1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng thờ cúng cô hồn ở các làng đánh cá ven biển đà nẵng

77 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, Đà Nẵng là một thành phố phát triển năng động, trở thành thành phố lớn nhất ở khu vực miền Trung, cơn lốc của nền kinh tế thị trường đã và đang làm mai một những giá trị văn hó

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ -

Đề tài:

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÔ HỒN

Ở CÁC LÀNG ĐÁNH CÁ VEN BIỂN ĐÀ NẴNG

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phượng

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC LÀNG ĐÁNH CÁ VEN BIỂN ĐÀ NẴNG VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÔ HỒN Ở VIỆT NAM 7

1.1 Tổng quan về các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng 7

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 7

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 11

1.1.3 Đời sống văn hóa và dân cư 15

1.2 Khái quát chung về tín ngưỡng thờ cúng cô hồn ở Việt Nam 17

1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng, Cô hồn 17

1.2.1.1 Tín ngưỡng 17

1.2.1.2 Cô hồn 18

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển 18

1.3 Vai trò, ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn ở Việt Nam 19

CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÔ HỒN TRUYỀN THỐNG Ở CÁC LÀNG ĐÁNH CÁ VEN BIỂN ĐÀ NẴNG 21

2.1 Quan niệm của cư dân ven biển Đà Nẵng về Cô hồn và thờ cúng Cô hồn 21

2.2 Biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn 22

2.2.1 Cơ sở thờ tự 23

2.2.1.1 Phạm vi gia đình 23

2.2.1.2 Phạm vi làng vạn 26

2.2.2 Thời gian thờ cúng 28

Trang 3

2.2.3 Nghi lễ thờ cúng 30

Trang 4

2.2.3.1 Đối với phạm vi gia đình 30

2.2.3.2 Phạm vi làng vạn 33

2.3 Giá trị của tín ngƣỡng thờ cúng Cô hồn trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm linh ở các làng chài ven biển Đà Nẵng 40

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÔ HỒN Ở CÁC LÀNG ĐÁNH CÁ VEN BIỂN ĐÀ NẴNG 43

3.1 Quan điểm về tín ngƣỡng thờ cúng Cô hồn ở Đà Nẵng 43

3.1.1 Quan điểm của cư dân địa phương đối với tín ngưỡng thờ cúng cô hồn 43

3.1.2 Quan điểm của các cấp lãnh đạo đối với tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn 44

3.2 Thực trạng bảo tồn và phát triển tín ngƣỡng thờ cúng Cô hồn ở các làng chài ven biển Đà Nẵng hiện nay 46

3.2.1 Nhiều cơ sở thờ tự được tu sửa 46

3.2.2 Tín ngưỡng đang bị chi phối bởi nền kinh tế thị trường và lối sống đô thị hóa 46

3.2.3 Chưa được sự hướng dẫn, quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền địa phương 49

3.2.4 Hiện tượng mê tín dị đoan của cư dân ven biển 50

3.3 Giải pháp bảo tồn, phát huy tín ngƣỡng thờ cúng Cô hồn ở các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng 50

3.3.1 Bảo tồn và nâng cấp cơ sở thờ tự 50

3.3.2 Nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển tín ngưỡng truyền thống của cư dân địa phương 51

3.3.3 Tăng cường vai trò của chính quyền địa phương để gìn giữ nét đặc sắc của tín ngưỡng 52

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa Việt Nam được hình thành dựa trên văn hóa của 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Ngoài văn hóa Việt - Mường mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hóa đặc sắc khác như Tà - Nùng, Thái, Chàm, Hoa - Ngái, Môn - Khmer, H‟Mông - Dao, nhất là văn hóa các dân tộc Tây Nguyên giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện cuả một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên

Trong dòng chảy văn hóa đa màu sắc đó, tín ngưỡng trở thành một điểm nhấn, đóng góp to lớn trong mạch nguồn văn hóa Việt Nam nói chung Từ thuở xa xưa nhân dân trên đất Việt Nam đã thờ rất nhiều thần linh, các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất là các hiện tượng thiên nhiên và xã hội chưa thể giải thích được Nói đến tín ngưỡng thì không thể nào bỏ qua được quan niệm thờ cúng trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của cư dân ven biển, trong đó có tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn

Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn là một hình thức tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời trong quần chúng nhân dân gắn với quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” Tín ngưỡng này mang nhiều lớp ý nghĩa khác, đó là tư tưởng cầu an, cầu mùa của đại bộ phận cư dân vùng ven biển, luôn phải đối mặt với những rủi ro, bất trắc trong nghề nghiệp và trong cuộc sống Đó là sự tri ân đến các bậc tiền nhân đã có công khai phá, gìn giữ và xây dựng làng xóm ngay từ những buổi đầu, thể hiện bản tính của người Việt - trọng tình, thương người, biết xót thương cho những số phận bất hạnh

Đà Nẵng là một thành phố thuộc vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam Đây được xem trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên Nói đến Đà Nẵng là chúng ta có thể hình dung ngay rằng đó là một thành phố tuyệt đẹp bên sông Hàn, bên bờ biển Đông với những nét quyến rũ chưa từng có ở các đô thị biển khác… Thiên nhiên ưu đãi cho Đà Nẵng nằm giữa vùng kế cận ba di sản văn hoá thế giới: Cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn, chính vị trí này đã làm nổi rõ vai trò của thành phố Đà nẵng trong khu vực, đó là nơi đón tiếp, phục vụ, trung chuyển khách Không chỉ vậy,

Trang 6

thành phố Đà Nẵng còn có nhiều danh thắng tuyệt đẹp đến nỗi du khách khó có thể nào quên được sau khi đã đến thăm thành phố này Với đường bờ biển dài 92km, cát trắng mịn, nước trong xanh, biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes của Mỹ xếp vào danh sách 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh Vì vậy, loại hình du lịch biển trở thành điểm hấp dẫn, thu hút du khách đến với thành phố Đà Nẵng Cho nên, việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống như tín ngưỡng, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng của cư dân làng biển trở thành một yếu tố góp phần to lớn vào việc phát triển hơn nữa du lịch biển nơi đây Đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn rất điển hình của cư dân ven biển Đà Nẵng

Tín ngưỡng này xuất phát từ đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Ngày xưa, cư dân ven biển Đà Nẵng làm nghề đánh bắt hải sản trên biển với những công cụ hết sức đơn sơ, phương tiện chủ yếu để hành nghề là thuyền nan, thuyền buồm, thuyền chèo nên lúc gặp sóng to gió lớn, bão tố không đủ sức chống chọi Nếu gọi thần Nam Hải ứng cứu cũng hết sức hy hữu, không phải lúc nào khấn nguyện thần cũng có mặt để cứu giúp vì vậy họ cần một chỗ dựa tinh thần, một sức mạnh luôn bên cạnh mình để giúp vượt qua sự khắc nghiệt của tự nhiên và đem lại

sự bội thu khi ra khơi Chính vì vậy những Cô hồn xung quanh khu vực đó là điểm tựa để tạo động lực giúp họ vượt qua khó khăn, phù hộ cho ngư dân có cuộc sống

ấm no

Hiện nay, Đà Nẵng là một thành phố phát triển năng động, trở thành thành phố lớn nhất ở khu vực miền Trung, cơn lốc của nền kinh tế thị trường đã và đang làm mai một những giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có văn hóa các làng chài ven biển và cùng với tín ngưỡng cô hồn Vì vậy việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng

cô hồn ven biển sẽ góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, giáo dục lối sống cho các tầng lớp dân cư ven biển, đặc biệt là thế hệ trẻ, mở ra hướng mới cho việc phát triển du lịch của thành phố và cũng là nguồn tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tín ngƣỡng thờ cúng

Cô hồn ở các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng” làm đề tài khóa luận của mình

Đây là một đề tài mà từ trước cho tới giờ chưa ai đi nghiên cứu chuyên sâu ở riêng

Trang 7

khu vực Đà Nẵng, vì vậy hứa hẹn sẽ giúp ích được một phần nào đó cho những ai quan tâm đến vấn đề này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng truyền thống Việt

Nam như: Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San (Nxb Văn hóa Dân tộc); Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam (Quyển thượng, Quyển hạ) của Toan

Ánh (Nxb Trẻ) đã trình bày về các phong tục, tập quán, lễ nghi, hội hè, đình đám của con người Việt Nam qua 4.000 năm lịch sử Qua đó ta có dịp ôn nhớ lại lai lịch

của tổ tiên trên con đường dựng nước và giữ nước; Tín ngưỡng và văn hóa tín

ngưỡng ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (Nxb Trẻ) là tác phẩm được biên soạn, sưu

tầm rất công phu nói về tín ngưỡng, các loại hình tín ngưỡng cũng như văn hóa tín ngưỡng của người dân Việt Nam nói chung và khu vực miền Trung nói riêng Trong

đó có cả vùng duyên hải miền Trung và di sản văn hóa thế giới - Hội An Các tác giả trong công trình trên đều khẳng định loại hình tín ngưỡng cô hồn này trong sự tồn tại của tín ngưỡng Việt Nam

Liên quan trực tiếp đến đề tài, có các công trình: Văn hóa dân gian làng ven

biển của Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội (2000); Cuốn Chuyện làng nghề đất Quảng của Phạm Hữu Đăng Dật (Nxb Đà Nẵng); Tín ngưỡng của cư dân phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng của Phạm Thị

Lấm (2013), khóa luận tốt nghiệp đại học, khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư phạm

Đà Nẵng;Tìm hiểu về các làng chài đánh cá ven biển Đà Nẵng từ khi thành lập đến nữa đầu thế kỉ XIX của Lương Thị Thùy (2008), khóa luận tốt nghiệp đại học, khoa

Lịch Sử, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và đặc biệt trong công trình Tín ngưỡng

của ngư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng, NXB của tác giả Nguyễn Xuân

Hương đã đề cập đến các tín ngưỡng, lễ hội của cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng như: Tục thờ cúng Cá Ông, lễ hội Cầu Ngư, hát chèo đưa linh, tục thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Cô hồn/Cô bác, tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ Nữ thần

Các tài liệu trên đây đã đề cập ít nhiều đến vấn đề tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của cư dân ven biển Đà Nẵng ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của cư dân ven biển Đà Nẵng Mặc dù vậy, những tài liệu

Trang 8

nghiên cứu nói trên luôn là những tài liệu quan trọng giúp chúng tôi tiếp tục đi sâu

nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học “Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn

ở các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng”

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn ở các làng đánh cá ven biển

Đà Nẵng” nhằm khắc họa bức tranh và đưa ra cái nhìn tổng thể về tín ngưỡng thờ

cúng cô hồn của cư dân ven biển Đà Nẵng Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng giúp các nhà quản lý đưa ra định hướng bảo tồn và phát huy cho

hệ thống tín ngưỡng truyền thống này Đà Nẵng

Bên cạnh đó, đề tài mong muốn sẽ giúp cư dân ve biển hiểu được ý nghĩa của tín ngưỡng này để biết trân trọng, khôi phục, gìn giữ và phát huy tín ngưỡng truyền thống văn hóa của quê hương

