Do vậy, nghiên cứu hành vi hung tính ở lứa tuổi tiểu học mang lại những ý nghĩ thiết thực không chỉ cho vấn đề giáo dục trẻ ở thời điểm hiện tại mà còn cho sự phát triển trong tương lai
Trang 1ỌC N N
ỌC SƯ P M KHOA TÂM LÝ – ÁO DỤC
Sinh viên thực hiện : ỗ Thị Yến
Chuyên ngành: Tâm lý iáo dục Người hướng dẫn : Nguyễn Thị Trâm Anh
Đà Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2DAN MỤC BẢN B ỂU - HÌNH
Bảng 3.1.1 Bảng biểu hiện các mức độ của hành vi hung tính thông qua phân tích tranh vẽ “
con vật không có thật trong tưởng tượng của em” 38
Biểu đồ 3.1.1 Biểu đồ thể hiện các mức độ biểu hiện hành vi hung tính thông qua phân tích tranh vẽ 39
Bảng: 3.1.2 Bảng các dấu hiệu biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học 40
Hình 3.1.3a Con yêu tinh 41
Hình 3.1.3b Con quái vật trên trời 42
Hình 3.1.3.c Con khủng long 43
Hình 3.1.3.d Con quỷ đỏ 44
Hình 3.2.1a Tranh vẽ gia đình của hs NLTH 46
Hình 3.2.1b Tranh vẽ người của học sinh NLTH 47
Hình 3.2.2a Tranh vẽ gia đình của hs ĐGN 48
Hình 3.2.2b Tranh vẽ người của hs ĐGN 49
Hình 3.2.3a Tranh vẽ gia đình của hs NLTB 50
Hình 3.2.3b Tranh vẽ người của hs NLTB 51
Trang 3Các từ viết tắt trong đề tài
Trang 4PHẦN I: MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước đây chúng ta thường có tâm lý chủ quan nghĩ rằng vấn đề bạo lực học đường là rất xa xôi, không phổ biến Đồng thời vì thế mà không ý thức được sâu sắc tầm ảnh hưởng, tác động, hậu quả nghiêm trọng của nó tới thế hệ trẻ nói riêng, con người nói chung Song thời gian gần đây bạo lực học đường đã có chiều hướng gia tăng, phát triển phức tạp và trở thành một vấn đề nóng bỏng, một vấn nạn nhức nhối khiến mọi người không khỏi bàng hoàng kinh ngạc Có những học sinh sẵn sàng dùng
vũ lực cho tới hành động tàn ác mất nhân tính đối với bạn bè cùng lứa, thậm chí đối với cả thầy cô giáo đã dạy dỗ mình vì những lí do không đâu Khảo sát khác cho thấy,
có những lý do rất đơn giản nhưng cũng là cớ gây ra xung đột, như không ưa thì đánh (24%); bị khiêu khích nên đánh (16%); đánh vì lí do tình cảm (13,3%) Đáng lo ngại
là, có những lý do không thể hình dung được, ví dụ: người khác nhờ đánh (s20%) và chẳng có lý do gì cũng đánh (12%) Còn phải kể thêm một yếu tố thúc đẩy hành vi bạo lực học đường, đó là sự cổ vũ của bạn bè Qua đây ta thấy vấn đề học đường đã bộc phát ở mức độ nguy hiểm và nghiêm trọng, rất cần xã hội nhìn nhận như một vấn đề cần phải chống Nhiều nghiên cứu cũng đã tìm ra nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề bạo lực học đường, tuy nhiên vẫn chưa có chiều hướng thuyên giảm Chúng ta cần nhìn nhận nguyên nhân xâu sa của nó xuất phát từ lứa tuổi nhỏ với những biểu hiện hành vi hung tính và cần có những can thiệp kịp thời
Hành vi hung tính là một trong những nguyên nhân dẫn đến bạo lực với các biểu hiện như hung hăng, dễ dàng bị kích động, cáu kỉnh, bực bội, cứng đầu với người khác Mối quan hệ của trẻ có hành vi hung tính với gia đình, bạn bè và thầy cô giáo luôn luôn căng thẳng và mâu thuẫn Điều đó có thể dẫn đến suy yếu sức khỏe của trẻ Ngoài ra, hung tính trở thành một đặc điểm tính cách ổn định, tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách và xã hội của các em trong thời kỳ tuổi sau đó
Một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay là hạn chế bạo lực học đường trong các trường học – vấn đề đang được cả xã hội quan tâm như là nhiệm vụ quan trọng của giáo dục, của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học, xã hội
Trang 5học…Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề bạo lực học đường cho đến nay chưa có sự thống nhất đồng bộ và hiệu quả Thiết nghĩ, muốn giải quyết được triệt để phải bắt nguồn từ hành vi hung tính và phải ở độ tuổi trẻ bắt đầu có ý thức rõ ràng – lứa tuổi tiểu học Do vậy, nghiên cứu hành vi hung tính ở lứa tuổi tiểu học mang lại những ý nghĩ thiết thực không chỉ cho vấn đề giáo dục trẻ ở thời điểm hiện tại mà còn cho sự phát triển trong tương lai của chính đứa trẻ đó bởi vì rất khó thay đổi hành vi một con người khi họ đã hoàn thiện về mặt nhân cách
Có nhiều phương pháp để chẩn đoán đặc điểm tâm lý, hành vi của trẻ Trong đó tranh vẽ là nguồn thông tin đầy đủ và xác thực nhất do tính tự nhiên và đặc tính xác định các đặc điểm nhân cách theo xu hướng phóng chiếu Vẽ phóng chiếu là một phươngg tiện giúp thiết lập mối quan hệ với trẻ trong quá trình đánh giá, can thiệp và trị liệu lâm sàng Những cử chỉ, hành vi, hành động tạo ra bức tranh thuộc vào chính bản thân trẻ và vào chính thời điểm trẻ vẽ, những dấu vết được tạo ra trong tranh chính
là cái biểu hiện của sự tồn tại tư duy nội tâm cũng như cách hành động của trẻ Đời sống vô thức của trẻ được thể hiện ra bức tranh mà trẻ không hề ý thức được là mình đang bộc lộ thái độ và trạng thái của mình Đây là kỹ thuật có hiệu quả để trẻ bộc lộ bản thân là vì nếu chỉ nói và viết thì trẻ có thể cố ý biến đổi theo hướng nào khác, không bộc lộ ra tâm trạng thực, còn với tranh vẽ thì trẻ rất ít khi làm được điều đó Hay nói cách khác, tranh vẽ giúp trẻ nói lên được điều mà chúng chưa biết nói ra và giúp chúng ta ý thức được cái vô thức của trẻ
Chính vì những lý do trên mà tôi quyết định lựa chọn: “ Nghiên cứu hành vi hung tính của học sinh tiểu học thông qua phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi – Quận Liên Chiểu – Thành Phố Đà Nẵng”
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học thông qua phương
pháp trắc nghiệm tranh vẽ tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng
- Đề xuất hướng chẩn đoán và can thiệp học sinh tiểu học co biểu hiện hung tính thông qua phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ
3 ối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học thông qua phương pháp tranh vẽ
Trang 63.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh tiểu học có biểu hiện hành vi hung tính tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.3 Khách thể khảo sát: 33 học sinh của ba khối 3, 4, 5 và 17 giáo viên chủ nhiệm các lớp 3, 4, 5 tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.4 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
- Thời gian: Từ ngày 21/1/2013 đến ngày 31/3/2013
- Phạm vi nghiên cứu của vấn đề: Chẩn đoán dấu hiệu hành vi hung tính thông qua phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ
4 iả thuyết khoa học
Phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ trong chẩn đoán biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học có ý nghĩa trong việc chỉ ra được mức độ biểu hiện, các dạng hành vi hung tính và các khía cạnh cảnh hưởng đến hành vi hung tính
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề chung về phương pháp chẩn đoán tranh vẽ và hành vi hung tính ở học sinh tiểu học
- Phân tích các dấu hiệu biểu hiện hành vi hung tính thông qua phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các công trình nghiên cứu, tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ của đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát (Bảng quan sát dành cho giáo viên và học sinh)
- Phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ “Con vật không có thật trong tưởng tượng của em”, tranh vẽ gia đình, tranh vẽ người
7 Cấu trúc của báo cáo
Báo cáo tổng kết đề tài thực tập bao gồm các phần
- Phần mở đầu
Trang 7- Phần nội dung
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Phần nội dung có cấu trúc bao gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Trang 8
P ẦN : NỘ DUN N ÊN CỨU Chương 1: C SỞ L LUẬN CỦA VẤN Ề N ÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hung tính của học sinh tiểu học
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề hành vi hung tính đã được các nhà triết học, tâm lý học khai thác và tìm hiểu khá lâu Ngay từ thời cổ đại, các triết gia phương Đông như trường phái Nho gia( Khổng Tử, Lão Tử và Tuân Tử) đã đề cập đến cái Thiện và cái Ác Tuân Tử cho rằng,
“con người ai cũng có lòng ham lợi, dục vọng” đó là nguồn gốc gây nên tội ác nên phải lấy hình phạt đề giáo hóa tính ác” Đến thế kỷ XVII – XVIII các nhà triết học Anh như Thomas Hobbes (1588 – 1679) và Jeen – Jacques Rousseau (1712 – 1778) đã tranh luận nhiều về bản tính tự nhiên của con người, trong đó có đề cập đến vấn đề con người vốn có tính thiện, nhân từ vui vẻ hay con người vốn sinh ra đã có tính hung hăng, dữ tợn và dã man như súc vật
Quan điểm tự nhiên về hành vi hung tính được Darwin – người đầu tiên đưa vào trong thuyết tiến hóa của loài người Căn cứ vào nguyên lý chọn lọc tự nhiên, ông cho rằng nạn đói hoặc chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến hành vi hung tính, bởi khi đó thức ăn hiếm hoi, sự cạnh tranh xuất hiện và trong cuộc đấu tranh sinh tồn sự chọn lọc
