1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về những khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh trường THPT hoàng hoa thám đà nẵng

76 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH VÀ KHÓ KHĂN TÂM LÍ KHI RA QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP Ở HỌC SINH THPT 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về Ra quyết địn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Đặt vấn đề 4

2 Mục đích nghiên cứu: 6

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu: 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Giả thiết khoa học 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH VÀ KHÓ KHĂN TÂM LÍ KHI RA QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP Ở HỌC SINH THPT 9

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về Ra quyết định 9

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về Hướng nghiệp, Lựa chọn nghề nghiệp và Phát triển nghề nghiệp trên thế giới 10

1.1.3 Tổng quan nghiên cứu về nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp ở Việt Nam 17

1.2 Cơ sở lí thuyết về những khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT 20 1.2.1 Lí thuyết về quyết định lựa chọn nghề nghiệp 20

1.2.2 Phân loại những khó khăn tâm lí khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp 26

1.2.3 Đặc điểm tâm lí học sinh THPT 29

1.2.4 Học sinh THPT như một người ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

Chương 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 34

2.1.1 Đặc điểm trường THPT Hoàng Hoa Thám thành phố Đà Nẵng 34

2.1.2 Mẫu khách thể nghiên cứu 35

2.2 Tổ chức nghiên cứu 35

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 36

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi CDDQ 37

2.3.4 Phương pháp thống kê toán học 45

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 47

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 Thực trạng Những Khó khăn khi Quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT Hoàng Hoa Thám, Đà Nẵng 48

3.1.2 Mức độ khó khăn tâm lý khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT Hoàng Hoa Thám, Đà Nẵng 48

Trang 3

3.1.3 Thực trạng các loại khó khăn phổ biến khi quyết định nghề nghiệp ở học sinh THPT

Hoàng Hoa Thám, Đà Nẵng 50

3.2 So sánh sự khác biệt giữa những khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp với các yếu tố về giới tính, khối lớp và việc sống cùng cha/mẹ ở học sinh THPT Hoàng Hoa Thám 51 3.2.1 So sánh sự khác biệt giữa nam và nữ về sự khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT Hoàng Hoa Thám 51

3.2.2 So sánh sự khác biệt giữa các khối lớp về sự khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT Hoàng Hoa Thám 52

3.2.4 So sánh sự khác biệt giữa việc ở cùng với cha, mẹ và khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT Hoàng Hoa Thám 53

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận 56

1.1 Về mặt nghiên cứu lí luận 56

1.2 Về mặt thực tiễn 56

2 Khuyến nghị 58

2.1 Đẩy mạnh phát triển công tác giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau trung học; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở từ trung ương đến địa phương 59

2.2 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên hướng nghiệp Error! Bookmark not defined 2.3 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và công tác phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường 60

2.4 Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm của học sinh phổ thông và điều kiện nhà trường trong tình hình mới 62

Phụ lục 2 71

Phụ lục 3 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Thế giới đang hướng tới một nền kinh tế tri thức trong chiến lược phát triển bền vững Ở môi trường đó, đào tạo nguồn nhân lực là điều kiện then chốt, là nền tảng cho sự phát triển và cạnh tranh giữa các nước với nhau Nhìn lại chặng đường phát triển của giáo dục Việt Nam trong ba thập kỷ, chúng ta không thể phủ nhận thành tựu to lớn mà giáo dục đã đạt được trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhằm phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước Tuy nhiên, nếu so sánh giáo dục Việt Nam trên thang đo, cùng với các nước phát triển ở thế giới, chúng ta cũng nên gật đầu ghi nhận rằng nền giáo dục ở nước ta còn bộc lộ nhiều yếu kém, lạc hậu Điều này biểu hiện ở chất lượng giáo dục còn thấp, chậm đổi mới, thể chế, cơ chế quản lí phát triển giáo dục còn nhiều bất cập và tiêu cực1,

kế hoạch quản lí, tài bồi ở các đơn vị giáo dục học còn thiếu thống nhất Báo cáo của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN State of Education Report, 2013) cũng đã nêu lên rằng trong Chiến lược đào tạo và phát triển giáo dục 2011-2020 có

sự “thiếu đồng bộ” về mặt quản lí trên toàn hệ thống giáo dục

Thêm vào đó, sự phân bổ cơ cấu nguồn nhân lực ở nước ta ngày càng trở nên bất hợp lí, số người có trình độ cử nhân chiếm tỷ lệ quá cao, trong khi số có trình độ trung cấp và sơ cấp chiếm tỷ lệ quá thấp, không phù hợp với nhu cầu và yêu cầu về nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế Với suy nghĩ phổ biến của xã hội là “học nghề ít cơ hội”, “học nghề thu nhập thấp”, “học sinh kém mới đi học nghề” đã khiến cho công tác phân luồng học sinh vốn có vai trò quan trọng trong hình thành cơ cấu nhân lực của quốc gia khó đạt được hiệu quả như mong đợi Ông Vũ Xuân Hùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề cho biết, sự chưa hợp trong cơ cấu Lao động Việt Nam biểu hiện ở so sánh: Nếu từ năm 1979, cứ 1 người trình độ đại học thì có 2 người trung cấp và 7 lao động kỹ thuật thì đến giữa năm 2015, tỷ lệ này lần lượt là 1 đại

1 Đề tài khoa học cấp Bộ 2014, Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ sở và trung học phổ thông

Trang 5

học/0,35 người học cao đẳng/0,65 người trung cấp và 0,4 người học sơ cấp Quy luật khách quan bao giờ cũng đòi hỏi số lao động trực tiếp (trình độ trung cấp, sơ cấp) nhiều hơn rất nhiều lần so với lao động gián tiếp Trong khi ở nước ta, lao động trực tiếp ngày càng ít đi, còn lao động gián tiếp cứ ngày càng mở rộng Khi số người lao động sẽ trở nên không chuyên nghiệp, phải làm trái ngành nghề và hệ quả tất yếu là thất nghiệp Mặt khác, lực lượng lao động của nước ta vì vậy cũng chưa

đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh nguồn lao động quốc tế di cư cạnh tranh gắt gao như hiện nay

Thực tế, theo báo cáo mới nhất từ Tổng cục thống kê Việt Nam về tình hình lao động việc làm quý II, năm 2016, số người thất nghiệp là 1,12 triệu người, tăng gần 6 nghìn người so với Quý trước Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 24 tuổi chiếm đến 47% tổng số người thất nghiệp, và nó vẫn là một con số không mấy khả quan phản ánh về tình hình việc làm ở tầng lớp lao động trẻ của nước ta hiện nay

Vậy do đâu lại có sự tồn tại những con số và tỷ lệ đáng lưu tâm đến như vậy? Có thể là do chính những hạn chế trong việc giáo dục, hướng nghề như cung cấp thông tin và kĩ năng về định hướng nghề nghiệp thanh thiếu niên, là gốc rễ của những thách thức về mặt lao động, việc làm mà Việt Nam đang đối mặt phải trong môi trường hội nhập khu vực, liên kết và trao đổi giữa các quốc gia theo xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay Vì rằng, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là giáo dục cho học sinh thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho học sinh làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần

Tại sao công tác hướng nghiệp phải được triển khai từ thời học sinh trung học? Vì ở ngay từ lúc đi học ở nhà trường, ở các em học sinh đã có những chuẩn bị cho hoạt động lao động trong tương lai Ở độ tuổi này các em đã và đang hình thành

và dần phát triển những năng lực tự đánh giá, tự xác định bản thân, nên việc định hướng sớm sẽ tránh được những khó khăn trên con đường lựa chọn ngành học hay

Trang 6

hoạt động sau khi tốt nghiệp, hạn chế được những bất lợi khi hành nghề lao động trong những giai đoạn kế tiếp của cuộc sống

Để góp phần vào công cuộc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục hướng

nghiệp rong trường trung học, xin tiến hành đề tài “Nghiên cứu về những khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh trường THPT Hoàng Hoa Thám-Đà Nẵng” Đề tài sẽ khám phá những nguyên nhân cả về mặt chủ

quan, lẫn khách quan trong xu hướng chọn nghề ở học sinh phổ thông, cung cấp những dữ liệu thực tế, góp phần vào việc cải thiện chất lượng công tác hướng nghiệp trong khu vực thành phố Đà Nẵng

Đề tài nghiên cứu sẽ trả lời những câu hỏi: Khi học sinh quyết định lựa chọn một nghề nghiệp, ở các em tồn tại những khó khăn nào? Liệu những quan điểm của người làm giáo dục ngày nay có phù hợp với những khó khăn trong lựa chọn nghề nghiệp mà các em đang gặp phải, để giúp các em bổ sung kiến thức, kĩ năng cần thiết nhằm cải thiện chất lượng quyết định về nghề nghiệp?

