hình nên một cá tính độc đáo Ngay từ khi ra mắt bạn đọc những tác phẩm đầu tiên, truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh đã được độc giả và các nhà phê bình chú ý Có thể kể một số công trình nghiên cứu và bài viết sau:
Trong bài báo Đội ngũ nhà văn viết truyện ngắn đương đại, Lê Dục Tú đã
liệt kê hàng loạt các nhà văn làm khởi sắc truyện ngắn Việt Nam hiện đại Đó là các tác giả: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Xuân Thiều, Đỗ Chu, Hồ Anh Thái, Đoàn Lê, Nguyễn Kiên, Y Ban, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Về nhà văn Phan Thị Vàng Anh, tác giả bài báo có
Trang 10nhận xét: “Cái độc đáo của Phan Thị Vàng Anh là chị đã “biết cách lạ hóa những điều quen thuộc, biết làm cho da diết những điều tưởng chừng nhạt nhẽo”.”[19]
Vương Trí Nhàn với bài báo Phan Thị Vàng Anh, tác giả có một tiêu đề nhận
định về các truyện ngắn của Vàng Anh là “nỗi buồn đến sớm, khuôn mặt đăm chiêu của tuổi trẻ hôm nay” “Từ những trang viết của Phan Thị Vàng Anh, người ta bắt gặp một lớp trẻ có diện mạo khác, mà nét căn bản là một đời sống tinh thần sâu sắc, tinh tế ” [16]
Với bài Hoa muộn - Nơi mùa xuân đi qua của Nguyễn Phương Khánh trên http://vocw.edu.vn, tác giả đã viết: “Hoa muộn của Phan Thị Vàng Anh cũng tìm
cách xử lý riêng qua cấu trúc câu ngắn, nhịp điệu gọn, nhanh và sự thống nhất các điểm nhìn cũng như chuỗi thời gian sự kiện.( ) Tuy không phải để khuấy động điều gì, nhưng như một giai điệu buồn, âm thầm, ngậm ngùi cho một đời người, một mùa hoa Trong truyện ngắn, tác giả đan xen giữa kể và tả Có những câu miêu tả gọn và súc tích cao, đôi khi còn chứa chất thơ và tâm trạng, gợi cảm giác mênh mang.” [11]
Tác giả Nguyễn Thị Phượng Hồng với đề tài Đặc sắc truyện ngắn Phan Thị
Vàng Anh đã tập trung nghiên cứu truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh trên cả hai
phương diện nội dung và nghệ thuật Trên phương diện nghệ thuật, tác giả chủ yếu tìm hiểu các vấn đề như nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu Riêng về ngôn ngữ, công trình chỉ đề cập đến ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ trần thuật chứ chưa chỉ ra những đặc sắc ngôn ngữ cũng như vấn đề về từ láy được
sử dụng trong truyện ngắn
Đã có những bước đầu nhận định về từ láy là khóa luận của Trương Thị Hà
với đề tài Đặc điểm ngôn ngữ với cá tính sáng tạo trong truyện ngắn Phan Thị
Vàng Anh Bài viết đã đề cập đến những đặc điểm ngôn ngữ đặc sắc trong truyện
ngắn của Vàng Anh Đặc biệt tác giả nhấn mạnh: “Từ láy trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh phong phú, đa dạng về số lượng và từ loại, khi đi vào câu đoạn,
nó giàu giá trị biểu cảm, giá trị tượng hình hay tạo sắc thái mới, cũng thấy nó hàm
chứa nhiều ý nghĩa sâu xa, nhiều sắc thái ý nhị, đạt đến tính hàm súc” [6]
Trang 11Nói tóm lại, các công trình và bài viết chỉ tập trung nghiên cứu những đặc sắc về nội dung của truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh Về nghệ thuật, mới chỉ bước đầu định hướng và khái quát trên bề rộng chứ chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh Tuy nhiên, đối với chúng tôi, những ý kiến phê bình, nhận định đóng góp đó là rất quan trọng Trên cơ sở kế thừa
và phát huy những công trình và bài viết trước, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu về từ láy để chỉ ra nét mới mẻ, sáng tạo và những đóng góp của truyên ngắn Phan Thị Vàng Anh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong Luận văn này chúng tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề: “Từ láy trong
truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi lựa chọn tập Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh của nhà xuất bản
Trẻ năm 2012 làm văn bản để khảo sát
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đọc tập Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
để đưa ra nhận xét ban đầu về số lượng từ láy được dùng Đồng thời tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan về từ láy và những vấn đề về tập truyện qua sách báo
và các phương tiện thông tin đại chúng khác
4.1 Phương pháp thống kê và phân loại
Để có thể khảo sát từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh một cách đầy đủ, trong quá trình đọc truyện, chúng tôi đã đánh dấu những từ láy có mặt trong tác phẩm, từ đó đưa ra những nhận định ban đầu về mật độ từ láy và khảo sát giá trị biểu đạt của việc sử dụng từ láy trong tác phẩm
Sau khi thống kê, chúng tôi tiến hành phân loại từ láy theo từ loại, theo phương thức láy và mức độ láy
Trang 124.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Sau khi đã thống kê từ láy trong tác phẩm, chúng tôi tiến hành phân tích từ láy trên phương diện ngữ âm, từ vựng và ngữ nghĩa
Tiếp theo, chúng tôi phân tích giá trị tu từ chung của từ láy với một số từ đặc biệt góp phần khẳng định giá trị về mặt ngôn ngữ và ý nghĩa của từ láy được sử dụng trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
4.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
Để làm nổi bật phong cách dùng từ của Phan Thị Vàng Anh, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có so sánh việc sử dụng từ láy của một số cây bút truyện ngắn khác cùng thời
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa
luận bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Giá trị biểu hiện của từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh Chương 3: Nghệ thuật sử dụng từ láy của Phan Thị Vàng Anh
Trang 13từ cũng vậy Đối với tiếng Việt, phương thức láy là một trong những phương thức cấu tạo từ chủ yếu được giới Việt ngữ học quan tâm
Theo thống kê của các nhà ngôn ngữ học, về số lượng, từ láy chiếm một số lượng đáng kể, khoảng 5.152 từ Xét về đặc điểm, từ láy mang đặc điểm, tính chất của ngôn ngữ tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ đơn lập khác ở Phương Đông Chính phương thức láy ở các ngôn ngữ này đã giúp cho vốn từ có sức phát sinh cao
GS Đỗ Hữu Châu đã khẳng định “láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt” [4, tr.54] Từ một hình vị gốc, chúng ta có thể cấu tạo ra nhiều từ có sắc thái ý
nghĩa khác nhau Ví dụ: các từ láy sau có hình vị gốc là “nhỏ”: nho nhỏ, nhỏ nhen,