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của cư dân ven biển thành phố

Đà Nẵng, trong đó tập trung vào các vai trò, ý nghĩa của tín ngưỡng này đối với cư dân nơi đây Bên cạnh đó đề ra chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Do điều kiện hạn hẹp về thời gian cũng như

yêu cầu về kiến thức sâu rộng, sự đầu tư công sức và tiếp cận thực tế nên chúng tôi chỉ tìm hiểu một số vấn đề về tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng như sau:

+ Giới thiệu tổng quan về Thành phố Đà nẵng để đưa ra cái nhìn tổng quát

về bối cảnh và các nhân tố tác động ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của cư dân ven biển Đà Nẵng

+ Nghiên cứu những biểu hiện của tín ngưỡng này, rút ra đặc điểm chung tiêu biểu Từ đó, thấy được vị trí, vai trò và ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Cô hồn đối với đời sống kinh tế, xã hội và tâm linh của mảnh đất và con người ở đây

+ Đề ra những giải pháp giữ gìn, bảo tồn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng

Cô hồn của các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng

Trang 9

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Để đi sâu vào nghiên cứu tín ngưỡng Cô

hồn ở các làng đánh cá ven biển Thành phố Đà Nẵng, tác giả đã chọn ba làng, đại diện cho 3 quận ven biển là: Nam Ô (quận Liên Chiểu), Thanh Khê (quận Thanh Khê), Mân Quang (quận Sơn Trà)

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn

ở các làng ven biển Đà Nẵng từ khi ra đời đến nay

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng nguồn tài liệu sau:

- Tài liệu thành văn: Các công trình nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp, bài

viết, sách báo, tạp chí,…

- Tài liệu điền dã: thu thập được thông qua việc đi thực tế, phỏng vấn Đây là

nguồn tài liệu quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, đó là:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm

phân tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp chủ thể khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra

- Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều nguồn

khác nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau vì thế các tài liệu đó cần được thống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt hiệu quả cao

- Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy được các

số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểm nghiệm độ chính xác để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài

- Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra những câu hỏi đối thoại liên quan đến các

tín ngưỡng của làng đối với người dân địa phương, chính quyền địa phương, sở văn hóa,… để thu thập thêm thông tin

Trang 10

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, chúng

tôi sử dụng phương pháp này để so sánh, đối chiếu giữa cách thức tổ chức, thờ cũng, số lượng các tín ngưỡng thời gian trước với hiện nay

6 Đóng góp của đề tài

- Về mặt khoa học:

+ Đây là công trình chuyên khảo về tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng nên đóng góp rất lớn của đề tài là khảo cứu một cách toàn diện về về tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng Đề tài đã hệ thống hóa và đi sâu tìm hiểu tín ngưỡng này, bao gồm: truyền thuyết, lễ hội, nghi lễ thờ cúng, cơ sở thờ tự…

+ Đề tài là kết quả của một quá trình tìm kiếm, thu thập và tổng hợp được hệ thống tài liệu có liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn Qua đó, đề tài đã tiến hành xây dựng một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, tinh thần của về tín ngưỡng thờ Cô hồn của cư dân ven biển

- Về mặt thực tiễn:

+ Với kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về giá trị cũng như ý nghĩa của về tín ngưỡng thờ Cô hồn của các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng từ đó biết gìn giữ và phát huy những giá trị ấy Đồng thời, tạo cơ sở cho các

cơ quan quản lý có định hướng, biện pháp bảo tồn và phát huy các giá trị, khai thác các giá trị đặc trưng văn hóa từ về tín ngưỡng thờ Cô hồn của các cư dân ven biển

+ Đề tài góp phần thêm tư liệu tham khảo cho quá trình học tập lịch sử văn hóa địa phương, cho những ai quan tâm đến tín ngưỡng này

7 Cấu trúc đề tài

Chương 1: Tổng quan về các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng và tín ngưỡng

thờ cúng Cô hồn ở Việt Nam

Chương 2: Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn truyền thống ở các làng đánh cá

ven biển Đà Nẵng

Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát triển tín ngưỡng thờ cúng

Cô hồn ở các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng

Trang 11

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC LÀNG ĐÁNH CÁ VEN BIỂN

ĐÀ NẴNG VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÔ HỒN Ở VIỆT NAM

1.1 Tổng quan về các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Các làng đánh cá ven biển Đà Nẵng được thành lập trong khoảng thời gian từ sau năm 1471 và kéo dài đến thế kỉ XVII Năm 1417, sau sự kiện bình Chiêm, nhiều tướng phò vua Lê Thánh Tông đã ở lại trấn trị vùng đất phía hữu ngạn sông Hàn Từ đây, quá trình di dân của người Việt ở phương Bắc vào vùng đất này để định cư, tạo dựng cuộc sống mới diễn ra ngày một nhiều, dân cư tập trung ngày một đông đúc Ban đầu, đa số người dân sống bằng nghề nông là chủ yếu, càng về sau

do điều kiện nơi đây không thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong khi

đó Đà Nẵng lại có nguồn lợi về thủy hải sản ở sông, biển nên cư dân đã biết tận dụng lợi thế này để phát triển nghề đánh bắt thủy hải sản Từ đó, các làng chài đánh

cá ra đời dọc bờ biển của Đà Nẵng bắt nguồn từ chân đèo Hải Vân cho đến Nam

bán đảo Sơn Trà Minh chứng rõ nhất là trong cuốn Phủ biên tạp lục của Lê Quý

Đôn được viết vào năm 1776 có nhắc đến nhiều làng xã ở vùng ven sông Hàn, trong

đó có một số làng như: Nam An, Nại Hiên Đông, An Hải, Nam Ô…

Làng đầu tiên phải kể đến đó là làng An Hải, có vị trí nằm ở hữu ngạn sông Hàn, địa hình vừa giáp sông vừa giáp biển Theo các gia phả của lục tộc tiền hiền

Lê, Nguyễn, Ngô, Huỳnh, Đỗ, Trần thì làng An Hải được thành lập từ thời vua Lê Thánh Tông Truyền Thuyết của làng lưu truyền rằng người có công đầu trong việc khai hoang lập làng là bà Thân Về nguồn gốc bà Thân, Có 2 luồng ý kiến:

Thứ nhất, có người cho rằng bà là một lưu dân từ phía Bắc vào đây lập làng thời Lê Thánh Tông theo con đường Nam tiến Theo sắc phong Tiền hiền của làng

đặt tại nhà thờ Tiền hiền và Hậu hiền làng An Hải ghi: “Sắc Tiền hiền ông Công

Thân Hà Thị Thân gia tặng dục bảo trung hưng linh phi tôn thần”

Thứ hai, có nhiều người lại cho rằng bà Thân là một người gốc Chăm thuộc dòng họ Bà - một trong những dòng họ từng nắm vương quyền ở vương quốc Chăm

Pa Bà Thân tiến hành khai hoang đến đâu thì trồng cây tràm đến đó, vì vậy nơi nào

có cây tràm đều là đất của bà Thân

Trang 12

Làng An Hải có đến 6 tộc họ là Lê, Trần, Nguyễn, Đỗ, Ngô, Huỳnh lần lượt đến đây vào thời gian Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa Dựa vào gia phả làng An Hải thì các dòng họ ở đây thuộc dạng lâu đời ở Đà Nẵng Họ Lê ở An Hải do tổ tiên tiền hiền là ông Lê Quynh, Lê Hữu Lượng, Lê Đức Hà quê Sầm Sơn - Thanh Hóa

đã trải qua được 18 - 19 thế hệ Họ Nguyễn Văn do tổ tiên là Nguyễn Văn Lượng người Bắc Trung Bộ vào đây sinh hạ con cháu truyền nối 17 - 18 đời Qua các sử liệu chúng ta có thể kết luận rằng, làng An Hải được hình thành dưới triều Lê Thánh Tông và được xác lập quy củ vào giai đoạn chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Quảng

Tiếp giáp làng An Hải về phía Đông - ngay sát bờ biển là làng Mỹ Khê Làng

Mỹ Khê bắt đầu có tên gọi trên bản đồ Thuận Quảng từ năm 1571, do ông Đàm Văn Độn lập nên khi hộ tống chúa Nguyễn vào Nam năm Hồng Phúc thứ nhất (1571) bình Chiêm Nam tiến vào trận nhậm đất Thuận Quảng đến đây lập xã hiệu (1560 - 1571) Theo gia phả tộc Đàm do ông Đàm Văn Thái lập thời Gia Long lục niên (1807) hiện lưu giữ tại nhà thờ tộc Đàm có nói về việc ông Đàm Văn Độn là người

đầu tiên đến đây lập làng Ông nhìn thấy giải đất này “Kiến thử giang sơn cẩm tú,

quy dân lập ấp, khai trương địa bộ tôn xưng xã hiệu Mỹ Khê” Như vậy tộc Đàm là

tộc đến khai phá đầu tiên ở đây, tuy nhiên trong các văn thư của các tộc họ còn để

lại không có tộc nào xưng là Tiền hiền mà chỉ ghi: “Tiền khai canh, Hậu khai cư,

Tiền hiền khai khẩn, đẳng chư Tiền hiền” Đây là điều hiếm thấy ở một làng xã Việt

Nam Năm 1806, Gia Long đệ ngũ niên, ông Đàm Văn Thái, cháu đời thứ 8 của tộc Đàm ở Mỹ Khê được phong làm xã trưởng đầu tiên của làng Mỹ Khê Làng Mỹ Khê có 12 tôn tộc nên các bô lão thường hay gọi là “Thập nhị tôn phái” Trước đây, các tộc có ruộng đất đứng đầu được phân chia ở làng Mỹ Khê là tộc Đàm, tộc Nguyễn, tộc Huỳnh

Tiếp theo, phải kể đến làng Nam Ô - làng đánh cá nằm ngay sát chân đèo Hải Vân Đất làng Nam Ô ngày nay, cũng như các vùng đất khác nằm về phía Nam Hải Vân nguyên xưa thuộc đất Câu Chiêm, Châu Rý, nước Chiêm Thành Tháng riêng năm 1307, cả hai châu Ô, Rý được triều đình nhà Trân sát nhập vào nước Đại Việt Nam Ô có nghĩa là phía Nam của Châu Ô, nó nằm ngay cửa sông Cu Đê vì vậy ngay từ thời vùng đất nước này còn thuộc vương quốc Chăm Pa hay sau này thuộc

Trang 13

Đại Việt thì Nam Ô đã được biết đến như nơi để con người dừng lại và cư trú đông đúc ở đó bởi muốn đi qua Hải Vân thì nhất thiết phải qua Nam Ô Theo các bô lão trong làng kể lại thì vào nửa cuối thế kỷ XVI, những cư dân Việt đầu đến định cư trên vùng đất này vốn là những tướng sĩ nằm trong đội quân Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 Khi đi, họ chỉ một mình không mang theo vợ con, gia đình Rất nhiều khả năng lúc bấy giờ diễn ra những cuộc hôn nhân mà chàng rể

là lính Việt và cô dâu là con gái Chăm Cho nên trong gia phả tộc Đinh, Phạm, Mai, Trần,… những vị Tiền hiền của tộc chỉ có tên ông mà không có tên bà Theo những vết tích còn sót lại ở Nam Ô thì ta có thể khẳng định rằng, ở khu vực Nam Ô trước đây là nơi người Chăm từng sinh sống