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu nhằm xác định những khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trung học phổ thông hiện nay

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu những khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn nghề của học sinh tại trường THPT Hoàng Hoa Thám, quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng

Trang 7

mà Gati và cộng sự đã tìm hiểu và liệt kê trong các nghiên cứu về quyết định lựa chọn nghề nghiệp của ông

- Về không gian: Tiến hành khảo sát tại trường THPT Hoàng Hoa Thám

- Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2016 đến tháng 4/2017

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu lí luận:

- Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề hướng nghề nghiệp, sự phát triển các lí thuyết xung quanh vấn đề phát triển nghề nghiệp

- Xác định những khái niệm liên quan đến quyết định, quá trình ra quyết định, ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp, những khó khăn của việc ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

- Xác định đặc điểm học sinh trung học phổ thông

4.2 Nghiên cứu thực tiễn:

- Tìm hiểu một số nét khái quát về trường THPT thông Hoàng Hoa Thám, thành phố Đà Nẵng và về khách thể điều tra

- Tiến hành khảo sát thực trạng những khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT Hoàng Hoa Thám qua bảng hỏi CDDQ

- Tìm hiểu sâu thông tin về những khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT Hoàng Hoa Thám bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp học sinh

4.3 Kết luận và kiến nghị:

- Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em giải quyết những khó khăn trong quá trình ra quyết định lựa chọn ngành nghề

- Đề xuất những nội dung cần tập trung trong công tác hướng nghiệp cho đối tượng học sinh THPT Hoàng Hoa Thám

Trang 8

5 Giả thiết khoa học

- Giả thiết 1: Mức độ khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT là rất cao Mức độ này cho ta biết ở học sinh có các khó khăn cơ bản nào, góp phần xây dựng chương trình hướng nghiệp theo hướng tập trung, hiệu quả hơn

- Giả thiết 2: Khó khăn khi ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp mà học sinh THPT gặp phải nhiều nhất là khó khăn vì mâu thuẫn bên ngoài, tức những mâu thuẫn do ý kiến của người khác như cha mẹ, người thân… tác động

- Giả thiết 3: Có sự khác biệt giữa:

+ Giới tính với sự khó khăn khi ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh

+ Độ tuổi với sự khó khăn khi ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT

+ Tình trạng gia đình, việc sống cùng với cha/mẹ và sự khó khăn khi ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

- Kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lí thuyết: Thu thập tài liệu, tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

có liên quan đến đề tài, khái quát và xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi – phiếu trưng cầu ý kiến: Sử dụng bảng hỏi CDDQ (Career Decision-making Difficulties Questionnaire) Bảng hỏi được xây dựng nhằm đánh giá các khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp theo phân loại 10 khó khăn tâm lí của Gati và cộng sự

- Phương pháp phỏng vấn học sinh: Tập trung vào từng cá nhân cụ thể nhằm thu thập thêm thông tin từ thực tiễn và làm rõ thêm dữ kiện nghiên cứu

- Phương pháp xử lí và phân tích số liệu: Sử dụng toán học để xử lí và phân tích kết quả thu được nhằm có những đánh giá chính xác về kết quả với độ tin cậy

rõ ràng

Trang 9

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH VÀ KHÓ KHĂN TÂM LÍ KHI RA QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP Ở HỌC SINH THPT 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về Ra quyết định

Vấn đề ra quyết định, thời kì đầu được nghiên cứu qua lăng kính Khoa học quản trị, nhằm giúp các nhà lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc phát triển tổ chức và đưa ra những hành động một cách dứt khoát hơn những kế hoạch và ý tưởng Về sau các khái niệm, lí thuyết về việc ra quyết định được phát triển theo nhiều hướng khác nhau, trong đó có sự tham gia của Tâm lí học quản lí

Chester Barnard, cùng các nhà lí thuyết sau đó như James March, Herbert Simon, và Henry Mintzberg, được xem là những người đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu về ra quyết định quản lí Đến nay, nghiên cứu về quyết định là kết quả của các ngành khoa học về trí tuệ như: toán học, xã hội học, tâm lí học, kinh tế,

và khoa học chính trị Các nhà triết học suy nghĩ về quyết định của con người nói gì

về bản thân và về các giá trị của họ Các nhà sử học phân tích về những lựa chọn

mà các nhà lãnh đạo đưa ra tại những thời điểm quan trọng Các nhà tâm lí nghiên cứu về rủi ro và hành vi tổ chức nhằm giúp các nhà quản lí đạt được kết quả tốt hơn thông qua những quyết định của họ

Từ những năm 1940 có rất nhiều lí thuyết xung quanh vấn đề ra quyết định,

có thể tổng kết thành 4 xu hướng chính:

 Nghiên cứu phân tích về bản chất, vai trò, chức năng của việc ra quyết định, các yếu tố hành vi quyết định của người quản lí Tiêu biểu có các tác giả như: Chester Barnard, H.Simon, AV.Vendelin…

 Nghiên cứu, phân tích về các nguyên tắc, phương pháp ra quyết định quản lí, các giai đoạn của quá trình ra quyết định quản lí… như F.F Aunapu, P,Drucker, N.G.A – pha-na-xép…

 Nghiên cứu, phân tích những khía cạnh tâm lí, đặc điểm tâm lí của việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định trong quản lí, V.I.Mi-khe-ép,

Trang 10

 Nghiên cứu vấn đề quyết định theo cách tiếp cận của lí thuyết tình huống trong quản lí, P.Hersey, K.B.Hard, S.P.Robbins…

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về Hướng nghiệp, Lựa chọn nghề nghiệp và Phát triển nghề nghiệp trên thế giới

Sự phát triển của các lí thuyết liên quan đến nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp, hướng nghiệp và tham vấn nghề rất đa dạng và phong phú, với rất nhiều chiều hướng, cùng thuật ngữ khác nhau Trong đó có các quan điểm theo hướng tiếp cận Tư vấn hướng nghiệp, nghiên cứu các lí thuyết xung quanh quá trình Phát triển nghề nghiệp ở cá nhân Bên cạnh đó, còn có các quan điểm nghiên cứu về Thực hành tư vấn, ở góc độ phát triển các phương pháp nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp trong từng quy mô cụ thể Và sau cùng là các quan điểm nghiên cứu

về vấn đề Đào tạo nhà tư vấn, tham vấn và các cán bộ chuyên môn hoặc bán chuyên môn

Nghiên cứu Tâm lí học hướng nghiệp thời kì đầu, các nhà tâm lí đã vận dụng những ứng dụng trong Tâm lí thực nghiệm nhằm nghiên cứu về phương pháp hướng nghiệp, tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp đến các đối tượng cần

sự giúp đỡ trong việc lựa chọn hướng đi tương lai; nghiên cứu về cách thức hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phối hợp giữa năng lực, sở thích của người lao động

với yêu cầu công việc và lương hướng Trong đó, hoạt động hướng nghiệp là các

hoạt động hỗ trợ con người chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của họ nhất, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia Hướng nghiệp xuất hiện dưới nhiều hình thức như Tư vấn tập trung, Tham vấn cá nhân…

Với góc độ nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp, phát triển lí thuyết dựa vào việc tìm hiểu các đặc điểm tâm lí xung quanh bản thân mỗi cá nhân, cách thức mà một

cá nhân quản lí sự nghiệp của mình, ta có các lí thuyết tập trung nghiên cứu về vấn

đề Phát triển nghề nghiệp (Career Development) ở con người Phát triển nghề nghiệp là sự tổng hòa của nhiều yếu tố từ tâm lý, giáo dục, thể chất, kinh tế-xã hội,

và yếu tố ngẫu nhiên, từ đó định hình nên con đường nghề nghiệp của một cá nhân

Trang 11

trong cuộc đời họ Phát triển nghề nghiệp được xem như quá trình gồm nhiều bước như tự chuẩn bị, tìm hiểu thông tin (Career Information), đánh giá (Career Assessment), chọn lựa nghề nghiệp (Career Decision), quản lí nghề nghiệp (Career Management)… ở cá nhân Những yếu tố như áp lực và khó khăn về môi trường, mối quan hệ gắn liền với người khác, trách nhiệm đối với con cái và cha mẹ già… cấu trúc tổng thể của hoàn cảnh cũng là điều cần được lưu tâm

Trong đó lựa chọn nghề nghiệp chỉ là một kết quả cuối cùng trong tiến trình

định hướng nghề nghiệp ở một giai đoạn nào đó của mỗi người Khi mỗi cá nhân đều có được chuyên môn nghề nghiệp vững vàng phù hợp, họ sẽ có nhiều cơ hội có một nghề nghiệp ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân

Vào thế kỷ XIX, những điều kiện về kinh tế (như hệ thống công nghiệp và sự gia tăng của đội ngũ lao động), những thay đổi trong xã hội như vấn đề đô thị hóa, lao động trẻ em hay nhập cư sự, cùng sự phát triển của khoa học-kĩ thuật nhưsự xuất hiện của các ngành khoa học xã hội; sự ra đời của các kiểm nghiệm về sức khỏe tâm thần… đã dẫn đến việc hình thành hệ thống lí thuyết về Nghề nghiệp và hướng nghiệp (mà sau này các lí thuyết trên đều được gọi chung là lí thuyết Phát triển nghề nghiệp) Vì vậy có thể thấy tư vấn, tham vấn nghề hay hướng nghiệp nói chung, đều là sản phẩm của môi trường kinh tế-xã hội cụ thể, và nó cũng phát triển trong bối cảnh môi trường như thế

Vào năm 1849, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách dưới nhan đề “Hướng dẫn lựa chọn nghề” Năm 1883, nhà Tâm lí học Anh F Gallton được xem là người đầu tiên

sử dụng trắc nghiệm để chẩn đoán nhân cách nhằm mục đích tư vấn nghề nghiệp cho thanh niên

Ở Mỹ, Frank Parsons đực xem là cha đẻ của các phong trào Hướng nghiệp và dạy nghề Bắt đầu từ năm 1907, Parsons đã xây dựng những phương pháp hướng dẫn nghề nghiệp đầu tiên ở Mỹ Ông bắt đầu công việc của mình tại Cục Dạy nghề

ở Boston vào năm 1908 Parson kêu gọi để hướng nghiệp trở thành một phần của chương trình học có các chuyên gia theo cùng Mặc dù Parsons không bao giờ phát triển một lí thuyết chính thức về Phát triển sự nghiệp, hầu hết các tài liệu đều công

Trang 12

nhận công việc của ông như là khuôn mẫu để các lí thuyết nghề nghiệp khác phát triển

Tầm nhìn và vai trò quan trọng từ công việc của Parson đã không được hiểu rõ cho đến nhiều năm sau đó, Viện ổn định việc làm Minnesota đã phát triển lí thuyết tham vấn nghề nghiệp đầu tiên, dựa vào thành quả công việc của Parson, mang tên

lí thuyết Nhân cách và yếu tố (Trait and Factor), trong những năm 1930 khi E.G Williamson làm việc tại Viện Về sau, lí thuyết được biết đến với tên gọi Mô hình Minnesota