nhỏ nhặt, nhỏ nhắn,… Đây là một phương thức tạo từ đóng vai trò lớn trong tiếng
Việt, góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng của chúng ta
Về khái niệm từ láy, có rất nhiều quan điểm khác nhau nhưng chủ yếu xoay quanh ba vấn đề căn bản: láy là phương thức phụ tố, láy là ghép và láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa
Xuất phát từ quan điểm xem láy là một phương thức phụ tố, Lê Văn Lý định
nghĩa: “Từ láy là những từ ngữ đơn được lặp đi lặp lại trong những yếu tố thành
phần của chúng” [7, tr.12]
Nguyễn Tài Cẩn xuất phát từ quan điểm từ láy là ghép và có định nghĩa như
sau: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó theo con mắt nhìn của người Việt Nam
hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm” [3, tr.109]
Trang 14Theo Diệp Quang Ban, “từ láy là một kiểu từ phức (từ đa tiết) được tạo bằng
phương pháp hòa phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.” [2, tr.33]
Còn Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng, “từ láy là những cụm từ cố định được
hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào
đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị biểu cảm, gợi tả.”[5, tr.91]
Với Đỗ Hữu Châu, “từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy,
đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết, với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao gồm thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp gồm thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng – của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.” [2,
tr.41]
Theo Hoàng Văn Hành, “từ láy của tiếng Việt chịu sự chi phối của xu hướng
hòa phối ngữ âm Xu hướng này biểu hiện ở quy tắc điệp và quy tắc đối Điệp và đối ở đây được hiểu với nghĩa rộng: điệp là sự lặp lại, sự đồng nhất về âm, về nghĩa; còn đối là sự sai khác, sự dị biệt, cũng về âm, về nghĩa.” [7, tr.25]
Theo Nguyễn Thái Hòa, “từ láy là những từ được lặp lại âm tiết gốc theo
quy tắc trùng điệp (toàn phần hay bộ phận), theo sự luân phiên âm tố chính, hài hòa về âm và nghĩa, tạo những tín hiệu đặc biệt trong kho tàng từ ngữ.” [9,
tr.246]
Và theo Đinh Trọng Lạc, “từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách nhân
đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối hài hòa với nhau về âm và nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa” [12,
tr.33]
Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu những công trình về từ láy của các tác giả, chúng tôi nhận thấy từ láy phải có ba yếu tố căn bản Đó là:
Thứ nhất, từ láy phải được cấu tạo theo phương thức láy Các thành tố trong
từ láy đều có quan hệ ngữ âm Quy luật hài thanh trong từ láy phân bố theo hai nhóm thanh điệu như sau:
Trang 15- Nhóm âm vực cao: thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc;
- Nhóm âm vực thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng
Thứ hai, từ láy gồm hai hình vị, đó là hình vị gốc và hình vị láy Chúng có
quan hệ ngữ âm với nhau Hình vị láy có thể lặp lại trong cấu trúc chiết đoạn như
âm đầu, vần hoặc lặp cả âm đầu và vần (láy hoàn toàn), đồng thời có sự tương hợp trong cấu trúc siêu đoạn (thanh điệu)
Thứ ba, từ láy có sự hài hòa về âm và nghĩa Đây là một lớp từ đặc sắc mang
màu sắc tu từ rất cao trong tiếng Việt
Chính vì vậy, chúng tôi chọn quan điểm của nhà ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu
để làm cơ sở lý luận chính trong toàn bộ bài nghiên cứu Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo các quan điểm của các nhà ngôn ngữ khác nhằm giúp cho công trình nghiên cứu có được cái nhìn toàn diện hơn
1.2 Phân loại từ láy
Theo quan niệm của GS Đỗ Hữu Châu, từ láy được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức hòa phối ngữ âm bằng cách lặp lại một bộ phận hay toàn bộ hình thức ngữ âm của tiếng gốc, còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm, từ ghép láy, từ phản điệp Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cách hòa phối ngữ
âm và số lần tác động của phương thức láy
Căn cứ vào cách hòa phối ngữ âm, có thể phân thành hai kiểu từ láy: từ láy
hoàn toàn (ầm ầm, thum thủm, chúm chím, bần bật, ) và từ láy bộ phận (giòn giã,
lác đác,…)
Căn cứ vào số lần tác động của phương thức láy, có thể phân từ láy thành các
kiểu: từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết (gọn gàng, vững vàng, vuông vắn), từ láy ba hay từ láy ba âm tiết (sạch sành sanh, tẻo tèo teo, dửng dừng dưng), từ láy bốn hay
từ láy bốn âm tiết (nhí nha nhí nhảnh, vội vội vàng vàng, lam nham lở nhở, tẩn
ngẩn tần ngần)
Có thể miêu tả các loại từ láy bằng sơ đồ cụ thể sau:
Trang 16Căn cứ vào số lần láy, có thể chia từ láy thành: từ láy đôi, từ láy ba và từ láy
tư
- Từ láy đôi: Phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc, một âm tiết sẽ cho ta từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết Đó là những từ mà khi cấu tạo, tiếng gốc được nhân đôi một bước sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được hòa phối ngữ âm thể hiện quy tắc điệp đối
Trang 17+ Phương thức láy tác động một lần vào hình vị một âm tiết cho ta từ láy ba âm tiết
Ví dụ: sạch sạch sành sanh;
sát sát sàn sạt;
dưng dửng dừng dưng;
lơ lơ tơ mơ
+ Phương thức láy tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi cho ta từ láy bốn âm tiết
Ví dụ: khểnh khấp khểnh khấp kha khấp khểnh; nham nhở nham nham nhở nhở;
hăm hở hăm hăm hở hở;
quần áo quần quần áo áo;
ngày tháng ngày ngày tháng tháng;
giấm giúi giấm giấm giúi giúi
Căn cứ vào bộ phận được giữ lại trong hình vị gốc, có thể phân chia từ láy đôi thành từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận
a) Từ láy hoàn toàn (toàn bộ)
Đó là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn các thành phần cấu tạo của hai thành tố Từ láy hoàn toàn chia làm 3 trường hợp:
Thứ nhất, láy toàn bộ âm và giữ nguyên thanh điệu Đó là những từ láy có sự
đồng nhất, tương ứng giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố như: đùng đùng,
xanh xanh, xa xa, tà tà, hao hao, gườm gườm, xinh xinh, rào rào… Ở từ láy hoàn
