Những thành tựu và hạn chế trong việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay .... Một số kiến nghị nhằm phát huy các giá trị văn hóa P
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3Để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, Khoa Giáo dục Chính trị cùng quý thầy giáo, cô giáo, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Hậu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình
Người cam đoan
Nguyễn Thị Hậu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: VĂN HÓA PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 6
1.1.1 Khái niệm văn hóa 6
1.1.2 Khái niệm văn hóa Phật giáo 9
1.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo vào thành phố Đà Nẵng 10
1.3 Các giá trị văn hóa Phật giáo tại Thành phố Đà Nẵng 14
1.3.1 Giá trị văn hóa vật chất 14
1.3.2 Giá trị văn hóa tinh thần 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 40
2.1 Vai trò của du lịch đối với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng 40
2.1.1 Khái niệm du lịch và phân loại du lịch 40
2.1.2 Vai trò của du lịch đối với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng 42
2.2 Những thành tựu và hạn chế trong việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay 47
2.2.1 Những thành tựu trong việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay 47
2.2.2 Những hạn chế trong việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay 54
2.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triền du lịch thành phố Đà Nẵng 58
2.3.1 Nguyên nhân thành tựu trong việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay 58
2.3.2 Nguyên nhân hạn chế trong việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay 60
2.4 Giải pháp phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng 64
2.4.1 Hoàn thiện về thể chế và chính sách quản lý văn hóa Phật giáo 65
Trang 62.4.2 Nâng cao ý thức người dân trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Phật
giáo 66
2.4.3 Phát huy vai trò tổ chức giáo hội Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng 68
2.4.4 Nâng cao hiệu quả quảng bá các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng 69
2.4.5 Xây dựng các chuỗi sản phẩm du lịch gắn với các văn hóa Phật giáo 71
2.4.6 Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại các điểm văn hóa Phật giáo 78
2.4.7 Xã hội hóa nguồn lực phát triển các giá trị văn hóa Phật giáo 79
2.4.8 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay 80
2.5 Một số kiến nghị nhằm phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng hiện nay 81
2.5.1 Sở văn hóa Thể thao và Du lịch 81
2.5.2 Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng 81
2.5.3 Đối với Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Trang 71
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những học thuyết triết học – tôn giáo lớn trên thế giới tồn tại rất lâu đời đó là Phật giáo Với số lượng Phật tử đông đảo, hệ thống giáo lý phong phú được truyền bá sâu rộng trên thế giới, Phật giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển của nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa, trong đó có Việt Nam Trong tiến trình lịch sử có thể thấy, di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam đã có nhiều những đóng góp to lớn vào kho tàng di sản văn hóa phong phú và độc đáo của dân tộc và ngày càng chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đại bộ phận nhân dân các dân tộc trên các vùng, miền cả nước Không những thế, di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam đã và đang trở thành những giá trị hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến Việt Nam
Ngày nay, đời sống phát triển, nhu cầu con người nâng cao các địa điểm du lịch trong nước ngày càng được con người khai thác So với các thành phố lớn trong nước
và thế giới, thành phố Đà Nẵng có lợi thế về hệ thống kết cấu hạ tầng khang trang, đồng bộ cơ sở lưu trú hiện đại đẳng cấp; với cảng biển, sân bay quốc tế; là cửa ngõ thứ 3 của cả nước đồng thời là điểm cuối ra biển Đông của tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây đáp ứng được nhu cầu du khách du lịch Cùng với đó thành phố Đà Nẵng còn là điểm đến hấp dẫn với nhiều nét văn hóa riêng, đặt biệt là văn hóa Phật giáo gắn liền với các địa điểm du lịch nổi tiếng, hệ thống các ngôi chùa cổ với kiến trúc độc đáo; quy mô các lễ hội, sự kiện Phật giáo được thường xuyên tổ chức Đã thu hút ngày càng đông đảo du khách đến tham quan, chiêm bái các giá trị văn hóa Phật giáo Nằm
trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg, ngày 30 tháng
12 năm 2011 xác định quan điểm, mục tiêu và các giải pháp phát triển, trong đó du lịch văn hóa là một định hướng ưu tiên phát triển Phát huy giá trị di sản văn hóa Phật
giáo Việt Nam nói chung và văn hóa Phật giáo Đà Nẵng nói riêng sẽ làm tăng giá trị
và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Trang 82
Đối với sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị cũng như người dân thành phố Đà Nẵng các giá trị văn hóa Phật giáo không những được bảo tồn và phát huy Tuy nhiên việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Do đó, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng cũng như xây dựng các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng là nhu
cầu cấp thiết Nhận thức được tầm quan trọng đó nên tôi chọn đề tài “Phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ các giá trị văn hóa Phật giáo của thành phố Đà Nẵng, từ thực trạng của việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch, Khóa luận đề xuất ra định hướng và giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đó, khóa luận thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ các giá trị của văn hóa Phật giáo thành phố Đà Nẵng
Thứ hai, đánh giá được thực trạng của việc phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo
trong phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay
Thứ ba, đề xuất các giải pháp phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo trong phát
triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các giá trị văn hóa Phật giáo và thực trạng khai thác
những giá trị này trong du lịch tại thành phố Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Đà Nẵng
4.Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thành đề tài, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng; đồng thời kết hợp các phương pháp: so sánh, thống kê toán học, lấy ý kiến chuyên gia
Trang 93
5.Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Văn hóa Phật giáo thành phố Đà Nẵng
Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa Phật
giáo trong phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng
6.Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Phật giáo và văn hóa Phật giáo là thành tố có ảnh hưởng sâu đậm trong văn hóa Việt Nam, việc nghiên cứu về văn hóa Phật giáo nói chung cũng như văn hóa Phật giáo Đà Nẵng nói riêng Liên quan đến vấn đề văn hóa Phật giáo thành phố Đà Nẵng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức của người dân nên được sự quan tâm của nhiều nhà sử học, Phật học, Văn hóa học, Đạo đức học Và trong đó nổi bật có các công trình nghiên cứu sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Phật giáo Đà Nẵng cho đến nay đã có đề tài khoa học cấp Bộ của Phân viện Đà Nẵng - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh năm 1997- 1999: “Đặc điểm, xu hướng vận động của Phật giáo miền Trung và một số kiến nghị về chính sách đối với Phật giáo trong giai đoạn hiện nay” Nội dung
chính của đề tài này là trình bày quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở các tỉnh miền Trung, dự báo một số xu hướng vận động của nó trong thời kỳ tiếp theo
Trong tác phẩm “Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng” của Tỉnh uỷ - Uỷ ban nhân dân tỉnh
Quảng Nam và Thành ủy - Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, các tác giả đã dành
13 trang sách để trình bày về Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, song chủ yếu là đề cập một cách chung chung lịch sử du nhập của Phật giáo vào địa bàn này trong giai đoạn đầu từ khoảng thế kỷ 16 đến năm 1975 Tiếp đến, với tư cách là một Huynh trưởng Gia đình Phật tử, Cư sỹ La Thành Tỵ cũng đã có tác phẩm Lược sử Phật giáo Đà