sẽ theo hướng kẻ mạnh Ví dụ thời nguyên thủy, con người đã hình thành tính hung hãn, gây hấn như săn bắn, tiêu diệt các bộ tộc khác, giành lãnh thổ…nhằm mục đích thỏa mãn bản năng sinh tồn trong điều kiện khắc nghiệt của cuộc sống
S.Freud (1920) và K.Lorenz (1966) cũng đã xem xét hành vi hung tính như một bản năng bẩm sinh Hành vi hung tính là đặc điểm tâm lý cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại của cá thể Cuộc sống là chuỗi các cuộc đấu tranh để giành sự sống tốt đẹp như nguồn tài nguyên, địa vị xã hội…hành vi hung tính, gây hấn là thành phần không thể thiếu được cho sự phát triển các bản năng hiếu chiến của con người
Phân tâm học với đại diện là S Freud cho rằng, sự hung hăng của con người xuất
phát từ một lực bẩm sinh đi cùng với tính dục và đưa ra khái niệm “xung năng chết”
Khái niệm này được hiểu là một khát vọng vô thức, tiềm ẩn một mong muốn thoát ra khỏi những lo lắng, sự thất vọng ở bản thân, sự căng thẳng của cuộc sống bằng cách
Trang 9được chết Cá nhân luôn hằn học với mình, gây hấn và tự xâm kích trước khi đi tới hủy diệt bản thân, rồi nhanh chóng hướng đến những người khác, muốn hủy hoại người khác Đó chính là bản năng xâm chiếm và tiêu diệt, đôi khi được phóng chiếu theo đối tượng khác Theo S.Freud “xung năng chết” hoàn toàn đối lập với “xung năng sống” như mong muốn, nhu cầu được sống, được ăn ở, yêu thương, được bảo vệ…Hai xung năng này có ở trong tất cả mọi người bởi con người luôn phải duy trì giữa ham muốn
cá nhân và thực tế cuộc sống Từ những phát kiến trên, S.Freud đã cho rằng, hành vi hung tính có nguồn gốc từ sự đổi hướng năng lượng của “xung năng chết” của cá nhân sang người khác Cơ chế của quá trình đổi hướng xung năng được mô tả như là sự dồn nén của năng lượng xuống vô thức và nó sẽ bùng cháy trong một thời điểm nhất định Thời điểm bùng cháy đó được xem như là giai đoạn kích thích năng lượng mạnh mẽ, hung hăng, gây hấn được phóng thích ra ngoài và nhằm đến một đối tượng nào đó, khi năng lượng đó được ra ngoài con người cảm thấy thỏa mãn, nhẹ nhõm
Kornad Lorenz (1974) cũng xem xét sự hung hăng, gây hấn của con người là mang tính bản năng bẩm sinh, nó cần thiết cho sự tồn tại của loài người trong việc tranh giành sự sống, vị trí xã hội…Hành vi hung tính bắt nguồn từ chính sự thừa hưởng bản năng chiến đấu, bản năng đảm bảo sự sinh tồn và di truyền thế hệ K.Lorenz cho rằng con người có những cơ chế bẩm sinh cho việc kiềm chế gây hấn, tuy nhiên nguyện vọng sống và tính gây chiến hoàn toàn tương hợp và gây hấn như một sự tập nhiễm theo con đường di truyền hơn là thuần túy xuất phát từ bản ngã, là một sự thích nghi hơn là động cơ tự phá hủy
ọc thuyết động lực cho rằng, nguồn gốc hung tính xuất phát từ những sự tác động
bên ngoài như là những lực thúc đẩy nẩy sinh hành vi Học thuyết này nhấn mạnh đến động cơ gây tổn hại cho người khác chứ không phải do bản năng sống, do gen, di truyền hay đặc điểm giải phẫu sinh lý quy định Sự hung tính được xem xét như là sự đáp ứng lại với những hụt hẫng , đau đớn, bắt nguồn từ động cơ chống đối
Lý thuyết về sự thất vọng - gây hấn của Dollard và cộng sự (1939) cho rằng, tâm trạng thất vọng làm cho con người sẵn sang gây hấn Nếu sự thất vọng thôi thúc tiềm ẩn và được lặp đi lặp lại nhiều lần thì đến một lúc nào đó sẽ bùng lên tạo nên những hành vi hung tính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Dollard còn cho rằng, động cơ gây gỗ khi thất vọng là một biểu hiện thuộc về sinh lý, như một năng lượng cần được giải thoát trực tiếp ra ngoài, chống lại nguồn gây ra nó Tuy nhiên chúng ta đều được dạy là phải
Trang 10kìm hãm sự trả thù trực tiếp, đặc biệt khi bị người khác phản đối hoặc bị trừng phạt Thay thế vào đó là chúng ta thường chuyển hướng thù hận sang mục tiêu an toàn hơn
Ví dụ bắt nạt người dưới quyền, người yếu hơn…hoặc ở khía cạnh khác như giải tỏa bằng cách tham gia hoạt động thể thao, giải trí…
Lý thuyết thất vọng – gây hấn đã cố giải thích hiện tượng hung tính theo các sự kiện bất thường của hoàn cảnh tác động tới tâm lý con người Tuy nhiên nhiều tác giả ( Burstein & Worchel, L.Berkowitz) xem xét lại và nhận ra rằng lý thuyết này đã cường điệu hóa mối quan hệ giữa tâm trạng thất vọng và hung tính, không phải bất cứ thất vọng nào cũng dẫn đến hung tính L.Berkowitz đã gợi ý rằng, điểm mấu chốt của sự thất vọng là một sự trải nghiệm không dễ chịu Theo ông bất cứ sự kiện nào tạo ra cảm giác tiêu cực, không dễ chịu sẽ kích thích khuynh hướng hung hãn ở con người Nhưng hung tính có thật sự diễn ra hay không còn phụ thuộc vào sự có mặt của các kích tạo nên
Thuyết hành vi về hung tính với các đại diện như J.Watson, Thorndike, Skinner
đã đưa ra công thức nổi tiếng S (kích thích) – R (phản ứng) Mọi hành vi của con người là những phản ứng trước sự tác động của các kích thích có nguồn gốc từ môi trường bên ngoài Điều đó chứng tỏ rằng, con người bị hoàn cảnh điều khiển như một cái máy từ các tác nhân bên ngoài Con người có xu hướng hành xử theo bản năng và hành vi phản ứng là phiên bản của hoàn cảnh tác động Trong mọi hoàn cảnh thì con người đều có cách hành xử tương ứng Như vậy hành vi hung tính cũng được diễn ra theo mô tả theo công thức S (kích thích bạo lực) – R (phản ứng đáp trả lại bằng bạo lực) Tuy nhiên không phải bất kì kích thích bạo lực nào cũng nhận được trả lời là bạo lực vì con người có nhận thức và tự ý thức – hạt nhân cốt lõi của nhân cách Do vậy thuyết này không còn phù hợp để giải thích hành vi hung tính
Thuyết hành vi hiện đại đã đưa ra công thức có sự tham gia của quá trình nhận thức và
tư duy: S-M-R Trong đó M là dòng suy nghĩ, cảm nhận của chủ thể khi có tình huống kích thích và đưa ra những phản ứng phù hợp với nhu cầu của cá nhân Sự nhận thức không chỉ chú ý đến yếu tố môi trường tác động mà còn coi cách cảm nhận, tiếp thu và thái độ của chủ thể đối với sự tác động đó Như vậy mới giải thích được đầy đủ hành
vi của con người, đặc biệt là hành vi hung tính Hành vi hung tính hình thành ở chủ thể không chỉ bởi sự tác động của các yếu tố bên ngoài mà còn phụ thuộc vào nội dung đời sống tâm lý của cá nhân, tâm thế đón nhận của chủ thể Sự trả lời các kích thích
Trang 11của môi trường bên ngoài không chỉ bằng các bản năng vô thức mà có ở trong đó sự tính toán, ý thức
Thuyết học tập xã hội về hung tính cho rằng, việc học hỏi xã hội giúp tăng cường
hoặc xóa bỏ tính hiếu chiến ra khỏi mỗi người Hành vi hung tính hình thành là do tiếp thu các mẫu ứng xử sai lệch trong xã hội, là kết quả của sự bắt chước và quan sát xã hội (tập nhiễm xã hội) Theo Bandura, bất chấp vai trò chính của các yếu tố di truyền, thái độ hung hăng của con người bị ảnh hưởng bởi việc học hỏi của chính họ
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay trong nước có một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề hung tính, tuy nhiên phần lớn xoay quanh cơ sở lý thuyết, phương pháp tiếp cận và chưa có sự đồng bộ trong nghiên cứu thực tiễn, đặc biệt hành vi hung tính ở trẻ em lứa tuổi tiểu học và biện pháp can thiệp chưa được đề cập đến như một vấn đề cấp thiết có ảnh hưởng đến hành vi bạo lực ở lứa tuổi lớn hơn
Trong vòng 10 năm trở lại đây, có thể kể đến một số nghiên cứu nhỏ lẽ, các bài báo cáo có liên quan đến vấn đề hung tính trong phạm vi trường học của học sinh đã nhắc đến như: Hung tính trẻ em (Phạm Mạnh Hà, Hoàng Gia Trang, 2002); Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp của trẻ vị thành niên (Mã Ngọc Thể, 2004), Bạo lực đối với em gái trong môi trường học đường ( Nguyễn Phương Thảo, Đặng Bích Thủy, Trần Thị Vân Anh, 2005), Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của học sinh trường PTTH Dân lập Đinh Tiên Hoàng (Nguyễn Thị Phượng, 2006)…
Có thể liệt kê một số danh mục công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến
đề tài:
1. Phạm Mạnh Hà (2002) Khái niệm hung tính Tạp chí tâm lí học số 11, tr.6
2. Trần Thị Minh Đức (2010) Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lý học xã
hội – H: Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010 – 389tr
3. Trần Thu Hương, Đặng Hoàng Ngân (2011) Trẻ hung tính: Cấu trúc tâm trí
nào? Báo cáo khoa học Hội nghị quốc tế lần thứ 2 về tâm lý học đường ở Việt
Nam ( Thúc đẩy nghiên cứu và thực hành tâm lý học đường tại Việt Nam) NXB Đại học Huế Tr.110 – 117
4. Nguyễn Thị Minh Hằng (2012) Hung tính ở trẻ và trẻ hung tính Chẩn đoán và
can thiệp Báo cáo Khoa học Hội thảo khoa học quốc tế Tâm lý học đường lần
Trang 12thứ 3 “ Phát triển mô hình và kỹ năng hoạt động tâm lý học đường”, tr.499 –
512
5 Nguyễn Thị Trâm Anh (2012) Nghiên cứu hành vi hung tính của học sinh tiểu
học và biện pháp can thiệp
1.2 Lý luận chung về biểu hiện hành vi hung tính của học sinh tiểu học
