1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật thạch lam

83 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng tác giả chủ yếu nghiên cứu về chức năng, tác động của nó: “Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ tức là các đặc trưng ng

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu Tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật Thạch Lam do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Trọng

Ngoãn Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, tháng 04/ 2016

Sinh viên

Bùi Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô giáo, giảng viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tình chỉ dạy tôi những năm học qua Đặc biệt, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Bùi Trọng Ngoãn, giáo viên hướng dẫn chính đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đồng cảm

ơn sự quan tâm của các thầy cô giáo, giảng viên khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Đà Nẵng cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện tốt nhất và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình thực hiện đề tài này, không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để để tài được hoàn thiện

Trân trọng!

Bùi Thị Yến

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Bố cục của đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật 7

1.1.1 Các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 7

1.1.2 Quan niệm về tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật 10

1.1.2.1 Nghĩa biểu thái của từ 10

1.1.2.2 Sắc thái biểu cảm của đơn vị từ vựng 11

1.1.2.3 Các yếu tố tình thái trong phát ngôn 12

1.1.2.3 Định ngữ nghệ thuật 23

1.2 Giới thiệu chung về Thạch Lam và sáng tác của Thạch Lam 24

1.2.1 Thạch Lam (1910 - 1942) 24

1.2.2 Các sáng tác của Thạch Lam 25

CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VỀ TÍNH BIỂU CẢM TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN THẠCH LAM 26

2.1 Khảo sát việc lựa chọn những đơn vị từ vựng giàu sắc thái biểu cảm trong câu văn Thạch Lam 27

Trang 6

2.2 Khảo sát các yếu tố tình thái trong câu văn Thạch Lam 32

2.2.1 Động từ tình thái 32

2.2.2 Tình thái ngữ 37

2.2.3 Phó từ 39

2.2.4 Kiểu câu tỉnh lược 45

2.3 Khảo sát các định ngữ nghệ thuật trong câu văn Thạch Lam 47

CHƯƠNG III: VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ BIỂU CẢM ĐỐI VỚI THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THẠCH LAM ……… … …….56

3.1 Vai trò của các yếu tố biểu cảm đối với nội dung phản ánh trong tác phẩm Thạch Lam 51

3.1.1 Phát hiện lưu ảnh tâm hồn con người qua những phận đời 51

3.1.2 Thiên nhiên là điệu hồn sâu lắng của Thạch Lam 57

3.2 Tầm tác động của các yếu tố biểu cảm đối với nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ nhân vật 59

3.2.1 Kiểu nhân vật nghiêng về đời sống tâm hồn 59

3.2.2 Cá tính hóa nhân vật bằng ngôn ngữ 62

3.3 Vai trò của các yếu tố biểu cảm đối với phong cách ngôn ngữ Thạch Lam……… 64

3.3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật Thạch Lam thẫm đẫm màu sắc lãng mạn 65

3.3.2 Tinh tế đi vào chiều sâu của ngoại vật và tâm hồn con người 67

3.3.3 Giàu tình cảm, thiết tha với nhân thế 68

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 7

HỆ THỐNG BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Động từ tình thái 36 Bảng 2.2: Tình thái ngữ 39 Bảng 2.3: Phó từ 44

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thạch Lam được xem là cây bút truyện ngắn đặc sắc, một văn phong trong sáng và tinh tế với những tác phẩm giàu tính nhân văn của một tâm hồn nhạy cảm Những sáng tác của ông đã để lại dấu ấn sâu sắc trong kho tàng văn học Việt Nam giai đoạn 1932-1945 Cùng với hành trình đi tìm cái đẹp trong cuộc đời và văn chương, ông đã tạo dựng cho mình một “cốt cách” Thạch Lam giàu sự cảm thông và sẻ chia với những kiếp người nhỏ bé trong

xã hội

Đến với Thạch Lam, trong những tác phẩm văn xuôi được xem là “mẫu mực của cái đẹp” thì ngôn ngữ chính là chìa khóa để người đọc mở tung cánh cửa nghệ thuật, đón nhận những tầng vỉa cảm xúc và tư tưởng nhân văn của tác giả Thế nên “Cái đẹp của ngôn ngữ Thạch Lam là cái đẹp của thứ ngôn ngữ vừa cho ta nhìn vừa cho ta cảm” [1, tr.33] Ngôn ngữ ấy là thứ ngôn ngữ dịu nhẹ làm người đọc ngây ngất Nó không tác động trực tiếp mà từ từ thấm sâu vào tâm hồn con người, mang lại cảm giác dịu ngọt chỉ vào sâu mới thấy đắng, mới thấy đau Đồng thời, nó cứ dai dẳng bám riết lấy tâm hồn, cảm xúc của người đọc về những mảnh đời bất hạnh, những kiếp người mỏng manh

Vì vậy trong cái thế giới nghệ thuật giàu giá trị ấy thì đã có không ít đề tài nghiên cứu văn xuôi của ông Nhưng người ta ít chạm tới tính biểu cảm của ngôn ngữ hoặc có chạm tới nhưng chưa đạt tới độ chín

Việc nghiên cứu tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật Thạch Lam là một đề tài khá mới mẻ và có ý nghĩa thực sự Nó giúp mọi người hiểu rõ hơn

về phong cách văn xuôi Thạch Lam, cũng như những đặc sắc về ngôn ngữ mà ông sử dụng để chuyên tải nội dung tới người đọc

Trang 9

Đặc biệt, đối với sinh viên sư phạm ngữ văn thì việc tiếp cận tác phẩm dưới góc độ ngôn ngữ là điều cần thiết cho việc cảm thụ và giảng dạy văn chương Và tác phẩm của Thạch Lam cũng chính là tác phẩm được đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường, góp phần bồi dưỡng tâm hồn các

em học sinh và được các em yêu thích Cho nên, việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp cho tôi nhiều tri thức và kỹ năng thiết thực cho việc dạy văn sau này

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn làm đề tài: “Tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật Thạch Lam”

2 Lịch sử vấn đề

Khi miêu tả ngôn ngữ nghệ thuật, các nhà nghiên cứu, phê bình luôn

luôn đề cập tính truyền cảm như là một đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Tuy nhiên, người ta chỉ thường phân tích về khả năng tác động của tính truyền cảm này, mà ít khi phân tích về các phương tiện ngôn ngữ của tính truyền cảm

Trong cuốn Phong cách học Tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc, ông đã dành

một chương lớn để nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật Nhưng tác giả chủ yếu nghiên cứu về chức năng, tác động của nó: “Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ (tức

là các đặc trưng nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thành của hình tượng Muốn thực hiện được chức năng thẩm mĩ, ngôn ngữ nghệ thuật phải có được những đặc trưng chung, như tính cấu trúc, tính hình tượng, tính

cá thể hóa, tính cụ thể hóa.” (21, tr.128) Ta thấy, trong những nội dung về ngôn ngữ nghệ thuật đó, tính truyền cảm chưa được nhắc tới

Cù Đình Tú lại có những đánh giá về ngôn ngữ nghệ thuật như sau:

“Ngôn ngữ nghệ thuật là một loại hình phái sinh của khẩu ngữ, vì có những đặc trưng gần gũi với khẩu ngữ Tuy nhiên không nên quên sự đối lập về mặt

Trang 10

chức năng: chức năng thông báo- thẩm mĩ đã quy định những đặc trưng của phong cách này.” ( 34, tr.64)

