Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng” với mục đích tìm hiểu những vấn đề mà bệ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DU ̣C
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DU ̣C
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lê Quang Sơn
Đà Nẵng, tháng 5/2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả bài nghiên cứu của mình
Trang 4Mặc dù đã cố gắng, nhưng cũng không thể tránh khỏi thiếu sót Với đề tài nghiên cứu này, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016 Sinh viên thực hiện Đặng Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng khách thể nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Câu trúc đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HỖ TRỢ TÂM LÝ 4
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ tâm lý 4
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 4
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 6
1.2 Lý luận về nhu cầu hỗ trợ tâm lý 8
1.2.1 Lý luận về nhu cầu 9
1.2.1.1 Khái niệm nhu cầu 9
1.2.1.2 Các đặc điểm của nhu cầu 10
1.2.1.3 Phân loại nhu cầu 13
1.2.1.4 Sự hình thành nhu cầu 14
1.2.1.5 Vai trò của nhu cầu 16
1.2.2 Hỗ trợ tâm lý 17
1.2.2.1 Khái niệm hỗ trợ tâm lý 17
1.2.2.2 Nội dung hỗ trợ tâm lý 17
1.2.2.3 Các hình thức hỗ trợ tâm lý 18
1.2.2.4 Nguyên tắc hỗ trợ tâm lý 20
1.2.2.5 Những phẩm chất nghề nghiệp của nhà hỗ trợ tâm lý 21
1.2.3 Nhu cầu về hỗ trợ tâm lý 21
Trang 61.2.3.1 Khái niệm 21
1.2.3.2 Các đặc điểm của nhu cầu hỗ trợ tâm lý 22
1.3 Bệnh nhân ung thư và nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 24
1.3.1 Đặc điểm của bệnh nhân ung thư 24
1.3.2 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 25
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Tổ chức nghiên cứu 27
2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 27
2.1.1.1 Tổng quan địa bàn thành phố Đà Nẵng 27
2.1.1.2 Tổng quan đặc điểm bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng 28
2.1.2 Quy trình tiến hành nghiên cứu 29
2.1.2.1 Mục đích 29
2.1.2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.1.2.3 Chọn mẫu 30
2.1.2.4 Các bước tiến hành 30
2.2 Các phương pháp khảo sát thực trạng hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện 30
2.2.1 Mô tả các phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1.1 Phương pháp kê khai 30
2.2.1.2 Phương pháp trò chuyện 31
2.2.1.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 32
2.2.1.4 Phương pháp hỗ trợ 32
2.2.2 Thiết kế công cụ nghiên cứu 32
2.2.2.1 Bệnh nhân 32
2.2.2.2 Người nhà bệnh nhân 36
2.2.2.3 Cán bộ y tế 36
Tiểu kết chương 2 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 38
3.1 Đặc điểm nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 38
Trang 73.1.1 Cường độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 38
3.1.2 Nội dung nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân 40
3.1.2.1 Những khó khăn của bệnh nhân ung thư 40
3.1.2.2 Nội dung nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 42
3.1.3 Mức độ bền vững của nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân 49
3.1.4 Phương thức thõa mãn nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 50
3.1.4.1 Phương thức thõa mãn nhu cầu hỗ trợ tâm lý mà bệnh nhân đã sử dụng 50
3.1.4.2 Phương thức thõa mãn nhu cầu mà bệnh nhân mong đợi 51
3.2 Định hướng công tác hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân 52
3.2.1 Xây dựng phòng hỗ trợ tâm lý trong bệnh viện 52
3.2.2 Bổ sung nguồn nhân lực Hỗ trợ tâm lý 53
3.2.3 Tập huấn cho cán bộ kiêm nhiệm 56
Tiểu kết chương 3 56
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Cường độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 38
Bảng 3.2 Những khó khăn của bệnh nhân ung thư 40
Bảng 3.3 Nội dung nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 42
Bảng 3.4 Tính bền vững về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân 50
Bảng 3.5 Phương thức thõa mãn nhu cầu hỗ trợ tâm lý mà bệnh nhân đã sử dụng 50
Bảng 3.6 Phương thức thõa mãn nhu cầu mà bệnh nhân mong muốn 51
Biểu đồ 3.1 Cường độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 38
Biểu đồ 3.2 Những khó khăn của bệnh nhân ung thư 41
Biểu đồ 3.3 Nội dung nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư 43
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ung thư là một căn bệnh ác tính đang trở thành mối lo ngại của con người Tỷ
lệ người mắc các bệnh về ung thư ngày càng tăng lên và tình trạng bệnh phức tạp hơn Hiện nay ung thư đang trở thành một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu và được hầu hết các quốc gia trên thế giới cảnh báo Có khoảng
20 triệu người đang sống chung với bệnh ung thư, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì con số này sẽ lên tới 30 triệu vào năm 2020
Tại Việt Nam, dù chưa có số liệu chính thức do số lượng bệnh nhân có thể nhập viện ở nhiều tuyến, tuy nhiên theo thông tin được đưa ra tại hội thảo khoa học Ung bướu quốc gia lần thứ VII vào năm 2013, mỗi năm Việt Nam có khoảng 150.000 người mới mắc ung thư và 75.000 người tử vong vì căn bệnh này, tức 205 người/ngày
và con số này dự báo sẽ ngày càng tăng cao Điều trị ung thư là một quá trình đòi hỏi bệnh nhân phải có sự kiên trì, niềm tin và nỗ lực rất lớn cả về vật chất lẫn tinh thần Trong các loại bệnh nan y, ung thư là loại bệnh đáng sợ nhất vì căn bệnh âm thầm lặng lẽ phát triển trong cơ thể người bệnh, không hề có triệu chứng rõ ràng; đến khi bệnh phát tác thì cũng là lúc đa phần bệnh nhân sắp phải lìa đời, tâm lý chung của người bệnh ung thư là lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, có thể rơi vào trầm cảm, hay cáu giận, thậm chí đâu đớn đến tuyệt vọng làm ảnh hưởng xấu đến quá rình điều trị Do vậy, họ rất cần đến sự nâng đỡ cảm xúc của người thân trong gia đình, chuyên gia tâm lý để giải tỏa lo lắng, thay đổi tâm trạng, lạc quan và biết cách chấp nhận, vượt qua khó khăn, tạo môi trường tích cực… giúp bệnh nhân tìm lại chính mình, có ý chí
và quyết tâm đấu tranh với bệnh tật, gạt bỏ ám ảnh về cái chết đang lơ lửng trên đầu
để tự giải thoát cho bản thân, giúp họ sống vui, khỏe lạc quan và sảng khoái, phát huy sức mạnh nội lực giành giật được sự sống
Hiện nay Y học trên thế giới cũng như Y học Việt Nam đã và đang ứng dụng
mô hình chăm sóc giảm nhẹ, hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân ung thư nhằm cải thiện chất lượng đời sống của bệnh nhân Tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng, mô hình chăm sóc giảm nhẹ đã được áp dụng nhưng cũng chỉ đề cập đến y học, về hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân thì chưa được áp dụng vì còn gặp nhiều khó khăn và đặc biệt, chưa có
Trang 10nghiên cứu nào đánh giá về vấn đề nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư hay tìm hiểu về những vấn đề mà bệnh nhân ung thư cần được hỗ trợ tại đây
Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nhu cầu hỗ trợ tâm lý
của bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng” với mục
đích tìm hiểu những vấn đề mà bệnh nhân ung thư cần được trợ giúp về mặt tâm lý, giúp cho lĩnh vực Y tế hiểu rõ hơn về bệnh nhân Từ đó có những giải pháp thích hợp trợ giúp họ, thúc đẩy việc điều trị cho bệnh nhân hiệu quả hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định đặc điểm nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
3 Đối tượng khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Bệnh nhân ung thư
4 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 1/2016 đến 5/2016
- Nhu cầu hỗ trợ tâm lý được nghiên cứu ở các phương diện sau: cường độ; nội dung; tính bền vững và phương thức thõa mãn nhu cầu hỗ trợ tâm lý
5 Giả thuyết khoa học
- Tại bệnh viện Ung Bứơu Đà Nẵng, bệnh nhân có nhu cầu hỗ trợ tâm lý cao
- Bệnh nhân có nhu cầu cao về hỗ trợ giảm căng thẳng lo sợ và hỗ trợ niềm tin vào cuộc sống
- Nhu cầu của bệnh nhân có tính bền vững
- Phương thức thõa mãn nhu cầu của bệnh nhân là được hỗ trợ cách giải quyết bởi chuyên viên tâm lý