1.2.1 Các quan điểm tiếp cận về hành vi hung tính
Nhân tính con người là chủ đề được bàn luận từ xưa đến nay, từ Phương Đông đến
Phương Tây, trong nhiều ngành học khác nhau: triết học, tâm lý học, xã hội học…
Ở phương Đông thì có quan niệm về “ Nhân chi sơ tính bản thiện”: tức bản tính nguyên sơ của con người vốn lương thiện, sự tập nhiễm xã hội dần mang lại những dữ dằn, hung bạo…Ngược lại, Tuân Tử cho rằng “ Nhân tính bản ác”, rằng con người có
tính bản ác từ khi mới sinh nên cần phải dùng pháp trị để giáo hóa
Ở Phương Tây cũng đề cập đến chủ đề này, qua tác phẩm hoặc quan điểm của các nhà triết học như Thomas Hobbes, Jean Jacques Rousseau…; của các nhà tâm lý học Sigmund Freud, Kornad Lorenz
Tựu chung lại khi đi phân tích nguyên nhân của hành vi hung tính, các nhà tâm lý học đặt ra các câu hỏi xung quanh nguồn gốc của nó: Liệu hành vi hung tính là do bẩm sinh hay do học hỏi từ xã hội mà có? Hành vi hung tính có nguồn gốc từ những căng thẳng tâm lý nội tại hay do bên ngoài? Khuynh hướng chung khi đi phân tích vấn đề này hiện nay tập trung vào các quan điểm: Nguồn gốc sinh học của hành vi hung tính, nguồn gốc tập nhiễm xã hội của hành vi hung tính
a Thuyết bản năng về hung tính
Hung tính có nguồn gốc là bẩm sinh Quan điểm tự nhiên về hành vi hung tính được Drawin đưa ra trong thuyết tiến hóa của loài người, căn cứ trên nguyên lý lựa chọn tự nhiên Đấu tranh sinh tồn theo chọn lọc tự nhiên sẽ theo xu hướng kẻ mạnh lấn
át kẻ yếu khi xảy ra tình trạng khan hiếm thức ăn
Thuyết bản năng của Sigmund Freud (1920) và Kornad Lorenz đã xem hung tính như một bản năng bẩm sinh của con người S.Freud cho rằng con người bị thúc đẩy bởi 2 bản năng chính yếu nhất : Bản năng chết và bản năng sống Với bản năng sống các nhân tố có những nhu cầu cần thiết cho hoạt động sống của mình như ăn uống, tình dục, được bảo vệ, được yêu thương…Con người sẽ có những cách thức khác nhau nhằm thỏa mãn những ham muốn này, sẽ có xu hướng hung tính một khi những nhu
Trang 13cầu này bị cản trở thỏa mãn, bị đe dọa…; ngược lại với bản năng chết được xem như
là khát vọng vô thức mong muốn thoát khỏi những lo lắng, thất vọng, căng thẳng của cuộc sống đem lại của nôi giới phát ra…để đi tới sự chấm dứt cuộc sống, khi đó cá nhân sẽ được giải thoát, bản năng này trước hết hướng vào sự tự hủy hoại bản thân sau
đó là hướng tới, phóng chiếu ra những đối tượng khác
b Thuyết động lực về hung tính
Các thuyết động lực quan tâm đến động cơ gây tổn hại cho người khác, nhấn mạnh rằng nguồn gốc của hung tính không phải do bản năng sống, do gen hay do đặc điểm cơ thể quy định Thuyết này loại bỏ cái nhìn thuần túy về bản năng hung tính mà Freud và Lorenz đưa ra Theo họ hung tính bắt nguồn từ sự đáp ứng lại với những hẫng hụt và đau đớn, bắt nguồn từ động cơ chống đối Tiếp cận hung tính từ thất vọng được nghiên cứu khá nhiều trong tâm lý học lâm sàng
Thất vọng được định nghĩa như là sự cản trở hay ngăn chặn một số hành vi định hướng đến mục tiêu Khi điều ta mong muốn sắp trở thành hiện thực mà bị cản trở thì
sẽ dẫn đến động cơ hung tính do thất vọng gây ra
Các lý thuyết về động lực quan niệm nguồn gốc gây ra hung tính là từ bên ngoài vào, tạo nên những thất vọng hoặc sự chống đối lại ngoại lực đó
c Thuyết hành vi về hung tính
Đại diện cho trường phái tâm lý học hành vi cổ điển là Watson, Thomdike và Skinner Thuyết này nghiên cứu hành vi bên ngoài mà bỏ ra việc khám phá những hiện tượng tâm lý bên trong như cảm xúc, ý thức Công thức nổi tiếng của thuyết hành vi là khi có kích thích từ môi trường bên ngoài sẽ có phản ứng của cơ thể:
S-R
1.2.2 Khái niệm hành vi hung tính của học sinh tiểu học
a Khái niệm hành vi
Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện: Hành vi là từ ứng xử chỉ mọi phản
ứng của một động vật khi bị một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống, và tiến trình của ứng xử
để thích ứng có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được, chứ không như là tình ý bên trong, thì
nó là ứng xử Khi nhấn mạnh định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi.[2]
Trang 14b Khái niệm hành vi hung tính
Bàn đến khái niệm hung tính đã có những tranh luận gay gắt về bản chất của hung tính là gì vào những năm 60 của thế kỷ XX Khái niệm hung tính được xác nhận là khái niệm khó nắm bắt một cách chính xác nhất ( Baron, 1977; Berkowitz, 1969; Buss, 1961; Zillmann, 1979)
Từ “hung tính” được dịch từ tiếng Latinh “aggression” có nghĩa là “sự tấn công” Hiện tượng này gắn liền với các cảm xúc âm tính (cơn tức giận), các động cơ (cố gắng gây nhiều tác hại), các mục đích và các hành vi phá hủy
Trong từ điển Anh – Việt, danh từ “aggression” được dịch là hành vi lấn át với nghĩa chỉ những người luôn áp đặt mệnh lệnh cho người khác, thích tham gia quyết định mọi việc thay cho người khác Họ lấn át người khác bằng sức mạnh giao tiếp Cách hiểu này thiên về giải thích hung tính ở mức độ lời nói và thái độ.[4]
Từ điển thông dụng tiếng Pháp Larouse giải thích thuật ngữ aggression chỉ người có tính nết hung hăng, hung bạo, cố tình làm tổn thương người khác và chính mình trên phương diện thể chất và tinh thần.[trích theo 4]
Theo từ điển tâm lý học Vũ Dũng (2008) khái niệm “aggression” được dịch là xâm kích với giải thích : “ Hành vi của cá nhân hay tập thể gây thiệt hại về tâm lý hoặc thể chất, thậm chí trừ diệt người hay nhóm khác Xâm kích là hình thức phản ứng đáp lại trạng thái bất tiện về phương diện tâm lý và thể chất, căng thẳng thần kinh và tâm trạng thất vọng.[3]
Như vậy, bản chất của từ “aggression” được dịch ra tiếng Việt có thể dưới nhiều dạng khác nhau: gây hấn, xâm kích, hung tính, hung hăng Tuy nhiên những từ này có thể dùng thay thể lẫn nhau, đều chỉ đến hành vi có xu hướng gây tổn thương cho người khác Mặc dù giữa hai khái niệm “hung tính” và “gây hấn” có sự khác biệt cơ bản Hàng loạt các tác giả (P.U Bender, L Berkowitz, R Beron) cho rằng, khái niệm gây hấn là một dạng đặc biệt của hành vi, còn hung tính là đặc điểm tâm lý trong cấu trúc của nhân cách Gây hấn được xem xét như một quá trình có tổ chức, thực hiện chức năng đặc trưng, còn hung tính được hiểu như một thành phần của hệ thống phức tạp, là một phần của hệ thống con người Trong vấn đề nghiên cứu của mình, chúng tôi thống
Trang 15nhất dùng khái niệm “hung tính” nhằm thể hiện rõ bản chất và nội hàm của khái niệm gốc
Trong từ điển Tiếng Việt chữ “hung” có nghĩa là sẵn sàng có những hành động thô bạo, dữ tợn mà không tự kiềm chế nổi Nó là nguồn gốc của các từ như: hung ác, hung bạo, hung dữ, hung hăng, hung hãn…Cơn hung dữ “là tổng thể cảm xúc có thể làm nảy sinh một hành vi gây hấn”; sự thù địch “liên quan nhiều đến yếu tố thái độ của tính gây hấn” Như vậy, hung tính được xem là một phần nhân cách của con người “
có thói quen sử xự theo một cách gây gỗ mang tính tấn công” (Bloch, 2007).[8]
Có hàng loạt các tác giả khác nhau đưa ra định nghĩa về hung tính L.Bender cho rằng: hung tính là khuynh hướng tiến tới đối tượng hoặc rời xa đối tượng H.Delgado cho rằng, tính hung tính của loài người có phản ứng hành vi được biểu hiện thông qua sức mạnh của sự nỗ lực mang lại sự đau khổ và gây thiệt hại cho cá nhân và cho xã hội A Bace xem xét hung tính như một phản ứng mà kết quả của nó là những tác động đau đớn
Phân tâm học đưa ra cách tiếp cận đầy đủ nhất về hụng tính: Hung tính là một hiện tượng rối nhiễu dưới dạng “một xung năng tấn công” (1908), dưới dạng “xung năng chết” (1920) Như vậy các nhà phân tâm học cho rằng: “ hung tính là một phản ứng xung năng, có thể mang tính sơ cấp, hướng ra thế giới bên ngoài của bộ máy tâm trí và đối đầu với những trở ngại; đó cũng là một phản ứng do những đối lập, những trở ngại gây ra cho các nguyên tắc khoái cảm” ( Bourdin, 2007, Tr 109-110) Hung tính trong
lý thuyết của Freud được xem như sản sinh từ xung năng chết: “ nó nhằm làm hại đối tượng theo một cách thức riêng, có thể là phá hủy đối tượng ấy, đặc biệt là làm cho đối tượng bị tổn thương” ( Berclaz, 2001 Tr 20”)
Trong triển vọng phân tâm học, hung tính vốn không đồng nghĩa với sự hung bạo
có thể được thể hiện bằng nhiều hành vi ứng xử khác nhau Theo Bergeret: “ Hung tính tương thích với sự hằn thù, tính ác dâm, và không chỉ tạo ra một nhu cầu phòng vệ bẩm sinh, một bản năng giản đơn Hung tính là kết quả của một thành tố trong hai bản năng gốc của con người, đó là sự hung bạo bẩm sinh và xung năng khoái cảm tính dục” ( Bergeret, 2001, tr.132)
Chúng tôi dùng định nghĩa của T.S Nguyễn Thị Trâm Anh, hung tính được hiểu đó:
“là một phần của phẩm chất tâm lý của con người dưới sự tác động của nhiều nguyên
nhân dẫn tới nhận thức và xúc cảm âm tính, được biểu hiện ra ngoài bằng các hành vi