Khi nói đến tính truyền cảm, Cù Đình Tú khẳng định sức truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật rất sâu sắc mạnh mẽ “Nó có thể gợi lên những kỷ niệm

đã lắng sâu, những hi vọng chưa hề tới, tất cả đó bỗng cựa mình thức dậy và bay tỏa khắp nơi tạo thành một thế giới riêng của người đọc” Tuy nhiên, để chứng minh cho tính biểu cảm đó, Cù Đình Tú lại không hề nhắc tới các phương tiện ngôn ngữ

Vì vậy, ta thấy sức truyền cảm của ngôn ngữ trong văn chương là vô tận Nhưng ít ai tìm hiểu, nghiên cứu cặn kẽ những phương tiện ngôn ngữ được dùng để tạo sức mạnh vô cùng đó

Và trong thế giới nghệ thuật đa hương, đa sắc và đa cảm,… Thạch Lam

là một nhà văn tài năng Mặc dù cầm bút và sáng tác theo tuyên ngôn của Tự lực văn đoàn nhưng ông vẫn lặng lẽ tìm cho mình một lối đi riêng Cho nên lúc đó, văn chương Thạch Lam không được quan tâm lắm vì nó không đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người đọc Cho đến sau này như một nghịch lý, người ta đã phát hiện ra vẻ đẹp vĩnh hằng của sáng tác Thạch Lam Bắt đầu khi ấy, sự nghiệp văn chương của ông đã thu hút được đông đảo người nghiên cứu Chúng ta có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:

Thứ nhất là các tài liệu nghiên cứu về nội dung hiện tượng Thạch Lam

Cụ thể: Tình hình chung của văn học lãng mạn 1932-1945, Tự lực văn đoàn của Phan Cự Đệ; Thạch Lam (1910-1942) của Hà Văn Đức,… Trong lời tựa tập truyện ngắn Gió đầu mùa khi mới xuất bản (NXB Đời Nay, Hà Nội,

1937), Khái Hưng đã nhận xét “Đọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng

rợn cả tâm hồn về sự thành thực” [19, tr.277] Trong Nhà văn hiện đại, Vũ

Ngọc Phan cũng có những nhận xét tinh tế về văn chương Thạch Lam: “có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất

Trang 11

nhỏ và rất đẹp, những tình cảm, cảm giác con con nảy nở và biểu lộ ở đủ hạng người, mà ông tả một cách tinh vi” [27, tr.41] Thế nên, Vũ Ngọc Phan càng tin tưởng khẳng định: “trong các truyện ngắn, truyện dài của ông (tức Thạch

Lam), tình cảm đều có một vị trí đặc biệt” [27, tr.41] Năm 1965, tạp chí văn Sài Gòn đã ra số tưởng niệm Thạch Lam với những đánh giá tốt đẹp về cây bút tài năng, nhưng bạc mệnh Bảy năm sau, năm 1972, trong tạp chí Giao điểm đã khẳng định những giá trị vượt thời gian của một nhà văn lãng mạn có

khuynh hướng hiện thực, giàu lòng nhân đạo và là một cây bút truyện ngắn biệt tài

Thứ hai là những công trình nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật Thạch

Lam Trong Tuyển tập Thạch Lam (1998), Phong Lê đã giới thiệu về Thạch

Lam một cách kỹ lưỡng và trang trọng Nhắc đến ngôn ngữ, Phong Lê đã từng có những đánh giá: “Thạch Lam có một lối văn nhuần nhị và tinh tế, gọn

và gợi được thật rành rõ những trạng thái của sinh hoạt, xúc cảm và tâm hồn” [1, tr.31] Nguyễn Hoành Khung cũng có những nhận định: “Với ngòi bút giản dị, tinh tế lạ thường, ngôn ngữ trong sáng và đầy chất thơ, Thạch Lam đã góp phần nâng cao trình độ truyện ngắn Việt Nam lên một bước mới”[17, tr.206] Năm 1992, để kỷ niệm 50 năm mất của nhà văn Thạch Lam tại Viện Văn Học đã diễn ra hội thảo nghiên cứu văn chương Thạch Lam cả về chiều rộng lẫn chiều sâu dưới những cách tiếp cận khác nhau Hội thảo đã làm rõ được những đóng góp của Thạch Lam về quan niệm nghệ thuât, thi pháp

truyện ngắn và những giá trị nhân bản trong tác phẩm Trong cuốn Thạch Lam về tác gia và tác phẩm do Vũ Tuấn Anh và Lê Dục Tú tuyển chọn và

giới thiệu đã khẳng định: “Cái đẹp của ngôn ngữ Thạch Lam là cái đẹp của thứ ngôn ngữ vừa cho ta nhìn vừa cho ta cảm” và những trang văn của ông

“đã đem đến cho bạn đọc những sự trong sáng, thuần khiết của Tiếng Việt,

có khả năng diễn tả được một cách đầy đủ những cung bậc cảm xúc của đời

Trang 12

sống nội tâm con người” [1, tr.480] Ngoài ra, trong những tác phẩm phê bình của mình, Lê Dục Tú khẳng định nhiều đoạn văn của Thạch Lam “cho đến hôm nay, vẫn có thể coi là những đoạn văn mẫu mực về cả cú pháp và hình ảnh” [1, tr.480]

Đến nay những công trình nghiên cứu về Thạch Lam vẫn chưa kết thúc Nhiều bài nghiên cứu về Thạch Lam vẫn còn được tiếp tục với nhiều khám phá mới đầy giá trị

Tuy nhiên, qua các tài liệu trên chúng tôi thấy rằng các công trình nghiên cứu chủ yếu trình bày một cách khái quát về sức mạnh truyền cảm của văn chương Thạch Lam mà không viết về phương tiện ngôn ngữ giúp Thạch Lam thể hiện tình cảm, thái độ của mình Vì thế, chúng tôi sẽ đi sâu vào việc nghiên cứu tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật Thạch Lam để bước đầu đặt một điểm nhìn mới đối với việc nghiên cứu những phương diện ngôn ngữ trong văn chương Thạch Lam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính biểu cảm ngôn ngữ nghệ thuật của Thạch Lam Cụ thể, chúng tôi nghiên cứu tính biểu cảm trong ngôn ngữ dựa trên ý nghĩa biểu thái của đơn vị từ vựng, nghĩa tình thái của phát ngôn và định ngữ nghệ thuật được sử dụng trong những truyện ngắn của nhà văn Thạch Lam

- Phạm vi nghiên cứu: các truyện ngắn của Thạch Lam

+ Gió đầu mùa (Tập truyện, NXB Đời nay, Hà Nội, 1937)

+ Nắng trong vườn (Tập truyện, NXB Đời nay, Hà Nội, 1938)

+ Sợi tóc (Tập truyện, NXB Đời nay, Hà Nội, 1942)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài “Tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật Thạch

Lam”, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 13

- Thống kê, khảo sát, định lượng và định tính

- Phân tích khái quát hóa

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là một khái niệm khá quen thuộc trong văn học, và

là đối tượng nghiên cứu của phong cách học Ngôn ngữ nghệ thuật theo định nghĩa của Đinh Trọng Lạc chính là “ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên)” [21, tr.127] Đồng thời, ông còn nhấn mạnh “Mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một phương tiện biểu hiện, mỗi yếu tố đó nhất thiết tham gia vào việc bộc lộ nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm”[21, tr.127- 128]