Trang 104
Nẵng” đề tài khóa văn tốt nghiệp đã bước đầu có sự khái quát về tình hình tôn giáo tại
thành phố Đà Nẵng nói chung, song tính chất nghiên cứu còn nhiều hạn chế, chưa sâu
sắc; Nguyễn Hữu Ái (2013), “Phật giáo tại Đà Nẵng - quá khứ, hiện tại và xu hướng vận động” đề tài luận văn Thạc sĩ triết học Đề tài đã khái quát toàn cảnh bức tranh
Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng: từ lịch sử hình thành và phát triển đến tình hình hoạt động hiện nay, đề tài đã đưa ra một số xu hướng vận động của Phật giáo tại thành phố trong thời gian đến Đồng thời đã giúp làm rõ thêm các giá trị văn hóa trong lĩnh vực Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên, tác phẩm này dừng lại ở việc tập hợp các
dữ liệu, chưa có sự phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động phát triển của Phật giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Thứ hai, các công trình đề xuất giải pháp phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo
trong phát triển du lịch Với các đề tài như: Trần Thị Mai An (2014), “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Đà Nẵng từ tài nguyên văn hóa”, đề tài Khoa học và
Công nghệ cấp Đại học Đà Nẵng Đề tài đã đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm
du lịch văn hóa Đà Nẵng trong đó có các giá trị văn hóa Phật giáo từ đó xây dựng những luận cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp phát triển hệ thống sản phẩm du lịch Đà Nẵng từ tài nguyên văn hóa Đề tài chỉ dừng lại ở việc tập hợp các dữ liệu, chưa có sự phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cũng như chỉ ra các
xu hướng phát triển của Phật giáo trên địa bàn thành phố Liên quan đến lĩnh vực này
còn có đề tài của Thái Thị Hồng Vân (2013), “Định hướng phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng” đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Kinh tế Đà
Nẵng Nội dung chính của đề tài này là đưa ra được định hướng phát triển của du lịch tâm linh của thành phố Đà Nẵng Bên cạnh đó, đề tài tốt nghiệp của Vũ Thị Ngọc Hà
(2014), “Khai thác giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch tại thành phố Huế” đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp Đề tài nghiên cứu thực trạng
khai thác các giá trị văn hóa Phật giáo của Huế trong đời sống và trong du lịch Từ đó,
đề ra những giải pháp thúc đẩy việc khai thác những giá trị văn hóa Phật giáo Huế, tương xứng với tiềm năng và lợi thế của du lịch Huế Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa đưa
Trang 115
ra được nhiều giải pháp để phát huy được các giá trị văn hóa Phật giáo để đưa du lịch
tâm linh trở thành một nơi thu hút du lịch
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã giải quyết được một số vấn đề lý luận cơ bản về việc khai thác giá trị văn hóa Phật giáo góp phần phát triển du lịch Tất cả những công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báu, gợi mở cho tôi hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu đề tài này Tôi thấy được vai trò quan trọng của việc khai thác giá trị văn hóa Phật giáo góp phần phát triển du lịch cả nước nói chung và tại thành phố Đà Nẵng nói riêng Đó chính là lý do giúp tôi lựa chọn và có thêm động lực để hoàn thành bài Khóa luận này
Trang 126
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VĂN HÓA PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1Khái niệm văn hóa và văn hóa phật giáo
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như: Thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Văn hóa có rất có rất nhiều định nghĩa mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn để tìm ra những định nghĩa
về văn hóa Một trong những định nghĩa đó là của Federico Mayor, Tổng giám đốc
UNESCO, “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [45 , tr.5]
Trên thế giới, theo E.B.Tylor (1871), văn hoá là “một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được” Vào năm 1952, hai
nhà nhân học người Mỹ là A Kroeber và C Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn hóa nhan đề: Văn hóa – tổng luận phê phán các quan niệm
và định nghĩa, trong đó đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hoá Hiện nay số lượng định nghĩa về văn hóa khó mà biết chính xác được
Đến năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị,
Trang 137
truyền thống và đức tin Cũng chính vì thế văn hóa biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ Một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần”
Ở Việt Nam, văn hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về cả chiều sâu và
chiều rộng và cho ra nhiều khái niệm Theo như Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài 9 người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [29 , tr.431]
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [50 , tr.1796]
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì nêu lên một số quan niệm về văn hóa:
Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội; Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát); Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát); Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ: Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn
Khi nghiên cứu về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [36 , tr.10]
Trang 148
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan
hệ qua lại giữ con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà
do con người tạo ra
Từ các quan điểm trên có thể thấy rằng: Văn hóa là tổng thể các giá trị tinh thần
và vật chất được con người sáng tạo trong quá trình lao động cải biến tự nhiên, xã hội
và chính bản thân mình
Văn hóa bao gồm nhiều thể loại, song có thể hiểu nội hàm chính của văn hóa gồm:
Văn hóa vật chất là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống tinh
thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những tư liệu sinh hoạt thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của con người Như vậy, mọi loại giá trị vật chất đều là kết quả lao động của con người
Văn hóa vật chất là một nguồn tài nguyên lớn và quan trọng để phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung
Văn hóa tinh thần là một phận của văn hóa nói chung Theo nghĩa rộng, đó là
toàn bộ kinh nghiệm tinh thần của nhân loại, của các loại hoạt động trí tuệ cùng những kết quả của chúng, đảm bảo xây dựng con người với những nhân cách, tác động dựa trên ý chí và sáng tạo Văn hóa phi vật thể tồn tại dưới nhiều hình thái, đó là những tục
lệ, chuẩn mực, cách ứng xử… đã được hình thành trong điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể, những giá trị và lí tưởng đạo đức, tôn giáo, thẩm mĩ, xã hội, chính trị, hệ
tư tưởng,… Theo nghĩa hẹp, Văn hóa tinh thần được coi là một phần của nền văn hóa, gắn với cuộc sống tâm linh của con người, thể hiện những giá trị lí tưởng, kiến thức Văn hóa tinh thần bao gồm: Ngữ văn truyền miệng, thần thoại cổ tích, truyền thuyết ca
Trang 15Trên thực tế việc phân định giữ văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần cũng chỉ là tương đối bởi ngay bản thân văn hóa vật chất cũng chứa đựng yếu tố tinh thần trong
đó
Tuy nhiên, trong quá trình tiếp cận các khái niệm về văn hóa chúng ta cần phân biệt giữa văn hóa và văn minh tuy đều là sự sáng tạo của con người gắn liền với cuộc sống Nhưng văn minh chỉ là một lát cắt của lịch sử và thiên về vật chất kỹ thật, đặt biệt văn minh gắn liền với Phương Tây đô thị còn ở Văn hóa có bề giày lịch sử, có tính dân tộc và văn hóa gắn với nông nghiệp phương Đông Còn đối với văn hiến và văn vật thì có những nét khác nhau rõ rệt Vì ở văn hiến gắn những giá trị tinh thần còn văn vật gắn với những giá trị vật chất Như vậy, văn minh, văn hiến và văn vật đều là những khái niệm phát sinh của văn hóa, cũng có thể hiểu là khái niệm bộ phận của văn hóa
1.1.2 Khái niệm văn hóa phật giáo
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng 2000 năm trước và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc
Cũng như trường hợp tôn giáo, triết học, thẩm mỹ…, thật khó tìm một định nghĩa xác đáng cho văn hóa Phật giáo Trong ý nghĩa chung, văn hóa Phật giáo là một mẫu thức tập hợp kiến thức, tín ngưỡng và thái độ ứng xử của con người Đồng thời, Phật giáo lấy việc độ sanh làm cứu cánh, do đó văn hóa được xem như nền tảng của Phật giáo Và như thế, văn hóa phật giáo bao gồm hệ thống giáo lý, tư tưởng triết học, mỹ học, tập tục, luật tắc, ngôn ngữ biên soạn kinh điển (Phạn, Pali), nghi lễ và các thành
tố liên hệ khác
Trang 1610
Mục đích của đạo Phật là tiến tới giải thoát con người khỏi vòng luân hồi để đến một trạng thái tuyệt đối Đó là cõi Niết Bàn Muốn tới được Niết Bàn thì con người cần phải nhận thức rõ sự khổ đau của đời người tìm cách giải khổ qua Tứ diệu đế nhằm thoát khổ, giải thoát Điều quan trọng nhất của Phật giáo là dạy con người biết yêu thương chúng sinh, và luôn hướng tâm nhằm giải khổ cho chúng sinh thoát khổ Đạo Phật mở cho con người một đường đi để dẫn tới sự tự do, giải thoát Với tư tưởng
đó, đạo Phật đã có ảnh hưởng sâu sắc đến những quốc gia coi đạo Phật là nền tảng đạo đức con người Đạo Phật vào Việt Nam từ sớm và nhanh chóng được nhân dân đón nhận Trong lịch sử dân tộc, Phật giáo đã từng có giai đoạn trở thành quốc đạo, nhất là thời kỳ các triều đình phong kiến trọng dụng các vị tăng ni Tín đồ, phật tử của đạo Phật đã đồng hành cùng dân tộc trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước Đến nay, đạo Phật vẫn giữ vai trò quan trọng đối với văn hoá, đạo đức, lối sống, tư tưởng của người dân Việt Nam
Qua quá trình nghiên cứu nghiên cứu ta thấy được vẫn chưa có một khái niệm
chung về văn hóa Phật giáo nhưng xét ở góc độ nào ta cũng đều nhận thấy rằng: Văn hóa Phật giáo có thể hiểu là toàn bộ các giá trị tinh thần và vật chất được sáng tạo trong quá trình hình thành xây dựng và phát triển của cảu Phật giáo các giá trị đó bao gồm: Triết lý về nhân sinh, các nghi lễ, các công trình kiến trúc… và một số ảnh hưởng của nó đến lối sống
1.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo vào thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là một thành phố thuộc trung ương, nằm trong vùng Nam Trung
Bộ, Việt Nam là trung tâm kinh tế, tài chính, chính trị, văn hoá, du lịch, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 766 km
về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 961 km về phía Nam và cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là Thành phố Huế 101 km về hướng Tây Bắc theo đường Quốc
lộ 1A Đà Nẵng còn là trung điểm của các di sản thế giới: Cố đô Huế, Phố cổ Hội
Trang 1711
An và Thánh địa Mỹ Sơn Thành phố Đà Nẵng nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, đông bắc Campuchia, Thái Lan và Myanma Khoảng cách từ Đà Nẵng đến các trung tâm kinh tế chính của khu vực Đông Nam Á như Bangkok ( Thái Lan), Luala Lumpur (Malaysia), Singapone, Manila (Philipines) đều nằm trong khoảng 1.000 – 2.000 km Chính nhờ vào vị trí địa
lý thuận lợi và quan trọng đã giúp cho Phật giáo vào thành phố nhanh chóng phát triển
và duy trì đến ngày nay
Không phải ngẫu nhiên các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho rằng “Bình minh lịch sử dân tộc ta cũng gắn liền lịch sử Phật giáo” Nói như vậy, thiết nghĩ triết lý sống của người Phật tử Việt Nam có thể bắt nguồn, thứ nhất là từ tiến trình hình thành phát triển lịch sử dân tộc Việt; thứ hai là từ quá trình tiếp biến giáo lý căn bản Phật giáo mà dân tộc ta đã trải nghiệm, hành trình trong đời sống thực nghiệm tâm linh Chính hai cội nguồn đó đã tạo ra và phát triển những nét chung và đặc thù của triết lý sống của người Phật tử Việt Nam trong tiến trình dựng nước, giữ nước,
mở nước, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, phát triển và hội nhập của đất nước, cũng như việc truyền bá chánh pháp, đem lại hạnh phúc cho mọi người dân nước Việt
Thực tiễn cho thấy, Phật giáo đã tồn tại ở Việt Nam hơn 2000 năm Một thời gian khá dài để cho dân tộc Việt Nam, từ thế hệ này sang thế hệ khác có thể chắt lọc từ trong giáo lý đạo Phật mọi yếu tố thích hợp nhất với điều kiện lịch sử - xã hội của dân tộc ta, đất nước ta, để đồng hành cùng với dân tộc ta, đất nước ta khẳng định sự tồn tại của mình như một dân tộc, một đất nước tự do độc lập với tất cả mọi bản sắcvăn hóa thích hợp, phóng khoáng không bài ngoại và càng không lệ thuộc ngoại
Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), vua Trần Anh Tông đổi tên hai châu Ô, châu Lý thành châu Thuận Hóa Kể từ thời gian này, tại Đà Nẵng cũng bắt đầu xuất hiện các vị thiền sư Phật giáo Một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở Quảng Nam - Đà Nẵng trong giai đoạn lịch sử này phải kể đến đó là núi Ngũ Hành Sơn
Trang 1812
Năm 1837, trong một chuyến viếng thăm núi, vua Minh Mạng đã dựa theo nguyên lý của Khổng giáo đặt tên nhóm núi này là “Ngũ Hành Sơn”, duy trì tên gọi từ thời Gia Long là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn, Hoả Sơn và Thổ Sơn, riêng Hoả Sơn
có hai ngọn kề nhau là Dương Hoả Sơn và Âm Hoả Sơn Thông thường, người dân xứ Quảng gọi nôm na là “hòn Non Nước”
Tháng 6 năm 1825, lần đầu tiên vua Minh Mạng đến viếng Ngũ Hành Sơn, nhà vua đã cho xây dựng chùa Tam Thai, điện Hóa Nghiêm Năm 1826 Minh Mạng lại cho đúc 9 tượng phật và 3 chiếc chuông lớn cho chùa Tam Thai và sau các lần viếng thăm, vua đều cho xây dựng và tu sửa các chùa miếu Tuy sau này có nhiều vết tích của thời gian và chiến tranh nhưng về cơ bản văn hóa Phật giáo trong thời phong kiến vẫn còn giữ được nét nguyên sơ Đồng thời Phật giáo được người dân biết đến và trở thành nét văn hóa đẹp đối với con người nơi đây, hiền lành, chất phát
Giai đoạn 1930-1945 cũng là giai đoạn mà tình hình nước ta diễn ra nhiều biến chuyển lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xuất hiện nhiều giai cấp, cũng như tôn giáo, với phong trào đấu tranh của quần chúng mang sắc thái mới Để duy trì sự tồn tại và phát triển của tôn giáo mình, các cao tăng Phật giáo có trách nhiệm phải chấn chỉnh, để phát triển theo tiến trình lịch sử của nước nhà, cứu vãn hiện trạng Phật giáo đang có sự phân hóa, tạo niềm tin cho Phật tử, gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng và thoát khỏi sự lệ thuộc vào chính quyền thực dân và tay sai Trong vài ba thế kỷ tiếp quản và định cư, người Việt đã tạo dựng ở Ngũ Hành Sơn một hệ thống chùa chiền dày đặc, hầu như ngọn núi nào, hang động nào cũng dựng được chùa, đặt miếu để thờ Phật, hoặc thờ những vật linh khí của nhà Phật Cự thể ở một số chùa, tượng ở Ngũ Hành Sơn vẫn còn như:
Phía bắc sân chùa là Hành Cung, dưới chân đài về phía tây là tháp Phổ Đồng và chùa Từ Tâm Từ cổng sau chùa Tam Thai, rẽ bên trái là đường dẫn đến động Hóa Nghiêm và động Huyền Không, trước khi vào động có cổng xây bằng vôi vữa khắc 3 chữ Hán “Phổ Đà Sơn”, trong động có thờ tượng Quan Thế Âm cao gần vòm động Hóa Nghiêm
Trang 19Động Tàng Chơn: Nằm ở phía sau lưng chùa Linh Ứng, năm 1956 nhà sư Thích Pháp Nhãn đã mở rộng lối vào động và cho xây chùa bên cửa động đặt tên là chùa Quan Âm và động cũng gọi là động Quan Âm
Không chỉ có ở Ngũ Hành Sơn mà cũng từ đó nhiều cơ sở chùa, tu viên được mở
ra nhiều hơn trên địa bàn thành phố Qua đó có thể thấy, việc xây dựng thêm các chùa, tượng trong thời kỳ này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo lưu và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo thành phố Đà Nẵng
Giai đoạn 1945 đến nay , riêng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ tín đồ Phật giáo tại thành phố cũng đã có những đóng góp nhất định, nhất là trong phong trào đấu tranh chính trị chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn vào những năm 1960 đến năm 1975 Tại thành phố Đà Nẵng, nếu như đạo Công giáo đến đây vào khoảng năm 1615, đạo Tin Lành du nhập đến vào năm 1911, đạo Minh sư
có mặt ở Đà Nẵng vào năm 1964… thì Phật giáo có mặt sớm nhất, từ khoảng thế kỷ XIV Đồng thời, từ khi hình thành đã gắn liền với quá trình lịch sử và phát triển của thành phố Đà Nẵng, luôn đồng hành cùng với nhân dân thành phố trong sự nghiệp đấu tranh và xây dựng
Nhìn chung, lịch sử hình thành và phát triển của phật giáo tại thành phố Đà Nẵng
là một quá trình lâu dài qua từng thời kỳ Nhiều nét đẹp được lưu giữ và phát triển đến bây giờ từ đó tạo ra được một kho tàng văn hóa Phật giáo lớn Cùng với sự phát triển nhiều ngành nghề của thành phố, việc phát huy giá trị văn hóa Phật giáo để phát triển
