Đà Nẵng - một thành phố trẻ, năng động, đáng sống, đang vươn mình mạnh mẽ, không chỉ là niềm tự hào của người dân nơi đây mà nó còn để lại ấn tượng tốt đẹp, sâu đậm trong lòng du khách t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Lớp 10CVNH, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
GVHD: ThS Lê Thị Thu Hiền
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
- Đà Nẵng, 5/2014 -
Trang 2Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo khoa Lịch sử đã trang bị cho em những kiến thức bổ ích trong suốt khoá học
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Lê Thị Thu Hiền - người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ, nhân viên Thư viện Trường Đại học sư phạm, Đại học Đà nẵng; Phòng học liệu - khoa Lịch sử đã chỉ dẫn và cung cấp cho em nhiều tài liệu quan trọng
Sau cùng, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn tâm, giúp đỡ, chia sẻ trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Do thời gian và năng lực còn hạn chế nên khoá luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và toàn thể bạn đọc để khoá luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014 Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Lấm
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1 KHÁI QUÁT PHƯỜNG THỌ QUANG, QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 6
1.1 Điều kiện tự nhiên 6
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 8
1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội 10
1.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư 15
1.5 Vai trò của phường Thọ Quang đối với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng 17 Chương 2 TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG CỦA CƯ DÂN PHƯỜNG THỌ QUANG, QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 21
2.1 Khái quát về làng Mân Quang 21
2.2 Khái niệm tín ngưỡng 23
2.3 Hệ thống tín ngưỡng của cư dân Mân Quang 25
2.3.1 Tín ngưỡng cộng đồng 25
2.3.1.1 Tín ngưỡng thờ Tiền hiền, Hậu hiền 25
2.3.1.2 Tín ngưỡng thờ Cá Ông 29
2.3.1.3 Tín ngưỡng thờ Nữ thần Thiên Y Ana 33
2.3.1.4 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng 35
2.2.1.5 Tín ngưỡng thờ Âm linh 36
2.3.1.6 Các tín ngưỡng khác 39
2.3.2 Tín ngưỡng trong gia đình 42
2.3.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 43
2.3.2.2 Tín ngưỡng thờ Táo Quân 46
Trang 42.4 Giá trị, ý nghĩa của các tín ngưỡng với đời sống của cư dân Mân Quang 49
2.4.1 Giá trị tâm linh 49
2.4.2 Giá trị văn hóa nghệ thuật 50
2.4.3 Giá trị lịch sử 51
2.4.4 Giá trị xã hội 52
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC TÍN NGƯỠNG CƯ DÂN PHƯỜNG THỌ QUANG, QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 54
3.1 Tác động của quá trình đô thị hóa ở Đà Nẵng đối với phường Thọ Quang 54
3.2 Tín ngưỡng cư dân Thọ Quang qua quá trình đô thị hóa ở Đà Nẵng 56
3.2.1 Thực trạng tín ngưỡng cư dân Thọ Quang hiện nay 56
3.2.2 Biến đổi trong tín ngưỡng truyền thống của cư dân Mân Quang qua quá trình đô thị hóa ở Đà Nẵng 61
3.2.2.1 Biến đổi trong tín ngưỡng cộng đồng 61
3.2.2.2 Biến đổi trong tín ngưỡng gia đình 68
3.3 Giải pháp giữ gìn, phát huy các tín ngưỡng truyền thống của cư dân Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 71
3.3.1 Tăng cường vai trò của chính quyền địa phương, các cấp quản lý 71
3.3.2 Giáo dục, nhắc nhở con cháu về ý thức, trách nhiệm duy trì, giữ gìn các tín ngưỡng 73
3.3.3 Chỉnh trang, tôn tạo các cơ sở thờ tự 74
3.3.4 Gắn các hoạt động tín ngưỡng với lễ hội và phát triển du lịch 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 1 Số lượng người theo tín ngưỡng cộng đồng ở Mân Quang 56 Bảng 2 Ý nghĩa của lễ hội đình làng Mân Quang 58 Bảng 3 Những dịp thường đến thăm viếng và lễ vật dâng cúng của cư dân tại các
cơ sở thờ tự 58
Bảng 4 Hệ thống tín ngưỡng trong gia đình của cư dân Mân Quang 59 Bảng 5 Đối tượng thực hiện nghi lễ cúng kính trong gia đình cư dân Mân Quang 60
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa sắc màu, phong phú với nhiều tầng bậc, thứ lớp, là sự tích hợp của quá trình ảnh hưởng, tiếp biến văn hóa Đông Tây và chính sức mạnh nội tại dân tộc Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, nền văn hóa Việt Nam đã trỗi dậy mạnh mẽ, phát huy cao độ giá trị tinh thần và sức sống bất diệt Trong đó, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội trở thành mạch nguồn không thể thiếu trong tổng thể nền văn hóa chung Nó được kết tinh, tồn tại qua hàng nghìn năm lịch sử, là bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc, gắn bó sâu sắc với mọi tầng lớp người dân, làm động lực cho sự phát triển xã hội, đồng thời là sợi dây liên kết giữa con người với con người, tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc
vô cùng to lớn Do đó, nghiên cứu về tín ngưỡng là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu văn hóa nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung
Trong quá trình sinh sống, định cư lâu dài, nhiều phong tục, tín ngưỡng cũng được hình thành góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cư dân Mỗi làng có những tín ngưỡng, lễ hội riêng, hay cách thức, thời gian tổ chức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, vị trí, quan niệm,… của từng vùng nhưng tựu chung lại, đó là niềm mong ước về một cuộc sống ấm no, yên vui, hạnh phúc, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, Hơn thế nữa, tín ngưỡng còn thể hiện lòng thành kính, biết ơn sâu sắc của cư dân đối với các vị thần, bậc thánh đã có công che chở, bảo vệ cho dân làng
Đà Nẵng - một thành phố trẻ, năng động, đáng sống, đang vươn mình mạnh
mẽ, không chỉ là niềm tự hào của người dân nơi đây mà nó còn để lại ấn tượng tốt đẹp, sâu đậm trong lòng du khách thập phương bởi sự hiện đại, phát triển và sự thân thiện, mến khách Nhắc đến Đà Nẵng, ngoài những cây cầu bắc qua sông Hàn, lễ
hội pháo hoa quốc tế, thành phố sạch đẹp,… người ta còn nghĩ đến “thành phố
biển” Với đường bờ biển dài 92km, cát trắng mịn, nước trong xanh, biển Đà Nẵng
đã được tạp chíForbes của Mỹ xếp vào danh sách 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh Vì vậy, loại hình du lịch biển trở thành điểm hấp dẫn, thu hút du khách đến với thành phố Đà Nẵng Cho nên, việc khai thác các giá trị văn hóa truyền
Trang 7thống như tín ngưỡng, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng của cư dân làng biển trở thành một yếu tố góp phần to lớn vào việc phát triển hơn nữa du lịch biển nơi đây
Phường Thọ Quang là một trong số hệ thống làng biển được hình thành từ rất sớm Cùng với quá trình làm chủ vùng đất phía Nam của Lê Thánh Tông, phường Thọ Quang ra đời Sự xuất hiện sớm về lịch sử cùng với phát triển nghề biển đã tạo điều kiện để cư dân Thọ Quang cố kết với nhau từ trong sinh hoạt đến lao động và sáng tạo nên nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc Theo đó, hệ thống các tín ngưỡng mang nhiều giá trị đặc trưng của một làng chài ven biển Kể từ khi ra đời cho đến nay, với truyền thống lâu đời, cư dân Thọ Quang đã bảo lưu, phát triển, làm phong phú thêm các giá trị văn hóa đó Vì thế, việc nghiên cứu các giá trị văn hóa trong đời sống tín ngưỡng của cư dân phường Thọ Quang để từ đó có định hướng bảo tồn, khai thác các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa quan trọng
Mặc dù có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của cư dân xứ Quảng thế nhưng trên thực tế chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn hiện, có hệ thống về vấn đề này Do đó, đòi hỏi phải có một công trình phản ánh đầy đủ những giá trị tín ngưỡng của cư dân phường Mân Quang
Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn vấn đề: Tín ngưỡng của cư dân phường
Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tín ngưỡng, phong tục, lễ hội là đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm, tìm hiểu Trước hết là Trần Ngọc Thêm với công trình: Cơ sở văn hóa Việt
Nam (1999), NXB Giáo dục và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2001), NXB
thành phố Hồ Chí Minh Đây là hai trong số những công trình khoa học có giá trị lớn, chứa đựng tâm huyết của tác giả về cội nguồn văn hóa của dân tộc, trong đó có
đề cập đến tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam nói hay Ngô Đức Thịnh với công trình:
Tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (2001), NXB Khoa học xã hội Công
trình này đã nghiên cứu sâu về văn hóa tín ngưỡng và các hình thức tín ngưỡng
chung ở nước ta Bên cạnh đó, Ngọc Hà trong tác phẩm: Tín ngưỡng, phong tục và
những kiêng kỵ trong dân gian (2011) cũng có giới thiệu một số tín ngưỡng như:
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, Tín ngưỡng thờ Mẫu, Thờ cúng tổ tiên, Thờ cá Ông,…
Trang 8Liên quan trực tiếp đến đề tài, có các công trình: Văn hóa dân gian làng
ven biển của Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội (2000); Tìm hiểu về các làng chài đánh cá ven biển Đà Nẵng từ khi thành lập đến nữa đầu thế kỉ XIX của Lương Thị Thùy (2008), khóa luận tốt nghiệp đại học, khoa Lịch Sử,
trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và đặc biệt trong công trình Tín ngưỡng của ngư
dân ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng, NXB của tác giả Nguyễn Xuân Hương đã đề
cập đến các tín ngưỡng, lễ hội của cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng như: Tục thờ cúng Cá Ông, lễ hội Cầu Ngư, hát chèo đưa linh, tục thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ
cô hồn, cô bác, tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ Nữ thần
Ngoài ra cũng đã có những nghiên cứu về làng Mân Quang: Làng Mân
Quang, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng từ khi thành lập đến cách mạng tháng 8 năm 1945 (2009) của sinh viên Lê Thị Lan, khóa luận tốt nghiệp
đại học, khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng Các bài báo Thử đề xuất
một giả thuyết về danh xưng Mân Quang của Nguyễn Hoàng Thân đăng trên tạp chí
phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, Về địa danh Mân Quang và Túy Loan của Đinh Thị Loan trên báo Đà Nẵng cuối tuần hay bài viết Địa danh Mân Quang, Cổ Mân
của Châu Yến Loan, Nguyễn Thiếu Dũng (2012), báo Đà Nẵng cuối tuần, số ra ngày 25/03/2012