Còn theo Sách giáo khoa lớp 10, tập 2: “Ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn học) là ngôn ngữ gợi tình, gợi cảm được dùng trong văn bản nghệ thuật” (23, tr.97) Nó chủ yếu thực hiện chức năng thẩm mỹ: biểu hiện cái đẹp và khơi gợi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ nơi người đọc, người nghe

Qua đó, ta thấy các nhà nghiên cứu đã có ý thức nhấn mạnh về tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm 3 kiểu loại: ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ sân khấu Ở đây, chúng tôi nghiên cứu tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật: tự sự Cụ thể là các tác phẩm truyện ngắn của nhà văn Thạch Lam

1.1.1 Các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

* Khái niệm: “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (còn gọi là phong cách

ngôn ngữ văn học, phong cách ngôn ngữ văn chương) là phong cách ngôn

Trang 15

ngữ được sử dụng trong các loại hình văn chương, được xây dựng trên cơ sở

tư duy hình tượng” [25, tr.21]

* Đặc trưng:

Nói đến đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, chúng ta có thể bàn đến những công trình nghiên cứu của các tác giả: Cù Đình Tú, Hữu Đạt,… Cù Đình Tú cho rằng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật gồm 3 đặc trưng cơ bản: Tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hóa [34, tr.64 - tr.67] Còn trong công trình nghiên cứu của mình, Hữu Đạt lại nói đến phong cách ngôn ngữ nghệ thuật với những đặc điểm ngôn ngữ cơ bản: tính hình tượng, tính thẩm mỹ cao, tính sinh động và biểu cảm, tính tổng hợp [9, tr.246- tr.261] Từ các công trình nghiên cứu phong cách học và từ bài giảng phong cách học của thầy Bùi Trọng Ngoãn, chúng tôi đã tìm hiểu và tổng hợp được năm đặc trưng cơ bản cho phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Hệ quả của tính hình tượng là tính đa nghĩa trong ngôn ngữ nghệ thuật.Từ ngữ, câu văn, hình ảnh hoặc toàn bộ văn bản nghệ thuật có khả năng gợi ra nhiều nghĩa, nhiều tầng nghĩa khác nhau Gắn bó với tính đa nghĩa là tính hàm súc: lời ít mà ý sâu xa, rộng lớn Chỉ với vài từ hoặc câu ngắn gọn đã gợi ra rất nhiều hình tượng, ý nghĩa đa dạng, phong phú

Trang 16

- Tính thẩm mĩ:

Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật là khả năng biểu hiện cái đẹp, khơi gợi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ đối với người tiếp nhận Tính thẩm mỹ ở đây chính là bằng vẻ đẹp của sự tinh lọc, trau chuốt ngôn từ; vần điệu và kết cấu khéo léo lôi cuốn người đọc, người nghe vào khám phá những tầng nghĩa phong phú của ngôn ngữ Từ đó để độc giả cùng vui, cùng buồn,…như chính cảm xúc của người nói (người viết) tác phẩm Đồng thời nâng con người lên tầm cao mới với những khát vọng vươn tới cái đẹp, cái thiện

- Tính tổng hợp:

+ Sử dụng các phương tiện của phong cách khác

+ Tính đa dạng trong hình thức thể hiện ngôn ngữ

+ Sự tổng hợp giữa nghĩa biểu đạt của phương tiện ngôn ngữ và ý đồ nghệ thuật của tác giả

- Tính cá thể hay tính riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn

Ngôn ngữ nghệ thuật luôn luôn có khả năng thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng Cái riêng đó, được xuất phát từ cá tính sáng tạo hay cụ thể hơn là ở cách dùng từ, cách đặt câu, cách sử dụng hình ảnh của tác giả Ngoài ra, tính cá thể hóa còn được biểu lộ qua cách xây dựng nhân vật: lời nói, hành động và cách diễn đạt từng sự việc và tình huống trong truyện

- Tính truyền cảm

Tính truyền cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ làm cho độc giả cùng chung cảm xúc: vui, buồn, yêu thích, ghét bỏ,… như chính cảm xúc của người viết Từ đó, tạo nên sức mạnh lôi cuốn, giao hòa, giao cảm và gợi cảm xúc về vẻ đẹp mà tác giả thể hiện trong tác phẩm

Tính truyền cảm được thể hiện ở chỗ lựa chọn ngôn ngữ để miêu tả, bình giá đối tượng được nói đến trong tác phẩm Trong văn xuôi, cảm xúc thẩm mĩ

Trang 17

là kết quả của sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ tự sự, miêu tả và biểu cảm

1.1.2 Quan niệm về tính biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật

Qua tìm hiểu và xem xét các tài liệu nghiên cứu về văn chương Thạch Lam, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào hướng về một chủ đề chung là tính biểu cảm trong ngôn ngữ Do đó, để thực hiện đề tài này chúng tôi quan niệm tính biểu cảm trong ngôn ngữ phải bắt nguồn từ ý nghĩa biểu thái của đơn vị từ vựng, nghĩa tình thái của phát ngôn và cách dùng định ngữ theo mục đích tu từ tức là định ngữ nghệ thuật Ba yếu tố đó được sắp xếp theo trình tự: Từ vựng, ngữ pháp, phong cách

1.1.2.1 Nghĩa biểu thái của từ

Theo Đỗ Hữu Châu, từ bao giờ cũng gồm: Nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp [6, tr.97]

Trong đó, “Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ là những nhân tố đánh giá như to- nhỏ, mạnh yếu… nhân tố cảm xúc như dễ chịu, khó chịu, sợ hãi… nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét,…mà từ gợi ra cho người nói và người nghe” [6, tr.122] Đồng thời, ông còn phân tích thêm về sự chuyển hóa chức năng trong ngôn ngữ, tức là từ không mang nghĩa biểu thái

nhưng lại mang chức năng đó trong lời nói Ví dụ: từ “ôm” khi đứng riêng rẽ mang sắc thái biểu cảm trung hòa Nhưng khi được đặt trong câu: “Cả tuần chỉ biết ôm lấy cái máy vi tính” thì từ “ôm” đó đã trở thành từ mang ý nghĩa

biểu thái biểu thị sự chê trách Tuy nhiên ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu về những ý nghĩa biểu thái trong hệ thống ngôn ngữ, tức là những ý nghĩa biểu thái khi nó đứng riêng rẽ ngoài văn bản

Trang 18

1.1.2.2 Sắc thái biểu cảm của đơn vị từ vựng

“Sắc thái biểu cảm của đơn vị ngôn ngữ là nội dung thông tin bổ sung chỉ

rõ thái độ đánh giá tình cảm với đối tượng được nhận thức và được nói đến trong đơn vị ngôn ngữ” [25, tr.5]

Ta có thể chia các đơn vị ngôn ngữ thành hai loại:

- Trung hòa về sắc thái biểu cảm Ví dụ: đi, đứng, nói, ngồi, bút, thước,…

- Mang sắc thái biểu cảm (tốt- xấu, yêu thương- ghét bỏ, trân trọng- coi thường…) Ví dụ: dạ, thưa, giở giọng, nhăn nhó,…

Trong những sáng tác của Thạch Lam thường ưu tiên lựa chọn những đơn vị giàu sắc thái biểu cảm Để từ đó văn chương của ông luôn thẫm đẫm cảm xúc và thái độ của người viết

Để hiểu rõ hơn về nghĩa biểu thái và sắc thái biểu cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật, có thể tham khảo bảng sau:

Đơn vị từ vựng Nghĩa cơ sở

Nghĩa biểu thái/ Thông tin bổ sung

Sắc thái biểu cảm Màu sắc phong

cách

Đen

- Một màu cơ bản trong bảng màu,

là tông màu tối

-Trung hòa - Trung hòa về

phong cách

Đen giòn

- Một màu cơ bản trong bảng màu

- Nước da con người

- Đẹp khỏe mạnh, tạo cảm giác dễ chịu

- Có thiện cảm

- Khen

- Ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày

- Sử dụng trong văn chương

- Báo chí

Trang 19

Đen tuyền

- Một màu cơ bản trong bảng màu

- Tuyền là âm việt của toàn

- Nói về tóc, trang phục

- Bao phủ rộng khắp, toàn bộ

- Đẹp

- Có thiện cảm

- Khen

- Ngôn ngữ sinh hoạt

- Ngôn ngữ nghệ thuật

- Báo chí

Đen thui

- Một màu trong bảng màu cơ bản

- Đối tượng: da người hoặc đối tượng khác

- Đen cảm giác tối, bẩn

- Nói về cái xấu, cái u ám

- Sắc thái chê, tiêu cực

- Ngôn ngữ sinh hoạt

-Ngôn ngữ nghệ thuật

- Báo chí

Đen đúa

- Một màu trong bảng màu cơ bản

- Màu da con người

- Vừa đen, vừa cảm giác bẩn thỉu

- Xấu, chê - Ngôn ngữ sinh

hoạt

- Ngôn ngữ nghệ thuật

- Báo chí

1.1.2.3 Các yếu tố tình thái trong phát ngôn

Từ các quan niệm về tình thái trong ngôn ngữ, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hiệp đã có một cách định nghĩa khát quát và đầy đủ như sau:

“Hiểu theo nghĩa hẹp, tình thái chỉ xoay quanh các tham số về tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực, trên cơ sở nhận thức hay đạo nghĩa, và

Trang 20

tất cả được hiểu theo góc độ khách quan (tình thái trong lôgic) hay chủ quan (tình thái trong ngôn ngữ)

Hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm những kiểu ý nghĩa rất khác nhau:

- Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo

về độ tin cậy, về tính hợp pháp của hành động, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn), là điều bất ngờ, ngoài chờ đợi hay bình thường, đánh giá về tính khả năng, tính hiện thực của điều được thông báo,…

- Các ý nghĩa đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của

sự tình

- Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình , liên quan đến khung ngữ nghĩa- ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (ý nghĩa về thời, thể và các ý nghĩa được thể hiện bằng các vị từ tình thái, cho biết chủ thể có ý định, có khả năng, mong muốn thực hiện hành động…)

- Các ý nghĩa phản ánh đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh, xét theo quan điểm đánh giá của người nói

Ví dụ sự so sánh của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác,…

- Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành động ngôn từ, là thể hiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, ra lệnh, yêu cầu, xác nhận, bác bỏ, thề, khuyên, mời,…) xét ở bình diện liên nhân (interpersonal), thể hiện sự tác động qua lại giữa người nói và người đối thoại.” (15, tr.91- tr.92) Qua đó, Nguyễn Văn Hiệp khẳng định cách hiểu tình thái theo nghĩa rộng được Bybee diễn đạt một cách ngắn gọn

Trang 21

“tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” [(Dẫn theo 15, tr.92)]

Để thể hiện ý nghĩa tình thái hay là thái độ đánh giá của người nói đối với nội dung thông báo của phát ngôn cần sử dụng và phối hợp các phương tiện tình thái Phương tiện tình thái trong phát ngôn rất phong phú và đa dạng

Cụ thể, có thể liệt kê như sau:

*Phương tiện ngữ âm

Phương diện ngữ âm của phát ngôn, tức là các hiện tượng ngôn điệu,

trong đó người ta thường khảo sát, miêu tả về nhịp điệu của câu văn; về trọng

âm của từ, trọng âm của câu, tính chất mở khép của các âm tiết, đặc trưng bổng trầm của các nguyên âm Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tìm

hiểu về nhịp điệu và trọng âm của câu văn

- Nhịp điệu của câu văn

Theo từ điển Thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (14, tr.206): “Trong văn học, nhịp điệu là sự lặp lại cách quãng đều đặn và có sự thay đổi các hiện tượng ngôn ngữ, hình ảnh, mô típ,… nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra cảm giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật.”

Còn trong cuốn Ngữ điệu Tiếng Việt Sơ khảo, Đỗ Tiến Thắng đã đưa ra một khái niệm khá gọn và súc tích về ngữ điệu như sau: “Ngữ điệu là một hiện tượng ngôn điệu được tạo thành từ sự hoạt động của các nét khu biệt âm học tại những hình tiết nhất định trong câu Ngữ điệu làm cho câu được hiện thực hóa và trở thành đơn vị giao tiếp” [30, tr.60] Trong các hiện tượng ngôn điệu, nhịp điệu chính là một yếu tố thuộc vào ngữ điệu

Đối với thơ, mỗi thể thơ có một nhịp điệu riêng Dòng thơ lại có kiểu ngắt nhịp của luật thơ với độ dài ngắn, cân đối hoặc không cân đối khác nhau Nhịp điệu của thể thơ và luật thơ tạo thành cái nền nhịp điệu, trên đó nhà thơ

Trang 22

tạo dựng nên nhịp điệu riêng cho thơ mình gắn với các phương tiện ngữ nghĩa

Trong văn xuôi, nhịp điệu của tổ chức lời văn được hình thành trên cơ sở

sự phân tách văn bản thành chương hồi, đoạn Câu văn dài ngắn, khúc khuỷu được lặp lại cũng tạo nên nhịp điệu cảm nhận đời sống

Ví dụ: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Nếu đọc: Sài Khao /sương lấp đoàn quân mỏi -> Nghĩa là sương lấp ở

đây là sương che lấp đoàn quân

Nếu đọc: Sài Khao sương lấp/ đoàn quân mỏi -> Câu thơ sẽ thay đổi ý

nghĩa: sương lấp Sài Khao

Ta thấy cách ngắt nhịp thay đổi thì nghĩa thay đổi (Nghĩa tình thái)

- Trọng âm của câu (trọng âm của cụm từ): tức là nhấn giọng vào từ nào

Ví dụ: Đẹp nhỉ!

Nếu phát âm nhấn trọng âm vào từ “đẹp” thì người nói ở đây đang nhấn mạnh từ đẹp và thể hiện sự ngạc nhiên với ý nghĩa tích cực là khen ngợi Ngược lại, nếu phát âm nhấn trọng âm vào từ “nhỉ” bẳng cách biến âm

“đẹp nhẩy” thì người nói đang có mục đích mỉa mai, giễu cợt

Trang 23

Các phương tiện của ngữ âm là nhịp điệu và trọng âm dùng để biểu thị tình thái trong câu nói Trong các văn bản văn học thì để nhận diện phương tiện ngữ âm biểu thị tình thái đòi hỏi phải gắn với văn cảnh và các dấu câu

* Các phương tiện từ vựng

- Động từ tình thái:

Trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã ít nhiều nói tới động từ tình thái “Động từ tình thái theo ông thường biểu thị các ý nghĩa tình thái (có tính chất quá trình) khác nhau:

+ Ý nghĩa tình thái về sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải,…

