Cù Lao Chàm là một trong những địa điểm du lịch được đánh giá cao về độ hấp dẫn của Việt Nam với cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, nơi đây có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phon
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ -
Đề tài:
TÌM HIỂU VỀ DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ DU LỊCH
TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM – TỈNH QUẢNG NAM
Sinh viên thực hiện : Vũ Kiều Trinh
Trang 2LỜI CẢM ƠN !
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, ban chủ nhiệm cùng các thầy cô trong khoa Lịch sử đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Bên cạnh đó, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa lịch sử cùng người thân trong gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất lẫn tinh thần để em có thể hoàn thành đề tài này
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành với lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên TS.Trần Thị Mai An, người đã trực tiếp hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu và chỉ dẫn tận tình cho em từ khi nhận đề tài cho đến khi em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn đề tài khóa luận của em vẫn còn
có rất nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của thầy giáo, cô giáo và các bạn
Với lòng biết ơn chân thành, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1 Số lượng các loài sinh vật trên đảo Cù Lao Chàm 18
2 Số lượng khách du lịch đến tỉnh Quảng Nam
4 Mức giá sử dụng điện tại Cù Lao Chàm 29
5 Số lượng khách đến Cù Lao Chàm và Hội An
(2004 – 2007)
30
6 Số lượng du khách đến Cù Lao Chàm qua các năm 31
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Du lịch 6
1.1.1.1 Khái niệm du lịch 6
1.1.2 Tài nguyên du lịch 7
1.1.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch 7
1.1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch 8
1.1.3 Dịch vụ du lịch 9
1.2 Thực tiễn du lịch và dịch vụ du lịch tại Việt Nam và trên thế giới 10
1.2.1 Du lịch và dịch vụ du lịch tại một số đảo trên thế giới 10
1.2.1.1 Du lịch tại đảo Bali – In-đô-nê-xia 10
1.2.1.2 Du lịch tại đảo Jeju – Hàn Quốc 11
1.2.1.3 Du lịch tại đảo Phuket – Thái Lan 12
1.2.2 Du lịch và dịch vụ du lịch tại một số đảo ở Việt Nam 12
1.2.2.1 Du lịch tại đảo Phú Quốc – Kiên Giang 12
1.2.2.2 Du lịch tại đảo Cô Tô – Quảng Ninh 14
CHƯƠNG II DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM – TỈNH QUẢNG NAM 16
2.1 Khái quát về đảo Cù Lao Chàm 16
2.1.1 Vị trí địa lý 16
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 16
2.1.3 Đặc điểm dân cư 19
2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 20
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại đảo Cù Lao Chàm 22
2.2.1 Tình hình phát triển du lịch của tỉnh Quảng Nam 22
2.2.2 Tình hình phát triển du lịch của Thành phố Hội An 23
Trang 82.2.3 Tình hình phát triển du lịch của đảo Cù Lao Chàm 25
2.2.3.1 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 25
2.2.3.2 Cơ sở vật chất - hạ tầng 26
2.2.3.3 Thị trường khách du lịch 30
2.2.3.4 Các loại hình du lịch đang phát triển 31
2.3 Thực trạng hệ thống dịch vụ du lịch tại đảo Cù Lao Chàm – tỉnh Quảng Nam 32
2.3.1 Thống kê các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trên địa bàn đảo 32
2.3.2 Dịch vụ vận chuyển 33
2.3.3 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 35
2.3.4 Dịch vụ vui chơi giải trí 38
2.3.5 Phong cách phục vụ, thái độ phục vụ 39
2.3.5.1 Cộng đồng dân cư 39
2.3.5.2 Các đơn vị kinh doanh du lịch 40
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM 41
3.1 Định hướng phát triển du lịch tại đảo Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam 41
3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010 – 2020 41
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch của thành phố Hội An 44
3.2 Một một số giải pháp nhằm phát triển du lịch và dịch vụ du lịch tại đảo Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam 44
3.2.1 Hoàn thiện các cơ sở hạ tầng nâng cao chất lượng chương trình du lịch 44
3.2.2 Bảo vệ môi trường hiện nay 45
3.2.3 Tập trung phát triển nguồn nhân lực cho du lịch 47
3.2.4 Đa dạng hóa các loại hình du lịch 48
3.2.5 Tăng cường công tác quảng bá xây dựng hình ảnh du lịch 48
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xã hội phát triển ngày nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người hiện đại Du lịch đối với mỗi quốc gia không chỉ góp phần phát triển kinh tế, tăng nguồn thu nhập quốc dân mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng quảng bá hình ảnh quốc gia đến với bạn bè khu vực và trên thế giới
Quảng Nam là vùng du lịch nổi tiếng của miền Trung, nơi không chỉ lưu giữ cho mình nhiều dấu ấn văn hóa trong dòng chảy lịch sử dân tộc được mệnh danh là nơi có “Một điểm đến hai di sản” được thiên nhiên ưu đãi ban tặng nhiều cảnh trí thiên nhiên đặc sắc Một trong những điểm đến được nhiều du khách lựa chọn trong hành trình du lịch của mình khi đến Quảng Nam trong những năm gần đây là cụm đảo Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm là một trong những địa điểm du lịch được đánh giá cao về độ hấp dẫn của Việt Nam với cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, nơi đây có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào Các rặng san hô ở khu vực biển Cù Lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ Hệ thống san hô nơi đây cũng
là nguồn cảm hứng thu hút nhiều khách du lịch về đây với các tour lặn biển ngắm san hô Ngoài cảnh sắc thiên nhiên phong phú, Cù Lao Chàm còn là nơi lưu trữ giá trị lịch sử văn hóa ghi dấu ấn của một thời kì lịch sử của dân tộc Cùng với các di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Cù Lao Chàm đã được công nhận là Di tích lịch
sử - Văn hóa Quốc gia ngày 29/05/2009, với hệ động thực vật phong phú và những
di tích lịch sử hàng trăm năm, Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới” Trong khi khu đô thị cổ Hội An tạo nên sức hút chung cho
du lịch hành trình di sản về Quảng Nam, Cù Lao Chàm trong tương lai sẽ là điểm đến làm nhân đôi sức hấp dẫn ấy
Cù Lao Chàm hiện nay trở thành điểm du lịch hấp dẫn không chỉ trên bản đồ
du lịch miền Trung mà còn điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam Trong những năm trở lại đây du lịch tại Cù Lao Chàm rất phát triển và dần đi vào hệ thống với các loại hình du lịch và các dịch vụ du lịch phong phú Tuy nhiên hiện nay du lịch tại
Trang 10Cù Lao Chàm vẫn phát triển một cách chậm chạp không tương xứng với tiềm năng
và giá trị của mình Từ thực tế trên cho thấy nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như chưa đa dạng hóa loại hình và dịch vụ du lịch, về cơ sở vật chất cũng thấy
rõ sự đầu tư còn hạn chế, thiếu đồng bộ nên chưa có sản phẩm du lịch thực sự hấp dẫn tương xứng với tài nguyên du lịch nơi đây