Khi cư dân Việt đến định cư ở vùng đât này vào nửa cuối thế kỷ XVI thì

Nam Ô thuộc Ba Ổ Xuân Sơn xã Trong phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có ghi

rằng Xuân Sơn thuộc tổng Lê Sơn, Huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn Xuân Sơn xã chỉ vùng đất Ba Ổ Xuân Sơn xã Tương truyền đến mãi thế kỷ XIX, Ba Ổ Xuân Sơn

xã mới tách thành hai làng Nam Ô và Làng Xuân Thiều Theo đó, lý trưởng của làng Nam Ô là ông Trần Thạc và lý trưởng làng Xuân Thiều là ông Huỳnh Công Đáng Đến thời kỳ này Ba Ổ Xuân Sơn được gọi là Hóa Ổ Xuân Sơn xã Theo cụ Đinh Ngọc Hoàng, sinh năm 1917 cho biết sở dĩ có sự thay đổi tên gọi như vậy là

do thời xưa có một người con gái tộc Trần là Trần Thị Ba lấy vua Thiệu Trị nên đã đổi tên Ba Ổ thành Hóa Ổ Sau này, do sự phát triển dân số, làng Nam Ô chia tiếp làm hai là Nam Ô 1 và Nam Ô 2

Mân Quang là một trong những ngôi làng cổ thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Về niên đại hình thành và nguồn gốc tên gọi của làng Mân Quang đến nay vẫn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Theo lịch sử Đảng bộ phường Thọ Quang thì vào năm 1471, niên hiệu Hồng Đức nhị niên đời hoàng đế Lê Thánh Tông, thể theo chiếu khuyến khích Nam tiến của vua Lê lên đường mở mang bờ cõi, dựng xây và phát triển kinh tế vững bền, lục tộc Tiền hiền gồm các cụ Lê Phước Thọ, Trần Văn Mỹ, Võ Văn Linh, Thái Công Xạ, Nguyễn Văn Thành, Đinh Vạn Nhang đến khai canh, lập nghiệp, tạo dựng nên tiểu

xứ Vĩnh Yên Ban đầu, họ khai phá vùng đất phía Nam ven núi Sơn Trà, ước chừng

100 mẫu Lúc đó tên đất của làng gọi là “Vĩnh Yên Nam Loan xứ” Đến năm 1485,

Trang 14

làng mở rộng thêm vùng đất phía Nam nên có tên là “Mân Quang - Vĩnh Yên xã,

Nam Loan xứ” Sau đó 6 ngài Tiền hiền nói trên đã rủ nhau lên khai phá vùng đất

thuộc làng Mân Quang của xã Hòa Quý hiện nay Họ đến đó để khai khẩn đất đai, sinh cơ lập nghiệp vì đất Vĩnh Yên chủ yếu là cát, khô cằn và chật hẹp Đến năm Gia Long thứ 10, tức là năm 1812, nhà vua kêu gọi bá tánh về lại làng cũ kê khai ruộng đất để lập địa bạ Một số con cháu của 6 ngài trên bèn rủ nhau về sinh sống tại làng Vĩnh Yên cũ (tức Mân Quang hiện nay) Như vậy từ một tiểu xứ, làng Mân Quang đã ra đời và người có công khai lập làng là sáu vị tộc Lê, Trần, Võ, Thái, Nguyễn, Đinh Sáu vị này được xem như là những người tiên phong đầu tiên khai hoang, lập làng Công lao to lớn của các cụ đã được vua Khải Định (1916 - 1925) ban sắc phong Như vậy, theo giả thuyết này thì làng Mân Quang ra đời vào thế kỉ

XV và chính xác lập xã hiệu vào năm 1485 Nhưng trong Phủ biên tạp lục của Lê

Quý Đôn (viết năm 1776) lại cho rằng “Xã Mân Quang thuộc tổng Hà Khúc, huyện

Hòa Vang, phủ Điện Bàn thời chúa Nguyễn” [7, tr.106] (tức là từ năm 1776 trở về

trước nhưng sau năm 1553) Qua đó, mặc dù chưa khẳng định được năm ra đời chính thức của làng, song có thể kết luận rằng sự ra đời của làng Mân Quang trải qua một thời gian dài từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII

Làng kế tiếp là làng Nam An nay thuộc phường Thọ Quang và phường Mân Thái, quận Sơn Trà Làng Nam An được thành lập trên các tiểu xứ Bà Mật, Bà Lùng, Cồn Mỗi, Vĩnh Vông, Vũng Chấp, Nam Sơn Vào thời Lê Cảnh Hưng, làng Nam An được chia thành hai làng nhỏ là Nam Thọ (nay cùng làng Mân Quang tạo thành phường Thọ Quang) và làng Tân An Làng Tân An đến thời vua Thành Thái cải thành Tân Thái, sau này cùng làng Cổ Mân (thuộc địa phận làng cổ Nam An) hợp thành phường Mân Thái

Dưới thời vua Lê Thánh Tông, bộ phận người Việt từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An di cư vào khai hoang mở đất lập nên làng Nam An cổ (tiền thân làng Nam Thọ sau này) Đến khoảng giữa thế kỷ XVII (1648) hai ông Trương Công Bậc ở làng Trung Sơn (nay thuộc Hòa Liên - Hòa Vang) và ông Nguyễn Hữu Chữ ở làng Cẩm Sa (nay thuộc xã Cẩm Nam, huyện Điện Bàn) đến cư trú Hai ông kêu gọi dân

cư đến đây tổ chức mở đất lập làng, khai phá rừng núi,… lập nên làng Nam An Vì

vậy hai ông được sắc phong là “Tiền hiền khai khẩn Nam An Xã”

Trang 15

Như vậy, cùng với các làng được thành lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng các làng đánh cá ven biển nơi đây cũng được hình thành và phát triển gần như song song trong suốt 3 thế kỷ (XV,XVI, XVII) Quá trình xây dựng làng gắn với quá trình nam tiến, mở mang bờ cõi về phương Nam của dân tộc Bên cạnh đó, đa số các làng đều có vị trí thuận lợi cho hoạt động nghư nghiệp làm cho đa phần đời sống kinh tế - xã hội của cư dân cũng dần ổn định và tạo hướng phát triển vững mạnh

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Kinh tế đóng vai trò cốt lõi, không thể thiếu trong đời sống của cư dân ven

biển Đà Nẵng Sự phát triển của kinh tế quyết định đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, bên cạnh ngư nghiệp với đánh bắt thủy sản là chính thì cư dân các làng Nam Ô, Thanh Khê Đông, Mân Thái,… còn phát triển nông nghiệp trồng lúa nước, khoai, sắn, làm thủ công nghiệp và buôn bán,… Cuộc sống cư dân có nhiều đổi thay theo từng thời kỳ phát triển của thành phố Theo đó, xã hội cũng được ổn định, đời sống nhân dân được chăm lo, trật tự an ninh được giữ vững Người dân dần được cải thiện cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần

Trong buổi đầu thành lập, các làng xã ven biển Đà Nẵng hiện nay thuộc địa phận quận Sơn Trà (An Hải, Mỹ Khê, Mân Thái), Thanh Khê (Xuân Hà, Hà Khê, Thanh Khê), Liên Chiểu (Nam Ô, Kim Liên), Ngũ Hành Sơn (Đông Hải, Tân Lưu) Lớp dân cư ở dải đất dọc sông ven biển đã tổ chức cuộc sống theo mẫu hình làng biển của vùng quê gốc Thanh Hóa - Nghệ An Cư dân tại các làng đánh các ven biển khi mới di cư vào vùng đất này sống bằng nghề nông là chủ yếu Nguyên nhân

là do cư dân của các làng như An Hải, Mỹ Khê, Nam Ô… đa số đều từ miền Bắc di

cư xuống định cư ở vùng đất này, cho nên họ mang theo những kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp vốn có từ lâu đời để làm ăn, sinh sống Ngoài ra do điều kiện thuận lợi về tự nhiên là gần sông, giáp biển nên nguồn nước tưới tiêu không bị hạn chế Bên cạnh việc phát triển nông nghiệp thì cư dân ở vùng ven biển Đà Nẵng cũng chú trọng phát triển khai thác, đánh bắt thủy, hải sản phục vụ nhu cầu cuộc sống Điển hình có thể kể đến một số làng như:

Trang 16

Đối với làng An Hải, ban đầu khi mới hình thành làng thì cư dân sống chủ yếu bằng nghề nông và xây dựng làng xã theo mẫu hình làng nông nghiệp truyền thống Nhưng sau đó nhận thấy được ưu thế gần biển có nguồn hải sản phong phú nên đa phần dân cư ở đây chuyển dần sang phát triển đáng bắt thủy hải sản là chính Ngoài ra hoạt động kinh tế là thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng được khai thác và phát triển khá sớm

Làng Mỹ Khê trong buổi đầu thành lập cũng diễn ra hoạt động kinh tế nông nghiệp nhưng chỉ có một bộ phận nhỏ ở hai con khe bắt nguồn từ núi Sơn Trà Do

vị trí gần biển nên hoạt động kinh tế chính của cư dân nơi đây là ngư nghiệp, khai thác nguồn lợi hải sản trên biển

Còn về làng Nam Ô, do có địa hình thiên nhiên phong phú: có biển, có sông,

có gành đá, rạn ngâm nên nghề khai thác thủy hải sản đã phát triển lâu đời Bên cạnh đó, nghề mành, nghề rớ, nghề câu, nghề lặn… được phần lớn người dân Nam

Ô chăm theo nên hải sản thu được rất dồi dào Đặc biệt là nghề làm nước mắm nơi đây còn rất phát triển và đã tạo được thương hiệu từ bao đời nay

Do đặc điểm kinh tế là các làng chủ yếu là phát triển nghề biển cho nên phương thức phân công lao động phổ biến trong xã hội là đàn ông đi biển, đàn bà phân phối sản phẩm, chế biến các sản phẩm mắm phục vụ gia đình và trao đổi buôn bán

Tình hình kinh tế của các làng hiện nay đã có bước phát triển hơn trước, điển hình như: Đầu tiên có thể kể đến làng Nam Ô 2, theo thống kê của chi hội nông dân phường Hòa Hiệp nam: hiện nay còn khoảng 150 thúng đánh bắt, 4 chiếc ghe mành điện, 5 chiếc ghe rớ; tổng lao động dưới nước khoảng 405 người, lao động trong các nghành nghề có liên quan khoảng 100 lao động; theo thông kê của UBND phường, hiện nay có khoảng 159 hộ gia đình làm nghề biển Đặc biệt, người dân nới đây còn có nghề làm nước mắm, nước mắm Nam Ô hiện nay không chỉ nổi tiếng với người dân trong vùng mà còn được quy hoạch sản xuất theo hướng làng nghề truyền thống, giúp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất của người dân nơi đây Không những vậy, nghề làm nước mắm còn đem lại thu nhập đáng kể cho người dân tại làng Nam Ô này Tiếp theo là hai làng Mân Quang

và Nam Thọ - hai làng còn giữ được số lượng lao động hoạt động trong ngành nhiều

Trang 17

nhất Theo thống kê tính tới thời điểm cuối năm 2013, số lượng tàu thuyền là 453 chiếc, trong đó thúng máy là 134 chiếc, tổng công suất là 12.905 CV, sản lượng khai thác ước thực hiện là 5.647 tấn, đạt 106,31% so với kế hoạch quận và đạt 110,40% so với cùng kỳ năm 2012