+ Chỉ ý nghĩa tình thái về khả năng: có thể, không thể, chưa thể,…

+ Chỉ ý nghĩa tình thái về ý chí: định, toan,…

+ Chỉ ý nghĩa tình thái mong muốn: mong, mong muốn, mong ước, ước muốn,…

+ Chỉ ý nghĩa tình thái tiếp thu, chịu đựng: bị, mắc, phải, được,…

+ Chỉ ý nghĩa tình thái đánh giá, nhận định: cho, xem,thấy,…” [2, tr.92] Tuy nhiên, để phân tích và nghiên cứu động từ tình thái một cách kỹ lưỡng phải kể đến công trình nghiên cứu của Bùi Trọng Ngoãn, Nguyễn Văn Hiệp,… Bùi Trọng Ngoãn đã nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và khá hoàn chỉnh về động từ tình thái Tiếng Việt trên các bình diện kết học, bình diện nghĩa học và bình diện dụng học Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nguyễn Văn Hiệp đã nghiên cứu một cách cụ thể các phương tiện biểu thị tình thái trong Tiếng Việt Ông cho rằng “Các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ là: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ, hãy, đừng, chớ,…” [15, tr.140]

Ở đây, chúng tôi nghiên cứu động từ tình thái dựa trên hai tiêu chí nhận diện:

Trang 24

+ Nó phải đứng trước một động từ miêu tả Động từ miêu tả ấy phải làm

VD 2: Tôi cần uống một hớp nước

“cần” là động từ tình thái, đứng trước động từ miêu tả “uống” và cùng chủ thể “tôi” thể hiện ý nghĩa tình thái mong muốn

- Phó từ: “Phó từ là hư từ thường dùng kèm với thực từ (động từ, tính

từ) Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng trong hiện thực” [2, tr.124] Theo đó, Diệp Quang Ban phân loại phó từ như sau:

+ Nhóm phó từ chỉ thời gian: đã, từng, mới, sẽ, gặp,…

+ Nhóm phó từ so sánh và phó từ chỉ sự tiếp diễn: cũng, đều, vẫn, cứ, còn, nữa, cùng,…

+ Nhóm phó từ trình độ: rất, lắm, quá, cực kì, hơi, khí, khá,…

+ Nhóm phó từ phủ định, khẳng định: không, chẳng, chưa có,…

+ Nhóm phó từ sai khiến: hãy, đừng, chớ,…

Trang 25

+ Nhóm phò từ chỉ kết quả: mất, được, ra, đi,…

+ Nhóm phó từ chỉ tần số: thường, năng, ít, hiếm, luôn, luôn luôn, thường thường,…

+ Phó từ tác động: cho

+ Nhóm phó từ chỉ các ý nghĩa tình thái chủ quan hoặc khách quan (biểu thị diễn biến bất ngờ hoặc diễn biến với tốc độ nhanh, mạnh; biểu thị tình thái khẳng định ý chí của chủ thể đối với quá trình hay đặc trưng; biểu thị tình thái khẳng định hậu quả theo thái độ người nói)

Trong giáo trình ngữ pháp Tiếng Việt của cô Trương Thị Diễm cũng có

sự phận định khá rạch ròi về phó từ trong Tiếng Việt Khác với Diệp Quang Ban, cô còn kể thêm một loại phó từ khác là phó từ chỉ sự kết thúc hành động: xong, rồi,… [11, tr.27]

Qua tìm hiểu những bài nghiên cứu đó, chúng tôi tổng hợp và phân loại phó từ thành 2 loại chính: Tiền phó từ và hậu phó từ Tiền phó từ gồm có 7 nhóm nhỏ:

+ Những phó từ chỉ hiện tượng tương tự: đều, cũng, vẫn, cứ, lại,

VD: Con cũng nhớ mẹ

+ Phó từ chỉ tần số: thường, hay, năng, ít, hiếm,…

VD: Những lúc tôi làm sai, ba thường im lặng

+ Phó từ chỉ quan hệ thời gian: đã, sẽ, đang,…

VD: Tôi đã ăn cơm

Tôi đang ăn cơm Tôi sẽ ăn cơm Tôi vừa ăn cơm Tôi sắp ăn cơm Tôi mới ăn cơm

+ Phó từ chỉ tính chất, mức độ: rất, hơi, khá, quá,…

Trang 26

VD: Cô ấy rất đẹp

+ Phó từ chỉ phủ định: không, chưa, chẳng, chả,…

VD: Các chị ấy, ai chẳng giỏi

+ Phó từ khuyến lệnh (yêu cầu): hãy, đừng, chớ,…

VD: Em hãy tới đây và nhìn thẳng vào mắt anh

+ Phó từ hạn định: chỉ

VD: Tôi chỉ ăn một trái ổi

Một số hậu phó từ thường gặp: phó từ chỉ hướng, phó từ chỉ cách thức,…

Ví dụ: Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

Lấy : hậu phó từ chỉ cách thức

- Tiểu từ tình thái cuối câu

Theo Nguyễn Văn Hiệp, tiểu từ tình thái cuối câu là phương tiện quan trọng biểu thị tình thái trong Tiếng Việt “các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết,…” [15, tr.140]

Ví dụ: Mẹ biết thì chết -> Thể hiện thái độ

Mai nhớ đến à nghen -> Nhấn mạnh điều cần nói

- Trợ từ :

Theo Diệp Quang Ban “Trợ từ dùng trong câu biểu thị ý nghĩa tình thái, bằng cách nhấn mạnh vào từ, kết hợp từ,…có nội dung phản ánh liên quan với thực tại mà người nói muốn lưu ý người nghe” [2, tr.144] Đồng thời, ở công trình nghiên cứu của mình, tác giả còn phân tích rất kỹ lưỡng những trợ từ

thường được sử dụng như: thì, ngay, ngay cả, đúng, đúng là, cả, những, chỉ,…

Trong cuốn cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nguyễn Văn Hiệp xác

định cụ thể “các trợ từ: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, đã, mới, chỉ,…” [15, tr.140]

Trang 27

Qua đó, chúng tôi nhận thấy những trợ từ: ngay, chính, cả,… là những

đơn vị Tiếng Việt phụ trợ về tình thái và có tác dụng phân tách các thành phần câu nhằm mục đích nhấn mạnh từ, kết hợp từ, …có nội dung mà người nói muốn lưu ý người nghe

VD: Chính tôi cũng nhầm

- Tình thái ngữ

Theo Đỗ Thị Kim Liên, “Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, thường nêu lên thái độ, tình cảm cuả người nói về hiện thực được thể hiện trong câu nói hoặc để gọi đáp.” [20, tr.114]

Ở đây, chúng tôi nghiên cứu tình thái ngữ với vai trò là những đơn vị

Tiếng Việt thể hiện thái độ đánh giá của người nói: hình như, dường như, có

lẽ, phải chăng,…

VD: Hình như cô ấy rất buồn

Hình như thể hiện sự dự đoán về trạng thái cảm xúc của cô ấy

- Các quán ngữ tình thái:

“Quán ngữ tình thái có thể là sự kết hợp của tình thái từ, phụ từ, quan hệ

từ, động từ,…Nhóm này có số lượng khá lớn và xuất hiện nhiều trong cả văn bản nghệ thuật và cách nói hằng ngày.”[29, tr.5] Ví dụ: đã đành, mà thôi, ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào, tội gì, kể ra, làm như thế,…