du lịch có giá trị vô cùng quan trọng để nâng cao đời sống của thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung
Trang 2014
1.3 Các giá trị văn hóa Phật giáo tại Thành phố Đà Nẵng
1.3.1 Giá trị văn hóa vật chất
1.3.1.1 Kiến trúc
Phật giáo Đà Nẵng vốn mang nhiều đặt thù ngôi chùa là nơi thờ tự và sinh hoạt của Phật giáo từ xa xưa Ngay từ thuở còn là vùng đất mới, Đà Nẵng đã được khai thác lập vị và xây dựng nhiều công trình và đặt tên cho các chùa tạo chỗ dựa tinh thần cho dân Sự phát triển Phật giáo cũng là sự khai mở những nét đặc sắc văn hóa bây giờ trở thành những thắng cảnh bật nhất Đà Nẵng
Nếu dùng bút vạch các đường nối 3 chùa mang tên Linh ứng trên bảng đồ thành phố Đà Nẵng, sẽ thấy hiện ra một hình tam giác gần đối xứng, Hình tam giác đó kết nối 3 ngọn núi địa hình: Ngũ Hành Sơn, Bà Nà và bán đảo Sơn Trà Cả ba ngôi chùa mang tên Linh Ứng đều được tọa lạc trên những vị thế đắc đạo
Tam Thai Tự đã được xây dựng lại và kiến trúc của ngôi chùa đã được thay đổi hoàn toàn Tam Thai tự được xây dựng lại với kiến trúc 3 tầng uy nghiêm, tráng lệ Tầng thứ nhất là Thượng Thai quay về hướng Bắc Tầng thứ hai quay về hướng Nam gọi là Trung Thai và Tầng thứ ba gọi là Hạ Thai Thai quay về hướng Đông Đây là kiến trúc theo chữ Vương trong Hán Tự với chi tiết mang tính nghệ thuật và thẩm mỹ cao
Cùng với chùa Trong là chùa Ngoài hay thường được gọi là chùa Linh Ứng Non Nước được hình thành bởi một vị thầy là Quang Chánh, thế danh Bửu Đài, người ở làng Khái Đông, thuộc phường Hòa Hài, quận Ngũ Hành Sơn ngày nay
Về kiến trúc, chùa Linh Ứng Non Nước tọa lạc trên cụm Hạ Thai, ngọn núi, tại phường Hòa Hải, huyện Hòa Vang, chùa nổi bật với kiểu kiến trúc hình chữ nhất Cũng như hai ngôi chùa cùng mang tên Linh Ứng Bãi Bụt Đà Nẵng, chùa Linh Ứng Bãi bụt và chùa Linh Ứng Bà Nà Đà Nẵng, chùa Linh Ứng Non Nước cũng có một bức tượng phật trắng đặt trong khuôn viên Tượng có chiều cao 10 m, ngồi trong tư thế tựa lưng vào núi và hướng mặt về phía chùa
Bước vào chánh điện, trước tiên là bức tượng Phật Thích Ca ở giữa, bên phải có tượng Phật Di Lặc và bên trái là Phật A Di Đà, gọi là Tam Thế Phật Gian giữa còn có
Trang 2115
tượng Bồ Tát Phổ Hiền và Bồ Tát Văn thù Hai gian bên của chánh điện thờ Quang Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát Sau này, chùa đã được khởi công nhiều công trình để trùng tu và quảng bá hình ảnh chùa đến bạn bè năm châu
Chùa Linh Ứng Bà Nà, nằm trên chót vót núi cao của địa danh du lịch nghỉ mát
“Sapa của miền Trung” được khánh thành vào ngày 06/03/2004 Về lịch sử, 21/09/1999 (12/08 năm Kỷ Mão) Thầy Thích Thiện Nguyên, trụ trì chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng đã tổ chức trọng lễ đặt đá xây dựng chùa Linh Ứng – Bà Nà
và Thích Ca Phật Đài
Về kiến trúc và thờ tự, hai ngôi chùa cùng tên Linh Ứng được thực hiện giống nhau và cùng một thầy trụ trì, thuộc hệ Bắc Tông Chùa có một khoảng sân rộng được lát bằng đá Phía trước chùa có một cây thông với ba loại lá khác nhau, còn gọi là thông ba lá
Trong chánh điện còn có một thờ phượng khác cũng có nhiều ấn thượng cho khách thập phương là một cái trống cao đến 2,4 m Đặt biệt, bức tượng uy nghi, cao 27
m màu trắng, ngang gối 14 m, thiền định trên đài sen 6 m, tượng được xây dựng bằng
xi măng cốt sắt do thợ cả Nguyễn Quang Xô đảm nhận Từ thành phố, vào những ngày nẵng ráo có thể nhìn thấy bức tượng trắng này nổi bật trên cái nền xanh của khu du lịch nổi tiếng Bà Nà Hills Tượng Phật Thích Ca tạo thiền thuộc vào hàng lớn nhất châu Á Xây dựng trên núi cao Chùa Linh Ứng với những nét kiến trúc tinh tế và chùa làm cho không khí thiền môn thêm thanh tịnh, người vãn cảnh chùa thêm thanh tao, thư thái
Nhắc đến chùa Linh Ứng Sơn Trà Bãi Bụt là ngôi chùa được mệnh danh là trẻ nhất, lớn nhất và có tượng Phật cao nhất Việt Nam Chùa Linh Ứng Sơn Trà tựa lưng vào đỉnh Sơn Trà vững chãi, mặt nhìn ra biển Đông bao la, xa xa bên trái là đảo Cù Lao Chàm, bên phải là ngọn Hải Vân ngăn che với dòng sông Hàn hiền hòa thơ mộng Tọa lạc trên một ngọn đồi, mang hình con rùa hướng ra biển cả, lưng tụa cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn với bao chim thú, chùa Linh Ứng – Bãi bụt trên bán đỏa Sơn Trà vừa được khánh thành không những được xem là công trình in đậm dấu ấn phát triển
Trang 22Hộ pháp cùng 18 vị La Hán được xếp thành hai hàng hai bên đường theo một quy luật, bảo vệ chính điện Mỗi vị là một hiện thân của những cung bậc cảm xúc khác nhau
“hỉ, nộ, ái, ố” của con người khiến khung cảnh ở đây trở nên sinh động vô cùng Đây
là một trật tự mang tính quy luật của và ý nghĩa tâm linh Điểm nổi bật của ngôi chùa này là tượng Phật Bà Quan Âm lộ thiên toạn lạc trên ngọn đồi cao hơn 100 m, nhìn về
Tổ đình Linh Ứng Ngũ Hành Sơn
Tượng Phật bà Quang Thế Âm cao 67 m, điểm nhấn quan trọng của Chùa Linh Ứng Bãi bụt là tượng Phật Quan Thế Âm được xem là cao nhất Việt Nam (67 m) Tượng đứng tựa lưng vào núi mặt hướng ra biển, một tay bắt ấn tam muội, tay kia cầm bình nước cam lộ như rưới an bình cho những ngư dân đang vươn khơi xa, mang theo bao lời cầu mong về một vụ mùa sóng yên biển lặng và quốc thái dân an Những ngư dân lên đênh trên biển mỗi khi nhìn về đất liền
Những ngôi chùa này theo như lịch sử tiền thân là những am tranh nhỏ nằm ẩn mình trong núi rừng âm u thưa thớt Cảnh quan của những am tranh ngày xưa và những danh lam thắm cảnh chùa Đà Nẵng ngày nay do vậy mà thường hài hòa giữa sông, núi hữu tình
Ngoài yếu tố cảnh quan ra, việc dựng một am thất ngày xưa và ngôi chùa ngày nay phải chọn lựa thế đất, thế núi, thế sông, biển như thế nào cho phù hợp với cảnh quan phong thuỷ cũng là một yếu tố làm nên nét đặc sắc trong cấu trúc chùa Đà Nẵng Khởi nguyên, chư tổ dựng lập am tranh là thuận theo địa thế, tự nhiên mà chọn lựa thế đất tiền khê thủy, hậu sơn bao la cảnh vật yểm trợ tạo nên nét kiến trúc chùa Đà Nẵng
Trang 23ba gian hai chái) với hệ thống chùa tăng đường trai đường hậu tổ liên hoàn với nhau
Và mặc dầu đã có bước chuyển đổi mạnh mẽ trong kiến trúc nhưng vẫn giữ được nhiều nét nguyên bản và nhiều nét còn nguyên sơ thuở ban đầu hài hòa với thiên nhiên
Bên cạnh đó, đặc điểm chung của kiến trúc chùa Đà Nẵng nói chung và ngôi Quốc tự nói riêng là không xây cất tốn kém, không đồ sộ quy mô lớn như những ngôi chùa ở miền lớn, nhưng ngược lại những ngôi chùa trên mảnh đất thành phố biển này lại toát lên được nét tinh tế đến ngỡ ngàng Nếp chùa Đà Nẵng về cơ bản vẫn tiếp nối truyền thống ngôi chùa Việt Nam, nhưng tinh tế hơn, ít rườm rà và không phô trương Được thiết kế theo kiểu lầu chuông lợp mái, trông rất cổ kính Kết cấu kiến trúc mỗi chùa có một đặc trưng riêng, có thể theo hình chữ “Vương” (Hán tự) với nhiều đường nét mang tính thẩm mỹ cao Đây là di sản hiếm quý đặc trưng cho kiến trúc đình chùa thời nhà Nguyễn Hoặc theo một bố cục hài hòa cân đối có sự đối xứng cho từng công trình như chùa Nam Sơn thiết kế theo lối kiến trúc thường thấy của các ngôi chùa cổ ở miền Trung hay như chùa Quan Thế Âm được xây dựng như tượng đồng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm rất đặc sắc, còn ở chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn năm 1993, Thượng tọa Thích Thiện Nguyện đã tổ chức trùng tu ngôi chánh điện Chánh điện xây kiểu chữ “Nhất”, bên phải là nhà tổ, giảng đường, nhà khách, nhà thiền và nhà trù Chính điện các ngôi chùa thường có 3 - 5 gian, 2 chái, cắt mái hai tầng, nội thất bình dị không trang trí sặc sỡ Tiền đường thường làm theo kiểu “trùng lương” nóc chùa thường trình bày với các mô típ “Lưỡng long chầu mặt nguyệt”, “Lưỡng long chầu pháp luân” các cột đều trang trí rồng - phụng Mái lợp ngói Âm Dương có màu thanh lưu ly ảnh hưởng kiến trúc cung đình triều Nguyễn Với những đề tài, mô típ
Trang 24Với nét đặc trưng là địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi có nhiều tài nguyên về đá Và đá ở đây là loại cẩm thạch (marbre), sáng đục màu trắng sữa, hồng phấn, xám có vân đỏ, nâu đen, xanh đậm…Không cứng lắm, thợ đá địa phương dùng tạc tượng và đồ mỹ nghệ, trang trí để tạo dựng các công trình điêu khắc nhất là ở Ngũ Hành Sơn và đó cũng chính là lí do giúp điêu khắc Phật giáo được nhiều người biết đến