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
Trang 11- Đánh giá thực trạng nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
- Đề xuất một số biện pháp nhằm định hướng công tác hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện ung bướu Đà Nẵng
7 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, trong đề tài đã sử dụng các phương pháp sau: 7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích - tổng hợp lý thuyết
- Phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp kê khai
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
8.3 Phần kết luận và khuyến nghị
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HỖ TRỢ TÂM LÝ
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Trong nhiều năm nay đã có không ít các nghiên cứu về bệnh ung thư nói chung
và nhu cầu hỗ trợ của bệnh nhân ung thư nói riêng Đây là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu từ những lĩnh vực khác nhau Mỗi ngành nghề lại có những nghiên cứu với chủ đề, hướng tiếp cận và phương pháp khác nhau Song mục tiêu của các nghiên cứu này đều hướng đến cung cấp cho người bệnh cũng như gia đình họ những cách thức hỗ trợ, can thiệp hiệu quả nhất; giảm nhẹ đến mức tối
đa các khó khăn đối với họ
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Warner JE (1992) đã chỉ ra những căng thẳng của bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân trong gia đình họ phải trải qua Mục tiêu trợ giúp kiểm soát đau và các vấn đề liên quan được thực hiện bằng cách giáo dục, nâng cao kỹ năng ra quyết định, sự quyết đoán và giảng dạy các kỹ thuật cụ thể về quản lý đau đớn và căng thẳng, bao gồm cả sử dụng thuốc giảm đau thích hợp, thư giãn tiến bộ, hình ảnh,
kỹ thuật phân tâm, và quản lý thời gian
Vào năm 2006, Trường Cao đẳng Điều dưỡng, Đại học Nam Florida Hoa Kỳ
đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng với 354 bệnh nhân Kết quả của nghiên cứu cho biết các kỹ năng đối phó can thiệp có hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của những chăm sóc, giảm gánh nặng liên quan đến các triệu chứng của bệnh nhân
Nếu như nghiên cứu của Đại học Nam Florida đi vào tìm hiểu kỹ năng ứng phó, thì nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu ung thư Memorial Sloan-Kettering, New York (2009) lại đi sâu tìm hiểu kỹ năng giao tiếp, truyền thông chuyên nghiệp, trong việc tổ chức các hoạt động chăm sóc giảm nhẹ Từ đó xây dựng các mô-đun đào tạo kỹ năng
Trang 13Một nghiên cứu khác lại đưa ra sự so sánh thú vị về sự khác nhau trong kiến thức về đau và nhận thức về những kinh nghiệm đau giữa các bệnh nhân ung thư ngoại trú (Đại học Emory, Atlanta, 1999) Kết quả chỉ ra rằng: Không có sự khác biệt đáng kể về điểm số kiến thức đã được phát hiện giữa các bệnh nhân Nhưng nhận thức về đau có sự khác biệt giữa bệnh nhân: bệnh nhân có mức độ đau đớn cao hơn
so với các báo cáo của bệnh nhân, bệnh nhân đã trải qua đau khổ lớn từ nỗi đau của
họ hơn so với bệnh nhân báo cáo về chính mình, và những người nhà bệnh nhân đã trải qua đau khổ lớn hơn đáng kể từ những đau đơn của bệnh nhân hơn so với bệnh nhân được báo cáo cho người nhà bệnh nhân của họ Bệnh nhân ngoại trú và những người nhà bệnh nhân của họ có kiến thức hạn chế về sự đau đớn và quản lý cơn đau
và cảm nhận được những kinh nghiệm đau cũng khác nhau Vì vậy họ cần được đào tạo tốt hơn về việc làm thế nào để quản lý cơn đau liên quan đến ung thư Ngoài ra,
để giảm vấn nạn cho bệnh nhân, y tá khoa ung thư cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho thông tin liên lạc giữa các bệnh nhân về những kinh nghiệm đau
Năm 2001, Viện Ung thư Welther Hoa Kỳ đã tiến hành một thử nghiệm lâm
sàng ngẫu nhiên: Cải thiện các triệu chứng trầm cảm trong số những bệnh nhân ung
thư Tuổi trung bình của bệnh nhân được lựa chọn khảo sát là 55 - 73 tuổi, 55% bị
ung thư vú, và 76% là nữ giới Kết luận của nghiên cứu đưa ra: Sự can thiệp có hiệu quả hơn trong việc làm chậm tốc độ trở nên xấu hơn của các triệu chứng trầm cảm hơn việc giảm mức độ trầm cảm trong số mẫu bệnh nhân này Nó đã chỉ một nhiệm vụ: Y tá phải thận trọng trong việc theo dõi những bệnh nhân cho các dấu hiệu trầm cảm và phải can thiệp để cung cấp hỗ trợ tinh thần cho họ, để thúc đẩy các kết quả tích cực cho bệnh nhân
Nghiên cứu “Mối quan hệ giữa đau khổ tâm lý của bệnh nhân ung thư và
những người nhà bệnh nhân họ” (Đại học Mancheste, 1992) đã chỉ ra rằng các bệnh
nhân đã không có kinh nghiệm đáng kể nhiều hơn hoặc ít hơn về những đau khổ tâm
lý so với người kia Bằng chứng sơ bộ của nghiên cứu cho thấy can thiệp sớm có thể ngăn chặn sự phát triển sau này của đau khổ tâm lý
Từ những vấn đề đó, một nghiên cứu của Đại học New York tiến hành vào năm 2010 đã đánh giá mối quan tâm về tâm lý xã hội và nhu cầu của bệnh nhân ung
Trang 14thư trong tất cả các giai đoạn của liên tục của bệnh, từ chẩn đoán đến chết hoặc sống sót Vai trò của văn hóa, tâm linh và tôn giáo được xem xét như là một phần của chăm sóc tâm lý xã hội Nghiên cứu kêu gọi cho một sự thay đổi một mô hình mới về chăm sóc thông qua một cách tiếp cận tích hợp để xác định và đáp ứng nhu cầu tâm lý xã hội của bệnh nhân ung thư và người sống sót như một phần của chăm sóc hỗ trợ trên toàn thế giới
Một nghiên cứu khác đề cập trực tiếp đến “Đáp ứng nhu cầu hỗ trợ của bệnh
nhân trong chăm sóc giảm nhẹ: những thách thức cho các chuyên gia y tế” do Đại
học Melbourne (2004) Thông thường, bệnh nhân chết vì bệnh ung thư đã thông báo rằng họ cần hỗ trợ nhiều hơn và thông tin từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe Hơn nữa, một số bác sĩ lâm sàng và các nhà nghiên cứu chăm sóc giảm nhẹ đã kêu gọi can thiệp để tăng cường sự hỗ trợ cung cấp cho bệnh nhân Nghiên cứu hướng đến phá
bỏ rào cản, giải quyết những nhu cầu bệnh nhân, để từ đó có sự can thiệp hiệu quả hơn với quá trình điều trị của bệnh nhân
Nhìn chung những nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả góp phần đáng
kể cho lĩnh vực nghiên cứu về bệnh nhân ung thư và vai trò, cũng như nhu cầu của của họ trong việc điều trị ung thư
Thứ nhất, các nghiên cứu này phần lớn là nghiên cứu ứng dụng, nhằm mục
đích tìm hiểu để đề xuất những can thiệp, hỗ trợ tốt hơn cho quá trình điều trị của bệnh nhân và đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân
Thứ hai, các nghiên cứu này đã đưa ra những phát hiện và so sánh về mức độ
hiểu biết, những khó khăn về tâm lý giữa các bệnh nhân;
Thứ ba, các nghiên cứu này cũng đưa ra những đề xuất cho việc đáp ứng nhu
cầu của bệnh nhân Các mô hình hỗ trợ như: hỗ trợ tăng cường kỹ năng giao tiếp, ứng phó…
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, tại Việt Nam, hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân ung thư ngày càng được quan tâm Hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân phần nào đã được đề cập đến trong các nghiên cứu, hoạt động:
Trang 15Để hiểu, đáp ứng tốt hơn và toàn diện hơn nhu cầu về chăm sóc giảm nhẹ trên quy mô toàn quốc, năm 2005, Vụ Điều trị - Bộ Y tế đã phối hợp với các tổ chức quốc
tế tiến hành một phân tích đánh giá nhanh (Rapid Situational Analysis - RSA) tại 5 tỉnh/thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh và An Giang
Kết quả điều tra Đánh giá nhanh cho thấy triệu chứng đau là biểu hiện thường gặp ở người nhiễm HIV và bệnh nhân ung thư, đặc biệt là trên những người bệnh ở giai đoạn cuối Tuy nhiên các biện pháp xử trí đau còn rất hạn chế Qua điều tra cho thấy rằng nhân viên y tế ít có cơ hội tiếp cận với các thuốc cần thiết dùng trong chăm sóc giảm nhẹ để xử trí đau và các triệu chứng khác Nhân viên y tế và nhân viên tại các cơ sở y tế chăm sóc giảm nhẹ chưa được đào tạo đầy đủ về lý thuyết cũng như thực hành chăm sóc giảm nhẹ Chưa biết cách đánh giá đau và điều trị theo bậc thang đau của Tổ chức Y tế Thế giới Kết quả đánh giá cho thấy rằng sự đau đớn về tinh thần rất hay gặp ở bệnh nhân ung thư và người có HIV Vì thế tư vấn và hỗ trợ về mặt tinh thần là rất cần thiết và nên được phát triển cũng như mở rộng các dịch vụ này ở những trung tâm điều trị cho bệnh nhân ung thư và người có HIV