VD: Thảo nào hôm qua tôi thấy cậu ấy hốt hoảng chạy đi -> Ý nghĩa

tình thái giải thích, lý giải

* Phương tiện ngữ pháp

Để biểu thị nghĩa tình thái trong Tiếng Việt, cần huy động sự phối hợp nhuần nhuyễn của ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Trong đó, ngữ pháp là phương tiện khá quan trọng bao gồm nhiều dạng thức khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu về ý nghĩa tình thái của các kết từ trong câu ghép và ý nghĩa tình thái kiểu câu rút gọn, câu đặc biệt,…

Trang 28

- Kết từ trong câu ghép

Theo Diệp Quang Ban “Kết từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa giữa các

khái niệm và đối tượng được phản ánh Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ

cú pháp giữa các thực từ (và hư từ) một cách tường minh” [2, tr.132]

Về khả năng kết hợp và chức năng cú pháp, kết từ được dùng nối kết các

từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp

Ở đây, chúng tôi quan tâm nghiên cứu kết từ trong câu ghép

+ Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại với nhau Vế câu trong câu ghép thường có cấu tạo giống câu đơn (là cụm chủ ngữ- vị ngữ) Giữa các vế câu ghép có những mối quan hệ nhất định [2, tr.151]

Trong những nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Hiệp cũng từng khẳng

định: “Kiểu câu điều kiện, giả định : nếu…thì, giá…thì, cứ…thì,…” đóng vai

trò quan trọng trong việc biểu thị tình thái Tiếng Viêt [15, tr.140]

Từ những nhận định đó, chúng tôi đi vào nghiên cứu một số kết từ thường được sử dụng trong câu ghép để biểu thị ý nghĩa tình thái:

+ Kết từ chỉ điều kiện- kết quả, giả thiết- kết quả: nếu- thì, hễ- thì, giá- thì, hễ mà- thì,…

VD: Giá mà tôi giỏi toán thì tôi đã thi vào y khoa

VD 1: Tuy chị ấy thông minh nhưng chị ấy lười

Tuy chị ấy không đẹp gái nhưng chị ấy khéo léo

-> Tuy A nhưng B

Trang 29

A có 2 khả năng: 1 Chị ấy thông minh (tích cực)

2 Không đẹp gái (tiêu cực)

VD 2: Dẫu chị ấy không cao nhưng chị ấy chơi bóng rổ rất tốt

-> Dẫu A nhưng B

Ở đây A chỉ có một khả năng bất lợi, tiêu cực

- Dùng kiểu câu tỉnh lược

“Câu tỉnh lược vốn là một phương thức rút gọn văn bản tối ưu, được dùng khi cần truyền đạt thông tin ở dạng ngắn gọn nhất” [29, tr.6] Khi loại câu tỉnh lược thành phần chủ ngữ được sử dụng, người nghe sẽ tự mình hình dung ra vai giao tiếp

VD: Bà ấy mệt quá Không lê được một bước Không kêu được một tiếng Không thở được một hơi

: Duy trì chủ đề, yêu cầu người nghe luôn định hướng vào “bà ấy” Tuy nhiên, hiện tượng sử dụng câu tỉnh lược cần sử dụng cho phù hợp với hoàn cảnh Bởi chỉ có người ở vai giao tiếp cao hơn hoặc ngang bằng mới

có thể nói trống Từ đó, có thể đánh giá thái độ, tình cảm của người nói

- Dùng kiểu câu đặc biệt:

“Câu đặc biệt là loại câu không cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ Câu đơn đặc biệt được tạo bởi một từ, một cụm từ chính phụ hoặc một cụm từ đẳng lập, không chứa cụm từ có quan hệ chủ vị làm nòng cốt câu” [11, tr.55] Còn câu ghép đặc biệt là câu ghép mà các mệnh đề là các nòng cốt đặc biệt Nói một cách ngắn gọn, câu đặc biệt là câu nhấn mạnh thông tin vào phần nòng cốt mạch văn bản

VD 1: Đây là nhà thầy tôi -> Câu đầy đủ

Nhà thầy tôi là cái nhà màu đỏ này này

-> Nhà thầy tôi (Câu đơn đặc biệt)

VD 2: Hễ mưa thì úng

Trang 30

-> Đây là câu ghép đặc biệt

trình Thành phần câu tiếng Việt, các tác giả này viết: “Theo quá trình phân

xuất và nhận diện câu của mình, chúng tôi xác định sự tồn tại của một thành phần mà chúng tôi gọi là định ngữ câu, xem nó là loại thành phần phụ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị những ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu” (Dẫn theo [22, tr.1])

Nguyễn Văn Tu cho chúng ta một cách hiểu khác, “Định ngữ là thành phần phụ của cụm danh từ trong câu, có chức năng bổ sung thêm cho thành phần chính bằng quan hệ phụ thuộc, chỉ ra các thuộc tính, tính chất của người, vật, sự vật, hiện tượng do danh từ làm thành phần chính gọi tên” (Dẫn theo [22, tr.1])

Cùng ý kiến với Nguyễn Văn Tu, Diệp Quang Ban cho rằng: “Định ngữ

là thành phần phụ của từ đi kèm danh từ và nêu lên những đặc trưng của vật

do danh từ ấy biểu thị” (Dẫn theo [22, tr.1]) Đối tượng mà chúng tôi quan tâm ở đây chính là định ngữ được xác định theo quan niệm này

Định ngữ nghệ thuật được hiểu là “một phương thức chuyển nghĩa, trong

đó, một từ (hoặc một cụm từ) đóng vai trò phụ nghĩa cho một từ (hoặc cụm từ) khác nhằm làm nổi bật một đặc điểm nào đó của đối tượng để tạo nên ấn tượng thẩm mĩ” [14, tr.104]

Có thể xem khái niệm định ngữ nghệ thuật và định ngữ thường không hề

khác nhau về cấu tạo cũng như cương vị ngữ pháp trong câu Điểm phân biệt

Trang 31

cơ bản nhất là ở chỗ: “định ngữ thường chỉ có ý nghĩa xác định đặc điểm vốn

có của sự vật, hiện tượng, không đem lại hiệu quả thẩm mĩ; định ngữ nghệ thuật mang lại một ý nghĩa mới cho sự vật, hiện tượng, không chỉ ý nghĩa vốn

có mà còn ý nghĩa có thể có, tạo cảm xúc cho người đọc, người nghe” (14, tr.104)

Còn trong Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “Định ngữ nghệ thuật là phương thức tu từ có chức năng định ngữ nhưng giàu màu sắc biểu cảm tu từ” [16, tr.80] Đây là quan điểm chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu về định ngữ nghệ thuật

VD: Quyển sách của tôi

ĐN ngữ pháp ngữ nghĩa

Cô gái mập mạp ấy là bạn của tôi

ĐN miêu tả

Đất nước thân yêu của chúng ta đã có bốn nghìn năm lịch sử

-> “thân yêu” chính là định ngữ nghệ thuật, “của chúng ta” là định ngữ

ngữ pháp ngữ nghĩa

Ta thấy, định ngữ nghệ thuật về mặt cấu trúc ngữ pháp là yếu tố không cần phải có; nhưng nó lại được sử dụng theo ý đồ nghệ thuật nhằm thể hiện thái độ, đánh giá của tác giả

1.2 Giới thiệu chung về Thạch Lam và sáng tác của Thạch Lam

Trang 32

Quê nội ông ở làng Cẩm Phô, Hội An, Quảng Nam Quê ngoại Cẩm Giàng, Hải Dương

Thuở nhỏ, Thạch Lam sống với gia đình ở quê ngoại, sau đó theo cha chuyển sang Thái Bình tiếp tục bậc tiểu học Lớn lên, ông cùng gia đình chuyển ra Hà Nội, học trường Canh Nông, rồi trường Trung học Albert Saraut