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đã xem xét và lựa chọn đề tài “ Tìm hiểu
về du lịch và dịch vụ du lịch tại đảo Cù Lao Chàm – tỉnh Quảng Nam” làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về Cù Lao Chàm không phải một đề tài mới, trong quá trình nghiên cứu và tham khảo tài liệu, chúng tôi nhận thấy ngay từ sớm đã có các công trình nghiên cứu tìm hiểu về vùng đất này
Năm 1986 nhà xuất bản Đà Nẵng trong cuốn“Hội An, đô thị cổ” đã có các trang viết giới thiệu sơ lược về vùng đất Cù Lao Chàm
Năm 1985 “Hội thảo khoa học lần thứ nhất về Hội An’’ đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tổ chức Một số các bài viết của các tác giả tham dự hội thảo đề cập đến Cù Lao Chàm ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu là đặt Cù Lao Chàm trong không gian chung của tỉnh Quảng Nam hoặc thành phố Hội An Các bài viết cơ bản chỉ phác thảo đôi nét về văn hóa, lịch sử vùng đất
cù lao, hoặc đưa đến cái nhìn tổng quan về địa lý, địa hình vùng đất Cù Lao Chàm chứ không nghiên cứu địa điểm này một cách riêng biệt
Chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu và tìm hiểu về du lịch tại đảo Cù Lao Chàm không phải là vấn đề quá mới, tuy nhiên hầu hết các công trình đã công bố từ trước tới nay không đi sâu vào nghiên cứu tổng quát về du lịch và dịch vụ du lịch
Cù Lao Chàm, mà thường chỉ tập trung vào một loại hình du lịch hay một dịch vụ
du lịch cụ thể nào đó ở đây Trong cuốn “Cẩm Nang Du Lịch - Đà Nẵng Hội An
Mỹ Sơn Nơi Ước Hẹn” của tác giả Phạm Côn Sơn (NXB Văn hóa thông tin – 2004) mới chỉ giới thiệu một cách rất sơ lược du lịch và các hoạt động du lịch tại Cù Lao Chàm, cuốn sách chủ yếu giới thiệu về Cù Lao Chàm như là điểm đến tiềm năng gắn liền với điểm thu hút khách lớn là khu đô thị cổ Hội An
Trang 11Năm 2006 Cù Lao Chàm được công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia (ngày 13/12/2006), dựa trên những di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật còn lại ngày nay Đến năm 2009 khi được UNESSCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới, Cù Lao Chàm nhanh chóng trở thành một địa danh du lịch biển nổi tiếng của miền Trung và được giới khoa học quan tâm Cũng trong năm này UBND thị
xã Hội An tập hợp các bài viết, các nghiên cứu và cho ra mắt “Kỷ yếu Cù lao Chàm: vị thế - tiềm năng và triển vọng” tập hợp các bài viết của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, khảo cổ học trên cả nước giới thiệu về di tích lịch sử Cù Lao Chàm giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện về cụm di tích biển - đảo này, tuy nhiên các vấn
đề mới chỉ dừng lại ở các tài liệu về lịch sử văn hóa chứ chưa đi vào nghiên cứu và đánh giá hoạt động du lịch nơi đây
Cũng trong năm 2013 tác giả Trần Thị Hồng Hoa của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh thực hiện đề tài khóa luận “Tìm hiểu vai trò của cộng đồng trong hoạt động du lịch sinh thái tại Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm – Tỉnh Quảng Nam” Khóa luận đã đề cấp đến du lịch và hoạt động du lịch tại đảo Cù Lao Chàm, cùng với đó tác giả cũng đã bước đầu xác định các hoạt động du lịch và dịch vụ du lịch nơi đây Tuy nghiên tác giả cũng chỉ nghiên cứu sơ lược hoạt động du lịch và chỉ thực sự đi sâu vào nghiên cứu một hoạt động du lịch cụ thể đó là hoạt động du lịch sinh thái và các dịch vụ du lịch đi kèm hoạt động du lịch này
Xuất phát từ thực tế trên bản thân tôi nhận thấy Cù Lao Chàm rất cần có một công trình đi sâu vào tìm hiểu du lịch và dịch vụ du lịch tại nơi đây, đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu định hướng phát triển du lịch cho đảo cũng như là nguồn tư liệu cho những người yêu thích và muốn khám phá tìm hiểu du lịch nơi đây
Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài : Tìm hiểu du lịch và dịch vụ du lịch tại đảo Cù Lao Chàm – tỉnh Quảng Nam làm đề tài khóa luận tôt nghiệp của mình
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là bước đầu tìm hiểu du lịch và dịch vụ
du lịch tại đảo Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam Từ đó, đề xuất định hướng phát triển du lịch và đa dạng hóa các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao chất lượng du lịch
và thu hút du khách trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động du lịch và các dịch vụ du lịch, trên cơ sở đó đánh giá các tác động của hoạt động du lịch đối với kinh tế - xã hội, văn hóa và môi trường
- Tìm hiểu về hoạt động du lịch và các dịch vụ du lịch tại đảo Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam đồng thời đưa ra đề xuất kiến nghị để phát triển hoạt động du lịch nơi đây
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động du lịch và dịch vụ du lịch hiện có tại đảo Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các nguồn tư liệu sau:
- Tư liệu thành văn: các công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí, văn bản liên quan đến du lịch và môi trường tỉnh Quảng Nam, thành phố Hội An và xã đảo Tân Hiệp
- Tư liệu điện tử: nguồn tư liệu còn được lấy từ những website có uy tín
Trang 13- Tài liệu điền dã: thu thập được thông qua việc đi thực tế tại đảo Cù Lao Chàm Đây là nguồn tư liệu quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của
đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc tiến hành nghiên cứu dựa trên rất nhiều những phương pháp để qua đó
có một cách nhìn sâu sắc và toàn diện về vấn đề cần nghiên cứu:
- Phương pháp xử lí tài liệu thành văn
- Phương pháp thực địa, quan sát địa bàn và phỏng vấn
6.2 Về mặt thực tiễn
Đề tài góp phần giới thiệu, quảng bá loại hình du lịch của đảo Cù Lao Chàm Đồng thời đóng góp dẫn liệu giúp các nhà quản lí, các nhà hoạch định chính sách lựa chọn và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch nơi đây
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung
Chương 2: Hoạt động du lịch và dịch vụ du lịch tại đảo Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng phát triển và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch
và dịch vụ du lịch tại đảo Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Du lịch
1.1.1.1 Khái niệm du lịch
Kể từ khi Thomas Cook khai trương công ty du hành đầu tiên mang tên mình vào năm 1841 ngành công nghiệp du lịch chính thức ra đời và cho đến nay tại nhiều quốc gia du lịch đã trở thành ngành có đóng góp không nhỏ không chỉ cho kinh tế mà còn cho hình ảnh quốc gia
Bản thân thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp với ý nghĩa là “đi một vòng” Tuy nhiên, do hoàn cảnh khác nhau và dưới mỗi góc độ khác nhau nên mỗi học giả nghiên cứu về du lịch thường có những quan niệm khác nhau về du lịch
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc thì: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người
du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.”