Năm 1990 D.Brown and Brooks đã mô tả rằng: “Một tiến trình dẫn đến sự sẵn sàng trong lựa chọn đối với hầu hết mọi người, là sự chọn lựa và tiếp tục chọn lựa

từ một số ngành nghề hiện có trong xã hội chúng ta” Câu nói đó nhằm nhấn mạnh đến tính lâu dài và thay đổi trong sự định hướng nghề nghiệp ở cá nhân

Những năm sau đó, khi các khái niệm liên quan đến nghề nghiệp được mở rộng theo hướng thay đổi và phát triển suốt cuộc đời, một số nhà tâm lí học hướng nghiệp đã xây dựng thêm lí thuyết về Phát triển nghề nghiệp nhằm có cái nhìn ở khía cạnh phát triển sự nghiệp trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân Phát triển nghề nghiệp được định nghĩa là quá trình suốt đời để quản lí mọi vấn đề liên quan đến sự nghiệp của cá nhân, nhằm tiếp chuyển đến một một tương lai được xác định rõ ràng, và được cá nhân ưa thích

Từ thế kỷ XX trở về sau, dựa trên những triết lí rất khác nhau đi kèm với những cấu trúc khái niệm khác nhau, các lí thuyết về hướng nghiệp, lựa chọn nghề nghiệp… đã được Patton & McMahon (1999, 2014)2 phân loại thành hệ thống các lí thuyết liên quan đến Phát triển nghề nghiệp với 5 phân nhóm: (1) nhóm lí thuyết dựa đặc tính cá nhân và đặc điểm nghề (tập trung vào nội dung); (2) nhóm lí thuyết dựa vào tiến trình phát triển ở cá nhân (tập trung vào quá trình); (3) nhóm lí thuyết hướng nghiệp tập trung vào cả nội dung và quá trình; (4) những giải thích mở rộng của lí thuyết; (5) nhóm lí thuyết theo hướng kiến tạo và xây dựng xã hội

(1) Nhóm lí thuyết đặc tính cá nhân và đặc điểm nghề nhấn mạnh năng lực nhận biết và phát triển các đặc điểm cá nhân của mỗi người trong việc tìm môi

2 CAREER DEVELOPMENT SERIES Connecting Theory and Practice Volume 6, Sense Publishers, 2014

Trang 13

trường công việc phù hợp với họ Nhóm lí thuyết này được sử dụng để chủ thể nhận ra mình là ai qua tìm hiểu những đặc điểm của bản thân liên quan đến nghề nghiệp như khả năng, sở thích, cá tính, giá trị nghề nghiệp và dùng kết quả này để tìm công việc phù hợp với bản thân

Nhóm lí thuyết dựa đặc

tính cá nhân và đặc điểm

nghề

Theories of Content Tác giả

Lí thuyết Nhân cách và yếu

tố

Trait and factor theory Parsons (1908)

Lí thuyết Nhân cách Theory of personality Holland (1973, 1985a,

1992, 1997); Nauta (2010, 2013) Bordin (1990)

Lí thuyết Tâm động Psychodynamic theory Bordin (1990)

Lí thuyết Dựa trên giá trị Values-based theory D Brown (1996, 2002)

Lí thuyết Điều chỉnh cá

nhân-môi trường tương

ứng

Work adjustment person-environment correspondence theory

Dawis & Lofquist (1984); Dawis (1996, 2002, 2005)

Lí thuyết Năm yếu tố nhân

cách

Five factor theory McCrae & Johướng

nghiệp (1992); McCrae & Costa (1996, 2008)

(2) Nhóm lí thuyết tiến trình phát triển gồm các lí thuyết liên quan đến sự tương tác và thay đổi theo thời gian, như tiến trình phát triển ở cá nhân Phân loại này dựa trên các giai đoạn phát triển của con người với giả định rằng, những yếu tố ảnh hưởng quá trình phát triển và chọn lựa nghề nghiệp của mỗi người liên quan chặt chẽ với các giai đoạn phát triển cá nhân và tâm lí của

họ Nhóm lí thuyết phát triển thường sử dụng 5 giai đoạn cuộc đời (giai đoạn phát triển, giai đoạn khám phá, giai đoạn thiết lập, giai đoạn duy trì và giai đoạn giảm sút) để giải thích sự phát triển nghề nghiệp, đồng thời cung cấp một cái nhìn mới về hướng nghiệp

Trang 14

Nhóm lí thuyết dựa vào

tiến trình phát triển

Theories of Process Tác giả

Lí thuyết phát triển Developmental theory Ginzberg và cộng sự

(1951); Ginzberg (1972, 1984)

Lí thuyết phát triển nghề

nghiệp theo các giai đoạn

của cuộc đời

(phát triển suốt cuộc đời)

Life span life-space theory Super (1953, 1957, 1980,

1990, 1992, 1994); Super

và cộng sự (1996); Hartung (2013b)

Lí thuyết hạn định và thỏa

hiệp

Theory of circumscription and compromise

L S Gottfredson (1981,

1996, 2002, 2005)

Hướng tiếp cận cá nhân Individualistic approach Miller-Tiedeman &

Tiedeman (1990); Miller- Tiedeman (1999)

(3) Nhóm lí thuyết hướng nghiệp tập trung vào cả nội dung và quá trình được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu lí thuyết dựa vào cả hai yếu tố chủ chốt là đặc điểm cá nhân và sự phát triển Những lí thuyết này tập trung phân tích đặc điểm cá nhân và bối cảnh, sự phát triển và tương tác giữa cá nhân với bối cảnh Các đại diện tiêu biểu như Krumboltz, Lent & Brown… Có thể khái quát các công trình nghiên cứu qua bảng sau:

Nhóm lí thuyết dựa vào

nội dung và quá trình

Theories of Content and Process

Lent và cộng sự (1996, 2002); Lent & Brown (2002); Lent (2005, 2013)

Trang 15

Hướng tiếp cận Nhận

thức – xử lí thông tin

Cognitive Information Processing Approach (CIP)

Peterson, Sampson, Reardon, & Lenz (1996);

Peterson Sampson, Lenz, & Reardon (2002); Reardon, Lenz, Sampson, & Peterson (2011) Sampson, Reardon, Peterson, & Lenz (2004) Hướng tiếp cận theo sự

phát triển cá nhân và bối

cảnh

contextual approach

Developmental-Vondracek, Lerner &

Lí thuyết Phát triển nhân

cách và lựa chọn nghề

nghiệp

Personality development and career choice

Roe (1956); Roe &

Lunneborg (1990)

(4) Nhóm các giải thích mở rộng lí thuyết, miêu tả những yếu tố bên cạnh, xuất hiện trong hướng nghiệp cho cá nhân và tập thể như giới, chủng tộc, văn hóa… Có thể tóm tắt vào bảng sau:

Các giải thích mở rộng Wider Explanations Tác giả

Lí thuyết Phát triển nghề

nghiệp ở phụ nữ

Women’s career development

Astin (1984); Hackett & Betz, (1981); Betz (2005); Farmer (1985, 1997); Betz

& Fitzgerald (1987); Cook, Heppner, & O’Brien (2002a, b); Richardson & Schaeffer (2013);

Lí thuyết Định hướng tình

dục

Sexual orientation Fitzgerald & Betz (1994);

K Morgan & L Brown (1991)

Trang 16

Cách tiếp cận xã hội học

hoặc tình huống

Sociological or situational approaches

Roberts (1977, 2005, 2012); Blau & Duncan (1967); M J Miller (1983); Hotchkiss & Borow (1996); Johướng nghiệpson &

Mortimer (2002)

(5) Nhóm lí thuyết tiếp cận theo hướng kiến tạo và xây dựng xã hội, bao gồm những lí thuyết xuất hiện gần đây (như lí thuyết xây dựng nghề nghiệp, mô hình lí thuyết hệ thống, lí thuyết về sự hỗn loạn…) được phát triển trên triết

lí hoàn toàn trái ngược với triết lí của chủ nghĩa thực chứng như hầu hết các nhà tâm lí ngày trước vẫn tin tưởng Những lí thuyết giải thích, và mở rộng thêm này cho rằng: Hành vi con người không thể đo lường một cách khách quan được; Quá trình nghiên cứu khó có thể khách quan vì nó được dẫn dắt bởi những quan điểm về giá trị của người nghiên cứu; Vì vậy hướng nghiệp nên tập trung vào câu chuyện của người được tư vấn và giúp họ đưa ra mục tiêu nghề nghiệp dựa vào chính nhân sinh quan của họ

Một ví dụ điển hình của nhóm lí thuyết này là mô hình Lí thuyết hệ thống Liệu pháp kể chuyện - một trong hai liệu pháp Tham vấn hướng nghiệp cá nhân quan trọng - cũng được xây dựng dựa trên nhóm Li thuyết hướng nghiệp này

Lí thuyết theo hướng Kiến

tạo và Xây dựng xã hội

Constructivist /Social Constructionist Approaches

Lí thuyết về sự hỗn loạn Chaos theory Pryor & Bright (2003, 2011)

Tiếp cận sinh thái

Tường thuật

Ecological approach Narrative

Conyne & Cook (2004) Bujold (2004); L Cochran (1997); McIlveen & Patton (2007)

Quan hệ và Văn hóa Relational/Cultural Blustein (2001, 2006,

2011); Schultheiss (2009) Schultheiss (2013)

Lí thuyết hành động theo

bối cảnh

Contextual Action theory Tham khảo mục Lí thuyết

nội dung và quá trình

Trang 17

Theo thời gian, tiếp đến thế kỷ XXI, Lí thuyết về nghề nghiệp và phát triển nghề nghiệp về chung quy, thảo luận xung quanh ba vấn đề quan trọng: thứ nhất là nêu lên vai trò của việc tập hợp và hội nhập lí thuyết; thứ hai là thấy được tầm quan trọng của việc đưa các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội vào trong quá trình hội nhập (Tích hợp tâm lí học hướng nghiệp với các lĩnh vực khoa học khác); thứ ba là phân tích được ảnh hưởng của quá trình kiến tạo và cơ cấu xã hội đối với lí thuyết