Nhìn chung, các công trình đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, tuy nhiên, đó mới chỉ là cái nhìn khái quát, chung chung hay chỉ là một khía cạnh nào đó của đề tài Tuy vậy, những tài liệu trên đây chính là cơ sở, là nền tảng để tôi học tập, tham khảo nhằm hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về tín ngưỡng của cư dân phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, trong đó tập trung vào các tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng,
có tầm ảnh hưởng lớn đối với cư dân nơi đây Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của phường Thọ Quang để từ đó thấy được nguồn gốc biến đổi các loại hình tín ngưỡng gắn liền với quá trình phát triển của phường
Trang 93.2 Phạm vi nghiên cứu
Phường Thọ Quang được thành lập vào năm 1997 trên cơ sở sát nhập hai làng Mân Quang và Thọ Quang Trên cơ sở điều tra khảo sát tín ngưỡng của cư dân làng Mân Quang nên đề tài có:
- Thời gian nghiên cứu: Từ khi làng Mân Quang thành lập cho đến nay
- Không gian nghiên cứu: Làng Mân Quang, phường Thọ Quang, quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng
- Nội dung nghiên cứu: Tín ngưỡng của cư dân Mân Quang (về đối tượng thờ
cúng, nơi thờ tự, nghi lễ thờ cúng, ý nghĩa, giá trị); đánh giá tác động của quá trình
đô thị hóa đối với phường và các tín ngưỡng của phường hiện nay Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa này
4 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu một cách cụ thể, hệ thống về các tín ngưỡng của cư dân phường
Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất giải pháp góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị tinh
thần quý báu của cư dân nơi đây
- Nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của các tín ngưỡng đối
với đời sống cư dân của phường
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn: Các công trình nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp, bài
viết, sách báo, tạp chí,…
- Tài liệu điền dã thu thập được thông qua việc đi thực tế, phỏng vấn Đây là nguồn tài liệu quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, đó là:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp chủ thể khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra
Trang 10- Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều nguồn khác nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau vì thế các tài liệu đó cần được thống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt hiệu quả cao
- Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy được các
số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểm nghiệm độ chính xác để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài
- Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra những câu hỏi đối thoại liên quan đến các tín ngưỡng của làng đối với người dân địa phương, chính quyền địa phương, sở văn hóa,… để thu thập thêm thông tin
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh, đối chiếu giữa cách thức tổ chức, thờ cũng, số lượng các tín ngưỡng thời gian trước với hiện nay
6 Đóng góp của đề tài
- Về mặt khoa học: Giúp người dân hiểu rõ hơn về giá trị, ý nghĩa của các tín
ngưỡng, lễ hội đối với đời sống cư dân nơi đây để từ đó có cái nhìn và hành động
đúng đối với các giá trị văn hóa này
- Về mặt thực tiễn:
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các tín ngưỡng trong
thời đại ngày nay của cư dân nơi đây
+ Đề tài góp thêm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở bài, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, cấu trúc đề tài
Trang 11Chương 1
KHÁI QUÁT PHƯỜNG THỌ QUANG, QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1 Điều kiện tự nhiên
Là một trong bảy phường của quận Sơn Trà, nơi có hải cảng quốc tế, có bán đảo Sơn Trà án ngữ như một bức tường thành vững chãi, phường Thọ Quang trở thành địa bàn trọng yếu về quân sự và kinh tế, là nơi có vị trí chiến lược và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai
Phường Thọ Quang nằm ở phía Bắc của thành phố, phía Đông và phía Bắc giáp với biển Đông, phía Tây giáp vịnh Đà Nẵng, phía Nam giáp phường Nại Hiên Đông và Mân Thái với diện tích tự nhiên là 46,6 km2 (năm 2013) Nhìn từ trên cao xuống, bán đảo Sơn Trà như một bức tường thành bao bọc, che chở trọn mặt Bắc
của Thọ Quang Trong chính sử nhà Nguyễn có chép: “Núi Sơn Trà hình thể chót
vót cao chục tầng mây, mây mù tự đấy mà ra Phía Đông liền biển, phía Đông Nam
có một hòn núi tiếp liền trông xa như hình sư tử nên tục gọi là Hòn Nghê Phía Tây
có hòn Mỏ Diều, có pháo đài phòng hải ở đây Phía Bắc là núi Cổ Ngựa, đối nhau với hòn Ngự Hải đứng sững ở cửa biển Phía Tây của cửa biển là Vũng Trà Sơn, là chỗ ẩn cho tàu thuyền” [3, tr.11] Vũng Trà Sơn đó chính là vịnh Đà Nẵng - một
trong những ngư trường quan trọng của ngư dân Thọ Quang xưa, là một trong những hải cảng tốt nhất ở Việt Nam có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà buôn, hàng hải phương Tây cũng như thương thuyền của các nước bên bờ vùng biển Thái Bình Dương Chính vì vậy, đây được xem là một trong những nhân tố quan trọng đối với
sự phát triển của Đà Nẵng nói chung và Thọ Quang nói riêng thời bấy giờ Vịnh Đà Nẵng được bao bọc bởi hai dãy núi Hải Vân và Sơn Trà, hình thành từ một nhánh của dãy Trường Sơn Từ Đông Bắc Trường Sơn đâm thẳng ra biển, điểm chấm cuối cùng là hòn Chảo Nhánh của dãy Trường Sơn này làm thành một vòng cung từ Đông Bắc chạy xuống Tây Nam, liên kết với dãy đất liền và bán đảo Sơn Trà, thành một hình vòng cung tạo thành vùng vịnh Đây là một vùng kín gió, ít sóng, tạo nên
77 điểm neo đậu tàu thuyền an toàn Vịnh còn có hai con sông đổ ra biển là sông
Trang 12Hàn và sông Cu Đê, tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình hiếm có Các sử gia nhà
Nguyễn cũng đã dành nhiều dòng ghi chép: “Vịnh Đà Nẵng ở phía Bắc huyện Hòa
Vang lại có tên là vũng Trà Sơn, phía Đông là núi Sơn Trà, phía Bắc là núi Hải Vân, phía Tây là tấn Cu Đê, dài rộng ước chừng 29 dặm, phía Đông Nam là vịnh biển lớn, vừa rộng vừa sâu có thể chứa được hàng ngàn ghe thuyền, phía ngoài có núi che, không phải lo về sóng, tàu thuyền đi lại gặp lúc không tiện đều đổ ở đây”
[3, tr.13] Hiện nay, trong thế đối trọng với các vịnh biển trong khu vực và cả nước, vịnh Đà Nẵng nhìn chung vẫn chưa được khám phá hết tiềm năng, lợi thế về tất cả các điều kiện phát triển như du lịch, khai thác cảng biển Thành phố vẫn đang tiếp tục mời gọi đầu tư, biến vịnh Đà Nẵng thành một hòn ngọc quý Tuy nhiên, cũng như nhiều vịnh biển ở Việt Nam, vịnh Đà Nẵng đang lên tiếng báo động về tình trạng ô nhiễm môi trường Vì vậy, khai thác vẻ đẹp của vịnh nhưng không tận diệt
nó sẽ là vấn đề đáng quan tâm trong quá trình đầu tư, làm đẹp và làm giàu từ vịnh
Đà Nẵng Ngoài ra, nơi đây còn có cảng nước sâu Tiên Sa Đây được xem là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực Nơi đây có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ sở quốc phòng, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia
Không chỉ có núi non, sông nước nên thơ, hùng vĩ, hệ sinh thái động, thực vật nơi đây cũng hết sức phong phú với nhiều loại gỗ quý như lim, hò đen, dẽ,… cùng các loài khỉ, vọc, chà và, kỳ đà, heo rừng,… Đặc biệt, ở đây còn có nhiều loài ong cho mật rất ngọt và bổ dưỡng điểm cho thiên nhiên nơi đây thêm phần hấp dẫn, sinh động
Phường Thọ Quang có địa hình bán sơn địa, vừa có đồi núi, lại vừa có nhiều trảng cát, biển cả nên đất đai nơi đây cằn cỗi, ít phì nhiêu Khí hậu nơi đây mang những nét đặc trưng chung của thành phố Đà Nẵng với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động, là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 250C, cao nhất vào các tháng
6, 7, 8, thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2 Độ ẩm không khí trung bình khoảng 80%,
Trang 13cao nhất vào các tháng 10, 11, thấp nhất vào các tháng 6, 7 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2500 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4 Số giờ nắng bình quân trong năm khoảng 2000 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, ít nhất là vào tháng 11, 12
Nhìn chung, phường Thọ Quang nằm ở vị trí thuận lợi, tài nguyên đa dạng, phong phú, khí hậu ôn hòa, vì thế nơi đây có điều kiện phát triển toàn diện Chính những yếu tố tự nhiên góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ tổ quốc, xây dựng
và phát triển thành phố Đà Nẵng nói chung và phường Thọ Quang nói riêng
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Trải qua bao thăng trầm và biến cố, Thọ Quang hôm nay dường như đang mang một diện mạo mới, một sức sống mới với sự tươi trẻ, năng động và phát triển giống như thành phố mà nó đang đứng chân Thế nhưng người dân nơi đây luôn quan tâm, tìm hiểu, ghi nhớ và giữ gìn tất cả những gì mà ông bà tổ tiên đi trước đã tạo lập, gây dựng Nơi đây từng là mảnh đất đứng chân hoạt động của cách mạng
qua các thời kỳ lịch sử Từ xưa đến nay, người dân Thọ Quang vẫn vững “chân
đồng, chân biển” trong lao động sản xuất, vẫn anh dũng kiên cường “tay súng, tay chèo” trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm Có thể nói rằng, phường Thọ
Quang có lịch sử hình thành từ lâu đời Trải qua các thời kỳ, tên gọi và địa giới nơi đây cũng đã có sự thay đổi nhất định Vùng đất phía đông của sông Hàn dưới thời
Lê Thánh Tông từng có tên là Nam Long (sau này được cải danh là Nam Loan)
Trên dải đất Nam Long này, “người Việt từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An sớm di
cư vào khai hoang, mở đất, lập nên những làng xã, trong đó có hai làng cổ là Vĩnh Yên và Nam An” [3, tr.18] Thời các chúa Nguyễn thì Mân Quang (tức Vĩnh Yên xứ
trước đó) và Nam An (tức tên gọi của hai làng Nam Thọ và Tân An sau này) đều thuộc vào huyện Hòa Vang của phủ Điện Bàn Tên gọi Nam An tồn tại từ đó cho đến thời Pháp thuộc sau này Đến năm 1901, Pháp ép vua Đồng Khánh ký đạo dụ nới rộng thị trấn Đà Nẵng Theo đó, thành phố Đà Nẵng lúc này mở rộng thêm nhiều xã ở phía Tây và Nam Riêng phía Đông có các xã An Hải, Mỹ Khê, Tân Thái (trước đây là Tân An), Nại Hiên Đông, Mân Quang (tức Vĩnh Yên xứ) Tháng 3/1946, Đà Nẵng chia làm 7 khu phố Lúc này, các xã Tân Thái, Cổ Mân, Mân Quang, Nam Thọ, Nại Hiên Đông và L’Ilot (thường gọi là Mom Đèn) đều thuộc