Theo luật du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/ 2006: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
Trang 15của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Ngoài ra theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam (1966) thì du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Tài nguyên du lịch
1.1.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch
Theo “Giáo trình Tài nguyên khí hậu” : tài nguyên là phần của khối dự trữ
có thể sử dụng trong những điều kiện kinh tế, xã hội và công nghệ nhất định Tài nguyên là một dạng thức có sẵn để cung cấp cho các nhu cầu của con người.[17]
Còn theo cuốn sách “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” : tài nguyên, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái đất và không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục
vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình [7: 22]
Theo “Giáo trình Địa lý du lịch” : tài nguyên du lịch là các đối tượng tự nhiên, văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở những mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch
Theo “Luật du lịch Việt Nam” : tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên thiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến điểm du lịch, đô thị du lịch
Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan nhân văn có thể sử dụng cho dịch vụ du lịch và thoả mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch
Trang 161.1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm lớn: tài nguyên du lịch tự nhiên
và tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta Mỗi dạng tài nguyên này có tác động đến du lịch ở một khía cạnh khác nhau
Các dạng địa hình có tác động mạnh đến tâm lí du lịch của du khách như: địa hình miền núi tạo không gian thoáng đảng thích hợp cho du lịch dã ngoại, du lịch nghĩ dưỡng; đặc biệt là các kiểu địa hình Caxtơ (đá vôi) và các kiểu địa hình ven bờ
có giá trị rất lớn cho tổ chức du lịch
Điều kiện khí hậu là thành phần của môi trường tự nhiên có quan hệ đối với hoạt động du lịch Nó có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và các loại hình du lịch tuỳ vào từng mùa, có thể phát triển những loại hình du lịch khác nhau
Tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động du lịch, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của du khách, phát triển các lại hình du lịch biển, sông hồ
Tài nguyên sinh vật: các khu bảo tồn thiên nhiên mà đối tượng là các lại động thực vật đặc hữu ngày càng thu hút du khách Điều này tạo điều kiện cho phát triển du lịch sinh thái, phát triển du lịch thiên nhiên
Tài nguyên du lịch nhân văn
Nhóm tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng được tạo
ra bởi con người có những đặc điểm rất khác biệt to với nguồn du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch nhân văn thường là những giá trị văn hoá tiêu biểu, đặc sắc của một địa phương, mỗi quốc gia Nó không có tính mùa vụ, không bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên và thường tập trung tại các điểm đông dân cư và các thành phố lớn
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm:
- Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử - văn hoá: các di tích văn hoá khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hoá nghệ thuật
Trang 17- Các lễ hội: là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại
- Các đối tượng gắn liền với dân tộc học bao gồm các tập tục lạ về cư trú, các tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về các kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc
- Các đối tượng văn hoá, thể thao và các hoạt động nhận thức
Mỗi địa phương, mỗi quốc gia cần có sự kết hợp phù hợp các loại tài nguyên
du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển các loại hình du lịch
1.1.3 Dịch vụ du lịch
Trong nền kinh tế thị trường dịch vụ được coi là mọi thứ có giá trị, khác với hàng hóa vật chất, mà một người hoặc một tổ chức cung cấp cho một người hoặc một tổ chức khác để đổi lấy một thứ gì đó Khái niệm này chỉ ra các tương tác của con người hay tổ chức trong quá trình hình thành dịch vụ Khái niệm này cũng thể hiện quan điểm hướng tới khách hàng bởi vì giá trị của dịch vụ do khách hàng quyết định
Trong lý luận marketing, dịch vụ được coi như một hoạt động của chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, chúng có tình vô hình không làm thay đổi quyền sở hữu Dịch vụ có thể được tiến hành nhưng không nhất thiết phải gắn liền với sản phẩm vật chất
Một khái niệm dịch vụ hiện được sử dụng rộng rãi là khái niệm dịch vụ theo định nghĩa của ISO 9004-:1991 E: “dịch vụ là kết quả mang lại nhờ hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dung”
Theo điều 4 – luật du lịch thì : Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ
về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Dịch vụ du lịch chính vì thế là tổng hòa của rất nhiều các loại hình dịch vụ khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách Từ đây dịch vụ du lịch cũng mang đầy đủ các đặc trưng của ngành dịch vụ trong đó bao gồm các đặc tính:
Trang 18 Tính đồng thời (Simultaneity): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời;
Tính không thể tách rời (Inseparability): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia;
Tính chất không đồng nhất (Variability): Do khách hàng rất muốn chăm sóc như là những con người riêng biệt nên dịch vụ du lịch thường bị cá nhân hóa và không đồng nhất Doanh nghiệp du lịch rất khó đưa ra các tiêu chuẩn của dịch vụ
du lịch nhằm làm thỏa mãn khách hàng trong mọi hoàn cảnh vì sự thỏa mãn đó phụ thuộc vào sự cảm nhận và trông đợi của từng khách hàng
Vô hình (Intangibility):không có hình hài rõ rệt Tính phi vật chất đã làm cho du khách không thể nhìn thấy hay thử nghiệm sản phẩm trước, cả người mua dịch vụ và bán dịch vụ đều không thể nhìn thấy hay chắc chắn về dịch vụ và chất lượng dịch vụ và họ trao đổi
Không lưu trữ được (Perishability): không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được
Tính trọn gói của dịch vụ du lịch : Dịch vụ du lịch thường là dịch vụ trọn gói bao gồm các dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung
Tính thời vụ của du lịch: Dịch vụ có đặc trưng rất rõ nét ở tính thời vụ do du lịch phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên
1.2 Thực tiễn du lịch và dịch vụ du lịch tại Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Du lịch và dịch vụ du lịch tại một số đảo trên thế giới
1.2.1.1 Du lịch tại đảo Bali – In-đô-nê-xia
Bali là một hòn đảo của Indonesia Dân số 3,15 triệu người, diện tích: 5632 km² Đảo Bali là điểm đến du lịch lớn nhất Indonesia và nổi tiếng vì có nền nghệ thuật phát triển cao, bao gồm vũ, điều khắc, hội họa, hàng da thuộc, luyện kim và
ca nhạc Bali
Được mệnh danh là viên ngọc quý của đất nước Indonesia, Bali không chỉ thu hút khách du lịch bởi vẻ đẹp thiên nhiên ban tặng mà còn mang trong mình nhiều giá trị văn hóa linh thiêng Trong năm 2013 tổng số lượng khách quốc tế đến Indonesia đạt 8,8 triệu lượt thì riêng Bali đã đón tới 3,27 triệu lượt khách và trở thành xương sống của ngành du lịch nước này
Trang 19Ngay từ khi phát triển du ;ịch tại Bali chính phủ Indonesia đã ra sức gìn giữu cảnh quan thiên nhiên cũng như các giá trị văn hóa đặc sắc làm động lực cho phát triển du lịch Bali Ngoài việc gìn giữ văn hóa truyền thống, Bali cũng thu hút được nhiều sự đầu tư và từ đó phát triển hệ thống dịch vụ du lịch phong phú và khá hoàn thiện
Tại Bali các dịch vụ cơ bản như lưu trú, ăn uống, lữ hành… được đảm bảo rất tốt khi nơi đây có hơn 40.000 phòng ở du lịch, Bali có sân bay quốc tế và cảng biển nước sâu phục vụ như cầu vận chuyển hành khách thuận lợi từ đất liền lên đảo,
hệ thống đường bộ trên đảo cũng được hoàn thiện và nâng cấp hàng năm, tại đảo Bali đã có đường giao thông đến hầu hết các điểm thăm quan trên đất liền ngoài ra còn có cả đường cao tốc chất lượng cao phục vụ nhu cầu di chuyển của hành khách trên đảo chính cũng bởi Bali là đảo lớn nhất của Indonesia Ngoài dịch vụ cơ bản tại Bali còn nổi tiếng với hệ thống các khu vui chơi giải trí, điển hình là khu Công viên nước Waterbom Bali – công viên nước hiện đại và đưuọc yêu thích nhất châu
Á Ngoài ra Bali còn rất phát triển các dịch vụ thể thao dưới nước như lướt sóng, nhảy dù, dù lượn, lặn biển…
1.2.1.2 Du lịch tại đảo Jeju – Hàn Quốc
Đảo Jeju là đảo lớn nhất Hàn Quốc với diện tích 1846 km2 (rộng 73 km, dài
41 km) Có khí hậu đại dương ôn hòa với những tháng nóng nhất cũng không quá
33 °C Với cảnh sắc thiên nhiên nên thơ, đảo Jeju được mệnh danh là thiên đường trăng mật của Châu Á và được kênh CNN bình chọn là 1 trong 50 điểm đến du lịch thiên nhiên Trong năm 2007 Jeju trở thành di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Hàn Quốc, nơi đây được công nhận với tên gọi “ Đảo núi lửa Jeju và hang dung nham” được hình thành bởi 3 khu vực đó là Khu vực bảo tồn thiên nhiên núi Hallasan, hệ thống hang động dung nham Geomun oreum, Seongsan Ilchulbong Cũng trong năm 2011 Jeju được bình chọn là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của nhân loại cùng với Vịnh Hạ Long ( Việt Nam), Rừng mưa nhiệt đới Amazone và sông Amazone, Vườn quốc gia Núi Bàn (Nam Phi), Thác Iguazu (Argentina, Brazin), Vườn quốc gia Komando (Indonesia), Sông ngầm Puerto Princesa (Philippines)
Trang 20Trong năm 2014 vừa qua theo số liệu thống kê của Hiệp hội du lịch Jeju tổng số khách đến đây du lịch đạt tới 12 triệu khách lần đầu tiên trong lịch sử du lịch Jeju đón được đông khách quốc tế đến vậy Theo thống kê của Tổ chức du lịch Hàn Quốc (KTO) năm 2014 Hàn Quốc đón trên 14 triệu lượt khách quốc tế và một nửa trong số đó đến đảo Jeju
Hệ thống dịch vụ trên đảo Jeju khá hoàn thiện với các Resort, khách sạn nhà nghỉ, Motel… cùng với đó là 20 sân gold được xây dựng trên đảo Ngoài cảnh sắc thiên nhiên phong phú thì Jeju còn có hệ thống các bảo tàng, khu triển lãm phù hợp với các chuyến du lịch nghỉ dưỡng thăm quan
1.2.1.3 Du lịch tại đảo Phuket – Thái Lan
Phuket là một trong những tỉnh phía Nam Thái Lan Thủ phủ tỉnh này là thành phố Phuket với diện tích là 543 km² và dân số là 247.278 người Tỉnh này là một hòn đảo không có lãnh thổ giáp giới với đất liền Thái Lan