Ngày 19/5/2006, Quyết đi ̣nh 3483/BYT của Bô ̣ Y tế về viê ̣c ban hành "Hướng dẫn Quốc gia về Chăm sóc giảm nhe ̣ đối với người bê ̣nh ung thư và AIDS" Đây là
cơ sở pháp lý và là tài liê ̣u tham khảo mang tính thực tiễn để các nhà lâm sàng trên toàn quốc triển khai các hoa ̣t đô ̣ng chăm sóc và điều tri ̣ cho bê ̣nh nhân HIV/AIDS,
bê ̣nh nhân ung thư và mắc các bê ̣nh hiểm nghèo đe do ̣a tính ma ̣ng
Chương trình Hỗ trợ tâm lý dành cho bệnh nhân nan y và bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính cùng thân nhân của họ với tên gọi “Nâng cao sức mạnh tinh thần” thuộc Câu lạc bộ thiện nguyện Nụ Cười Trái Tim-Chi hội Tâm lý học Nụ Cười Trái Tim đã được thực hiện từ cuối năm 2007 cho đến nay, với mong muốn đem lại cho bệnh nhân sự bình an tâm trí và sự thích nghi tinh thần trước những đau khổ do bệnh tật mang lại
Tại bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt cũng đã triển khai mô hình hỗ trợ nhu cầu
về tâm lý, đem lại sự thoải mái tốt nhất về mặt tâm lý cho người bệnh Luôn hướng đến mục tiêu sẵn sàng lắng nghe những tâm sự, lo toan, thắc mắc của bệnh nhân và kịp thời giải đáp nên luôn đem lại sự tin tưởng, lạc quan & vui vẻ cho người bệnh
Trang 16“Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS” (TS
Nguyễn Thị Xuyến chủ biên), NXB Y học, 2006 Cuốn sách được coi là một cuốn cẩm nang hướng dẫn cách thức thực hành chăm sóc người bệnh theo mô hình chăm sóc giảm nhẹ Nội dung chủ yếu của chương 1 và chương 2 là những chỉ dẫn y học
về cách thức kiểm soát đau và xử lý triệu chứng cho bệnh nhân Điều đáng chú là là
cuốn sách dành hẳn Chương 3 để đề cập đến “Chăm sóc tâm lý xã hội cho người bệnh
và người nhà bệnh nhân” Đây là những hướng dẫn cụ thể về cách thức hỗ trợ tâm lý
xã hội cho nhóm đối tượng này
Những nghiên cứu về Hỗ trợ tâm lý trong bệnh viện
Bài viết “Hỗ trợ tâm lý bệnh viện theo cách nhìn Hỗ trợ tâm lý chuyên nghiệp
và quản lý bệnh viện” – GS.TS Phạm Huy Dũng và TS Phạm Huy Tuấn Kiệt (Đăng
trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: 20 năm Khoa Xã hội học thanh tựu và thách thức - 2011) đã chỉ rõ những công việc của nhân viên Hỗ trợ tâm lý bệnh viện chuyên nghiệp
có thể đảm nhận và lý do cần hay không cần nhân viên Hỗ trợ tâm lý bệnh viện chuyên nghiệp từ góc nhìn của người đào tạo Hỗ trợ tâm lý và cán bộ quản lý bệnh viện Tác giả đã chỉ ra rằng nhân viên Hỗ trợ tâm lý có thể tham gia vào nhiều khâu trong khám chữa bệnh và trong căm sóc bệnh nhân tại bệnh viện, từ khâu đón tiếp bệnh nhân nhập viện, cho đến khâu chuẩn bị cho bệnh nhân xuất viện Tác giả không đề xuất một mô hình tổ chức Hỗ trợ tâm lý bệnh viện cụ thể mà chỉ đề nghị triển khai dần một số hoạt động Hỗ trợ tâm lý bệnh viện
ThS Đặng Kim Khánh Ly với bài viết “Định hướng vai trò của nhân viên Hỗ
trợ tâm lý trong bệnh viện ở Việt Nam hiện nay” (Đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc
tế: Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về Hỗ trợ tâm lý và An sinh xã hội – 2012) đã chỉ ra
sự cần thiết của nhân viên Hỗ trợ tâm lý trong hệ thống bệnh viện ở Việt Nam bối cảnh hiện tại, trong đó nêu rõ những khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ tại các cơ
sở y tế và lợi thế của việc xuất hiện nhân viên Hỗ trợ tâm lý trong bệnh viện Từ đó tác giả đề xuất vai trò của nhân viên Hỗ trợ tâm lý trong bệnh viện ở Việt nam, bài học kinh nghiệm từ các hoạt động Hỗ trợ tâm lý trong bệnh viện của các nước trên thế giới
1.2 Lý luận về nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Trang 171.2.1 Lý luận về nhu cầu
1.2.1.1 Khái niệm nhu cầu
Có nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu, tác giả A.V.Daparogiet cho rằng
“Nhu cầu là sự phản ánh vào óc người sự cần thiết mà người đó cảm thấy đối với một vật thể nào đó Nhu cầu kích thích con người hành động, buộc con người phải vươn tới một đối tượng nhất định A.N.Leonchiec thì cho rằng nhu cầu là một trạng thái của con người, cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng con người nói chung, sống và hoạt động Trong từ điển tâm lý học GS Vũ Dũng đã định nghĩa “nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phá từ chỗ cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phá triển của mình, và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân” Trong từ điển tâm lý học (Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn chủ biên) định nghĩa: “Nhu cầu là hình thức liên hệ giữa cơ thể sống và thế giới bên ngoài, nguồn gốc tính tích cực của cơ thể sống Nhu cầu như là lực lượng bản chất bên trong thúc đẩy cơ chế tiến hành những hình thức hoạt động có chất lượng nhất định cần thiết chho sự duy trì và phát triển của cá thể và loài”
PGS.TS Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thõa mãn để tồn tại và phát triển” Theo tác giả Phạm Minh Hạc,
“Nhu cầu là một thuộc tính của nhân cách, biểu thị mối quan hệ của cá nhân với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần phải được thõa mãn trong điều kiện nhất định để có thể tồn tại và phát triển
Tóm lại có nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu nhưng có thể nhận định khái quát về nhu cầu như sau:
Nhu cầu là nguyên nhân khởi đầu cho các hành động khác nhau của con người, với tư cách là một hiện tượng tâm lý, nhu cầu chi phối mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hoạt động của con người nói riêng
Nhu cầu là yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển cá nhân Tùy vào ừng thời ký lịch sử, trình độ nhận thức, môi trường sống, đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người
có đặc điểm nhu cầu khác nhau như người hiện đại có nhu cầu khác với người nguyên thủy, trẻ em có nhu cầu khác với người lớn, nhu cầu nam giới khác nữ giới, nhu cầu cuản
Trang 18gười trí thức khác với nhu cầu của nông dân lao động và ở những vùng miền có điều kiện kinh tế khác nhau thì mức độ nhu cầu cũng khác nhau
Nhu cầu định hướng và quyết định cho mọi hoạt động của con người, nó sẽ tạo ra cảm giác thoải mái khi được thõa mãn và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng khi không được thõa mãn Nhu cầu là một cái gì đó mà thiếu nó sẽ gây ra các hạn chế cho sự phá triển nhân cách của cá nhân
Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực của cá nhân Mọi hành vì của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nào đó Nhu cầu của con người là biểu hiện của xu hướng và ước muốn, nguyện vọng đòi hỏi cần được thõa mãn để sống và hoạt động Ngoài chức năng định hướng, nhu cầu và sự thõa mãn nhu cầu còn là yếu
tố kích thích bên trong, là nguồn gốc của tính tích cực và óc sang tạo, là động cơ thúc đẩy con người hoạt động
Như vậy có thể hiểu rằng, nhu cầu là thuộc tính tâm lý của cá nhân, là sự đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thõa mãn trong những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển Đồng thời là nguồn gốc của tính tích cực và óc sáng tạo trong hoạt động của con người
1.2.1.2 Các đặc điểm của nhu cầu
a Cương độ nhu cầu
Cường độ nhu cầu là độ gay gắt của sự đòi hỏi về một đối tượng nào đó, thể hiện ở việc chủ thể ý thức được trạng thái thiếu thốn của chủ thể, đối tượng và phương thức thõa mãn nó X.L.Rubinstein đã chia nhu cầu thành 3 mức độ tương đương với cường độ mạnh yếu của nhu cầu:
Ý hướng: là bước khởi đầu của nhu cầu Ở mức độ này nhu cầu chưa được phản ánh đầy đủ, rõ ràng vào trong ý thức con người, chủ thể mới ý thức được rạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó nhưng chưa ý thức được đối tượng và khả năng thõa mãn nhu cầu Ở mức độ này, nhu cầu chỉ mới tồn tại dưới dạng một cảm giác thiếu hụt mơ hồ nào đó Lúc này chủ thể đang trải nghiệm và ý thức được trạng thái thiểu hụt về một cái gì đó nhưng chưa ý thức được thiếu hụt cái gì và bằng cách nào để khỏa lấp trạng thái thiếu hụt đó Ở mức độ này tương đương với nhu cầu được thõa mãn ở mức độ thấp Nếu đối tượng để thõa mãn nhu cầu được chủ thể ý thức,
