1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thị hiếu của khách du lịch miền bắc khi đến du lịch tại đà nẵng

67 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đà Nẵng là một thành phố trẻ năng động, những năm gần đây, Đà Nẵng được nhiều du khách biết đến là một thành phố du lịch nổi bật của miền Trung Việt Nam.. Qua một vài đánh giá ban đầu về

Trang 1

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu 6

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Nội dung nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5.1 Đối tượng 9

5.2 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

6.1 Phương pháp thu thập, điều tra và xử lí số liệu 9

6.2 Phương pháp điều tra xã hội học 9

6.3 Phương pháp điều tra du khách 9

6.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 9

7 Đóng góp đề tài 9

8 Nguồn tư liệu 10

9 Cấu trúc đề tài 10

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ HIẾU CỦA KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 11

1.1 Những vấn đề lí luận chung về thị hiếu của khách du lịch nội địa 11

1.1.1 Một số khái niệm chung về du lịch 11

1.1.1.1 Khái niệm về du lịch 11

1.1.1.2 Khách du lịch nội địa 12

1.1.1.3 Sản phẩm du lịch 12

1.1.2 Thị hiếu của khách du lịch nội địa 13

1.1.2.1 Thị hiếu là gì ? 13

1.1.2.2 Đặc điểm của thị hiếu 14

1.1.2.3 Chức năng của thị hiếu 14

Trang 3

1.1.2.4 Áp dụng thị hiếu vào trong kinh doanh du lịch 14

1.2 Khái quát về du lịch Đà Nẵng 15

1.2.1 Vài nét chung về thành phố Đà Nẵng 15

1.2.1.1 Lịch sử hình thành 15

1.2.1.2 Vị trí địa lý 16

1.2.2 Tài nguyên du lịch ở thành phố Đà Nẵng 16

1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 17

1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 18

1.2.2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật 23

CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU THỊ HIẾU CỦA KHÁCH DU LỊCH MIỀN BẮC ĐẾN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28

2.1 Một số đặc điểm của khách du lịch miền Bắc 28

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị hiếu đi du lịch của du khách 30

2.2.1 Các nhân tố thuộc về nhân khẩu học 30

2.2.1.1 Tuổi đời của khách 30

2.2.1.2 Giới tính của du khách 31

2.2.1.3 Trình độ học vấn của du khách 31

2.2.1.4 Mức thu nhập của du khách 32

2.2.1.5 Tình trạng hôn nhân của du khách 32

2.2.2 Các nhân tố về điểm đến 32

2.2.2.1 Tài nguyên điểm đến 32

2.2.2.2 Chất lượng dịch vụ du lịch tại điểm đến 34

2.2.2.3 Các tổ chức kinh doanh và quản lí 36

2.2.2.4 Con người tại điểm đến 39

2.3 Tìm hiểu về thị hiếu khách du lịch miền Bắc khi đến Đà Nẵng 39

2.3.1 Đặc điểm mẫu khảo sát 39

2.3.2 Đặc điểm tâm lý tiêu dùng của khách du lịch miền Bắc 41

2.3.3 Mức độ thường xuyên khi đi du lịch 42

2.3.4 Hình thức đi du lịch Đà Nẵng 42

2.3.5 Các hoạt động mà khách du lịch tham gia 43

2.3.6 Thời gian lưu trú của du khách 44

2.3.7 Chi tiêu của khách du lịch 45

Trang 4

2.4 Đánh giá của khách du lịch miền Bắc đến Đà Nẵng 45

2.4.1 Đánh giá về các điểm đến/khu du lịch ở Đà Nẵng 45

2.4.2 Đánh giá của du khách về môi trường du lịch Đà Nẵng 46

2.4.3 Đánh giá của du khách về con người Đà Nẵng 46

2.4.4 Mức độ hài lòng chung của du khách sau khi du lịch Đà Nẵng 46

2.4.5 Mức độ trung thành của du khách đối với điểm đến Đà Nẵng 47

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT, ĐÁP ỨNG NHỮNG THỊ HIẾU CHO KHÁCH DU LỊCH LỊCH MIỀN BẮC ĐẾN THÀNH PHỔ ĐÀ NẴNG 48