toàn, các thành tố giống hệt nhau về thành phần cấu tạo, chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và độ kéo dài đối với mỗi thành tố Trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai của từ láy Tuy nhiên láy không phải là sự lặp lại nguyên vẹn âm thanh, mà lặp lại âm thanh có sự biến đổi theo quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ và
có tác dụng tạo nghĩa Điều này thể hiện ở hai trường hợp tiếp theo
Trang 18Thứ hai, láy toàn bộ âm và thanh điệu biến đổi Loại từ láy này điệp phụ âm
đầu và khuôn vần, thanh điệu được chuyển đổi để tạo thế đối Do hiện tượng phát
âm lướt nhẹ ở phụ âm đầu nên có hiện tượng biến thanh theo quy tắc chặt chẽ
Nguyên tắc láy thanh điệu là: thanh bằng láy với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực và bằng đứng trước (hình vị láy), trắc đứng sau (hình vị gốc)
Ngã Nặng
Ví dụ:
đỏ đỏ đo đỏ; tím tím tim tím; tối tối tôi tối;
Từ: đo đỏ đỏ mang thanh hỏi (hình vị gốc) thuộc thanh trắc
đo mang thanh ngang thuộc thanh bằng
Tuy nhiên, có một số ngoại lệ: hình vị láy đứng trước nhưng lại mang thanh trắc, hình vị gốc đứng sau nhưng lại mang thanh bằng
Ví dụ: dưng dửng dưng; may mảy may; con cỏn con
Quy tắc chuyển hóa thanh điệu trong các từ láy đôi theo hai nhóm thanh trong nhiều trường hợp là căn cứ để xác định các từ láy đôi
Thứ ba, láy toàn bộ âm đầu, âm chính và biến đổi thanh điệu, âm cuối Âm
cuối thường biến đổi theo quy luật tương đồng cấu âm:
Trang 19Thứ nhất, từ láy phụ âm đầu (láy âm): là từ láy có phụ âm đầu trùng lặp (giữ
lại) Từ láy phụ âm đầu có 2 kiểu láy:
- Từ láy có hình vị gốc đứng trước, hình vị láy đứng sau
Ví dụ: a: lê la, ngân nga, xấu xa, thối tha…
ai: dễ dãi, mỉa mai, miệt mài, trống trải…
e: gọn ghẽ, ho he, nhắn nhe…
eo: nhăn nheo, vòng vèo, nhạt nhẽo…
- Từ láy có hình vị gốc đứng sau, hình vị láy đứng trước
Ví dụ: tha thẩn, nghi ngút, ngo ngoe, xum xuê, chum chọe, lung lay,…
Thứ hai, từ láy vần: là từ láy có phần vần trùng lặp (giữ lại) Trong kiểu từ
láy này, từ láy có hình vị gốc đứng sau nhiều hơn từ láy có hình vị gốc đứng trước
Ví dụ: lim dim, luẩn quẩn, lác đác, bâng khuâng, bỡ ngỡ, hấp tấp…
Lưu ý:
- Trong tiếng Việt, có một số từ mà cả hai hình vị rất phù hợp với quy tắc láy đôi về âm và thanh điệu song cả hai hình vị đều có nghĩa từ vựng
Ví dụ: mặt mũi, thúng mủng, tốt tươi, đi đứng, tươi cười… những từ này là
từ ghép, chúng có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống từ láy
- Một số từ khác, nếu xét về từ nguyên thì cả hai hình vị đều có nghĩa nhưng nay một trong hai hình vị đã mất nghĩa và chúng có sự trùng nhau ngẫu nhiên về âm thanh - theo quan niệm của sách Ngữ văn hiện hành, chúng được xem là các từ láy
Ví dụ: chùa chiền, hỏi han, đất đai, tuổi tác, chim chóc, gậy gộc, thịt thà, cây
cối, bạn bè, máy móc…
- Có những từ 2 hình vị phù hợp với quy tắc láy cả về âm và về thanh, song
cả 2 hình vị đều không có nghĩa Cụ thể:
+ Trường hợp 1, những từ có hình thức láy, một hình vị của nó nếu tách riêng thì không thể dùng độc lập mà vẫn mang ý nghĩa của cả từ được như: ba ba,
châu chấu, cào cào, chôm chôm, thằn lằn, đu đủ, cà cưỡng…
Trang 20+ Trường hợp hai, những từ có hình thức láy mà một hình vị riêng có thể dùng một mình với ý nghĩa của cả từ như: se sẻ, bươm bướm, chuồn chuồn… (sẻ,
bướm, chuồn…)
+ Trường hợp ba, những từ như: hổn hển, lẩm cẩm, đủng đỉnh, ngậm ngùi, róc
rách, ù ù, ào ào, ầm ầm, xao xác… là những từ láy mà hình vị gốc đã mất nghĩa vì
ngoài chức năng gọi tên chúng còn có tính chất miêu tả biểu cảm
Cả 3 trường hợp trên đều được xem là từ láy
1.3.Chức năng từ láy
1.3.1 Chức năng gợi tả
Chức năng gợi tả làm cho người đọc, người nghe cảm thụ và hình dung được một cách sinh động về âm thanh, hình ảnh, màu sắc của sự vật mà từ đó biểu thị Đó
thường là những từ láy tượng thanh và tượng hình như: run rẩy, rung rinh, mỏng
manh, lom khom, xào xạc, im lìm, phấp phới, lí nhí, lon ton… Tính chất gợi tả của
từ láy xuất hiện khá nhiều trong văn chương, đặc biệt là thơ ca Trong thơ, từ láy góp phần thể hiện nhịp điệu nhẹ nhàng, khoan thai của thi phẩm, tạo ra một không gian thơ mộng làm người đọc chìm đắm trong cảm xúc Lấy dẫn chứng về bài thơ
Chiều xuân của Anh Thơ:
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời
Những cơn mưa xuân là đặc trưng nơi miền Bắc Từ những hình ảnh rất đỗi lặng lẽ trên bến đò, cảnh vật thoáng buồn và tĩnh lặng Từ láy “êm êm” gợi tả hình ảnh những giọt mưa rơi nhẹ điểm xuyết cho khung cảnh chiều xuân Từ láy “im lìm” như nhân lên sự trống vắng, quán tranh là trung tâm của sự hoang vắng và đìu hiu của một ngày sắp kết thúc Hoa xoan rụng “tơi bời” càng gợi lên vẻ xơ xác nhưng cũng rất đỗi nên thơ của bức tranh thôn quê chiều xuân
Từ láy không chỉ chiếm ưu thế về sức gợi trong thơ mà cả trong văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn – một thể loại đòi hỏi sự cô đọng, hàm súc của ngôn ngữ
Trang 21Lấy ví dụ về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam: “Chiều, chiều rồi Một chiều
êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào Trong của hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị: Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn” Bức tranh phố huyện được
Thạch Lam miêu tả đẫm chất thơ: một buổi chiều quê “êm ả” như ru với tiếng trống thu không vang lên bình dị mà thân thiết thức dậy trong lòng người những bâng khuâng Nhà văn lắng nghe nhịp đời trong sự tĩnh lặng mênh mông: tiếng ếch nhái văng vẳng, tiếng mũi vo ve,… những âm thanh mùi vị rất đỗi quen thuộc của quê hương Đó cũng là lúc nỗi buồn man mác trong tâm hồn Liên trỗi dậy Thạch Lam
đã chú trọng sử dụng từ láy trong việc miêu tả bức tranh quê đẹp, yên bình, cuộc sống ở đây như một chiếc ao đời phẳng lặng, không chút xô bồ, xáo động
Từ láy có sức gợi tả âm thanh, hình ảnh rất cao, có tác dụng khá lớn trong văn chương và nghệ thuật Hiểu được giá trị này của từ láy, các nghệ sĩ đã vận dụng tối đa từ láy trong các sáng tác của mình
1.3.2 Chức năng biểu cảm