Trang 19nghĩa là tự trả lời câu hỏi “thiếu hụt về cái gì” thì lúc đó nhu cầu chuyển sang mức
độ cao hơn, ý muốn
Ý muốn: là mức độ cao hơn của nhu cầu so với ý hướng Ở giai đoạn này, chủ thể đã ý thức được đối tượng để thõa mãn cũng như ý nghĩa của hoạt động thĩa mãn nhu cầu, nhưng chủ thể lại chưa tìm được phương pháp, phương tiện để thõa mãn nhu cầu và đang có khuynh hướng tìm kiếm phương thức, điều kiện để thõa mãn nhu cầu
Ở mức độ này tương đương với cường độ nhu cầu ở mức trung bình Ý muốn sẽ kết thúc và chuyển sang mức độ cao hơn khi chủ thể ý thức được đầy đủ cách thức và các phương tiện nhằm thõa mãn nhu cầu
Ý định: là mức độ cao nhất của nhu cầu, khi chủ thể ý thức được đầy đủ về mục đích, phương thức, phương tiện, điều kiện hoạt động nhằm thõa mãn nhu cầu và sẵn sàng hoạt động để đạt tới mục đích Ở mức độ này, nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể hoạt động nhằm thõa mãn nó, đồng thời chủ thể có khả năng hình dung về kết quả của hoạt động
Ý hướng, ý muốn, ý định biểu hiện nhu cầu từ yếu đến mạnh trên cơ sở kế thừa và phát triển Ý hướng là cơ sở của ý muốn, ý muốn kế thừa và phát triển ở mức
độ cao hơn so với ý hướng Ý định là sự chuyển tiếp ừ ý hướng lên ý muốn và từ ý muốn lên ý định
- Căn cứ vào tính tích cực, nhu cầu biểu hiê ̣n ở ba mức đô ̣: lòng ham muốn, lòng say mê, đam mê
- Ngoài ra nhu cầu còn được biểu hiê ̣n ở hai mức đô ̣ cao, thấp khác nhau: + Mức đô ̣ thấp: chủ thể nhâ ̣n thức được đối tượng của nhu cầu nhưng nhu cầu chưa đủ ma ̣nh để thúc đẩy con người hoa ̣t đô ̣ng
+ Mức đô ̣ cao: nhu cầu đã đủ ma ̣nh, trở thành nô ̣i lực thúc đẩy con người hoa ̣t
Trang 20Khi nào chủ thể gặp đối tượng được ý thức về giá trị để thõa mãn nhu cầu và
có điều kiện thực hiện phương thức thõa mãn thì nhu cầu đó trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động nhằm vào đối tượng Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với cá nhân và xã hội càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu nhanh chóng nảy sinh, củng cố và phát triển Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thõa mãn nhu cầu
Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại khách quan và không bộc lộ
ra khi chủ thể tiến hành hoạt động Nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng và chính bản thân vật thể được nhận biết, nghĩa là được chủ thể hình dung, tư duy ra lại thành động cơ có chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động Khi đã xác định được hướng, tức là đối tượng của nhu cầu được chủ thể ý thức thì nhu cầu thực sự là sức mạnh nội tại, sức mạnh tâm lý kích thích và hướng dẫn hoạt động
Tính đối tượng của nhu cầu xuất hiện trong hoạt động có đối tượng chủ thể Nhu cầu với tư cách là một năng lực hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động khi được “đối tượng hóa” là điều kiện nảy sinh tâm thế Với ý nghĩa đó, nhu cầu thực sự là một cấp đội phản ánh tâm lý, ở cấp độ này, nhu cầu được phát triển thông qua sự phát triển nội dung của đối tượng nhu cầu Đây là đặc điển đặc trưng cho nhu cầu của con người
Sự phát triển nhu cầu thực chất là quá trình phát triển của nội dung đối tượng của nhu cầu và mức độ cao hơn của thế giới đối tượng là sự phát triển của các động
cơ cụ thể của con người, như vậy sự phát triển của các nhu cầu con người Như vậy
sự phát triển của nhu cầu diễn ra theo con đường phát triển các hoạt động ương ứng với một phạm vi đối tượng ngày càng phong phú và đa dạng
c Chu kì của nhu cầu
Khi nhu cầu nào đó thỏa mãn không có nghĩa là nhu cầu đó chấm dứt mà nó tạm thời lắng xuống sau một khoảng thời gian lại tiếp tục tái diễn nếu ngươi ta vẫn ở trong điều kiện và phương thức hoạt động cũ, sự tái diễn đó thường có tính chất chu
kì Tính chất của nhu cầu này là do sự biến đổi có tính chất chu kì Tính chất của chu
kì này là do sự biến đổi có tính chất chu kì của hoàn cảnh xung quanh và của cơ thể gây ra
d Nội dung nhu cầu
Trang 21Nội dung nhu cầu do điều kiện, hoàn cảnh, môi trường quy định Kết quả nghiên cứu Đacuyn cho thấy: Nếu chỉ dung một loại lá cây để nuôi một loại sâu thì sau này con sâu đó không ăn loại lá cây khác, mặc dù loại lá cây đó rất thích hợp cho việc nuôi sống nó Trong phòng thí nghiệm của Pavlov, Xitovit cũng đã dung sữa bò
để nuôi một con chó từ khi lọt lòng đến khi lớn Về sau con chó này chỉ biết ăn sữa
bò mà dửng dung, cự tuyệt với bánh mì và thịt Như vậy, chính điều kiện sống đã quy định nội dung đối tượng của nhu cầu Nói cách khác, mọi nhu cầu đều là hình thưc đặc biệt của sự phản ánh của điều kiện sống bên ngoài Nội dung của con người còn phụ thuộc vào phương thức thõa mãn nó C.Mác viết: “đói là cái đói song cái đói được thõa mãn bằng thịt chín bằng cách dung dao và nĩa thì khác hẳn với cái đói bắt buộc phải nuốt bằng tay, móng và răng”
e Tính bền vững của nhu cầu
Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện lặp đi lặp lại (thông thường
ở mức độ cao hơn) khi sự đòi hỏi gây ra nhu cầu tái hiện Một yêu cầu về một điều gì
đó chỉ xảy ra một lần mang tính chất riêng lẻ và không lặp lại nữa thì sẽ không biến thành nhu cầu và không đặc trưng cho những đặc điểm tâm lý của con người Tính bền vững của nhu cầu được thể hiện ở cấp độ cao của nhu cầu: cấp độ tâm lý, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý Nhu cầu càng phát triển ở mức độ cao thì càng ổn định, bền vững
f Phương thức thõa mãn nhu cầu
Nhu cầu được thỏa mãn thông qua hoạt động Chỉ có thông qua họat động thì đối tượng nhu cầu mới được bộc lộ và đáp ứng đòi hỏi của nhu cầu Chỉ thông qua hoạt động có đối tượng thì nhu cầu mới được cụ thể hóa về mặt ttaam lý và mới được thỏa mãn Chính vì thế mà nhu cầu luôn có mối quan hệ mật thiết với động cơ Phương thức thỏa mãn nhu cầu của chủ thể phụ thuộc vào sự phát triển, phong tục truyền thống…của mỗi xã hội mà chủ thể đang sống, phụ thuộc vào trạng thái tâm lý nói riêng cũng như khả năng hoạt động của chủ thể Mỗi nhu cầu cụ thể được thỏa mãn trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động tương ứng
1.2.1.3 Phân loại nhu cầu
Có nhiều cách phân loa ̣i nhu cầu:
Trang 22- Nhu cầu vâ ̣t chất và nhu cầu tinh thần:
+ Nhu cầu vâ ̣t chất là những đòi hỏi về điều kiê ̣n vâ ̣t chất tự nhiên chính đáng, tất yếu như các điều kiê ̣n ngoa ̣i cảnh, đi ̣a lý, các cơ sở và yếu tố vâ ̣t chất đảm bảo cho con người và xã hội có thể tồn ta ̣i và phát triển được
+ Nhu cầu tinh thần là sự đòi hỏi các giá tri ̣ tinh thần làm cơ sở cho sự tồn ta ̣i và phát triển của con người và xã hội Ví du ̣: nhu cầu nhâ ̣n thức, nhu cầu thẩm mĩ, nhu cầu lao đô ̣ng, nhu cầu giao lưu, nhu cầu hoa ̣t đô ̣ng xã hội…
Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối
- Nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội:
+ Nhu cầu cá nhân là mô ̣t hiê ̣n tượng tâm lý cá nhân, nó xuất hiê ̣n khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiê ̣n nhất đi ̣nh nào đó để đảm bảo sự tồn ta ̣i và phát triển cho bản thân mình
+ Nhu cầu xã hội là hiê ̣n tượng tâm lý xã hội tồn ta ̣i ở nhiều con người cu ̣ thể khác nhau nhưng có tính phổ biến và đồng nhất Đó là nhu cầu chung của nhóm có nhiều cá nhân là thành viên, trở thành của cả nhóm về những điều kiê ̣n nhất đi ̣nh, đảm bảo sự tồn ta ̣i, phát triển của nhóm
- Khi phân chia các mức đô ̣ của nhu cầu, A Maslow đã xem xét nhu cầu con người theo hình thái phân cấp và sắp xếp chúng theo thứ tự tăng dần từ thấp đến cao, bao gồm 5 loa ̣i nhu cầu đó là: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu được giao lưu tình cảm và được lệ thuộc, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được thể hiện mình
1.2.1.4 Sự hình thành nhu cầu
Theo quan niệm của tâm lý học Macxit, nhu cầu được hình thành và phát triển trong chính hoạt động và trong quá trình con người tích cực hoạt động nhằm vươn tới
sự thõa mãn nhu cầu thì nhu cầu mới cũng được hình thành và phát triển