Khi còn là vùng đất nguyên sơ, các nhà thiền tu đã đến dựng đền thờ, sau này được vua Minh Mạng dựng chùa thờ Phật nhằm vỗ an dân chúng, nghệ thuật điêu khắc tượng Phật cũng theo đó mà được nâng cao, tuy buổi đầu có vẻ đơn điệu về kiểu dáng
và cứng nhắc về quy phạm Để hài hòa với ngoại thất gắn liền với phong cảnh thiên nhiên của ngôi chùa, nội thất chùa Đà Nẵng cũng bình dị, cân đối, không trang trí sặc
sỡ Khởi nguyên như ở Chánh điện chùa Linh Ứng Non Nước thờ tam thế Phật: Đức Phật Thích Ca ở giữa, bên phải là Phật Di Lặc, bên trái là Phật Di Đà, kèm theo hai vị
Trang 2519
bồ tát là Phổ Hiền và Văn Thù Góc Chánh điện thờ 18 vị La Hán Trong chùa còn lưu giữ 2 hiện vật quý hiếm: Hai biển vàng – một biển đề “Ngự chế ưng chơn tự Minh Mạng lục niên” (phong Quốc tự năm Minh Mạng thứ 6) và một biển đề “Cải Tử” nghĩa là đổi lại thành Linh Ứng tự dưới triều Thành Thái thứ 3
Từ khoảng nửa đầu thế kỷ XVII, từ vị tiền hiền này đã lập ra một thảo am để tu trải qua thời gian đến thời vua Minh Mạng, vào năm 1825, ông đã trùng tu, xây dựng hàng loạt những ngôi chùa và kiến trúc Phật giáo được nhiều người biết đến Từ đó, hàng trăm pho tượng Phật, Bồ tát được làm mới, các đời vua vua Cảnh Hưng triều Lê, vua Thành Thái…, tượng Phật được cải biến về chất liệu nhưng nhìn chung vẫn thống nhất về khuôn mẫu, cho thấy rằng tính chủ đạo vẫn là sự trung thành với đường lối vỗ
an dân chúng
Những bức tượng đức Phật đều tập trung chủ yếu vào tính chất đặc tả theo chiều hướng dân gian gần gũi hơn là đức tin thuần túy Hầu hết các tượng Phật hầu hết làm bằng đá, bị chiến tranh tàn phá chùa được xây dựng lại bằng gạch ngói khang trang hơn, được sắc phong Quốc Tự và đổi tên thành Ứng Chơn Tự Đồng thời, vua Minh Mạng còn cho xây dựng hai con đường bậc cấp dẫn lên núi: Đường ở cổng phía Tây dẫn lên chùa Tam Thai với 156 bậc cấp và đường ở cổng phía Đông dẫn lên chùa Ứng Chơn có 108 bậc cấp Ngày nay, hai con đường này vẫn còn được giữ gìn và hầu hết
du khách lên núi Thủy Sơn đều leo lên theo cổng phía Tây và đi xuống ở cổng phía Đông
Vào năm 1903, khi ngự giá đến Ngũ Hành Sơn viếng chùa và tổ chức trai đàn cầu Quốc thái dân an, vua Thành Thái sợ chữ “Chơn” phạm húy đến một vị vua triều Nguyễn nên đã đổi tên chùa thành Linh Ứng Tự và tên này được giữ cho đến ngày nay
Sau hơn 3 thế kỷ tồn tại, trải qua thời kỳ chiến tranh và những đợt thiên tai, chùa Linh Ứng Đà Nẵng đã bị hư hỏng nhiều Tuy vậy, với sự bảo quản cẩn thận của các nhà sư, chùa vẫn giữ được nét kiến trúc độc đáo ban đầu và cả hai bảng vàng do vua Minh Mạng và vua Thành Thái sắc phong là Ngự chế Ứng Chơn Tự Minh Mạng lục niên (phong Quốc tự năm Minh Mạng thứ 6 – năm 1825) và Cải chế Linh Ứng Tự
Trang 26in đậm dấu ấn phát triển của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XXI Ngôi chánh điện được lợp ngói mái uốn cong có hình rồng, những cột trụ to, vững chắc bao quanh bởi những con rồng uốn lượn rất tinh xảo Đây là một biểu tượng truyền thống muôn đời nay của dân tộc ta Điện chính có sức chứa lớn, là nơi trang nghiêm và thanh tịnh nhất Chính giữa thờ tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, bên phải thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, và bên trái thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát, cả ba pho tượng đều được làm bằng đồng Bốn
vị Thần Long Hộ pháp cùng 18 vị La Hán được sắp xếp thành hai hàng hai bên đường theo một quy luật, bảo vệ cho chính điện Mỗi vị là một hiện thân của những cung bậc cảm xúc khác nhau “Hỉ, nộ, ái, ố” của con người khiến khung cảnh ở đây trở nên sinh động vô cùng Đây là một trật tự mang tính quy củ và ý nghĩa tâm linh
Những bức tượng đức Phật đều tập trung chủ yếu vào tính chất đặc tả theo chiều hướng dân gian gần gũi hơn là đức tin thuần tuý Hầu hết các bức tượng Phật đều có thân hình, nét mặt và kiểu dáng rất “hồn nhiên” thể hiện một sự trong sáng, gần gũi Những pho tượng Bồ Tát mà điển hình nhất là Chùa Tam Thai sau khi được xây dựng theo hình chữ Nhất và ái chùa lợp ngói lưu ly tròn, phía trên nóc trang trí hình Lưỡng Long chầu Nguyệt Trong chùa trước kia thờ phật Di Lặc (tượng đồng) ở giữa, bên trái là tượng Quan Công bằng gỗ, bên phải là tượng Hộ Pháp bằng đồng, tượng Tả Phù, Hữu Bật ở hai bên cửa ra vào cùng với Thập bát La Hán Hiện nay chùa thờ 4 vị
Trang 27Ngoài tượng Phật, Bồ Tát ra, ở Đà Nẵng còn nhiều bức tượng khác như tượng Chùa Linh Ứng Bà Nà là tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu ni cao 27m, thiền định trên tòa sen Bên dưới là 8 bức phù điêu, tái hiện cuộc đời của Đức Phật Thích ca, người sáng lập ra đạo Phật Tượng được chạm khắc tinh tế, vào những ngày nắng ráo
từ thành phố Đà Nẵng nhìn lên có thể nhìn thấy Đức Phật sừng sững giữa màu xanh hùng vĩ của những cánh rừng nguyên sinh
Bên cạnh các pho tượng thờ, nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Đà Nẵng còn được thể hiện ở cách trang trí các bờ nóc và tạp dựng các phù điêu Nóc chùa thường trình bày với các mô típ “lưỡng long chầu mặt nguyệt, lưỡng long chầu Pháp luân”, các vật linh quy, phụng, lân, các kiểu hoa sen; mái lợp ngói âm dương có màu thanh lưu ly ảnh hưởng kiểu kiến trúc cung đình của các triều vua chúa để lại “Hoa sen, chữ vạn, hồi văn chữ vạn, lá sen, trái Phật thủ, lá bồ đề, Pháp luân, hải triều, hỏa luân, bầu cam lồ” là những đề tài, những mô-tip thuần Phật giáo tạo cho chùa Đà Nẵng có nhiều sắc thái độc đáo
Trang 28có đến ba nét đặc trưng của ba niềm Bắc, Trung, Nam, với đặc điểm riêng của từng vùng đất Từ đây ta có thể khẳng định rằng, tôn giáo không thể không có bộ môn lễ nhạc, vì đó là sức sống của tâm linh được thể hiện ra giọng điệu, cung cách bên ngoài Nét đặc thù của âm nhạc Phật giáo là không đưa ra điệu nhạc nào để bắt buộc,
mà tùy theo trường hợp địa phương, ngôn ngữ mà tùy duyên, có nghĩa là kệ văn thì không khác mà điệu tiết thì chuyển biến Vì thế, các nhà nghiên cứu âm nhạc Phật giáo Đông phương cho rằng âm nhạc trong Phật giáo Đông phương có nhiều chất thơ Cũng cần nói thêm là, thể nhạc và văn chương trong nhà Phật là thể nhạc phổ thơ, nhưng tài tình nhất là một thể thơ mà phổ rất nhiều nhạc Vì trong một thể thơ khi thì diễn tả về đạo lý, khi thì nói về sự khổ lụy của chúng sanh, khi thì tả về sự ân cần ăn năn sám hối, khi thì tả về sự nhiếp thọ độ sanh của chư Phật Chỉ trong 4 câu kệ tứ tuyệt mà thể nhạc phổ ra có thể dài hơn (1 thành 10) là tiếng ngân nga trầm bổng, nếu ghi nhạc ta sẽ thấy nhiều nốt (note) nối nhau bằng dấu liên âm mà lời nhạc chỉ có vài chữ Sở dĩ có những thể nhạc kỳ lạ như vậy là vì đặc trưng âm nhạc Á Đông là thiên về tâm linh, tình cảm, nên phải dùng thể nhạc này mới diễn tả hết được Vả lại, muốn diễn tả sự huyền bí cao siêu bằng tinh thần, thì phải dùng nét nhạc dài và ít lời Về âm điệu thể nhạc nhà Phật có chừng ba bốn chục điệu, còn thể thơ ít hơn, đại để như: Loại ngũ ngôn: Thập phương tam thế Phật; Loại tứ ngôn: Nhứt tâm quy mạng; Loại thất ngôn: Trí huệ hoằng thâm đại biện tài; Loại tứ tuyệt: Ngã kim phụng hiến cam lồ vị; Loại cổ phong: Dương chi, tán l, Sơ hướng mộng huỳnh lương; Loại thất ngôn trương thi: A
Di Đà Phật thân kim sắc, Quy mạng thập phương Điều ngự sư
Trang 2923
Từ nền tảng nghệ thuật âm nhạc Phật giáo chung của dân tộc, Phật giáo Đà Nẵng cho đến nay vẫn giữ nguyên các hình thức tán, tụng, thỉnh, bạch… kết hợp với các pháp khí Phật giáo hay đội nhạc bát âm trong các lễ nghi thường nhật hay các đại lễ
Đó được xem là sự kết hợp nhuần nhuyễn của hai yếu tố lễ nghi và diễn xướng (gồm diễn xướng bằng lời và diễn tấu bằng pháp khí và nhạc khí), tạo nên tính đặc trưng, thăng hoa của người diễn xướng trong một lễ tiết hay trong lễ hội của Phật giáo Đà Nẵng bởi lễ nghi luôn có một vị trí quan trọng và chủ đạo trong sinh hoạt tín ngưỡng - tôn giáo
Đà Nẵng là nơi hội tụ nhiều tinh hoa, chốn gặp gỡ của nhiều vị cao tăng, đồng thời cũng là mảnh đất tốt để hệ thống nghi lễ được tổ chức một cách hoàn chỉnh, quy
mô, có tính điển chế cao