1.1.3 Tổng quan nghiên cứu về nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam những nghiên cứu về nghề nghiệp đã được quan tâm từ khá sớm

Từ những năm 60 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, lí luận và thực tiễn hướng nghiệp được bắt đầu phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễn hướng nghiệp của Liên Xô Ở thòi kì này, quan niệm hướng nghiệp đi đôi với giáo dục lao động, để định hướng nghề nghiệp cho học sinh (HS) trước hết cần giáo dục cho HS thái độ sẵn sàng bước vào các hoạt động nghề nghiệp

Đến đầu những năm 80, khi xuất hiện nhu cầu đẩy mạnh giáo dục lao động, công tác hướng nghiệp nhằm chuẩn bị kĩ năng cho HS đi vào cuộc sống thì hướng nghiệp mới thực sự được nhà nước chú trọng đế

Năm 1982, tác giả Nguyễn Ngọc Bích cho biết động cơ bên trong nổi bật hơn động cơ bên ngoài trong việc lựa chọn nghề của thanh niên Tác giả Phạm Tất Dong

đã nghiên cứu về tư vấn nghề nghiệp và chỉ ra lịch sử phát triển hệ thống hướng nghiệp ở các nước trên thế giới, bản chát khoa học của công tác hướng nghiệp, mục đích nhiệm vụ và vai trò của công tác hướng nghiếp, nội dung cơ bản và hình thức hướng nghiệp Tác giả Nguyễn Quan Uẩn (1999) tiếp cận xu hướng nghề nghiệp theo các chỉ số: Mức độ nhận thức nghề nghiệp, thái độ đối với nghè, đặc điểm xu hướng nghề Tác giả đã đưa ra nhận xét: nhạn thức về nghề nghiệp của học sinh còn yếu, số nghề và các trường chuyên nghiệp chưa được học sinh biết đến nhiều Hứng thú nghề nghiệp của học sinh hình thành muộn, cưa tập trung và rõ nét Quan điểm cho rằng học sinh, thanh niên suy nghĩ về nghề nghiệp muộn, luôn thay đổi suy

Trang 18

nghĩ và thiếu ổn định, cũng là ý kiến của các tác giả khác như Phạm Nguyệt Lãng

và Trần Anh, Phạm Hoàng Gia, Phạn Thị Tô Oanh

Cơ sở pháp lí của việc hướng nghiệp cho học sinh phổ thông được thể hiện qua Luật giáo dục năm 2005, điều 27, điều 28 Bên cạnh đó, quyết định 126/CP đã qui định mục đích, nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp và giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương phối hợp với ngành giáo dục thực hiện Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề trong trường phổ thông, bao gồm: tổ chức lao động sản xuất cho HS phổ thông; tư vấn nghề nghiệp cho HS; các phương thức giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp Thông tư 31/TTcũng

đã nêu rõ vị trí và nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp, và các bước tiến hành công tác hướng nghiệp trong nhà trường

Tháng 1 năm 2005, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tổ chức một hội thảo về Tư vấn nghề nghiệp, trong đó tập trung vào vai trò, biện pháp và các giải pháp trong công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THPT nói chung và trong công tác tư vấn nghề nghiệp nói riêng với tư cách là một biện pháp của hoạt động hướng nghiệp Từ năm 2005 trở lại đây, các nghiên cứu trong lĩnh vực hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, điều này thể hiện

sự quan tâm của giới làm khoa học đối với vấn đề quan trọng này, cũng như thể hiện sự đòi hỏi tất yếu của xã hội trong công cuộc cải cách giáo dục, kinh tế - xã hội như hiện nay Có thể liệt kê một số hướng nghiên cứu cơ bản ở trong nước như:

- Phạm Hồng Thắng, Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp hoạt đô ̣ng hướng nghiệp học sinh THPT tại tỉnh Gia Lai, năm 2008

- Phan Thị Kim Hồng, Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hướng ngiệp cho đối tượng thanh thiếu niên tỉnh Ninh Thuận, năm 2010

- Đề tài cấp bộ Một số giải pháp thúc đẩy phân luồng học nghề sau trung học cơ

sở và trung học phổ thông từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộ, năm 2014 Xét về tính rộng rãi và mặt thực tiễn trong sự phát triển, cải cách giáo dục hướng nghiệp phải kể đến Chương trình Giáo dục hướng nghiệp Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ kỹ thuâ ̣t vùng Fla-măng-vương quốc Bỉ (VVOB) được tiến hành tại Việt Nam trong thời gian gần đây Với tên gọi “Phổ biến cách tiếp cận

Trang 19

Hướng nghiệp lấy người học làm trung tâm và có nhạy cảm giới cho học sinh trung học tại Việt Nam”, chương trình đã mang đến bước tiến mới cho công tác hướng nghiệp với những thông tin hữu ích về mặt lí luận cũng như thực tiễn Hoạt động chương trình được thực hiện trong khoảng thời gian liên tiếp từ năm 2011 – 2015, ở

4 tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi

Điểm qua kết quả đạt được từ các hoạt động hướng nghiệp của VVOB cho Việt Nam, có thể kể đến việc Nội dung Hướng nghiệp đã được đưa vào Kế hoạch thực hiện của ngành giáo dục sau năm 2015 của 2 tỉnh Nghệ An và Quảng Nam; Tài liệu về Hướng nghiệp đã nhân rộng trên phạm vi toàn quốc thông qua nhiều kênh khác nhau và ở các mức độ khác nhau: các khóa tập huấn toàn quốc, chương trình của Hội LHPN Việt Nam, trên trang web do Bộ GD&ĐT phối hợp với Viettel xây dựng (300.000 giáo viên và 2.700.000 học sinh có thể truy cập), cũng như các trường học tại địa phương… Chương trình thật sự đã đem lại những bước ngoặt lớn

về tính liên kết, hợp tác và phổ biến rộng rãi tầm mức quan trọng của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học

Qua quá trình tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu về hướng nghiệp, có thể thấy công tác hướng nghiệp ở Việt Nam vẫn còn mang tính hàn lâm, các đề tài vẫn rộng, chưa đi sâu nghiên cứu và làm rõ từng nội dung cụ thể Do vậy, cần có những nghiên cứu chi tiết và gần gũi hơn, đáp ứng với nhu cầu định hướng nghề ở từng đối tượng cụ thể, như học sinh phổ thông Chính vì lí do đó, đề tài này được tiến hành nghiên cứu nhằm phân tích các mặt khó khăn trong quá trình chọn nghề ở học sinh, từ đó, ta có thể thu thập được những thông tin nổi bật tồn tại trong thực trạng hướng nghiệp ở cá nhân, bên cạnh đó có thể xây dựng hướng giải pháp tích cực cho công cuộc nâng cao chất lượng định hướng và lựa chọn nghề nghiệp ở các trường phổ thông trong thành phố

Nghiên cứu này điểm qua các lí thuyết, khái niệm về nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp, quyết định và quá trình ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp, cũng như những khó khăn tâm lí trong quá trình ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Trang 20

1.2 Cơ sở lí thuyết về những khó khăn khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp

ở học sinh THPT

1.2.1 Lí thuyết về quyết định lựa chọn nghề nghiệp

a Khái niệm nghề nghiệp

Nghề nghiệp, thường được nhiều người hiểu như hoạt động nghề nghiệp, là hoạt động phục vụ cho cơ sở tồn tại và hướng vào việc kiếm sống Đây là việc lâu dài (đi với chữ “nghiệp”) và là việc đòi hỏi kiến thức, gồm những hiểu biết được tích lũy qua con đường học tập, qua sách vở Nghề nghiệp cũng yêu cầu kĩ năng và kinh nghiệm, những năng lực mà cá nhân có thể làm được trong quá trình lao động, trình độ chuyên khi làm nghề

Do vậy, Nghề nghiệp là một dạng lao động, diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, cần có những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo, và phẩm chất (tâm, sinh lí, sức khoẻ) phù hợp, nhằm đáp ứng với yêu cầu của dạng lao động tương ứng Thông qua

các hoạt động nghề nghiệp, con người tạo ra những giá trị vật chất hoặc tinh thần góp phần thoả mãn nhu cầu của cá nhân và xã hội

b Khái niệm về định hướng và lựa chọn nghề nghiệp

Theo GS Trần Thị Minh Đức, xu hướng cá nhân là sự hướng về mục tiêu trong một khoảng thời gian dài và ổn định, là ý hướng có thể thực hiện được nếu cá nhân bắt gặp đối tượng làm thỏa mãn, tức chịu sự chi phối của hoàn cảnh khách quan Mặt khác, xu hướng cũng có thể là ý hướng tiềm tàng trong cuộc đời mỗi con người, chưa được nhận rõ, ẩn trong những đặc trưng của bản thân họ

Từ xu hướng trên, có thể thấy định hướng cá nhân là thái đô ̣ lựa cho ̣n mô ̣t cách đă ̣c thù với hiê ̣n thực của con người, thái đô ̣ có ảnh hưởng trực tiếp tới cuô ̣c sống và hành đô ̣ng Khái niê ̣m đi ̣nh hướng cá nhân chỉ xu hướng đã được nhâ ̣n thức, ý thức đầy đủ Cá nhân cố ý vuơn tới, chiếm lĩnh tới đối tượng với mu ̣c tiêu đã đi ̣nh Vì vâ ̣y, trong đi ̣nh hướng của cá nhân có vai trò của ý chí và hành đô ̣ng của ý chí, có sự nỗ lực vượt khó khăn của bản thân để đa ̣t được ý đi ̣nh

Trên cơ sở định hướng, tìm hiểu về các yêu cầu của nghề nghiệp cá nhân dần lập trình cho mình một chiến lượt hành động, tích cực học hỏi, khám phá các giá trị,