Trang 16tấn công hoặc gây tổn thương cho người khác và cho bản thân” Và “ Hành vi hung tính là những tác động của trạng thái cơ thể được thể hiện qua hành vi đó là sự tấn công người khác hay lời nói mang tính đe dọa, chỉ trích, vu khống trong mối quan hệ giữa người và người”
c Khái niệm hành vi hung tính của học sinh tiểu học
Đã có nhiều khái niệm về hành vi hung tính ở trẻ tiểu học của các nhà nghiên cứu
và theo chúng tôi: “ Hành vi hung tính của trẻ tiểu học là một dạng hành vi khi trẻ
chuyển từ trạng thái bình thường sang trạng thái cáu giận, bực tức với tần suất vài lần trong ngày hay trong tuần được biểu hiện ra bên ngoài bằng ngôn ngữ hoặc bằng hành động”
Trạng thái cáu giận, bực tức được biểu hiện ra bên ngoài như mặt đỏ bừng, hơi thở
mạnh, nhíu mày…Quá trình xung lực mạnh tạo ra sự mất cân bằng khiến cho đứa trẻ không làm chủ được hành vi của mình, gây bực tức cho người khác, đánh vào đồ vật: bàn ghế, vật nuôi…
1.2.3 ặc điểm và phân loại hành vi hung tính của học sinh tiểu học
a ặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
Học sinh lứa tuổi tiểu học – là giai đoạn phát triển tương ứng với thời kì học tập đầu tiên của trẻ tại trường học Quy định về độ tuổi tiểu học ở các nước khác nhau có
sự khác biệt và tùy theo điều kiện lịch sử của xã hội Sau năm 1943, độ tuổi tiểu học giảm xuống từ 8 xuống 7, còn từ năm 1984 giảm xuống là 6 Như vậy độ tuổi tiểu học nằm trong khoảng dao động từ 6 – 7 tuổi cho đến 10 – 11 tuổi
Học sinh tiểu học là trẻ ở độ tuổi từ 6 – 10 tuổi, đang theo học chương trình tiểu học
từ lớp 1 – lớp 5 tại các trường tiểu học trong hệ thống giáo dục Việt Nam Học sinh tiểu học có những đặc điểm đặc trưng sau:
ặc điểm về thể chất
Sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học có những đặc điểm sau: về thể lực
của các em phát triển tương đối êm ả đồng đều Chiều cao mỗi năm chỉ tăng thêm trên dưới 4cm, trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Bộ xương đang ở giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn Vì thế, cần quan tâm đến thế đi, đứng ngồi chạy nhảy của các em , đề phòng cong vẹo gù xương trẻ em Tránh để các em mang vật quá nặng , tránh các em viết lâu làm những việc quá tỷ mỉ gây mệt mỏi cho các em
Trang 17Hệ thần kinh của học sinh tiểu học đang thời kỳ phát triển mạnh Bộ óc của các
em phát triển về khối lượng , trọng lượng, và cấu tạo Đến 9,10 tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ được giữ lại trong suốt đời người Khả năng kiềm hãm của hệ thần kinh còn yếu Trong khi đó bộ óc và hệ thần kinh của các em đang phát triển đi dần đến hoàn thiện nên các em dễ bi kích thích
Tim của học sinh tiểu đập nhanh (85 đến 90 lần/phút) mạch máu tương đối mở rộng áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh, vì vậy cần tránh cho các
em những xúc động mạnh, tiêu cực làm ảnh hưởng hoạt động của tim, quát mắng nạt
nộ trẻ em , để trẻ viết dựa ngực vào bàn, đội mũ chật, vừa ăn no ngủ ngay gây ảnh hưởng hoạt động của tim [6]
ặc điểm của quá trình nhận thức
Đặc điểm của quá trình nhận thức cũng có nhiều thay đổi quan trọng trong giai đoạn
của lứa tuổi này Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết,
mang tính không chủ động, do vậy trẻ ở độ tuổi này phân biệt đối tượng còn chưa
chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Chú ý của học sinh tiểu học đã có sự
khác biệt so với độ tuổi mẫu giáo là sự phát triển vượt bậc của chú ý không chủ định
và có chủ định, tuy nhiên chú ý có chủ định còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh, đòi hỏi phải có động cơ gần ( đặc biệt ở trẻ em giai đoạn đầu
tiểu học) Trí nhớ của học sinh tiểu học cũng có sự khác biệt về sự phát triển và bền
vững Các em nhớ và giữ gìn chính xác những hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Trí nhớ trực quan hình ảnh phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ - logic Học sinh lớp 1, lớp 2 có xu hướng ghi nhớ máy móc và nhiều học sinh còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ
logic và ghi nhớ có điểm tựa…Quá trình tưởng tượng ở học sinh tiểu học là một trong
những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển
và phong phú hơn so với trẻ em chưa đến trường, tuy nhiên tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tượng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng về những năm cuối bậc, tưởng tượng của các em có chiều hướng phát
triển hơn Quá trình tư duy của học sinh bậc tiểu học mang đậm đặc điểm cụ thể, mang
tính hình thức dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Nhà tâm lý học nổi tiếng J.Piagiê cho rằng tư duy của trẻ từ 7-10 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn thao tác cụ thể, trên cơ sở đó có thể diễn ra quá trình hệ thống hóa các thuộc
Trang 18tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan Tư duy của học sinh tiểu học chưa thoát khỏi tính cụ thể, khi khái quát hóa, học sinh tiểu học (lớp 1 và lớp 2) thường quan tâm dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối, mà có ý nghĩa tương đối Trong quá trình học tập tuy duy của các em phát triển lên rất nhiều Sự phát triển của tư duy dẫn đến tổ chức lại một cách căn bản quá trình nhận thức, biến chúng tiến hành một cách có chủ định Khi trẻ bắt đầu đến trường thì chức năng trí tuệ còn tương đối yếu so với chức năng cảm giác, trí nhớ Nhưng trí tuệ sẽ được phát triển đến mức mà cả tri giác trí nhớ không tài nào thực hiện được.[6]
Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học
Nét tính cách của trẻ đang dần được hoàn thiện, đặc biệt là trong môi trường nhà
trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhác, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn…Sau 5 năm học, tính cách học đường mới dần ổn định và bền vững ở trẻ
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học snh tiểu học mang những đặc điểm
sau đây: nhân cách của các em còn mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình
phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, những ý nghĩ của mình một cách vô tư hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng nhân cách của các em còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực tố chất của các em chưa bộc lộ một cách rõ rệt, nếu có được những tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển, và đặc biệt nhân cách của các
em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không phải một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặc, vì thế nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của mình
Hiểu được điều này cha mẹ và giáo viên không được “chụp mũ” nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng dẫn trẻ đến những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy.[6]
b ặc điểm hành vi hung tính của học sinh tiểu học
Hành vi hung tính của trẻ được biểu hiện ở các đặc điểm: thường đánh mất sự kiểm soát bản thân, hay cãi cọ, chửi mắng, trêu chọc súc vật, làm hỏng đồ chơi, không nghĩ đến hậu quả của hành vi, không đánh giá hết sự thù địch của bản thân, trong các vấn đề của mình đổ lỗi cho người khác và cho hoàn cảnh, biểu hiện các xúc cảm của mình
Trang 19bằng các hành động mà không phải bằng lời, sự đau khổ của người khác không làm trẻ
lo lắng, gây hấn trả đũa, trẻ thường giao tiếp với trẻ có thể chất yếu hơn
Hành vi hung tính là.những hành vi tấn công, xâm kích người khác một cách chủ ý, nghiêm trọng, thô bạo với tần suất cao (thường xuyên) Thực sự, hung tính là khuôn mẫu hành vi kéo dài, ổn định, thường xuyên, mạnh mẽ
Hầu hết trong mỗi nhóm trẻ đều có thể gặp phải một trẻ có dấu hiệu hung tính Nó hung hăng với tất cả, cố tình sử dụng ngôn ngữ công kích Với đứa trẻ quậy phá, hung hăng khó có thể chấp nhận nó như những gì bản thân nó có, để hiểu nó còn khó hơn nhiều Tuy nhiên trẻ có biểu hiện hung tính cũng như bất kì đứa trẻ nào khác đều có nhu cầu yêu thương và được tôn trọng, cần đến sự giúp đỡ của người lớn bởi đặc điểm hung tính của trẻ trước hết phản ánh nội dung đời sống tâm hồn của trẻ đầy bất an, thiếu kỹ năng phản ứng trước những sự kiện diễn ra xung quanh trẻ
Trẻ hung tính thường nghi ngờ và cảnh giác, thích đỗ lỗi cho tình huống kích động hoặc cuộc tranh cãi với người khác Khi hung tính trẻ thường không tự đánh giá hành vi của mình và không nhận ra hành vi đó đem lại sự sợ hãi và lo âu cho người khác Mà ngược lại, chúng cho rằng cả thế giới muốn làm chúng tổn thương Như vậy, một vòng luẩn quẩn hình thành: trẻ hung tính sợ và ghét người khác, còn những người khác thì lại sợ chúng
Theo DSM IV thì hành vi hung tính có thể khởi phát từ 5-6 tuổi nhưng thường ở cuối tuổi trẻ em hay đầu tuổi thanh thiếu niên Khởi phát ít gặp sau 16 tuổi Hung tính
sẽ giảm đi khi trẻ vào tuổi người lớn nhưng có một tỷ lệ nhất định tiếp tục kéo dài hành vi này