Cùng với các vấn đề về kinh tế thì việc chú trọng phát triển đồng bộ các vấn

đề xã hội từ dân số, lao động, việc làm, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, y tế,

văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, là một việc làm quan trọng, thiết thực, đảm bảo sự phát triển toàn diện, đồng bộ của một quốc gia, dân tộc cũng như các đơn vị hành chính Từ yêu cầu thực tế, hiện nay dưới sự giúp đỡ của chính quyền một số làng đã và đang ra sức xây dựng làng văn hóa như Nam Ô, Thanh Khê Đông,…

Sự nghiệp giáo dục luôn được xem là quốc sách hàng đầu Trường học tập trung công tác quản lí và đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đảm bảo tốt nhất cho công tác giảng dạy, chú trọng công tác thanh tra đánh giá công tác giảng dạy, học tập,… nhờ đó chất lượng giáo dục được nâng cao Điển hình như ở phường Thanh

Khê Đông: “Năm học 2012 - 2013 có 99,7% học sinh tiểu học; 93,8% học sinh

trung học phổ thông xếp loại trung bình trở lên về học lực, trong đó 94,1% học sinh trung học; 63,4% học sinh cơ sở đạt khá giỏi; 100% học sinh lớp năm hoàn thành bậc tiểu học,…” [48, tr.5]

Nhiều ngôi nhà tình nghĩa được xây dựng cho những người già neo đơn; thực hiện chính sách ưu đãi cho những người có công với cách mạng, những bà mẹ Việt Nam anh hùng; chế độ bảo hiểm y tế được triển khai rộng rãi; xóa đói giảm

nghèo,… Nổi bật nhất có thể kể đến phường Thanh Khê Đông: “Năm 2013 vận

động quỹ đền ơn đáp nghĩa đạt 163% ở trên giao xuống, hỗ trợ xây mới 4 nhà, tu sửa 45 nhà tình nghĩa với số tiền 926 triệu đồng Cùng với sự hỗ trợ của thành phố, quận Thanh Khê đã vận động hơn 2,7 tỉ đồng quỹ vì người nghèo để tập trung nguồn lực giúp đỡ người nghèo Trong đó Quận cùng với phường Thanh Khê đã hỗ trợ 400 nghìn đồng/khẩu/tháng đối với 164 khẩu của họ đặc biệt nghèo, xây mới 21/40 ngôi nhà cho hộ nghèo” [48, tr.6] Phường Hòa Hiệp Nam đầu năm 2014,

toàn phường có 697 hộ nghèo với 2.623 nhân khẩu, trong đó có 130 hộ đặc biệt nghèo Với tỷ lệ hộ nghèo khá cao, UBND phường đã xây dựng đề án giảm nghèo với mục tiêu cụ thể giảm dần theo từng năm, phấn đấu đến cuối năm 2016 không

Trang 18

còn hộ nghèo trên địa bàn phường, riêng năm 2014 phấn đấu giảm 285 hộ, đạt tỉ lệ 103,26% so với chỉ tiêu trên thành phố giao phó

Bên cạnh đó còn, thường xuyên chú trọng nếp sống văn minh đô thị, nhất là trong việc bảo vệ môi trường, trong việc cưới, việc tang, lễ hội; phát động phong trào xây dựng gia đình văn hóa; phong trào thể dục thể thao cũng được lãnh đạo thực hiện với nhiều hoạt động sôi nổi, nhiều loại hình như thể dục dưỡng sinh, tắm biển, thể dục buổi sáng, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông,… có tác động tích cực đến việc rèn luyện sức khỏe trong nhân dân Cụ thể như ở Phường Thanh Khê Đông tính đến năm 2013 đã cho xây dựng 5 công trình công cộng; Thông qua phong trào

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” Năm qua, phường Thọ Quang đã

thực hiện có hiệu quả các nội dung giúp nhau giảm nghèo, tương thân, tương ái, xây dựng đời sống văn hoá, văn minh đô thị trong việc cưới, việc tang, việc cúng, Qua phong trào này, toàn phường có 5.986 hộ đạt gia đình văn hoá, chiếm 88,9% và 134

tổ dân phố đạt “Tổ dân phố văn hoá”, chiếm hơn 65.04%, trong đó có 31 tổ dân phố

đạt danh hiệu tổ dân phố văn hoá 2 năm liền, 04 tổ dân phố đạt danh hiệu trong 5 năm liền,

Đồng thời, các cấp chính quyền luôn quan tâm, theo dõi, đi sâu vào quần chúng nhân dân để tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng cũng như giải đáp thắc mắc cho người dân

Thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp dân hàng ngày, và chế độ tiếp dân định kỳ của Ủy ban nhân dân quận qua đó xem xét, giải quyết các vấn đề cấp thiết của người dân Trong năm 2014 phường Thanh Khê Đông đã tiếp 507 lượt công dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân tiếp 193 lượt; giải quyết 187/204 đơn các loại thuộc thẩm quyền

Với các tiềm năng, thế mạnh sẵn có, cùng với sự phát triển về kinh tế, ổn định về xã hội thì hiện nay đời sống của cư dân ven biển Đà Nẵng ngày càng ổn định và phát triển hơn trước Không còn tình trạng dân kêu đói, kêu khổ, con em từng hộ gia đình đều được học hành đến nơi đến chốn,… Đây là những bước đệm vững chắc để họ bảo tồn và phát triển đời sống tinh thần của làng quê mình

Trang 19

1.1.3 Đời sống văn hóa và dân cư

Đà Nẵng là thành phố trẻ được tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ, nơi từng được coi là một trung tâm kinh tế, chính trị lớn của nước Đại Việt, có nền kinh

tế phát triển, cho nên những người sống trên mảnh đất này họ đã sống và chiến đấu, cùng nhau đoàn kết chống lại thiên tai, chống kẻ thù, hình thành nên một quần cư lớn và nền văn hóa xứ Quảng là tinh hoa của quần cư này Theo đó, Đà Nẵng cũng mang những đặc trưng văn hóa của vùng đất nơi đây Mặt khác, đây là nơi đầu tiên

bị liên quân Pháp và Tây Ban Nha đổ bộ mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam vào năm

1858, cũng là địa phương đầu tiên bị quân viễn chinh Mỹ đổ bộ mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam vào năm 1965 Đồng thời, với vị trí thuận lợi lại có hải cảng quốc tế,

Đà Nẵng có điều kiện tiếp xúc, tiếp nhận các giá trị văn hóa từ bên ngoài hòa vào dòng văn hóa bản địa tạo nên một vùng văn hóa đặc sắc, mang đặc trưng của thành phố Đà Nẵng Nam Ô, Mỹ Khê, Thanh Khê,… là những làng đánh cá thuộc thành phố trẻ bởi vậy chúng cũng mang những nét văn hóa tiêu biểu của nơi đây Diện mạo tín ngưỡng của cư dân ven biển là biểu hiện của tín ngưỡng đa thần

Ngư dân ven biển Đà Nẵng có một vốn văn hóa dân gian vô cùng phong phú Vốn văn hóa đó được họ mang từ quê cha, đất tổ là vùng Thanh Hóa, Nghệ An,… vào vùng đất mới này Tại đây, trong quá trình lao động sản xuất, họ đã cải biên và sáng tạo ra những nét mới, điển hình là trong các câu hò, điệu lý, trong các làn điệu dân ca, đặc biệt là các câu ca dao, tục ngữ đã phản ánh khá rõ nét đời sống lao động cũng như những tâm tư tình cảm của họ Sống cùng biển, ăn cùng biển, thậm chí chết vùi trong biển nên những ứng xử của họ trước thiên nhiên cũng trở thành một kinh nghiệm sống Họ nhìn trời, nhìn sao, nhìn trăng, nhìn chim trên biển, nhìn hướng gió,… cũng đoán biết trước được chuyến đi ra biển đó có đánh bắt được không

Nét đặc sắc không thể bỏ qua khi nhắc tới văn hóa cư dân ven biển Đà Nẵng

đó chính là về đời sống tín ngưỡng Chính bởi có quan hệ mật thiết với hai đối

tượng là đất và biển nên các thiết chế tín ngưỡng cũng như phương thức biểu hiện

tín ngưỡng ở các làng là tương đối thống nhất Hầu hết các làng biển đều có: đình, lăng, miếu, nhà thờ, dinh thờ,… Căn cứ vào các cơ sở thờ cúng hiện tồn và các bài văn tế phổ biến ở các làng biển có thể khai thác các tín ngưỡng truyền thống của

Trang 20

cộng đồng cư dân ven biển bao gồm các vị thần như Thần Hoàng bổn xứ, Bạch Mã Thái Giám, thần Nam Hải Ngọc Lân… bên cạnh đó còn có thờ Tiền hiền và Hậu hiện, thờ Cô hồn/Cô bác, thờ vật linh… Tất cả đều được cư dân ven biển gìn giữ và bảo tồn cho đến ngày nay

Một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng cộng đồng cư dân ven biển Đà Nẵng nữa là chịu ảnh hưởng mạnh của Phật giáo Tư tưởng phật giáo đã ăn sâu vào nếp sống cư dân, giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, bởi vậy có nhiều ngôi chùa ven biển được xây dựng nên ở Nam Ô, Thanh Khê,… Tuy nhiên những ngôi chùa này thường chỉ được coi là chùa làng, không thuộc giáo hội Phật giáo, không có sư trụ trì mà chỉ có đạo hữu - là những người đàn ông tu tại gia quản

lí, tham gia thực hiện các lễ thức mỗi ghi cần thiết

Ở phạm vi gia đình, tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng cũng khá đa dạng các đối tượng phổ biến được thờ cúng trong gia đình như: Tam vị Táo Quân,

tổ nghề, Ngũ tự gia đường, cô hồn, tổ tiên… trong đó trọng tâm vẫn là thờ Tổ tiên