Trang 21

đặc điểm tâm – sinh lí ở bản thân, nghiên cứu thế giới nghề nghiệp hay giá trị của các ngành nghề, để từ đó so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra điểm ăn khớp giữa bản thân mình và nghề nghiệp tương ứng Khi đó quá trình nhận thức của cá nhân sẽ càng sâu sắc hơn, sự hiểu hiết về từng nghề nghiệp được nâng cao, song song với

sự hướng dẫn của gia đình, thầy cô, hay những người có kinh nghiệm, cá nhân đưa

ra được kết quả cuối cùng, đó là ra quyết định lựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp

Vậy có thể hiểu, Đi ̣nh hướng nghề nghiê ̣p là một dạng của đi ̣nh hướng cá nhân, là một quá trình tìm hiểu, đối chiếu, so sánh những yêu cầu về đặc điểm tư chất và những yêu cầu của hoạt động lao động xã hội với điều kiê ̣n cụ thể của bản thân trên cơ sở hình dung ra trước hoạt động lao động của cá nhân trong hiện tại và tương lai

Lựa chọn nghề nghiệp là kết quả cuối cùng của sự định hướng ở một giai

đoạn nhất định trong đời sống cá nhân Đó là vấn đề hết sức quan trọng, nó không những quyết định đến tương lai người lựa chọn mà còn là thành tố đem lại ý nghĩa cho xã hội Với cá nhân, việc chọn được một nghề nghiệp phù hợp sẽ giúp họ phát huy được một cách tối đa tiềm năng sẵn có, nâng cao năng lực, đảm bảo cho cuộc sống của bản thân, gia đình, và hơn thế nữa là góp phần tạo điều kiện cho cá nhân hoàn thiện nhân cách của mình Với xã hội, làm việc đúng ngành, đúng nghề góp phần tạo nên sự cân bằng trong lao động xã hội, cá nhận thực hiện được tốt công việc của mình, hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao, nâng cao năng suất, chất lượng công việc cho tổ chức, tạo nhiều của cải cho xã hội, đóng góp vào việc phát triển nền kinh tế đất nước nói chung, nền lao động – sản xuất thuộc mảng ngành nghề của cá nhân nói riêng

c Khái niệm về Ra quyết định và Ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Để làm rõ hơn tính chất của việc ra quyết định, Tâm lí học trên thế giới đã

nghiên cứu, tổng hợp, xây dựng nên lí thuyết quyết định, còn được biết đến với tên gọi lí thuyết lựa chọn hợp lí Đây là hệ thống lí thuyết liên quan đến việc nghiên

cứu về sở thích, sự không chắc chắn, và các vấn đề khác như việc "tối ưu" hoặc lựa chọn "hợp lí"

Trang 22

Hoạt động của con người liên quan đến các quyết định đã là chủ đề được quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ Từ đó, rất nhiều lí thuyết về quyết định được phát triển và thảo luận rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như tin học nhận thức, khoa học máy tính, khoa học quản lí, kinh tế, xã hội học, tâm lí học, khoa học chính trị và thống kê

Lí thuyết quyết định được biết đến với ba hình thức cơ bản: thứ nhất là lí thuyết về quyết định quy chuẩn, nghiên cứu về những đối tượng lí tưởng, tức sự quyết định được căn cứ trên một nhóm những niềm tin và giá trị chắc chắn, có thể tính toán được Thứ hai là lí thuyết quyết định mô tả, nghiên cứu những cách thức

mà những đối tượng, tác nhân phi lí thực sự được lựa chọn, tức việc quyết định, chọn lựa nhiều lúc có thể được đưa ra một cách phi lí, như một hành vi, đôi lúc những lí do để dẫn đến hành vi đó là không hợp lí, nhưng con người vẫn làm, vẫn thực hiện Thứ ba là hướng lí thuyết về quy tắc quyết định, tìm hiểu về cách thức

mà một quyết định phi lí cải thiện sự ra quyết định ở cá nhân như thế nào, dù cho các quyết định đó không là hoàn hảo (Grant & Zandt 2009; Baron 2008)

Theo từ điển Tiếng Việt, Quyết định được hiểu là có ý kiến dứt khoát về việc làm cụ thể nào đó, chọn một trong các khả năng sau khi đã có sự cân nhắc

Trong tâm lí, ra quyết định được coi là quá trình nhận thức dẫn đến việc lựa chọn một niềm tin, một hướng hành động, từ một số lựa chọn thay thế khác

Mỗi quá trình ra quyết định tạo nên một sự lựa chọn cuối cùng; nó có thể “có hoặc không” dẫn con người đến hành động

Ra quyết định nhằm xác định và lựa chọn giải pháp thay thế dựa trên các giá trị và sở thích của người ra quyết định

Ra quyết định có thể được coi là một hoạt động giải quyết vấn đề được kết thúc bởi một giải pháp, mà cá nhân xem là thỏa đáng Do đó, nó có thể là một quá trình ít hợp lí hoặc phi lí, dựa trên những tri thức nổi (Explicit knowledge) hoặc tri thức ngầm (Tacit knowledge) 3

Trang 23

Vậy, ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp được hiểu như sự quyết định lựa

chọn giữa các lựa chọn nghề nghiệp cụ thể, hoặc lựa chọn một chuyên ngành phù hợp với nghề nghiệp mà cá nhân định hướng trong tương lai, sau khi cá nhân đã phần nào nhận thức được các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp (như đặc điểm cá nhân, giá trị và động cơ-sở thích, năng lực…)

Mục đích quá trình này nhằm đem lại phù hợp giữa nghề nghiệp tốt nhất với các thuộc tính, giá trị và sở thích của cá nhân

* Quá trình ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Theo Gati, quá trình ra quyết định nghề nghiệp là quá trình lựa chọn hướng

đi phù hợp với khả năng đáp ứng về nghề nghiệp ở cá nhân, dựa trên sự so sánh và đánh giá các lựa chọn thay thế (các quá trình so sánh và đánh giá này chịu ảnh

hưởng bởi cả đặc điểm của cá nhân, chương trình giáo dục và nghề nghiệp)

Quá trình ra quyết định được mô tả qua bốn yếu tố cơ bản4, gồm: mục tiêu, hướng lựa chọn, kết quả và đánh giá quá trình quyết định Qua việc xem xét các yếu

tố này, cá nhân tiến hành định lượng và lập nên nguyên tắc hành động cụ thể

Ở yếu tố đầu tiên, mục tiêu quyết định được hiểu là một tập hợp các mục tiêu

mà người đưa ra quyết định luôn tìm cách để đạt được, những mục tiêu này sẽ quyết định đến sự thành công hay thất bại ở kết quả cuối cùng Thường ở cá nhân tồn tại một số mục tiêu mà nhiều trong số đó mâu thuẫn với các mục tiêu còn lại, vì vậy sự cân bằng ở các mục tiêu mà cá nhân chọn lựa là điều cần thiết Vấn đề chọn nghề thường đòi hỏi ở người ra quyết định phải tìm được sự thỏa hiệp tốt nhất giữa các mục tiêu nghề nghiệp, sao cho phần lớn các mục tiêu đều được đáp ứng (Ví dụ như mục tiêu học tập ít, mục tiêu đậu đại học, thành công trong cuộc sống; ở đây mục tiêu đầu nhường như đối lập với hai mục tiêu sau, như vậy lúc này chủ thể ra quyết sẽ nhất thiết phải tìm cách cân bằng các giữa các mục tiêu, sao cho kết quả cuối cùng khiến bản thân chủ thể cảm thấy hài lòng)

Yếu tố thứ hai là hướng lựa chọn, được hiểu như những hướng khác nhau của hành động, mà trong đó người ra quyết định sẽ phải lựa chọn lấy một hướng nhất định Quá trình ra quyết định chỉ xuất hiện khi và chỉ khi người ra quyết định

4 An Analysis of Career Decision Making from the Point of View of Information Processing and Decision Theory

Trang 24

công nhận ít nhất hai sự chọn lựa khả thi Trong một số trường hợp, các lựa chọn thay thế cho lựa chọn ban đầu được xác định rõ ràng, ví dụ như trong việc chọn một trường đại học, danh sách các lựa chọn thường được nêu ra ở bảng danh sách trường học và học sinh dễ dàng tìm được ngôi trường thay thế nếu như có những rủi

ro trong kết quả ở tương lai Tuy nhiên, trong nhiều tình huống, phần khó khăn nhất của việc ra quyết định là ở việc cá nhân không xác định được rõ ràng những lựa chọn và hướng hành động cần thiết Trong lựa chọn nghề nghiệp, vì nhiều nguyên

do mà người ra quyết định có thể không biết nhiều về các lựa chọn thay thế có sẵn

Yếu tố thứ ba gồm các kết quả tương ứng với mỗi lựa chọn Sau khi đã có các lựa chọn, cá nhân sẽ tiếp đến việc lập ra các kết quả ứng với từng lựa chọn Các kết quả được đặc trưng bởi tính không chắc chắn, tức người ra quyết định ít có khả năng kiểm soát hoàn toàn kết quả trong tương lai Sự không chắc chắn phát sinh do hạn chế ở năng lực của cá nhân, trong việc hoàn thành một hướng hành động lựa chọn Chúng ta nên hiểu và phân biệt rõ ràng được giữa sự lựa chọn và kết quả đạt được: Lựa chọn được xem như là hành động mà cá nhân có thể thực hiện, có thể nắm bắt mà không gặp phải bất kì khó khăn khăn, căn nhắc nào, ví dụ như việc học sinh điền đơn xin nhập học tại trường Kinh tế khi đã được trường nhận tuyển Còn kết quả là một, hoặc số sự kiện trong tương lai có thể hoặc không thể xảy ra, vì ít nhất nó thuộc một phần các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của người ra quyết định, ví

dụ sau khi được chọn để ứng tuyển vào trường Kinh tế, học sinh có thể được nhận hoặc không được nhận; Hoặc là sau khi đăng ký thi vào trường Kinh tế, học sinh có thể không được nhận vì trường tuyển như dự kiến…