Sau đây là mô hình 4 thành phần của hung tính:
Các sự kiện nảy sinh: sự giận dữ có thể nảy sinh dưới tác động của những kích
thích gây cảm giác khó chịu như sự đau đớm, nhiệt độ cao, tiếng ồn và những kích thích thị giác ghê sợ, gây phẫn nộ
Qúa trình nhận thức: Mô hình nhận thức xã hội của hành vi hung tính cho rằng,
những đứa trẻ hung tính là những trẻ có khó khăn trong việc mã hóa các tín hiệu xã hội, phân tích giải thích chính xác các sự kiện xã hội, đưa ra các một loạt giải pháp thích ứng đối với vấn đề mà chúng nhận biết, quyết định xem xét giải pháp nào là có hiệu quả trong các chiến lược đã lựa chọn
Trang 20Trẻ có khó khăn thì thường nhận biết sai lệch và thiếu hụt ở mỗi bước quá trình trên từ nhận biết các quá trình xã hội, lựa chọn các giải pháp đối với những tình hình
khó khăn đến những kết quả mong đợi và tự nhận thức,
Những phản ứng sinh lý: những đứa trẻ hung tính thể hiện kỹ năng nhận thức bị
suy giảm sau khi nghe một lời đe dọa, bị tẩy chay, bài xích của nhóm bạn cùng tuổi hoặc của những người khác
Những phản ứng hành vi: phản ứng hành vi bao gồm cả bạo lực, có thể diễn ra
khi thể hiện sự giận dữ Những hành vi thô bạo có thể là sản phẩm của sự tương tác giữa cá nhân ở nơi mà những kỹ năng xã hội bị thiếu hụt
Dưới góc độ đề tài nghiên cứu, chúng tôi cho rằng cần xem xét hành vi hung tính ở học sinh tiểu học là một biểu hiện trong giai đoạn phát triển lứa tuổi còn đang hoàn thiện về mặt nhân cách, thể hiện đặc điểm tâm lý của trẻ ở mức độ chấp nhận được hơn là bệnh lý
c Phân loại hành vi hung tính
Phân loại hành vi hung tính ở trẻ em có thể có nhiều dạng khác nhau được mô tả
ở bảng sau:
Bảng1.1.3 Phân loại các dạng hành vi hung tính
1
Phân loại theo hướng lên đối tượng
Dị hung tính – Hướng đến
xung quanh: giết người, cưỡng dâm, mang đến trận đòn roi, đe dọa, sỉ nhục
Tự hung tính –
hướng đến bản thân: tự hủy hoại bản thân, tự tử
2
Phân loại theo nguyên nhân biểu hiện
ung tính phản ứng (phản
ứng lại với tác nhân gây kích thích: cãi cọ, xung đột )
ung tính tự phát (hành vi
xuất hiện không
rõ nguyên nhân, thường dưới sự ảnh hưởng của xung lực bên trong như các xúc cảm tiêu cực, rối
loạn tâm lý )
Trang 213
Phân loại theo
xu hướng hành động
ung tính mang tính công cụ
- Phương tiện để đạt được kết quả
Hung tính mang tính mục đích
(động cơ) – có ý định, dự định, hành vi mang tính chất cố ý
biểu hiện mở
ung tính trực tiếp – hướng
đến đối tượng trực tiếp gây nên
sự giận dữ, lo âu và kích động
Hung tính gián tiếp – hướng đến
đối tượng không trực tiếp gây nên
sự giận dữ, nhưng thuận tiện cho việc thể hiện
dạng biểu hiện
Hung tính ngôn ngữ -
biểu hiện qua dạng lời nói như mắng nhiếc, sỉ nhục
Hung tính biểu cảm –
biểu hiện qua dạng phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt
ung tính thể chất – Sử dụng
sức mạnh cơ bắp một cách trực tiếp
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện hành vi hung tính ở học sinh tiểu học
a Yếu tố sinh học
- Ảnh hưởng của hệ thần kinh: Các nhà khoa học nghiên cứu về cấu trúc và cơ
chế hoạt động của hệ thấn kinh đã chỉ ra trung khu điều phối các xúc cảm hung tính,
đó là vùng hạch hạnh nhân (amygdala), khi vùng này bị kích thích làm cho hưng phấn hoặc ức chế, những hành vi hay thái độ mang tính hung tính xuất hiện nằm ngoài ý thức chủ quan của chủ thể Một số khác biệt khác của cấu trúc não cũng có khả năng gây ra khuynh hướng hung tính Tính cách riêng nhất của mỗi cá nhân còn chịu sự chi phối của hệ thần kinh đặc biệt là hệ thần kinh giao cảm
Trang 22- Ảnh hưởng của gen: : Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ rằng hành vi bạo lực của
con người chịu sự điều khiển của một gen ( hoặc nhóm gen nào đó) Những người mang gen này có xu hướng dễ bùng phát hành vi bạo lực hơn những người khác khi
bị kích thích Tuy nhiên các nhà khoa học chưa xác định chính xác được loại gen nào Trong nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại Học Florida đã chỉ ra rằng những người ưa thích bạo lực đều sở hữu một biến thể của gen MAOMA, gen này làm tăng hoặc giảm nồng độ của nhiều chất dẫn truyền thần kinh như dopamine hay serotonin, dẫn tới sự thay đổi tâm trạng và hành vi Yếu tố sinh học có những ảnh hưởng đến sự phát triển mẫu hành vi hung tính Vậy thì hung tính có nguồn gốc di truyền không? Những nghiên cứu gần đây cho rằng di truyền rõ ràng đóng một vai trò trong sự xuất hiện những khác biệt cá nhân về hành vi hung tính Những đứa trẻ sinh đôi đồng hợp
tử có hung tính hơn những đứa trẻ sinh đôi dị hợp tử.[4]
- Ảnh hưởng của hoocmon: Những bằng chứng gần đây cho thấy những đứa
trẻ có khó khăn như dễ gắt gõng, dễ cáu kỉnh, khó trấn tỉnh thì dễ phát triển khuôn mẫu hành vi hung tính ở lứa tuổi sau này Những đứa trẻ được xem xét là khó khăn ở 6-13-24 tháng tuổi sẽ có tỷ lệ lo hãi, háu động và thù ghét nhiều hơn khi chúng lên 3 tuổi Vậy vấn đề đặt ra là sự tác động của nhân tố sinh học có kết thúc ở giai đoạn trẻ thơ không? Những nghiên cứu cho thấy tác động của nhân tố sinh học còn tồn tại cho tới tuổi vị thành niên Trong một nghiên cứu đối với những đứa trẻ trên 15-17 tuổi ở Thụy Điển đã phát hiện thấy mối liên hệ giữa hàm lượng hoocmôn Testosterone và hung tính Những đứa trẻ có hàm lượng Testosterone cao thì dễ có khả năng phản ứng hung hãn thô bạo đối với những sự khiêu kích và đe dọa của người khác Trong
trường hợp này thì Testosterone có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi hung tính
Những đứa trẻ có hàm lượng Testosterone cao thì thường kém kiên nhẫn hay gắt gõng, cáu kỉnh, sẵn sàng tham gia các loại hung tính hủy hoại mà không phải do khiêu kích, không do kích động (như bắt đầu đánh nhau, nói những lời tục tĩu, xấu xa
mà không phải do kích động, khiêu khích) Trong trường hợp này hoocmôn có tác động gián tiếp đến mức độ hung tính
Ảnh hưởng của hoocmôn không chỉ đối với trẻ trai mà còn đối với cả trẻ gái Trong một nghiên cứu khác về tác động của hoocmôn cho thấy lượng hoocmôn tăng lên ở tuổi dậy thì có liên quan tích cực đến sự thể hiện giận dữ và hung tính khi trẻ em gái ở tuổi vị thành niên tương tác, giao tiếp với bố mẹ
Trang 23Những phát hiện này không cón nghĩa rằng những nhân tố sinh học như hoocmôn đóng vai trò độc lập với môi trường xã hội mà ở một số thời điểm trong quá trình phát triển như tuổi vị thành niên thì hoocmôn có ảnh hưởng rõ hơn, dưới tác động của một vài điều kiện như tình huống đe dọa và khiêu khích.[4]
- Ảnh hưởng của khí chất: Trẻ khó khăn về khí chất (không cân bằng, hưng phấn
mạnh hơn ức chế) thì có cơ hội phát triển các vấn đề hành vi hơn những trẻ có khí chất dễ dàng Sự xung đột giữa khí chất của trẻ và bố mẹ đôi khi là nền tảng của hung tính nghiêm trọng và kéo dài Tuy nhiên, một số gia đình lại thành công trong việc nuôi dạy trẻ có khí chất khó khăn.[4]
b Yếu tố môi trường
Những cụm từ như: nóng giận, nóng bừng bừng, điên sôi máu cho thấy có thể có mối liên hệ giữa nhiệt độ và hung tính của con người Trong thực tế, nhiều người cho biết họ thường cảm thấy cáu kỉnh vào những ngày nóng và có độ ẩm cao
Quan sát trên loài vật cho thấy khi thời tiết quá nóng chúng thường cảm thấy khó chịu, chúng có xu hướng tấn công các loài vật khác hoặc bất kỳ đồ vật nào trong tầm mắt Tương tự như vậy, với các dạng khó chịu khác mà cơ thể người phải chịu đựng như nóng nực, ẩm ướt, không khí ô nhiễm, mùi khó chịu Có thể làm gia tăng tính hung tính của con người
Như vậy trời còn nóng hoặc quá lạnh khiến con người cảm giác khó chịu thì tỷ lệ gây gỗ, cãi vã, bạo lực càng tăng Nếu sự khó chịu này kéo dài khiến hành vi hung tính thường xuyên được củng cố, nó sẽ làm cho hành động của họ có xu hướng tấn công nhiều hơn và trở thành một nét tính cách trong con người của họ Và cách hành xử này
sẽ được áp dụng mọi lúc mọi nơi kể cả khi họ không còn sự khó chịu nữa
c Yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
- Ảnh hưởng của kinh tế, chính trị: Các giai đoạn thoái trào kinh tế dẫn đến đói
nghèo cũng dẫn đến hành vi hung tính ở con người Các lý thuyết hung tính đã lý giải hợp lý rằng, khi con người thất vọng ở bản thân hoặc rơi vào tình trạng đói nghèo, vô phương hướng, họ dễ dàng có xu hướng tấn công người khác đề giải thoát chính
những xúc cảm tiêu cực trong họ
- Ảnh hưởng của các chất kích thích: Chất kích thích bao gồm rượu, ma túy…có
ảnh hưởng lớn đến hành vi hung tính ở con người Các chất này có thể làm giảm khả năng kiềm chế, gây hưng phấn, biến cá nhân thành con người thiếu kiểm soát, có hành
Trang 24vi hung hăng, bất cần Nhiều nghiên cứu cho thấy, các bà mẹ thường xuyên dùng rượu
hoặc sử dụng ma túy khi mang thai sẽ thúc đẩy những trận cãi vã, hung tính thường xuyênQuan sát đời sống xung quanh có thể nhận thấy rằng rượu và các chất kích thích