Phuket là một địa điểm du lịch cực kỳ lý tưởng từ khu vui chơi giải trí đến khu nghĩ dưỡng được mệnh danh là thiên dường nghỉ dưỡng của Thái Lan Được bao bọc bởi 36 hòn đảo nhỏ Thiên nhiên ban tặng Phuket phong cảnh thiên nhiên
kỳ thú, nhiều vịnh, đảo kỳ vĩ, những bãi biển dài với dải cát trắng mịn, nét duyên dáng của những rừng dừa Ngoài cảnh sắc thiên nhiên phong phú, Phuket còn có hệ thống các trung tâm mua sắm, các nhà hàng quán bar, câu lạc bộ, khu giải trí về đêm Ngoài các công trình hiện đại ngày nay Phuket vẫn còn giữ lại được cho mình nhiều công trình kiến trúc văn hóa như khu phố cổ, các đền tháp cổ của cư dân bản địa, các buổi biểu diễn đậm sắc văn hóa Thái Lan
Hằng năm Phuket thu hút hơn 7 triệu du khách quốc tế đến đây Hệ thống cơ
sở vật chất tại Phuket cũng được đánh giá rất cao khi tại đây có tới gần 50.000 phòng với công suất sử dụng bình quân hàng năm là hơn 70% trong khi đó tại Đà Nẵng chỉ có 8000 phòng khách sạn và công suất trung bình cả năm là hơn 50% , từ đây có thể thấy sức hút mãnh liệt của Phuket
1.2.2 Du lịch và dịch vụ du lịch tại một số đảo ở Việt Nam
1.2.2.1 Du lịch tại đảo Phú Quốc – Kiên Giang
Phú Quốc, còn được mệnh danh là Đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, cũng là đảo lớn nhất trong quần thể 22 đảo tại đây, nằm trong vịnh Thái Lan
Trang 21Đảo Phú Quốc cùng với các đảo khác tạo thành huyện đảo Phú Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang Toàn bộ huyện đảo có tổng diện tích 589,23 km² (theo thống kê
số liệu đất năm 2005) Năm 2006, Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang bao gồm cả huyện này được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới
Phú Quốc được xác định là trung tâm du lịch sinh thái và trung tâm giao thương tầm cỡ khu vực và quốc tế Tại đây có nhiều thắng cảnh đẹp bao gồm:
- Vườn quốc gia Phú Quốc
- Khu bảo tồn biển Phú Quốc
- Hệ thống các bãi tắm dài đẹp có chất lượng cao như Bãi Khen, Bĩa vịnh đầm, bãi Xếp Nhỏ…
- Hệ thống các đảo nhỏ xung quanh đảo chính như quần đảo An Thới, Dương Đông…
Phần lớn các bãi biển trên đảo Phú Quốc có chất lượng cao, điển hình là bãi Khem, bãi Sao, bãi Rạch Tràm, bãi Vũng Bầu… có tiềm năng trở thành những khu
du lịch sinh thái chất lượng cao Ngoài ra, còn có hơn 14 bãi biển đẹp của Phú Quốc được xếp vào các loại 2,3,4 với khả năng thu hút khách du lịch quốc tế hay khách du lịch loại trung và đại chúng Ngoài ra Phú Quốc còn có hệ thống các giá trị văn hóa có thể đưa vào phát triển du lịch như các đình chùa thờ cúng những con người có công khai phá đảo và các vị anh hùng có công với đất nước như thờ cúng chị Sáu, anh hùng Nguyễn Trung Trực Hầu hết các địa danh du lịch nơi đây đều gắn liền với truyền thuyết về những con người của lịch sử như anh hùng Nguyễn Trung Trực, Vua Gia Long – Nguyễn Ánh, thậm chí là cả sự ra đời của đạo Cao Đài cũng được gắn liền với các địa danh trên Phú Quốc và du khách cũng rất hứng thú với những truyền thuyết gắn với sự thật nơi đây
Lượng khách đên Phú Quốc tăng nhanh hằng năm đạt 150.000 năm 2005,
2010 đạt 240.000 lượt khách du lịch đến 2015 dự kiến Phú Quốc đón sấp xỉ 1 triệu khách trong đó có 250.000 khách quốc tế
Toàn đảo hiện nay có 4000 phòng ở du lịch phục vụ 7000 – 8000 khách/ngày Cùng với đó là hệ thống các nhà hàng ăn uống được đầu tư mở rộng Tính đến 2014 Phú Quốc đã có 1 sân bay quốc tế với công suất 3 triệu khách/ năm
Trang 22cùng với đó là các cảng biển đón khách Cảng biển Quốc tế An Thới, Cảng du lịch Bãi Vòng, hệ thống đường bộ cũng dần hoàn thiện nói liền các điểm đến trên toàn đảo
Từ đây có thể nhận thấy hệ thống dịch vụ du lịch tại Phú Quốc đang ngày một hoàn thiện và đa dạng hơn, Phú Quốc cũng xây dựng hình ảnh là Thiên đường trăng mật của thế giới cạnh tranh với các hòn đảo nổi tiếng như Jeju (Hàn Quốc), quốc đảo Malives…
1.2.2.2 Du lịch tại đảo Cô Tô – Quảng Ninh
Cô Tô là một quần đảo nằm ở phía đông của đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Địa danh hành chính là huyện Cô Tô, diện tích 47,3 km², dân số hơn 4.985 người Quần đảo Cô Tô có khoảng hơn 50 đảo, đảo lớn nhỏ
Trong sự phát triển chung của du lịch Việt Nam Cô Tô cũng bắt đầu những bước phát triển đầu tiên về du lịch với khởi đầu là khách sạn Coto Lodge Cho đến nay, đảo đã có thêm nhiều khách sạn và khu nghỉ tại trung tâm thị trấn Cô Tô Đặc biệt, trong buổi ban đầu phát triển du lịch, lực lượng nhà dân (homestay) đã trở thành một đặc trưng tại Cô Tô với hàng trăm phòng ngủ Đáp ứng được phần nào nhu cầu lưu trú tại đảo
Cô Tô được xác định phát triển thành Khu du lịch sinh thái – nghỉ dưỡng biển đảo cấp quốc gia gắn với Khu du lịch sinh thái biển đảo cao cấp Vân Đồn; đưa
Cô Tô trở thành một trọng điểm du lịch trong quần thể du lịch Cát Bà – Hạ Long – Vân Đồn – Cô Tô – Móng Cái – Trà Cổ với đa dạng các loại hình du lịch, thể thao
và vui chơi giải trí cả trên biển và trên các đảo
Năm 2015 nơi đây cơ bản đã xây dựng hoàn chỉnh các cơ sở hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là giao thông kết nối đảo với đất liền chất lượng cao và các công trình cấp điện, cấp nước, bưu chính viễn thông, tạo điều kiện cần thiết để phát triển kinh
tế - xã hội của vùng nói chung và thu hút đầu tư phát triển du lịch nói riêng Giai đoạn 2016 – 2020 tập trung phát triển nhanh và bền vững du lịch trong vùng theo hướng du lịch sinh thái chất lượng cao phù hợp với đặc thù của du lịch biển, đảo Phấn đấu đến năm 2015 vùng biển đảo Cô Tô có thể thu hút trên 20 ngàn lượt khách, trong đó có 4 – 5 ngàn lượt khách quốc tế; doanh thu du lịch đạt 14 – 15 tỉ đồng và năm 2020 đạt 30 – 35 ngàn lượt khách, trong đó có 10 – 12 ngàn lượt
Trang 23khách quốc tế; doanh thu du lịch đạt 45 – 47 tỉ đồng; đạt tốc độ tăng trưởng 24,8%/năm bình quân thời kỳ 2015 – 2020
Không chỉ hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp như thơ của thiên nhiên và nguồn tài nguyên biển dồi dào mà Cô Tô (Quảng Ninh) còn tạo ấn tượng bởi những việc làm,
nỗ lực cụ thể, ví như không để xảy ra hiện tượng chèo kéo khách của hệ thống dịch
vụ, không để xuất hiện hình ảnh ăn xin làm mất mỹ quan cũng như phiền lòng du khách… Chính nhờ vậy nên nhiều năm qua, Cô Tô luôn thu hút khá đông du khách, trong đó đáng kể là giới trẻ và khách quốc tế Năm 2011, lượng du khách tới đảo đạt hơn 10 nghìn lượt Một trong những nguyên nhân khiến lượng khách tới Cô Tô tăng là việc hệ thống tàu cao tốc tuyến Vân Đồn - Cô Tô đi vào hoạt động, rút ngắn thời gian ra đảo chỉ còn từ 1,5-2 giờ đồng hồ, thay vì mất 3-4 giờ như vài năm trước Đến 2014 Cô Tô đón trên 20.000 lượt khách đến thăm đảo
Trang 24CHƯƠNG II
DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM
– TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Khái quát về đảo Cù Lao Chàm
2.1.1 Vị trí địa lý
Cù lao Chàm là một cụm đảo, về mặt hành chính trực thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km về phía Đông, cách đô thị cổ Hội An 19km về hướng Đông Đông Bắc
Cù Lao Chàm hiện nay gồm 8 hòn đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô
mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông với tổng diện tích khoảng15km và nằm ở tọa độ địa lý
- Từ 15015’20’’ đến 15055’15’’ vĩ độ Bắc
- Từ 108022’ đến 108044’ kinh độ Đông
Cù Lao Chàm là phần kéo dài về phía Đông Nam của khối núi đá granit (đá hoa cương) Bạch Mã - Hải Vân - Sơn Trà, mà các nhà địa chất gọi là “phức hệ Hải Vân” được hình thành khoảng 230 triệu năm trước đây
Do ở vị trí và điều kiện địa lý đặc biệt, Cù Lao Chàm chính là nơi trung chuyển, điểm hẹn trên Con đường tơ lụa - gốm sứ Đông Tây và khu vực Các nhà buôn phương Tây coi đây là cơ sở giao lưu và địa bàn lý tưởng cho những dự định kinh tế, quân sự và cả ngoại giao đối với nước Đại Việt - Đại Nam - Việt Nam.[23] 2.1.2 Đặc điểm tự nhiên
Địa hình
Địa hình Cù Lam Chàm chủ yếu là núi, không có sông ngoại trừ Hòn Lao có các suối nhỏ với rừng tự nhiên Điểm cao nhất là đỉnh Hòn Lao cao 570 m, các đỉnh khác có độ cao thấp hơn từ 70-200m
Địa chất của Cù Lao Chàm chủ yếu là các đá mác-ma trước Cambri, chủ yếu các đá xâm nhập-axit và phong hóa Khu vực này có hai loại đá khác nhau, Hon Lao and Hon Dai Hon Lao, Hon Ong, và Hon Tai gồm các đá granit và granit mica
có tuổi Paleozoi-Mesozoi Hon Dài, Hon Mồ, Hon Lá, Hon Khô, chủ yếu là granit, granodroit, và granosyenit
Trang 25Khí hậu
Cù Lao Chàm nằm cách đất liền 15km nên khí hậu nơi đây thuần biển nhưng lại tương đối ôn hòa quang năm mát mẻ và thời tiết trong năm cũng chia thành hai mùa là mùa mưa và mùa khô Vùng biển Cù Lao Chàm có những đặc tính khí tượng thủy văn với chế độ phân gió thành 2 mùa rỏ rệt, gió mùa Đông Bắc từ tháng
11 đến tháng 2 năm sau với tốc độ 15 – 20 m/s, gió mùa Đông Bắc cũng mang đến cho Cù Lao Chàm những cơn mưa dai dẳng trong suốt khoảng thời gian này, thông thường mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau Gió mùa hè theo hướng Đông và Đông Nam với những trận bão và áp thấp nên tốc độ gió rất cao 40 m/s
Cù Lao Chàm thuộc nền khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều thuận lợi cho sinh vật phát triển, và sinh sản Nhiệt độ trung bình năm trên 250C với mùa đông
ấm áp, mùa hạ mát dịu ít khô nóng của gió tây phơn Nam
Lượng mưa trung bình năm của Cù Lao Chàm tương đối lớn vào khoảng 2045mm Số ngày mưa trung bình năm: 145 ngày Mùa mưa tại đây bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 chiếm 80% tổng lượng mưa của năm Từ tháng 2 đến tháng 7 thường có mưa giông Mùa mưa bão hàng năm vào khoảng tháng 9, 10 và 11 Từ đây ta có thể nhận thấy các yếu tố khí hậu có tính quyết định trong hoạt động du lịch tại đây, mùa du lịch thường bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 9 hằng năm
Sinh vật
Có thể nói rằng, Việt Nam là một trong số ít quốc gia có sự đa dạng sinh học cao và đặc biệt hơn khi Cù Lao Chàm đưuọc UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới
Không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp hoang sơ mà còn là nơi được giới khoa học quan tâm đặc biệt, bởi nơi đây có những loài san hô lần đầu tiên được tìm thấy ở Việt Nam Riêng phía trong Cửa Đại là vùng hòa trộn nước của dòng sông Cổ Cò phía Bắc, sông Trường Giang phía Nam, hạ lưu sông Thu Bồn tạo nên khu sinh thái sông biển tuyệt vời