Nói đến nghệ thuật là nói đến tính biểu cảm Nếu màu sắc, hình khối là chất liệu của hội họa, âm thanh là chất liệu của âm nhạc thì ngôn ngữ là chất liệu đặc biệt của văn chương để kết nối tâm hồn tác giả với độc giả, kết nối cảm xúc với cảm xúc Thơ ca là địa hạt tinh thần của người nghệ sĩ Để sáng tác nên một thi phẩm nghệ thuật điều đầu tiên và cốt lõi là vấn đề được viết phải được khơi nguồn từ chính cảm xúc của người nghệ sĩ Bởi vậy, mọi tác phẩm nghệ thuật dù văn, thơ, nhạc, họa đều có tính chất biểu cảm Tính biểu cảm đó có thể được nêu tường minh trên lớp vỏ ngôn từ hoặc cũng có thể là những dư vị được lắng lại sau khi thưởng thức một tác phẩm văn học Như đã trình bày ở trên, ngôn ngữ có sức mạnh diệu kỳ trong việc tạo nên xúc cảm của tác phẩm nghệ thuật, từ láy là một trong những bộ phận quan trọng góp phần chuyển tải tính biểu cảm vào trong những trang viết Với
Trang 22đặc trưng tiêu biểu về hình thức điệp – đối, từ láy đã chứng minh vai trò và giá trị to lớn trong sáng tác văn học
Giá trị biểu cảm là khả năng biểu thị thái độ, đánh giá tình cảm của người nói đối với sự vật, hiện tượng Việc sử dụng từ láy làm tính năng biểu cảm tạo ra ấn tượng về sự cảm thụ chủ quan của người nói Trong bài thơ “Mưa xuân” của Nguyễn Bính có đoạn diễn tả tâm trạng buồn đau, tủi thương của người con gái trước duyên phận lỡ làng được bộc lộ khá rõ nét qua hai từ láy “lầm lũi” và “lạnh lùng” (lầm lũi: lặng lẽ với vẻ âm thầm, chịu đựng; lạnh lùng: không biểu hiện chút tình cảm trong mối quan hệ):
Mình em lầm lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya
Trong thơ có tính nhạc, trong nhạc cũng có tính thơ Trong các loại hình của nghệ thuật thì âm nhạc là một loại hình dễ đi vào lòng người nhất bởi âm điệu du dương, trầm bổng của giai điệu Nhưng bên cạnh đó, ca từ cũng chiếm lĩnh một phần rất quan trọng trong việc khơi gợi những cảm xúc sâu lắng nhất trong lòng
mỗi con người Đây là những câu hát trong bài Lãng đãng chiều đông Hà Nội của
nhạc sĩ Phú Quang:
Giờ em mong manh như khói
Giờ ta nắng đã chiều rồi
Tình xưa giờ như chiếc lá bay đi phương nào tan tác muôn nơi
Như vậy, qua những cứ liệu trên ta nhận thấy một sự thật không thể không thừa nhận: từ láy là phương tiện ngôn ngữ luôn phát huy tính biểu cảm trong kho tàng từ vựng tiếng Việt, không chỉ trong lịch sử mà cả ở hiện tại và tương lai Từ láy góp phần giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt
Trang 231.3.3 Chức năng thay thế
Chức năng thay thế là khả năng đặc biệt của từ láy Một từ láy có thể thay cho cả một kết hợp từ, vừa thực hiện tính chất tiết kiệm của ngôn ngữ vừa đạt hiệu quả miêu tả cao
Có thể chỉ ra các ví dụ sau:
Từ “sồn sồn” có hai nghĩa: thứ nhất, ồn ào, vội vã, biểu thị thái độ nóng nảy; thứ hai, chỉ người đã có tuổi nhưng không phải đã già Như vậy từ láy “sồn sồn” có thể thay thế cho danh từ trung niên
Từ láy “kè nhè” thay thế cho động từ nói, diễn tả hành động nói giọng trầm, không đều, không rõ tiếng và kéo dài dai dẳng, thường để xin cho bằng được, làm cho người nghe bực bội, cảm giác bị quấy rầy
Từ láy “thoăn thoắt” thay thế cho hành động, dáng cử động chân tay rất nhanh và nhịp nhàng trong từng động tác liên tục
Từ láy “anh ách” là tính từ diễn tả cảm giác khó chịu ở bụng, do ăn quá no và
bị đầy hơi hoặc diễn tả trạng thái bực tức gây cảm giác khó chịu
Trong kho tàng từ láy tiếng Việt, từ láy động từ và từ láy tính từ chiếm một tỉ
lệ khá lớn vì vậy khả năng thay thế của từ láy cho một số từ loại cũng rất cao đặc biệt là thay thế cho tính từ Việc thay thế như vậy của từ láy có tác dụng rất cao trong văn chương và nghệ thuật Điều này rất được các nghệ sĩ đặc biệt là nghệ sĩ ngôn từ chú ý sử dụng
1.4 Nghĩa của từ láy
1.4.1 Nghĩa sắc thái hóa
Đặc trưng chung về nghĩa của từ láy là được hình thành từ nghĩa của hình vị gốc theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cường hoặc giảm nhẹ, tổng hợp hay chuyên biệt hóa Nghĩa của từ láy khác với nghĩa của từ gốc Nói cách khác, nghĩa của từ láy là sự sắc thái hóa của hình vị gốc
Sắc thái hóa là thêm cho ý nghĩa của hình vị gốc một số sắc thái nào đó chứ không thay đổi hẳn nó
- Nghĩa của từ láy biểu thị mức độ mạnh hơn so với hình vị gốc
Trang 24Ví dụ: cỏn còn con, sát sàn sạt, đủng đà đủng đỉnh,…
- Nghĩa của từ láy biểu thị mức độ nhẹ hơn so với hình vị gốc
Ví dụ: từ “xanh” chỉ đặc điểm về màu sắc của nhiều loại sự vật, hiện tượng như: trời xanh, lá cây xanh, nước xanh, mực xanh, da xanh… Đi vào kiểu láy toàn
bộ, cho ta từ “xanh xanh”, không thay đổi về phạm vi biểu vật: trời xanh xanh, nước xanh xanh,… Song, nghĩa của từ láy toàn bộ “xanh xanh” thì lại có tính chất giảm nhẹ về độ đậm đặc (hơi xanh) và loang trên bề mặt của màu xanh
- Nghĩa của từ láy có phạm vi thu hẹp hơn so với hình vị gốc
Ví dụ: Từ xanh đi vào kiểu láy âm, nó cho ta từ “xanh xao” Phạm vi biểu vật của từ xanh bị thu hẹp hẳn, “xanh xao” chỉ nói về nước da của con người và vì phạm vi biểu vật đã bị thu hẹp nên từ “xanh xao” lại có thể gợi cho ta những ấn tượng biểu thái (sự đánh giá, tình cảm thái độ, cảm thụ chủ quan của người nói)
Một số kiểu láy tận cùng có ý nghĩa tương đối thuần nhất
- Các từ láy hoàn toàn hình vị gốc tính từ ở sau, hình vị láy ở trước với thanh bằng thường diễn đạt sự giảm nhẹ tính chất kèm theo sự “loang” ra tính chất đó Ví
dụ: xanh xanh, đỏ đỏ, hiền hiền…
Nếu hình vị láy ở trước có thanh trắc thì cường độ của tính chất lại càng tăng
lên Ví dụ: dửng dưng, cỏn con…
- Các từ láy hoàn toàn gốc động từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại các động
tác không biến điệu kèm theo sự giảm nhẹ cường độ của mỗi động tác Ví dụ: gật
gật, rung rung, lắc lắc…
- Các từ láy hoàn toàn gốc danh từ thường diễn đạt sự lặp đi lặp lại của một
số sự vật, hiện tượng, sự kiện… cùng tính chất Ví dụ: ngày ngày, đêm đêm, năm
năm, tối tối…
1.4.2 Nghĩa tổng hợp - khái quát
Sắc thái hóa và đột biến về nghĩa là hai tác động chủ yếu của phương thức láy Tuy nhiên, sắc thái hóa vẫn là tác dụng điển hình của phương thức láy Cơ chế láy lại và biến đổi là nguyên nhân sâu xa của sự sắc thái hóa Chính cơ chế này sẽ giải thích sự gần gũi giữa từ ghép đẳng lập và từ láy Ở các từ ghép đẳng lập, hai
Trang 25hình vị phải chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất của cùng một loại: nhà cửa, quần áo,
chân tay… Đó là những sự vật, hiện tượng đồng cấp trong một loại lớn như quần và