Bên cạnh các tín ngưỡng thì các nghi thức sinh hoạt truyền thống như tết Nguyên Đán, tết Đoan Ngọ, tết Thanh Minh, Nhiều nét sinh hoạt văn hóa dân gian như hát bả trạo, văn nghệ, trò chơi dân gian,… là hoạt động văn hóa tinh thần của

cư dân nơi đây Ngoài ra, lễ hội đình làng, ngư ông cũng được người dân nơi đây tổ chức thường xuyên mỗi năm Nhờ vậy, nét đẹp văn hóa được giữ gìn, cộng đồng cư dân được cố kết, cuộc sống thêm phần yên vui, mang đậm nghĩa tình Ngoài văn hóa tinh thần, đời sống văn hóa vật chất của cư dân ven biển cũng đa dạng với nhiều đặc sản đậm chất địa phương như mỳ Quảng, nước mắm, tré … và một số sản phẩm hải sản tươi ngon như mực, cá, tôm,… Chính những giá trị văn hóa về vật chất, tinh thần tạo nên văn hóa đặc trưng địa phương, định hình bản sắc văn hóa nơi đây, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Đối với mỗi vùng đất thì dân cư là một phần không thể thiếu, họ là chủ nhân

của những nền văn hóa, những sáng tạo nghệ thuật,… Những cư dân đầu tiên sinh sống trên địa bàn các làng như Nam Ô, Thanh Khê, Mân Thái,… ngày nay là chủ nhân của nền văn hóa Sa Huỳnh, kế tiếp là những cư dân của vương quốc Chămpa Trước thế kỷ XV, cư dân vùng Đà Nẵng chủ yếu là người Chăm Năm 192, nước Lâm Ấp của người Chăm được thành lập, đến thế kỷ XVI gọi là Chămpa, Đà Nẵng

Trang 21

- Quảng Nam là trung tâm của vùng đất này Chămpa được xây dựng, phát triển về mọi mặt, dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông ở đồng bằng, ven biển Họ là những người sáng tạo ra nền văn hóa rực rỡ để đến khi cư dân người Việt di cư vào đây sinh sống, họ đã bắt gặp, tiếp xúc và ảnh hưởng để pha trộn, góp phần xây dựng nền văn hóa Đại Việt Lớp cư dân người Việt, từ các vùng quê khách nhau ở vùng đất Bắc di cư đến vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng là vào khoảng thế kỉ XV, thời vua

Hồ Quý Ly khi phần đất Chiêm Động và Cổ Loa của Chăm pa được sát nhập vào Đại Việt Lúc bấy giờ số dân di cư tới đây chiếm một số lượng khá lớn, đến cuối thế

kỷ XV khi vua Lê Thánh Tông thì số lượng dân di cư tới đây ngày một đông đảo và định cư chủ yếu ở ven biển Trong quá trình tiếp nhận các cuộc di dân từ thời Lê Thánh Tông đến các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, các làng xã được thành lập ngày một đông đúc, đặc biệt là vùng ven sông Hàn và vùng ven biển Đà Nẵng Cư dân ở đây ngoài các vạn chài thường thấy ở ven biển, cửa sông sống bằng nghề đánh bắt hải sản và cư dân sống bằng nghề nông, còn có một số bộ phận cư dân sống bằng nghề thủ công và buôn bán

1.2 Khái quát chung về tín ngƣỡng thờ cúng cô hồn ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng, Cô hồn

1.2.1.1 Tín ngưỡng

Khi bàn đến tín ngưỡng người ta đồng thời bàn đến tôn giáo Có người cho rằng tín ngưỡng với tôn giáo là một Có người coi tín ngưỡng là cái nền của tôn giáo, một yếu tố cấu thành của tôn giáo Có người coi như chỉ có tôn giáo không có tín ngưỡng Có người coi tín ngưỡng là cấp thấp của tôn giáo Do đó, xung quanh khái niệm tín ngưỡng có nhiều ý kiến khác nhau

Từ điển tiếng Việt định nghĩa tín ngưỡng là: “Lòng tin và sự tôn thờ một tôn

giáo” [38, tr.1646], tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo Theo giải thích

của Đào Duy Anh, tín ngưỡng là: “Lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo

hoặc một chủ nghĩa” [2, tr.76] Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái

“trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm

Trang 22

tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ” [29, tr.34]

Như vậy, có thể hiểu một cách nôm na, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng

mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan

hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được

1.2.1.2 Cô hồn

Cô Hồn/Cô Bác là cách gọi phổ biến của cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng dành cho các vong hồn/vong linh bất hạnh, những người lúc sống có thân phận không may, thác đi thì vong linh phiêu dạt, không ai hương khói thờ cúng

Theo quan niệm truyền thống của người Việt thì “Cô hồn là hồn của người

chết không có họ hàng thân thiết thờ cúng” [22, tr 196] Đạo Phật thì lại quan niệm

“Cô hồn gồm mười loài của tứ sanh và lục đạo, gọi là thập loại cô hồn Đó là một cộng đồng vong hồn gồm đủ loài từ vua quan đến thứ dân, từ giàu sang đến nghèo hèn, từ con người đến côn trùng thú vật” [28, tr.138] Còn trong cuốn Tín ngưỡng

cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng, Hồ Xuân Hương có đề cập đến Cô hồn

theo quan niệm của cư dân ven biển Đà Nẵng: “Hơi khác với quan niệm của đạo

Phật, quan điểm của cư dân ven biển Đà Nẵng vừa mang nội dung truyền thống, vừa có ý nghĩa mới Theo đó, thập loại Cô hồn chỉ có “loài người”, gồm các dạng chủ yếu như: Vong hồn có cái chết không bình thường - chết bất đắc kỳ tử, vong hồn người chết mất xác trên biển, vong hồn các chiến sĩ vong trận và vong hồn “ Tiền chủ” của vùng đất “tiền Việt”…” [16, tr.130]

Bản chất của việc thờ cúng Cô hồn là biểu hiện của tình yêu thương tôn quý con người, đồng thời muốn phản ánh nguyện vọng của dân muốn Cô hồn phù hộ để cuộc sống được an lành no đủ

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển

Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn là một trong những tín ngưỡng truyền thống có

từ bao đời nay của nhân dân ta và đã trở thành một nét văn hóa tín ngưỡng không

Trang 23

thể thiếu đăc biệt đối với dân cư ven biển Nhưng cho đến nay vẫn không có một tài liệu chính thống nào cho biết rõ ngọn nguồn của việc thờ cúng cô hồn xuất hiện cụ thể ở thời gian nào

Nói về tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn, nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong

công trình Việt Nam Phật giáo sử luận viết: “Lễ siêu độ Ngạ quỷ, Cô hồn có nguồn

gốc từ Ấn Độ được truyền sang và thịnh hành ở Trung Hoa vào đời Đường do ngài bất Không Kim cang (amogha), còn gọi là bất Không Tam Tạng, người bắc ấn Độ, một truyền nhân nổi tiếng của mật giáo (Kim Cang Thừa - Vajrayana) hoằng hóa.”[20, tr.466]

Tuy nhiên, với Phật giáo thì cho rằng việc siêu độ Cô hồn có thể phát xuất từ đời nhà Đường bên Trung Quốc khi ngài Huyền Trang trở về sau chuyến Tây Du, lập đàn siêu độ cho tứ sanh đang luân hồi trong lục đạo Qua đời Tống, ngài Bất Khinh Tam Tạng chuyên tu Mật Giáo ở Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, cho biết các Cô hồn đang vất vưởng, đòi hỏi những nhu cầu cần thiết, nên Ngài vận dụng pháp lực

để cung ứng và siêu độ cho họ Pháp sư đã gom tập Kinh “Du Già Diệm Khẩu” với các Bộ trong Mật Tông, biên soạn thành Nghi “Mông Sơn Thí Thực” Nhân đó Tòng Lâm, chùa, miếu ở các phương đã dùng làm Thời Khóa chiều tối, dùng trong ngày và bốn Chúng Đệ Tử đều có thể hành Nghi Thức này

Tại Việt Nam, theo Đại Việt sử ký toàn thư thì: “Pháp Trai đàn thí thực Âm

linh/ Cô hồn được du nhập từ Trung Quốc vào năm 1302 (thời Trần) do một đạo sĩ tên Hứa Tông Đạo Năm 1320, ngài Pháp Loa đã tổ chức Đại trai đàn chẩn tế ở chùa Phổ Ninh” [20, tr.167] Có thể nói, pháp Trai đàn chẩn tế thí thực Âm linh/Cô

hồn được bắt đầu từ đời Trần và duy trì đến hiện nay

Như vậy, cho đến nay xung quanh vấn đề nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Cô hồn vẫn còn rất nhiều luồng ý kiến và tranh cãi khác nhau, chưa có một kết luận cụ thể nào có thể chọn làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu lịch sử tín ngưỡng này

1.3 Vai trò, ý nghĩa của tín ngƣỡng thờ cúng Cô hồn ở Việt Nam

Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn là một nét đẹp trong văn hoá cộng đồng của

người dân Việt Nam Vai trò lớn nhất của cúng Cô hồn là lưu giữ thuần phong mỹ

tục, giáo dục đạo lý con người cho toàn thể nhân dân ta, trên hết là cho các thế hệ

cháu con - thế hệ tương lai của đất nước, có vai trò quyết định trong việc phát triển

Trang 24

và gìn giữ nét văn hóa truyền thống của dân tộc Đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu

niên biết cách sống, biết đối nhân xử thế, hướng về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”

ngàn đời của dân tộc ta, từ đó mỗi người sẽ tự sống theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, ngày càng khẳng định và hoàn thiện mình

Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn trong đời sống tâm linh của người Việt không

những là một nhu cầu, mà dường như là một chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp con người ta hướng tới sống lương thiện hơn, tốt đẹp hơn, thể hiện là sự khát khao của người dân về chân lý, về cái hoàn mỹ và hạnh phúc vĩnh hằng Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn còn thể hiện tính nâng đỡ tinh thần qua sự tương thân tương ái, yêu thương lẫn nhau của con người trong các mối quan hệ, thể hiện lòng biết ơn đối với những thế hệ đi trước, những người đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ cuộc sống ấm no hạnh phúc cho họ như đối với những chiến

sĩ trận vong, hay với những người thân trong gia đình chết mà chưa tìm được,…

Việc thờ cúng Cô hồn tại làng xóm còn là dịp để bà con trong xóm, trong ngõ có dịp được ngồi lại với nhau, cùng bàn luận về tín ngưỡng, về làng xóm và tất

cả các công việc thường nhật để mọi người hiểu nhau hơn và tăng tính đoàn kết trong nhân dân Bên cạnh đó, sau khi hoàn thành những nghi lễ thờ cúng Cô hồn, mọi người có thể ngồi lại với nhau, chia sẻ với nhau các lễ vật, sản vật từ lòng thành của toàn thể con em trong làng, xóm Đồng thời cầu xin sự an lành, may mắn, mùa

màng bội thu, gia đình hạnh phúc, mọi người yêu thương nhau hơn để tính cố kết

cộng đồng trở nên bền vững và hiệu quả nhất

Ngoài ra, việc thờ cúng cô hồn còn tạo ra sự kết nối quá khứ - hiện tại -

tương lai Những con người trong quá khứ đã tạo dựng một phần của thực tại nhờ

những đóng góp của mình để từ đó mới có hiện tại và sẽ xuất hiện tương lai tươi mới cho các thế hệ con cháu sau này Thờ cúng Cô hồn có sức lan truyền mạnh mẽ, tạo ra những cảm xúc, rung động thiêng liêng và do đó, có tác dụng tập hợp, đoàn kết, gắn bó con người một cách có hiệu quả Đối với mỗi gia đình, bên cạnh bàn thờ

tổ tiên, thì một mâm cúng cô hồn cũng là biểu tượng hết sức thiêng liêng, có sức mạnh lôi cuốn các thành viên quây quần, đoàn tụ để tưởng nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị truyền thống nhằm chuyển giao cho các thế hệ mai sau