Nhu cầu của con người được hình thành trong quá trình phát triển của cá nhân trên cơ sở những tiền đề bẩm sinh, những tiền đề này tạo ra khả năng tác động qua lại khác nhau (của chủ thể) với thế giới và tạo ra sự cần thiết trong các hình thức của tính tích cực được xác định bởi các chương trình của hoạt động sống sinh học và xã hội
Trang 23A.N.Leonchiev đã đưa ra sơ đồ giải thích mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động như sau: thoạt đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như một điều kiện, môt tiền đề cho họa động nhưng ngay khi chủ thể bắt đầu hành động thì ngay lập tức xảy ra sự biến hóa của nhu cầu và cũng không còn giống như khi nó tồn tại một cách tiềm tang, tồn tại
“tự nó” nữa Sự phát triển của hoạt động này đi xa bao nhiêu thì cái tiền đề này của hoạt động (tức là nhu cầu) cũng chuển hóa bấy nhiêu thành kết quả của hành động
A.N.Leonchiev cho rằng vì bản thân thế giới đối tượng hàm chứa tiềm tang những nhu cầu, nên trong quá trình chủ thể hoạt động tích cực, tất yếu sẽ nhận thức được những yêu cầu, đồi hỏi phải được thõa mãn để được tồn tại và phát triển, tức là xuất hiện nhu cầu mới Thông qua hoạt động lao động sản xuất, một mặt thõa mãn nhu cầu hiện tại, đồng thời lại xuất hiện nhu cầu mới, vì thế con người không ngừng hoạt động tích cực lao động sản xuất qua đó thúc đẩy tiến bộ xã hội
Như vậy bản chất của nhu cầu là sự đòi hỏi của chủ thể về mặt đối tượng nào
đó cần được thõa mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu có quan hệ mật thiết với động
cơ Động cơ là sự biểu hiện chủ quan của nhu cầu, là vị trí gián tiếp trong nhân cách của xã hội, ngược lại nhu cầu là cơ sở của động cơ Lý thuyết hoạt động khẳng định, con người là chủ thể hoạt động luôn thực hiện các hành vi nhằm đạt những mục đích hoặc những động cơ nhất định Động cơ trong tâm lý học theo nghĩa chung nhất là các thúc đẩy và quy định chiều hướng hoạt động nhằm đạt mục đích nào đó
Nói về mối quan hệ giữa nhu cầu và động cơ, cả A.N.Leonchiev và B.Ph.Bomov đều khẳng định rằng không thể tách biệt mà chúng luôn gắn liền với nhau tạo thành lĩnh vực động cơ – nhu cầu: “lĩnh vực động cơ của nhân cách có liên quan chặt chẽ với những nhu cầu, chế định hành vi con người một cách khách quan
và có quy luật Động cơ là sự biểu hiện chủ quan của nhu cầu, là vị trí gián tiếp trong nhân cách của xã hội, ngược lại nhu cầu là cơ sở của động cơ Trên thực tế động cơ
và nhu cầu gắn bó mật thiết với nhau đến mức thường không thể phân tích chúng ra được” Vì vậy A.N.Leonchiev đã đưa ra kết luận có tính nguyên tắc: “sự phân tích các nhu cầu trong tâm lý học không thể nào tránh khỏi các phân tích các động cơ Và vê phía đối tượng, trước hết ta có động cơ được thể hiện thành nhu cầu”
Trang 24Trong hệ thống thứ bậc động cơ của con người, nhu cầu và hứng thú là hai thứ bậc có quan hệ trực tiếp với nhau Hứng thú là sự phát triển cao, mang màu sắc xúc cảm của nhu cầu Bản thân hứng thú luôn chứa đựng nhu cầu và nhu cầu là cơ sở để hình thành hứng thú Chính vì vậy để hình thành nhu cầu về một đối tượng nào đó chúng ta phải làm cho chủ thể có cơ hội làm quen với đối tượng, thực hiện hoạt động với đối tượng Chính trong quá trình trải nghiệm đó, chủ thể sẽ có cơ hội và điều kiện
để thấy được vai trò ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống của bản thân, từ đó hình thành mong muốn và đối tượng về nhu cầu sẽ xuất hiện
1.2.1.5 Vai trò của nhu cầu
Nhu cầu có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của con người Con người không thể tồn tại mà thiếu nhu cầu, trước hết là những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn, mặc, ở C Mác viết: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới làm
ra lịch sử Nhưng muốn sống được trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo” Sự thỏa mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân và tập thể Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm và ý chí của con người Mặt khác, nhu cầu quy định và tích cực hóa hoạt động của con người
Nhu cầu chính là nguồn gốc, động lực thúc đẩy hoạt động và là một trong những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động nói chung và thực hiện các hành
vi ý chí nói riêng Nhu cầu này được thỏa mãn, kích thích bị dập tắt, đồng thời xuất hiện nhu cầu mới với những kích thích mới Trong mỗi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu Nhu cầu nào lớn hơn sẽ chi phối các nhu cầu khác và “đòi” con người phải đáp ứng nhu cầu đó Trong cùng một thời điểm, con người không thể thỏa mãn được đầy đủ các nhu cầu Nhu cầu bao gồm những thang bậc, trình độ khác nhau làm
cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của con người Có nhu cầu tích cực, thúc đẩy con người phát triển theo hướng tích cực Nhu cầu tiêu cực kìm hãm sự phát triển, đưa con người đến sự suy thoái
Nhu cầu thể hiện xu hướng có sự lựa chọn, các ý nghĩ, các rung cảm, và ý chí của con người Nó quy định các hoạt động xã hội của cá nhân và các nhóm xã hội Nhu cầu sống và phát triển của cá nhân và các nhóm xã hội là một tất yếu Nhu cầu
Trang 25xuất hiện, con người “đòi” phải được thỏa mãn Quá trình “đòi” thỏa mãn nhu cầu là quá trình thôi thúc con người hành động hướng tới sự phát triển toàn diện
1.2.2 Hỗ trợ tâm lý
1.2.2.1 Khái niệm hỗ trợ tâm lý
Hỗ trợ tâm lý, có thể hiểu một cách đơn giản, là một hoạt động giúp đỡ cho người đang có khó khăn tâm lý để họ thực hiện điều họ mong muốn trong cuộc sống Khái niệm hỗ trợ tâm lý bao hàm nhũng công việc của người giúp đỡ không chuyên – tất cả mọi người, và công việc giúp đỡ cuả những nhà chuyên nghiệp – nhà tâm lý học, nhà hỗ trợ, nhân viên Hỗ trợ tâm lý, bác sĩ tâm thần, nhà giáo dục Với cách hiểu như vậy, trong xã hội có rất nhiều kiểu người đang làm công tác trợ giúp và mức độ hiệu quả giúp của họ là không giống nhau
Trong phạm vi đề tài, hỗ trợ tâm lý được hiểu là hoạt động chuyên nghiệp của nhà tâm lý trong việc sử dụng kiến thức, kỹ năng nhằm trợ giúp thân chủ có nhu cầu được trợ giúp về mặt tinh thần Người trợ giúp là những người được đào tạo sâu và chuyên biệt về những kiến thức, kĩ năng tâm lý, hành vi con người, kỹ năng giao tiếp
và giải quyết các vấn đeè thoe chuyên ngành để có thể đáp ứng với đối tượng được giúp đỡ, như làm nghề tâm lý học, nhà hỗ trợ, hỗ trợ tâm lý, tâm thần học Hầu hết những người hỗ trợ chuyên nghiệp đều có mối quan hệ hỗ trợ chính thức, có chức danh rõ ràng
Khái niệm hỗ trợ tâm lý còn được hiểu là sự giúp đỡ một cách có hệ thống và có phương pháp Người hỗ trợ chuyên nghiệp cần có kỹ năng và phẩm cách làm cho người
có nhu cầu hỗ trợ tìm hiểu, khám phá, hành động để giải quyết vấn đề của mình
1.2.2.2 Nội dung hỗ trợ tâm lý
Con người thường không thể tự mình giải quyết tất cả những vấn đề của bản thân, đặc biệt là những khó khăn tâm lý Bởi vậy mỗi khi có những khúc mắc không được giải quyết người ta thường nghĩ tới việc tìm lời khuyên, sự trợ giúp từ những nhà tâm lý Chính vì vậy, nội dung hỗ trợ tâm lý ngày càng được mở rộng ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội:
- Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình: xung đột giữa nam và nữ, quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai, các bệnh lây qua đường tình dục, mặc cảm tình dục, xung
Trang 26đột và bạo lực trong gia đình (cha mẹ - con cái, vợ - chồng, giữa các thế hệ với nhau…)…
- Tâm lý học đường: các mối quan hệ bạn bè (áp lực bạn đồng đẳng…), gia đình, thầy cô; hướng nghiệp; sức khỏe sinh sản; học lực, khả năng học tập…
- Tâm lý sức khỏe sinh sản vị thành niên: giới tính, mang thai, nạo phá thai, các biện pháp phòng tránh thai, HIV/ AIDS, các trục trặc liên quan đến các chức năng tình dục…
- Sức khỏe tinh thần: stress, lo âu, trầm cảm, mặc cảm tội lỗi, sự tuyệt vọng,
hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân…
- Y tế: các phương pháp trong điều trị bệnh, hỗ trợ về luật pháp…
1.2.2.3 Các hình thức hỗ trợ tâm lý
Hỗ trợ tâm lý có thể chia thành hai hình thức: hỗ trợ trực tiếp và hỗ trợ gián tiếp