Lễ nhạc, cũng như các loại hình nghệ thuật Phật giáo khác, được chi phối bởi hệ thống triết học và quan niệm của tôn giáo này Lễ nhạc Phật giáo Đà Nẵng qua thời gian đã tạo riêng cho mình một dấu ấn, với những nét riêng biệt, trong dòng chảy âm nhạc truyền thống của dân tộc Có thể nhận thấy, lễ nhạc Phật giáo Đà Nẵng dễ dàng dung hợp được nhiều loại hình âm nhạc truyền thống khác, người ta thấy ở đây không chỉ bóng dáng của nhạc lễ Trung Hoa, mà còn thấy cả sự giao lưu với nhạc lễ Ấn Độ, được biến cải qua lăng kính văn hóa Chăm đồng thời mang hơi thở gần gũi của cái hồn dân gian Đại Việt Các hình thức âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Đà Nẵng được vận dụng một cách khá linh hoạt Có thể nói, lễ nhạc Phật giáo Đà Nẵng điểm chính yếu được chú trọng là thanh nhạc, nội dung mà âm nhạc tập trung chuyển tải chủ yếu thông qua các hình thức biểu đạt ý nghĩa bằng ca từ
Tính chất trầm lắng, man mác buồn, âm hưởng của điệu Nam, được vận dụng trong các bài tán tụng của Phật giáo để chuyển tải triết lý vô ngã, vô thường, những huyền ảo của cuộc sống, khổ đau của đời người trong các dịp tang lễ, cầu siêu, cúng linh, chẩn tế cô hồn, giải oan bạt độ Bên cạnh đó, những bài bản của âm nhạc dân gian vẫn được đưa vào diễn tấu trong nghi lễ Phật giáo Đà Nẵng, chẳng hạn: Thái bình, Cách giải, Tam thiên, Tứ châu, Lai kinh, Tấn trạo, và ngay cả bài Phần hóa diễn tấu trong lúc đốt vàng mã ở đình, miếu, từ đường, tư gia và nhiều lễ tế khác
Trang 3024
trong dân gian cũng được vận dụng Không chỉ như vậy, những làn điệu hò, lý, ngâm thơ, tùy vào từng lúc, cũng được vận dụng một cách triệt để Tất cả làm cho lễ nhạc Phật giáo Đà Nẵng trở nên phong phú, đa dạng hơn trong thể hiện Đỉnh cao của loại hình âm nhạc này, được tập trung vào các giai điệu của các bài tán Trong nghi lễ Phật giáo Đà Nẵng, giai điệu tán rất phong phú, mỗi một bài có thể được tán với nhiều cung bậc khác nhau Có thể tán theo hơi thiền hoặc hơi ai và có thể tán theo lối tán rơi, tán xấp, tán trạo Các bài tán chủ yếu dùng những hình thức kệ Ngoài các lối tán ra, kinh
sư có thể dùng lối ngâm, đọc, xướng, dẫn vẫn phát huy hiệu quả chuyển tải ý nghĩa của nó trong các nghi lễ Phật giáo Bởi, bản thân các bài kệ, chúng là những bài ca, được đúc rút từ những diệu lý của kinh Phật, hay thể hiện sự chứng ngộ, trải nghiệm của các thiền sư Trong các nghi lễ Phật giáo Đà Nẵng, dù thể hiện ở phương thức nào cũng trở thành phương tiện hữu hiệu để khai ngộ chúng sinh
Âm nhạc và nghi lễ được hòa quyện vào nhau rồi trở thành tiếng nói vi diệu, chuyển hóa lòng người, hướng con người đến với đạo pháp Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo Đà Nẵng góp phần đưa con người thâm nhập vào giáo lý từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha hướng con người đến cuộc sống lành mạnh, hướng thượng, mang lại cuộc sống an lạc, hạnh phúc trong thực tại Lễ nhạc Phật giáo không chỉ là một pháp môn, một phương tiện của những bậc tu hành, mà còn là một loại hình nghệ thuật có mối quan hệ mật thiết với mọi đối tượng thính pháp văn kinh, gắn liền với yếu tố văn hóa tâm linh của con người, một phần cuộc sống tinh thần của người dân xứ Đà Nẵng Dẫu
có thể chỉ là vô tình trong lĩnh vực nghệ thuật, nhưng Phật giáo Đà Nẵng đã tạo nên một dòng âm nhạc độc đáo, không chỉ là một sản phẩm văn hóa phi vật thể đặc sắc của Huế mà còn là của Việt Nam Ngoài những âm nhạc – Lễ nhạc của Phật giáo Đà Nẵng thì việc giao lưu với những văn hóa phật giáo giữa các vùng miền cũng tạo được dấu
ấn riêng của thành phố Cụ thể, trước đây điệu múa Lục Cúng Hoa Đăng đã từng được lưu diễn tại Lễ Hội Quán Thế Âm tổ chức ở Động Huyền Không – Ngũ Hành Sơn Múa Lục cúng hoa đăng là một điệu múa cổ xưa của Phật giáo do các vị sư Ấn
Độ truyền vào Việt Nam Sau khi du nhập vào xứ Đàng Trong tại Thuận Hóa - Phú Xuân, được các vị Tổ sư trong chốn thiền môn thu và phát triển lên đến đỉnh cao nghệ
Trang 31Điệu múa Lục cúng hoa đăng kết hợp nhịp nhàng giữa rất nhiều điệu múa, các vũ sinh kết hợp theo hình hoa sen, rồi xếp hình theo chữ Hán và theo hình chiếc bình nhiều tầng Trong điệu múa “Lục cúng” có nhiều bài tán theo nhiều điệu tán cổ xưa trong kho tàng âm nhạc Phật giáo như tán trạo, tán rơi, tán sấp và có cả Thài- một điệu tán rất cổ xưa - để dâng cúng trong nghi lễ cúng Phật cúng chư Tổ
Theo đó, điệu múa Lục cúng hoa đăng tồn tại với thời gian theo sự phát triển của văn hóa Phật giáo giáo Việt Nam Đến thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), Lục cúng hoa đăng đã được tiếp thu và cải biên thành một loại hình âm nhạc cung đình, trở thành một điệu múa đặc sắc được lưu giữ cho đến ngày nay
1.3.2.2 Lễ hội
Lễ hội tôn giáo vốn có những nét riêng được hình thành và gắn liền với mỗi tôn giáo trong mối quan hệ khăng khít, dung hợp với văn hóa truyền thống bản địa Vì vậy, đối với lễ hội của Phật giáo cũng không là ngoại lệ, khi Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc từ những thế kỷ đầu công nguyên cho đến hôm nay như một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, phong phú và đa dạng từ lễ thức đến lễ tiết, mang dấu ấn văn hóa đặc trưng vùng miền của người Việt Chính từ đó, Phật giáo Đà Nẵng trong dòng chảy văn hóa này đã tạo nên những nét đặc trưng, khi chính nơi đây từng là“kinh đô Phật giáo”, thấm đẫm tinh thần Phật giáo trong lối sống, ứng xử của con người Đà Nẵng Cho nên, lễ hội cũng vậy, dù mang tính chất tôn giáo với các lễ nghi truyền thống nhưng vẫn ẩn chứa nét văn hóa truyền thống con người miền Trung trong tâm thức mỗi con người sinh sống nơi đây Giá trị văn hóa đặc trưng của lễ hội Phật giáo Đà
Trang 3226
Nẵng có thể nhìn thấy từ hai mặt của phần lễ và phần hội, trong đó, phần lễ đóng văn trò chủ đạo, bảo lưu các lễ nghi Phật giáo truyền thống, và phần hội cũng đang dần được chú trọng nhiều hơn nhằm tạo nên những chuyển động nhu nhuyến, đa dạng, phong phú bên cạnh các lễ nghi mang tính chất huyền bí, linh thiêng Mặc dù vậy, nhưng cả hai phần này luôn kết hợp, bổ trợ lẫn nhau không tách rời và phân biệt nhằm chuyển hóa tư tưởng từ bi, giải thoát của Phật giáo đến với quần chúng, tín đồ
Trên một góc độ khác, khi nói đến Phật giáo thì cụm từ lễ hội được xem là khiên cưỡng, gán ghép và hầu như không phù hợp trong cách nhìn nhận của mọi người, vì đó thực chất là lễ nghi chứ không có phần hội Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rộng hơn, trong các lễ hội truyền thống mang đậm dấu ấn của văn hóa nông nghiệp thì cả hai phần lễ và hội luôn song hành, hay trong lễ có hội và trong hội có lễ nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, ước vọng sự sinh sôi nảy nở mùa màng của cư dân nông nghiệp Với một môi trường như vậy, Phật giáo tồn tại và phát triển ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, tuy rằng tích chất có khác nhau bởi ý thức hệ tôn giáo chi phối, các lễ hội mà Phật giáo đều thể hiện được cả hai phần lễ và hội nhưng không tách làm hai phần mà luôn có sự xen lẫn vào nhau: Trong lễ có hội và trong hội có lễ Hơn nữa, khi
đi vào cụ thể, bản thân Phật giáo hay các tôn giáo khác, các ngày lễ vía được thực hiện trong khuôn khổ của tôn giáo, hình thành từ chính nhu cầu nội tại của họ và không có
sự tác động từ các yếu tố bên ngoài Từ vấn đề đó, có thể thấy các tu sĩ Phật giáo đã tổ chức ngày lễ tiết một cách tự nhiên theo quan điểm tôn giáo, dù có tín đồ tham gia hoặc không Tuy nhiên, trong xu hướng nhập thế, mở rộng phạm vị ảnh hưởng của Phật giáo đến với công chúng, thì rất nhiều lễ tiết được xây dựng, hình thành các lễ hội thu hút nhiều tín đồ, quần chúng tham gia Và từ đó, người ta mặc nhiên chấp nhận, xem đó như một lễ hội mang tính truyền thống của tôn giáo với quy mô ngày càng lớn
và sinh hoạt văn hóa đa dạng đi kèm
Văn hóa Phật giáo với hình thức lễ hội có nội hàm rộng và phong phú với hệ thống lễ tiết đa dạng cũng như mang tính chất, ý nghĩa khác nhau trên tinh thần giác ngộ và giải thoát Do vậy, khảo sát những đặc trưng lễ hội Phật giáo Đà Nẵng chúng ta
có thể đề cập đến những đại lễ của Phật giáo như: lễ hội Vesak - Phật Đản, (14 -
Trang 3327