Cuối cùng là bước xác định cách thức đánh giá mỗi kết quả Việc đánh giá liên quan đến mức độ đáp ứng của kết quả với các mục tiêu đã đưa ra từ ban đầu Việc đo lường thành quả đạt được ở mục tiêu sau khi cá nhân đã lựa chọn, được xác định thông qua việc đánh giá các thuộc tính của một hoặc một số mục tiêu nhằm xem xét tính đạt ở kết quả tương ứng Ví dụ một công việc tốt thường được xác định bởi độ uy tín và khả năng thực thi của công việc đó trong mắt mọi người

Như đã trình bày trên, việc ra quyết định liên quan đến quá trình mà cá nhân chọn lựa giữa hai (hoặc nhiều hơn hai) hướng khác nhau của hành động

Trang 25

Các bước ra quyết định cụ thể gồm:

Bước 1: Nhận thấy việc cần có quyết đinh, xác lập mục tiêu quyết định Bước 2:Thu thập thông tin, dữ liệu liên quan và khảo sát các hướng hành động khả thi

Bước 3: Xác định những khả năng có thể xảy ra và áp dụng một hệ thống dự

dự đoán và giá trị nhằm phân tích các kết quả khả thi

Bước 4: Thực hiện lựa chọn, có thể là quyết định cuối cùng hoặc điều tra thêm (tìm hiểu thêm thông tin)

(Theo mô hình của H B Gelatt, 1962)

Đối với quyết định nghề nghiệp, quá trình này có thể dẫn đến sự lựa chọn ngành học, một hướng nghề nghiệp rõ ràng, hoặc một công việc cụ thể hơn

d Khái niệm về khó khăn khi ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Khó khăn khi ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp là những vấn đề khó khăn

mà cá nhân sẽ gặp phải khi đứng trước việc đưa ra một quyết định về nghề nghiệp Các khó khăn này thường liên quan đến yếu tố tiếu quyết đoán (Indecision) được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm

Tính quyết đoán, thiếu quyết đoán và khó khăn trong việc ra quyết định lựa

chọn nghề nghiệp

Tính quyết đoán trong lựa chọn nghề nghiệp được định nghĩa là sự chắc chắn

về quyết định nghề nghiệp của một cá nhân Nó liên quan đến mức độ mà cá nhân

bị thuyết phục rằng họ có thể đưa ra quyết định nghề nghiệp

Ngược lại, tính thiếu quyết đoán trong quyết định về nghề nghiệp, đề cập đến việc một cá nhân không có khả năng đưa ra quyết định một cách dứt khoát, kịp thời về nghề nghiệp mà họ đang phấn đấu Chartrand, Rose, Elliot, Marmarosh, và Caldwell (1993), Gati, Krausz, & Osipow (1996) và Leong & Chervinko (1996) cũng định nghĩa sự thiếu quyết đoán trong nghề nghiệp như là những khó khăn mà một cá nhân có thể gặp trong quá trình ra quyết định nghề nghiệp

Các khó khăn trong việc ra quyết định nghề nghiệp có thể ảnh hưởng đến kết quả quyết định của một cá nhân theo một trong hai cách: (1) ngăn cản cá nhân đưa

ra quyết định; Hoặc (2) dẫn đến một quyết định kém tối ưu hơn

Trang 26

Những khó khăn trong việc ra quyết định nghề nghiệp là một trong những chủ đề nghiên cứu trung tâm trong tâm lý nghề nghiệp Ra quyết định chọn nghề dẫn chủ thể đến việc tự khám phá một số định hướng nghề nghiệp mà không phải

do ý kiến của người khác hoặc không phải từ bỏ sự lựa chọn thực hiện trước đó Bất

kể bối cảnh cụ thể nào, quyết định nghề nghiệp phản ánh một quá trình mà thông qua đó, cá nhân chọn lựa, cân nhắc và đánh giá về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới lao động, công việc rộng lớn

1.2.2 Phân loại những khó khăn tâm lí khi quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Đã có rất nhiều lí thuyết nghiên cứu về sư phát triển nghề nghiệp ở cá nhân được xây dựng nhằm phân tích, đánh giá và vận dụng hiệu quả trong công tác hướng nghiệp, như tư vấn hay tham vấn về nghề nghiệp Tuy nhiên, lại rất ít các nghiên cứu xem xét về các khó khăn mà người được tư vấn (học sinh) có thể gặp phải khi họ phải đối mặt với vấn đề chọn nghề và tìm hướng đi của họ trong tương lai

Việc đánh giá những khó khăn khi quyết định về nghề nghiệp ở cá nhân, cụ thể là khám phá những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình quyết định, là một trong những bước đầu tiên giúp cá nhân đưa ra những quyết định tốt hơn trong quá trình định hướng về việc hành nghề, lao động trong cuộc sống sau này Hiểu được ở

cá nhân có những hình dung như thế nào về nghề nghiệp, công tác hướng nghiệp sẽ

bổ sung vào những thiếu sót về thông tin, kĩ năng định hướng nghề cần thiết cho cá nhân, giúp họ có thể cụ thể hướng quyết định, hạn chế những rủi ro và giảm bớt lo lắng khi nghĩ về những căng thẳng liên quan đến tiền tài, danh vọng, sự phụ thuộc người khác hay đam mê và cả giá trị theo đuổi của họ trong đời sống

Theo mục tiêu này, Gati và cộng sự đã đề xuất một hệ thống phân loại các khó khăn trong việc ra quyết định nghề nghiệp, bao gồm ba nhóm chính và 10 loại khó khăn cụ thể Nhóm đầu tiên bao gồm những khó khăn phát sinh trước khi tham gia vào quá trình ra quyết định Những khó khăn này liên quan đến sự thiếu sẵn sàng, có thể là do (1) thiếu động lực, (2) sự thiếu quyết đoán nói chung, và (3) rối loạn niềm tin Nhóm thứ hai và thứ ba liên quan đến những khó khăn thường xuất hiện trong quá trình quyết định Cụ thể, nhóm thứ hai bao gồm những khó khăn do

Trang 27

thiếu thông tin về (4) quá trình ra quyết định nghề nghiệp (ví dụ, "Các bước để chọn một ngành nào?"), (5) tông tin về bản thân (như sở thích, sở thích, giá trị, kỹ năng, khả năng), (6) thông tin về nghề nghiệp hoặc chuyên ngành, và (7) cách để có được thông tin bổ sung và giúp đỡ Nhóm thứ ba bao gồm những khó khăn liên quan đến việc sử dụng thông tin và thường do thông tin không nhất quán bao gồm (8) thông tin không đáng tin cậy, (9) mâu thuẫn bên trong và (10) mâu thuẫn bên ngoài

Những khó khăn được phân loại dựa trên những sai lệch từ giả thyết "Hình mẫu lí tưởng trong quyết định nghề nghiệp - ideal career decision maker” Hình mẫu quyết định nghề lí tưởng hay người ra quyết định nghề lí tưởng, được hiểu như

là mô hình giả định về sự hoàn hảo ở quyết định của một cá nhân cụ thể Họ là một người có ý thức về sự cần thiết trong việc phải đưa quyết định nghề nghiệp, sẵn sàng đưa ra quyết định đó, và có khả năng đưa ra quyết định hợp lí và “đúng đắn” Đúng đắn ở đây tức là, những quyết định của họ là quyết định dựa trên quy trình phù hợp, tương ứng với mục tiêu và nguồn lực của chính bản thân họ

Gati cho rằng, bất kì một sai lệch nào từ người quyết định nghề lí tưởng này đều được coi là một khó khăn tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của một người theo một trong hai cách: (a) Ngăn cản cá nhân đưa ra quyết định nghề nghiệp hoặc (b) Làm giảm bớt những quyết định tối ưu về nghề nghiệp

Từ những ý tưởng trên, ông đã phân loại và sắp xếp các khó khăn tâm lí khi

ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp theo cấu trúc sau

Cấu trúc của ba hạng mục chính và 10 loại khó khăn

Trang 28

Sơ đồ 1: Sơ đồ phân loại những khó khăn tâm lí khi quyết định lựa chọn

có nhu cầu, chưa có lí do hoặc chưa hứng thú với việc đưa ra quyết định;

+ (b) Thiếu quyết đoán nói chung liên quan đến tất cả các loại quyết định (thể hiện ở việc cá nhân không giữ vững ý chí, dễ bị dao động bởi tác động xung quanh nên không dứt khoát trong quyết định);

+ (c) Rối loạn niềm tin, bao gồm những kỳ vọng phi lí liên quan đến quá trình ra quyết định nghề nghiệp: Cá nhân có những niềm tin không đúng đắn dẫn đến khó khăn khi ra quyết định (ví dụ: "Tôi tin rằng chỉ có duy nhất một nghề nghiệp lí tưởng dành cho tôi")

Tiếp đến là các khó khăn xuất hiện trong quá trình ra quyết định, gồm hai hạng mục chính đó khó khăn do Thiếu thông tin và Thông tin không nhất quán (rối loạn)

Ở mục Thiếu thông tin gồm bốn loại khó khăn là:

Trang 29

+ (a) Thiếu kiến thức liên quan đến quá trình ra quyết định: Cá nhân không biết quá trình ra quyết định như thế nào, cần chuẩn bị gì hoặc có các bước tiến hành

ra sao để đạt được một quyết định hợp lí, phù hợp với bản thân

+ (b) Thiếu hiểu biết về bản thân: Cá nhân thiếu những thông tin về bản thân như đặc điểm cơ thể - tâm lí, đặc điểm nhân cách, nhu cầu, sở thích, năng lực…