- Hình thức trực tiếp: tức là có sự gặp gỡ trực tiếp giữa người hỗ trợ và thân chủ Người hỗ trở dùng kỹ năng của mình giúp thân chủ hiểu các nguyên nhân dẫn đến vấn đề của họ, từ đó nhìn nhận lại vấn đề một cách tích cực hơn, khơi dậy những tiềm năng của thân chủ để họ tự lựa chọn các giải pháp giải quyết vấn đề của mình
+ Hỗ trợ tâm lý trực tiếp tại trung tâm tư vấn (các trung tâm này hoạt động độc lập): Người hỗ trợ và thân chủ đối thoại trực tiếp với nhau Loại hình này giúp người
hỗ trợ và thân chủ có thời gian trò chuyện, trao đổi, thiết lập mối quan hệ gần gũi, điều này giúp người hỗ trợ hiểu sâu sắc hơn vấn đề của thân chủ
+ Hỗ trợ tâm lý trực tiếp tại các phòng hỗ trợ trực thuộc các cơ quan như trường học, trường giáo dưỡng, trung tâm cai nghiện, bệnh viện, nhà máy… Ở hình thức này người hỗ trợ và thân chủ cũng đối thoại trực tiếp với nhau
- Hình thức hỗ trợ tâm lý gián tiếp: Người hỗ trợ và thân chủ không đối thoại trực tiếp với nhau mà thường thông qua kênh liên lạc trung gian như: điện thoại, báo chí, thư từ, internet, đài phát thanh, đài truyền hình… Đặc điểm của hình thức này là thông tin một chiều, các kỹ năng không được sử dụng một cách triệt để, có hiệu quả
Hỗ trợ tâm lý gián tiếp gồm có các hình thức sau:
+ Hỗ trợ tâm lý qua điện thoại: loại hình hỗ trợ này khá phát triển trong thời gian gần đây Thân chủ có những khó khăn, khúc mắc trong cuộc sống gọi điện thoại
Trang 27đến để được hỗ trợ vượt qua những khó khăn này Thân chủ có thể gọi điện đến trung tâm nhiều lần cho đến khi nào vấn đề được giải quyết hoàn toàn
+ Hỗ trợ tâm lý qua internet: loại hình này rất phát triển trong thời gian gần đây và nó bắt đầu đáp ứng được nhu cầu của những người sử dụng internet Với hình thức này thân chủ sẽ sử dụng thư điện tử hoặc hỗ trợ trực tuyến để cung cấp các vấn
đề cũng như các thông tin của bản thân cho người hỗ trợ Người hỗ trợ sẽ phản hồi thông tin cho thân chủ qua thư điện tử
+ Hỗ trợ tâm lý qua truyền hình: Đài truyền hình sẽ tổ chức các chương trình
hỗ trợ tâm lý Thân chủ có vấn đề sẽ gọi điện hoặc viết thư gửi về đài truyền hình, sau đó đài truyền hình sẽ chọn ra một số tình huống để các chuyên gia giải quyết trong chương trình truyền hình
+ Hỗ trợ tâm lý qua báo chí, thư từ: Đây là loại hình gián tiếp xuất hiện sớm nhất ở nước ta, thường là hỗ trợ cho các thân chủ gặp rắc rối về các vấn đề như tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình Hỗ trợ tâm lý qua báo chí, thù từ có một số đặc điểm riêng như: thân chủ không biết ai ở trung tâm sẽ đọc và xử lí thư của mình, do
đó thư được viết hoàn toàn do bản thân thân chủ tự suy nghĩ, không có một ảnh hưởng nào hay một tác động nào từ phía người hỗ trợ
+ Hỗ trợ tâm lý qua đài: Các thân chủ sẽ gọi điện đến các chương trình tư vấn của đài phát thanh Qua thông tin thân chủ cung cấp, người hỗ trợ sẽ đưa ra các lời khuyên, các gợi ý thích hợp và từ đó khán giả sẽ tự quyết định phương thức giải quyết vấn đề của mình
Mục đích và chức năng của hỗ trợ tâm lý
Mục đích của hỗ trợ tâm lý
Hỗ trợ tâm lý có những mục tiêu chung như sau:
- Sứ mệnh của hỗ trợ tâm lý là trợ giúp và phát triển
- Đạt được những thay đổi ở người đến hỗ trợ, những thay đổi ấy có thể diễn
ra ở ba lĩnh vực cơ bản sau:
+ Lĩnh vực cảm nhận
+ Cái đích về niềm tin
+ Cái đích về kỹ năng, thói quen
Trang 28 Chức năng của hỗ trợ tâm lý
Hỗ trợ tâm lý thực hiện các chức năng cơ bản sau:
- Việc đầu tiên là phải cung cấp thông tin cho thân chủ: phải cung cấp những thông tin một cách khách quan, chính xác, rõ ràng Điều này sẽ giúp thân chủ tránh được những cách hiểu, những quan niệm lệch lạc, hiểu biết sai lầm
- Thể hiện sự hỗ trợ: tức là thể hiện sự trợ giúp về mặt tâm lý, tình cảm bằng những hình thức như chia sẻ, lắng nghe Qua đó làm cho thân chủ cảm thấy yên tâm, giúp họ giải tỏa tâm lý, những đè nén trong lòng
- Chức năng giải quyết các mâu thuẫn: nhà hỗ trợ tâm lý không phải trực tiếp giải quyết, mà giúp đỡ thân chủ giải quyết những khác biệt, những mâu thuẫn của họ với người khác, và giải quyết những mâu thuẫn trong chính bản thân họ
- Chức năng giải quyết vấn đề: đứng trước những vấn đề mà thân chủ không giải quyết được, nhà hỗ trợ tâm lý sẽ giúp thân chủ phân tích những khó khăn, tìm những giải pháp hành động (cùng thân chủ xây dựng kế hoạch hành động), tìm ra được những giải pháp quản lý vấn đề
- Chức năng quyết định: giúp thân chủ xác định các phương án và lựa chọn các quyết định (quyết định cuối cùng là do thân chủ, nhà hỗ trợ tâm lý chỉ phân tích những
ưu, nhược của các phương án để giúp thân chủ lựa chọn quyết định đúng đắn)
- Thay đổi hành vi: trang bị cho thân chủ các kĩ năng sống phù hợp để thân chủ có thể ra được các quyết định, thực hiện được các thay đổi liên quan đến suy nghĩ, tình cảm, hành vi của họ
Trang 29trực tiếp đến tính mạng của thân chủ thì phải báo cho gia đình thân chủ hoặc cơ quan chức năng để họ can thiệp)
+ Độc lập: độc lập với các thể chế chính quyền khác (công an, cảnh sát…), đây chính là nguyên tắc độc lập về mặt pháp lý
+ Dễ dàng trong việc tiếp cận: dịch vụ hỗ trợ tâm lý phải được đặt ở những nơi dễ dàng tiếp cận như: nơi đông dân cư, gần trường học, trung tâm thành phố…
+ Hoạt động hỗ trợ tâm lý được nhìn nhận như một phương tiện để trợ giúp y tế
- Nguyên tắc ứng xử của nhà hỗ trợ tâm lý:
+ Tôn trọng nhân cách của thân chủ: họ là những người có đầy đủ các quyền của mình, do đó nhà hỗ trợ cần bình đẳng với mọi thân chủ, có thái độ niềm nở, ân cần, tôn trọng, không chê bai, giễu cợt họ
+ Thiện cảm: nhà hỗ trợ phải luôn mong muốn vì sự tiến bộ của thân chủ + Nhà hỗ trợ tâm lý cần động viên, khích lệ kịp thời để hướng tới tạo ra sự tự tin cho thân chủ
+ Nhạy bén, đồng cảm: nhà hỗ trợ phải đặt mình vào vị trí của thân chủ mới hiểu được vấn đề của họ, hiểu được những rung cảm của họ
+ Khuyến khích, hỗ trợ thân chủ tự giải quyết vấn đề của mình
1.2.2.5 Những phẩm chất nghề nghiệp của nhà hỗ trợ tâm lý
Nhà hỗ trợ tâm lý cần có một số phẩm chất nghề nghiệp như:
- Tương đẳng: Nhà hỗ trợ tâm lý cần phải thành thực với chính mình và với người khác, đây chính là phẩm chất quan trọng nhất
- Chấp nhận không điều kiện: không được phê phán thân chủ, phải thừa nhận rằng những sự khác biệt, những cái riêng là hiện hữu, là một thực tế ở mỗi cá nhân
- Tha giác: nhà hỗ trợ cần đặt mình vào vị trí của thân chủ để nhận biết thế giới bên trong của họ, đồng cảm với họ, nhìn sự vật hiện tượng bằng con mắt của họ
Ngoài ra còn có hai phẩm chất khác cũng rất quan trọng đối với nhà hỗ trợ đó chính là sự quan tâm tới người khác và lòng nhiệt tình
1.2.3 Nhu cầu về hỗ trợ tâm lý
1.2.3.1 Khái niệm
Trang 30Nhu cầu hỗ trợ tâm lý là mong muốn nhận được sự trợ giúp chuyên nghiệp,
tích cực từ các nhà hỗ trợ tâm lý nhằm giúp bản thân khai thác được những tiềm năng, ứng phó một cách hiệu quả trước những khó khăn tâm lý mà cá nhân gặp phải trong
cuộc sống hằng ngày góp phần cân bằng và ổn định cuộc sống
Trong cuộc sống mỗi con người đều có rất nhiều nhu cầu khác nhau, từ nhu cầu cơ bản nhất (ăn, mặc, ở…) đến những nhu cầu cao hơn (được tôn trọng, thể hiện…) xã hội càng phát triển thì nhu cầu của cá nhân ngày càng tăng, trong khi đó khả năng của con người là có giới hạn, do đó có nhiều nhu cầu không được thõa mãn
sẽ dẫn tới stress, lo âu… Vì vậy xuất hiện nhu cầu hỗ trợ tâm lý Nhu cầu này chỉ được giải quyết khi có sự trợ giúp cuả nhà tham vấn được đào đạo đầy đủ về chuyên môn, kỹ thuật nghề nghiệp như vậy có thể thấy nhu cầu hỗ trợ tâm lý xuất hiện khi
cá nhân mong muốn được những nhà hỗ trợ tâm lý giúp đỡ, chia sẻ, tháo gỡ những khó khăn bế tắc trong cuộc sống mà chính bản thân không tự mình giải quyết được
1.2.3.2 Các đặc điểm của nhu cầu hỗ trợ tâm lý
a Cường độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Cường độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý là độ gay gắt của sự đòi hỏi về sự hỗ trợ tâm
lý thể hiện ở việc chủ thể ý thức được trạng thái thiếu thốn của chủ thể, đối tượng và phương thức thõa mãn nó