áo trong y phục Nhưng cũng có một số từ ghép đẳng lập do hai hình vị đồng nghĩa
tạo nên như bếp núc, chợ búa, bạn hữu, ngay thẳng… nghĩa là những hình vị đồng
nhất về ngữ nghĩa, chỉ khác về ngữ âm Sự đồng nhất về nghĩa này là phổ biến giữa hình vị láy và hình vị gốc trong các từ láy, chỉ khác ở chỗ trong các từ này, sự đồng nhất về nghĩa đi đôi với sự đồng nhất về ngữ âm Nói cách khác, từ ghép đẳng lập
và từ láy đều cùng một cơ chế: sự lặp lại ý nghĩa của hình vị, ở từ ghép đẳng lập trước hết là sự lặp lại ý nghĩa loại lớn với giới hạn tột cùng là lặp lại gần như hoàn toàn ý nghĩa của hình vị Còn trong từ láy, sự lặp lại gần hoàn toàn này là bắt buộc Cho nên, nếu như ý nghĩa điển hình của phép ghép đẳng lập là khái quát hóa, phi cá thể hóa thì một trong những tác dụng sắc thái hóa của từ láy cũng phải là khái quát
hóa, phi cá thể hóa: máy móc, chim chóc, hội hè, mùa màng, da dẻ, cây cối… Nghĩa
của từ láy có tính khái quát, tổng hợp hơn so với hình vị gốc
1.4.3 Nghĩa của các khuôn vần láy
Miêu tả, biểu cảm là một trong những chức năng quan trọng của từ láy Từ láy có sức gợi rất lớn, đặc biệt là khả năng tạo cảm giác, sự liên tưởng cho người đọc Chính vì vậy, việc sử dụng từ láy hiệu quả sẽ tạo sự sinh động cho văn bản nghệ thuật cũng như khẩu ngữ sinh hoạt hằng ngày Ở đây, chúng tôi xem xét ý nghĩa biểu đạt của một số khuôn vần láy tiêu biểu do vỏ ngữ âm của chúng mang lại
Đặc trưng ngữ nghĩa của một số từ láy có cùng mô hình sáng tạo, đồng thời
có chung một khuôn vần
Khảo sát khuôn vần đơn:
Các từ láy âm mà hình vị láy ở trước có khuôn vần [âp] thường diễn tả sự
dao động đều đặn theo chiều lên xuống hoặc theo tình thế hiện ra mất đi như: bập
bềnh, tập tễnh, khấp khểnh, lấp ló, nhấp nhô, phập phồng…
Các từ láy âm mà hình vị láy ở trước có khuôn vần [úc] diễn tả dao động
theo chiều ngang từng quãng ngắt như: rục rịch, nhúc nhích, lúc lắc, trục trặc…
Trang 26Các từ láy âm có hình vị láy ở sau có khuôn vần [ăn] thường diễn tả một tính
chất đạt đến mức độ chuẩn, không chê vào đâu được như: đầy đặn, tròn trặn, thẳng
thắn, ngay ngắn…
Khuôn vần /a/ trong hệ thống nguyên âm tiếng Việt là nguyên âm đơn, dài,
có âm lượng lớn nhất Với đặc điểm này trong từ láy, âm /a/ có khả năng gợi tả
những gì có tính chất mạnh mẽ, to, vang, lớn, rộng, kéo dài như: lân la, dần dà, ê a,
ngân nga, lã chã…
Khuôn vần /i/ là nguyên âm dòng trước không tròn môi có độ mở nhỏ nên
tạo cảm giác nhỏ bé của sự vật được nói tới như: thầm thì, xầm xì, lí nhí, ti hí,…
Khuôn vần /u/ là nguyên âm dòng sau, tròn môi Về mặt âm lượng, /u/ là nguyên âm nhỏ nhất Về âm sắc, /u/ là âm sắc tối, trầm nhất trong các nguyên âm
tiếng Việt nên tạo ấn tượng trầm, nhỏ và tối như: lù mù, âm u, thù lù, lù đù,…
Khảo sát một số khuôn vần kép tiêu biểu:
Khuôn vần [u-i]: khuôn vần này không có âm cuối nên đặc tính của cặp nguyên âm được thể hiện rõ là tính chất nhỏ nhẹ của âm thanh hoặc diễn tả trạng
thái chậm chạp, thiếu linh hoạt, trì trệ như: ù lì, mụ mị, thủ thỉ, rủ rỉ,…
Khuôn vần [ung-inh]: là sự kết hợp giữa nguyên âm /u-i/ với phụ âm cuối [ng-nh] là phụ âm mũi hữu thanh Sự kết hợp này tạo nên một sự đối lập giữa ấn tượng nhỏ nhẹ với ấn tượng rộng, dài của âm cuối về sự không tương thích, không
phù hợp giữa hai sự vật, đối tượng như: chùng chình, khủng khỉnh, đủng đỉnh, rủng
rỉnh…
Nghĩa của từ láy khá phong phú, đa dạng, nhiều màu nhiều vẻ có giá trị biểu cảm rất cao Với đặc trưng này, từ láy xứng đáng được coi là một loại từ đặc sắc, có
vị trí quan trọng trong văn chương
1.5 Vài nét về truyện ngắn và từ láy trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh
1.5.1 Truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh
Nói đến sự nở rộ của các cây bút nữ phải kể đến thời kì sau 1975, một loạt các cây bút nữ trẻ bắt đầu xuất hiện và dần khẳng định tài năng, vị trí của mình trên
Trang 27văn đàn Các giải thưởng truyện ngắn được liên tiếp trao cho các cây bút nữ: Phạm
Thị Minh Thư (Có một đêm như thế), Y Ban (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ), Phan Thị Vàng Anh (Hoa muộn),… Sự xuất hiện của các cây bút nữ đã trở thành một trào
lưu, tạo mạch nguồn cho sự ra đời của dòng văn học nữ quyền trong truyện ngắn
1975 đến nay trong xu hướng vận động của nền văn học thế giới
Làm nên diện mạo của truyện ngắn hôm nay là thế hệ trẻ Phan Thị Vàng Anh cũng gieo hạt, góp sức mình vào công cuộc hiện đại hóa văn học Vàng Anh là một cây bút đa năng, hoạt động trên nhiều lĩnh vực từ thơ, phim, nhạc, tạp văn đến truyện ngắn Trên lĩnh vực văn chương, sáng tác của Vàng Anh chưa nhiều, chưa đủ lắng đọng, chưa đủ ghi khắc cho mình một bản lĩnh nghệ thuật riêng biệt, chưa định hình một phong cách rõ rệt như Tô Hoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư,… Tuy nhiên, có thể gọi Vàng Anh và các lớp nhà văn như chị là những cá tính sáng tạo, những giọng văn có cá tính Văn chương Phan Thị Vàng Anh là tiếng nói mới mẻ, táo bạo, linh hoạt đầy cá tính Chị
đã không ngừng nỗ lực sáng tác, góp sức mình vào dàn hợp xướng truyện ngắn nhiều âm sắc
Truyện ngắn là một lát cắt của cuộc sống Các tác giả nữ viết truyện ngắn trong thời kì đổi mới đã thổi một luồng gió mới trần trụi hơn, thật hơn, đời hơn vào trong văn Truyện ngắn của các cây bút nữ gây ấn tượng với người đọc bởi sự
“lạ hóa về đối tượng” Bùi Việt Thắng đã nhận xét: “Văn học Việt Nam đang
mang gương mặt nữ khoan dung, trắc ẩn, đắm đuối” Ngoài các sáng tác nói về số
phận khổ đau, bất hạnh của người phụ nữ, các chị còn lấn sân sang vấn đề tình dục
như Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, I am đàn bà của Y Ban,… Phan Thị Vàng Anh
thì nhẹ nhàng hơn, mỏng manh hơn nhưng cũng không kém phần day dứt Phan Thị Vàng Anh có khi mạnh mẽ, quyết liệt, có khi khinh bạc, lạnh lùng, có khi dịu dàng, đằm thắm Phan Thị Vàng Anh cuốn hút người đọc bởi sự mới lạ, hồn nhiên, tinh nghịch và thông minh
Với số lượng vỏn vẹn chỉ 45 truyện ngắn, không phải là lượng sáng tác đồ sộ của một nhà văn nhưng chừng ấy cũng đủ để lại ấn tượng khá rõ nét trong lòng bạn
Trang 28đọc và giới phê bình đương đại Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh không sử dụng hình thức nhật kí để viết nhưng truyện ngắn của chị pha tính chất nhật kí Lật mở từng trang truyện của Vàng Anh đâu đâu cũng thấy ngổn ngang những câu chuyện đời tư thế sự, những gì rất nhỏ nhặt, thường tình ta bắt gặp trong cuộc sống như mối quan hệ thầy trò, bạn bè, tình yêu,… của những người đang còn trẻ Đó là nhân vật
“tôi” trong Mười ngày kể lại những tháng ngày mỏi mòn chờ đợi người yêu hay cảm xúc, tâm trạng của người viết trong các truyện ngắn khác như Yêu, Mưa rơi,
Hồng ngủ,…
Trong truyện ngắn Hoa muộn, Khi người ta trẻ,… của Phan Thị Vàng Anh ta
còn thấy quan niệm sống của người trẻ thời hiện đại: cuộc sống như một sân chơi, say mê, cuồng nhiệt đến cùng nhưng cũng lắm lúc vấp ngã trong tình yêu
Với một cốt truyện tâm lí, Phan Thị Vàng Anh đã đi sâu, soi thẳng vào thực trạng, diễn biến phức tạp của xã hội hiện nay và bức tranh về một bộ phận thanh niên sống phù phiếm, điên cuồng và vô nghĩa Đây là những khám phá của Vàng Anh về tuổi trẻ và con người trẻ
Cách viết trẻ trung, đơn giản, ngôn ngữ chủ yếu là tả, ít kể lể, bình luận đã góp phần tạo nên một cá tính Vàng Anh rất đặc trưng: ngắn gọn, súc tích mà sắc sảo, thâm thúy không lẫn vào đâu được Nguyễn Khải đã từng khen Vàng Anh một câu rất ngắn gọn mà nức tiếng: “Nguyễn Huy Thiệp mặc váy”
1.5.2 Từ láy, một trong những phương diện quan trọng góp phần thể hiện nội dung truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
“Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học Nói cho cùng thì văn học là nghệ thuật ngôn từ, song không phải là những ngôn ngữ lôgic chỉ tác động chủ yếu vào lí tính như chính trị, triết học,… mà là những ngôn từ giàu hình ảnh và tình cảm, tác động chủ yếu vào tâm hồn con người” [13, tr.185] Ngôn từ là chất liệu thứ yếu của văn học, là hình thức biểu hiện của tác phẩm văn học, là cái biểu đạt và tư duy Ngôn từ nghệ thuật là nhân tố trung gian đi từ tâm hồn người nghệ sĩ đến trái tim người đọc
Trang 29Từ láy với tư cách là ngôn từ nghệ thuật được nhà văn vận dụng một cách khéo léo làm phát huy sức mạnh của ngôn ngữ Từ láy mang trong mình đầy đủ các đặc trưng của ngôn ngữ đã đi vào văn chương như một chất liệu để khơi gợi cảm xúc và hình tượng về sự vật, sự việc được nói tới, đồng thời từ láy là kiểu loại từ mô
tả một cách chính xác và có hồn nhất những cung bậc tình cảm của lòng người
Từ láy đã chứng tỏ sức biểu đạt rất lớn của mình trong ngôn ngữ văn chương, đáng chú ý là thơ và truyện ngắn Về đặc điểm hình thức, thơ có những ưu thế nhất định để từ láy phát huy khả năng biểu đạt của nó: đó là chất trữ tình của thể loại, là nhịp điệu, là cách gieo vần, điệp, đối hài hòa làm cho từ láy có thể biểu đạt trọn vẹn
nhất tính chất trừu tượng, liên tưởng độc đáo
Từ láy trong truyện ngắn không uyển chuyển, ủy mị như trong thơ ca mà nó phát huy tính cô đọng, ngắn gọn, súc tích phù hợp với đặc trưng thể loại: ngắn Truyện ngắn là một thể tài tự sự cỡ nhỏ, dung lượng ngôn từ trong truyện ngắn không nhiều, tình tiết, sự việc đơn giản, nhà văn không chú trọng xây dựng nhân vật trên tất cả các phương diện mà chỉ nêu ra những hành động tiêu biểu để bộc lộ tính cách nhân vật Vì mang đặc trưng ngắn nên tất cả các yếu tố cấu thành nên truyện ngắn phải tập trung phát huy hết tinh lực của nó, từ nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu đến giọng điệu và ngôn ngữ để cho ra đời một tác phẩm văn học có dung lượng bé nhưng sức chứa không hề bé, tuy là nét chấm phá nhưng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả Mỗi thể tài văn học đều dung nạp cho mình các nhân tố
để thể tài đó bộc lộ tối đa điều mà nó mong muốn thể hiện Truyện ngắn cũng vậy, bên cạnh tình tiết tiêu biểu thì ngôn ngữ phải chính xác, phải cô đọng, giàu chất biểu cảm, liên tưởng, hình tượng Từ láy là một trong những phạm trù của ngôn ngữ góp phần tạo nên sự thành công của truyện ngắn
Trong tuyển tập Truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh, từ láy được sử dụng
khá nhiều Tác giả chọn từ láy là một trong những cách biểu đạt của ngôn ngữ
truyện là một điều khá tinh tế và hấp dẫn Đọc truyện Khi người ta trẻ, ta mãi day
dứt khôn nguôi về chân dung người con gái mù quáng và bi lụy trong tình yêu Đan xen giữa kể là tả, những câu miêu tả rất súc tích, gợi cảm giác mênh mang trong
Trang 30lòng người Trong truyện ngắn Nhật kí, Mười ngày, Hoa muộn,… chỉ với vài từ láy
“trệu trạo”, “lẹt đẹt”, “thờ ơ”, “uể oải”, “lặng lẽ”, “lơ mơ”, “nhợt nhạt”, “lù khù”,
“chậm chạp”,… cũng đủ để thấy được tâm trạng chán chường, lửng lơ, dửng dưng, ngao ngán trước vòng quay chậm chạp, đơn điệu, một vở kịch cuộc sống không có cao trào chẳng có gì thay đổi, hấp dẫn
Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh viết về người trẻ, cốt truyện, ngôn ngữ, đặc biệt là từ láy đã góp phần vẽ nên bức chân dung những thanh niên thời hiện đại phù phiếm và trống rỗng ở đâu đó vẫn tồn tại vô hình trong lớp trẻ ngày nay
Có thể nói, việc sử dụng linh hoạt các phương tiện ngôn ngữ, cụ thể là các từ láy đã giúp Phan Thị Vàng Anh thể hiện sâu sắc nội dung, đề tài truyện Điều đáng chú ý ở đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh là sử dụng nhiều từ láy, nhiều câu dài, nhiều biện pháp tu từ như so sánh, điệp từ với nhịp điệu chậm rãi, đều đều, nhẹ nhàng Những điều này cũng đủ để Vàng Anh hình thành một cá tính khác hẳn những nhà văn nữ cùng thời
Trang 31Chương 2 GIÁ TRỊ BIỂU HIỆN CỦA TỪ LÁY TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH
2.1 Thống kê và phân loại
từ láy
Lượt dùng
Hệ số
sử dụng
Trang 33Theo thống kê ban đầu, số lượng từ láy được Phan Thị Vàng Anh sử dụng có mức độ nhiều ít khác nhau tùy theo từng truyện Trong 45 truyện ngắn có tất cả 1.483 lượt từ láy, đa phần là từ láy đôi
Truyện Phan Thị Vàng Anh thường ngắn ngọn, theo hình thức của loại truyện mi-ni, mỗi truyện chỉ thu gọn trong dăm ba trang giấy Qua khảo sát tập truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, Nxb Trẻ năm 2012, các truyện dài nhất cũng chỉ
bảy đến mười trang (Cuộc ngoạn du ngắn ngủi, Mười ngày, Đất đỏ, Xa nhà, Có
con,…), các truyện còn lại khoảng tầm dưới sáu trang (Yêu, Hoa muộn, Khách đêm, Cha tôi, Hồng ngủ, Khi người ta trẻ,…) Mặc dù dung lượng ngắn nhưng độ dồn