3.1 Phương hướng 48

3.2 Một số giải pháp thu hút khách du lịch miền Bắc đến Đà Nẵng 48

3.2.1 Định hướng thị trường khách du lịch nội địa 48

3.2.2 Đa dạng hóa các hoạt động du lịch mà du khách muốn tham gia, trải nghiệm 48

3.2.3 Nâng cấp các dịch vụ du lịch đi kèm 50

3.2.4 Triển khai nhanh các dự án cơ sở hạ tầng du lịch 50

3.2.5 Xây dựng môi trường du lịch thành phố thân thiện 51

3.3 Các giải pháp hỗ trợ 51

3.3.1 Phát triển nguồn nhân lực du lịch 51

3.3.2 Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch 52

3.3.3 Hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông liên tỉnh và quốc tế 52 3.3.4 Mở rộng hợp tác phát triển du lịch 53

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Thực tế mà nói, không có việc gì mà không cấn sự chỉ dạy, giúp đỡ của những người xung quanh để đạt được những kết quả tốt đẹp nhất Khóa luận tốt nghiệp của tôi cũng nhờ có sự quan tâm của quý thầy cô mà có thể hoàn thành một cách suôn sẻ như ngày hôm nay Trong suốt khoảng thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, Tôi nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch Sử - Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng, đặc biệt là

TS Trần Thị Mai An - giáo viên hướng dẫn cho tôi thực hiện đề tài này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những sự giúp đỡ của tất cả mọi người trong thời gian qua

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các sở, phòng ban, trung tâm du lịch tại Đà Nẵng… đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình khảo sát và khai thác tư liệu liên quan đến đề tài của mình

Mặc dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện để khóa luận có tính khoa học

và thực tiễn cao nhất song không tránh khỏi sai sót Do vậy tôi rất mong sự đóng góp và chỉ bảo của các Thầy Cô để làm bài khóa luận của Tôi được hoàn chỉnh hơn Xin chân thành cảm ơn !

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Lương Thị Lệ

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Du lịch là một trong các ngành kinh doanh có hiệu quả, là nguồn bổ sung ngoại tệ quan trọng cho sự phát triển kinh tế hiện nay của nước nhà Các nhà kinh tế học thường gọi du lịch là ngành “công nghiệp không khói” và đầu tư cho du lịch là

sự đầu tư cho “con gà đẻ trứng vàng” Thực tế cho thấy đời sống con người càng phát triển thì các nhu cầu du lịch như tham quan, vui chơi giải trí, tìm hiểu khám phá, giải tỏa căng thẳng, phục hồi sức khỏe ngày càng trở nên thiết yếu hơn Du lịch

và các hoạt động liên quan đến du lịch vì thế càng trở thành đối tượng quan tâm của nhiều ngành nghề, dẫn đến một sự cạnh tranh kinh tế khốc liệt Các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch nào cũng mong muốn tìm cho mình những hướng đi mới, những chính sách hấp dẫn để thu hút nguồn khách Công tác tìm hiểu về thị hiếu của du khách nhằm đáp ứng một cách tối đa các nhu cầu du lịch của

họ càng trở nên rất thiết thực hơn bao giờ hết, đặc biệt đối với việc thiết kế tổ chức

và thực hiện các tour du lịch

Đà Nẵng là một thành phố trẻ năng động, những năm gần đây, Đà Nẵng được nhiều du khách biết đến là một thành phố du lịch nổi bật của miền Trung Việt Nam Qua một vài đánh giá ban đầu về thị trường du lịch Đà Nẵng cho thấy số lượng nguồn khách ở khu vực miền Bắc đến với Đà Nẵng dường như nhiều hơn các thành phần khách của khu vực phía Nam Để góp phần cung cấp các thông tin thành phần khách nhằm đóng góp cho thị trường Đà Nẵng có nhiều sản phẩm du lịch đáp ứng đúng những sở thích của khách, để từ đó tạo ra lòng yêu mến, sự tin tưởng,

chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Tìm hiểu thị hiếu của khách du lịch Miền Bắc

khi đến du lịch tại Đà Nẵng” làm khóa luận tốt nghiệp ra trường của mình, mong

muốn đóng góp một phần công sức vào việc xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm

du lịch hàng đầu của Việt Nam, nơi có nhiều sản phẩm du lịch phong phú, hấp dẫn

và thu hút được nhiều du khách

2 Lịch sử nghiên cứu

Có thể xem thị hiếu của khách du lịch là cơ sở quan trọng để các đơn vị, doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh du lịch đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, có thương hiệu, đáp ứng tối đa nhu cầu du lịch của khách Vấn đề thị hiếu của khách du lịch vì thế đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả

Trang 7

Nhiều tổ chức, công trình, sách báo đề cập đến việc nghiên cứu nhu cầu thị hiếu của khách đã được công bố rộng rãi

Trước hết, phải kể đến tổ chức Du lịch Thế giới (WHO) và một số tổ chức du lịch khác như PATA, WTTC… hàng năm đều có các số liệu về tình hình du lịch trên thế giới cũng như đã có một số nghiên cứu liên quan đến thị trường outbound của một số nước trên thế giới như Tây Ban Nha, Bỉ, các nước bán đảo Scandinaver, Nga, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…và một số nước khu vực như châu Á-Thái Bình Dương… cũng như nghiên cứu xu hướng thị trường du lịch của nhiều nước và khu vực trên thế giới Theo các tổ chức này, thị hiếu du lịch là một trong những nền tảng quan trọng, tham vấn cho việc hoạch định, xây dựng các sản phẩm du lịch đa dạng nhằm đáp ứng tối đa được nhu cầu du lịch của khách tham quan

Luận văn cao học “Đánh giá sự thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch quốc tế đến Cần Thơ” (2004) của học viên Dương Quế Nhu, khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh trường Đại Học Cần Thơ là một trong những hướng nghiên cứu sớm

về lĩnh vực thị hiếu du khách Ở công trình này, ngoài việc phân tích tiềm năng du lịch Cần Thơ, tác giả còn xác định được thị hiếu của du khách khi đến du lịch ở đây,

và xác định những yếu tố mà du lịch Cần Thơ đã làm và cần làm để thỏa mãn nhu cầu du khách, đồng thời cũng nêu lên những hạn ches trong việc đáp ứng đúng thị hiếu khách du lịch ở Cần Thơ Ở khía cạnh nào đó, đề tài này cũng mở ra một hướng nghiên cứu mới và hay đóng góp cho sự phát triển của du lịch Cần Thơ

Luận văn cao học “Hướng phát triển và giải pháp Marketing thu hút khách

đến với du lịch Cần Thơ” (2005) của học viên Nguyễn Ngọc Phương (2005) tại

khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh trường Đại Học Cần Thơ cũng là một sự tiếp nối trng nghiên cứu về hoạt động du lịch của vùng này Trong công trình của mình, bên cạnh việc phân tích thực trạng hoạt động của ngành du lịch địa phương, tác giả còn tìm ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động marketing du lịch và tìm ra giải pháp marketing thích hợp để thu hút khách đến với du lịch Cần Thơ Một trong những giải pháp marketing được đưa ra là phải tìm hiểu nhu cầu đi du lịch trong tương lai để có thể tạo ra được những sản phẩm du lịch thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành du lịch tỉnh Cần Thơ

Trang 8

Bài viết “Chiến lược marketting địa phương nhằm thu hút khách du lịch đến

thành phố Đà Nẵng” (2010) của Nguyễn Thị Thống Nhất, trường Đại Học Kinh Tế

Đại Học Đà Nẵng, đã đề cập đến việc xây dựng chiến lược Marketing địa phương nhằm thu hút các khách du lịch đến Đà Nẵng

Một số công trình nghiên cứu liên quan khác:

Khóa luận tốt nghiệp Văn hóa du lịch: Phát triển thị trường du lịch MICE (Nghiên cứu trường hợp tại Hạ Long - Quảng Ninh) trình bày cơ sở lý luận về du lịch MICE, thị trường du lịch MICE tại Hạ Long - Quảng Ninh, một số nhận xét và đánh giá về thị trường du lịch MICE từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp phù hợp cho việc phát triển du lịch tại Quảng Ninh

Nghiên cứu sự hài lòng của du khách tại khu du lịch biển Sầm Sơn – Thanh Hóa của tác giả Văn Minh Thành ( 2010) cũng đa đóng góp một phần rấtt lớn vào việc nghiên cứu trên cơ sở đó có những chiến lược mới cho du lịch tại Sầm Sơn Nghiên cứu nhu cầu của khách du lịch về công viên giải trí tại thành phố Huế, tác giả: Trần, Thị Hồng, xuất bản năm 2012 Đề tài này cũng đã đề cập được những nhu cầu mong muốn của khách du lịch đến với thành phố Huế