có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi hung tính của con người.[4]
- Ảnh hưởng của phương tiện truyền thông:
Sách báo, tranh ảnh khiêu dâm và hành vi hung tính:
Việc thường xuyên xem các sách báo, tranh ảnh khiêu dâm liên quan đến bạo lực , làm
“chai sạn” nhận thức và cảm xúc của người xem
Ti vi với hình ảnh bạo lực:
Một nghiên cứu của Huston và cộng sự (1992) cho thấy kết thúc tiểu học, tính trung bình ở Mỹ trẻ em xem khoảng 8000 chương trình ti vi liên quan đến giết người và khoảng 100000 chương trình có bạo lực Từ đây trẻ nhập tâm những hành động trong phim ảnh, bắt chước những hành động đó vào trong thực tiễn,hành vi hung tính cũng ngày càng tăng
Video game và hung tính:
Không chỉ xem ti vi có ảnh hưởng đến hành vi hung tính mà các trò chơi điện tử cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi hung tính ở trẻ.[4]
- Ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội:
Nguyên nhân xuất hiện hành vi hung tính của trẻ tiểu học được nhiều tác giả cho rằng do: đặc điểm giáo dục gia đình ( bị xa lánh, bạo lực gia đình, cha mẹ có hành vi hung tính với mọi người xung quanh), stress, các đặc điểm cá nhân của trẻ, sự bất ổn của các nhu cầu thiết yếu (nhu cầu di chuyển, nhu cầu tự lập và nhu cầu giao tiếp với bạn bè đồng trang lứa)…
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến biểu hiện hành vi hung tính, theo chúng tôi có thể xét theo tính chất mối quan hệ xã hội của trẻ Theo L.X Vưgotxki, ở lứa tuổi tiểu học diễn
ra sự kiến thiết lại các mối quan hệ của trẻ với người khác Hành vi cá nhân sẽ được sản sinh ra trong khuôn khổ của đời sống tập thể Do vậy đối với trẻ tiểu học hoạt động học tập với một sức mạnh mới là tạo nên mối quan hệ của trẻ với người lớn, với bạn đồng trang lứa và bạn cùng lớp Như vậy có hai hệ thống các mối quan hệ cơ bản có sự tác động qua lại lẫn nhau: mối quan hệ “trẻ - người lớn”; “trẻ - trẻ”
Trang 25Trong hệ thống mối quan hệ “ trẻ - người lớn” có các mối quan hệ như “trẻ - cha mẹ”; “trẻ - giáo viên” Mối quan hệ “trẻ - giáo viên” là mối quan hệ mới đưa trẻ đến một cấp độ với các yêu cầu xã hội mới cho hành vi của trẻ Đôi khi, nguyên nhân của hành vi hung tính ở trẻ tiểu học có thể từ sự ảnh hưởng của giáo viên Giáo viên có thể
là “mẫu” hành vi hung tính đối với trẻ Từ đây có thể thấy rằng, thầy giáo là hình tượng đối với trẻ, có ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý của trẻ
Trong mối quan hệ “trẻ - cha mẹ” được nhiều nghiên cứu tâm lý học giáo dục cho thấy, nguyên nhân hành vi hung tính của trẻ em thường xuất hiện nhiều nhất là từ gia đình Nếu như tuổi thơ của trẻ gắn liền với hành vi hung tính của cha mẹ trong các tình huống cuộc sống thường ngày ( tiếng la hét, chửi mắng, sự xúc phạm, sĩ nhục…), trẻ sống trong hoàn cảnh không được chấp nhận, không có tình yêu…và kết quả là ở trẻ với bản năng tự vệ luôn nhạy cảm với các mối quan hệ , có phản ứng mạnh và thù địch với thế giới xung quanh Trẻ thường bắt đầu có biểu hiện hung tính hơn do hằng ngày trẻ quan sát và chứng kiến ở người lớn của mình, và hung tính ngày càng trở nên là chuẩn mực cuộc sống của trẻ do được “dạy bảo” và bắt chước
Trong mối quan hệ “trẻ - trẻ”, có các mối quan hệ giữa trẻ cùng lớp, cùng nơi ở, cùng trang lứa…Trẻ em lứa tuổi tiểu học thường thu nhận tất cả những biến động của các mối quan hệ với bạn cùng trang lứa, do vậy trong các hoạt động học tập, giao tiếp trẻ đụng chạm với văn hóa ngôn ngữ, xúc cảm, ý chí, tình cảm của nhân cách khác nhau Sự va chạm giữa các trẻ nảy sinh các dạng biểu cảm cũng như các hành vi đi kèm theo các biểu cảm đó Trong đó có cả hành vi hung tính, nếu không có sự quan tâm, hướng dẫn giáo dục một cách đúng đắn từ phía gia đình và nhà trường có thể dẫn đến sự hình thành ở trẻ như một nét tính cách ở các tuổi lớn hơn.[1]
Các nguyên nhân nêu trên có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành hành vi hung tính ở trẻ Tuy nhiên đó cũng không phải là lí do chính yếu mà còn phụ thuộc vào nhiều đặc điểm sinh học , đặc điểm tâm lý và lứa tuổi của học sinh Ví dụ, học sinh lứa tuổi tiểu học rất dễ kích động, có xu hướng bùng nổ xúc cảm không có nguyên nhân, tức giận, vị kỷ (xem mình là trung tâm), bướng bỉnh
d Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý
Nhận thức và xúc cảm liên quan đến hành vi hung tính: ở loài người, sự xuất hiện
của hình thức tư duy trí tuệ tạo ra nhiều hình thái tấn công đa dạng liên quan đến hung tính đặc biệt là hình thức hung tính tinh thần
Trang 26Hung tính do bị sỉ nhục, bị tấn công: Bị tấn công hoặc bị sĩ nhục bởi người khác là
một con đường đặc biệt dẫn đến hung tính Có thể nói, việc bị tấn công hay bị lăng mạ luôn mang đến những ảnh hưởng tiêu cực và sự báo thù với lí do khiêu khích luôn là
nguồn chủ yếu của hành vi hung tính
Hung tính do đau đớn và khó chịu: Sự đau đớn và khó chịu cũng có tác động kích
thích nâng cao trạng thái hung tính Nếu sự khó chịu này kéo dài, hành vi hung tính thường xuyên được củng cố, nó trở thành một nét nhân cách của con người
Sự hiếu chiến và chống đối luôn liên quan đến sự hận thù, mong muốn làm tổn
thương ai đó
Sự khiếu khích là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi hung tính, đặc biệt là khiêu
khích bằng ngôn ngữ và các hành vi bạo lực
1.3 Chẩn đoán hành vi hung tính qua phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ
1.3.1 Chẩn đoán tâm lý và các phương pháp chẩn đoán tâm lý
a Chẩn đoán tâm lý
Khái niệm
Chẩn đoán tâm lý là một trong những công việc quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định nhất đối với thành công của một nhà nghiên cứu, chuyên gia tâm lý, chuyên gia giáo dục trong công việc với đối tượng mà họ phục vụ Chẩn đoán tâm lý không chỉ là một trong những công đoạn của quy trình làm việc với con người nhằm mục đích xác định mức độ phát triển của phẩm chất tâm lý, dấu hiệu của rối loạn tâm lý mà nó còn
là một ngành khoa học riêng, có tốc độ phát triển vào loại nhanh nhất ( M.K.Akimova, B.G Ananev, H.J Eysenck, S.L Rubinstein…)
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chẩn đoán tâm lý
- Theo tác giả S.Rosenzweig cho rằng: “chẩn đoán tâm lý phải được gắn với một sự rối loạn nào đó” Quan điểm này đã làm thu hẹp khái niệm chẩn đoán tâm lý
- Một khái niệm khác cho rằng: “ Chẩn đoán tâm lý bao gồm việc thu thập tất cả những tài liệu có thể có được trong thực tế, việc quan sát, giải thích các kết quả trắc nghiệm khác nhau, sau đó kết luận và cuối cùng là dự đoán” Quan điểm này đã quá
mở rộng khái niệm chẩn đoán tâm lý
- Quan điểm của các nhà tâm lý học Ba Lan có một ý nghĩa nhất định đối với việc xây dựng lý luận chẩn đoán Họ cho rằng: “ chẩn đoán tâm lý là kết quả cuối cùng của
Trang 27một hoạt động xác định của các nhà tâm lý học, nhằm đồng nhất hóa và vạch ra những biến đổi tâm lý ở cá nhân” (B.M.Blâykhe và L.Ph.Burolachuc, 1978) Quan điểm này
đã nói lên được khái niệm đúng nhất về chẩn đoán tâm lý.[9]
iều kiện chung của mọi sự chẩn đoán tâm lý là:
- Sự chẩn đoán tâm lý phải vạch ra được cái đặc trưng đặc biệt theo quan điểm của vấn đề được đặt ra về các phẩm chất của một người nào đó trên cái nền của các thuộc tính khác, được sắp xếp theo một sơ đồ thống nhất
- Mọi sự chẩn đoán không được giới hạn ở việc xác nhận cái hiện có, mà phải bao gồm cả sự dự đoán nữa
- Sự chẩn đoán tâm lý phải được trình bày bằng những khái niệm giải thích, được dựa trên tài liệu mô tả, nói lên được hành vi của con người.[9]
b Các phương pháp chẩn đoán tâm lý
Phương pháp quan sát
- Quan sát là phương pháp thu thập những dữ kiện dựa trên cơ sở tri giác trực tiếp
đối tượng nghiên cứu (nhìn, nghe)
- Các hình thức quan sát:
+ Có chủ thể nghiên cứu tham gia: hình thức quan sát này có ưu điểm là nhà
nghiên cứu chủ dộng để có thể dẫn dắt được các hiện tượng ta cần nghiên cứu, làm cho
nó bộc lộ rõ hơn Nhưng có nhược điểm là khó khăn đối với người nghiên cứu có ít kinh nghiệm vì phải cùng chơi với trẻ mà phải cùng quan sát
+ Không có chủ thể nghiên cứu tham gia, nghĩa là chủ thể đứng ở bên ngoài quan sát: hình thức này có ưu điểm là bảo đảm tính khách quan nhưng nhược điểm là nhà nghiên cứu thụ động, chờ sự xuất hiện của các hiện tượng nghiên cứu
+ Ngoài ra còn có quan sát kiểm chứng nghĩa là có người quan sát đi thì có người quan sát lại
- Yêu cầu: Cần xây dựng biên bản quan sát, biên bản quan sát phải được thiết kế sao cho nhà nghiên cứu có thể chủ động ghi nhận được những hiện tượng cần quan sát được.[9]
Phương pháp phóng ngoại (phóng chiếu)
- Phóng ngoại trong tiếng Việt là một khái niệm khơi gợi nhiều thú vị, nhất là khi khái niệm này có mối quan hệ với tâm lý học Tâm lý học hiện đại xem phóng ngoại