+ (c) Thiếu thông tin về các phương án thay thế trong lựa chọn (nghề nghiệp): Trước nhiều sự lựa chọn, cá nhân không có đầy đủ thông tin về nghề hoặc lĩnh vực nghề mà họ dự định sẽ chọn (các thông tin liên quan đến nghề nghiệp đó như nhu cầu thị trường, chương trình đào tạo ) và cũng thiếu thông tin xung quanh các phương án thay thế, các chọn lựa khác

+ (d) Thiếu hiểu biết về các cách thức để bổ sung thông tin: Cá nhân thiếu thông tin nhưng không nắm được cách thức để bổ sung thông tin, không biết tìm thông tin như thế nào, ở đâu

Thông tin không nhất quán (rối loạn) tồn tại ba khó khăn chủ yếu, đó là khó

khăn do: (a) thông tin không đáng tin cậy, nghĩa là những khó khăn liên quan đến

độ chính xác của thông tin hoặc sự mâu thuẫn của thông tin; (b) Mâu thuẫn trong cá nhân, (như những mâu thuẫn trong sở thích hoặc những khó khăn liên quan đến các nhu cầu, cần được thỏa hiệp); Và (c) Mẫu thuẫn do bên ngoài (liên quan đến ảnh hưởng từ người khác)

1.2.3 Đặc điểm tâm lí học sinh THPT

Khách thể nghiên cứu cụ thể của đề tài là học sinh trung học phổ thông (THPT) Để hiểu rõ hơn, cùng tìm hiểu một số đặc điểm tâm lí đặc trưng về nhóm đối tượng này

Học sinh trung học phổ thông là những người hiện đang theo học tại các trường THPT, theo chương trình quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, có đội tuổi

từ 16 đến 18 Đây là một dạng phân định lứa tuổi theo cấp bậc học vấn tại Việt Nam

Về đặc điểm phát triển ở lứa tuổi này được xem là đặc biệt quan trọng bởi vì

ở đây, học sinh đang là giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện các cấu trúc tâm lí,

Trang 30

các phẩm chất nhân cách và thể chất chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống xã hội với tư cách là một người trưởng thành

Về đặc điểm cơ thể, tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành

về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Đa số các em đã qua thời kỳ phát dục và đạt được những thành tích về

cơ thể như người lớn

Về hoạt động học tập, ở học sinh THPT học tập vẫn là hoạt động chủ đạo, tuy nhiên so với độ tuổi trước, việc học của các em đòi hỏi khả năng suy luận cao hơn, nâng cao trình độ tư duy khái niệm, tư duy hệ thống, thực tiễn Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Mặt khác, ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thức trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em

Về sự phát triển trí tuệ, cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng

Về đặc điểm đời sống xúc cảm-tình cảm, tuổi THPT đã dần có sự ổn định hơn trong xúc cảm, các em đã có trách nhiệm, yêu quý gia đình hơn, có nhu cầu kết bạn tâm tình và chủ động tìm hiểu, chọn bạn Bên cạnh đó, ở các em xuất hiện nhu cầu yêu đương, tình yêu tạo ra nhiều cho các em nhiều cảm xúc cả tích cực, lẫn tiêu cực

Những đặc điểm nhân cách chủ yếu ở lứa tuổi này là sự phát triển của năng lực tự ý thức, sự hình thành thế giới quan, nhu cầu được tôn trọng, bình đẳng, chứng tỏ bản thân… nhưng điểm nhấn hơn hết là các em đã bước đầu có ý thức về

Trang 31

xu hướng nghề nghiệp của mình Khi nhu cầu cuộc sống đặt ra vấn đề phải lựa chọn nghề nghiệp, các em càng hiểu được rằng cuộc sống tương lai phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn một công ăn việc làm đúng đắn

Lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình cân nhắc kĩ lưỡng qua việc xem xét năng lực của mình có phù hợp với những ngành nghề đã chọn hay không, học lực của mình như thế nào, nhu cầu xã hội của ngành này ra sao… Vì vậy vấn học sinh THPT cần sớm chuẩn bị, trang bị cho mình những kiến thức đúng đắn, bởi sự lựa chọn này phải liên quan đến học tập, sở trường, sở thích của bản thân đối với nghề nghiệp mà các em sẽ làm sau này

1.2.4 Học sinh THPT như một người ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Con người thường đưa ra những quyết định liên quan đến nghề nghiệp trong thời thanh thiếu niên (Adolesscence) Những quyết định có thể đem đến kết quả lâu dài cho tương lai hướng nghiệp của một cá nhân, tâm ý ổn định, sức khỏe tốt và sự công nhận xã hội Nghiên cứu của Germeijs, Verschueren & Soenens (2006) cũng chỉ ra rằng thanh thiếu niên ở độ tuổi THPT, như học sinh lớp mười một và mười hai, được xác định là độ tuổi hợp lí cho các điều tra nghiên cứu về ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Vì ở độ tuổi này, diễn ra một quá trình phát triển quan trọng là việc cải thiện nâng cao khả năng nhận thức, trong đó là tăng cường khả năng ra quyết định Piaget

và Inhelder (1969) đã miêu tả những tiến bộ như vậy trong quá trình chuyển biến từ nhận thức cụ thể qua nhận thức trừu tượng, và từ suy nghĩ chủ quan sang suy nghĩ khách quan

Thêm vào đó, Harrington và Harrigan (2006) cũng kết luận rằng ở lớp mười một và mười hai, sở thích của các em học sinh liên quan đến nghề nghiệp có sự thay đổi và trở nên thực tế hơn, so với học sinh ở các lớp dưới

Việc đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT là bước cơ bản cho sự phát triển tốt hơn ở trẻ trong con đường nghề nghiệp Những quyết định trong thời kì này sẽ ảnh hưởng đến cơ hội giáo dục và học tập trong tương lai của học sinh, tác động trực tiếp đến khả năng tự nhận thức và tự hoàn thiện năng lực, nhằm đáp ứng định hướng nghề cụ thể của các em sau này

Trang 32

Xem xét việc học sinh THPT lựa chọn nghề nghiệp cho mình như một người

ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp, chúng ta cần nhận diện được các yếu tố khó khăn mà các em có thể gặp phải trong quá trình định hướng nghề này Các em có thể trải qua việc thiếu sẵn sàng cho việc chọn nghề, trải qua cảm giác hoang mang

vì thiếu thông tin cung cấp cho một quyết định hợp lí, hoặc cảm thấy thiếu tự tin khi căn nhắc về tương lai mình vẫn còn phụ thuộc vào lựa chọn từ bố mẹ, người lớn Những khó khăn này cần được đánh giá hiệu quả nhằm hỗ trợ tối ưu cho công tác hướng nghiệp ở các trường trung học

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Vấn đề chọn lựa nghề nghiệp đặt ra những tình huống khiến cá nhân phải đứng trước nhiều khó khăn, do dự Để làm rõ thêm vấn đề ấy, đề tài nghiên cứu tập trung tìm hiểu những khó khăn tâm lí khi quyết định lựa chọn nghê nghiệp

Tổng quan về lịch sử hướng nghiệp trên khắp thế giới, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, thực nghiệm, hỗ trợ giáo dục, hay tham vấn tâm lí nhằm dáp ứng nhu cầu định hướng tương lai cho của con người Có rất nhiều gốc độ tiếp cận

để phát triển lí thuyết, phương pháp hay công cụ hỗ trợ hướng nghiệp, như các lí thuyết đúng xem xét đặc tính cá nhân và đặc điểm nghề; các lí thuyết đứng từ gốc

độ phát triển ở cá nhân; các lí thuyết hướng nghiệp tập trung vào cả đặc điểm và quá trình phát triển cá nhân; các lí thuyết từ góc độ xã hội… Tuy nhiên nhìn nhận

từ lí thuyết quyết đinh, ta có thể thây thêm một khía cạnh mới khác bổ trợ cho các góc đa chiều của một tổng thể mục đích chung, là giúp đỡ cá nhân phát triển được con đường nghề nghiệp của bản thân họ

Xuất phát từ Khoa học quản trị, lí thuyết về Quyết định trong thời đại ngày nay đóng vai trò quan trọng không chỉ trong quản lí, khoa học tự nhiên mà còn góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề thiết thực trong đời sống cá nhân

Lí thuyết về quyết định được phân thành 4 nhóm chính: (1) Tìm hiểu về bản chất, vai trò, chức năng của việc ra quyết định; (2) Nghiên cứu về các nguyên tắc, phương pháp ra quyết định và các giai đoạn phát triển của quá trình này ở người quản lí; (3) Phân tích các khía cạnh tâm lí của việc quyết định, các yếu tố hành vi

Trang 33

của người tổ chức và thực hiện quyết định; (4) Xem xét quyết định dưới lí thuyết tình huống trong quản lí

Với gốc độ tâm lí, ra quyết định là ra quyết định được coi là quá trình nhận thức dẫn đến việc lựa chọn một niềm tin, một hướng hành động, từ một số lựa chọn thay thế khác

Từ đó ta có thể xem xét quá trình ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp như là quá trình lựa chọn một hướng đi phù hợp với khả năng đáp ứng về nghề nghiệp ở cá nhân, từ việc đánh giá, so sánh các phương án thay thế khác nhau

Nội dung chương 1 bên cạnh việc tìm hiểu tổng quan và xây dựng cơ sở lí thuyết, chương này còn tập chung làm rõ mô hình Phân loại những khó khăn khi quyết định chọn nghề của Gati và cộng sự

Trang 34

Chương 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm trường THPT Hoàng Hoa Thám thành phố Đà Nẵng

Trường THPT Hoàng Hoa Thám được thành lập từ ngày 15/9/1963 với tên gọi là Trung học Đông Giang Từ năm 2000-2002, trường được UBND thành phố,

sở GD ĐT đầu tư xây mới lại hoàn toàn Từ ngày 25/9/2003 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010 Trải qua hơn 50 năm phát triển, nhà trường đã trở thành một địa điểm uy tín, thu hút nhiều học sinh khá giỏi từ hai quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn Trường phổ thông Đông Giang- THPT Hoàng Hoa Thám ngày nay đã để lại những dấu mốc quan trọng: 3 năm liên tiếp vinh dự nhận cờ luân lưu mang chân dung Bác Hồ (1982-1985); là trường THPT đầu tiên của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng chọn làm thí điểm cho chương trình phân ban (1994-1995); được