Thạch Lam bắt đầu hoạt động văn học từ 1932, thành viên của Tự lực văn đoàn Ông viết truyện ngắn, truyện dài, bút ký, tiểu luận, phê bình văn

học, thời đàm; tham gia biên tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay Hầu

hết các sáng tác của Thạch Lam gồm truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, tiểu luận đều được đăng báo, trước khi in thành sách

Từ năm 1940, Thạch Lam bị bệnh lao và mất ngày 28-6-1942 tại Hà Nội

1.2.2 Các sáng tác của Thạch Lam

Tác phẩm chính: Các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942), tiểu thuyết Ngày mới (1939), tập tiểu luận Theo dòng (1941), tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943)

Trong bài giới thiệu tập truyện ngắn Gió đầu mùa, xuất bản trước cách

mạng tháng Tám, Thạch Lam viết :

"Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc

sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn"

Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là "Tuyên ngôn văn học" của Thạch Lam

Trang 33

CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VỀ TÍNH BIỂU CẢM TRONG NGÔN

NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN THẠCH LAM

Macxim Gorki đã từng khẳng định “Ngôn ngữ là yếu tố thức nhất của văn học” Cho nên ngôn ngữ luôn luôn đóng vai trò thể hiện cá tính sáng tạo,

phong cách, tài năng của nhà văn Thạch Lam là cây bút đặc biệt trong cách

sử dụng ngôn ngữ, được Nguyễn Tuân nhận xét bằng những mỹ từ như sau:

“Trau chuốt mà không cực kỳ sáo rỗng” và “làm cho tiếng nói Việt Nam gọn ghẽ đi, co duỗi thêm, mềm mại ra và tươi đậm hơn” (Dẫn theo [1, tr.31]) Và

để hiểu thêm về chuẩn mực ngôn ngữ ấy với đặc trưng về tính biểu cảm, chúng tôi đã lựa chọn ra 5 truyện ngắn của Thạch Lam để tiến hành khảo sát Bao gồm:

- Đứa con đầu lòng

- Nhà mẹ Lê

- Một cơn giận

- Hai đứa trẻ

- Sợi tóc

Nên giới thuyết như sau: về mặt lý thuyết

Tình thái trong phát ngôn đã được phân tích như đã kể ở trên Nhưng trong khuôn khổ của 1 Khóa luận tốt nghiệp và trong giới hạn của năng lực cá nhân chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số vấn đề sau:

* Nghĩa biểu thái, sắc thái biểu cảm của đơn vị từ vựng

Trang 34

Thầy dặn 2 thao tác đầu người ta gọi là phân tích định tính Thao tác thứ

3 gọi là phân tích định lượng

2.1 Khảo sát việc lựa chọn những đơn vị từ vựng giàu sắc thái biểu cảm trong câu văn Thạch Lam

Các sáng tác của Thạch Lam sử dụng những đơn vị giàu sắc thái biểu cảm với tần số dày đặc là 318 lần, chiếm tỉ lệ xuất hiện ở 100 % trang truyện ngắn Những đơn vị đó, được Thạch Lam tinh lọc một cách cầu kỳ để tạo nên những câu văn chuẩn và giàu sắc thái biểu cảm

(1) Rõ ràng

Trong câu: Tân nhớ lại một cách rõ ràng những giờ chàng chờ đợi

trong căn phòng ở hộ sinh viện

(Đứa con đầu lòng)

Rõ ràng: yếu tố đánh giá, mang nghĩa “Rõ đến mức ai cũng có thể

thấy, có thể nhận biết được một cách dễ dàng” [28, tr.1029]

“Rõ ràng” ở đây là yếu tố đánh giá, thuộc thành phần bổ ngữ, để thể

hiện cho nỗi nhớ của nhân vật Tân

Ta thử thay bằng những từ ngữ có ý nghĩa tương đương

- “rạch ròi”: “rành mạch, có sự phân biệt rõ ràng, đâu ra đấy”[28,

tr.1015]

- “chính xác”: “hoàn toàn đúng, không sai một chút nào” [28, tr.214]

Những từ này mang nghĩa tuyệt đối, dùng để đánh giá một sự việc, sự vật nào đó, không thể dùng nó để diễn tả cảm giác của con người Bởi không

Trang 35

thể lý giải cảm xúc chính xác hay rạch ròi được Cảm xúc, sự chờ đợi của con người chỉ có thể được diễn ra một cách rõ ràng trong tâm trí của nhân vật, để người đọc cùng chia sẻ, thấu hiểu với nhân vật

Thạch Lam lựa chọn từ “rõ ràng” có tác dụng gợi vô cùng lớn Việc

mà Tân đang chờ đợi là việc quan trọng Bởi lẽ mọi khoảnh khắc trôi qua đều

in đậm rõ trong đầu Tân Tân chờ và Tân ghi nhận từng cái thời giờ đó nên tất

cả mới rõ ràng như thế Đặc biệt, đó còn là sự chậm chạp, lê thê của thời gian qua cảm nhận của sự chờ đợi

(2) Âu yếm:

Trong câu: Rồi nàng bế con lên lòng, âu yếm cho bú

(Đứa con đầu lòng)

Âu yếm: yếu tố đánh giá; là thành phần vị ngữ “biểu lộ tình thương

yêu, trìu mến bằng dáng điệu, cử chỉ, giọng nói” [28, tr.25]

Ta thử thay bằng một số từ khác có ý nghĩa tương đương:

- “Vỗ về”: “vỗ nhẹ vào người, để tỏ tình cảm âu yếm, nâng niu” và

“làm yên lòng, làm dịu đi những nỗi buồn phiền hay bất bình, bằng những lời

lẽ khuyên nhủ dịu dàng” [28, tr.1388] Ta thấy từ vỗ về cũng bày tỏ tình cảm yêu thương Nhưng từ này chỉ phù hợp khi thể hiện sự an ủi, làm dịu đi điều

gì đó không may Hoặc nếu nó được sử dụng cho đứa trẻ trong câu trên thì chỉ phù hợp khi đứa trẻ đang khóc

- “Dịu dàng”: “tỏ ra dịu, có tác dụng gây cảm giác dễ chịu, tác động êm

nhẹ đến các giác quan hoặc đến tinh thần” [28, tr.332] Và từ dịu dàng chỉ thể hiện sắc thái biểu cảm hành động, thái độ của người mẹ chứ chưa thể hiện sự quan tâm, yêu thương, nâng niu đứa con của mình

Từ âu yếm được sử dụng giàu sắc thái biểu cảm để gợi lên ý nghĩa tình

thái là sự yêu thương, săn sóc và nâu niu đứa con bé bỏng của mình Trong sự

âu yếm đó còn có niềm vui, niềm hạnh phúc của người mẹ

Trang 36

(3) Tồi tàn:

Trong câu: Đoàn thôn là một cái phố chợ tồi tàn gần ngay một huyện lỵ

nhỏ ở trung châu

(Nhà mẹ Lê)

Tồi tàn: yếu tố đánh giá; bổ sung nghĩa cho cụm danh từ “cái phố chợ”,

mang nghĩa “quá tồi, đến mức thảm hại”[28, tr.1251]

Ta thử thay nó bằng một số từ ngữ có ý nghĩa tương đương:

- “Nghèo khó”: “ nghèo và thiếu thốn đủ thứ” [28, tr.835]

- “Tiêu điều”: quang cảnh xơ xác, vắng vẻ và buồn tẻ, gây cảm giác

hoang tàn

Những từ ngữ được thay thế, không đa dạng giá trị biểu cảm nhiều như

“tồi tàn” hoặc sẽ mang một nét nghĩa khác, không phù hợp trong hoàn cảnh

nói đến phố chợ trong nhà mẹ Lê

Từ “tồi tàn” hội tụ đầy đủ những nét nghĩa, thể hiện cuộc sống nghèo

nàn, thảm hại của những người sống ở đây Từ đó vừa gợi hình, vừa gợi cảm giác thương xót từ người đọc

Đói: mang nghĩa “có cảm giác cồn cào, khó chịu khi đang thấy cần ăn

mà chưa được ăn hoặc chưa được ăn đủ.”