Như vậy có thể thấy hầu hết các công trình được đề cập ở trên đều ít nhiều có liên quan đến nghiên cứu nhu cầu du lịch của khách, từ đó đặt và đề ra các giải pháp hợp lý, nhằm xây dựng cụ thể những sản phẩm du lịch đặc trưng, phù hợp với từng

sở thích, mong muốn của từng thành phần khách du lịch Tuy nhiên cũng trong nghiên cứu du lịch, đặc biệt là nghiên cứu về thị hiếu khách nội địa thì hầu như không có nhiều công trình được công bố Đây cũng là một khó khăn cho tôi khi thực hiện đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nhằm nắm bắt được những thị hiếu của khách du lịch nội địa miền Bắc khi đến du lịch tại Đà Nẵng Thông qua đó, đưa ra những giải pháp, định hướng, mục tiêu mới để xây dựng được các sản phẩm du lịch đặc trưng, đáp ứng được nhu cầu du lịch của thành phần khách miền Bắc, góp phần làm cho

Đà Nẵng trở thành trung tâm du lịch lớn của cả nước và trong khu vực

4 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về thị hiếu của khách du lịch miền Bắc khi đến

du lịch tại thành phố Đà Nẵng Từ đó đề ra những giải pháp, định hướng mới để xây

Trang 9

dựng được các sản phẩm du lịch đặc trưng, đáp ứng được nhu cầu du lịch của thành phần khách miền Bắc, góp phần làm cho Đà Nẵng trở thành trung tâm du lịch lớn của cả nước và trong khu vực

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập, điều tra và xử lí số liệu

Khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại thành phố Đà Nẵng là công việc hết sức phức tạp vì vậy phương pháp xử lí số liệu là rất quan trọng và cần thiết Nguồn tư liệu thu thập từ các cơ quan ban ngành, khách du lịch sẽ được xử lí, phân tích để làm rõ thực trạng hoạt động du lịch của thành phố, từ đó rút ra những nhận xét đúng đắn

6.2 Phương pháp điều tra xã hội học

Với các đối tượng điều tra là khách du lịch miền Bắc đến Đà Nẵng nhằm tạo

cơ sở tham khảo và phân tích thực trạng khách du lịch Thực trạng cung ứng và nhu cầu sản phẩm, dịch vụ du lịch của khách nội địa và đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, phát triển sản phẩm du lịch đáp ứng thị hiếu của khách và thu hút khách du lịch đến Đà Nẵng trong thời gian đến

6.3 Phương pháp điều tra du khách

Bước đầu tiến hành tiếp cận các tour du lịch có thành phần miền khách là ở các vùng phía Bắc thông qua một số đơn vị lữ hành, sau đó sẽ phát phiếu điều tra để tìm hiểu thị hiếu của khách khi đến Đà Nẵng Từ đó, tham khảo một số mong muốn của du khách để có thể rút ra được một số thông tin chính về đặc trưng thị hiếu của các đoàn khách phía Bắc

6.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Ttrao đổi quan điểm, ý kiến đóng góp của các nhà lãnh đạo, chính quyền, các cán bộ nghiên cứu du lịch ở địa phương, các nhà quản lý doanh nghiệp lữ hành

Trang 10

đón khách nội địa để giúp cho đề tài củng cố nội dung, khách quan hơn trong việc đưa ra các nhận định và đề xuất trong đề tài Công việc này sẽ góp phần giúp rút ngắn quá trình điều tra số liệu của đề tài

7 Đóng góp đề tài

Đề tài giúp nắm bắt được một cách cụ thể hơn về thị hiếu của khách du lịch miền Bắc đến thành phố Đà Nẵng Từ đó có những giải pháp, định hướng đầu phù hợp để đảm bảo cho du lịch thành phố phát triển ổn định và hiệu quả hơn