15/04/âm lịch), lễ hội Quán Thế Âm (19/06/âm lịch), lễ hội Vu Lan (14 - 15/07/âm lịch) thuộc Phật giáo Nam tông Các lễ hội này đã mang trong mình nó là một chiều dài lịch sử với các giá trị văn hóa đặc trưng trong quá trình dung hợp, tiếp biến văn hóa truyền thống bản địa, ẩn chứa hình ảnh đời sống tôn giáo - tín ngưỡng của người dân Đà Nẵng trong cả phần lễ và hội mà khi so sánh với các vùng miền khác Và quan trọng hơn khi sử dụng di sản văn hóa Phật giáo vào việc khai thác, phục vụ du lịch đã, đang đặt ra nhiều vấn đề luận bàn và lễ hội trong xu hướng này cũng không phải là ngoại lệ Trong các lễ hội, dù là lễ hội tôn giáo hay không đều mang những nét đặc trưng riêng, phản ánh sinh động các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng của con người thông qua phần lễ và phần hội
Đối với lễ hội Phật giáo Đà Nẵng, với những tác động của các nhân tố chi phối, hiển nhiên lễ hội luôn tiềm ẩn những giá trị văn hóa riêng biệt mang sắc thái tôn giáo
và bắt nguồn từ niềm tin tâm linh của mỗi người Cho nên, lễ hội Phật giáo không tách bạch thành hai phần riêng biệt, mà trong lễ vẫn có hội và trong hội luôn ẩn chứa dấu
ấn của lễ nghi và được thể hiện tùy các hoạt động, sinh hoạt khác nhau của Gia đình phật tử, Khuôn hội Tuy nhiên, sự hiện hữu này không phải là một quy tắc nhất định, bởi nghi lễ Phật giáo vốn mang trong mình tính linh động, nhu nhuyễn, tùy vào từng trường hợp để sử dụng một cách hợp lý, vừa biểu lộ tính thiêng của lễ hội, vừa mang tính giáo dục cao Từ đó, tính chất hội trong các lễ hội Phật giáo Đà Nẵng là một sự kết hợp, gắn liền với niềm tin tôn giáo và được thể hiện qua các sinh hoạt ca múa, hát xướng, diễn tích tuồng Phật giáo với nội dung liên quan đến hạnh nguyện, sự giác ngộ của các đức Phật, Bồ tát… Với bức tranh toàn cảnh của lễ hội phật giáo Đà Nẵng, chúng ta có thể nhận thấy các giá trị văn hóa đặc trưng của lễ hội được thể hiện ở các khía cạnh như:
Thứ nhất, nghi lễ trong lễ hội Đây là một phần không thể thiếu ở bất kỳ một lễ
hội nào được diễn ra, với các nghi thức quy định chặc chẽ, mang niềm tin tâm linh, tính thiêng liêng sâu sắc và cũng là môi trường tạo nên sự đoàn kết, hài hòa vì đó chính là những hoạt động mang tính tổng thể và phức hợp của các thành tố văn hóa Việt Đối với Phật giáo Đà Nẵng, nghi lễ được chuẩn hóa và bảo lưu nghi lễ truyền
Trang 3428
thống vốn có trước đó, đồng thời xác lập vai trò quan trọng trong đời sống tu tập tăng
sĩ cũng như sinh hoạt lễ nghi của người Phật tử Cho nên, các nghi lễ diễn ra trong lễ hội Phật giáo Đà Nẵng cũng mang một nội hàm tương tự, ngưỡng vọng sự giải thoát, hạnh nguyện của chư Phật và Bồ Tát trong chính người thực hiện và người tham gia Bên cạnh đó, sự tác động của văn hóa Đà Nẵng, chính là điều kiện để Phật giáo Đà Nẵng bảo lưu được các nghi thức, lễ nghi truyền thống Do lễ hội Phật giáo Đà Nẵng chủ yếu tập tập trung vào các đại lễ lớn như: Lễ Phật Đản (Vesak); lễ hội Quan Thế
Âm, lễ Vu Lan nên cách thực hành nghi lễ cũng tùy thuộc vào nội dung của lễ để thực hành các nghi thức khác nhau trong lễ vía và kết hợp với các nghi thức khác trong khoa Du già để thực hiện các lễ Giải oan bạt độ, Trai đàn chẩn tế… Nghi lễ trong lễ hội ngoài phần thực hiện theo nghi thức lễ và được trang trọng hóa bằng sự kết hợp giữa lễ và nhạc đặc trưng, thì bên cạnh đó còn kết hợp với các nghi thức khác gồm các hoạt động mang tính lễ nghi như dựng tượng đài, kết xe hoa, thuyền hoa (Phật Đản), hình thức dâng hương, lễ vật, lễ rước (Quán Thế Âm), nghi thức tụng đàn kinh Lương Hoàng, Thủy Sám, Địa Tạng, Báo Ân (Vu Lan)… tạo thành một tổng thể đa dạng, nhuần nhuyễn qua tài thực hiện của vị chủ lễ, các kinh sư và tín đồ phật tử Đặc biệt đối với lễ hội Vu Lan, nghi lễ được thực hiện còn gồm có nhiều phần khác nhau liên quan đến lễ Tự Tứ của chư tăng, ni sau ba tháng An cư kiết hạ Mở rộng hơn là phần lễ trai tăng cúng dường cho toàn thể tăng ni với một ý nghĩa thâm sâu, quảng bá tinh thần hiếu nghĩa đến tứ thân phụ mẫu, lục thân quyến thuộc nhiều đời kiếp Nghi lễ Phật giáo mỗi miền không giống nhau, bởi do nhiều tính chất chi phối nhưng tính thiêng của lễ luôn được đảm bảo, xuyên suốt trong các lễ thức Các nghi lễ ở Phật giáo Đà Nẵng nói chung và trong các lễ hội nói riêng, không chỉ thể hiện tính thiêng của “lễ”
mà còn chú trọng đến công dụng của “nghi” trong mỗi thời khóa và phát huy tác dụng
cả ba mặt: thân giáo, khẩu giáo và ý giáo đến quần chúng, tín đồ tham dự Do đó, khi phân định giá trị văn hóa đặc trưng trong các nghi lễ Phật giáo truyền thống Đà Nẵng được thể hiện qua lễ hội, chúng ta có thể thấy không chỉ giá trị đặc trưng của âm nhạc Phật giáo Đà Nẵng, luôn hiện diện và không kém phần quan trọng trong các lễ hội diễn
ra văn hóa đặc trưng của lễ hội Phật giáo Đà Nẵng qua các nghi lễ truyền thống, đặc
Trang 3529
thù mang đậm dấu ấn văn hóa vùng miền, mặc dù trải qua thời gian với nhiều sự biến động, nhưng các lễ nghi truyền thống không vì thế mà bị mất dần đi, hoặc chuyển sang nhiều dạng khác như Phật giáo miền bắc và miền nam Sự hóa thạch và bảo lưu truyền thống văn hóa thông qua lễ nghi, nghi thức đã góp phần chuyển tải các nghĩa ý của lễ hội Phật giáo một cách hiệu quả và khá toàn diện trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong bối cảnh mới của xã hội cũng như trong việc xây dựng và phát triển lễ hội cho chính vùng Đà Nẵng
Thứ hai, giá trị của nhạc lễ Phật giáo Đà Nẵng: sản phẩm được kết tinh từ “lễ”
và“nhạc” trong lễ hội
Bên cạnh các nghi lễ truyền thống Phật giáo được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ lễ hội mang tính chất quan trọng, thì giá trị nhạc lễ Phật giáo cũng được nhìn nhận tương đồng, bởi nó là sản phẩm “âm nhạc” Phật giáo được kết tinh giữa “lễ” và
“nhạc” Vì vậy, cùng với các nghi lễ truyền thống thì trong lễ hội Phật giáo Đà Nẵng, nhạc lễ cũng được xem là một giá trị văn hóa đặc trưng của lễ hội, vì rằng, trong không gian thiêng của lễ hội, nhạc lễ đã đưa con người (người diễn xướng và người tham dự) thăng hoa trong niềm tin tâm linh của mình Giá trị văn hóa của nhạc lễ được hình thành từ việc thực hiện các lễ nghi kết hợp với diễn xướng trong lễ hội Phật giáo
Đà Nẵng đã tạo nên một điểm nhấn điển hình, đặc trưng trong dòng chảy của văn hóa Phật giáo Việt Nam
Trong lễ hội Phật giáo Đà Nẵng, bên cạnh việc thực hiện các lễ nghi và diễn xướng nhạc lễ, thì các sinh hoạt của các gia đình phật tử được xem như là điển hình của phần hội như ca múa, hát xướng, diễn kịch Trong các lễ hội Phật giáo Huế, hình thức ca múa, hát xướng hay diễn kịch được tổ chức thực hiện vào đêm hôm trước của ngày lễ chính gồm các nội dung khác nhau nhằm ca ngợi công đức, hạnh nguyện của Phật, Bồ tát và các bài hát của các gia đình Phật tử Hệ thống bài bản được chọn lọc, dàn dựng khá công phu và được trình diễn trên một sân khấu trong khuôn viên trước lễ đài hay một bên
Mỗi một lễ hội Phật Đản, Quán Thế Âm hay Vu Lan đều có những sinh hoạt riêng biệt của các gia đình Phật tử, Khuôn hội Điển hình như trong lễ hội Quán Thế
Trang 36Có thể nhận thấy, các hoạt động mang tính chất ca múa, hát xướng, diễn kịch hay hóa trang thành các đoàn dâng cúng lễ vật… của các gia đình phật tử, khuôn hội, các đạo tràng đều được tổ chức chặt chẽ, nề nếp và hoàn chỉnh trong một không gian, thể hiện phần hội đặc sắc và trang nghiêm của lễ hội Phật giáo Đà Nẵng Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách đơn thuần chỉ là hội thì ắt hẳn đó là một sự thiếu sót, bởi vì trong phần này cũng có các nghi lễ diễn ra, khởi đầu cho các hoạt động trên và cũng cho thấy trong lễ hội Phật giáo, phần lễ và hội không bao giờ tách rời nhau mà nó luôn là một tổng thể hài hòa, uyển chuyển linh động trong phương cách thực hiện Cho nên, đặc trưng của lễ hội Phật giáo Đà Nẵng một phần lại được thể hiện thông qua hoạt động, sinh hoạt của các gia đình phật tử, các đạo tràng, khuôn hội với nhiều nội dung, tính chất khác nhau
Tiêu biểu cho những lễ hội Phật giáo đặc sắc ở Đà Nẵng có thể kể đến:
Trang 3731
Lễ Phật Đản ở Đà Nẵng: Hằng năm, ngày rằm tháng tư âm lịch (trước kia là
ngày mồng 8 tháng tư âm lịch), dân chúng Đà Nẵng trang trọng cử hành lễ Phật Đản (đản sinh đức Phật) Lễ hội được tổ chức tại tất cả các chùa, cùng các khuôn khổ thờ tự của phật giáo, lễ đài chính của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thiết trí tại Chùa Pháp Lâm, 574 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