Rét : -“ Có nhiệt độ thấp đến mức cơ thể cảm thấy khó chịu

- Có cảm giác lạnh trong người, thường khiến cho phải run lên.” [28, tr.10250]

Trang 37

Ăn uống và mặc là nhu cầu thiết yếu để duy trì sự sống của con người

Nhưng ở đây từ “đói rét” được sử dụng đã diễn tả một sự thiếu thốn đến tận

cùng mà không nên thay bằng từ ngữ nào khác, sẽ giảm đi tính biểu cảm khi diễn tả hoàn cảnh của nhân vật

+ Khổ sở: yếu tố đánh giá, làm thành phần vị ngữ trong câu, thể hiện sự

Hai từ được ghép với nhau tạo nên cảm giác thiếu thốn đến tận cùng: đói

vì không có đồ ăn, lạnh vì không có áo mặc Và sự khổ cực đó được tăng lên bởi yếu tố đánh giá đi kèm nó là đau đớn Con người ở đây không chỉ đáng thương vì sự thiếu thốn mà còn vì sự đau đớn về tinh thần Từ đó gợi lên cảm giác thương cảm, xót xa cho những những con người nơi phố huyện

(5) Rầm rập: yếu tố đánh giá,

Trong câu: Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ

thấy bác Đối và một người nữa khiêng bác Lê vào trong nhà

(Nhà mẹ Lê)

Rầm rập: yếu tố đánh giá, là định ngữ, bổ sung nghĩa cho tiếng chân “từ

mô phỏng tiếng như tiếng chân bước nhanh, mạnh, dồn dập của cả một đoàn người”.[28, tr.1022]

Nếu thay “rầm rập” bằng những từ ngữ:

- “Rầm rộ”: “từ gợi tả vẻ hoạt động mạnh mẽ, có khí thế của một số

đông lôi cuốn nhau” [28, tr.1022] Từ này đặt trong ngữ cảnh trên không phù hợp vì nó mang nghĩa tích cực thể hiện sự vui vẻ, nồng nhiệt

Trang 38

- “Rầm rầm”: “diễn ra với tốc độ cao và liên tục, như không thể dùng,

không thể ngăn nổi” [28, tr.1022] Từ này cũng không diễn tả được hết sự cấp bách, nguy kịch khi có người bị thương Ngược lại, nó chỉ thể hiện sự hùng

hổ như một trận chiến

Từ “rầm rập” được sử dụng nhằm nhấn mạnh không khí bức bách, nguy

kịch, hốt hoảng vì một điều bất ngờ và liên quan đến an nguy của ai đó

(6) Câm họng

Lải nhải

Trong câu: Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa

(Một cơn giận)

Câm họng : mang nghĩa “đành phải im, do lâm vào thế yếu” [28, tr.156]

Nếu thay bằng từ: im lặng thì nó chỉ mang sắc thái biểu cảm trung tính,

không gợi lên điều gì đặc biệt Còn “câm họng” thể hiện sắc thái ghét bỏ, coi

thường người nghe

Lải nhải: yếu tố thái độ, mang nghĩa “nói đi, nói lại gây nhàm chán, khó

Trang 39

hối hận, sự xót xa, cảm thương và cao hơn là tội lỗi anh đã gây ra vì sự giận

dữ ích kỷ của mình

(8) Thảo

Trong câu: A, em Liên thảo nhỉ

(Hai đứa trẻ)

Thảo: yếu tố đánh giá, mang nghĩa “rộng rãi, có lòng tốt, hay chia sẻ,

nhường nhịn cho người khác” [28, tr.1138]

Ở đây, người nói bộc lộ thái độ tích cực, vui vẻ khen ngợi sự rộng rãi của Liên

(9) Muộn:

Trong câu: Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?

(Hai đứa trẻ)

Muộn: yếu tố đánh giá “sau thời điểm quy định hay sau thời điểm

thường lệ tương đối lâu” [28, tr.804] Ngoài sự đánh giá đơn thuần về sự chậm trễ, đây còn là sự mong ngóng đợi chờ những người lính huyện ra để bán được hàng

(10) Lẳng lơ

Trong câu: Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi

(Sợi tóc)

Lẳng lơ: yếu tố đánh giá, mang nghĩa “có biểu hiện tỏ ra khêu gợi, thiếu

đứng đắn trong quan hệ tiếp xúc nam nữ” [28, tr.680]

2.2 Khảo sát các yếu tố tình thái trong câu văn Thạch Lam

2.2.1 Động từ tình thái

Động từ tình thái là yếu tố tình thái mang đậm giá trị biểu cảm trong câu văn Thạch Lam Qua khảo sát, chúng tôi phát hiện được một số động từ tình thái như sau:

Trang 40

(1) “muốn”

Trong câu: Lúc chàng ngửng lên nhìn, chàng thấy vợ ngượng nghịu

muốn giấu sự vui mừng làm ửng hồng đôi gò má

(Đứa con đầu lòng)

“Muốn” được hiểu: - “Cảm thấy có một sự đòi hỏi được làm một việc gì

hoặc có cái gì

- Có dấu hiệu cho thấy sắp chuyển sang một trạng thái khác.” [28, tr.804]

“Muốn” và “giấu” cùng chủ thể là người vợ “Giấu” là động từ miêu tả,

bổ ngữ trực tiếp cho “muốn” Do đó,“muốn” được sử dụng với ý nghĩa nhấn

mạnh sự đòi hỏi, cố gắng che giấu đi niềm vui sướng, sự hạnh phúc Đồng thời đó còn là sự kìm nén đi cái trạng thái ngượng nghịu trước hành động yêu thương của chồng

(2) phải

Trong câu: Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét,bác ta đã

phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng

(Nhà mẹ Lê)

Ta thấy, “phải” và động từ miêu tả “trở dậy” cùng chủ thể là: bác ĐTTT

“phải” mang nghĩa theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “ở trong điều kiện

bắt buộc, không thể không làm, không thể khác” [28, tr.945] Nghĩa tình thái thể hiện ở đây là nhấn mạnh hành động, tình thế bắt buộc của bác Lê dù trong thời gian sáng tinh sương hay trong bất kỳ điều kiện thời tiết khắc nghiệt nào

vẫn trở dậy đi làm mướn kiếm tiền nuôi con Qua đó, gợi lên cuộc sống nghèo

đói, thiếu thốn của gia đình bác Lê Và người mẹ ấy với tình cảm yêu thương con, vẫn quyết tâm, vẫn nghị lực bất chấp mọi khó khăn, trở ngại để cho con những bữa ăn no

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w