Ủy ban Nhân Dân thành phố Đà Nẵng công nhận là đơn vị dẫn đầu thi đua ngành Giáo dục Đào tạo thành phố (1997-1998) Là trường THPT đầu tiên của Đà Nẵng đạt chuẩn quốc gia (2003) Tháng 11-2009, nhà trường được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba

Ngoài phong trào dạy và học đi đầu trong khối THPT ở quận Ba, điểm mạnh của trường là công tác khuyến học của cựu học sinh Trưởng thành từ mái trường này, nhiều thế hệ học sinh đã thành danh trên nhiều lĩnh vực công tác Rất nhiều thế

hệ học sinh bước ra từ mái tranh nghèo, với ý chí, nghị lực cùng sự tiếp sức của thầy cô giáo, đã vượt qua nghịch cảnh để thành tài và nhiều người trong số họ đã quay trở lại, góp sức cùng với nhà trường dìu dắt lớp đàn em sau vững tin trên con đường học vấn

Trong những năm qua, trường THPT Hoàng Hoa Thám vẫn không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục, tạo đà nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn; chú trọng phát hiện và bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển thành phố, đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế của đất nước

Năm học 2016-2017, toàn trường hiện có 38 lớp, với 1549 học sinh Trong

đó Khối 10 có 483 học sinh, Khối 11 có 534 học sinh và Khối 12 có 532 học sinh

Trang 35

Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường hiện có 100 người, xếp vào 11 tổ chuyên môn

và 1 tổ hành chính-văn phòng Đội ngũ giáo viên luôn tận tụy, nêu cao trách nhiệm với giảng dạy, thường xuyên học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy

Về điều kiện cơ sở vật chất, nhà trường có phòng học, phòng thí nghiệm, phòng nghe-nhìn đáp ứng như cầu giảng dạy và học tập, cụ thể có:

+ thư viện, nhà thi đấu đa năng, sân tập thể dục

+ các phòng bộ môn Toán, Văn, Tiếng Anh, Pháp-Nhật, Sử-Địa, GDCD

2.1.2 Mẫu khách thể nghiên cứu

Đề tài được tiến hành khảo sát trên học sinh cả ba khối lớp 10, 11 và 12 Trong đó tổng số mẫu là 160 học sinh (37 học sinh nam và 42 học sinh nữ) Với 39 học sinh lớp 10, 41 học sinh lớp 11 và 80 học sinh lớp 12

Có 160 mẫu phiếu hỏi được phát ra, 13 phiếu trả lời không đủ hiệu lực, 6 phiếu không hợp lệ, tổng số mẫu hỏi trả lời hợp lệ thu được là 141 phiếu

Trong 141 phiếu trả lời, có 32 học sinh lớp 10 (22.7%), 33 học sinh lớp

11(23.4%), 76 lớp 12 (53.9%) Số lượng học sinh nam tham gia trả lời là 35 em (chiếm 24.8%), số lượng học sinh nữ trả lời là 106 em (chiếm 75.8%),

2.2 Tổ chức nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi tiến hành các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Nghiên cứu lí luận và xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài nghiên

cứu

Mục đích, nội dung yêu cầu của giai đoạn 1 là xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài Đầu tiên tôi tìm hiểu tổng quan vấn nghiên cứu, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được phát triển trên thế giới và tại Việt Nam Tiếp theo là phân

Trang 36

tích và công cụ nghiên cứu cho đề tài trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu của các tác giả trước đó về vấn đề nghiên cứu

Ở đây, tôi kết hợp sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết nhằm thu thập một cách chính xác và khái quát đầy đủ nhất các thông tin lí luận có liên quan đến đề tài

Giai đoạn 2: Điều tra thực trạng

Mục đích và nội dung chủ yếu của việc điều tra thực trạng là phân loại các khó khăn tâm lí trong quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT và xác định loại khó khăn phổ biến nhất trong quyết định nghề nghiệp mà các nhiều em gặp phải

Thông qua kết quả nghiên cứu thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh

Ở giai đoạn này, để làm sáng rõ những khó khăn tâm lí trong quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT, tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn học sinh

Giai đoạn 3: Thống kê và phân tích kết quả nghiên cứu

Mục đích và nội dung của giai đoạn 3 là thống kê số liệu, kết quả thu được để xác định loại hình khó khăn cơ bản trong quyết định lựa chọn nghề nghiệp ở học sinh THPT Bên cạnh đó, mở rộng đề tài bằng phân tích tương quan giữa các biến độc lập gồm Giới, Tuổi (lớp), Sống cung cha/mẹ hoặc cả cha với mẹ và biến phụ thuộc-Mức khó khăn chính theo giả định của lí thuyết

Kết quả nghiên cứu cũng là nguồn cơ sở đáng tin cậy, cung cấp thêm những thông tin cần thiết cho kế hoạch hướng nghiệp và tham vấn nghề tại nhà trường

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hướng nghề nghiệp, lịch sử phát triển và cách phân loại các lí thuyết xung quanh vấn đề Phát triển nghề nghiệp

- Xác định những khái niệm công cụ và các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu: Nhề nghiệp, định hướng nghề nghiệp; Ra quyết định và Ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp, quá trình ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp; Khó khăn khi ra

Trang 37

quyết định lựa chọn nghề nghiệp; Phân loại những khó khăn của việc ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

- Xác định đặc điểm học sinh trung học phổ thông, tầm quan trọng của nghiên cứu với đối tượng thanh thiếu niên Xem xét học sinh THPT như là cá nhân

cụ thể đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi CDDQ

Mục tiêu Bảng hỏi Những Khó khăn khi quyết định nghề nghiệp (CDDQ) là

để xác định trọng tâm của những khó khăn mà học sinh phải đối mặt khi đưa ra quyết định liên quan đến nghề nghiệp

CDDQ dựa trên nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Hebrew, thành phố Jerusalem bởi một nhóm các nhà nghiên cứu do giáo sư Itamar Gati và giáo sư Sam Osipow chỉ đạo Nhóm nghiên cứu tập trung làm rõ quá trình ra quyết định nghề nghiệp nói chung, bao gồm những khó khăn gặp phải khi ra quyết định nghề nghiệp, các chiến lược được sử dụng trong quá trình ra quyết định nghề, cùng sự thỏa hiệp liên quan Sau đó, từ đề tài phát triển các hệ thống hướng nghiệp hỗ trợ qua máy tính nhằm trợ giúp những cá nhân sử dụng công cụ, tạo thuận lợi cho quá trình ra quyết định của họ

a) Cơ sở cho sự Phân loại Những khó khăn khi ra quyết định nghề nghiệp theo bảng hỏi CDDQ của Gati, Krausz, & amp; Osipow (1996)

Quyết định nghề nghiệp là một bước đi quan trọng mà bất kì ai cũng đều trải qua Trong khi một số người có thể đưa ra quyết định một dễ dàng và không gặp những trở ngại cụ thể nào, thì một số người khác cảm thấy rất khó khăn trong việc

ra quyết định nghề nghiệp của họ Để trợ giúp được những người này, trước hết cần phải tìm hiểu và xác định những khó khăn cụ thể của họ

Sự phân loại của các khó khăn trong việc ra quyết định nghề nghiệp được sử dụng trong bảng hỏi CDDQ dựa trên lí thuyết ra quyết định và xử lí thông tin Từ

đó, tác giả xác định sự sai lệch xuất hiện khi đánh giá một quá trình ra quyết định nghề nghiệp lí tưởng, những sai khác đó được xem như là những khó khăn có thể dẫn tới sự do dự, thiếu quyết đoán hoặc sự lựa chọn kém tối ưu

Trang 38

b) Giả định nằm trong khuôn khổ phân loại được đề xuất

Quá trình ra quyết định nghề nghiệp lí tưởng được hiểu là quá trình lựa chọn nghề nghiệp hợp lí từ một cá nhân, gọi là Người ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

lí tưởng Người này có:

+ Nhận thức về sự cần thiết phải đưa ra quyết định nghề nghiệp và sẵn sàng

để đạt đến quyết định;

+ Có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn (nghĩa là, sử dụng một quá trình

có hệ thống để đánh giá nhằm đạt được quyết định phù hợp nhất với mục đích của mình)

Bất cứ sự sai lệch nào từ người ra quyết định nghề nghiệp lí tưởng gây ra những khó khăn có thể làm suy yếu hoặc cản trở quá trình ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp

Các khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp có thể được phân loại, theo:

+ Thời điểm quá trình ra quyết định phát sinh (trước hoặc trong thời gian tham gia thực tế trong quá trình ra quyết định nghề nghiệp);

+ Nguồn gốc của khó khăn (nhận thức hoặc tình cảm);

+ Tác động của khó khăn lên quyết định (ngăn chặn quá trình hoặc dẫn đến một quyết định ít hơn tối ưu);

+ Thời gian can thiệp cần thiết để vượt qua khó khăn

Sự do dự, thiếu quyết đoán khi đưa ra quyết định có thể là kết quả của một khó khăn đơn lẻ hoặc một sự kết hợp của nhiều khó khăn khác nau

c) Phân loại Những khó khăn tâm lí khi ra quyết định nghề nghiệp

Gati, Krausz, & amp; Osipow (1996)

Hệ thống phân loại được đề xuất dựa trên ba cấp độ phân loại Sự phân biệt

đầu tiên là giữa những khó khăn phát sinh trước khi bước vào quá trình ra quyết

định nghề nghiệp Những vấn đề nảy sinh trong quá trình này bao gồm những khó khăn liên quan đến sự thiếu sẵn sàng để tham gia quá trình ra quyết định nghề nghiệp

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w