Trang 14vào khu phố Phó Đức Chính Tháng 12/1946, Đà Nẵng giải thể 7 khu phố, lập lại thành 3 khu phố mới gồm Khu Đông, Khu Nam và Khu Tây Các xã từ An Hải đến Sơn Trà gồm An Hải, Tân Thái, Cổ Mân, Mân Quang, Nam Thọ, Nại Hiên,… đều thuộc vào Khu Đông Lúc này, 2 xã Nam Thọ và Mân Quang là 2 đơn vị hành chính riêng biệt Cuối năm 1949, Khu Đông được chia làm 5 phường thì các phường Tân Thái, Nam Thọ thuộc vào phường 4 Các làng Cổ Mân, Mân Quang (bao gồm cả Vĩnh Tân), Nại Hiên Đông, An Hòa thuộc phường 5 Sau tháng 7/1945, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi Khu Đông thành Quận III, Mân Quang và Nam Thọ là 2 khu phố thuộc quận này Sau ngày giải phóng quê hương năm 1975, ngày 20/1/1976, ta quyết định sáp nhập 2 khu phố Nam Thọ và Mân Quang lại thành một phường và đặt tên là phường Thọ Quang Ngày 28/3/1978, đơn vị hành chính Quận
III giải thể, phường Thọ Quang lại thuộc vào thành phố Đà Nẵng Năm 1996, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng thành công, Quốc hội thông qua nghị quyết tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính là thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam Ngày 23/7/1997, quận Sơn Trà được thành lập, lúc này phường Thọ Quang là đơn vị hành chính trực thuộc vào quận này Đây là một chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hai địa phương cùng vươn lên phát triển trong thời kỳ mới Hiện nay, phường Thọ Quang là một trong bảy phường của quận Sơn Trà với các khu phố chính: Thành Vinh, Lộc Phước, Thọ An, Quang Cư và Mân Quang Các khu phố trên được hình thành từ hai làng cũ trước đây là Nam Thọ Và Mân Quang Từ khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương, Đà Nẵng bắt đầu thực hiện một cơ chế mới, nhiều chủ trương, chính sách về kinh tế, xã hội thành phố cũng được thay đổi theo hướng thông thoáng và hiệu quả hơn Tình hình đó đã tác động một cách tích cực vào các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Thọ Quang nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung
Với những tiềm lực vốn có cùng với những điều kiện thuận lợi, có thể nhận thấy rằng, Thọ Quang luôn đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của thành phố Đà Nẵng cũng như đối với quận Sơn Trà nói riêng Những bước tiến mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa nơi đây góp phần vào thành công chung của thành phố Đà Nẵng hôm nay
Trang 151.3 Điều kiện kinh tế, xã hội
Kinh tế đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân Thọ Quang Với vị
trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, bên cạnh ngư nghiệp với đánh bắt thủy sản
là chính thì cư dân nơi đây còn phát triển nông nghiệp trồng lúa nước, khoai, sắn, làm thủ công nghiệp và buôn bán,… Cuộc sống cư dân có nhiều đổi thay theo từng thời kỳ phát triển của thành phố Theo đó, xã hội cũng được ổn định, đời sống nhân dân được chăm lo, trật tự an ninh được giữ vững Người dân dần được cải thiện cả
về đời sống vật chất lẫn tinh thần
Xưa kia các làng Nam Thọ, Mân Quang thuộc Thọ Quang hiện nay đều phân
bố ven núi Sơn Trà, với địa hình bán sơn địa, vừa có đồi núi, vừa có nhiều trảng cát, biển cả Vì vậy, đất đai nơi đây xấu, cằn cỗi, ít màu mỡ, các thửa ruộng vùng giáp ranh núi Sơn Trà thường bị thú rừng kéo xuống cắn nên ruộng lúa chỉ chiếm một
diện tích nhỏ so với đất tự nhiên Chính vì thế, “người dân Thọ Quang xưa đại bộ
phận làm nghề đi biển, số khác làm nghề đi củi, đốt than, lấy mật trên núi Sơn Trà, một số còn lại thì làm phu phen, bốc vác, tạp dịch cho Pháp tại cảng Đà Nẵng và cảng Tiên Sa” [3, tr.21] Nông nghiệp chủ yếu làm nghề ruộng lúa nước ở cánh
đồng Cầu Trắng và đồng Bà Đức, ngoài ra do chủ yếu là đất cát nên cũng chỉ trồng được khoai, sắn, góp một phần vào đời sống vật chất của cư dân nơi đây Đối với ngư nghiệp, công cụ lao động chủ yếu là nghề lưới lấy từ các sản vật trên núi Sơn Trà như dây trổ, gấm, mấu, mây tre, dõng, phao,… cũng như các thứ vỏ cây dền, giẽ,… Trước đây, người dân nơi đây dùng thuyền nan, thuyền tre để đi khơi, đi lộng bốn mùa Đi biển thì đi ghe bằng buồm, bằng chèo nên chỉ đi đến vùng biển nước sâu độ 30 sải tay, do ghe nhỏ, lưới nhỏ, dụng cụ thô sơ nên năng suất đánh bắt cũng hạn chế Nhìn chung, từ năm 1945 trở về trước, đời sống người dân nơi đây còn
nghèo khổ Tình trạng “chân đồng, chân biển”, vừa làm ruộng, vừa đánh bắt thủy
sản luôn luôn tồn tại suốt quá trình hình thành và phát triển của cư dân Thọ Quang
Từ khi thành phố trực thuộc trung ương, với việc thực hiện những chủ trương, đường lối mới đã tác động tích cực, làm biến đổi sâu sắc đời sống cư dân
nơi đây Năm 1997, “tăng trưởng kinh tế của Thọ Quang tăng khá, mọi chỉ tiêu đều
đạt và vượt mức kế hoạch đề ra Đặc biệt là đánh bắt thủy sản, phường đã đạt được 100% kế hoạch đề ra” [3, tr.258] Mặc dù vậy, ngành này vẫn gặp không ít khó
Trang 16khăn do nguồn hải sản ven bờ giảm dần; nghề cá nổi tiếp tục mất mùa; giá thu mua tôm, mực xuất khẩu thấp; thị trường tiêu thụ các sản phẩm khô có xu hướng giảm,… Sản phẩm nông nghiệp chỉ còn các loại rau xanh, đậu phụng Nhiều loại hình kinh tế mới ra đời như nghề nuôi tôm giống được đầu tư phát triển mạnh, nghề trồng hoa, cây cảnh, nuôi dê, nuôi lươn bước đầu có kết quả Nhân dân được giao đất trồng rừng, hạn chế nạn chặt phá rừng bừa bãi Tiểu thủ công nghiệp thảm len, mây tre còn duy trì hoạt động song không mấy hiệu quả, dịch vụ tư nhân phát triển khá tốt Từ năm 2000, với chủ trương quy hoạch, phát triển đô thị của thành phố với
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, công tác di dời, giải tỏa được thực hiện, nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, khu tái định cư, nhà máy, xí nghiệp,… được triển khai trên diện rộng Cơ cấu kinh tế của phường bước đầu có sự chuyển dịch theo hướng độ thị hóa Quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã tạo ra những thuận lợi cho kinh tế phát triển phù hợp với xu thế chung theo điều kiện hiện nay của phường, góp phần tăng mức sống vật chất và tinh thần cho cư dân nơi đây Theo kết quả thống kê của thành phố Đà Nẵng, chi cục thống kê quận Sơn Trà, giá trị sản xuất của phường Thọ Quang năm 2013 ước thực hiện là 2.952.089 triệu đồng, đạt 101,45% so với kế hoạch quận và đạt 114,84% so với cùng kỳ năm 2012 Trong đó, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2013 ước thực hiện là 2.749.328 triệu đồng, đạt 100,81% so với kế hoạch quận và đạt 113,92% so với cùng kỳ năm
2012, giá trị hải sản ước thực hiện là 202.582 triệu đồng, đạt 110,86% so với kế hoạch quận và 110,40% so với cùng kỳ năm 2012, nông nghiệp năm 2013 đạt 180 triệu đồng
Đến nay, bên cạnh việc thực hiện chủ trương chuyển đổi ngành nghề, một bộ phận ngư dân chuyển sang làm công nhân hoặc nghề nghiệp khác phù hợp với cuộc sống gia đình thì ngư nghiệp vẫn là hoạt động kinh tế chính của người dân nơi đây Nơi đây có nhiều thế mạnh phát triển ngư nghiệp như nguồn lợi thuỷ sản dồi dào, phong phú, có giá trị kinh tế cao và nhiều loại hải sản quí hiếm; ngư trường không
bó hẹp trong phạm vi của phường, quận, thành phố mà được mở rộng ra các tỉnh lân cận, kéo dài đến vịnh Bắc Bộ và biển Nam Trung Bộ; đội ngũ tàu khai thác hải sản
xa bờ được chú trọng đầu tư, phát triển nhanh số lượng tàu cá có công suất lớn và cải hoán, nâng cấp tàu cá công suất nhỏ để vươn khơi, hình thành các đội tàu cùng
Trang 17nghề để hỗ trợ nhau khai thác trên biển, tính tới thời điểm cuối năm 2013, số lượng tàu thuyền là 453 chiếc, trong đó thúng máy là 134 chiếc, tổng công suất là 12.905
CV Mặt khác, nơi đây lại nằm cạnh một trung tâm công nghiệp lớn, một thị trường
có sức mua mạnh, tiêu thụ một khối lượng lớn hàng thuỷ sản cho tiêu dùng hàng ngày và cho công nghiệp chế biến Khu công nghiệp Đà Nẵng và khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang đã thu hút được các nhà đầu tư là hạt nhân quan trọng
để làm nền tảng cho phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và sự hình thành của các vệ tinh công nghiệp trên địa bàn phường Vì vậy, ngư nghiệp luôn chiếm giữ một vai trò quan trọng đối với đời sống cư dân nơi đây
Hơn nữa, ưu thế nổi trội của hoạt động dịch vụ phường Thọ Quang nói riêng
và quận Sơn Trà nói chung là có cảng biển quốc tế Đây chính là nguồn đóng góp chính trong dịch vụ vận tải của thành phố Đà Nẵng, tạo điều kiện cho các dịch vụ kho bãi, dịch vụ xếp dỡ phát triển trên địa bàn phường; nâng cấp, mở rộng để sử dụng triệt để kết cấu hạ tầng hiện có; đầu tư xây dựng ở những khu vực cần thiết nhằm phát triển kinh tế và tạo mạng lưới liên hoàn giữa đường bộ, đường thủy và cảng; cải tạo và nâng cấp hệ thống lưới điện phân phối đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp, du lịch và sinh hoạt và các hoạt động khác trên địa bàn phường Đặc biệt, để hỗ trợ cho việc đánh bắt thủy sản được thuận lợi cũng như có chỗ neo đậu tàu thuyền cho ngư dân trú bão, tránh gió khi gặp những khó khăn về thời tiết khi đi biển, âu thuyền Thọ Quang được xây dựng đáp ứng nhu cầu cấp thiết trên Nhờ những điều kiện thuận lợi cùng với sự nỗ lực chung của toàn phường, sản lượng khai thác của Thọ Quang năm 2013 ước thực hiện là 5.647 tấn, đạt 106,31% so với
kế hoạch quận và đạt 110,40% so với cùng kỳ năm 2012
Bên cạnh đó, du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Thọ Quang Với nguồn tài nguyên du lịch phong phú, nơi đây đã và đang hấp dẫn, thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước Bán đảo Sơn Trà - khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, cùng với khu du lịch bãi Bắc, bãi Nồm, đây được xem là điểm hẹn lý tưởng của du khách Đến đây du khách không chỉ thỏa sức khám phá vẻ đẹp nên thơ, hùng vĩ của thiên nhiên mà còn đắm mình dưới dòng nước biển trong xanh, mát mẻ, tham gia các hoạt động giải trí và được thưởng thức những đặc sản mang phong vị dân giã nhưng không kém phần đặc sắc, bổ dưỡng của ẩm thực Đà Nẵng
Trang 18Bên cạnh tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa, tâm linh cũng là một trong những loại hình đã, đang và sẽ thu hút du khách đến nơi đây với chùa Linh Ứng - một trong ba ngôi chùa linh thiêng của Đà Nẵng, khu di tích văn hóa - lịch sử Mân Quang, đình làng Nam Thọ,… Có thể thấy rằng, hoạt động du lịch không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân nơi đây mà còn góp phần quảng bá hình ảnh về mảnh đất và con người Đà Nẵng đến với du khách Với phong cảnh hữu tình, sự thân thiện, mến khách, ắt hẳn rằng nơi đây sẽ để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách thập phương
Cùng với các vấn đề về kinh tế thì việc quan tâm, phát triển đồng bộ các vấn
đề xã hội từ dân số, lao động, việc làm, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, y tế,
văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, là một việc làm quan trọng, thiết thực, đảm bảo sự phát triển toàn diện, đồng bộ của một quốc gia, dân tộc cũng như các đơn vị hành chính Đây là yêu cầu để củng cố, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, nâng cao sức khoẻ nhân dân cả về thể chất lẫn tinh thần Nhận thức được tầm quan trọng này, bên cạnh việc chú trọng phát triển kinh
tế, Đảng và nhân dân phường Thọ Quang ra sức xây dựng một xã hội đảm bảo sự công bằng, dân chủ và văn minh, đem lại hạnh phúc, ấm no cho người dân nơi đây
Sự nghiệp giáo dục luôn được xem là quốc sách hàng đầu Nhiều trường học được thành lập đã trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đảm bảo tốt nhất cho công tác giảng dạy Nhiều ngôi nhà tình nghĩa được xây dựng cho những người già neo đơn; thực hiện chính sách ưu đãi cho những người có công với cách mạng, những
bà mẹ Việt Nam anh hùng; chế độ bảo hiểm y tế được triển khai rộng rãi; thường xuyên chú trọng nếp sống văn minh đô thị, nhất là trong việc bảo vệ môi trường, trong việc cưới, việc tang, lễ hội; phát động phong trào xây dựng gia đình văn hóa; phong trào thể dục thể thao cũng được lãnh đạo thực hiện với nhiều hoạt động sôi nổi, nhiều loại hình như thể dục dưỡng sinh, tắm biển, thể dục buổi sáng, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông,… có tác động tích cực đến việc rèn luyện sức khỏe trong nhân dân Đồng thời, các cấp chính quyền luôn quan tâm, theo dõi, đi sâu vào quần chúng nhân dân để tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng cũng như giải đáp thắc mắc cho người dân Mặc khác, tuyên truyền, vận động quần chúng sống lối sống trong sạch, thực hiện đúng quy định của Nhà nước và pháp luật, tránh xa các tệ nạn xã hội Nhờ
Trang 19sự nỗ lực chung của Đảng và nhân dân phường Thọ Quang mà xã hội được ổn định, trật tự an ninh quốc phòng được đảm bảo, các tệ nạn xã hôi được đẩy lùi, cuộc sống
cư dân được ấm no, hạnh phúc
Trong những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, song nhờ chú trọng lãnh đạo đẩy mạnh các phong trào thi đua, cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể phường Thọ Quang đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo phát triển kinh tế trên địa bàn Bên cạnh việc thực hiện đạt mức tăng trưởng chỉ tiêu phát triển kinh tế, thông qua công tác tuyên truyền, vận động của các tổ dân phố, nhân dân trong phường đã thực hiện đạt và vượt mức các chỉ tiêu về thu ngân sách, nộp thuế nhà đất, quỹ đền ơn đáp nghĩa và các nguồn
đóng góp khác Với mô hình “Công dân gương mẫu”, “Gia đình văn hóa”, “Tổ dân
phố văn hóa”, “Tổ dân phố không rác”, “Tuyến đường văn minh đô thị”, “Chợ văn minh thương mại”, “Tộc họ không có người nghiện ma túy”, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với chương trình thành phố 5 không, 3 có” được địa phương triển khai rộng
khắp trong các địa bàn dân cư Qua công tác tuyên truyền phát động, lực lượng nòng cốt và nhân dân đã cung cấp cho Công an phường 327 nguồn tin có liên quan đến an ninh trật tự và hoạt động của các loại tội phạm, giúp điều tra làm rõ 15/16 vụ phạm pháp hình sự, trộm cắp, thu hồi tài sản trả lại cho người mất trị giá hơn 140 triệu đồng; giải quyết kịp thời 124 vụ, 159 người vi phạm hành chính,… Thông qua
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” Năm qua, phường Thọ
Quang đã thực hiện có hiệu quả các nội dung giúp nhau giảm nghèo, tương thân, tương ái, xây dựng đời sống văn hoá, văn minh đô thị trong việc cưới, việc tang, việc cúng, Qua phong trào này, toàn phường có 5.986 hộ đạt gia đình văn hoá,
chiếm 88,9% và 134 tổ dân phố đạt “Tổ dân phố văn hoá”, chiếm hơn 65.04%,
trong đó có 31 tổ dân phố đạt danh hiệu tổ dân phố văn hoá 2 năm liền, 04 tổ dân phố đạt danh hiệu trong 5 năm liền,
Với tiềm năng, thế mạnh sẵn có, cùng với sự phát triển về kinh tế, ổn định về
xã hội cũng như sự quyết tâm, nỗ lực của các cấp lãnh đạo và sự ủng hộ quan tâm của người dân, phường Thọ Quang đang đóng góp một phần lớn vào việc xây dựng
Trang 20quận Sơn Trà trở thành một điểm đến hấp dẫn và an toàn, phấn đấu thực hiện mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - xã hội của thành phố Đà Nẵng
1.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư
Được tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ, nơi từng được coi là một trung tâm kinh tế, chính trị lớn của nước Đại Việt, những người sống trên mảnh đất này đã giao hòa, cùng chung sống, cùng chống lại thiên tai, địch họa, hình thành nên một quần cư lớn và nền văn hóa xứ Quảng là tinh hoa của quần cư này Theo
đó, Đà Nẵng cũng mang những đặc trưng văn hóa của vùng đất nơi đây Mặc khác, đây là nơi đầu tiên bị liên quân Pháp và Tây Ban Nha đổ bộ mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam vào năm 1858, cũng là địa phương đầu tiên bị quân viễn chinh Mỹ đổ bộ
mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam vào năm 1965 Đồng thời, với vị trí thuận lợi lại
có hải cảng quốc tế, Đà Nẵng có điều kiện tiếp xúc, tiếp nhận các giá trị văn hóa từ bên ngoài hòa vào dòng văn hóa bản địa tạo nên một vùng văn hóa đặc sắc, mang đặc trưng của thành phố Đà Nẵng Là một phường thuộc thành phố Đà Nẵng, phường Thọ Quang cũng mang những nét văn hóa chung của vùng đất này Trải qua bao thăng trầm, biến cố, người dân Đà Nẵng nói chung và Thọ Quang nói riêng luôn trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của mình Họ bảo lưu khá nguyên vẹn hệ thống tín ngưỡng cộng đồng như thờ các vị tiền hiền, ngư ông, cô hồn, cô bác,… ; tín ngưỡng truyền thống của người Việt như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình, các nghi thức sinh hoạt truyền thống như tết Nguyên Đán, tết Đoan Ngọ, tết Thanh Minh, Nhiều nét sinh hoạt văn hóa dân gian như hát bả trạo, văn nghệ, trò chơi dân gian,… là hoạt động văn hóa tinh thần của cư dân nơi đây Ngoài ra, lễ hội đình làng, ngư ông cũng được người dân nơi đây tổ chức thường xuyên mỗi năm Nhờ vậy, nét đẹp văn hóa được giữ gìn, cộng đồng cư dân được cố kết, cuộc sống thêm phần yên vui, mang đậm nghĩa tình Ngoài văn hóa tinh thần, đời sống văn hóa vật chất của cư dân Thọ Quang cũng đa dạng với nhiều đặc sản đậm chất địa phương như mỳ Quảng, nước mắm, đặc biệt là các món ăn được chế biến từ hải sản như tôm, mực, cá… Chính những giá trị văn hóa về vật chất, tinh thần tạo nên văn hóa đặc trưng địa phương, định hình bản sắc văn hóa nơi đây, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 21Cư dân là một phần không thể thiếu đối với sự phát triển của một quốc gia, dân tộc, là chủ nhân sáng tạo nên những nét đẹp về văn hóa Những cư dân đầu tiên sinh sống trên địa bàn Thọ Quang ngày nay là chủ nhân của nền văn hóa Sa Huỳnh,
kế tiếp là những cư dân của vương quốc Chămpa Họ là những người sáng tạo ra nền văn hóa rực rỡ để đến khi cư dân người Việt di cư vào đây sinh sống, họ đã bắt gặp, tiếp xúc và ảnh hưởng để pha trộn, góp phần xây dựng nền văn hóa Đại Việt Năm 1306, vua Chiêm Thành dâng châu Ô và châu Rí làm lễ cầu hôn Huyền Trân công chúa nước Đại Việt Sự kiện này đã tạo điều kiện cho các cuộc di dân của người Việt vào khai khẩn, sinh sống hòa đồng với cộng đồng người Chăm ở mức độ nhất định Năm 1471, cuộc chinh phạt của Lê Thánh Tông đã quyết định cho sự ổn định cư trú của người Việt ở Quảng Nam - Đà Nẵng Từ đây, đất nước Chămpa dần dần suy yếu, đất nước Đại Việt ngày càng ổn định và phát triển Miền đất phía Nam trở thành vùng đất hứa cho người dân Bắc Trung Bộ Đặc biệt, năm 1585, việc chúa Nguyễn lập cơ sở tại Thuận Quảng đã đánh dấu một bước đường quan trọng trong quá trình Nam tiến Từ thời điểm này, người Việt như một dòng chảy, tuy chậm nhưng liên tục, vượt qua ranh giới Việt - Chăm tiến xuống phía Nam Nằm trong sự tác động trên, từ thế kỉ XV - XVII, người Việt từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An sớm
di cư vào khai hoang, mở đất, lập nên những làng xã, trong đó có hai làng cổ là Vĩnh Yên và Nam An, tiền thân của phường Thọ Quang hiện nay Trước kia, khi tốc độ đô thị hóa chưa đáng kể thì cư dân phường Thọ Quang còn thưa thớt, ruộng đất sản xuất khá nhiều, các khu dân cư còn phân tán khắp nơi Các làng Nam Thọ, Mân Quang hình thành nên phường Thọ Quang sau này tuy là những làng có từ lâu đời nhưng đến năm 1945 dân số cả hai làng vẫn còn rất ít Mân Quang lúc đó có khoảng 400 người, Nam Thọ khoảng 100 người Dưới thời Mỹ xâm lược, Thọ Quang trở nên đông đúc là do dân di cư từ các tỉnh phía Bắc, dân tản cư từ các tỉnh phía Nam và vùng nông thôn ra Từ năm 1968 đến 1973, khi chiến tranh càng ác liệt
đã có hàng ngàn người dân từ Trị Thiên di cư vào làm ăn sinh sống tại Thọ Quang Các cơ sở quân sự của Mỹ, Ngụy, khu gia binh,… cũng làm gia tăng dân số của Thọ Quang lên đột biến Sau 1975, các lực lượng hải quân, bộ đội, công nhân của ta về tiếp quản địa bàn phường, dân địa phương sơ tán khắp nơi trở về làng cũ Nhờ đó, Thọ Quang trở nên đông vui hơn Tính đến thời điểm 01/01/2013, dân số phường
Trang 22Thọ Quang là 29.422 người Trải qua thời gian cùng với sự vận động, phát triển của
xã hội, người dân nơi đây sinh sống, làm ăn và cố kết, xây dựng cuộc sống no ấm, văn minh trên cơ sở giữ gìn, bảo lưu và sáng tạo những nét văn hóa đặc sắc của địa phương
1.5 Vai trò của phường Thọ Quang đối với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng
Là một trong bảy phường của quận Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng, với những nỗ lực không ngừng của toàn Đảng và toàn dân, phường Thọ Quang đã có những đóng góp đáng kể đối với sự phát triển chung của thành phố trong lịch sử, hiện tại và cả tương lai Những đóng góp đáng ghi nhận và dễ nhìn thấy của cư dân nơi đây đó là sự đóng góp trong công cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc, trong phát triển kinh tế và việc giữ gìn, bảo lưu, phát huy những nét đẹp văn hóa dân tộc
Trước hết là sự đóng góp của nhân dân phường Thọ Quang trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm Giữa thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây thực hiện
hàng loạt cuộc chiến tranh cướp bóc thuộc địa ở phương Đông để tìm kiếm nguyên liệu và thị trường Trong bối cảnh chung đó, thực dân Pháp bắt đầu lăm le xâm chiếm nước ta Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta mà điểm đầu tiên chúng chọn là Đà Nẵng Các làng Mân Quang, Nam Thọ nằm ngay cửa vào cảng Đà Nẵng, dưới chân bán đảo Sơn Trà nên ngay từ xa xưa, hai làng đã gắn bó chặt chẽ với sự thăng trầm của thành phố cảng này Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, người dân nơi đây cần cù, chịu thương chịu khó, anh dũng kiên cường chống giăc ngoại xâm để bảo vệ quê hương, làng xóm của mình Bằng sức mạnh, tinh thần quả cảm và lòng yêu nước sâu sắc, dân làng Thọ Quang trực tiếp tham gia vận tải, tích góp lương thực, đắp đường tải lương, đắp sông ngăn lũy, xây dựng phòng tuyến chống giặc ngoại xâm Đình làng trở thành nơi tụ họp nhân dân, hội họp binh tướng, làm kho chứa lương thực, vũ khí, tham gia khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền,… Bên cạnh sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của các cấp thì với sự sáng tạo, linh hoạt, đánh đuổi địch bằng mọi phương thức, nhân dân Thọ Quang sử dụng nhiều cách đánh dân gian như đánh địch bằng đuốc, bằng gióng, bằng cây mù u,… Với tinh thần và khí thế bất diệt này, phần nào làm quân địch hoang mang, khiếp sợ Hơn nữa, vào thời Pháp thuộc, nhân dân trong làng chủ yếu làm khuân
Trang 23vác tại các cảng biển nên họ có điều kiện tiếp xúc, giao lưu, truyền đạt những tư
tưởng mới, từ tư tưởng “dân chủ tư sản” đến tư tưởng “cộng sản” đến quần chúng
nhân dân để họ được giác ngộ và đi theo cách mạng Trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, người dân 2 làng Nam Thọ, Mân Quang đã kề vai sát cánh, anh dũng kiên cường chống giặc ngoại xâm Những chiến công trên núi Sơn Trà, tại cảng nước sâu, cầu Trắng; những căn cứ kháng chiến Moscu, Tân Gia
Ba, hang bà Đính, hang ông Đệ hay những chiến công cướp hàng ngàn lít xăng của
Pháp, thực hiện chủ trương “một tất không đi, một ly không rời” chống chính sách
chiêu an, dồn dân của thực dân Pháp,… Phát huy truyền thống ấy, nhân dân Thọ Quang vững bước trường chinh đi vào cuộc đấu tranh suốt 21 năm chống đế quốc
Mỹ xâm lược - một kẻ thù tàn bạo và hung hãn nhất của thời đại, một cuộc chiến
đầy hi sinh gian khổ và lâu dài nhưng không kém phần oanh liệt Qua các đợt “tố
cộng, diệt cộng” của Mỹ, Diệm hay phải đương đầu với kẻ thù trong các cuộc
“chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế
quốc Mỹ, các cán bộ, Đảng viên và cơ sở cách mạng phường Thọ Quang đã anh dũng, bền gan chiến đấu, vững một lòng kiên trung với Đảng, với Bác Hồ Chính tình yêu quê hương đất nước, được sự dẫn lối soi đường của Đảng, cán bộ, nhân dân Thọ Quang cũng như các đồng chí từ khắp nơi về đứng chân hoạt động, sống, chiến đấu chống Mỹ, ngụy và tay sai đã góp phần to lớn trong việc tạo ra bàn đạp cho cán
bộ và lãnh đạo khu Sông Đà, Quận III, lực lượng biệt động thành Đà Nẵng tiến công tiêu diệt quân thù Những chiến công tại cảng Tiên Sa, chợ Chiều, chợ Mai,…
đã góp phần tích cực cho chủ trương “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”
Ngày 29/03/1975, cờ giải phóng bay trên nóc nhà thị chính Đà Nẵng, Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng, hàng ngàn tên lính ngụy vứt bỏ súng ống, đạn dược, dẫm đạp, dày xéo lên nhau mà chạy, quân trang, quân dụng bị vứt bỏ khắp nơi Các đồng chí Đảng viên, du kích và cơ sở của Mân Quang, Nam Thọ vận động binh lính ngụy
đầu hàng “Lúc này nhân dân Nam Thọ, Thọ Quang góp gạo giúp đỡ đồng bào chạy
loạn từ các tỉnh phía Bắc vào tại chùa Hải Hội Bà con còn tổ chức ra cảng Tiên Sa chôn những người bị đạn lạc chết trong lúc hỗn loạn Số người tệ nạn tại đây được cấp giấy thông hành và tạo điều kiện cho họ về quê sinh sống” [3, tr.184] Như vậy,
trong suốt 9 năm tham gia kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp
Trang 24xâm lược và 21 năm sống trong đô thị thứ hai của ngụy quyền Sài Gòn, là căn cứ quân sự hải lục không quân khổng lồ của Mỹ, ngụy, song cán bộ và nhân dân Thọ Quang đã không quản hi sinh mất mát, tù đày để vùng lên chống chọi với kẻ thù,
người này ngã xuống, người khác vùng lên để giữ trọn lời thề “quyết tử cho tổ quốc
quyết sinh” Chiến thắng mùa xuân năm 1975, cảng Tiên Sa sạch bóng quân thù,
đỉnh Sơn Trà không còn bóng giặc, đó cũng chính là nhờ một phần công sức, máu xương của cán bộ, nhân dân Thọ Quang đã sống và chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc Ngày nay, khi Đất nước đã thống nhất, nhân dân sống trong hòa bình, hạnh phúc, nhân dân phường Thọ Quang luôn ghi nhớ những năm tháng chiến đấu gian khổ, đồng thời không ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc ngày càng giàu mạnh
Không chỉ kiên cường trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, nhân dân nơi đây luôn nỗ lực vươn lên trong cuộc sống Họ sớm ra sức khai hoang mở đất, lập làng, phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống Với vị trí thuận lợi lại có thương cảng
quốc tế cùng với nổ lực vươn lên của cư dân, nhờ vậy kinh tế nơi đây sớm được định hình Truyền thống nông nghiệp lúa nước giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của cư dân từ khi làng mới được thành lập Bên cạnh đó, người dân trong làng còn biết trồng nhiều loại cây công nghiệp nằm bên sông Hàn như thuốc lá, mía, ngô,… Vì vậy, kinh tế bước đầu được xây dựng, đời sống người dân dần được ổn định, thu hút dân cư vào ngày một đông Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình nơi đây chủ yếu là bán sơn địa, trảng cát, biển cả, đất đai cằn cỗi, kém phì nhiêu, khí hậu lại biến đổi thất thường nên việc phát triển nông nghiệp gặp không ít khó khăn Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, nhận thấy những điều kiện thuận lợi để phát triển ngư nghiệp, cư dân nơi đây đã chú trọng phát triển nguồn kinh tế tiềm năng này Đánh bắt thủy hải sản trở thành nghề chính trong đời sống kinh tế nơi đây Sản phẩm ngư nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân trong làng mà còn cung cấp nguồn nguyên liệu cho các khu vực làm nghề chế biến nguyên liệu Đặc biệt, hiện nay khu công nghiệp Đà Nẵng và khu công nghiệp dịch
vụ thủy sản Thọ Quang được hình thành góp phần đẩy mạnh phát triển hơn nữa kinh tế ngư nghiệp nơi đây Từ việc trao đổi, mua bán tại hải cảng, thương nghiệp nơi đây cũng có điều kiện để phát triển Ngoài ra, tiểu thủ công nghiệp của phường
có xu hướng phát triển tốt ở một số nghề như hàn, gò, mộc, xây dựng, may mặc,
Trang 25mây tre đan,… góp phần tạo nhiều cơ hội về việc làm và cải thiện cuộc sống cho người lao động Chính tiềm lực kinh tế này đã tạo tiền đề, góp phần vào sự phát triển bền vững của phường Thọ Quang nói riêng, thành phố Đà Nẵng nói chung trong hiện tại và cả tương lai
Văn hóa là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người
và là một bộ phận quan trọng đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của một quốc gia, dân tộc Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử cùng dòng chảy của
thời gian, người dân Thọ Quang vẫn giữ gìn, bảo lưu nét đẹp văn hóa, lối sống của
người Việt góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Lối
sống đó được biểu hiện qua nhiều góc độ, mà trước hết ở nền văn hóa gốc nông nghiệp với nền văn hóa trọng nông Vì vậy, cư dân nơi đây vẫn duy trì tín ngưỡng thờ cúng bà Thiên Y A Na, cúng thần Nông,… và đặc biệt là thờ cúng Cá Ông Từ nền văn hóa trọng nông, cư dân nơi đây sống trọng tình cảm, đoàn kết, luôn chịu thương chịu khó và biết vươn lên trong cuộc sống Bên cạnh đó, với truyền thống
“uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, người dân nơi đây luôn tưởng
nhớ đến ông bà tổ tiên, các vị tiền hiền, những người có công gây dựng, khai hoang lập làng Đình làng được coi là nơi tôn nghiêm, quan trọng nhất của làng Chính tầm quan trọng và ý nghĩa đó mà đình làng nơi đây được sở văn hóa thông tin thành phố công nhận là di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật Hằng năm, tại đình làng Nam Thọ
và Mân Quang đều tổ chức lễ hội đình làng, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, dân làng được cuộc sống ấm no, hạnh phúc Thông qua đó, nhiều nét đẹp văn hóa được “sống” lại, được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, dân làng có
cơ hội được gặp gỡ, giao lưu, không khí lễ hội thêm phần ý nghĩa, trang trọng Ngoài ra, nơi đây còn xây dựng các lăng, miếu để thờ cá ông, cô hồn cô bác và các
vị thần có công với làng, với nước
Như vậy, dù là quá khứ hay hiện tai, phường Thọ Quang cũng đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của thành phố Đà Nẵng Cuộc sống hôm nay với nhiều đổi thay nhưng bằng tất cả tình cảm, lòng yêu quê hương đất nước, cư dân Thọ Quang sẽ quyết tâm giữ gìn, phát huy những thành quả đã đạt được, đồng thời không ngừng phấn đấu, nỗ lực vươn lên góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng ngày một giàu đẹp hơn, phát triển hơn
Trang 262.1 Khái quát về làng Mân Quang
Cùng với làng Nam Thọ, Mân Quang là một trong những ngôi làng cổ thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Về niên đại hình thành và nguồn gốc tên gọi của làng Mân Quang đến nay vẫn là vấn đề được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Theo Lịch sử Đảng bộ phường Thọ Quang thì vào
năm 1471, niên hiệu Hồng Đức nhị niên đời hoàng đế Lê Thánh Tông, thể theo chiếu khuyến khích Nam tiến của vua Lê lên đường mở mang bờ cõi, dựng xây và
phát triển kinh tế vững bền, lục tộc tiền hiền gồm các cụ Lê Phước Thọ, Trần Văn
Mỹ, Võ Văn Linh, Thái Công Xạ, Nguyễn Văn Thành, Đinh Vạn Nhang đến khai canh, lập nghiệp, tạo dựng nên tiểu xứ Vĩnh Yên Ban đầu, họ khai phá vùng đất phía Nam ven núi Sơn Trà, ước chừng 100 mẫu Lúc đó tên đất của làng gọi là
“Vĩnh Yên Nam Loan xứ” Đến năm 1485, làng mở rộng thêm vùng đất phía Nam nên có tên là “Mân Quang - Vĩnh Yên xã, Nam Loan xứ” Sau đó 6 ngài tiền hiền nói trên đã rủ nhau lên khai phá vùng đất thuộc làng Mân Quang của xã Hòa Quý hiện nay Họ đến đó để khai khẩn đất đai, sinh cơ lập nghiệp vì đất Vĩnh Yên chủ yếu là cát, khô cằn và chật hẹp Đến năm Gia Long thứ 10, tức là năm 1812, nhà vua kêu gọi bá tánh về lại làng cũ kê khai ruộng đất để lập địa bạ Một số con cháu của 6 ngài trên bèn rủ nhau về sinh sống tại làng Vĩnh Yên cũ (tức Mân Quang hiện nay) [3; 18] Như vậy từ một tiểu xứ, làng Mân Quang đã ra đời và người có công
khai lập làng là sáu vị tộc Lê, Trần, Võ, Thái, Nguyễn, Đinh Sáu vị này được xem như là những người tiên phong đầu tiên khai hoang, lập làng Công lao to lớn của các cụ đã được vua Khải Định (1916 – 1925) ban sắc phong Như vậy, theo giả
Trang 27thuyết này thì làng Mân Quang ra đời vào thế kỉ XV và chính xác lập xã hiệu vào
năm 1485 Nhưng trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (viết năm 1776) lại cho rằng “Xã Mân Quang thuộc tổng Hà Khúc, huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn thời
chúa Nguyễn” [7, tr.106] (tức là từ năm 1776 trở về trước nhưng sau năm 1553)
Qua đó, mặc dù chưa khẳng định được năm ra đời chính thức của làng, song có thể kết luận rằng sự ra đời của làng Mân Quang trãi qua một thời gian dài từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII
Về tên gọi làng Mân Quang, trên tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng,
số 3 và 4, nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Thân đã đề xuất 4 giả thuyết về tên gọi
làng Mân Quang và tác giả đã đưa ra kết luận rằng danh xưng Mân Quang được
chuyển từ vùng Phúc Kiến Trung Quốc do người Hoa hoặc người Việt gốc Hoa mang sang đây và có thể bằng 2 cách: có thể bằng con đường trực tiếp, tức từ Trung Quốc đến Quảng Nam (xưa) hoặc có thể là gián tiếp từ Trung Quốc sang một nhịp ở miền Bắc rồi tiếp tục vào Quảng Nam (xưa) Tuy nhiên, để có thể khẳng định chắc chắn hơn chủ nhân khởi danh Mân Quang là người Việt hay người Việt gốc Hoa ở Thanh Hóa hay người Hoa chính gốc vùng Phúc Kiến, cần phải tiếp tục nghiên cứu [22, tr.18]
Như vậy, niên đại hình thành và nguồn gốc danh xưng Mân Quang vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời chính xác, điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các giới quan tâm tiếp tục tìm hiểu, rà soát tư liệu để nhanh chóng tìm ra lời giải đáp chính xác và đáng tin cậy nhất
Là một làng thuộc phường Thọ Quang nên Mân Quang cũng mang những đặc trưng của vùng đất này Cư dân nơi đây từ lâu đã ghi dấu ấn sâu đậm với những con người cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất và anh dũng, kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Nông nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là hoạt động kinh tế của cư dân nơi đây, trong đó, ngư nghiệp đóng vai trò quan trọng hơn cả Sinh hoạt văn hóa là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cư dân Mân Quang Họ đã xây dựng cho mình một đời sống văn hóa truyền thống mang tính làng xã sâu đậm Hệ thống tín ngưỡng nơi đây khá phong phú Ngoài các tín ngưỡng truyền thống trong gia đình như thờ cúng tổ tiên, táo quân, thổ địa, thần tài,… thì làng Mân Quang còn có khu di tích
Trang 28lịch sử văn hóa với các tín ngưỡng cộng đồng đặc sắc như tín ngưỡng thờ tiền hiền, thần hoàng, ngư ông, thần nông,… Với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh chóng, cuộc sống cư dân nơi đây có nhiều đổi thay Thế nhưng, với những truyền thống đáng quý mà ông bà xưa để lại, họ luôn ghi nhớ, giữ gìn và phát huy hơn nữa trong thời đại hôm nay Đồng thời ra sức phấn đấu, không ngừng nỗ lực đưa khu phố Mân Quang phát triển toàn diện hơn nữa, đem lại hạnh phúc, ấm no cho mọi nhà
2.2 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một vấn đề đã và đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
và lý giải Vì vậy, đứng trên lập trường, quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu đã đưa những nhận định, cách hiểu, cách lý giải riêng của mình về tín ngưỡng như sau:
Theo Bách khoa toàn thư: “Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con
người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng” [44]
Nghiên cứu về tín ngưỡng, Nguyễn Đăng Duy cũng đã đưa ra quan điểm của mình: “Tín ngưỡng nảy sinh từ thực tế cuộc sống cộng đồng, con người ý thức về
một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo, tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [10, tr.7]
Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là
niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu
mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc
về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ” [32, tr.16]
Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời
sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức
cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục) Khi đời sống và trình độ hiểu
Trang 29biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng
ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo” [29, tr.262]
Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo, bởi lẻ giữa chúng có những điểm giống nhau, chưa thể phân biệt một cách rõ ràng, chính xác giữa hai phạm trù này Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo Chính vì vậy mà trong từ điển tiếng Việt,
Nguyễn Như Ý đã định nghĩa tín ngưỡng là “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo”
[40, tr.1646], tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo hay theo giải thích của
Đào Duy Anh, tín ngưỡng là“lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc
một chủ nghĩa” [1, tr.283]
Ở nước ta, “tín ngưỡng của người Việt phản ánh rõ những đặc trưng nông
nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt Nam, thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người hình thành trên nền tảng xã hội nông nghiệp cổ truyền, lưu truyền trong quần chúng từ đời này qua đời khác nên tín ngưỡng Việt Nam chưa chuyển thành tôn giáo” [10, tr.8]
Những tín ngưỡng nào đã trở thành thói quen lâu đời, được cộng đồng người thừa nhận và thực hành sẽ trở thành tục thờ Người Việt có tục thờ cúng Tổ tiên, thờ Mẫu, thờ Thần, thục thờ thành Hoàng,… rất phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của người dân, đặc biệt trong các làng xã
Như vậy, tín ngưỡng có thể hiểu một cách nôm na là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người, hay nói cách khác, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành, là niềm tin về
Trang 30những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được
2.3 Hệ thống tín ngưỡng của cư dân Mân Quang
Tín ngưỡng là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người Việt nói chung và cư dân Mân Quang nói riêng Hệ thống tín ngưỡng của cư dân nơi đây khá phong phú, bao gồm tín ngưỡng cộng đồng như thờ Tiền hiền, Hậu hiền, Thần hoàng, Cá Ông, Nữ thần Thiên Y Ana, Quan Thánh, Thần Nông, Âm linh, quan Cao Các và tín ngưỡng trong gia đình như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Táo Quân, Thần Tài,… Hệ thống tín ngưỡng này đã được hình thành từ lâu đời và được cư dân
nơi đây trân trọng, giữ gìn, bảo lưu cho đến ngày hôm nay
2.3.1 Tín ngưỡng cộng đồng
2.3.1.1 Tín ngưỡng thờ Tiền hiền, Hậu hiền
Đối tượng thờ cúng
Tín ngưỡng thờ Tiền hiền là một tín ngưỡng phổ biến của cộng đồng cư dân
Việt, đặc biệt là ở các làng xã Danh xưng “Tiền hiền” là một biến thể ngữ âm và ngữ nghĩa của từ Hán - Việt “Tiên hiền”, tức người hiền đức đời trước Tín ngưỡng
này hình thành ở vùn g châu thổ Bắc Bộ, gắn liền với nền giáo dục Nho giáo Theo
đó, người hiền đức là người có tài đức văn chương, thành đạt về khoa cử Theo chân những người đi mở cõi, khi du nhập vào cùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, nó đã có
sự biến đổi về nghĩa, “Tiên hiền” được trại âm thành “Tiền hiền” và được hiểu theo
nghĩa là người đến trước dừng chân, khai phá, lập nghiệp ở vùng đất mới
Theo đó, ở Mân Quang, cùng với việc khai hoang lập làng thì ngôi đình làng được dựng lên để thờ lục tộc Tiền hiền - những người đã có công đầu tiên trong việc khai phá vùng đất Mân Quang, đó là các cụ Lê Phước Thọ, Trần Văn Mỹ, Võ Văn Linh, Thái Công Xạ, Nguyễn Văn Thành và Đinh Vạn Khang Sau này nhiều
vị Hậu hiền, những người có công với làng cũng được nhân dân địa phương phối thờ tại đình làng
Trang 31được thay đi dựng lại nhiều lần Mãi đến đầu thế kỉ XX, lần đầu tiên dân làng mới
có điều kiện xây dựng một khôi đình khang trang, vững chắc cho đến ngày nay Trong quá trình tồn tại, đình làng Mân Quang được các vua nhà Nguyễn ban nhiều sắc phong, trong đó có 3 sắc phong do vua Duy Tân ban ngày 11 tháng 8 năm Kỷ Dậu (1909), ngày nay vẫn còn nguyên vẹn Điều đặc biệt hơn, đình Mân Quang còn
là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Nội dung khắc trên bia di tích gắn tại đình làng đã nói rõ:
“Nơi đây, trong buổi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 -
1960), Nguyễn Tri Phương đã dùng địa điểm đóng quân và tích trữ lương thực để đánh giặc Từ năm 1945 đến 1954 là trụ sở làm việc của Ủy ban cách mạng lâm thời khối Phó Đức Chính, nơi bầu cử Quốc hội khóa I và là cơ sở hoạt động cách mạng của nhân dân địa phương” Trong kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1975, đình
được làm trụ sở Hội đồng hương chính, công dân vụ, lấy cây U làm trạm gác và đài quan sát, đồng thời là nơi hội họp, mitting của nhân dân trong làng Ngày 29/3/1975, khi thành phố Đà Nẵng được giải phóng, ngôi đình trở thành trụ sở của chính quyền cách mạng lâm thời Ngày 13/4/1999, đình làng Mân Quang được Sở văn hóa thông tin thành phố đăng ký bảo vệ là Di tích lịch sử - văn hóa nghệ thuật
Có thể nói rằng, đình làng là nơi linh thiêng, trang trọng nhất của làng, có vai trò quyết định vận mệnh, định đoạt số phận của cả làng như câu ca chúng ta thường
nghe: “Toét mắt là tại hướng đình/ cả làng toét mắt chứ mình chi em” Chính vì vậy
đình làng được cư dân nơi đây trân trọng, gìn giữ, trông nom cẩn thận
Đình làng Mân Quang là một tòa nhà được xây bằng gạch, vôi vữa theo lối vòm cuốn Trên bình diện, đình gồm hai đơn nguyên kiến trúc: chính diện phía trước và hậu tẩm nối liền phía sau Trước chính diện là khoảng sân rộng, thoáng đãng được láng vữa xi măng Trong sân có bức bình phong cao 1,9m, rộng 2,5m, hai mặt của bình phong được đắp nổi và khảm sành hình long mã và hổ Ngoài cùng, phía trước bình phong của đình có một bia di tích, được ngành văn hóa thông tin dựng để ghi lại các sự kiện lịch sử có liên quan đến đình Mân Quang Chính diện
có kích thước: chiều ngang 6,9m, chiều dọc 6,25m Ở bên trong, từ trước ra sau có
ba phần không gian rõ rệt được tạo bởi các vòm mái và các trụ đứng ở giữa đình Phần không gian ngoài cùng là nơi hội họp và hành lễ Phía trong, ở hai gian giữa
Trang 32được bài một hương án thờ thần vị hình “long tàng vân” và một bàn thờ trên đặt
một khám gỗ đựng sắc phong Ngoài ra, hai gian tả, hữu phía trong cùng còn có hai ban thờ được xây gạch, trên đặt hai thần vị có cùng kích thước và kiểu dáng thần vị
ở hương án Chính diện có biển đá “Mân Quan đình”, dòng lạc khoản ghi năm Tân Dậu Khải Định thứ 6 (1921) và bức hoành phi “Hòa thả bình” (Hòa và bình), dòng
lạc khoảng ghi năm Bính Ngọ Long Phi, Tuần thành suất đội Phan Hữu Thừa phụng cúng Ở các ban thờ đều có các câu đối: Giữa chính điện có hai câu chữ Hán được
phiên âm là “Quang minh chính đại đồng nhật nguyệt/ Nghĩa khí tinh thần chiếu cổ
kim” Dich nghĩa là “Quang minh chính đại cùng nhật nguyệt/ Nghĩa khí tinh thần sáng xưa nay” Ban bên hữu cũng có hai câu chữ Hán phiên âm là “Nghĩa chi thân hiền tiền thế trạch/ Trường di lạc lợi hậu nhân ân” Dịch nghĩa là: “Trông mong sự đầy đủ, thân thiết với người hiền tài, đó là ơn trạch của tiền nhân/ Hưởng lạc dài lâu, vui với điều lợi, đó là cái ân cho hậu thế”
Nối liền với đại đình ở phía sau, chính giữa là nhà hậu tẩm Hậu tẩm có kích thước nhỏ, chiều ngang 3m, chiều dọc 2,65m Hậu tẩm được tạo hai tầng cổ lâu giả, xây giật thấp, nhỏ dần với chiều cao vượt khỏi nóc nhà đại đình Trong có một bàn
thờ và một chữ “Thần” được khảm sành, ở trên tường sau, hai bên là đôi câu đối bằng chữ Hán được phiên âm là: “Trung hậu túy tinh thần bất nhị/ Nghĩa tiền
truyền hậu đức vi sâm” Dịch nghĩa là: “Tinh túy trung hậu thuần nhất không hai lòng/ Cái nghĩa của đời trước truyền lại cho đời sau, đức ấy cao”
Cả chính điện và hậu tẩm đều được tạo mái và lợp ngói âm dương Trên nóc
chính điện được gắn “lưỡng long triều nguyệt” Trên nóc hậu tẩm cũng được trang
trí theo mô típ nói trên nhưng hình rồng đã được cách điệu Ở các đầu đao, góc mái của đình cũng được gắn trang trí hình các linh vật trong bộ tứ linh đã được cách điệu Trước chính điện là khoảng sân rộng, thoáng đãng được láng vữa xi măng Trong sân có bức bình phong cao 1,9m, rộng 2,5m, hai mặt của bình phong được đắp nổi và khảm sành hình long mã và hổ
Nghi thức thờ cúng
Khi định cư lâu dài tại vùng đất mới, các bậc tiền nhân đã chọn ngày 16 tháng 3 âm lịch hằng năm làm ngày lễ hội đình làng Mân Quang hay còn gọi là lễ hội cầu an nhằm tưởng nhớ đến những vị Tiền hiền, Hậu hiền, những người đã có
Trang 33công khai hoang, lập làng Đồng thời cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống dân làng được ấm no, hạnh phúc Đây là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất của làng Việc tổ chức lễ hội do Ban khánh tiết chủ trì cùng với sự phối hợp, hỗ trợ của các bô lão, chức sắc trong làng Chi phí cho ngày lễ này lấy từ sự đóng góp của nhân dân và công quỹ của làng Lễ được tổ chức theo một trong ba hình thức sau đây:
- Tiểu lễ: Lễ phẩm đạm bạc, chỉ có hương đèn, hoa quả, trầu cau, rượu và duy chỉ có một Chủ bái đứng khấn nguyện rồi lạy ba lần trước ba gian thờ của ba gian tại đình làng kèm theo là ba hồi chiêng trống
- Trung lễ: Lễ phẩm có phần tươm tất hơn, thêm vào đó có xôi, thịt, bánh,… được bày biện trên ba bàn thờ của ba gian tại đình làng Chủ bái và hai Bồi bái tả hữu (tức Đông Tây phân hiến) đứng khấn nguyện trước ba gian, kèm theo là chiêng trống Ngoài ra mỗi gian hoặc chỉ gian giữa có bốn lễ sanh (tức học trò gia lễ), lễ phục chỉnh tề đứng thị lập (tức đứng tại chỗ, không đi dẫn lễ)
- Đại lễ: Theo định kỳ 3 năm một lần, làng sẽ tổ chức đại lễ Phẩm vật thực khá đầy đủ tươm tất trọng thể, có xướng, đọc văn (chúc văn) và văn tế cô hồn, hai người phụ trách chinh cổ (chiêng trống), hai người phụ trách kiểng cổ (chiêng trống nhỏ), người phụ trách đánh thanh la (phèng la) khởi lệnh và kết thúc lễ, người đọc xướng, người đọc văn tế thần và văn tế cô hồn cùng ban nhạc cổ, có 12 lễ sanh dẫn
lễ theo người thủ xướng Tất cả Chủ bái, Bồi bái, Lễ sanh đều lễ phục chỉnh tề Việc dẫn lễ đi lại vào trong, ra ngoài ba lần theo ba tuần rượu, ba người phụ trách rót trà, rượu tại ba bàn thờ của ba gian đình làng Dù sơ lễ, trung lễ hay đại lễ, thảy đều cúng Cô hồn thập loại chúng sinh (tức Âm hồn) Bàn thờ cúng được đặt ngay trước
và giữa sân đình làng và bao giờ cũng cúng Cô hồn trước rồi mới tiến hành chánh
lễ Mỗi khi có hành nghi gia lễ, đều phải có ba bàn đặt tại ba gian trước hiên đình Đêm trước ngày khởi sự chánh lễ, bao giờ cũng có lễ vọng, còn gọi là lễ chưng thường tức lễ cung nghinh, mời mọc thần hiển linh chứng giám Phần này được cúng ở ngoài sân đình, lễ vật dâng cúng là con vật sống bò hoặc lợn, cùng với các lễ vật khác như rượu, trầu, hoa quả Gần cuối lễ có phần tiểu khước, nghĩa là mời một
số phụ hào hoặc đại biểu vào dâng hương và lạy tại bàn thờ ba gian của đình làng Sau phần lễ đến phần hội, có năm tổ chức hát bội cho dân chúng xem, có năm tổ
Trang 34chức đua ghe, lắc thúng trên biển, nhảy bao tời, kéo co,… cùng nhiều trò chơi dân gian khác rất vui nhộn
Có thể nói, lễ hội đình làng là lễ hội lớn và quan trọng nhất của cư dân Mân Quang Lễ hội mang tầm ảnh hưởng lớn và chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống và sinh hoạt văn hóa cư dân nơi đây
2.3.1.2 Tín ngưỡng thờ Cá Ông
Đối tượng thờ cúng
Tín ngưỡng thờ Cá Ông là nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu của các làng đánh
cá ven biển miền Trung nói riêng và các làng đánh cá cả nước nói chung Cá Ông còn có tên là cá Voi, là loài cá hiền lành, thân hình to lớn, da láng mịn Ngư dân gọi
cá Ông bằng nhiều tên gọi khác nhau như cá có màu đen gọi là “Ông Lãnh”, cá có màu da đen xám gọi là “Ông Ngọc”, cá có đầu tròn gọi là “Ông Chúc”, cá gặp nạn dạt vào bờ rồi chết gọi là “Ông Lụy” và còn được gọi với nhiều tôn danh khác như
Ông Sanh, Ông Ngư, thần Nam Hải, thần Long Hải, thần Đông Hải, Đức Ngư Ông, Long Hải Ngọc Lân tôn thần, Cư dân ven biển từ Thanh Hoá vào đến phía Nam
đều có tục thờ cá Ông Do vậy, khi gặp cá Ông “luỵ” hay “lị”, ngư dân thường tổ
chức mai táng rất chu đáo Thông thường cá voi chết do bị cá ép, bị bệnh già, môi trường ô nhiễm, đôi khi cũng do vô ý vướng vào lưới đánh cá Trường hợp cá bị sóng lớn đánh dạt vào bờ nhưng chưa chết, ngư dân sẽ tìm mọi cách đưa cá xuống nước, trở ra biển Người đầu tiên thấy xác cá Ông được xem là trưởng tang, coi như con ông Nam Hải Người đó phải đội dây rơm mũ bạc như để tang cha mẹ mình Dân làng tổ chức đám tang và xem anh ta như một vị cao niên được trọng vọng trong làng Nếu người đó là phụ nữ thì bị bãi miễn và trưởng tang phải là một người con trai trong gia đình Người này ở địa phương nào thì được phép cung nghinh xác Ông về cấp táng ở lăng của địa phương đó và thường xuyên canh gác bên cạnh xác
cá voi cho đến khi hoàn tất công việc ma chay Với xứ Đàng Trong và quốc gia Đại
Nam, cá Voi chính là vị thần đã cứu giữ tính mạng cho Nguyễn Ánh, người khai sáng ra vương triều Nguyễn Vị thần Ngư đã đi vào lịch sử nhà Nguyễn như một trong những yếu tố thiêng của đất trời, đưa Nguyễn Ánh đàng hoàng ở ngôi Thiên
tử đúng như quan niệm “tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên” của đạo Nho [21,
tr.47] và để tưởng nhớ công ơn đó, sau khi bình định được thiên hạ, thống nhất đất
Trang 35nước, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long, ban sắc phong cho
cá Ông tước hiệu “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng đẳng thần” và xem cá Ông như là Thân vương của Hoàng tộc, rồi cho lập lăng và đưa vào lăng phụng thờ Các đời vua triều Nguyễn sau đó cũng đều có sắc phong cá Ông với tôn xưng “Đại Càn Quốc Gia Nam Hải” [5, tr.13] Còn trong tâm thức của ngư dân, cá Ông là vị
thần của biển cả thường hay cứu người mỗi khi gặp bão tố chìm tàu thuyền trên biển, là chỗ dựa tinh thần vững mạnh, nơi gửi gắm niềm tin của những người sống lênh đênh trên biển khi sóng to gió lớn, nguy cơ thuyền đắm, mạng sống bị đe dọa
Từ chỗ là một loài sinh vật bình thường, cá Voi trở thành một sinh vật được ngư dân ven biển gán cho những sự tích đẹp, huyền bí và đầy tính nhân văn Việc tin vào một ân nhân cứu mạng ban đầu như một nhu cầu, về sau dần in hằng vào tâm thức và trở thành tín ngưỡng của cư dân ven biển Đây là nét văn hóa đặc trưng của những ngư dân làm nghề đánh cá trên biển tồn tại từ xưa đến nay
Nơi thờ tự
Cũng giống như các làng đánh cá ven biển trên cả nước, ngư dân Mân Quang lập lăng để thờ cúng, tôn kính và tưởng nhớ ân đức của cá Ông Lăng vừa có chức năng tín ngưỡng (nơi trú sở của thần linh) lại vừa có chức năng thế tục (nơi vui chơi, giải trí đãi khách trong ngày cúng lễ) Lăng Ông Mân Quang có quy mô và kiểu thức kiến trúc tương tự ngôi đình làng, gồm có chính điện (nơi diễn ra các lễ thức cúng tế) và hậu tẩm (nơi lưu giữ ngọc cốt và phụng tự thần Nam Hải) đều được xây dựng bằng gạch, xi măng Tất cả có bốn ban thờ, trong đó chính điện có ba ban thờ: một ở chính giữa thờ thần Nam Hải, hai bên tả hữu và hậu tẩm đều có ban thờ Tiền hiền, Hậu hiền - những người có công biệt lập xã hiệu, khai cơ nghề cá Nóc mái trang trí hình lưỡng long triều nguyệt và các hình tượng khác trong tứ linh Trong tâm thức cư dân ven biển nói chung và cư dân Mân Quang nói riêng, cá Voi
đã hóa thân và hóa thiêng ở hai cấp: người (Đức Ngư Ông) và thần (thần Đông Hải
và thần Nam Hải) Do đó, lăng Ông ở đây vừa như có chức năng của nhà thờ tộc - nơi cất giữ di hài tổ nghề biển, vừa như là đình thờ thần, vị thần được coi như Thành hoàng của làng vạn Đó cũng chính là nguyên do khiến nhiều làng gọi lăng
Ông là “Tổ đình nghề cá” hoặc “Đình vạn” Nhưng nếu đình là chốn thâm nghiêm,
ngày thường cửa đóng then cài thì lăng Ông thường luôn mở cửa Vào bất kỳ thời
Trang 36điểm nào, ngư dân đều có thể đến cúng, cầu xin ông che chở và ban phước cho những chuyến đi biển
Lễ hội Cầu Ngư
Gắn liền với tín ngưỡng thờ Cá Ông là lễ hội Cầu Ngư Đây cũng là một trong những sinh hoạt văn hoá mang đậm yếu tố tâm linh của ngư dân vùng biển
Nó gắn với các tín ngưỡng thờ cá - là vật tổ từ xa xưa của ông cha ta trong những ngày đầu di dân về phía biển Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức nhằm bày tỏ lòng thành
kính của ngư dân vùng biển với “cá Ông”, cầu mong sự che chở, tốt lành bội thu và
cũng như để xua đi mọi điều xấu Lễ hội này còn là dịp để người ta cúng tế những vong hồn oan khuất và vĩnh viễn ở lại với biển nhằm xoa dịu nỗi đau của những người ở lại Lễ hội cầu ngư còn có nhiều tên gọi khác như lễ hội làng cá, lễ hội ngư dân, lễ hội ngư ông, lễ hội cá ông,… và những năm gần đây, lễ hội được mang tên
“lễ hội xuất quân ra khơi đánh bắt cá”