Nhu cầu hỗ trợ tâm lý được biểu hiện ở 2 mức độ:
+ Mức độ thấp: chủ thể nhận thức được đối tượng của nhu cầu hỗ trợ tâm lý nhưng chưa đủ mạnh để thúc đẩy chủ thể hoạt động
+ Mức độ cao: nhu cầu hỗ trợ tâm lý đã đủ mạnh, trở thành động lực thúc đẩy chủ thể hoạt động
b Đối tượng của nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Khi nào chủ thể gặp đối tượng được ý thức về giá trị để thõa mãn nhu cầu hỗ trợ tâm lý và có điều kiện thực hiện phương thức thõa mãn mãn thì trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động nhằm vào đối tượng Đối tượng của nhu cầu hỗ trợ tâm lý càng được xác định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với cá nhân và xã hội càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu nhanh chóng nảy sinh, củng cố và phát triển Đối tượng
Trang 31của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thõa mãn nhu cầu
c Chu kì của nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Khi nhu cầu hỗ trợ tâm lý nào đó thỏa mãn không có nghĩa là sẽ chấm dứt mà
nó tạm thời lắng xuống sau một khoảng thời gian lại tiếp tục tái diễn nếu ngươi ta vẫn
ở trong điều kiện và phương thức hoạt động cũ, sự tái diễn đó thường có tính chất chu kì Tính chất của nhu cầu này là do sự biến đổi có tính chất chu kì Tính chất của chu kì này là do sự biến đổi có tính chất chu kì của hoàn cảnh xung quanh và của cơ thể gây ra
d Nội dung của nhu cầu hỗ trợ tâm lý
- Hỗ trợ tâm lý về Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình: những khó khăn liên quan đến xung đột giữa nam và nữ, quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai, các bệnh lây qua đường tình dục, mặc cảm tình dục, xung đột và bạo lực trong gia đình (cha
mẹ - con cái, vợ - chồng, giữa các thế hệ với nhau…)…
- Hỗ trợ tâm lý học đường: những khó khăn liên quan đến các mối quan hệ bạn bè (áp lực bạn đồng đẳng…), gia đình, thầy cô; hướng nghiệp; sức khỏe sinh sản; học lực, khả năng học tập…
- Hỗ trợ tâm lý sức khỏe sinh sản vị thành niên: những khó khăn liên quan đến giới tính, mang thai, nạo phá thai, các biện pháp phòng tránh thai, HIV/ AIDS, các trục trặc liên quan đến các chức năng tình dục…
- Hỗ trợ sức khỏe tinh thần: những khó khăn liên quan đến liên quan đến sức khỏe tinh thần như stress, lo âu, trầm cảm, mặc cảm tội lỗi, sự tuyệt vọng, hỗ trợ tâm
lý cho bệnh nhân…
- Hỗ trợ về y tế: những lo lắng của thân chủ về việc sử dụng thuốc như: an thần, ma túy, chất kích thích…
e Tính bền vững của nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Trong xu thế vận động, nhu cầu hỗ trợ tâm lý có thể xuất hiện lặp đi lặp lại (thông thường ở mức độ cao hơn) khi khó khăn tâm lý xuất hiện và sự đòi hỏi gây ra nhu cầu tái hiện.Tính bền vững của nhu cầu hỗ trợ tâm lý được thể hiện ở cấp độ cao
Trang 32của nhu cầu: cấp độ tâm lý, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý Nhu cầu càng phát triển
Theo định nghĩa của Quỹ sáng kiến Y tế Mỹ gốc Á đưa ra: Ung thư là thuật ngữ dùng cho những căn bệnh trong đó các tế bào bất thường phân chia vượt ngoài tầm kiểm soát và có thể lan truyền qua các mô khác Một định nghĩa khác do Trường Đại học Y dược Huế (2009) chỉ ra: Ung thư như là quá trình bệnh lý trong đó một số
tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh lý của tế bào và tiếp tục nhân lên
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách chung nhất: ung thư là một nhóm bệnh bắt nguồn tự sự phân chia bất thường của tế bào, nằm ngòai tầm kiểm soát và không theo trình tự Những tế bào mọc thêm này hình thành các khối u Khối
u ác tính được gọi là ung thư Hầu hết các loại ung thư được gọi tên theo cơ quan hay loại tế bào mà chúng được hình thành Ví dụ: ung thư vú, ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư tuyến giáp…
b Đặc điểm tâm lý
Những đặc điểm tâm lý thường thấy ở bệnh nhân là sợ bị ung thư, sợ chết; tò
mò kết quả chẩn đoán nên cố gắng tìm hiểu nhiều nguồn; xuất hiện trạng thái suy nhược, tăng ám thị, sẵn sàng nghe theo bất kỳ ai, miễn là giúp họ khỏi bệnh hoặc làm dịu cơn đau; thất vọng, bi quan, tiêu cực; có thể dẫn đến sự không thiết sống, muốn
tự sát; sợ trở thành gánh nặng đối với người thân, mặc cảm tội lỗi; lo lắng về tương lai cho người thân, gia đình, đặc biệt là những bệnh nhân có con còn nhỏ; sợ mất thu nhập, lo lắng về địa vị xã hội… Có những trường hợp sau khi nhận kết quả chẩn đoán thì không chấp nhận điều trị vì sợ tác dụng phụ, vì tốn kém Có người sốc quá đã tự
tử không phải chỉ vì ung thư mà do họ đã trải qua quá nhiều cú sốc trong đời Ung thư là giọt nước cuối cùng đẩy bệnh nhân tìm đến cái chết
Trang 33Diễn biến tâm lý bệnh nhân ung thư được chia thành nhiều giai đoạn Ở giai đoạn biết bị bệnh ung thư, thường bệnh nhân bị sốc và phủ nhận kết quả xét nghiệm, với biểu hiện là cô lập, từ chối chấp nhận sự thật Khi có kết quả hội chẩn và phác đồ điều trị, họ thường thất vọng, khó chịu, lo âu, dễ kích động, bối rối… Qua giai đoạn hóa trị, bệnh nhân dễ rơi vào trầm cảm, buồn, u sầu Họ cảm thấy cái chết đang cận
kề và rơi vào tình trạng suy sụp, trầm uất
1.3.2 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư
Người bệnh có những nhu cầu thông thường của một con người cần được thoả mãn đồng thời: nhu cầu vật chất, nhu cầu tình cảm và nhu cầu xã hội (ăn, mặc, vệ sinh, tình thương yêu, được tôn trọng) Người bệnh còn có những nhu cầu riêng của người ốm cần được giúp đỡ để ăn, mặc, vệ sinh, săn sóc về thể chất, ngoài ra cần được nâng đỡ về tinh thần vì học đang lo hãi, buồn phiền cần đến một người để tâm
sự, giải bày, cần đến một người thật sự muốn giúp đỡ họ Những nhu cầu ở người bệnh ung thư càng cấp thiết hơn nữa
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của bệnh nhân ung thư và quá trình điều trị Đó là hoàn cảnh kinh tế (lo lắng không có đủ tiền điều trị); quá tải bệnh viện; vấn đề vệ sinh; chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của những bệnh nhân ung thư cùng phòng, trong bệnh viện hoặc nghe về tình trạng bệnh của những bệnh nhân xung quanh; hoàn cảnh địa lý…do đó, bệnh nhân có nhu cầu được hỗ trợ liên quan đến giảm cảm giác đau, cách giúp giảm căng thẳng lo sợ, hỗ trợ niềm tin vào cuộc sống,
hỗ trợ kỹ năng chăm sóc bản thân, kỹ năng trấn an người thân và hỗ trợ cách giải quyết mâu thuẫn với người xung quanh
Tiểu kết chương 1
Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận về “Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng”, tôi rút ra được một số kết luận sau:
Đã có nhiều ngiên cứu về vấn đề hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân ung thư Nhìn chung những nghiên cứu đó đã đạt được những kết quả góp phần đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu về bệnh nhân
Trang 34Nhu cầu là vấn đề dược nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thõa mãn để tồn tại và phát triển
Nhu cầu hỗ trợ tâm lý là mong muốn nhận được sự trợ giúp chuyên nghiệp, tích cực từ các nhà hỗ trợ tâm lý nhằm giúp bản thân khai thác được những tiềm năng, ứng phó một cách hiệu quả trước những khó khăn tâm lý mà cá nhân gặp phải trong cuộc sống hằng ngày góp phần cân bằng và ổn định cuộc sống
Với thực trạng người mắc bệnh ung thư đang ngày càng gia tăng cả về số lượng
và dạng thức bệnh, việc điều trị ung thư càng đòi hỏi sự nỗ lực lớn hơn từ chính bệnh nhân Tâm lý bệnh nhân có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều trị bệnh cho bệnh nhân, họ gặp nhiều khó khăn liên quan đến nhiều vấn đề Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của họ là mong muốn nhận được sự hỗ trợ chuyên nghiệp từ các nhà tâm lý để giúp
họ vững tin đối mặt với khó khăn mà yên tâm điều trị bệnh
Trang 35CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu
2.1.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu
2.1.1.1 Tổng quan địa bàn thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là một thành phố thuộc Trung ương, nằm trong vùng Nam Trung
Bộ, Việt Nam Đây là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên Đà Nẵng hiện là một trong 15 đô thị loại