Trang 25

CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÔ HỒN TRUYỀN THỐNG Ở CÁC LÀNG ĐÁNH CÁ VEN BIỂN ĐÀ NẴNG

2.1 Quan niệm của cư dân ven biển Đà Nẵng về Cô hồn và thờ cúng Cô hồn

Sau khi phát phiếu khảo sát tín ngưỡng Cô hồn tại các hộ gia đình ở làng Thanh Khê, Mân Quang, Nam Ô đã thu được kết quả vô cùng khả quan Trong 50 phiếu phát ra thì 100% số phiếu đều theo tín ngưỡng thờ Cô hồn từ bao đời nay Chứng tỏ rằng, từ xa xưa, thờ cúng Cô hồn là một trong những tín ngưỡng truyền thống của cư dân ven biển Đà Nẵng Đó là cách ứng xử với người chết có số phận bất hạnh, qua đó biểu thị sự tôn quý của tính mạng con người và đồng thời thể hiện tình yêu thương con người

Trong khi đi điền dã, tôi đã hỏi thăm nhiều người tại các làng đánh cá ven

biển Đà Nẵng về tín ngưỡng Cô hồn Theo ông Hồ Ngân - Tư lễ ở làng Thanh Khê cho biết: “Ở làng này, Cô hồn thường được mọi người dùng để chỉ những người

chết trên biển, không rõ họ hàng thân thiết”; hay ông Lê Vinh - phụ trách trông coi

các di tích ở làng Nam Ô cũng cho biết: “Tôi hay người dân Nam Ô xưa nay đều

quan niệm Cô hồn là những người chết không có chỗ lưu thân, phiêu bạt mọi nơi và

họ có thể phù hộ cho người làng Nam Ô khi đi biển nếu họ có lòng thành”

Như vậy, theo quan niệm của dân biển Đà Nẵng, Cô hồn là người chết không

có họ hàng thân thích thờ cúng, chết không bình thường, gọi chung là bất đắc kỳ tử, thường vào giờ thiêng, nên có năng lực, quyền uy, chi phối dáng kể cuộc sống của

cộng đồng và nghề biển Cô hồn/Cô bác là lực lượng có năng lực và quyền uy chi phối đáng kể đến cuộc sống cộng đồng và nghề biển Vì vậy, phải thờ phụng chu đáo dể cầu mong sự phù hộ, chở che Quan niệm Cô hồn của cư dân ven biển Đà Nẵng vừa mang nội dung truyền thống, vừa có thêm ý nghĩa mới Biểu hiện ở chỗ, thập loại Cô hồn chỉ có loài người gồm các dạng chủ yếu như: Vong hồn có cái hết bất bình thường hay còn gọi là cái hết không rõ nguồn gốc, vong hồn có cái chết mất xác trên biển, vong hồn chiến sĩ vong trận, vong hồn tiền chủ của vùng đất tiền

Việt Dân biển suy tôn các dạng vong hồn này là “Âm linh” hay gọi thân mật hơn là

Cô hồn/Cô bác Chính vì vậy mà cư dân ven biển có câu: “Ngoài biển có lịnh Ông

ủng hộ/Trong bờ nhờ Cô bác phò trì” Theo tác giả Nguyễn Xuân Hương trong

Trang 26

công trình “Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng”, các loại vong

hồn mà cư dân miền biển Quảng Nam - Đà Nẵng suy tôn là Cô hồn/Cô bác gồm:

- Vong linh của mười loại người chết vì mười nguyên do khác nhau Các nguyên nhân đó được thể hiện rất rõ trong bản “Văn tế cô hồn” của các làng biển

Đó là các nạn nhân bị ôn dịch, bệnh tật, chiến tranh, bão lũ, là những người bị xiêu

mồ lạc nấm nơi đầu gành cuối bãi, những người chết bất đắc kỳ tử do tai nạn, em bé mất khi còn trong bụng mẹ…

- Vong linh của dân sở tại, đó là những vong hồn chết “bất đắc kỳ tử” nhưng

có nguồn cội, danh tính bởi là thành viên của các chư phái tộc trong làng, nhưng do thác ở nơi khác và hầu hết bị thất lạc mồ mả

- Ngư dân các đời của các tộc họ đã bỏ mình trên biển trong cuộc mưu sinh

từ xưa Đối tượng này được tôn là tiền bối nghề biển của làng vạn Họ vừa được thờ cúng ở làng, vừa được thờ ở gia tộc

- Những người khuất mặt hay còn gọi là “Khách” Có lẽ đây là cách gọi tế

nhị và tôn trọng của dân Việt để chỉ người Chăm, vốn là chủ thể của một nền văn hóa “tiền Việt” và là tiền chủ vúng đất, vùng biển Amaravati xưa

- Chiến sĩ trận vong, đây là các chiến sĩ tử trận, không phân biệt “bên ta, bên

địch” Địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng xưa là vùng đất giao tranh quyết chiến, ác liệt giữa quân ta và địch trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Vì vậy nơi đây có rất nhiều vong hồn vất vưởng Việc quy tập, giữ gìn mộ phần và thờ cúng Chiến sĩ trận vong cũng có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng, gắn với niềm tin về sự liêng thiêng, phù trì của vong hồn nghĩa

sĩ cho cuộc sống

Ở cư dân đánh cá ven biển Đà Nẵng, phạm vi thờ cô hồn được phân thành hai cấp là: thờ cúng ở phạm vi gia đình và rộng hơn là làng vạn Thường thì ngoài việc cúng chung của làng, mỗi gia đình đều có những nghi lễ cúng riêng tại gia đình

2.2 Biểu hiện của tín ngƣỡng thờ cúng Cô hồn

Tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn của cư dân ven biển Đà Nẵng gắn liền với quá trình hình thành làng, thành phố và đời sống kinh tế xã hội của cư dân vùng đất này Cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu chính thống nào cho biết chính xác thời gian

Trang 27

cụ thể tín ngưỡng này xuất hiện ở các làng ven biển, chỉ biết là sau khi tách khỏi Quảng Nam - Đà Nẵng (năm 1997) thì nó đã theo đó phát triển ngày một lớn mạnh hơn và tồn tại cho đến bây giờ

2.2.1 Cơ sở thờ tự

Để đi sâu vào tìm hiểu thực trạng tín ngưỡng thờ cúng Cô hồn trong cộng đồng cư dân ven biển Đà Nẵng, tôi đã tiến hành phát 50 phiếu điều tra ở ba làng Thanh Khê (15 phiếu), Nam Ô (20 phiếu), Mân Quang (15 phiếu)

2.2.1.1 Phạm vi gia đình

Về cơ sở thờ tự, kết quả phiếu điều tra thu được thể hiện qua bảng 1

Bảng 1 Số lượng gia đình có cơ sở thờ tự Cô hồn

Khóm thờ riêng 10/50 20

Đặt chung với bàn thờ tổ tiên 2/50 4

“Nguồn: Theo kết quả điều tra khảo sát của sinh viên”

Qua bảng 1, ta có thể thấy rõ rằng nhìn chung trong các hộ gia đình tại các làng đánh cá ven biển hiện nay không có cơ sở thờ tự Cô hồn, mà chỉ khi trong gia đình có dịp cúng tế tổ tiên hay lễ chạp thì sẽ lập 1 bàn lễ cúng cô hồn ngay phía trước sân mà thôi Nguyên nhân là do, từ xa xưa quan niệm của ông cha ta cho rằng

“Cô hồn” là những vong linh chết đường, chết chợ không nên mang vào nhà, đặc

biệt là không nên để cơ sở thờ tự trong nhà vì sẽ kéo theo nhiều điều không tốt đến cho gia đình, nếu không cẩn thận có thể ảnh hưởng đến toàn bộ các thành viên trong gia đình về sức khỏe và sự nghiệp

Tuy nhiên, qua bảng 1 ta còn thấy vẫn còn có 2 hộ, chiếm 4% đặt cơ sở thờ

tự Cô hồn chung với bàn thờ tổ tiên Vì hai hộ gia đình này đều nằm ở làng Nam Ô

và có quan hệ huyết thống với nhau nên để lí giải nguyên nhân, tôi đã tiến hành phỏng vấn ông Lê Thiệt - trưởng nam của gia đình thuộc tổ 107 Hòa Hiệp, Liên

Chiểu Ông cho biết: “Gia đình ông quan niệm việc thờ cúng Cô hồn là vô cùng

quan trọng xứng ngang với thờ cúng tổ tiên Con cháu đi biển có bội thu hay không

là do Cô hồn giúp đỡ một phần, cho nên phải đặt cơ sở thờ tự Cô hồn ở vị trí trang nghiêm trong gia đình” Như vậy, có thể hiểu việc đặt cơ sở thờ tự Cô hồn chung

Trang 28

với cơ sở thờ tự tổ tiên là do sự tôn sùng, coi trọng các vong linh của các hộ gia đình

Ngoài ra còn có 10 hộ, gia đình chiếm 20% xây khóm thờ riêng để thờ tự Cô hồn Nguyên nhân là do các hộ gia đình này quan niệm rằng nếu muốn làm ăn buôn bán thuận lợi, người ra vào tấp nập thì phải cúng bái xin Cô hồn xung quanh nhà

không ngăn cản, quấy phá, cầu xin các vong linh phù hộ cho gia đình buôn may bán

đắt Cho nên họ đã lập khóm thờ để cúng riêng cho Cô hồn, xem như là thể hiện

lòng thành của mình đến các vong linh

Về vị trí, qua khảo sát thực tế đối với 10 hộ có cơ sở thờ tự Cô hồn là khóm

thờ, tác giả đã thu được kết quả về vị trí đặt cơ sở thờ tự như sau:

Bảng 2 Vị trí đặt cơ sở thờ tự Cô hồn

Phía ngoài cổng 7/10 70 Trước sân 1/10 10

1 góc sân 2/10 20

“Nguồn: Theo kết quả điều tra khảo sát của sinh viên”

Qua bảng 2, ta có thể thấy các cơ sở thờ tự thường được đặt ở phía ngoài cổng nhà chiếm tỉ lệ nhiều nhất đến 50%, tiếp theo là đặt trước sân chiếm 30% và cuối cùng là đặt ở một góc sân chiếm 20% Như vậy, vị trí chủ yếu thường được các

hộ gia đình lựa chọn vẫn là phía ngoài ngôi nhà vì để tránh những trường hợp có thể gây ảnh hưởng đến gia đình khi các vong hồn xấu vào nhà

Về nguyên vật liệu xây dựng, các cơ sở thờ được làm từ nhiều loại vật liệu

khác nhau, tùy theo khả năng kinh tế và quan điểm thẩm mỹ của mỗi gia đình Có gia đình làm bằng gỗ, có gia đình làm bằng kim loại, có gia đình lại xây bằng gạch,

xi măng Tuy được làm bằng nhiều loại vật liệu khác nhau nhưng nhìn chung rất vững chắc, được trang trí hoa văn bên ngoài Điều đó được chứng minh qua quá trình khảo sát thực tế của tác giả, cụ thể là:

Trang 29

Bảng 3 Vật liệu xây dựng các cơ sở thờ tự

“Nguồn: Theo kết quả điều tra khảo sát của sinh viên”

Thường thì với những cơ sở thờ tự làm bằng bê tông được làm với kích thước lớn (khoảng 0,5m - 1m), dựa theo mô hình một ngôi nhà thu nhỏ, tức là có hai mái, ba mặt được xây kín, mặt còn lại thường có một miếng rèm đảm bảo bên trong không bị mưa gió làm ẩm, ướt vì những khóm kiểu này thường được đặt ngoài sân, và ít khi đặt trực tiếp dưới mặt đất mà được đặt trên một cái trụ khoảng một mét Còn với những cơ sở thờ tự làm bằng kim loại hay bằng gỗ thì có kích thước nhỏ hơn, thay vì làm hai mái thì chỉ làm một mái xuôi về phía sau và cũng được làm kín ở ba mặt, những cơ sở thờ tự này thường được đặt ở bên trên hiên trước nhà của gia đình

Về cách bài trí, các hộ gia đình bày trí bên trong khóm thờ khá đơn giản,

tương tự như một bàn thờ thu nhỏ Từ ngoài nhìn vào, ngoài những vật dụng để phục vụ cho việc thờ cúng như bình hoa, nồi hương hay ly nước, đĩa đựng vật cúng

Ta sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh con ngựa đứng xoay đầu ra ngoài, có gia đình thì đặt

con ngựa màu trắng, có gia đình thì đặt con ngựa màu đỏ Điển hình có thể kể đến

như khóm thờ Cô hồn của ông Lê Văn Lễ - trưởng ban nghi lễ làng Thanh Khê Đông có đặt 2 con ngựa màu đỏ Theo ông Lễ, việc sử dụng màu sắc khác nhau cho hai con ngựa là để biểu thị cho vị trí của người được thờ cúng, đặt con ngựa màu trắng là dùng cho người ở vị trí thấp, màu đỏ dùng cho những người ở vị trí cao hơn

Ngoài ra, ở một số gia đình không có khóm thờ thì thường làm một bát

hương hay đặt trước cổng nhà, hay đơn giản là quy định một chỗ nào đó dành riêng cho việc thắp hương

Trang 30

2.2.1.2 Phạm vi làng vạn

Về cơ sở thờ tự, theo điều tra của tác giả thì hiện nay cơ sở thờ tự Cô hồn ở

các làng Nam Ô, Thanh Khê, Mân Quang được khái quát như sau:

Bảng 4 Cơ sở thờ tự Cô hồn ở làng Nam Ô, Thanh Khê, Mân Quang

làng

Số lƣợng

Năm xây dựng

1 Nam Ô 1 Năm 1889

-1907 dưới thời vua Thành Thái

Tổ 35, khu phố Nam

Ô II/1, phường Hòa Hiệp Nam, Quận Liên Chiểu, Thành phố

Đà Nẵng

Dinh Cô hồn được trùng tu chắc chắn vào năm 2003 Hàng rào, cổng ngỏ đầy đủ bảo đảm ngăn được những xâm hại bên ngoài tác động lên di tích

Năm 1958 dân làng cho trùng tu, tôn tạo lần đầu tiên và đến năm 2003 do tình trạng xuống cấp nghiêm trọng nên công trình đã được tu sửa thêm lần nữa cho đến bây giờ

2 Thanh

Khê

1 Năm 1893

- sau cơn bão năm Quý Tỵ

Phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, Thành phố

Đà Nẵng

Sau các lần tu sửa thì hiện nay công trình tương đối khang trang

và được sự quản

lí địa phương và nhân dân, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm

2011

Trùng tu lần 1 vào năm 1931 Trùng tu lần 2 vào năm

1991, đây là lần đại trùng tu của làng Thanh Khê với sự hoàn thiện các cơ

sở vật chất - kĩ thuật cả trong lẫn ngoài cơ sở thờ tự

Miếu Cô hồn ở làng Mân Quang sau các lần tu sửa thì hiện nay

về quy mô và không gian tương đối hoàn chỉnh

Miếu được trùng tu lần 1 vào năm 2004

và lần thứ 2 vào năm 2011 với quy

mô trùng tu tổng thể công trình

“Nguồn: Theo kết quả điều tra khảo sát của sinh viên”

Trang 31

Qua bảng trên, có thể thấy rằng cơ sở thờ tự cô hồn ở các làng trên đều được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX Bên cạnh đó, cơ sở thờ tự của cả 3 làng đều trải qua

1 - 2 lần trùng tu và cho đến nay thì đều tương đối khang trang, các công trình bên trong dinh, miếu Cô hồn như bình phong, chính điện, hậu tẩm đều được hoàn thiện Đặc biệt cho đến nay thì cơ sở thờ tự của ba làng đều được công nhận là di tích cấp quốc gia, cần được trân trọng và bảo vệ

Các làng ven biển Đà Nẵng có rất nhiều miếu Cô hồn, cái lớn thì gọi cái dinh, cái nhỏ hơn tí thì gọi là cái miếu hay là cái miễu, cái nhỏ hơn nữa thì gọi là cái khóm Nhưng phổ biến nhất hiện nay vẫn là dinh và miếu/miễu, còn về khóm thì chỉ được sử dụng cho trước kia khi các dinh, miếu còn ở quy mô nhỏ và chưa tu sửa quy mô như hiện nay, ta có thể thấy rõ trong bảng 5:

Bảng 5 Tên gọi của các cơ sở thờ tự tại các làng Nam Ô,

Thanh Khê, Mân Quang, An Hải, Tân Thái

“Nguồn: Theo kết quả điều tra khảo sát của sinh viên”

Về vị trí, phương hướng: Qua quá trình khảo sát thực tế các cơ sở thờ tự Cô

hồn, tác giả nhận thấy hầu hết dinh, miếu thờ Cô hồn được xây dựng tương đối

giống nhau về vị trí và phương hướng Ở các làng Nam Ô, Thanh Khê, An Hải,… đều xây mặt chính của dinh, miếu hướng ra biển, cùng hướng và gần với lăng Ông ngư Riêng có làng Mân Quang thì vì miếu thờ Cô hồn nằm trong cụm di tích của làng cho nên được xây theo hướng Tây Bên cạnh đó, các làng đều chọn vị trí trung tâm của ngôi làng để xây dựng nơi thờ tự để thể hiện sự trang nghiêm và vai trò to lớn của tín ngưỡng thờ Cô hồn đối với cư dân

Về kiến trúc, điển hình như miếu Âm linh/Cô hồn của làng Mân Quang trước

đây xây dựng cách đình làng khoảng 150m về hướng Tây Bắc Miếu được xây bằng

Trang 32

vật liệu gạch và xi măng, trần đổ bê tông, tạo mái giả Miếu chia thành hai khoảng không gian gồm chính điện và hậu tẩm Chính điện có hai ban thờ tả, hữu; hậu tẩm

có một ban thờ Nóc chính điện trang trí hình hai chim phượng chầu vào bầu rượu

và hình lưỡng long triều nguyệt Nóc mái hậu tẩm cũng được trang trí hình lưỡng long triều nguyệt

Bên cạnh đó, có thể kể đến dinh Cô hồn tại làng Nam Ô Dinh được xây hướng ra vịnh Đà Nẵng, cách mép nước chừng 50m Dinh có tường xây bao 3 mặt thành khuôn viên hình chữ nhật có diện tích chừng 250m, cửa ra vào ở mặt tường phía trước Nhà dinh dựng ở cuối khuôn viên gồm ba gian và hậu tẩm phía sau, có thềm rộng với bốn cột hiên phía trước, tường cột đều bằng gạch, cửa đều bằng gỗ ván, trên đỉnh mái có đắp hình lưỡng long chầu nguyệt Dinh chia thành hai khoảng không gian gồm chính điện và hậu tẩm Chính điện có hai ban thờ tả, hữu; hậu tẩm

có một ban thờ

Trong miếu thường có thờ Tiêu Diện Đại Sĩ - Vị thần chỉ huy cô hồn, Tiêu Diện được thờ trong khóm riêng hay biểu trưng bằng một giá kỉnh, trên đó có hai

chữ “Đại Sĩ” Ngoài ra còn có một số nơi phối thờ Tiền hiền và thờ các bậc trung

liệt có công với nước với dân

2.2.2 Thời gian thờ cúng

Đối với phạm vi gia đình, thường cúng Cô hồn vào ngày 30 hoặc mồng một

và 14 hoặc 15 hằng tháng Những ngày rằm, mồng một là lúc người dân cúng bái cầu xin cho các vong hồn phù hộ cho gia đình, đặc biệt là đối với người buôn bán

họ cầu để mong buôn may bán đắt

Hay những ngày cúng, kỵ cho ông bà tổ tiên của gia đình, người trong nhà cũng bày biện mâm lễ trước hiên để cúng Cô hồn như muốn bày tỏ lòng thành đối với các vong linh và một phần thể hiện lòng cảm thông những linh hồn cô đơn không nơi lưu trú

Bên cạnh đó cũng có thể bày mâm cúng Cô hồn trong những ngày mà gia đình có tang ma thì sau khi chôn người mất từ ba đến năm ngày, lúc này, người nhà làm lễ cúng cô hồn vừa là để tiễn vong linh người trong nhà về với thế giới bên kia, vừa là cầu mong rằng các vong linh phiêu bạt bên ngoài nhà mình cũng sẽ tìm được nơi chốn phù hợp, tìm được gia đình của họ

Trang 33

Cũng có một số hộ gia đình cúng cô hồn trước ngày ra khơi đi biển Theo

ông Hồ Ngân - tư lễ làng Thanh Khê cho hay: “Dân ở làng Thanh Khê trước khi đi

biển gia đình nào cũng tổ chức cúng cô hồn ngay trên thuyền của mình để cầu chuyến đi thuận buồm xuôi gió” Việc cầu khấn các Cô hồn/Cô bác phiêu bạt trên

biển sẽ phù hộ cho chuyến đi thành công, gặp nhiều may mắn, tránh khỏi thiên tai trên biển và đặc biệt là bội thu tôm cá Mặt khác, quan trọng hơn là việc cúng bái trước chuyến đi sẽ là chỗ dựa tinh thần và tiếp thêm động lực để dân biển ra khơi

Đặc biệt là vào ngày rằm tháng 7 hằng năm, việc tổ chức cúng Cô hồn được diễn ra nghiêm trang, long trọng hơn những ngày thường vì người ta quan niệm rằng đây là lễ xá tội vong nhân, ngày mà các Cô hồn được tự do đi lại không quản thúc nên mọi người tổ chức cúng Cô hồn cầu mong những vong hồn có được một ngày no đủ

Đối với phạm vi làng vạn, việc thờ cúng Cô hồn trong cộng đồng dân cư rất

được chú trọng thực hiện Trong một năm có rất nhiều dịp thực hiện nghi lễ cúng

Cô hồn như:

Vào những ngày đầu năm của tháng giêng, hầu hết các xóm đều thực hiện việc cúng đầu năm và trong mâm cúng đầu năm ấy bao giờ cũng có một mâm dành cúng cho cô hồn Tại những làng ven biển, trong lễ cúng cá Ông hằng năm thì cũng dành một phần nghi lễ để cúng Cô hồn, nghi lễ này được thực hiện đầu tiên vào rạng sáng ngày tế lễ chính thức của lễ cúng cá Ông Bên cạnh đó, vào những ngày rằm lớn trong năm việc cúng Cô hồn được cộng đồng dân cư tổ chức lớn hơn như vào rằm tháng bảy Ngoài ra các dịp cúng đình làng thì người dân cũng thường cố mâm cúng dành cho cô hồn

Hiện nay các làng như Nam Ô, Thanh Khê, Mân Quang,… đa số đều có cơ

sở thờ tự Cô hồn riêng Cho nên, ngoài những thời gian kể trên, mỗi làng còn có một đến hai ngày tổ chức cúng cô hồn riêng Cụ thể như ở làng Mân Quang, ngày rằm tháng bảy hằng năm được cư dân Mân Quang chọn làm ngày lễ tế Âm linh hay còn gọi là lễ tế Cô hồn/Cô bác; lễ tế thường diễn ra trong hai ngày; ngày đầu gọi là

lễ túc hoặc lễ chưng thường, hôm sau là lễ chánh; ngoài ngày tế chính thì 25 tháng giêng âm lịch hằng năm được làng Mân Quang đặt làm ngày kỵ Âm linh Làng Thanh Khê, thì lại chọn ngày 23/3 âm lịch là ngày cúng Cô hồn ngay tại miếu Cô

Trang 34

hồn/Cô Bác của làng; ngoài ra ngày 25/12 âm lịch là ngày quẩy cơm cho những âm linh cô hồn vào dịp cuối năm Còn đối với làng Nam Ô, lễ tế Cô hồn hàng năm được tổ chức vào ngày Nguyên Tiêu đầu năm - 15/1 âm lịch

cá, tôm,… tùy vào lòng thành của từng hộ gia đình Còn đối với các hộ gia đình chỉ sống bằng nghề nông hay làm công nhân tại các khu công nghiệp thì lễ vật đơn giản chỉ là đồ chay dâng lên Cô hồn Theo như ông Lê Thiệt ở làng Nam Ô 1 - tổ 107 Hòa Hiệp Nam - Liên chiểu thì nhà ông chỉ là công nhân bình thường tại khu công nghiệp Hòa Khánh nên thường thì đến các dịp cúng Cô hồn, gia đình sẽ dọn mân cỗ chay gồm hương, hoa, quả, nước,… dâng cúng Qua bảng 6, chúng ta có thể thấy cụ thể hơn:

Bảng 6 Lễ vật dâng cúng Cô hồn của các hộ gia đình ở các làng

Nam Ô, Thanh Khê, Mân Quang

Lễ vật

Hoa, quả

Heo,

Xôi, chè

Không

Cháo loãng

Lễ vật khác

Ngày lễ, tết       Khi có việc    

“Nguồn: Theo kết quả điều tra khảo sát của sinh viên”

Trong số các lễ vật cúng tế thì cháo loãng được coi là món không thể thiếu bởi người ta quan niệm rằng cô hồn có cổ họng nhỏ, rất khó khăn khi nuốt thức ăn nên cháo hoa là thứ dễ nhất Tuy nhiên, hiện nay thì một số người dân thường cúng theo ý nghĩ của gia chủ, tức là gia chủ có gì thì cúng đó, hầu hết là cúng trái cây, bánh kẹo,… tùy tâm là chính

Trang 35

Về trang phục của chủ tế, người cúng phải mặc trang phục nghiêm chỉnh, không cẩu thả, rườm rà, nếu là phụ nữ phải mặc áo có tay dài, còn với những vị cao niên thì mặc áo dài khăn đóng màu sạm tối

* Văn tế

Qua quá trình khảo sát thực địa, có thể rút ra rằng: Hiện nay có rất nhiều bài văn tế cho lễ cúng Cô hồn Tuy nhiên, không có một bài văn khấn nào chung cả mà tùy vào tâm tư, suy nghĩ, nguyện vọng của gia cư để hình thành nên bài cúng tế theo ý nghĩ chủ quan của họ mà thôi Đa số đều cầu mong chư thần phù hộ cho gia đình mua may bán đắt, vạn sự bình an Sau khi phỏng vấn ông Lê Thiệt - làng Nam

Ô, tác giả đã thu được bản văn tế cô hồn của gia đình ông dành để cúng vào dịp rằm hay những ngày đầu tháng Văn bản ngày có thể không hoàn toàn giống các văn tế của các gia đình khác nhưng cũng có thể tương tự về mặt ý nghĩa Toàn văn như

Trang 36

Tuân theo lệ tục - Bát nước nén hương - Kính cẩn lạy dâng - Tôn thần, tổ tiên - Cuối trông phù hộ - Cứu khổ trừ tai - Tiến lộc, thăng tài - Gái trai hiế thảo -

Vợ chồng hòa hỏa - Vạn đáo hành thông - Sắc sắc không không - Âm dữ dương đồng - Dốc lòng cầu khấn - Cúi xin soi tận - Ý khẩn, tâm thành - Muôn đợi tôn linh

Phục duy! Thượng hưởng

Còn đối với những gia đình là Phật tử thì có bài văn tế khác:

Kính lễ mười phương tam bảo chứng minh

Hôm nay ngày……tháng……năm……… (Âm lịch)

Con tên là:……… tuổi……….Ngụ tại số nhà … …, đường….…, phường (xã)…, quận (huyện) ………,tỉnh (Tp):………

Trân trọng kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ, thập loại cô hồn, các Đảng, âm binh ngoài đường, ngoài xá, hửu danh vô vị, hửu vị

vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn… về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ…

Phát lòng thành tịnh, thiết lập đạo tràng, bày tiệc cam lồ, Kỳ an gia trạch,

Kỳ an bổn mạng Nhờ ơn tế độ, thêm sự phước duyên, nguyện xin gia đình yên ổn, thuận lợi bán buôn, phù hộ được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý, dòng họ quy hướng đạo mầu, con cháu học hành tinh tiến, nguyện cầu thế giới hòa bình, nhơn sanh phước lạc

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng Độ cho nhứt thiết siêu thăng thượng đài

Chân ngôn biến thực: (biến thức ăn cho nhiều)

Nam mô tát phạ đát tha, nga đà phạ lô chỉ đế, án tám bạt ra, tám bạt ra hồng (7 lần)

Chân ngôn Cam lồ thủy: (biến nước uống cho nhiều)

Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha Án tô rô, tô rô, bát ra tô

rô, bát ra tô rô, ta bà ha (7 lần)

Chân ngôn cúng đường: án nga nga nẵng tam bà phạt phiệt nhựt ra hồng (7 lần).”

Trang 37

Tiếp đến người cúng sẽ bắt đầu việc cúng bằng cách đứng ở trước bàn cúng, mặt quay ra hướng cúng (quay ra bên ngoài), chắp tay trước ngực cúi đầu rồi khấn vái Sau khi khấn vái, lạy xong, đợi một lúc, người trong gia đình hay người cúng sẽ thay nước lã bằng nước trà và tiếp tục khấn vái và lạy Sau khi hương đã tàn gần hết thì mới dọn lễ vật xuống Người cúng đem hạt ngũ sắc, gạo muối vãi ra xung quanh phía trước nhà, áo đất vàng mã thì đem đốt đi Với những nhà cúng cháo cũng đem đặt phía trước nhà

2.2.3.2 Phạm vi làng vạn

* Lễ vật

Khi thực hiện nghi thức cúng Cô hồn tại cộng đồng cư dân vào những ngày đầu năm thì lễ vật cúng Cô hồn cũng được chuẩn bị đầy đủ, thịnh soạn hơn so với ở gia đình Ngoài cháo trắng, vàng mã, nước như thường thấy thì có chuẩn bị Long Chu làm bằng giấy rất đẹp Trên Long Chu đặt những sản vật mà người dân có được như một bát hương, một đôi đèn sáp, đĩa đồ mặn gồm: trứng gà, tôm, cua, khổ thịt… Vào các dịp cúng Cá Ông thì có cháo trắng, khoai lang luộc, đường cục, bát gạo muối, trầu cau, rượu cùng hương đèn và đồ vàng mã Vào những ngày Sóc, ngày Vọng thì đơn giản là cúng cháo và nước, có nơi chỉ thắp hương, đèn

Đặc biệt vào những ngày cúng Cô hồn tại một số làng ven biển thì lễ vật được bày biện với các thức cúng chay, được chế biến thành các món như: cơm, canh, đồ xào, bánh tét, bánh tráng, bát đường, cháo trắng, khoai, sắn, bỏng, trầu cau, rượu, nước lã

Trang 38

* Chủ tế

Chủ tế trong những buổi cúng Cô hồn tại cộng đồng cư dân là những vị cao niên, những người đứng đầu xóm làng Điển hình như ở Làng Thanh Khê, chủ tế là ông Lê Văn Lễ - thành viên ban phụng sự của làng, ông là một trong những người đứng đầu làng và có uy với bà con Hay đối với làng Mân Quang, chủ tế là ông Châu Văn Cả - vị cao niên trong làng năm nay đã hơn 70 tuổi Ngoài ra, cũng có thể

là một người chuyên lo về việc cúng kiếng của làng gọi là thầy cúng Ví dụ như làng An Hải chủ tế giao cho thầy cúng có uy tín trong làng Nhưng dù là ai đi chăng nữa thì trang phục cũng phải gọn gàng, chỉnh tề, riêng với thầy cúng thì thường mặc

áo dài, khăn đóng màu tối, khi cúng tâm phải tịnh, phải hướng về Cô hồn

* Trình tự thờ cúng

Tại những buổi lễ cúng đầu năm, sau khi đặt lễ vật đầy đủ lên bàn cúng bắt đầu nổi chiêng, trống ba hồi liên tiếp báo cho mọi người được biết việc cúng được bắt đầu và cũng là để mời thần linh, Cô bác về dự Sau đó người chủ tế khấn vái và đọc bài văn khấn, tiếp đến dành khoảng 1 giờ đồng hồ để đại diện các hộ gia đình khấn vái Trích đoạn văn tế thỉnh Cô hồn về dự lễ tại làng Thanh Khê:

- Cung thỉnh Tả Ban Liệt Vị, Hữu Ban Liệt Vị tôn thần

- Cung thỉnh Tiền Hiền Khai Khẩn, Hậu Hiền Khai Cơ chi thần

- Cung thỉnh Tiền Hiền Hữu Sắc mạng chư vị

Việc cúng Cô hồn trong lễ cúng cá Ông được thực hiện khá đơn giản Bắt đầu vị chánh bái gõ ba hồi mõ sau đó dâng tuần rượu và đọc văn tế Nội dung của văn tế Cô hồn biểu hiện sự yêu thương cho những kẻ bất hạnh, khốn khổ đã khuất

Tế xong, vật tế lễ được tung ra khắp nơi để thí thực Cô hồn

Vào ngày lễ tế dành riêng cho Cô hồn thì nghi lễ được tổ chức long trọng đầy

đủ hơn cả Không gian lễ diễn ra cả trong và ngoài lăng, thường diễn ra trong hai

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w