nén trong truyện không hề nhỏ, có sức ôm chứa vấn đề sâu sắc Có được điều đó là nhờ ở ngôn ngữ - một hình thức biểu hiện của tư tưởng nhà văn, mà cụ thể ở đây là
ràng, từ láy trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh được sử dụng với mức độ đậm đặc hơn
Sự phong phú về mặt từ láy trong truyện ngắn của Vàng Anh còn thể hiện ở
hệ số sử dụng từ láy Khảo sát tập truyện của Vàng Anh chúng tôi nhận thấy: các từ láy trung bình trong từng truyện chỉ được sử dụng lặp lại nhiều nhất hai lần, còn đa
số chỉ được dùng một lần Ngoài ra, với mục đích nhấn mạnh hiện tượng, tính chất
trong truyện phải kể đến các trường hợp ngoại lệ như từ “u ám” trong truyện Khi
người ta trẻ lặp lại 6 lần, từ “dền dứ” trong truyện Xa nhà được lặp lại 5 lần, từ
“loay hoay” trong truyện Trò dối được lặp lại 4 lần, từ “lặng lẽ” trong truyện Kịch
câm được lặp lại 3 lần,… và một số ít từ khác Thử lấy ví dụ về một đoạn trích để
thấy được dụng ý của việc lặp lại từ láy trong truyện của Vàng Anh: Nhật kí của cô
Trang 34để lại không ghi cái gì cụ thể, chỉ thấy u ám Mưa hay nắng cũng u ám, đi chơi cũng
u ám, đi học cũng u ám Cái gì cũng vẻ như không lối thoát (Khi người ta trẻ), qua
đó ta thấy nhân vật Xuyên trong truyện nhìn đời bằng một cặp mắt “u ám”, cái gì cũng nhuốm màu “u ám” Buồn, đơn điệu, tẻ nhạt, vô vị đó là không khí toát ra từ
truyện ngắn Khi người ta trẻ nói riêng và các truyện ngắn về tình yêu của Vàng Anh
nói chung
Để được như vậy, Vàng Anh đã sử dụng các từ láy đồng nghĩa khác để thay thế, tránh việc lặp lại nhiều từ trong truyện qua đó tạo sự phong phú trong màu sắc ngôn ngữ truyện Điều này sẽ được đề cập ở Chương 3 của đề tài
2.1.2 Phân loại
a) Phân loại từ láy theo từ loại
- Danh từ: bong bóng, bồ bịch, đom đóm, ma mãnh, mảy may, ngóc ngách,
rủi ro, tí teo, tích tắc, thách thức, thử thách, xó xỉnh
Danh từ là lớp từ mang ý nghĩa sự vật thuộc nhóm thực từ, có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ và có khả năng làm các thành phần của câu Danh từ và động từ là hai loại từ có số lượng to lớn trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, tuy nhiên
từ láy là danh từ lại chiếm một tỉ lệ khá thấp Theo thống kê trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh thì từ láy danh từ chỉ có 12 từ chiếm tỉ lệ khoảng 2% trên tổng
số 644 từ láy
- Động từ: an ủi, áy náy, bàn bạc, bịn rịn, bực bội, cãi cọ, càu nhàu, cười
cười nói nói, chập chờn, chen chúc, chơi bời, chúm chím, dặn dò, dò dẫm, đàn đúm, đắn đo, đi đi về về, đinh ninh, đong đưa, gần gũi, gật gù, hãi hùng, hấp háy, hẹn hò, hít hà, hó hé, hồi hộp, khịt khịt, khóc lóc, khúm núm, khụt khịt, la cà, lả tả, lạc lõng, lải nhải, lảng vảng, lảo đảo, lao xao, làu bàu, làu nhàu, lắc lư, lăng nhăng, lắp bắp, lẩm bẩm, lân la, lập lòe, lất phất, len lỏi, leo lẻo, léo nhéo, lê la, lim dim, lo lắng, lòa xòa, loạng choạng, loanh quanh, loay hoay, lô xô, luẩn quẩn, lục đục, lúc lắc, lục lọi, lúi húi, lưỡng lự, mang máng, mon men, mơ màng, mơ mộng, mưu mô, năn
nỉ, nắn nót, nấn ná, nũng nịu, nựng nịu, ngân nga, ngập ngừng, nghẹn ngào, nghịch ngợm, ngó ngó xem xem, ngó ngoáy, ngo ngoe, ngọ nguậy, ngoay ngoáy, ngoe
Trang 35nguẩy, ngơ ngác, nguôi ngoai, nhao nhao, nhắc nhở, nhăn nhăn nhó nhó, nhăn nhó, nhấm nháp, nhấn nhá, nhấp nháy, nhấp nhỏm, nhỏng nhẽo, nhớ nhung, ông ổng,
quây quần, quầy quậy, rã rời, rên rỉ, rì rào, ri rỉ, rình rập, rù rì, rủ rỉ, rũ rĩ, run rẩy, say sưa, sửa sang, sừng sộ, sửng sốt, tàn tạ, tắc tị, tỉa tót, toe toét, tủm tỉm, tung tóe,
tư lự, tưởng tượng, thách thức, thảng thốt, thầm thì, thẫn thờ, thập thò, thấp thoáng, thèm thuồng, thẹn thùng, thêm thắt, thì thầm, thiêm thiếp, thổ lộ, thủ thỉ, thui thủi, thử thách, ùn ùn, uốn éo, váng vất, vần vũ, vật vờ, ve vẩy, ví von, vớt vát, vung vãi, vương vãi, vướng víu, xì xào, xoay xở, xoen xoét xoen xoét, xúm xít, xuýt xoa
Động từ là thực từ biểu thị ý nghĩa hoạt động, có mặt hầu hết trong các câu Tuy chiếm số lượng khá lớn trong kho từ vựng tiếng Việt nhưng trong từ láy thì động từ lại chiếm tỉ lệ thấp hơn Khảo sát truyện ngắn của Vàng Anh chúng tôi thống kê được 169 từ láy là động từ trên tổng số 644 từ láy, chiếm 26% từ láy trong toàn truyện
Đây là những từ chuyên sử dụng để biểu thị một hành động cụ thể của con người Chẳng hạn như từ “làu bàu”, “làu nhàu”, “càu nhàu” là ba từ đồng nghĩa với nhau, đều có nghĩa là nói nhỏ, lẩm bẩm trong miệng, tỏ ra bực tức vì không bằng lòng điều gì Cùng một sắc thái nghĩa song Vàng Anh lại sử dụng ba từ láy khác nhau, như thế chứng tỏ sự phong phú của từ láy tiếng Việt trong việc gọi tên bản chất của sự vật,
sự việc, hoạt động, trạng thái, tính chất… Hay với từ “xoen xoét” có giá trị gợi tả rất cao, tác giả lại tác động phương thức láy một lần nữa để tạo ra từ láy tư “xoen xoét xoen xoét” có nét nghĩa là chỉ một người nói nhiều, liến thoắng cả mồm, nói rất trơn tru không biết ngượng ngùng với vẻ dễ ghét Việc tạo ra từ láy tư từ từ láy đôi có tác dụng
nhấn mạnh thêm tính chất của hành động, tạo sắc thái biểu cảm cao cho từ láy
- Tính từ: ào ạt, ấm áp, âm âm, âm ẩm, ầm ầm, ầm ì, ấm ớ, âm thầm, âm u,
ẩm ướt, ấp úng, băn khoăn, bần bật, bận bịu, bần thần, bầy nhầy, bẽ bàng, bẽn lẽn, béo bở, bình tĩnh, bối rối, bồn chồn, bơ phờ, bù xù, bủng beo, buồn bã, buồn buồn, bừng bừng, bứt rứt, cam cam, cay cay, cay cú, cắm cúi, cặn kẽ, cần mẫn, cồng kềnh, cũn cỡn, chang chang, chắc chắn, chăm chăm, chăm chỉ, chăm chú, chằng chịt,