Trang 28như là một cơ chế phòng vệ của tâm thức, giúp cho cái tôi và những xung năng có liên quan tìm được một lối thoát chấp nhận được khi hằng ngày phải đối diện với những thử thách đôi khi nghiệt ngã đến từ xã hội, văn hóa, đạo đức
- Đặc điểm riêng của phương pháp phóng ngoại:
+ Tính không xác định của tài liệu kích thích hoặc của lời chỉ dẫn nhiệm vụ, nhờ
đó mà nghiệm thể được tương đối tự do trong việc lựa chọn câu trả lời hay chiến thuật hành vi
+ Hoạt động của nghiệm thể diễn ra trong không khí thân mật và trong hoàn cảnh hoàn toàn không có thái độ đánh giá của nghiệm viên.Yếu tố này cũng như cả yếu tố nghiệm thể thường không biết rằng cái gì trong các câu trả lời của mình có giá trị chẩn đoán, sẽ dẫn đến sự phóng ngoại tối đa của nhân cách, không bị giới hạn bởi những quy phạm và sự đánh giá của xã hội
+ Các phương pháp phóng ngoại không phải đo chức năng tâm lý này hay chức năng tâm lý kia mà là đo cái cung cách, chuẩn mực quan hệ qua lại với môi trường xã hội xung quanh của nhân cách.[9]
- Các phương pháp phóng ngoại:
+ Các phương pháp cấu trúc hóa ( đưa ra tài liệu không được dàn dựng, nghiệm thể phải cho nó một ý nghĩa chủ quan): gồm các trắc nghiệm Rorschach, trắc nghiệm các đám mây, trắc nghiệm phóng ngoại 3 chiều
+ Các phương pháp thiết kế ( xây dựng và giải thích cái toàn bộ từ những chi tiết
có dàn dựng) : MAPS, trắc nghiệm thế giới và cả biến thể đa dạng của nó…
+ Các phương pháp giải thích: TAT, trắc nghiệm Rosen – Zweig…
+ Các phương pháp bổ sung: các câu chưa hết, các câu bỏ lửng, trắc nghiệm liên tưởng của Jung…
+Các phương pháp thanh lọc:kịch tâm lý, trò chơi tâm lý
+ Các phương pháp nghiên cứu sự biểu cảm : phân tích nét chữ, những đặc điểm giao tiếp bằng ngôn ngữ…
+ Các phương pháp nghiên cứu sản phẩm sáng tạo: trắc nghiệm vẽ hình người, trắc nghiệm vẽ cây cối, trắc nghiệm vẽ gia đình…
Các phương pháp phóng ngoại cụ thể:
- Trắc nghiệm tổng giác chủ đề ( TAT):
Trang 29+ Cấu trúc: TAT gồm 29 tấm tranh với những hình ảnh xác định, mỗi tấm tranh đều có thể được giải thích khác nhau và được phân chia ra những tấm tranh khiêu gợi
sự trầm uất và thô cuồn( tấm số 3, 14, 15), sự gây hấn (12), những xung đột tình dục
và gia đình ( tấm 4 và 6)…Có một số tấm được chia ra cho cả nam và nữ nghiệm thể,
có một số tấm lại chỉ đưa chon am hoặc nữ nghiệm thể, cũng có một số tấm dành cho thiếu niên mà thôi.[9]
- Phương pháp những vết mực đen của Rorschach
+ Cấu trúc: Trắc nghiệm Rorschach gồm tất cả 10 vết vực Mỗi vết mực đều có 2
phần đối xứng theo trục thẳng đứng ở chính giữa Mỗi tấm có một sắc thái riêng biệt
Ba tấm cuối cùng là tấm VIII, IX, X có nhiều màu sắc khác nhau Những tấm khác phần lớn là những vết mực đen loang lỗ ( màu đen – trắng) Tấm số II và III có những vết đỏ ( đen – đỏ) Những vết đỏ này không có mục đích kích thích trực tiếp những câu trả lời về màu sắc như trong ba tấm cuối cùng kể trên Sự có mặt của chúng chỉ muốn tạo nên sự khó khăn cho hoàn cảnh thực nghiệm, đặc biệt ở những người nhạy cảm, hay có cơ cấu tinh thần suy yếu, mong manh (trong một số trường hợp, trước những vết mực này bệnh nhân có thái độ sửng sốt, tê liệt, câm nín Những phản ứng như chối từ, tránh né cũng thường xảy ra ở những người có nhân cách nghi kị, sợ sệt người khác)[9]
- Phương pháp chẩn đoán tâm lý bằng tranh vẽ
Có thể sử dụng nhiều loại tranh vẽ để chẩn đoán tâm lý của trẻ như: tranh vẽ con vật không có thật trong tưởng tượng của em, tranh vẽ gia đình, tranh vẽ người
1.3.2 Phương pháp chẩn đoán tâm lý qua tranh vẽ
a Cơ sở lý luận của phương pháp chẩn đoán tâm lý qua tranh vẽ
Tranh vẽ là nguồn thông tin đầy đủ và xác thực nhất về đặc điểm tâm lý trẻ, do tính
tự nhiên và đặc tính xác định các đặc điểm nhân cách theo xu hướng phóng chiếu ( Brem – Graser, 1957; Di Leo, 1973; Oster $ Gould, 1987; Thomas $ Silk, 1990; Freud, 1999; Venger, 2007) Đây là một trong những thế mạnh rất lớn của viêc vẽ tranh so với các phương pháp còn lại trong việc chẩn đoán tâm lý, đặc biệt là tâm lý trẻ có nhu cầu đặc biệt ( Venger, 2007).[11]
Vẽ phóng chiếu là một phương tiện giúp thiết lập mối quan hệ với trẻ trong quá trình đánh giá, can thiệp và trị liệu lâm sàng Theo các nhà tâm lý, tranh vẽ cho thấy phương thức biểu đạt tượng trưng và là khâu “ trung gian giữa trò chơi và lời nói” ở trẻ
Trang 30(Anzieu, 2005, tr1) Những cử chỉ, hành vi, hành động tạo ra bức tranh thuộc vào chính bản thân trẻ và vào chính thời điểm trẻ vẽ, những dấu vết được tạo ra trong tranh chính là cái biểu hiện của sự tồn tại tư duy nội tâm , cách hành động của trẻ cũng như những cơ chế phòng vệ có thể có ( Trần Thu Hương, 2012, tr218) Vẽ tranh là một kỹ thuật giúp khám phá các đặc điểm nhân cách của khách thể thông qua cơ chế phóng chiếu Những cơ chế phóng chiếu được trẻ sử dụng khi vẽ tranh, đó là những cơ chế phòng vệ: cơ chế đồng nhất, phản ứng ngược, thoái lui, phóng nội, phóng ngoại.[11]
Vẽ phóng chiếu không phải là một mà là nhóm các phương pháp bao gồm các kỹ thuật gần nhau: vẽ tự do, vẽ theo chủ đề cho trước, vẽ người, vẽ nhân vật, vẽ gia đình,
vẽ con vật tưởng tượng hoặc vẽ một tình huống nào đó như giờ ra chơi ở trường học Cũng như các phương pháp phóng chiếu khác, cơ sở lý luận của vẽ phóng chiếu là thuyết Phân tâm Luận điểm chính ở đây là thông qua vẽ phóng chiếu, đời sống vô thức bên trong của chủ thể được biểu hiện ra tranh vẽ bằng các cơ chế phóng chiếu ( Widlocher, 2002) Vẽ đặt trẻ vào một tình huống để trẻ thể hiện cảm xúc và trạng thái tâm lý của mình dựa vào những gì đặt ra trước mặt trẻ mà lúc này trẻ không ý thức được là đã nói lên thái độ và trạng thái của mình Đây là kỹ thuật hiệu quả để trẻ bộc
lộ bản thân vì nếu chỉ nói và viết thì trẻ có thể cố ý biến đổi theo hướng nào khác, không bộc lộ ra tâm trạng thực, còn với tranh vẽ thì trẻ rất ít khi làm được điều đó Giống với các trò chơi khác, tranh vẽ cho phép trẻ “tạo lập nên thế giới riêng của nó”, sắp xếp cái thế giới ấy theo ý mình và “đưa vào đó một lượng cảm xúc lớn” ( Freud,
1908, in Trần Thu Hương, 2012) Hay nói cách khác, tranh vẽ giúp trẻ nói lên được điều mà chúng chưa biết nói ra và giúp chúng ta ý thức được cái vô thức của trẻ Test tranh vẽ thường khó có thể làm giả vì thông qua tranh vẽ các xung năng và trải nghiệm vô thức được phóng ra bên ngoài (trên tranh vẽ) thông qua từng nét vẽ, bối cảnh, các chi tiết khác nhau…Thông qua tranh vẽ, nhà tâm lý có thể phát hiện nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau trên cùng một tranh của một đối tượng nhất định Mặt khác, tranh vẽ không gò bó, không cần phải diễn dãi các ước vọng bằng ngôn ngữ, tất
cả đều thể hiện một cách tự nhiên qua từng nét vẽ Chính điều này làm cho tranh vẽ có giá trị rất lớn trong việc chẩn đoán tâm lý
Vẽ tranh là một kỹ thuật bao gồm những chức năng giúp chúng ta khám phá tâm lý của trẻ, chẳng hạn như: chức năng biểu tượng; chức năng hoạt cảnh hóa: trong tranh vẽ trẻ biến sự huyễn tưởng của bản thân thành hoạt cảnh; chức năng giao tiếp: tranh vẽ
Trang 31được xem như một dạng ngôn ngữ không lời, trẻ kể các câu chuyện, mối quan hệ với người khác trên chính bức tranh; chức năng tường thuật trong việc mô tả, kể về một sự vật hiện tượng, trong một bối cảnh nào đó; và chức năng biểu đạt: Trẻ nói điều gì đó
về bản thân thông qua việc lựa chọn những màu sắc, hình dạng, sự lấn chiếm không gian, những xúc cảm, những mối bận tâm của bản thân, những mong ước, sở thích riêng.[11]
Vì là test phóng chiếu nên test tranh vẽ được dùng để định hướng chẩn đoán tiếp chứ không cho một chẩn đoán xác định Nên sử dụng test tranh vẽ với các phương pháp khác như quan sát, phỏng vấn người nuôi dạy trẻ cũng như bản thân đứa trẻ (nếu
có thể) Một số chi tiết đặc điểm trên tranh vẽ có thể có hai, ba ý nghĩa nên điều quan trọng là chuyên gia tâm lý phải lưu ý tần suất xuất hiện của những đặc điểm này cũng như sự kết hợp của những đặc điểm này cũng như các đặc điểm khác để nhận biết vấn
đề của tác giả tranh ( Venger, 2007).[11] Ngoài ra để phân tích một bức tranh của trẻ, cần phải quan sát quá trình trẻ vẽ tranh và những câu chuyện kể được sáng tạo từ chính bức tranh đó Việc phân tích cần chú trọng đến hai khía cạnh nội dung hiển thị trên bức tranh (chủ đề bức tranh, kích thước hình vẽ và mối quan hệ giữa các yếu tố, sự vật, đặc điểm của từng yếu tố, nhân vật – con người, chất lượng của sơ đồ cơ thể, khả năng biểu đạt bản thân trên hình vẽ) và khía cạnh hình thức hiển thị trên bức tranh ( nét vẽ, lực ấn, màu sắc, vị trí không gian của hình trên tờ giấy) ( Fernandez, in Trần Thị Minh Đức, 2009)
b Quy trình chẩn đoán tâm lý qua tranh vẽ
Quy trình chẩn đoán tâm lý qua tranh vẽ gồm có 4 bước sau:
Bước 1: Làm quen với trẻ
- Tạo sự thân mật, gần gũi bằng cách hỏi han như : Con học lớp mấy? Nhà con ở đâu? Ai đưa con đi học?