1 đồng thời là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam
Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và ổn định Với những ưu đãi thiên nhiên ban tặng
và nỗ lực không ngừng của chính quyền thành phố trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch, Đà Nẵng đã và đang trở thành một trong những điểm hẹn du lịch hấp dẫn nhất trong khu vực
Đà Nẵng đang chuyển mình mạnh mẽ, trở thành đô thị văn minh, hiện đại bậc nhất miền Trung Nói đến Đà Nẵng là nói đến thành phố năng động với nhiều cách làm sáng tạo Riêng chương trình “5 không 3 có” đã tạo nên một dấu ấn riêng, làm nổi bật “Thương hiệu Đà Nẵng” Nhờ vậy, Đà Nẵng thành nơi “đất lành chim đậu” Nhân tài tìm khắp nơi tìm về Đà Nẵng cống hiến; bà con kiều bào, nhiều nhà đầu tư nước ngoài chọn Đà Nẵng để làm ăn, sinh sống
Đầu tư cho y tế, giáo dục bảo đảm cuộc sống có chất lượng cao cho người dân
là một mục tiêu quan trọng trong những nỗ lực của thành phố này Trong thời điểm hiện tại, Đà Nẵng hiện có 18 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 11 bệnh viện và trung tâm y tế quận huyện, 47 trạm y tế xã phường với hơn 900 phòng khám chữa bệnh tư Đặc biệt, trong một quyết tâm rất cao, Đà Nẵng đã xây dựng và đưa vào hoạt động Bệnh bệnh viện Ung thư, tạo điều kiện cho người dân thành phố và khu vực lân cận giảm nhẹ những gánh nặng về chi phí chữa bệnh khi đối đầu với những căn bệnh hiểm nghèo vốn lâu nay chỉ trông đợi vào những trung tâm y tế lớn ở hai đầu đất nước Cùng với sự hình thành của khoa Y Dược và trường Đại học Kỹ thuật Y dược trên địa bàn thành phố, Đà Nẵng đang hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm y tế
Trang 36của khu vực miền Trung – Tây Nguyên và cả nước, cung cấp nguồn nhân lực và dịch
vụ y tế chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước
2.1.1.2 Tổng quan đặc điểm bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng
Vị trí: Phùng Hưng, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng được thành lập theo quyết định số 5898/QĐ-UBND ngày 15/8/2015 của UBND TP Đà Nẵng trên cơ sở tổ chức lại khoa Ung bướu trực thuộc bệnh viện Đà Nẵng và tiếp nhận nguyên trạng tổ chức bộ máy, người lao động, trụ sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính, tài sản của Bệnh viện Ung thư
Đà Nẵng thuộc Hội bảo trợ phụ nữ và trẻ em nghèo bất hạnh TP Đà Nẵng
Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng là đơn vị sự nghiệp công lập, chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Y tế Đà Nẵng
Bộ máy tổ chức của bệnh viện Ung bướu gồm 8 phòng và 18 khoa Cụ thể: Các phòng chức năng:
7 Phòng Chỉ đạo tuến và quản lý chất lượng bệnh viện
8 Phòng Vật tư trang thiết bị y tế
6 Khoa Gây mê hồi sức
7 Khoa ngoại 1 (tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục nam, mô mềm)
8 Khoa ngoại 2 (thần kinh, đầu cổ, lồng ngực)
Trang 379 Khoa ngoại 3 ( vú và phụ khoa)
10 Khoa xạ trị
11 Khoa dược
12 Khoa Y học hạt nhân
13 Khoa Chẩn đoán hình ảnh
14 Khoa Nội soi và thăm dò chức năng
15 Khoa Kiểm sóat nhiễm khuẩn
16 Khoa Xét nghiệm truyền máu
17 Khoa Giải phẫu bệnh
18 Khoa Kỹ thuật phóng xạ
Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng được đánh giá là lớn, đẹp và hiện đại nhất Việt Nam, tương đương với các bệnh viện lớn ở Thái Lan, Singapore… bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng được thiết kế theo mô hình bệnh viện khách sạn với cảnh quan hài hòa, tiện nghi và thân thiện Mọi phòng bệnh đều có phòng vệ sinh riêng, hệ thống điều hòa trung tâm và hệ thống khí trung tâm là điều mà không phải bệnh viện nào cũng có Ngoài ra còn dành một khu nhà nghỉ gần 50 phòng để người nhà bệnh nhân
có điều kiện nghỉ ngơi
Bệnh viện còn có hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, đáp ứng tốt nhu cầu khám-chữa bệnh ung thư như: Máy CT-scan đa lá cắt, máy MRI 3,0T, máy tăng sáng truyền hình, máy siêu âm màu 4 chiều, máy nội soi can thiệp, máy đếm tế bào
tự động 40 thông số, máy xét nghiệm sinh hóa tự động, máy cắt lạnh, hệ thống phân tích gene…
2.1.2 Quy trình tiến hành nghiên cứu
2.1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu thực trạng nhu cầu hỗ trợ tâm lý tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng Trên cơ sở nghiên cứu đưa ra khuyến nghị phù hợp nhằm hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân; nâng cao sức mạnh tinh thần cho bệnh nhân đối mặt với bệnh tật; giúp bệnh nhân lạc quan, thoải mái, tìm được ỹ nghĩa trong cuộc sống
2.1.2.2 Nội dung nghiên cứu
Trang 38Nghiên cứu thực trạng nhu cầu trợ giúp tâm lý của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
2.1.2.3 Chọn mẫu
Tiến hành phỏng vấn sâu với 18 đối tượng thuộc khoa Chăm sóc gia,r nhẹ và điều trị tích cực:
- 15 bệnh nhân với nội dung về những phương diện của nhu cầu hỗ trợ tâm lý
- 2 người nhà bệnh nhân với những đánh giá về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân
- 1 cán bộ y tế: nhận định về những khó khăn bệnh nhân gặp phải và vai trò của việc hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân ung thư; định hướng giải pháp hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân ung thư
2.1.2.4 Các bước tiến hành
- Bước 1 Xác định vấn đề nghiên cứu
- Bước 2 Nghiên cứu lý luận của đề tài (tổng hợp, phân tích, khái quát hóa )
- Bước 3 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu và xây dựng tiến trình kê khai, trò chuyện, phỏng vấn sâu
- Bước 4 Thực hiện nghiên cứu thực tiễn và xử lý số liệu
- Bước 5 Viết kết quả nghiên cứu
2.2 Các phương pháp khảo sát thực trạng hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứ u, trong đó phương pháp trò chuyện, phỏng vấn sâu là chủ đạo, các phương pháp còn lại là các phương pháp bổ sung, hỗ trợ
2.2.1 Mô tả các phương pháp nghiên cứu
2.2.1.1 Phương pháp kê khai
Trang 39* Mục đích: thu thập thông tin về bệnh nhân
* Nội dung: thu thập các thông tin cơ bản về:
- Thời gian nhập viện điều trị
- Diễn biến bệnh trong quá trình điều trị
* Cách tiến hành nghiên cứu: đọc hồ sơ bệnh án, trò chuyện với cán bộ y tế
2.2.1.2 Phương pháp trò chuyện
*Mục đích: làm quen, xác thực một số thông tin cơ bản về bệnh nhân, đánh giá nhu cầu hỗ trợ tâm lý
*Nội dung:
Đối với bệnh nhân:
- Xác thực một số thông tin cá nhân từ bản kê khai
- Chia sẻ về người chăm sóc
- Hoàn cảnh gia đình
- Cường độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý
- Nội dung nhu cầu cần được hỗ trợ
- Phương thức thõa mãn nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Đối với người nhà bệnh nhân:
- Thông tin cá nhân
- Mối quan hệ với bệnh nhân
- Thời gian chăm sóc bệnh nhân
- Chia sẻ về bệnh nhân
- Chia sẻ về những nhu cầu thường gặp của bệnh nhân
- Chia sẻ về những điều đáp ứng được và chưa đáp ứng được nhu cầu của bệnh nhân
- Chia sẻ về phương pháp đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân mà người nhà mong
Trang 40muốn
Đối với cán bộ y tế:
- Tình trạng bệnh nhân
- Diễn biến bệnh
- Đánh giá về sự cần thiết của hoạt động hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân
- Đánh giá về nhu cầu thương gặp của bệnh nhân
- Đánh gia về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân
- Chia sẻ về phương pháp tháo gỡ những khó khăn cho bệnh nhân
- Những hỗ trợ nào từ bệnh viện đã thực hiện
2.2.1.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
* Mục đích: thu thập thông tin về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân ung thư
* Nội dung
Thu thập trên các phương diện:
- Cường độ nhu cầu
- Nội dung nhu cầu
- Tính bền vững của nhu cầu
- Phương thức thõa mãn nhu cầu
2.2.1.4 Phương pháp hỗ trợ
*Mục đích: xử lý số liệu
*Nội dung: sử dụng phương pháp thống kê toán học
2.2.2 Thiết kế công cụ nghiên cứu
2.2.2.1 Bệnh nhân
* Nội dung trò chuyện
- Ai là người chăm sóc cô (chú)? Chia sẻ về người chắm sóc
- Chia sẻ về hoàn cảnh gia đình nhà cô (chú) ạ?
- Trong quá trình điều trị bệnh, cô (chú) có gặp khó khăn cần được hỗ trợ tinh thần không ạ?
* Nội dung phỏng vấn sâu
Tìm hiểu về cường độ nhu cầu: