Với những lý do trên tôi chọn đề tài "Nghiên cứu mức độ lo âu của học sinh khối 12 huyện Mỹ Lộc – Nam Định" nhằm tìm hiểu vấn đề lo âu của học sinh, giúp học sinh có được sự hiểu biết đ
Trang 1ỌC N N
ỌC SƯ P M KHOA TÂM LÝ – ÁO DỤC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Nghiên cứu mức độ lo âu của học sinh khối 12
huyện Mỹ Lộc – Nam ịnh
Sinh viên thực hiện : ặng Lai Thao
Chuyên ngành: Tâm lý iáo dục Người hướng dẫn : Bùi Thị Thanh Diệu
Đà Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2P ẦN MỞ ẦU
1 Lý do chon đề tài
Việt Nam đang trên đường phát triển kinh tế hội nhập quốc tế Chúng ta đang từng bước khẳng định tên tuổi của mình với bạn bè thế giới Sự phát triển ấy đòi hỏi cao hơn ở con người, nghĩa là con người phải không ngừng trau rồi kiến thức, năng lực, trí tuệ Chính điều này thôi thúc chúng ta phải đầu tư kĩ lưỡng vào việc học tập Như chúng ta đã biết hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới họ đều có một nền giáo dục chất lượng Vì vậy có thể lí giải được tại sao hiện nay việc học tập đang là vấn
đề được quan tâm hàng đầu? Nhưng cũng chính vì quá coi trọng chúng ta đã đặt ra một gánh nặng quá lớn đối với người học đặc biệt là đối với học sinh THPT Chương trình học tập nặng nề, sự kì vọng từ gia đình nhà trường và chính bản thân các em đã làm cho các em bị áp lực, căng thẳng trong học tập thi cử dẫn tới stress
và lo âu quá mức
Sự lo âu và tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân trong các công việc được giao của cơ quan, tập thể là một đức tính cần thiết ở mỗi người Những người có tinh thần trách nhiệm biết lo âu mới có động lực để hoàn thành công việc một cách tốt nhất Nhưng nếu lo âu quá mức lại dẫn đến những hậu quả đáng tiếc Trong mỗi con người chúng ta lo lắng căng thẳng quá chắc chắn sẽ không đạt được hiệu quả Thậm chí lo âu có thể làm mất cân bằng trong cơ thể dẫn đến những rối loạn về tâm bệnh lý nguy hiểm như: bệnh tim, mạch, tiểu đường, dạ dầy, rối loạn tiêu hóa điều
đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động và cuộc sống của con người
Đối với học sinh cũng thế, lo âu ảnh hưởng khá lớn đến việc học tập của các
em Đặc biệt là học sinh THPT bởi đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về tâm sinh lí
là lứa tuổi đang đứng trước nhiều ngưỡng cửa của cuộc đời
Theo trang Hanoinet (2006) mỗi năm có không ít học sinh trường trung học phổ thông rời học đường vì áp lực học hành thi cử, nhiều em rơi vào khủng hoảng tâm lý tự huỷ hoại đời mình và thậm chí có em tìm đến cái chết
Trang 3Vấn đề lo âu ở học sinh THPT là một chủ đề đang được rất nhiều nhà khoa học chú ý khi nghiên cứu về tâm lý trong học đường Lớp 12 là học sinh cuối cấp, với yêu cầu rất cao của hoạt động học tập, nội dung học tập của học sinh ngày càng trở nên đa dạng, phong phú, phức tạp và quan trọng hơn cả là áp lực của hai kỳ thi tốt nghiệp và đại học khiến cho học sinh phải cố gắng rất nhiều Cùng với tính chất của hoạt động học tập thi cử nặng nề, quan hệ gia đình và các mối quan hệ bạn bè trong đó có quan hệ với bạn khác giới là những điều khiến cho học sinh dễ rơi vào trạng thái lo âu căng thẳng - stress ở các mức độ khác nhau Trong khi đó học sinh lại là những người chưa có nhiều kinh nghiệm sống chưa có các kỹ năng để đối phó với lo âu, chưa biết cách tiếp cận với các phương tiện để giải tỏa những căng thẳng của mình Nhiều trường hợp do tình trạng stress kéo dài đã làm ảnh hưởng đến kết quả học tập, sức khỏe và cuộc sống của học sinh
Với những lý do trên tôi chọn đề tài "Nghiên cứu mức độ lo âu của học sinh khối 12 huyện Mỹ Lộc – Nam Định" nhằm tìm hiểu vấn đề lo âu của học sinh, giúp
học sinh có được sự hiểu biết đúng đắn, có các kỹ năng phòng ngừa và làm giảm lo
âu, nâng cao chất lượng cuộc sống và kết quả học tập của các em
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng lo âu của học sinh khối 12 trường THPT Mỹ Lộc – trường THPT Trần Văn Lan - Mỹ Lộc – Nam Định để đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng lo âu cho học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về lo âu và mức độ lo âu của học sinh
- Khảo sát thực trạng lo âu của học sinh trường THPT Mỹ Lộc – trường THPT Trần Văn Lan
- Đề xuất biện pháp giúp học sinh có được sự hiểu biết đúng đắn, có kĩ năng phòng ngừa và làm giảm lo âu để có kết quả học tập tốt
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối 12 trường THPT Mỹ Lộc – trường THPT Trần Văn Lan - Mỹ Lộc – Nam Định
Trang 4- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ lo âu của học sinh khối 12 trường THPT Mỹ Lộc – trường THPT Trần Văn Lan - Mỹ Lộc – Nam Định
5 Phạm vi khảo sát
+ Quy mô: 280 học sinh
+ Không gian: Trường THPT Mỹ Lộc - trường THPT Trần Văn Lan - Mỹ Lôc – Nam Định
+ Thời gian: Học Kỳ II năm 2012 – 2013
6 iả thuyết khoa học
- Tình trạng lo âu ở học sinh trường THPT Mỹ Lộc - trường THPT Trần Văn Lan - Mỹ Lộc – Nam Định là vấn đề phổ biến Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng lo âu là do áp lực học tập, thi cử, sự kì vọng từ gia đình và bản thân
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tế: Sử dụng bảng trắc nghiệm (test) của Beck, Phương pháp phỏng vấn (trò chuyện), quan sát, điều tra bằng bảng hỏi, trường hợp tâm lý điển hình
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học, tính %, tương quan trung bình cộng
Trang 5NỘ DUN
C ƢƠN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN Ề N ÊN CỨU
Nghiên cứu về lo âu ở nửa sau thế kỷ XIX ngày càng được quan tâm và có thể được khuyến khích thêm nhờ tác phẩm Chartes Darwin: “Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật”(1872) trong đó ông mô tả cảm xúc sợ hãi dễ hiểu: “Con người trải qua vô số các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù hoặc nguy hiểm của họ bằng cách bỏ chạy một cách liều lĩnh hoặc đấu tranh một cách mãnh liệt với chúng… và bây giờ, mỗi khi cảm xúc sợ hãi tăng lên, mặc dù nó không dẫn tới một ảnh hưởng nào, các hậu quả vô khuynh hướng xuất hiện lại qua tác động di truyền
và liên tưởng”
Trong thuyết lo lắng của Karen Horney (1885 - 1952) đã chỉ ra sự lo lắng cơ bản và sự thù địch cơ bản là những cảm xúc nền tảng của trẻ, phát sinh từ tình yêu không phù hợp của cha me Bà cũng chỉ ra con đường chủ yếu nhằm thích nghi với
lo lắng cơ bản là cá nhân trang bị cho mình những cơ chế tự vệ Tuy nhiên nghiên cứu không chỉ ra được những đặc điểm của các mối quan hệ xã hội, nhà trường cũng là những nhân tố ảnh hưởng mạnh về mặt tâm lý của trẻ
Yerkes và Didson (1908) đã mô tả mối quan hệ giữa lo âu và hoạt động hoạt động được cải thiện tốt lên lúc ban đầu giống như được khuấy động lên, đó là thời
kỳ hoạt bát; nhưng khi mức độ lo âu trở nên quá mức thì lại chuyển sang thời kỳ suy yếu, giảm khả năng thực hiện các động tác vận động khéo léo các nhiệm vụ phức tạp
Trong quan niệm “tâm căn lo âu” của Sigmund Freud Ông cho thấy vai trò của lo âu như “một tín hiệu của nguy hiểm” hoặc là từ những nguy hiểm sắp sảy ra của những ý tưởng đầy xung đột đi vào ý thức
Trang 6Trong nghiên cứu xuất bản năm 1979, “Anxiety resreach in educational Psycholory – nghiên cứu về lo âu trong tâm lý sư phạm”, Tobias giải thích nỗi lo âu ảnh hưởng đến học tập của học sinh qua 3 điểm:
- Thứ nhất: Là khi học sinh học một chủ đề mới, họ phải tập trung tư tưởng cho việc học Học sinh có nỗi lo âu cao độ thường phân tán tư tưởng dù đang chăm chú theo dõi vấn đề Thay vì chăm chú theo dõi lời hướng dẫn của giáo viên hay tập trung vào trang giấy phải đọc để họ liên tưởng đến cảm nghĩ căng thẳng trong tâm trí Tiếp đó, trí óc họ miên man đến ý nghĩ bài vở sẽ nghèo nàn bị bạn bè giáo viên chỉ trích và trở thành lúng túng không biết phải làm thế nào Như vậy, ngay từ ban đầu của bài học động lực thúc đẩy học tập không được vận dụng, học sinh đã bỏ sót nhiều chi tiết hướng dẫn quan trọng của giáo viên vì quá bận rộn với nỗi lo âu
- Thứ hai: Là những khó khăn trên không phải chỉ chấm dứt ở đó Dù cố gắng tập trung vào bài vở, những học sinh lo âu còn gặp khó khăn vì những tài liệu giáo khoa do giáo viên cung cấp hay học sinh phải tự tìm kiếm thường không sáng tỏ mà cần phải tìm hiểu trước và phải được phân loại Họ khó có thể đáp ứng với những hướng dẫn của giáo viên tìm hiểu những tài liệu sưu tầm Quan trọng hơn, họ không
có khả năng đặt trọng tâm bài làm vào mục đích đề ra và nhiều khi họ không biết mục đích của bài là gì Thêm vào đó, những học sinh có nỗi lo âu cao thường không
có thói quen học tập thích đáng, khi nào học khi nào chơi nên không biết tổ chức việc học tập dù ở lớp hay ở nhà Lúng túng, hoang mang, không phát triển động lực học tập
- Thứ ba: Là học sinh có nỗi lo âu không phải là học sinh quá kém
Trong nghiên cứu về giới tính của Duke và đồng nghiệp, 1982, Livson và Peskin 1980 cho rằng những thành viên dậy thì sớm thường tự tin hơn, ít lo lắng hơn những thành viên dậy thì muộn
Trong nghiên cứu của trường tổng hợp California những thanh niên dậy thì muộn dễ thích nghi hơn với lo lắng
Nghiên cứu của Elkind (1986) để đề cập đến căng thẳng của trẻ trong việc sử
lý 3 loại căng thẳng
- Căng thẳng loại A (type A) có thể nhìn thấy và đoán được
Trang 7- Căng thẳng loại B (type B) không thể nhìn thấy, không thể dự đoán được
- Căng thẳng loại C (type C) thấy được nhưng không tránh được
Trong nghiên cứu của Ernest Jones, nhà tâm thần học người Anh đã đưa ra các quan niệm lo âu có quan hệ với nhau: sợ, kinh sợ, khiếp sợ, hoảng sợ và sợ hãi Ông mô tả hai nét đặc điểm để phân biệt sợ và lo âu: không cân xứng giữa kích thích bên ngoài và sự đáp ứng với kích thích ấy, không cân xứng giữa biểu hiện tâm thần và cơ thể Sợ, nói chung được xem như là một đáp ứng cảm xúc bình thường
để chuẩn bị tư tưởng cho ta trước những nguy hiểm có thật đang đến vì thế có giá trị sống còn Ngược lại, cảm giác lo âu giống như sợ nhưng không có sự đe doạ rõ rệt hoặc sắp đến
Anbrey Lewis, nhà tâm thần học người Anh đã có nhiều nghiên cứu về lo âu
và đã ra phân như sau: đó là một trạng thái cảm xúc với tính chất trải nghiệm chủ quan về sợ hoặc cảm xúc có liên quan gần như thế (kinh hãi, tổn hại, hoảng sợ, bối rối, kinh sợ, kinh hoàng), cảm xúc xấu : có thể là cảm giác cái chết đe doạ hoặc là suy sụp Đó là sợ trực tiếp cho tương lai trong đó có cảm giác đe doạ của nguy hiểm đang đến; có những đe doạ hoặc là không thể nhận ra được hoặc theo tiêu chuẩn hợp lý, đe doạ ấy không cân xứng với cảm xúc nó gây nên; có những khó chịu chủ quan về cơ thể như là cảm giác thắt lại trong ngưc, cảm giác thắt chặt trong họng và khó thở; có rối loạn cơ thể bao gồm các hoạt động tự ý (thí dụ: kêu thét lên, chạy trong hoảng sợ) hoặc các hoạt động không hoàn toàn hoặc hoàn toàn tự ý (thí dụ : khô mồm, ra mồ hôi, đánh trống ngực, nôn)
Trong cuốn “Vượt qua lo âu và suy sụp tinh thần” của Robert Poiest, giáo sư tâm thần học tại đại học Lon Don-Anh (NXB lao động 2006) Ông cho biết: lo âu là những điều bình thường trong cuộc sống, ai trong chúng ta cũng có thể có những lúc cảm thấy lo âu và các nguyên nhân thường rất hiển nhiên Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng: lo âu có thể là những vấn nạn nghiêm trọng - thậm chí còn đe doạ đến mạng sống Kết quả nghiên cứu hơn 20 năm cho thấy có khoảng 10% dân số các nước phát triển phương Tây mắc chứng lo âu nghiêm trọng, cần đến sự giúp đỡ nhưng những người này lại nghĩ rằng lo âu không phải là bệnh tật gì cả, nhiều người ngần ngại thừa nhận rằng mình bị mắc một vấn nạn cảm xúc đại loại như vậy Họ
Trang 8ngại đến các trung tâm tư vấn, hay nhờ đến các chuyên gia tâm thần Ông liệt kê những lý do phổ biến dẫn đến lo âu như: các mối quan hệ, sức khoẻ, con cái, mang thai, già yếu, biến động trong nước, công ăn việc làm, chuyện lên chức lên lương, khó khăn về tiền bạc, rắc rối giấy tờ, pháp lý, thi cử Ông cho biết: học sinh thường mắc lo âu trước kì thi và điều này có thể hiểu được Sự lo âu giúp trí óc trở nên sắc bén và tập trung được vào nhiệm vụ trước mắt, đó là vượt qua được kì thi này Nhưng nếu bạn bị tê liệt vì lo âu từ mấy tháng trước đó, có lẽ bạn đang cần được sự giúp đỡ
Theo tiến sĩ bác sĩ Nguyễn Văn Siêm trường ĐHKHXH và NV - ĐHQG
HN viết trong tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên: các rối loạn lo âu ở trẻ em
và thanh thiếu niên gồm ba rối loạn trong đó lo âu là triệu chứng lâm sàng chính: rối loạn lo âu chia ly (do tình huống đặc biệt là chia ly với mẹ, với người thân thiết); rối loạn né tránh (do tình huống đặc biệt là tiếp xúc với người lạ, môi trường lạ); rối loạn lo âu quá mức (loại lo âu lan toả với nhiều tình huống) Ngoài ra cũng có thể
có các rối loạn lo âu như ở người lớn như ám ảnh sợ đơn thuần, rối loạn hoảng sợ…mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ gia đình Những đứa trẻ thiếu vắng mẹ thì dễ bị rối loạn lo âu Điều này được giải thích là do những đứa trẻ chưa trưởng thành và còn lệ thuộc vào mẹ nên một khi không có mẹ ở bên trẻ cảm thấy mất an toàn, bị đe doạ…nên dẫn đến rối loạn lo âu
Nghiên cứu “Rối nhiễu tâm lý – chuẩn đoán và trị liệu với học sinh PT trên địa bàn Hà Nội” của viện tâm lý học năm 2000 Kết quả nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng tâm lý lứa tuổi 17 ở Hà Nội cho thấy 40% thường lo lắng về cơ thể, 22,5% lo âu trầm cảm
Trong nghiên cứu của Dương Thị Diệu Hoa về “Khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của học sinh THPT” cho kết quả: Các em thường gặp khó khăn trong vấn
đề chọn nghề nghiệp cho tương lai (37,6%) khó khăn trong học tập và lao động (30,5%) và băn khoăn về sự phát triển tâm sinh lí của bản thân (25,1%), trong quan
hệ với cha mẹ, quan hệ bạn bè chiếm tỉ lệ đáng kể (21,2%; 18,0%) Các vấn đề này dẫn đến những lo lắng cho các em học sinh làm ảnh hưởng đến đời sống và học tập
Trang 9trong đó: rất ảnh hưởng (66,9%); ảnh hưởng (3,7%) Nghiên cứu chỉ ra giải pháp
mà các em học sinh THPT tìm đến khi gặp “vấn đề về tâm lý” là tâm sự với bạn bè (57,2%), âm thầm chịu đựng (50,3%) Điều đáng nói là ít học sinh tâm sự với cha
mẹ Các em ít biết đến các trung tâm, chương trình, chuyên mục tham vấn Nguyên nhân chủ yếu của việc học sinh ít tiếp cận dịch vụ tham vấn là do: bản thân các em e ngại, xấu hổ (52,2%), không biết địa chỉ tham vấn (47,8%)
Trong nghiên cứu của Phạm Thịnh MD, teacher at HN Medical college:
“Một số bệnh chứng tâm lý ở học sinh” cản trở học tập, rèn luyện của các em
Đưa ra sơ đồ
Kết quả đánh giá học tập chưa tốt
Ám sợ trường học Bị giáo viên và gia đình khiển trách
Trang 10Một nghiên cứu khác của nhóm sinh viên Khoa Tâm lý ĐHKHXH & NV về rối nhiễu lo âu và kỹ năng thích ứng xã hội ở lứa tuổi học sinh THCS (Trên 503 học sinh thuộc 3 trường THCS khu vực Hà Nội) cho thấy có ít nhất 17,74% - 18,81% hs
có biểu hiện rối nhiễu lo âu và 17,65 – 19,21% hs thiếu hụt kỹ năng thích ứng xã hội (có nhận thức và hành vi kém thích nghi) trên tổng số học sinh được điều tra
1.2 Những vấn đề lý luận về lo âu
1.2.1 Khái niệm lo âu
Theo U Baubann, lo âu là một hiện tượng cảm xúc tự nhiên tất yếu của con người trước những khó khăn thử thách, đe dọa mà con người, tìm ra các giải pháp
để vượt qua, để tồn tại Lo âu là một tín hiệu báo động, nó báo trước những trắc trở, những nguy hiểm sắp xảy đến cho phép con người có chuẩn bị để đương đầu
Theo Từ điển tâm lý học lo âu là tình trạng của tinh thần, chủ thể cảm thấy không chắc chắn với hiện tại và tỏ ra lo lắng với tương lai Ở đây sự lo lắng sẽ là bình thường nếu nó được gây ra bởi các nguyên nhân thực thụ (bệnh hoạn, tình hình tài chính và tình cảm,…) nhưng khi tình trạng này cứ tiếp tục, không có nguyên nhân chính đáng Đến lúc này đây sẽ là triệu chứng của một số rối loạn của thể chất hay tâm lý
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới Lo âu là một tín hiệu báo động báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa Lo âu bệnh lý là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương ứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng tới hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ quá mức hay vô lý Lo âu có thể là biểu hiện hay gặp của nhiều rối loạn tâm thần và cơ thể Trước một bệnh nhân lo âu cần xác định; lo âu bình thường hay bệnh lý, nếu là bệnh lý cần xác định lo âu nguyên phát hay thứ
phát (do một bệnh tâm thần hoặc cơ thể khác): là khái niệm công cụ
1.2.2 Biểu hiện lo âu
- Biểu hiện về cảm xúc: sợ và lo lắng một cách quá mức trước những sự việc
không đáng lo, cảm giác rất sợ chết, khiếp sợ cái chết, có vấn đề về tập trung, chú ý
Trang 11vào công việc, dễ bị kích thích, cảm thấy đứng ngồi không yên, cảm giác căng thẳng, hay giật mình, hay nghĩ đến những điều nguy hiểm xảy ra với mình, cảm
thấy đầu óc mình trống rỗng, cảm thấy có điều gì xấu sẽ xảy ra với mình
- Những biểu hiện về triệu chứng cơ thể: rối loạn lo âu không chỉ là triệu
chứng của cảm xúc mà tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều có thể bị ảnh hưởng và làm cho cơ thể có những biểu hiện về triệu chứng cơ thể khác nhau và chính điều này làm cho người bệnh bị chẩn đoán nhầm với những bệnh lý khác và không được điều trị đúng chuyên khoa hoặc phải mất thời gian dài mới có thể gặp được đúng thầy thuốc chuyên khoa tâm thần Những biểu hiện phổ biến về triệu chứng cơ thể của rối loạn lo âu là: cơn nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, khó chịu ở dạ dày hoặc cảm giác hoa mắt, chóng mặt, người bệnh hay đi tiểu hoặc hay phải đi ngoài, thở nhanh và nông, run tay chân và co quắp chân tay, căng cơ, đau đầu, mệt mỏi, mất ngủ, xỉu
1.2.3 Các rối loạn lo âu
Chúng tôi sử dụng DSM-IV (cách phân loại của hội tâm thần Mỹ) để tách các
lo âu thành các rối loạn riêng biệt bởi DSM-IV là cách tiếp cận mang tính phổ biến rộng rãi
+ Rối loạn hoảng sợ (có hoặc không có ám ảnh khoảng trống)
+ Ám ảnh sợ đặc hiệu
+ Ám ảnh sợ xã hội
+ Rối loạn ám ảnh cưỡng bức
+ Rối loạn lo âu lan toả
+ Rối loạn stress sau sang chấn
+ Rối loạn stress cấp
+ Rối loạn lo âu do tình trạng cơ thể chung
1.2.3.1.Rối loạn hoảng sợ (có hoặc không có khoảng trống)
Là trải nghiệm các cơn hoảng sợ không báo trước, không mong đợi, bất ngờ, lặp đi lặp lại, đạt tới đỉnh cao trong một vài phút và kèm theo một loạt các triệu chứng nhận thức và cơ thể đặc trưng
+ triệu chứng:
Trang 12* Đánh trống ngực, tim đập nhanh hoặc tăng nhịp tim
* Đau hoặc khó chịu vùng ngực
* Ra mồ hôi
* Run và lắc lư
* Các cảm giác hụt hơi hoặc ngột ngạt
* Cảm giác nghẹt thở
* Nôn hoặc đau đớn trong bụng
* Loạn cảm (các cảm giác tê bì hoặc kiến bò)
đỡ Sự né tránh thứ phát này, trong đó ám ảnh sợ khoảng trống chiếm 80% các trường hợp, là biến chứng phổ biến nhất
Năm 1871, lần đấu tiên một nhà tâm thần học người Đức đã mô tả ám ảnh sợ khoảng trống là bệnh nhân “không có khả năng đi qua một số khu phố và bãi rộng hoặc là nếu đi qua được thì khiếp sợ và lo âu” Thật ra ám ảnh sợ khoảng trống không phải là sợ các khoảng mở, đó là sợ những hoàn cảnh trong đó không thể chạy trốn được hoặc là không dễ nhờ ai giúp đỡ (thí dụ như: đám đông, các nơi công cộng, giao thông công cộng, xếp hàng, ở nhà một mình) Các cơn hoảng sợ có thể là
tự phát (có thể là chung một số tình huống) hoặc là gợi lại (nghĩa là gắn với một tình huống đặc bịêt)
Có 4 triệu chứng thứ phát, các kết hợp triệu chứng khác: trầm cảm (có tới hai phần ba); lạm dụng rượu hoặc các benzodiazepine; tật chứng xã hội và nghề nghiệp; các khó khăn về mối quan hệ hôn nhân; các mưu toan tự sát
1.2.3.2 Ám ảnh sợ đặc hiệu
Trang 13Sợ một cách vô lý và hậu quả là né tránh các đối tượng và hoàn cảnh đặc biệt
Sự lo sợ này có thể hiểu từng phần như một nền tảng tiến triển phát triển Cá nhân không trải nghiệm lo âu trừ khi đặt vào các kích thích ám ảnh sợ đặc hiệu, các kích thích ấy được phân ra như sau:
* Các động vật (như: chó, chim, sâu)
* Môi trường tự nhiên (thí dụ: độ cao, cơn giông, nước, tia chớp)
* Bị thương chảy máu: tiêm
* Các hoàn cảnh khác (thí dụ: máy bay, thang máy và các nơi đóng kín)
1.2.3.3 Ám ảnh sợ xã hội
Ám ảnh sợ là nỗi sợ phi lý và không cố ý về một vài điều hay tình huống nào
đó Cá nhân sợ và né tránh nhìn chăm chú hoặc ở trong hoàn cảnh người bệnh hành động có vẻ bẽn lẽn hoặc lúng túng
Bệnh nhân thường tìm kiếm sự giúp đỡ cho những vấn đề về công việc hoặc khó khăn về thích nghi Họ lo ngại khi gặp người mới, dự các buổi tiệc, tham gia các hội họp về công việc, hay nói chuyên với đồng nghiệp Họ có những biểu hiện: run rẩy, đỏ mặt, nói lắp hoặc có cơn hoảng sợ
Vấn đề ám ảnh thường quay về thời thơ ấu hoặc những năm mười tuổi Điển hình có người mô tả bị lo âu khi bị hỏi bài trong lớp, hoặc không thích va vấp ở trường, các sự kiện xã hội hoặc với bạn bè Họ thường chơi riêng một số ít bạn
1.2.3.4 Rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD)
OCD xuất hiện khi một người thấy lo lắng một hay nhiều lần tái diễn và không
có thực (sự cưỡng chế) và sử dụng một vài hành vi mang tính nghi thức để xoa đi những lo lắng đó
Người bị bệnh biểu hiện: Hoặc là các ám ảnh hoặc là các cưỡng bức hoặc là cả hai Các ám ảnh là những ý nghĩ, các xung động và các hình ảnh lặp đi lặp lại, chúng có tính chất xâm phạm và không thích hợp và gây nên lo âu hoặc đau khổ rõ rệt Một cố gắng để làm quên đi, trấn áp và vô hiệu hoá các ám ảnh ấy là có những suy nghĩ hoặc các hành động khác Các cưỡng bức lặp đi lặp lại (thí dụ: rửa tay, sắp xếp hoặc kiểm tra) hoặc các hành động tâm thần (thí dụ: đếm hay nhắc lại các
Trang 14từ) mà bệnh nhân bắt buộc phải thực hiện để đáp ứng với một ám ảnh hoặc là những quy tắc nhất định phải tuân theo một cách cứng nhắc
Các hành vi cưỡng bức hay các hành động tâm thần nhằm phòng ngừa hay giảm những đau khổ hoặc phòng ngừa sự xảy ra hoàn cảnh gây khiếp sợ Tuy nhiên những hành vi cưỡng bức không liên hệ thực sự với hoàn cảnh mà họ mô tả hoặc là quá mức rõ rệt Mặc dù các hành vi nhắc đi nhắc lại có ý định làm giảm lo âu, nhưng việc làm giảm lo âu không được lâu; vì thế các hành vi cần phải nhắc lại nhiều lần hơn Các nghi thức ám ảnh phải mất nhiều sức để giảm lo âu Họ sẽ dần phát triển những nghi thức phức tạp và mất nhiều thời gian để thực hiện chúng Người bị bệnh biết rằng nỗi sợ và những hành vi hệ quả không có ý nghĩa, nhưng
họ vẫn làm điều đó vì chính họ không bỏ được và vì họ hi vọng tìm ra sự xoa dịu thông qua hành động của mình Những người bệnh này sợ sự không chắc chắn và thường tìm sự an tâm từ người khác về hành vi của họ
Ám ảnh phổ biến là: sợ bẩn, nghi ngờ quá mức, tấn công và các xung động tình dục, triệu chứng cơ thể, và một sự cần thiết cần chính xác Hành vi cưỡng bức chủ yếu là kiểm tra đi kiểm tra lại để chắc chúng an toàn, làm sạch - lau chùi kĩ càng, rửa, sự chậm chạp và tích trữ quá đáng
Rối loạn này có thể bắt đầu ở bất kì lứa tuổi nào nhưng thường là vị thành niên hay giai đoạn đầu thanh niên, kèm theo OCD thường là trầm cảm, những rối loạn lo
âu khác, rối loạn ăn uống và vấn đề lạm dụng rượu hay chất gây nghiện
1.2.3.5 Rối loạn lo âu lan toả (GAD)
Bệnh nhân có GAD thường được nhận dạng là “lo âu” Họ lo âu ngày này qua ngày khác các sự kiện, các vấn đề Lo âu khác với bình thường về số lượng mà không khác nhau về chất lượng GAD được chẩn đoán khi các triệu chứng đủ thời gian và đủ nặng để ngăn trở hoạt động hằng ngày
Các loại biểu hiện:
* Lo âu quá mức trong một hoặc nhiều lĩnh vức
* Căng thẳng các cơ (thí dụ: căng thẳng đầu óc)
* Các nét của hoạt động giao cảm quá mức (thí dụ: quay cuồng đầu óc, khô miệng, đánh trống ngực)
Trang 15* Tác động của kích thích quá mức (thí dụ: cảm giác trên bờ vực, vấn đề tập trung chú ý)
* Các triệu chứng về hô hấp (thí dụ: cảm giác co thắt ngực, thở gấp)
* Các triệu chứng sinh dục – tiết niệu (thí dụ: thường xuyên, khẩn cấp)
* Các triệu chứng về ruột và dạ dày ruột khác (thí dụ: ỉa lỏng)
* Mất ngủ (đầu giấc và giữa giấc), ngủ gà ban ngày
* Lạm dụng và nghiện chất
Mặc dù các triệu chứng này có thể dao động về cường độ, GAD có khuynh hướng có quá trình mãn tính, không thuyên giảm, thường cả đời người Bắt đầu từ
từ, trong tuổi lên 10 hoặc trước tuổi 20 Nam và nữ bị bệnh gần như nhau
1.2.3.6 Rối loạn stress cấp
Đây là một trạng thái nặng nhưng nhất thời phát triển ở những người trước đây đáp ứng tốt với stress đặc biệt, và trạng thái này thường giảm đi trong vài giờ hoặc vài ngày Stress này có thể là một sang chấn quá mạnh bao gồm sự đe dọa trầm trọng cho sự yên ổn hoặc sự an toàn cá nhân hoặc là sự an toàn, yên ổn cho một người thân của họ (thí dụ, thảm hoạ thiên nhiên, chiến tranh hoặc bị hành hung) hoặc một sự thay đổi mang tính đe doạ bất ngờ, bất thường trong hoàn cảnh (thí dụ, nhiều người chết trong một tai nạn ô tô)
1.2.3.7 Rối loạn lo âu do tình trạng cơ thể chung (GAD)
GAD là dạng nhẹ nhất Người mắc bệnh lo âu tình trạng cơ thể chung có cảm giác khó chịu kéo dài và sự lo lắng không thực tế, đặc biệt xung quanh người khác
và có xu hướng dễ dàng bị giật mình
Rối loạn này nhìn chung bắt đầu khi còn nhỏ hay mới trưởng thành và thường gặp ở nữ hơn nam Nó cũng thuờng có tính gia đình
- Triệu chứng:
Trang 16* Đứng ngồi không yên; cảm giác kích động căng thẳng; cảm giác có cục, hòn vướng ở cổ; dễ kích thích; mất kiên nhẫn
* Hay đãng trí; căng cơ
* Rối loạn giấc ngủ (khó dỗ giấc ngủ và giấc ngủ chập chờn)
* Đổ mồ hôi nhiều; cảm giác ngộp thở
* Đau vùng dạ dày; tiêu chảy; nhức đầu…
Lo âu trung bình là một tín hiệu báo động báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa
Lo âu nhẹ là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới
Không lo âu là không có các biểu hiện của các mức độ ở trên
Lấy (test) của Beck làm công cụ chính cho mức độ lo âu của đề tài
Gồm 4 mức độ: không lo âu, lo âu nhẹ, trung bình và lo âu nặng
1.3 ặc điểm về lứa tuổi học sinh T PT
1.3.1 Khái niệm về lứa tuổi học sinh T PT
Theo quan điểm sinh học coi yếu tố đầu tiên xác định tuổi thanh niên là sự tiến hoá của cơ thể các quá trình sinh vật của sự trưởng thành quyết định tất cả mọi cái khác
Các lý luận tâm lý học tập trung xem xét những quy luật tiến hoá của tâm lý của ý thức là cái cơ bản quyết định đến sự phát triển
Các nhà phân tâm học quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của tình dục và
sự chi phối của nó đối với sự phát triển của lứa tuổi này (Freud: coi lứa tuổi từ 12 đến 18 là lứa tuổi thanh niên, giai đoạn này là giai đoạn khủng hoảng như “điên
Trang 17loạn”, “thô bạo”, “vô chính phủ”, “bất trị”, mà nguyên nhân chủ yếu là do sự phát dục gây ra)
Quan niệm xã hội học lại chú ý trước hết đến tính xã hội hoá của giai đoạn này
và coi mức độ xã hội hoá của mỗi các nhân là tiêu chí chủ yếu quy định sự phát triển của lứa tuổi đầu thanh niên
Theo quan điểm của Vưgotski gọi giai đoạn 13 đến 18 tuổi là tuổi khủng hoảng, tuổi dậy thì, theo ông khủng hoảng có đặc điểm là khó xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc, nhưng đều có điểm cực đại mà ở đó diễn ra sự căng thẳng tuyệt đối của đứa trẻ
B.D Annanhiev: đã viết “Sự bắt đầu trưởng thành của con người là một cá thể (sự trưởng thành về chất), một nhân cách (sự trưởng thành công dân), một chủ thể nhận thức (sự trưởng thành trí tuệ), và một chủ thể lao động (năng lực lao động) là không trùng hợp nhau về thời gian” (tác phẩm “Con người và đối tượng của nhận thức”, NXB LGY, 1968, tr.169)
Trong Tâm lý học lứa tuổi người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Theo định nghĩa này thì tuổi thanh niên là thời kì từ 14, 15 đến 25 tuổi Còn từ 14, 15 tuổi đến 17,
18 tuổi là giai đoạn đầu thanh niên (lứa tuổi học sinh THPT) Đây là lứa tuổi đề tài nghiên cứu
1.3.2 Điều kiện, hoàn cảnh phát triển của lứa tuổi học sinh THPT
1.3.2.1 Đặc điểm cơ thể của học sinh THPT
Tuổi đầu thanh niên là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực và sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Tuổi đầu thanh niên bắt đầu thời kì phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý
Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng tuổi 16 và 17, các em trai khoảng 17, 18 tuổi Trọng lượng các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vượt lên Sức mạnh cơ bắp tăng rất nhanh, lực cơ của con trai 16 tuổi vượt lên gấp 2 lần
so với lực cơ của em lúc 12 tuổi
Trang 18- Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập
Đa số các em đã vượt qua thời kì phát dục theo hằng số sinh học người Việt Nam (NXB Y học 1975) thì tuổi bắt đầu có kinh ở học sinh Hà Nội là khoảng 14,3 tuổi, học sinh nông thôn khoảng 15 Nhìn chung đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối khoẻ đẹp, đa số các em đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn
1.3.2.2 Hoàn cảnh xã hội của sự phát triển
Hoạt động của thanh niên ngày càng phong phú và phức tạp,nên vai trò xã hội
và hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và thanh niên mà còn biến đổi về chất lượng Ở thanh niên ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn
- Thanh niên chiếm vị trí trung gian giữa trẻ em và người lớn Họ không phải
là những trẻ em nữa mà là đang trở thành những người lớn
- Vai trò xã hội của thanh niên thay đổi một cách cơ bản vai trò độc lập và mức độ trách nhiệm đối với gia đình ngày càng rõ rệt, họ là anh chị lớn trong gia đình tham gia lao động có ý thức với việc chọn nghề nghiệp tương lai Nhiều em đã làm ra của cải vật chất nhất định có vai trò khá quyết định đối với một số việc trong gia đình…
- Quyền lợi xã hội của thanh niên được hiến pháp quy định: quyền bầu cử, quyền công dân, có trách nhiệm thực sự trước xã hội như nghĩa vụ quân sự, nghĩa
vụ lao động Phải chịu trách nhiệm về tội hình sự trước những hành vi của mình Đây là giai đoạn lứa tuổi mà con người có những điều kiện thể chất thuận lợi
để hoàn thiện vẻ đẹp hình thể của con người, tạo điều kiện cho hoạt động học tập, lao động, thể thao, nghệ thuật… phát triển mạnh mẽ
Vai trò trách nhiệm, quyền hạn xã hội thay đổi về chất, được xã hội thừa nhận
xã hội một cách chính thức đã làm tăng cường cách hoạt động xã hội, chi phối,
Trang 19quyết định sự phát triển của thanh niên về mọi mặt Theo Erikxơn đây là giai đoạn người thanh niên trẻ đang hình thành, tìm kiếm cái bản sắc riêng có đích xã hội của mình
1.3.3 Đặc điểm phát triển tâm lý cơ bản của lứa học sinh THPT
1.3.3.1 Sự phát triển tự ý thức
Khả năng tự ý thức phát triển khá sớm ở con người và được hoàn thiện từng bước biểu hiện đặc trưng là thanh niên nhận thức những phẩm chất của mình trong
xã hội, trong cộng đồng Đó là khả năng tự đánh giá mình theo những chuẩn mực
xã hội trên bình diện thể chất tâm lý đạo đức
Thanh niên tự đánh giá về hình ảnh cơ thể của bản thân một cách tỉ mỉ, nghiêm khắc, thường họ không hài lòng về chiều cao (quá cao hoặc quá thấp) (vóc dáng thân thể quá gầy hoặc quá béo) những nỗi khổ đau này được dấu kín và “dầy vò” không ít những cậu thanh niên, cô thiếu nữ dẫn đến “những bi kịch về tiêu chuẩn, hình thức” mà những người lớn xung quanh ít quan tâm
Ở thanh niên cũng xuất hiện sự đánh giá về những phẩm chất giới tính của mình Họ thường cố gắng phấn đấu để trở thành những người đàn ông đích thực hay những cô thiếu nữ dịu dàng theo tiêu chuẩn cái đẹp
1.3.3.2 Sự tự đánh giá những phẩm chất cá nhân
Thanh niên khao khát muốn biết họ là người như thế nào? Có năng lực gì? Để khẳng định và tự đánh giá mình, thanh niên có thể hành động theo 2 cách:
- Tự nguyện nhận những nhiệm vụ khó khăn, cố gắng hoàn thành nó
- Nhiều thanh niên thường làm là ngầm so sánh mình với người xung quanh, đối chiếu ý kiến của mình với những ý kiến của những người lớn
Đôi khi thanh niên tự quan sát, tự xem xét bản thân mình, tự phản tỉnh về bản thân Điều này thể hiện rõ trong việc ghi nhật kí của thanh niên Nội dung của nó cho thấy nhiều thanh niên rất nghiêm khắc, khắt khe với bản thân về một ý nghĩ hoặc về một hành vi sai trái nào đó Thế giới nội tâm của học sinh thường rất phong phú và phức tạp Ở đầu thanh niên sự tự ý thức tự đánh giá có những biến chuyển
và chưa thực sự ổn định Cái tôi đang có, cái tôi đang biến động và cái tôi mơ ước,
lý tưởng Điều quan trọng là xu hướng vươn lên của cái tôi đó được hướng dẫn, chỉ
Trang 20đạo bởi những điều kiện giáo dục, môi trường xã hội thế nào sẽ quyết định phẩm chất của sự tự đánh giá, tự ý thức của thanh niên
Nếu nam, nữ thanh niên được giáo dục trong bầu không khí đạo đức lành mạnh, trong tổ chức của đoàn thanh niên thì sự phát triển của họ cũng thường tích cực, tốt đẹp Mặt khác nếu bị lôi kéo vào những nhóm tự phát, không lành mạnh, thanh niên cũng dễ bị hư hỏng vì tâm lý của họ rất ưa thích cái mới lạ
Thời kì mở cửa, giao lưu văn hoá mạnh mẽ tạo ra nhiều cơ hội để mở rộng tầm mắt nhưng mặt khác cũng gây “nhiễu” cho họ nếu không xác định rõ những vấn đề thuộc thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn
Bởi vậy cần sự giáo dục từ nhà trường, gia đình nhằm hướng dẫn giúp đỡ thanh niên trả lời đúng đắn những câu hỏi mà thanh niên thường xuyên nêu ra: Tôi
là ai? Tôi là người như thế nào? Tôi có khả năng nào? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Làm gì để tôi trở lên tốt đẹp hơn?
1.3.3.3 Tính tự trọng ở đầu thanh niên cũng phát triển mạnh
Tự trọng là khả năng tự đánh giá có tính khái quát, thể hiện sự chấp nhận hay không chấp nhận bản thân với tư cách là một nhân cách Ở lứa tuổi đầu thanh niên thường không chịu sự xúc phạm, dễ gây ra ẩu đả Một bên thể hiện tính tự trọng cao hơn, còn một bên lại hạ thấp xuống Dẫn đến sự không ổn định trong nhân cách lứa tuổi này, gây ra những lo lắng, ảnh hưởng xấu tới lối sống của bản
thân mình
1.3.3.4 Tính tích cực xã hội của học sinh đầu tuổi thanh niên
Tính tích cực được hình thành và phát triển khá sớm trong quá trình trưởng thành của nhân cách Song đến tuổi PTTH do vị thế của người học sinh lớn (cuối phổ thông), vị thế trong gia đình, ngoài xã hội được tăng cường nên nó có những đặc điểm và sắc thái mới
- Học sinh THPT quan tâm nhiều đến tình hình kinh tế- chính trị, xã hội trên thế giới và trong nước, các em thường có sự đánh giá và trao đổi với nhau và tỏ thái
độ của mình về vấn đề đó
Trang 21- Học sinh THPT sẵn sàng tham gia những hoạt động xã hội phù hợp với hứng thú sở trường của mình như thi học sinh thanh lịch, thi văn nghệ, thể dục thể thao, tham gia các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường…
- Tâm lý chung trong công tác xã hội của thanh niên là họ thích tham gia những công việc lớn lao, muốn thử sức mình ở những công việc có nhiều khó khăn, thậm chí nguy hiểm mà không thích những công việc nhỏ đời thường Ở đây có mâu thuẩn giữa sự tự đánh giá của thanh niên và khả năng hiện thực của họ Tình hình này dẫn đến chổ sau khi không thành công ở một vài việc nào đó, thanh niên thường dễ chán nản, bàng quan với công tác xã hội Từ đó có thể tự ti, thụ động, khép kín mình trong hoạt động
- Ở nước ta sinh hoạt của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Mình hiện nay đang có nhiều vấn đề Nội dung hình thức sinh hoạt hiện nay vẫn chưa lối cuốn được đa số thanh niên tham gia đây là vấn đề mà xã hội cần quan tâm
1.3.3.5 Sự hình thành thế giới quan
Thế giới quan là cái nhìn hệ thống, tổng hợp, khái quát về thế giới của con người Nó có ý nghĩa chỉ đạo đối với hoạt động, hành động, cách ứng xử của cá nhân trong những hoàn cảnh điều kiện cụ thể Thông qua hệ thống những tri thức kinh nghiệm đã tích luỹ để nhìn nhận thế giới quan, tuy nhiên sự kinh nghiệm ấy của cá nhân có giới hạn nên có nhiều câu hỏi trong thực tế vượt qua khả năng của
họ Gặp trường hợp này các em thường hoang mang, lúng túng, thất vọng, thậm chí
là tuyệt vọng
1.3.3.6 Giao tiếp và đời sống tình cảm
* Giao tiếp trong nhóm bạn
Nhu cầu được giao tiếp cùng bạn bè là rất lớn, trong nhóm bạn bản thân được
tự khẳng định mình, khẳng định vị trí của mình Trong nhóm xảy ra sự “phân cực” nhất định - Xuất hiện những người được lòng nhất và những người ít được lòng nhất Những em có vị trí thấp (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và suy nghĩ nhiều về nhân cách của mình
Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hoá hoạt động riêng của thanh niên học sinh khiến cho số lượng nhóm quy chiếu của các em tăng lên rõ rệt Dẫn
Trang 22đến sự xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm
1.3.3.7 Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề
Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong hình thành nhân cách của thanh niên mới lớn Hoạt động lao động sẽ giúp các em có nhu cầu nguyện vọng lao động
Điều quan trọng là việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc cần thiết của học sinh Lựa chọn nghề phải phù hợp với thể chất, tâm lý, khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp Điều này gây ra nỗi lo băn khoăn trong việc lựa chọn nghề (đặc biệt là các trường đại học) nếu như tâm thế vào đại học không được thực hiện sẽ gây ảnh hưởng đến các em
1.4 Các nguyên nhân và những ảnh hưởng của lo âu đối với lứa tuổi học sinh THPT
1.4.1 Các nguyên nhân dẫn đến lo âu của học sinh PTTH
Những nguyên nhân chủ yếu dấn đến lo âu học sinh THPT là do học tập, gia đình, mối quan hệ, bạn bè, kì vọng bản thân, thầy cô giáo
Tất cả những kí ức bị đè nén từ thời nhỏ tuổi và thời thơ ấu có thể tác động đến đời sống khi trưởng thành và gây lo âu Nó thường là hậu quả của sự đáp ứng quá mức đối với một sang chấn cảm xúc Cảm xúc lúc lên lúc xuống là một phần tất yết của cuộc sống mỗi con người Tuy nhiên, một số người lại bị sang chấn cảm xúc tác động khác với những người khác
Lo âu thường phát triển qua một khoảng thời gian dài và phụ thuộc rất nhiều vào toàn bộ kinh nghiệm sống Những sự kiện hay tình huống đặc biệt có thể thúc đẩy các đợt lo âu nhưng chỉ sau khi đã hoàn thành một mẫu hình cơ bản đáp ứng lo
Trang 23âu từng trải nghiệm trong đời Có các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển mẫu hình đáp ứng lo âu:
- Sinh lý thần kinh: việc xuất hiện lo âu hoạt hoá qua hai hệ thống: hệ thống
thần kinh nội tiết (hạ đồi - tuyến yên - thượng thận) và hệ thống thích nghi hành vi (thuỳ hải mã) những cấu trúc này hoạt động từ đường dẫn truyền Choline ức chế hành vi và những đường dẫn truyền Adrenaline đánh thức cảm xúc
- Tâm lý sinh học: sẽ có lo âu và ức chế nếu không có hành vi nào có khả
năng làm ngưng trệ tình trạng làm ngăn cản kế hoạch hành động của bản thân Tình trạng gây lo âu có thể xem như tình trạng nguy hiểm, đồng hoá một cách sai lầm sự nguy hiểm ấy với kinh nghiệm hiện tại và từ đó bắt đầu tiến hành một loạt hoạt động tinh thần cũng nhằm để tránh những tình huống ấy, tình trạng này thường gặp
ở lo âu lan toả
- Ngoại cảnh: môi trường hay hoàn cảnh xung quanh nơi bạn sống có ảnh
hưởng đến cách bạn nghĩ về bản thân và những người khác Điều đó có thể từ những kinh nghiệm với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… Lo âu thường gặp nếu bạn thiếu tin tưởng vào ngoại cảnh của bạn
+ Gia đình: những đứa trẻ có cha mẹ dễ bị cơn lo âu cũng có vẻ hay có loại hành vi tương tự Từ đó đứa trẻ này phát triển nhân cách lo âu khi trưởng thành Tương tự một người trong cha mẹ tỏ ra lấn át hoặc hung dữ thì đứa trẻ trở nên rụt
rè Những đứa trẻ này dễ bị ảnh hưởng xấu bởi các sức ép từ cuộc sống Thiếu tình thương của cha mẹ, bị mất người thân yêu thời trẻ, bị bỏ rơi do hoàn cảnh hay bị ép buộc…đều dẫn đến thiếu niềm tin ở con người Bố mẹ áp đặt, Gia đình sảy ra chuyện ngoài ý muốn Những người này cũng có xu hướng sợ hãi và lo âu
+ Phạm vi trường học, trường nghề hoặc nơi làm việc: người dễ dao động cảm xúc hay nhút nhát thường khó đối mặt với những tình huống thách thức như thi
cử, phỏng vấn, trình báo cáo hay dự án, cả ở trường học, nghề hay nơi làm việc Những người này thấy khó đối mặt với tình huống này và bị lo âu hay cơn hoảng
sợ Đôi khi những thầy cô giáo và đồng nghiệp cũng làm những người yếu đuối nay thêm ưu phiền vì vậy sẽ làm giảm niềm tin nhỏ nhoi của họ
Trang 24+ Khối lượng bài tập quá nhiều cùng với đó là sự đòi hỏi quá cao từ phía thầy
cô giáo cũng là yếu tố làm học sinh căng thẳng, bồn chồn, mệt mỏi mất ngủ, lo lắng dẫn tới sự lo âu cho các em Bên cạnh học tập trong trường học là tình bạn cũng làm cho các em những nỗi buồn phiền vu vơ, nhức nhối khi tình bạn cũng như tình cảm của tuổi mới lớn bị rạng nứt, đứt quãng
Bản thân luôn bị áp lực khi bị điểm kém và cần phải học và đạt kết quả cao Cảm thấy mình không đạt được sự mong đợi từ gia đình và người thân… những yếu tố bản thân của học sinh cũng dẫn đến căng thẳng, lo âu trong học tập
- Cảm xúc bị đè nén: lo âu có thể xảy ra nếu bạn không biết cách thoát khỏi
những cảm nghĩ của mình trong các mối quan hệ cá nhân Điều này đặc biệt có ý nghĩa nếu bạn nén giận hay thất vọng trong một thời gian dài
- Các nguyên nhân thể chất: trí óc và thân thể luôn luôn tác động qua lại lẫn
nhau và bất cứ sự thay đổi nào trong sự tương tác này đều có thể gây ra lo âu Điều này thường thấy trong những tình trạng như có thai, tuổi dậy thì và giai đoạn bình phục bệnh Trong những tình trạng này thường gặp biến đổi tâm trạng và có thể dẫn đến lo âu
- Di truyền: Mặc dù rối loạn cảm xúc có thể xảy ra trong một số gia đình
nhưng nó không phải là nguyên nhân quan trọng gây lo âu
1.4.2 Những ảnh hưởng của lo âu đến đời sống và học tập của học sinh PTTH
Chúng ta biết rằng lo âu không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ, công việc của mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến gia đình và xã hội
Chi phí xã hội và vấn đề kèm theo nó cho cộng đồng là đáng kể bao gồm tỷ lệ thất nghiệp cao, suy giảm phúc lợi, có mặt thường xuyên ở cơ quan y tế và sức khoẻ tâm thần kết hợp với nghiện chất Gánh nặng về kinh tế cũng là đáng kể, ở nước Mỹ chi phí hàng năm là trên 4 tỷ đô la hoặc 1500 đô la cho mỗi người bệnh này tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của bệnh nhân
Ở lứa tuổi học sinh, rối loạn lo âu dẫn đến sự buồn chán, xa lánh gia đình và nhà trường, ảnh hưởng xấu tới việc học tập và giao tiếp Rối loạn lo âu thái quá có thể trở thành phức tạp khi xuất hiện thêm những rối loạn khác như trầm cảm Trầm cảm khá phổ biến ở tuổi thanh thiếu niên khoảng 1/10 thiếu niên bị trầm cảm nặng
Trang 25Tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ nhỏ ở số này được chuẩn đoán và điều trị, dẫn đến tỷ lệ thanh thiếu niên tự tử ngày càng tăng, các em gặp khó khăn hơn với các bạn bình thường trong việc học tập và làm việc, thường mắc phải những vấn đề trong các quan hệ cá nhân và có tỷ lệ sử dụng ma tuý, uống rượu, hút thuốc cao hơn
Trong lớp học, bài vở và thi cử có ảnh hưởng đến kết quả học tập của những học sinh có thái độ lo âu Những nghiên cứu cho thấy những học sinh có thái độ lo
âu thường hoàn tất bài vở nhiều hơn những học sinh khác để thoát ra ngoài nỗi lo
âu này càng sớm càng tốt trong những bài làm, bài ôn tập không có giới hạn thời gian, những học sinh có thái độ lo âu quá đáng sẽ phạm nhiều lỗi lầm gấp nhiều lần
so với những học sinh khác vì nỗi lo âu thường làm cho họ bối rối hoang mang, không biết phải hoàn thành bài vở như thế nào
Tiểu kết chương 1
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới Lo âu là một tín hiệu báo động báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự
đe dọa Lo âu bệnh lý là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương ứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng tới hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ quá mức hay vô lý Lo âu có thể là biểu hiện hay gặp của nhiều rối loạn tâm thần và cơ thể
Trong mỗi chúng ta ai cũng đã từng trải qua sự lo lắng căng thẳng nhưng
ở các mức độ khác nhau, lứa tuổi trung học phổ thông là lứa tuổi đang dần hoàn thiện về mọi mặt cả về tâm sinh lý lẫn nhận thức, chưa biết cách gỡ các khó khăn mỗi khi gặp căng thẳng trong những tình huống đặc biệt của cuộc sống mà các em gặp phải Phạm vi trường học, trường nghề hoặc nơi làm việc: người dễ dao động cảm xúc hay nhút nhát thường khó đối mặt với những tình huống thách thức như thi
cử, phỏng vấn, trình báo cáo hay dự án, cả ở trường học, nghề hay nơi làm việc
Trang 26C ƯƠN 2: TỔ C ỨC N ÊN CỨU V P ƯƠN P ÁP
N ÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu
Việc nghiên cứu được tiến hành theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận, xác định các phương pháp nghiên cứu, xây dựng các công cụ khảo sát thực trạng
Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng và xử lý kết quả nghiên cứu
Giai đoạn 3: Đề xuất một số biện pháp tác động tích cực để làm giảm lo âu của
học sinh
2.2 Triển khai nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.1 Nghiên cứu lý luận
* Mục đích: Nhằm xây dựng đề cương nghiên cứu và những vấn đề lý luận để
làm cơ sở công cụ cho các giai đoạn nghiên cứu sau này
* Nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan và xây dựng khái
niệm công cụ của đề tài, từ đó xác định phương pháp nghiên cứu và công cụ nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, các tạp chí chuyên ngành,
các công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, luận án về mức độ lo âu của học sinh THPT
2.2.2 Nghiên cứu thực trạng
2.2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị
Tìm hiểu sơ bộ về hoạt động học tập trong và ngoài giờ lên lớp, của học sinh THPT bằng phương pháp quan sát, trò chuyện …
2.2.2.2 Tiến hành nghiên cứu thực trạng
* Mục đích: Nhằm tìm hiểu những biểu hiện lo âu của học sinh trong học tập,
phát hiện những nguyên nhân của thực trạng, từ đó đề xuất được các biện pháp để giảm thiểu lo âu cho học sinh để các em có thể phát triển toàn diện một cách tốt nhất
* Khách thể nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành chọn mẫu khách thể nghiên cứu
Trang 27gồm 280 học sinh khối 12 trường THPT Mỹ Lộc – trường THPT Trần Văn Lan –
Mỹ Lộc - Nam Định
Sở dĩ chúng tôi chọn HS thuộc khối 12 để nghiên cứu vì họ là những học sinh cuối cấp sắp phải đối mặt với nhiều áp lực như học tập thi cử, thi tốt nghiệp, đại học, sự lựa chọn trường, tương lai phía trước, sự kì vọng từ bản thân và gia đình các em Qua đó, giúp tôi hiểu đầy đủ và chính xác hơn mức độ lo âu trong HS trường THPT Mỹ Lộc - trường THPT Trần Văn Lan Trên cơ sở đó, có những biện pháp tác động phù hợp làm giảm thiểu lo âu giúp các em phát triển một cách toàn
diện
Học sinh được chọn nghiên cứu là học sinh khối 12 của trường THPT Mỹ Lộc thuộc các lớp (12A, 12G, 12I), trường THPT Trần Văn Lan với các lớp (12A1, 12A4, 12A6)
Mẫu nghiên cứu được mô tả ở bảng sau:
Trường Các lớp Nam Nữ Tổng THPT Mỹ Lộc 12A 15 32 47
140 12G 22 21 43
12I 26 24 50 THPT Trần Văn Lan 12A1 21 25 46
140 12A4 27 22 49
12A6 26 19 45
Sau khi tiến hành điều tra chúng tôi thu lại được 280 phiếu
Trường Các lớp Nam Nữ Tổng THPT Mỹ Lộc 12A 15 32 47
140 12G 22 21 43
12I 26 24 50 THPT Trần Văn Lan 12A1 21 25 46
140 12A4 27 22 49
12A6 26 19 45
Trang 28+ Địa điểm khảo sát: trường THPT Mỹ Lộc – trường THPT Trần Văn Lan –
Mỹ Lộc - Nam Định
+ Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ ngày 21/01 đến 10 /05 năm 2013
* Nội dung: Tiến hành khảo sát thực trạng
- Thứ nhất: nghiên cứu mức độ lo âu học sinh khối 12 trường THPT Mỹ Lộc
và trường THPT Trần Văn Lan thông qua việc thu thập, xử lí và phân tích số liệu trên các mặt sau:
+ Mặt biểu hiện về lo âu của học sinh: cảm xúc, cơ thể
+ Mặt tác nhân làm học sinh lo âu căng thẳng: Học đường, gia đình, các mối quan hệ khác, bản thân
+ Mặt mức độ lo âu: công cụ đo lo âu của Beck
- Thứ hai: Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng lo âu và đề xuất một số biện
pháp sư phạm nhằm làm giảm thiểu lo âu ở các em để các em đạt kết quả tốt nhất
2.2.2.3 Cách thức tổ chức các phương pháp nghiên cứu thực trạng
Để nghiên cứu thực trạng, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, trong đó phương pháp điều tra được xem là phương pháp cơ bản
a Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến là phương pháp được sử dụng phổ biến
Chúng tôi xây dựng 1 phiếu hỏi dành cho học sinh khối 12 để khảo sát
Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho học sinh (phụ lục 1):
Phiếu điều tra gồm 4 câu hỏi Nội dung các câu hỏi nhằm thu thập số liệu theo
Trang 29về lo âu, tác nhân gây lo âu và câu hỏi mở để thu thập thêm những dữ liệu ở phạm
vi rộng hơn
Cách tiến hành:
Câu 1 Sau đây là danh sách các biểu hiện phổ biến của mức độ lo âu Bạn hãy đọc kỹ các mục trong danh sách và đánh dấu X vào ô mà bạn cho là đúng nhất với
bạn trong tháng qua (kể cả hôm nay)
Thang tự đánh giá mức độ lo âu gồm 21 câu của Beck với 4 mức độ; không lo
âu, lo âu ít, lo âu trung bình, lo âu nặng Cộng tất cả số điểm khách thể khảo sát chọn tương ứng với các mức điểm sau; 0 – 8, 9 – 15, 16 – 25, 26 – 63 Cho điểm để đánh giá mức độ lo âu của người bệnh theo các mức độ của từng đề mục từ 0 – 3 Câu 2: Biểu hiện lo âu
Đọc từng câu dưới đây và đánh dấu X một trong những số 0, 1, 2, 3, 4 để xác định mức độ biểu hiện phù hợp nhất với những gì đã xảy ra với bạn (trong
tháng qua kể cả hôm nay) Không có câu trả lời nào đúng hay sai Vì vậy, bạn
không nên mất quá nhiều thời gian để lựa chọn
0 = không bao giờ 1= gần như không bao giờ
2 = đôi lúc 3 = thường xuyên 4 = rất thường xuyên
Câu 3: Tác nhân làm học sinh lo âu căng thẳng
Dưới đây là bảng liệt kê các vấn đề thường khiến các bạn lo lắng, căng thẳng Nếu vấn đề đó xảy ra với bạn thì hãy đánh giá sự tác động của nó đến tâm trạng của mình bằng cách đánh dấu X vào mức độ phù hợp nhất với bạn (đánh dấu
X vào những vấn đề đó đã xảy ra với bạn)
0 = không làm tôi căng thẳng 1 = làm tôi ít căng thẳng
2 = làm tôi khá căng thẳng 3 = làm tôi căng thẳng nhiều
4 = làm tôi căng thẳng rất nhiều
Trên cơ sở này có thể quy ước: Nếu điểm trung bình của mặt biểu hiện của lo
âu đạt từ 1 đến 1.49 thì nhận xét ở mức độ “thấp”, từ 1.50 đến 2.20 – nhận xét ở mức độ “trung bình”, từ 2,21 đến 3.10 – nhận xét ở mức độ “ cao ”, từ 3.11 đến 4.0 – nhận xét ở mức độ rất cao Quy ước này cũng tương ứng cho các tác nhân làm học sinh lo âu căng thẳng; học đường, gia đình, các mối quan hệ khác, bản thân
Trang 30Câu 4: Câu hỏi mở dùng để thu thập thông tin, dữ liệu bổ sung cho biện pháp làm giảm lo âu cho chính các em
b Phương pháp quan sát: Phương pháp này được dùng để quan sát mối quan hệ
giữa các em học sinh trong việc giao tiếp với nhau, giữa học sinh với thầy cô giáo
từ đó để tìm hiểu cảm xúc, cách ứng xử giữa các em với thầy cô giáo và giũa học sinh với nhau Từ đó tìm hiểu thái độ, xúc cảm của các em đối các mức độ, biểu hiện lo âu
Thời điểm quan sát: quan sát trong giờ học trên lớp
Cách tiến hành: quan sát các hoạt động, hành vi, cử chỉ, lời nói của các em
trong lớp (quan sát theo cá nhân, theo nhóm,…) để tìm hiểu biểu hiện sự lo âu của các học sinh Chẳng hạn như: giáo viên kiểm tra bài đầu giờ, cho bài tập khi giảng
và lấy bài vd để học sinh làm, ôn tập trên lớp… Sau đó ghi lại những nôi dung đã quan sát được và đánh giá biểu hiện của học sinh nhằm bổ sung cho phương pháp điều tra theo bảng hỏi, (test) và phương pháp phỏng vấn
c Phương pháp phỏng vấn
* Mục đích:
Sử dụng phương pháp này nhằm làm sáng tỏ thêm một số nội dung nghiên cứu
hỗ trợ các phương pháp khác trong quá trình đưa ra những kết luận
Trang 31e Phương pháp xử lý bằng thống kê toán học
* Mục đích: Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý, kiểm tra số liệu từ
việc điều tra hành vi để xác định tính có ý nghĩa, độ tin cậy của các số liệu làm cơ
sở đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận hành vi
* Cách tiến hành: Sau khi thu thập kết quả từ thực tế thông qua mẫu phiếu
điều tra, chúng tôi sử dụng các công thức toán học để thống kê, tính %, tính số trung bình,… Cụ thể như sau:
+ Tính phầm trăm: n
m 100
Trong đó: m là số lượng khách thể trả lời
n là số lượng khách thể được nghiên cứu
x
n
i i
Trang 32Lịch sử phát triển của nhà trường trong gần 40 năm
- Thành lập năm 1972 tại thôn Vạn Đồn, xã Mỹ Hưng, phía Nam ga Đặng Xá thuộc Km số 6 quốc lộ 21A, với 6 phòng học tranh tre Năm học 1973-1974 mang
tên trường cấp 3 thành phố Nam ịnh Đến năm học 1976- 1977ở thời điểm sát
nhập 2 tỉnh Nam Hà, Ninh Bình vào thành tỉnh Hà Nam Ninh, xã Mỹ Hưng cùng một số xã thuộc ngoại thành Nam Định chuyển cắt về huyện Bình Lục nên trường
đổi tên thành trường cấp 3 C Bình Lục Trong suốt thời gian từ khi thành lập,
trường gặp nhiều khó khăn: cơ sở vật chất nhà trường có cải thiện nhưng chậm, từ tranh tre lá nứa chuyển dần sang làm nhà cấp 4 và 1 dãy phòng mái bằng với quy
mô 15 lớp Với sự cố gắng của BGH, nhà trường, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Tỉnh, Huyện, Sở GD& Đ T trường được chuyển sang xây dựng ở địa điểm mới và
đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 1995 Đó là vị trí nhà trường hiện nay Khi đó cơ
sở vật chất của nhà trường gồm có: 10 phòng học cao tầng mới xây, 2 phòng cấp 4 xây mới và 1 dãy nhà cấp 4 cũ của công ty Dược Huyện Bình lục còn để lại làm phòng học và phòng hiệu bộ của nhà trường Khi ra vị trí mới CSVC của nhà trường được cải thiện từ bàn ghế đến các phương tiện làm việc, các trang thiết bị phục vụ dạy và học và các hoạt động GV, phụ huynh học sinh yên tâm phấn khởi, địa điểm bên đường quốc lộ thuận tiên hơn so với địa điểm cũ nên thu hút được học sinh và GV yên tâm giảng dạy, học tập
- Đến tháng 4 năm 1997, thực hiện Nghị Định của chính phủ tách tỉnh Nam
Hà thành 2 tỉnh Nam Định, Hà Nam Huyện Mỹ Lộc được tái lập sau hơn 30 năm
chia tách Khi đó trường được đổi tên từ THPT C Bình Lục thành THPT Mỹ
Lộc - Nam ịnh cho đến ngày nay Trong quá trình phát triển, đáp ứng nhu cầu
phát triển của sự nghiệp GD – Đ T của tỉnh Nam Định và Huyện Mỹ Lộc hàng năm
số lớp và số học sinh được tăng lên không ngừng và giữ ổn định Từ khi chỉ có 11 lớp đến nay là 30 lớp Mỗi khối 10 lớp với số học sinh trên 1300 học sinh
Số CBGV là 80, lớp mạnh cả về số lượng và chất lượng Cơ sở vật chất của nhà trường cũng dần được khang trang hơn xây thêm 1 dãy nhà 3 tầng 15 phòng học và dãy nhà 2 tầng làm khu hiệu bộ và các phòng chức năng Hiện đang xây dựng thêm
1 nhà cao tầng 21 phòng (chưa hoàn thiện)
Trang 33Số lớp và số học sinh qua các năm
+ Kết quả thi tốt nghiệp : Tỷ lệ đỗ đạt cao ( Tính 5 năm trở lại đây kể từ khi
thực hiện 2 không tỷ lệ đỗ luôn đạt cao nhiều năm đạt 100% Riêng năm 2006-2007 đạt 99,78% Có nhiều học sinh đỗ bằng khá và giỏi )
+ Kết quả thi học sinh giỏi tỉnh:
- Năm học 2010-2011 : đạt 30 giải , 5 giải MTCT ( trong đó có 9 giải nhì và
16 giải ba Toàn đoàn đạt giải KK và được Sở GD tặng cờ
- Năm học 2011-2012 : đạt 31 giải ( 6 nhì, 11 giải ba, 14 giải KK) Toàn đoàn đạt giải KK và được Sở GD tặng c
+ Kết quả thi đại học : 3 năm học trở lại đây tỷ lệ đỗ ĐH, CĐ nguyện vọng
1đạt trên 30 %
+ Kết quả HSG Thể dục thể thao:
- Năm học 2010-2011: Đạt giải KK toàn đoàn và được Sở tặng cờ
- năm học 2011-2012 : Đạt giải ba toàn đoàn và được Sở tặng cờ
+ Các H Đ khác : Nhà trường tích cực tham gia và luôn đạt chất lượng tốt
như các cuộc thi tìm hiểu, thi SKSS, Văn nghệ quần chúng
2.3.2 Trường T PT Trần Văn Lan
Trường Trần Văn Lan toạ lạc tại Đệ Nhất xã Mỹ Trung huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định có diện tích la 10.000 m2 cách thành phố Nam Định 1km
Trang 34Trường được thành lập vào tháng 7-1999 theo quyết định số 858/1999 của UBND tỉnh Nam Định
Hiện nay trường có 32 phòng học, phòng thực hành, 19 lớp học, 855 học sinh + Bí thư chi bộ: Nguyễn Duy Phương
+ Phó bí thư: Nguyễn Văn Cương
+ Hiệu trưởng : Thầy Nguyễn Văn Cương
+ Phó hiệu trưởng Thầy Nguyễn Duy Phương
Số lớp và học sinh qua các năm
+ Năm học 2009-2010: 18 lớp, 794 học sinh
+ Năm học 2010-2011: 18 lớp, 769 học sinh
+ Năm học 2011-2012: 18 lớp, 751 học sinh
+ Năm học 2012 - 2013: 19 lớp, 811 học sinh
Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của trường hiện nay: 52 người; trong
đó cán bộ quản lý 02 người, giáo viên 41 người, công nhân viên 08 người
Nhà trường có 04 tổ chuyên môn và 01 tổ Văn phòng
+ Chi bộ Đảng CSVN hàng năm đạt danh hiệu: chi bộ trong sạch vững mạnh
+ Đoàn TNCSHCM giữ vững danh hiệu Đoàn trường xuất sắc nhiều năm được trung ương đoàn, tỉnh đoàn cấp bằng khen và cờ thi đua
+ Công đoàn giữ vững danh hiệu công đoàn xuất sắc được công đoàn nghành
GD-ĐT và liên đoàn LĐ tỉnh tặng bằng khen
Trang 35+ Tỷ lệ HS tiên tiến, HS giỏi hàng năm đạt trên 30% tỷ lệ HS vào ĐH, CĐ, TC đạt
từ 25-30%
Tiểu kết chương 2
Để có được những kết luận khách quan, khoa học khi nghiên cứu, chúng tôi
tổ chức nghiên cứu theo một quy trình chặt chẽ sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp đều có ưu điểm riêng, phù hợp với việc nghiên cứu trên một phương diện nào đó Ở từng phương pháp được xác định mục đích, nội dung, cách thức thực hiện cụ thể để nâng cao tính khách quan và khoa học cho đề tài nghiên cứu
Trang 36C ƯƠN 3 KẾT QUẢ N ÊN CỨU VỀ MỨC Ộ LO ÂU CỦA ỌC S N K Ố 12 UYỆN MỸ LỘC – NAM ỊN
V Ề XUẤT B ỆN P ÁP
3.1 Nghiên cứu mức độ lo âu của học sinh khối 12 trường T PT Mỹ Lộc –
trường T PT Trần Văn Lan
3.1.1 Mức độ lo âu của học sinh khối 12 huyện Mỹ Lộc dưới góc độ tổng quát
Qua bảng số liệu 3.1.1; chúng ta nhận thấy từ số lượng học sinh / % ở các mức độ lo âu có sự chênh lệnh tương đối lớn Vị trí cao nhất là lo âu ở mức độ nhẹ 34.6% tiếp theo là lo âu trung bình 25.7%, không lo âu đứng vị trí ba cuối cùng là
lo âu nặng 19.7%, số lượng % của lo âu nặng không phải là con số nhỏ điều này cần phải báo động Những tác nhân và yếu tố làm học sinh lo âu đạt ở mức độ trung bình và cao đã chứng minh rằng bảng điều tra về mức độ lo âu là hoàn toàn khớp và đúng với thực tế hoàn cảnh và cuộc sống của học sinh từ hai trường mà các em đã biểu hiện qua cơ thể, cảm xúc
Những tác nhân và yếu tố làm học sinh lo âu ở mức độ nặng và trung bình ở
tỉ lệ % cao 45.4 % Những HS có suy nghĩ tiêu cực dễ bị ảnh hưởng xấu bởi các sức
ép từ cuộc sống Thiếu tình thương của cha mẹ, bị mất người thân yêu thời trẻ, bị
bỏ rơi do hoàn cảnh hay bị ép buộc…đều dẫn đến thiếu niềm tin ở con người Bố
mẹ áp đặt, gia đình sảy ra chuyện ngoài ý muốn Những người này cũng có xu hướng sợ hãi và lo âu Phạm vi trường học: người dễ dao động cảm xúc hay nhút nhát thường khó đối mặt với những tình huống thách thức như thi cử, phỏng vấn,