- Để trẻ khỏi có tâm lý sợ hãi và đề phòng thì nói với trẻ là : “Cô đang cần một số bức tranh nên cô nhờ con đến đây để vẽ Vì vậy con hãy thoải mái vẽ giúp cô, con không có gì phải sợ cả”…
Bước 2: Phát bút chì, giấy A4 và hướng dẫn trẻ vẽ theo chủ đề mà mình yêu cầu Bước 3: Thực hiện tranh vẽ
- Quan sát, ghi lại tiến trình vẽ tranh của trẻ
Trang 32- Đặt một số câu hỏi cần thiết liên quan đến bức tranh của trẻ vẽ để bổ sung thêm thông tin
Để chẩn đoán hành vi hung tính của học sinh tiểu học có thể sử dụng các loại tranh
vẽ như: tranh vẽ con vật không có thật trong tưởng tưởng của em, tranh vẽ gia đình, tranh vẽ người Trong đó tranh vẽ “con vật không có thật trong tưởng tượng của em” được sử dụng chủ yếu
Thông qua phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ “con vật không có thật trong tưởng tượng của em” chúng ta có thể biết được các mức độ biểu hiện, các dạng biểu hiện của hành vi hung tính Cụ thể hành vi hung tính được biểu hiện ở các đặc điểm sau của tranh vẽ: đường thẳng mạnh và đậm, có nhiều góc cạnh, hình ảnh lớn, biểu hiện sự nguy hiểm, tư thế hăm dọa, có công cụ tấn công (răng, sừng, móng vuốt…), khi tấn công có thể mang đến cái chết hoặc hủy diệt tất cả bằng các phương tiện truyền thống: răng, móng vuốt, sừng, vòi…Khi một tranh vẽ với nhiều các đặc điểm như thế thì hung tính ở mức độ cao, tùy theo điểm đạt được mà ta chia các mức độ khác nhau Thông qua các đặc điểm trong tranh vẽ có thể biết được các dạng biểu hiện của hành vi hung tính Thông thường thì ở trẻ có hai dạng biểu hiện đó là: hung tính tự vệ
và xâm kích Nếu trong bức tranh mà trẻ vẽ có rất nhiều vũ khí như hai tay đều cầm đao, kiếm; có cánh để bay; chân đạp lên đá… thì đó là hung tính ở dạng tự vệ, phản ứng đáp trả lại với các tình huống bất lợi bên ngoài Còn nếu hình ảnh trong tranh thể hiện sự tấn công mạnh, mang đến cái chết cho người khác muốn hủy diệt tất cả thì đó
là dạng hung tính xâm kích Nhưng để biết được các dạng này thì lắng nghe việc mô tả lại các đặc điểm, chi tiết trong tranh của người vẽ là hết sức quan trọng
Ngoài ra qua tranh vẽ gia đình và tranh vẽ người có thể biết được các khía cạnh ảnh hưởng đến hành vi hung tính của học sinh tiểu học như là mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, chỉ số thông minh của trẻ
Kết luận chương 1
Qua chương này chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
Trang 331 Hành vi là một khái niệm được nhiều nhà khoa học, các nhà tâm lý học quan tâm và nghiên cứu tích cực Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm hành vi của Nguyễn Khắc Viện: Hành vi là từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của một động vật khi bị một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống, và tiến trình của ứng xử để thích ứng có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được, chứ không như là tình ý bên trong, thì nó là ứng xử Khi nhấn mạnh định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi
2 Khái niệm hành vi hung tính ở trẻ tiểu học: “ Hành vi hung tính của trẻ tiểu
học là một dạng hành vi khi trẻ chuyển từ trạng thái bình thường sang trạng thái cáu giận, bực tức với tần suất vài lần trong ngày hay trong tuần được biểu hiện ra bên ngoài bằng ngôn ngữ hoặc bằng hành động”
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi hung tính của trẻ tiểu học:
- Yếu tố sinh học
- Yếu tố môi trường
- Yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
- Yếu tố tâm lý
4 Phân loại hành vi hung tính
Có 5 cách phân loại hành vi hung tính
- Phân loại theo hướng lên đối tượng
- Phân loại theo nguyên nhân biểu hiện
- Phân loại theo xu hướng hành động
- Phân loại theo biểu hiện mở
- Phân loại theo dạng biểu hiện
5 Quy trình chẩn đoán tranh vẽ gồm có 4 bước
- Bước 1: Làm quen
- Bước 2: Hướng dẫn
- Bước 3: Thực hiện
- Bước 4: Kết thúc
Trang 34C Ư N 2: P Ư N P ÁP V QUY TR N T C ỨC N ÊN CỨU 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn Quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng Tổng số khách thể nghiên cứu là 33 học sinh của 3 khối lớp 3, 4, 5 Trong đó khối lớp 3 có 8 học sinh, khối lớp 4 có 11 học sinh, khối lớp 5 có 14 học sinh
Sơ lược vài nét về khách thể khảo sát:
Tên địa điểm: Trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi - Quận Liên Chiểu – Thành
Phố Đà nẵng
Trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi thuộc địa phận phường Hòa Khánh Nam, Quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng, nằm trên đường Tôn Đức Thắng Trường thành lập theo Quyết định số 56/QĐ-GD&ĐT/ TCCB ngày 15 tháng 12 năm 1998 của Sở
GD&ĐT thành phố Đà Nẵng
Nhà trường có nhiệm vụ giáo dục đào tạo cho con em trong tuyến gồm các phường Hoà Khánh Bắc, Hoà Khánh Nam, quận Liên Chiểu Ngoại tuyến gồm các phường Hoà Khánh Bắc, Hoà Khánh Nam, Hoà Minh quận Liên Chiểu
Cho đến nay, trường có tổng số học sinh theo học là 1068 Trong đó khối lớp 1
có 227 HS, khối lớp 2 có 239 HS, khối lớp 3 có 207 HS, khối lớp 4 có 208 HS, khối lớp 5 có 187 HS
Trường hiện có 49 cán bộ giáo viên, trong đó có 39 cán bộ vào biên chế, hợp đồng 10 và 14 người được kết nạp Đảng Đội ngũ giáo viên được đào tạo chất lượng, nhiệt huyết và tận tâm nghề
Trải qua 15 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường vượt qua nhiều khó khăn để xây dựng và phát triển Trong quá trình xây dựng và phát triển của nhà trường
đã song hành cùng sự phát triển của đất nước Nhà trường luôn quan tâm, chú ý tới chất lượng giáo dục toàn diện thực hiện tốt khẩu hiệu “Ra sức thi đua học tốt, dạy tốt”
và phương châm “Dạy chữ, dạy người” Quy mô giáo dục và chất lượng đào tạo của
Trang 35nhà trường ngày càng phát triển Trường được UBND thành phố Đà Nẵng công nhận Trường đạt chuẩn Quốc gia theo Quyết định số 8199/UBND kí ngày 25/10/2008 Được sự đồng ý của thầy hiệu trưởng và ban giám hiệu nhà trường chúng tôi đã nghiên cứu 33 học sinh đang theo học lớp 3, 4, 5 tại trường Kết quả chúng tôi thu được giúp cho việc nghiên cứu đảm bảo tính khoa học cao
2.2 Tiến trình nghiên cứu
- Tiến hành thu thập và nghiên cứu các vấn đề lý luận, tìm hiểu về tranh vẽ từ
2.3 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, để thu được số liệu, đồng thời bảo đảm tính khách quan chúng tôi sử dụng một loạt các phương pháp nghiên cứu khoa học Chúng tôi xin trình bày các phương pháp để thầy cô nắm rõ hơn về các phương pháp này:
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các công trình nghiên cứu, tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận,
các khái niệm công cụ của đề tài
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 36Bảng2.3.2.1 ánh giá tần suất xuất hiện hành vi thông qua quan sát
2.3.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Anket đánh giá hung tính ở trẻ ( Dành cho V) : gồm 20 câu
- Mục đích: Nhận diện trẻ có biểu hiện hành vi hung tính ở các mức độ thấp, trung
bình và cao
- Nhiệm vụ thực hiện: Lập mẫu đánh giá và hướng dẫn GV thực hiện bảng đánh giá
học sinh đối với từng học sinh trong lớp học
- Cách xử lý số liệu: Mỗi câu trả lời dương tính (có) được tính là 1 điểm Theo đó có 3 mức độ:
Hung tính ở mức độ cao: từ 15 đến 20 điểm
Hung tính ở mức độ trung bình: từ 7 đến 14 điểm
Hung tính ở mức độ thấp: từ 1 đến 6 điểm
2.3.2.3 Phương pháp trắc nghiệm tranh vẽ
a Phương pháp trắc nghiệm “tranh vẽ con vật không có thật trong tưởng tượng của em”
- Mục đích: Chẩn đoán đặc điểm tâm lý hành vi hung tính của trẻ
- Nhiệm vụ thực hiện: Chuẩn bị giấy vẽ và bút chì Hướng dẫn thực hiện tranh
vẽ và theo dõi quá trình vẽ tranh của trẻ, ghi lại những điều cần thiết cho mục đích nghiên cứu và đặt câu hỏi làm rõ ý đồ trong tranh vẽ của trẻ
- Cách xử lý số liệu: Căn cứ vào bảng diễn giải ( xem bảng phần phụ lục bảng 3) cho thấy biểu hiện hành vi hung tính ở tổng điểm chung là 18 điểm Trong đó có các mức độ thấp từ 0 – 6 điểm; mức độ trung bình từ 7 – 12 điểm; mức độ cao từ 13 –
18 điểm Ngoài ra còn có thể nhận biết các ý nghĩ, xúc cảm tiêu cực và lời nói hung tính thông qua việc đặt câu hỏi đối với trẻ trong quá trình vẽ tranh