Trang 36chậm chạp, chầm chậm, chật chội, chênh vênh, chi chít, chi li, choai choai, choắt cheo, chói chang, chòng chành, chỏng chỏ, chồm hổm, chông chênh, dai dẳng, dại dột, dạn dĩ, dằng dặc, dặt dẹo, dầm dề, dè dặt, dễ dãi, dễ dàng, dịu dàng, dìu dịu, dồn dập, dở dang, du dương, dúm dó, duyên dáng, dữ dằn, dửng dưng, đàng điếm, đàng hoàng, đạo mạo, đau đớn, đăm đăm, đằng đẵng, đằng đằng, đầm đìa, đen đúa, đẹp đẽ, đều đặn, đều đều, đì đẹt, điên đảo, đinh ninh, đông đúc, đột ngột, đủng đỉnh, đùng đục, ẽo uột, ê a, gay gắt, gay go, gần gũi, gầy gò, gọn gàng, gọn ghẽ, gượng gạo, giấm giấm giúi giúi, giòn giã, hả hê, hãi hùng, hanh hanh, háo hức, hầm hập, hậm hực, hân hoan, heo hút, hiếm hoi, hoang mang, hoe hoe, hom hem, hối hả, hôi hám, hối hận, hồng hào, hớ hênh, hờ hững, hớn hở, hun hút, hùng hục, huỳnh huỵch, ì oạp, im lìm, ỉu xìu, khàn khàn, khắt khe, khe khẽ, khen khét, khệ nệ, khó khăn, khoan khoái, khốn khổ, khúc khích, khư khư, là lạ, lạ lẫm, lạ lùng, lác đác, lạc lõng, lạch cạch, lách tách, lạch xạch, lai rai, lam nham, lan man, lành lạnh, lạnh lẽo, lảnh lót, lạnh lùng, láo láo, láo lếu, lạo xạo, làu làu, láu lĩnh, lau nhau, lăm lăm, lẳng lặng, lặng lẽ, lẳng lơ, lặng lờ, lăng nhăng, lắt nhắt, lẩm cẩm, lầm lầm lì lì, lầm lì,lấm lét, lầm lũi, lấm tấm, lận đận, lẩn thẩn, lập cập, lập lòe, lầy nhầy, le te, lè tè, lem luốc, lem nhem, len lén, len lét, lén lút, leng keng, lẹt đẹt, lê thê, lềnh bềnh, lênh khênh, lêu đêu, lí nhí, li ti, lịch xịch, liên miên, lít nhít, líu ríu, líu tíu, lo lắng, lọ mọ, loạng choạng, loang lỗ, loáng thoáng, loe hoe, lòe loẹt, lom khom, lõng bõng, long lanh, lóng ngóng, lỗ chỗ, lộ liễu, lô nhô, lô xô, lộn xộn, lồng lộng, lộp độp, lờ đờ, lơ láo, lơ lơ, lơ lửng, lơ mơ, lờ mờ, lờ ngờ, lớ ngớ, lơ thơ, lởm chởm, lù khù, lù lù, lục tục, lui cui, lủi thủi, lùng bùng, lung linh, lung tung, lúng túng, luộm thuộm, luống cuống, lụp xụp, lụt cụt, lừ đừ, lưng lửng, lừng thững, lững thững, lướt thướt, lưu loát, ma mãnh, man mác, mang máng, mảnh mai, mát mẻ, màu mỡ, may mắn, mằn mặn, mập mạp, mênh mông, miên man, mịt mù, mịt mùng, mong manh, mỏng manh, mộc mạc, mờ mịt, mờ mờ, mủm mỉm, mũm mĩm, muộn màng, náo nức, nặng nề, nết na, nồng nặc, ngà ngà, ngả ngớn, ngai ngái, ngán ngẩm, ngang ngạnh, ngang ngược, ngang tàng, ngao ngán, ngào ngạt, ngắn ngủi, ngậm ngùi, ngây ngô, nghênh ngang, nghi ngút, nghiêm nghị, ngoan ngoãn, ngoằn
Trang 37ngoèo, ngọt ngào, ngổ ngáo, ngộ nghĩnh, ngồ ngộ, ngông nghênh, ngơ ngác, ngơ ngẩn, ngu ngơ, nguệch ngoạc, ngượng nghịu, ngượng ngùng, nhảm nhí, nhanh nhẩu, nháo nhác, nhạt nhẽo, nhạt nhòa, nhăn nhó, nhăng nhít, nhầy nhẫy, nhầy nhụa, nhẹ nhàng, nhè nhẹ, nhẹ nhõm, nhếch nhác, nhí nhảnh, nhỏ nhẹ, nho nhỏ, nhòe nhoẹt, nhợt nhạt, nhục nhã, nhút nhát, ọp ẹp, phành phạch, phăng phắc, phẳng phiu, phần phật, phì phò, phong phanh, phong phú, phúng phính, phụng phịu, rả rích, rã rượi, rạng rỡ, rành rọt, rắc rối, răng rắc, râm ran, rậm rịt, rì rầm, ríu rít, rõ ràng, róc rách, rón rén, ròng ròng, rối rít, rù rì, rũ rượi, rủi ro, rủng rỉnh, rụt rè, rực rỡ, sạch sẽ, sang sảng, sang sáng, sặc sỡ, sẵn sàng, sâu sắc, sây sát, song song, sỗ sàng, sột soạt, sờ sợ, sung sướng, suồng sã, sụt sùi, sưng sỉa, sượng sùng, tàng tàng, tang tóc, táo tợn, tầm tã, tẩn mẩn, tỉ mỉ, tí tẹo, tỉ tê, tích tắc, tím lịm, tỉnh táo, tinh tế, tíu tít, tò mò, tò te tí, tối tăm, tôi tối, tờ mờ, tù mù, tuồn tuột, từ
từ, tưng tửng, tha thẩn, thảng thốt, thanh thản, thảnh thơi, thăm thẳm, thẫn thờ, thất thểu, thiêng liêng, thiu thiu, thoăn thoắt, thong thả, thõng thượt, thô thiển, thờ ơ, thơ thẩn, thum thủm, thưa thớt, trầm ngâm, trệu trạo, tròn trịa, tròn tròn, trơ tráo, trơ trọi, trơ vơ tráo váo, trục trặc, trụi lủi, u ám, u u ám ám, u u, u uẩn, uể oải, ung dung, ư ử, bừa bãi, ướt át, vạ vật, vắng vẻ, vặt vãnh, vắt vẻo, vất vả, vây vẩy, vèo vèo, veo veo, vệnh vạng, vênh váo, vêu vao, vĩnh viễn, vòng vèo, vội vã, vội vàng, vội vội vàng vàng, vồn vã, vớ va vớ vẩn, vớ vẩn, vơ vẩn, vu vơ, vù vù, vui vẻ, vụn vặt, vụng về, xa xa, xa xăm, xa xôi, xam xám, xanh xao, xấu xí, xì xào, xì xụp, xinh xắn, xộc xệch, xúng xính
Ở truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh, trong tổng số 644 từ láy có đến 450
từ láy là tính từ, chiếm gần 70% tổng số từ láy Tính từ có tác dụng vô cùng quan trọng trong việc biểu đạt tính chất, trạng thái của sự vật, sự việc, hoạt động, phục vụ đắc lực trong việc xây dựng nên tính cách nhân vật và không gian mà nhân vật đó thể hiện Ví dụ những tính từ miêu tả thế hệ trẻ rất có cá tính như: “ngông nghênh”,
“ngổ ngáo”, “láo lếu”, “vênh váo”, “vêu vao”, “trơ vơ tráo váo”,…; những tính từ nói về không gian, ngoại cảnh như: “lặng lờ”, “mịt mù”, “âm u”, “u ám”, “lạnh lẽo”,…
Trang 38- Phụ từ: chiều chiều, chốc chốc, dần dà, dần dần, đùng đùng, húng hắng,
lâu lâu, luôn luôn, nằng nặc, oang oang, thỉnh thoảng, vô vàn, rón rén
Các từ láy giữ vai trò phụ từ chủ yếu là từ láy hoàn toàn, đây là những từ chỉ mốc thời gian như “chiều chiều”; chỉ cách thức phát triển của sự việc như “dần dần”, “dần dà”, “đùng đùng”, “chốc chốc”,…; chỉ tần suất xảy ra sự việc như “lâu lâu”, “thỉnh thoảng”, “luôn luôn”, Các từ láy này góp phần bổ sung ý nghĩa cho câu Từ láy giữ vai trò là phụ từ chiếm tỉ lệ không nhiều, theo thống kê trong truyện của Vàng Anh chỉ có 13 trên tổng số 644 từ, chiếm 2% tổng số từ láy
Không chỉ phong phú về số lượng, từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh còn đa dạng về mặt từ loại Sự đa dạng về mặt từ loại này sẽ giúp cho người viết diễn tả sinh động hơn vấn đề được nói đến trong truyện
Từ láy trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh chủ yếu thuộc loại tính từ với chức năng thể hiện tính chất, tình cảm, cảm xúc của con người một cách chính xác, tinh tế; miêu tả không gian truyện một cách cụ thể, giàu hình ảnh Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng từ láy động từ với chức năng thể hiện hành động cụ thể
Đặc biệt, Vàng Anh đã rất sáng tạo khi cố tình sử dụng cách chuyển trường nghĩa một số từ láy, chẳng hạn: sử dụng từ chuyên nói về sắc mặt của con người để biểu thị cho nụ cười - “cười xanh xao”; từ chuyên miêu tả không gian lại biểu thị cho đôi mắt, ví dụ: “mắt u ám”… Qua đó, ta thấy được sự linh hoạt, khéo léo của Vàng Anh trong việc sử dụng từ láy như là một phương thức để biểu đạt hiệu quả nội dung truyện, tạo cho truyện nhiều màu sắc riêng, có chiều sâu suy tưởng
b) Phân loại từ láy căn cứ vào cách hòa phối ngữ âm và số lần tác động của phương thức láy
vần
Điệp phụ
âm đầu, khuôn vần
và thanh
ầm ầm, âm âm, buồn buồn, bừng bừng, cam cam, cay cay, chang chang, chăm chăm, choai choai, đăm đăm, đằng đằng, đều đều, hanh hanh, hoe hoe, khàn khàn, khịt khịt, khư khư, láo láo, làu làu, lăm lăm, lơ lơ, lù lù, mờ mờ, ngà ngà, nhao