Đạo phật là tôn giáo lớn nhất ở Đà Nẵng và được đông đảo quần chúng ở Đà Nẵng coi trọng Ngày Phật Đản là ngày hầu hết các gia đình và chùa chiền ở Đà Nẵng
tự động lo lắng tổ chức Ngày 14 tháng 4 âm lịch là ngày chuẩn bị cho ngày đại lễ Dân chúng trang hoàng nhà cửa, treo đèn, kết hoa Quan trọng nhất là bàn thờ Phật, hương hoa, trầm trà được trưng bày một cách huy hoàng đẹp mắt
Ban tổ chức lo xây dựng lễ đài trước mặt chùa Pháp Lâm, sát với chùa để tổ chức buổi lễ chính vào sáng ngày rằm tháng tư Tối 8 tháng 4, con đường lên chùa Pháp Lâm đã tấp nập người trẩy hội, xem đèn và lễ đài
Vào ngày chính lễ rằm tháng 4, tất cả các chùa bắt đầu làm lễ từ lúc 4 giờ sáng Riêng tại chùa Pháp Lâm, ở lễ đài chính, buổi lễ bắt đầu từ 7h sáng Lễ đài phải thiết tượng sơ sinh của Đức Phật đang bước trên đóa hoa sen, chung quanh đầu là hào quang tỏa sáng, dưới tượng đài sen có 7 đóa sen
Sáng rằm, sau khi chư tăng, Phật tử các chùa, khuôn hội về đầy đủ, giờ cử hành nghi lễ mới khởi sự Lúc này ở chùa Pháp Lâm, Phật tử hàng ngũ chỉnh tề, các vị sư ở trong những vị trí qui định, hai hàng thiếu nữ, áo dài lam, hai tay đỡ lẵng hoa đứng dọc hai bên lễ đài kéo ra tận cổng chùa Các loại cờ phật giáo treo trước sân chùa tạo một quang cảnh vừa trang nghiêm, vừa rực rỡ
Bắt đầu lễ là ba hồi chuông trống bát nhã, tiếp đến là diễn từ của một vị hòa thượng đại diện miền, trình bày ý nghĩa của lễ Phật Đản Bài này thường là diễn từ chung của giáo hội trong năm đọc cho quảng đại quần chúng trong ngày Phật Đản Kết thúc buổi lễ là các Phật tử dâng hoa cúng dường Đức Phật
Vào ngày rằm tháng tư, hầu như các tín đồ Phật giáo toàn thành phố Đà Nẵng đều ăn chay, cờ Phật giáo được treo khắp nơi, chứng tỏ đạo Phật có một sức tỏa sáng
Trang 3832
đến mọi nhà Con người Đà Nẵng hiền hòa, chuộng đức độ, phải chăng là do ảnh hưởng thuyết lý đạo Phật đã bắt rễ sâu xa vào lòng dân tộc hàng ngàn năm trước
Lễ hội Quan Thế Âm: Chùa Quán Thế Âm, được thành lập vào năm 1957 toạ
lạc dưới ngọn núi Kim Sơn, một trong năm ngọn núi của khu quần thể di tích và danh thắng Ngũ Hành Sơn Ngoài việc được sở hữu những tài nguyên, phong cảnh hữu tình, nhất là những hang động kỳ bí nơi đây còn được biết đến với lễ hội đặc sắc, gắn liền với tên tuổi của một nhân vật Phật giáo nổi tiếng đó chính là lễ hội Quán Thế Âm Nguyên lễ hội này được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1960, tuy nhiên do ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử nên bị gián đoạn Đến năm 1991, được sự cho phép của huyện Hoà Vang và tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) lễ hội được tái tổ chức Từ đó đến nay, theo thông lệ, thường niên cứ đến ngày vía Phật bà Quán Thế Âm, ngày 19/2 Âm lịch, ngoài dân bản địa của thành phố, hàng vạn khách thập phương từ nhiều vùng trong cả
nước cũng tìm đến để trẩy hội tham quan, chiêm bái những nét văn hoá đặc sắc
Thời gian tổ chức lễ hội thường được kéo dài trong ba ngày, trong đó ngày 19/2
Âm lịch là ngày lễ chính thức Vào thời gian này, có nhiều nghi lễ, hoạt động văn hoá được tổ chức trang trọng, ngoài các nghi lễ thuần tuý của Phật giáo như lễ tế Xuân cầu quốc thái dân an, lễ rước ánh sáng, rước tượng Quán Thế Âm, kèm theo đó là các hoạt động hội: đua thuyền trên sông Cổ Cò, trò chơi đánh cờ người, viết thư pháp, cho chữ, triễn lãm nghệ thuật đá non nước, vừa trang trọng vừa hấp dẫn, đã để lại những ấn tượng sâu sắc cho những du khách đến tham gia Phần lễ: Mang màu sắc lễ nghi Phật Giáo với các nội dung:
Lễ rước ánh sáng: Nghi lễ rước ánh sáng thường tổ chức vào tối ngày 18, gồm
rước đuốc, rước kiệu, múa lân, múa rồng để cầu mong ánh sáng soi đường cho chúng sinh, mà trong phật giáo ánh sáng đồng nghĩa với trí tuệ, trí tuệ sáng thì tấm lòng, đạo đức trong sáng, sẽ làm nhiều việc thiện
Lễ khai kinh: Lễ được tổ chức vào sáng sớm ngày 19, đây là lễ cầu nguyện cho
quốc thái dân an, chúng sinh an lạc - Lễ trai đàn chẩn tế: lễ này cũng được tổ chức vào sáng ngày 19 để cầu siêu, cúng thập loại chúng sinh, thường trước đó đồng bào phật tử
Trang 3933
gửi danh sách những người thân của mình đã mất đến chùa để làm lễ cầu siêu, trong lễ này phải mời người có giới phẩm đứng ra làm lễ
Lễ thuyết giảng về Bồ tát Quán Thế Âm và dân tộc: lễ cúng được tổ chức vào
sáng ngày 19, ngợi ca lòng từ bi bác ái của đức Phật Bồ Tát Quán Thế Âm và cầu nguyện cho dân tộc an bình, thịnh vượng
Lễ rước tượng Quán Thế Âm: Lễ này tổ chức vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19,
sau các nghi lễ trên, bốn người khiêng kiệu trên có tượng Phật bà đi trước, và đồng bào Phật tử đi sau, kiệu được khiêng từ trên chùa và đi xuống chiếc thuyền đậu trên Sông Cầu Biện (nhánh của sông Cổ Cò), sau đó cho thuyền chạy vòng quanh sông Cổ Cò
Lễ này nhằm cầu nguyện cho đồng bào, chúng sinh đi biển, đi làm ăn trên sông nước được thuận lợi bình an Ngoài các nghi lễ trên, còn có lễ tế xuân (cúng sơn thủy, thổ thần) để cầu quốc thái dân an Lễ thường được tổ chức vào đêm ngày 18 Trong ngày
lễ này các bô lão của các phường Hòa Hải, Hòa Quý khăn áo chỉnh tề, tay cầm cờ lọng, đuốc, lồng đèn, có đội nhạc cổ và chiêng trống đi theo Sau khi làm lễ và đọc văn
tế, đoàn bô lão sẽ dẫn đầu đoàn rước cộ xuống bờ sông Cầu Biện để mở hội hoa đăng, rồi từ chùa Quán Thế Âm đi quanh các khu phố qua các làng đá mỹ nghệ Non Nước, xuống khu du lịch Non Nước và trở về lại lễ đài với lộ trình dài hơn 2km
Phần hội: Diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hoá - thể thao mang đậm bản sắc dân tộc xen lẫn với hiện đại như hội hoá trang, hát dân ca, thi cờ, nhạc, hoạ, điêu khắc, múa tứ linh, thả đèn trên sông, hát tuồng các hoạt động văn hóa như triển lãm thư pháp và tranh thủy mặc, hội thi thuyết minh về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu ăn chay
Hiện nay, du lịch tâm linh Phật giáo Quán Thế Âm đã được khai thác, bởi có cảnh trí thiên nhiên vừa thơ mộng, vừa hùng vỹ, vừa hiện thực, vừa siêu nhiên huyền
bí không chỉ tạo ra nét đặc trưng riêng cho Phật giáo Ngũ Hành Sơn mà còn góp phần
tô đẹp thêm cho thành phố Đà Nẵng
1.3.2.3 Ẩm thực chay Đà Nẵng
Ẩm thực là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lý chế biến, trang trí, phong cách dọn ăn, mời uống và những thói quen ăn uống nói chung của người Đà
Trang 4034
Nẵng, Việt Nam Theo thời gian, ẩm thực Đà Nẵng chịu ảnh hưởng của những luồng văn hóa đến từ những cộng đồng dân cư khác nhau và những đặc thù của xứ sở nên mang những sắc thái riêng trở thành một phần của văn hóa Đà Nẵng, văn hóa Việt Nam
Món chay Đà Nẵng có rất nhiều, không thua kém gì món mặn Với hơn 200 chùa
và hơn 200 niệm Phật đường vì thế, số người ăn chay hàng tháng ở Đà Nẵng không phải nhỏ
Tại sao khi nói đến ẩm thực chay, nhiều người sành về ẩm thực chay đều nhất trí rằng Đà Nẵng là vùng đất mới nhưng ẩm thực chạy rất tinh tế và nghệ thuật Lẽ đơn giản, người Đà Nẵng từ bình dân đến quý tộc đều có truyền thống ăn chay biết ăn chay cho tâm hồn thanh tịnh
Từ những món ăn, uống gắn liền với việc thanh tu của chư tăng, mang ý nghĩa
“cuộc sống đạm bạc của người xuất gia vốn xem ẩm thực chỉ là phương tiện để duy trì phần sống sinh học, thực hiện cứu cánh tu học trên con đường tiến tới sự giải thoát”, ẩm thực Phật giáo dần không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ giới hạn của nhà chùa mà đã thực sự lan tỏa và hòa lẫn vào dòng ẩm thực dân gian tạo nên một nét đặc sắc của văn hóa ẩm thực
Người Đà Nẵng không chỉ ăn chay vào rằm, mồng một hay những ngày lễ, họ ăn chay như một thói quen thường nhật Đặc biệt, đa phần các gia đình Đà Nẵng đều có thể tự tay nấu món chay Người Đà Nẵng không ăn chay đơn giản vì sức khỏe mà với
họ món chay còn ẩn chứa nhiều triết lý sâu xa Chính bởi vậy, mâm cơm chay của người Đà Nẵng không cần quá sang trọng, không cần phải giả gà, giả heo mà càng đơn giản, càng đạm bạc càng tốt nhưng ở đó phải hội đủ các yếu tố âm dương, hội đủ thiền tịnh
Nghệ thuật nấu cơm chay tồn tại và không ngừng được phát triển, nâng cao cùng với sự phát triển của đạo Phật ở Việt Nam nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng Các thế
hệ đầu bếp Phật tử nối tiếp nhau đã bổ sung và làm cho các món ăn chay ngày càng thêm phong phú