Cụ thể Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm được phân vùng theo bản đồ dưới đây:
Trang 26Nguồn Ban quản lý đảo Cù Lao Chàm
Dưới vùng nước quanh các đảo, kết quả nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực đã công bố 947 loài sinh vật sống cụ thể số lượng các loài được thể hiện qua bảng 1
Bảng 1 Số lượng các loài sinh vật trên đảo Cù Lao Chàm
Các loài cá biển sống trên rạn san hô 178 loài
(Nguồn: Ban Quản lý đảo Cù Lao Chàm)
Cù Lao Chàm là một trong số rất ít đảo của cả nước còn giữ được thảm thực vật
có độ che phủ tương đối lớn, khoảng 60 - 70% Kiểu thảm thực vật chiếm diện tích lớn nhất là rừng thường xanh cây lá rộng nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở độ cao từ
Trang 2750m đến 500m Đây là kiểu thảm rừng có nhiều cây gỗ quý như Gõ biển, Huỷnh, Lim xẹt Ngoài gỗ, đây cũng là nơi có nhiều loại lâm sản phụ như song, mây, cây làm thuốc, làm vật liệu xây dựng
Có hai kiểu rừng trên đảo là rừng cây bụi dưới thấp và rừng nguyên sinh trên cao hơn với một số loài cây gỗ lớn Mặc dù chỉ mới nghiên cứu ở độ cao 100 m trở xuống, song qua thống kê cho thấy hệ thực vật Cù Lao Chàm có 499 loài thuộc 352 chi, 115 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Như vậy hệ thực vật Cù Lao Chàm cũng đã phát hiện 5 trong tổng số 6 ngành thực vật bậc cao của hệ thực vật Việt Nam Nếu so sánh thì ở Cù Lao Chàm chiếm 1/20 tổng số loài, gần 1/6 tổng số chi và gần 1/2 tổng số họ của thực vật Việt Nam Nhờ có lớp phủ thực vật tương đối tốt, rừng là nơi cư trú của nhiều loài động vật nên mặc dù bị săn bắn nhiều, hiện
Cù Lao Chàm có 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài ếch nhái Trong
số đó, đáng chú ý có khỉ đuôi dài và chim yến là 2 loài được đưa vào Sách Đỏ Động vật Việt Nam.[24]
2.1.3 Đặc điểm dân cư
Cù Lao Chàm là đảo nằm cách đất liền không xa chỉ tầm 15km, chính vì thế tại đây qua các cuộc khai quật khảo cổ học đã phát hiện ra rất nhiều dấu tích sinh sống của cư dân từ hơn 3500 năm về trước Nơi đây cũng có nhiều dấu tích của cư dân thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh Dưới thời phong kiến, Cù Lao Chàm là vùng đất thuộc vương quốc Chăm Pa, và cư dân sinh sống tại đây là người Chăm Pa Nơi đây do vị trí địa lý thuận lợi nên dưới thế kỷ XI – X nơi đây thành những mắt xích quan trọng trên tuyến đường hàng hải quốc tế qua biển Đông nối từ Nam Trung Hoa tới Địa Trung Hải [17:210]
Trong nhiều kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy người Chăm ở Cù Lao Chàm có một cuộc sống ổn định, mức độ tập trung cao Di tích Champa nhiều loại vẫn còn vết tích tại đây như giếng Chăm, tháp Chăm, bến cảng Chăm Cụm đảo Cù Lao Chàm một mặt giữ vị thế tiền tiêu, mặt khác là bộ phận hữu cơ của Chiêm cảng
số một (Đại Chiêm Hải Khẩu) của vương quốc Champa trong nhiều thế kỷ Những giai đoạn sao này cùng với hành trình mở mang bờ cõi đất nước về phía Nam của Đại Việt từ thế kỷ thứ 15 đã bắt đầu có dấu vết người Việt tại đây và người Chăm
Trang 28rút dần về đất liền lui sâu về vùng đất Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay Kể từ đây người Việt tiếp tục khai thác Cù Lao Chàm,
Ngày nay toàn bộ cụm đảo Cù Lao Chàm trực thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tổng dân số toàn xã theo thống kê vào năm 2009 là 2.174 người, gồm 588 hộ sinh sống chủ yếu tại Bãi Làng và Bãi Hương, tỷ lệ gia tăng tự nhiên hằng năm là 1,7 Toàn bộ dân cư sống trên đảo là dân tộc Kinh, không
có dân tộc thiểu số khác Dân cư tại đây sinh sống chủ yếu dựa vào nghề khai thác thủy sản Cơ cấu lao động theo các ngành nghề như sau: 75% hộ ngư dân (gồm mành, câu và lưới chài), 15% hộ nông nghiệp, 10% hộ thương nghiệp buôn bán nhỏ
2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Về sản xuất – thương mại
Nếu như trước đây phần lớn hoạt động sản xuất trên đảo vẫn mang tính tự cung tự cấp, do điều kiện địa chất, địa hình trên đảo với thời tiết chưa thuận lợi nên sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa nước rất ít và hầu như không đảm bảo đủ nhu cầu cung cấp lương thực cho cư dân trên đảo, phần còn lại chủ yếu dựa vào nghề cá nhưng quy mô đánh bắt còn thấp, không đủ khả năng đầu tư để đầu tư thiết
bị đánh bắt xa bờ, cho nên sản lượng rất thấp hằng năm đạt khoảng 1000 tấn Ngày nay Cù Lao Chàm đã biết khai thác thêm nhiều nguồn lợi khác nhằm gia tăng giá trị kinh tế cho đảo Có thể kể đến như việc phát triển du lịch đã mang lại nguồn lợi và giải quyết lao động tại đây, hay như hoạt động khai thác tổ yến trong vài năm trở lại đây cũng mang lại nguồn lợi không nhỏ cho Cù Lao Chàm khi trong năm 2014 doanh thu từ yến xào lên tớ 44 tỷ đồng và dự kiến tăng từ 10 – 15% sau mỗi năm
Các hoạt động thương mại buôn bán trước năm 2009 còn khá nhỏ lẻ do các
hộ tư nhân và cá thể thực hiện Toàn xã có một chợ mới được xây dựng tại Bãi Làng, việc mua bán trao đổi đều thực hiện dưới hình thức tự phát, các tiểu thương trên đảo theo tàu vào đất liền mua hàng rồi mang ra bán lại cho nhân dân trên đảo, đồng thời họ cũng mang các đặc sản từ đảo vào bán lại cho cư dân đất liền (lượng hàng này ít, không đáng kể) Hiện nay trên đảo loại hình phục vụ khách tham quan trên đảo đã có sự tham gia của nhiều đơn vị công ty lữ hành và việc kết hợp nhiều