Cùng với lễ hội đình làng, lễ hội Cầu Ngư là một trong hai lễ hội lớn và quan trọng nhất của cư dân Mân Quang, được ngư dân tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hằng năm tại lăng thờ Cá Ông Tùy theo hoàn cảnh sinh hoạt và kinh phí của địa phương mà lễ hội được tổ chức tiểu lễ, trung lễ hoặc đại lễ Thường thì ba năm một lần, lễ hội sẽ được tổ chức trọng thể, mang nghi thức quy mô đại lễ Trong đó, tiểu lễ cúng đức ngư ông Thần biển, không có nghi thức múa hát hoặc xướng văn Trung lễ khác tiểu lễ là có thêm văn tế, có nghi thức cúng như đại lễ, nhưng không
có hát Bả trạo Còn nghi thức của ngày đại lễ được tổ chức công phu hơn, để có được ngày đại lễ thành công, cư dân phải chuẩn bị trước đó 20 ngày, ngày đầu tiên
là họp các chư phái tộc của làng, Ban đại diện ngư dân, Ban phụng sự di tích Lăng Ông và chính quyền địa phương, trong cuộc họp này, họ quyết định kinh phí và bầu Ban tổ chức điều hành lễ Ban tổ chức được thành lập và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên (Ban cung phụng chuyên lo việc tổ chức, tiếp khách; Ban dự tế chuyên lo cúng kiến)
Trước thời gian tổ chức lễ hội, các tàu thuyền đánh cá tập trung về neo đậu gần bờ, tất cả tàu thuyền đều treo cờ Tổ quốc, nhân dân tổng dọn vệ sinh nhà cửa, đường phố, bãi biển và nơi diễn ra lễ hội Lăng ông được trang hoàng rực rỡ, trang
Trang 37nghiêm với cờ đại, cờ ngũ hành Nhân dân và các chủ phương tiện tình nguyện đóng góp tiền của, công sức để tổ chức lễ hội Lễ hội gồm có hai phần:
- Phần lễ: bao gồm các nghi thức lễ vọng (lễ cáo tiên thường), lễ nghinh ông sanh (rước ông sanh - Đông Hải Ngọc Lân về hợp điện chứng tế lễ ông tử - Nam Hải Ngọc Lân), lễ tế cô hồn, lễ chánh tế, lễ xây chầu, hát bả trạo
+ Nghi thức lễ vọng được bắt đầu từ tờ mờ sáng nhằm cầu xin thần Nam Hải báo ứng cho dân vạn đánh cá điềm lành, dữ trong năm Lễ được cử hành trang nghiêm, dâng đầy đủ ba tuần rượu và đọc, cúng Bản văn cúng ca ngợi công đức cá Ông trong việc giúp đỡ các vạn đánh cá
+ Sáng hôm sau là lễ nghinh (rước) Ông, tức là lễ rước Đông Hải Ngọc Lân thần về ngự tại điện thần để chứng lễ tế thần Nam Hải, tiếp là nghinh vị tiền hiền, các vị hậu hiền, cô bác tại các đình, miếu trong vạn về lăng Ông chức hưởng lễ tế
+ Lễ tế cô hồn (những oan hồn uổng tử vất vưởng đâu đó trong vạn đánh cá) được tổ chức tại sân lăng Ông Vật lễ gồm một bát cháo thánh, một đĩa khoai sắn, bánh trái, hộp trầu, chén rượu, hương đèn, vàng mã Khởi sự tế, vị chánh tế gõ ba hồi mõ, dâng đủ ba tuần rượu, sau tuần rượu thứ nhất là đọc văn tế Nội dung của văn tế cô hồn biểu hiện sự thương tiếc cho những oan hồn chết uổng, thể hiện tình cảm của dân vạn đánh cá với những người vì kế sinh nhai mà tử quy chín suối Tế xong thức cúng được tung ra các nơi để khí thực cô hồn
+ Lễ chánh tế (lễ tế ông tử - Nam Hải Ngọc Lân) được tiến hành từ lúc nữa đêm và sáng Vật tế lễ gồm heo (đầu hoặc cả con), hương đèn, hoa quả, bát muối sống, không dùng vật cúng bằng hải sản Phần tế có dâng hương, dâng rượu như lễ cầu an tại đình làng, đọc văn tế ca ngợi công đức của thần, cầu xin thần ban cho làng một mùa bội thu, thuyền ra khơi xuôi chèo mát mái Sau lễ tế, ngư dân xuống thuyền cho một vụ mùa mới đánh bắt cá với ước vọng mang theo là sẽ được mùa no
đủ, bình an trên sóng nước
+ Tiếp theo là lễ xây chầu hát bả trạo Đây là một phần quan trọng và mang tính bắt buộc phải có trong lễ hội cầu ngư miền biển Hát bả trạo là một phần của nghi lễ diễn xướng bao gồm yếu tố hát múa với đạo cụ là mái chèo Đoàn bả trạo thường gồm 16 người, trang phục gần giống kép và quân trong các tuồng hát bội cổ Nôi dung bài hát bả trạo (có khi đọc là bá trạo) tưởng niệm, ca ngợi công đức của
Trang 38Ngư Ông đã cứu người gặp nạn trên biển cả mênh mông hay thương tiếc ông Ngài ngộ nạn phải “lụy”, đồng thời nguyện xin đức ngư Ông hiển linh giúp ngư dân được bình yên trên sóng nước trùng dương, tôm cá đầy ghe, giọng hát phảng phất làn điệu Chăm Hát bả trạo thể hiện đan xen kết hợp phần lễ và phần hội tạo không khí vui vẻ, hưng phấn cho lễ hội làng cá
- Phần hội: gồm các sinh hoạt văn hóa dân gian đặc trưng của cư dân làm nghề biển với những hình thức giải trí, vui chơi tạo không khí vui vẻ, náo nức trong ngày hội như hát hò khoan, hát bài chòi, thi lắc thúng chai, đua ghe, kéo co,… Những trò vui chơi dân gian đó cho phép con người vượt qua khuôn khổ lễ nghi tôn giáo đẳng cấp trong xã hội, giúp cho tinh thần phấn chấn, thoải mái, xoa dịu bớt phần nào khó khăn, vất vả của cuộc sống để hòa vào niềm vui chung của dân làng
Họ đến tham gia lễ hội trên tinh thần sảng khoái, tự nguyện, ngoài vui chơi họ còn nhận được một phần thuộc về thế giới tâm linh
Có thể thấy rằng, Cầu Ngư là một lễ hội hoành tráng, đầy không khí trang trọng thiêng liêng song cũng vô cùng dân dã, thể hiện vẻ đẹp truyền thống của người dân vùng biển Việc bảo tồn và phát huy lễ hội cầu ngư cũng như tín ngưỡng thờ Cá Ông ở Mân Quang nói riêng và các làng đánh cả ven biển nói chung là một việc làm hết sức cần thiết, nhằm giữ gìn vốn văn hoá truyền thống, trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước hôm nay
2.3.1.3 Tín ngưỡng thờ Nữ thần Thiên Y Ana
Đối tượng thờ cúng
Bên cạnh tín ngưỡng thờ Tiền hiền và thờ Cá Ông thì cộng đồng cư dân Mân Quang cũng thờ cúng Nữ thần Thiên Y Ana Đây không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt văn hóa của cư dân nơi đây mà còn biểu thị dấu ấn giao lưu văn hóa đa nguyên giữa cư dân Việt với các cộng đồng cư dân thổ trước trong lịch
sử Thiên Y Ana là Mẹ xứ sở của người Chăm, được người Việt đón nhận và thờ phụng, kể từ khi mở mang bờ cõi về phía biển và phương Nam Bà ngự trị trong đời sống tâm linh của cộng đồng dân Việt với danh xưng tôn quý - bà Chúa Ngọc Về
“lai lịch” và thần tích bà Chúa Ngọc hầu như không ai tỏ tường Tuy nhiên, gốc Chăm của bà thì một số người già lại biết một cách vô thức Họ nói rằng, bà lớn
lắm, cửa thánh của bà ở Nha Trang Bà hiển đến đâu thì ở đó phải lập lăng, miếu
Trang 39thờ Trong tâm thức cư dân nơi đây, bà Chúa Ngọc được suy tôn và thờ phụng như
bà Mẹ Đất hay còn gọi là Mẫu Địa của bổn xứ
Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, tín ngưỡng thờ bà với danh xưng Thiên Y Ana phổ biến ở các làng biển và do nhận thức thống nhất về đối tượng thờ tự nên ngày vía bà cũng như nghi lễ tương đối thống nhất ở các làng biển Có lẽ tác nhân dẫn đến sự thống nhất đó xuất phát từ trung tâm núi chúa - Ngũ Hành Sơn Vì nơi đây, tại hang Chiêm Thành, người Việt đã tiếp quản và thờ phụng hai vị nữ thần của người Chăm là bà Chúa Ngọc và bà Chúa Lồi Có thể chính từ nơi này đã lan tỏa sự thờ phụng bà đến cộng đồng cư dân ven biển, tạo nên tính thống nhất trong ngày lễ
và nghi thức đối với một bà Mẹ Đất/ Chúa xứ/ Bổn xứ
Nơi thờ tự
Miếu Bà trong Khu di tích lịch sử - văn hóa làng Mân Quang được xây dựng bằng vật liệu gạch và xi măng Trần đổ bê tông, tạo mái giả Miếu chia thành hai khoảng không gian gồm chính điện và hậu tẩm Chính điện có hai ban thờ tả, hữu; hậu tẩm có một ban thờ, trong này có thờ một cặp siêu (đôi kiếm), một cặp ngựa bằng gỗ, khi cúng tế có thêm ba bộ đồ mã, gồm áo, hài nón, mũ mão, hia, trong đó hài nón là đồ thờ của bà Chúa Ngọc, những thứ còn lại của nhị vị công tử - cậu Quý
và cậu Tài, đây là hai người con của bà Chúa Ngọc Trang trí nóc mái có phần khác biệt Nóc chính điện là hình lưỡng long triều nguyệt và hình hai chim phượng chầu vào biểu tượng hoa cúc cách điệu; nóc hậu tẩm trang trí hai con rồng chầu vào hình rùa cách điệu, trên lưng rùa có vật nhọn vươn cao Vào những ngày rằm, kỵ, lễ, tết, miếu Bà nghi ngút khói hương với các lễ vật dâng cúng được bày biện trong miếu như hoa quả, hương đèn, vàng, mã, trầu rượu
Nghi thức thờ cúng
Hằng năm lễ vía bà diễn ra trong hai ngày, 24 và 25 tháng giêng Nghi lễ tổ chức như tế đình, gồm lễ tế Âm linh, lễ cáo và lễ chánh Cũng như lễ đình, lễ vía Bà
Chúa Ngọc cứ ba năm một lần tổ chức lễ “phong” tức là đại lễ Đại lễ bao giờ cũng
có hát tuồng, mổ heo, vật bò đãi làng, còn lễ “sái”, tức trầm trà thường niên, chỉ có
hoa, quả, gà, lợn, xôi, bánh Song, dù là lễ phong hay sái thì thường không thiếu một lễ thức có tính bắt buộc là lễ dâng mâm, hay còn gọi là dâng bông (hoa) Người
dâng mâm là một ông đồng tử, gọi là “xác”của Bà Mâm dâng hoa cúng Bà có đầy
Trang 40đủ năm thứ áo giấy, hương đèn, trầu cau, bè và gạo muối Đồng tử đội lần lượt từng mâm lên đầu, không cần tay giữ, lăn lộn nhiều vòng từ ngoài vào lăng Sau phần lễ, phần hội được tổ chức với các trò chơi dân gian như hát bội, đua ghe, kéo co, bóng
đá, bóng chuyền,… làm tăng thêm không khí đông vui, nhộn nhịp trong ngày vía bà Thiên Y Ana
Tín ngưỡng thờ nữ thần Thiên Y Ana là một tín ngưỡng phổ biến của cư dân miền biển Quảng Nam - Đà Nẵng, được chuyển hóa trên cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Tín ngưỡng thể hiện rõ dấu ấn văn hóa đa nguyên Chăm - Việt, đồng thời qua đó cũng biểu hiện ước vọng cầu mong sự hộ trì của Mẹ xứ sở về một cuộc sống an lành và phồn thịnh của những cư dân miền biển
2.3.1.4 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
Đối tượng thờ cúng
Thành hoàng hay còn gọi là Thần hoàng (tức Thần Thành hoàng) là vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho một cộng đồng người sống trong một làng, thôn, xóm Thành hoàng là một từ Hán - Việt, vốn là một từ chỉ vị thần bảo hộ thành trì của Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam từ thời Đường và tiếp tục
phát triển qua các triều đại Việt Nam Chữ “thành” ở đây là thành lũy, “hoàng” là
con hào bên trong, trong hào ngoài lũy bảo vệ cho làng Người Việt đã kết hợp tín ngưỡng thờ thần nguyên thủy sẵn có kết hợp với thờ Thành hoàng ở các làng xã Việt Nam Trong tâm thức của người Việt, Thành hoàng đóng vai trò là vị thần thay mặt nhà vua cai quản nhân dân, bảo vệ, giúp đỡ dân chúng bốn mùa no đủ Tục cúng Thành hoàng xuất phát từ tín ngưỡng dân gian và do nhu cầu tâm linh của người dân khi mà những thành công, thất bại của người dân trong làng đều dựa vào yếu tố thần quyền và do các thần linh chi phối Thành hoàng là từ thường để gọi chung, còn trong văn bản thường dùng với các tên gọi đầy đủ là Đương cảnh thành hoàng, Bản cảnh thành hoàng, Bổn cảnh thành hoàng,…
Nơi thờ tự
Trong nhiều đình làng, Thành hoàng được thờ cùng với các vị Tiền hiền, Hậu hiền của làng Đối với Mân Quang, Thành hoàng được thờ trong miếu Miếu thờ Thành hoàng của cư dân Mân Quang được xây bằng vật liệu gạch và xi măng, trần đổ bê tông tạo mái giả Miếu chia làm hai khoảng không gian gồm chính điện