Trang 29loại hình du lịch khiến cho hoạt động du lịch tại đây bắt đầu khời sắc trong khoảng
5 năm trở lại đây
Về văn hóa – giáo dục
Văn hóa
Cù Lao Chàm có một bề dày lịch sử kể từ khi cư dân đầu tiên xuất hiện trên đảo từ cách đây hơn 3500 năm, trong suốt hành trình lịch sử, cư dân nơi đây đã để lại cho cụm đảo này nhiều dấu tích văn hóa có giá trị Cù lao Chàm là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An Bản đồ Tây-phương xưa thường ghi Cù lao Chàm với tên "Champello" lấy từ tiếng Nam-Ấn (Autronesian) "Pulau Champa" Cù lao Chàm còn có các tên gọi khác như Puliciam, Chiêm Bất Lao, Tiên Bích La.[17:770]
Tại đây ngày nay còn để lại nhiều di tích thuộc các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt, với các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt
có niên đại vài trăm năm Hiện nay trên đảo tồn tại rất nhiều di tích văn hóa như: Bãi Ông, Bãi Làng, giếng xóm Cấm, chùa Hải Tạng, đình Đại Càn, lăng Ngư Ông,…đã vinh dự được công nhận “ Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia” ngày 13/12/2006
Trong những năm qua trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội đã cùng với TTQLBTDT Hội An, Sở VHTT Quảng Nam phát hiện khai quật di tích khảo cổ, hàng nghìn di vật được lấy lên từ lòng đất tại đảo Cù Lao Chàm đã làm góp phần thêm cho sự phong phú của bộ sưu tập hiện vật hiện đang được trưng bày tại các bảo tàng ở Hội An
Nếp sống văn hóa tại đây gắn bó hữu cơ với đất liền nó cùng với Cửa Đại – Hội An, Trà Kiệu và Mỹ Sơn theo dòng sông Thu Bồn tạo nên một chuổi liên hoàn của nền văn hóa cực thịnh của nền văn minh Chăm Pa cổ
Trang 30Giáo dục
Toàn xã Tân Hiệp hiện nay có một trường tiểu học, một trường Trung học cơ
sở và một trường mẫu giáo
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại đảo Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm là một đảo đẹp và có tiềm năng du lịch rất lớn ở tỉnh Quảng Nam Hơn 5 năm qua, kể từ khi được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, hoạt động du lịch của Cù Lao Chàm (TP.Hội An) ngày càng thu hút thêm nhiều du khách trong và ngoài nước tới thăm quan chiêm ngưỡng Trong năm 2014 Cù Lao Chàm ước tính đón hơn 230.000 lượt khách thăm quan và dự kiến con số này sẽ tăng lên trên 300.000 lượt khách du lịch Để tìm hiều rõ hơn về thực trạng hoạt động du lịch tại đảo Cù Lao Chàm trước hết cần phải xem xét tình hình phát triển
du lịch của toàn tỉnh Quảng Nam nói chung và thành phố Hội An nói riêng để từ đó bước đầu hình dung về hoạt động du lịch tại đây
2.2.1 Tình hình phát triển du lịch của tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Việt Nam, là vùng đất còn lưu giữ nhiều dấu tích của nền Văn hóa Chămpa Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Xekong của nước CHDCND Lào Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Tam Kỳ
Nếu trước đây Quảng Nam được nhớ đến như là mảnh đất khô cằn nhọc nhằn sỏi đá thì ngày nay khi nói đến Quảng Nam là nghĩ đến hình ảnh của các điểm du lịch nổi tiếng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước, nơi được mệnh danh là vùng đất “ Một điểm đến hai di sản” Du lịch thật sự đã là động lực cho phát triển của Quảng Nam như ngày hôm nay
Du lịch thời gian qua của tỉnh Quảng Nam đã có nhiều nỗ lực đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật và chất lượng lao động, đẩy mạnh quảng bá xúc tiến du lịch, tăng cường đầu tư sản phẩm du lịch, tạo dựng được thương hiệu du lịch Quảng Nam góp phần thu hút khách du lịch đến với tỉnh Điểm mạnh của du lịch Quảng Nam đó là điểm đến du lịch hấp dẫn có nhiều miền quê, cảnh quan rừng núi, hồ nước hấp dẫn, đặc biệt có 02 di sản văn hóa thế giới là Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn, cùng với khu dự trữ sinh quyển
Trang 31thế giới Cù Lao Chàm…Trong 6 tháng đầu năm 2014, Quảng Nam đón hơn 1,7 triệu lượt khách, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2013 Trong những năm quan Quảng Nam luôn đạt được lượng khách du lịch đến hơn 3 triệu lượt khách và tăng trưởng tương đối đều qua các năm
Bảng 2: Số lượng khách du lịch đến tỉnh Quảng Nam từ 2009 – 2013
2.2.2 Tình hình phát triển du lịch của Thành phố Hội An
Nằm ở vùng hạ lưu ngã 3 sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, TP Hội An có 13 xã, phường, trong đó có 1 xã đảo Tân Hiệp Hội An có 7km đường bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp, trong đó bãi tắm Cửa Đại là một trong những bãi tắm đẹp nổi tiếng
Hội An là điểm đến hấp dẫn và cũng là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử cách mạng, chứa đựng trong mình nền văn hóa phong phú được kết tinh qua nhiều thời đại Du khách đến với Hội An thường bị hấp dẫ bởi nét cổ kính và lớp văn hóa phong phú của mảnh đất nơi đây với một lịch sử lâu đời là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều nền văn hóa trong lịch sử nơi đây từng là thương cảng nhộn nhịp bậc nhất