Giúp cho các cơ quan chức năng, các doanh ngiệp lữ hành chú trọng và nắm bắt hơn về việc tìm hiểu thị hiếu của khách du lịch nội địa Từ đó nâng cao sự phát triển du lịch cho thành phố và thu hút lượng khách du lịch nội địa ngày càng mạnh

mẽ hơn

8 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu thành văn chủ yếu lấy từ các: văn bản, sách, báo, tạp chí du lịch và các nguồn tư liệu từ internet

Nguồn tư liệu thực địa chủ yếu là ý kiến của các chuyên gia du lịch, của khách du lịch

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ HIẾU CỦA

KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

1.1 Những vấn đề lí luận chung về thị hiếu của khách du lịch nội địa

1.1.1 Một số khái niệm chung về du lịch

1.1.1.1 Khái niệm về du lịch

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước kinh tế phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Tuy nhiên hiện nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Trước thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế cũng như trong lĩnh vực đào tạo, việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhất một số khái niệm cơ bản trong đó có khái niệm du lịch và du khách là một đòi hỏi cần thiết Trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước

Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp:

“Tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người đi dạo chơi

Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi phục, nâng cao sức khỏe

và khả năng lao động của con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết với sự chuyển chỗ của họ Vậy du lịch là gì?

Theo định nghĩa của hai học giả Thuỵ Sỹ Hunziker và Kraff đã được Hiệp hội

các chuyên gia du lịch thừa nhận: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện

tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”.[7]

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Du lịch được hiểu

là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường

Trang 12

xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ.”[7]

Theo Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khóa

XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”[7]

Tóm lại du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận xuất phát từ tính phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch Vì vậy tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng các khái niệm một cách phù hợp

1.1.1.2 Khách du lịch nội địa

Khách du lịch nội địa là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác ở trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng và mục đích chính của chuyến đi để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến

1.1.1.3 Sản phẩm du lịch

Có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó là: “

Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng”[10]

Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó

Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

Trang 13

1.1.2 Thị hiếu của khách du lịch nội địa

1.1.2.1 Thị hiếu là gì ?

Trong Giáo trình Kinh tế học (2000) có đinh nghĩa: “Thị hiếu/Sở thích của

người tiêu dùng là mức độ ưu tiên lựa chọn rổ hàng hóa này so với rổ hàng hóa khác của người tiêu dùng khi mua hàng”.[4]

Như vậy có thể thấy trong kinh doanh du lịch, thị hiếu/sở thích của du khách là một khái niệm mang tính chủ quan của cá nhân, được đo bằng các tiện ích của các

gói dịch vụ khác nhau mà họ lựa chọn Thị hiếu/sở thích du lịch của du khách cho

phép họ lựa chọn các gói dịch vụ khác nhau theo mức độ tiện ích mà nó mang lại Bên cạnh đó, theo chúng tôi, thị hiếu/sở thích du lịch còn có thể được hiểu là một trạng thái tâm lý đặc biệt trong quá trình nhận thức của du khách và là mối quan tâm đặc biệt đối với sản phẩm/dịch vụ du lịch Nghiên cứu về thị hiếu/sở thích tiêu dùng của du khách sẽ cho chúng ta biết được du khách thích gì? Mong muốn điều gì

để từ đó doanh nghiệp/đơn vị kinh doanh có những chiến lược phù hợp nhằm đáp

ứng tốt nhất thị hiếu/sở thích của họ

Hiện nay, nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy thị hiếu là một vấn đề được nhiều người quan tâm, ở bất cứ lĩnh vực gì người ta cũng đều chú ý đến thị hiếu của khách hàng, từ thời trang, điện ảnh, hội hoạ, âm nhạc… cho đến các ngành kĩ thuật khác Vậy thị hiếu là gì? Có rất nhiều định nghĩa về thị hiếu nhưng dù có định nghĩa như thế nào đi chăng nữa thì cũng nói về sở thích, thái độ, cảm xúc, thích hay không thích, thoả mãn hay không thoả mãn của con người trước cái đẹp, cái cao cả, cái xấu, cái bi, cái hài trong sáng tác và nghệ thuật Nói một cách ngắn gọn thị hiếu là

sở thích của chủ thể trong cuộc sống, bộc lộ thái độ đánh giá của chủ thể với mọi sự vật trong cuộc sống

Như vậy, trong khóa luận này, chúng tôi cho rằng :“Thị hiếu là một hiện tượng

tâm lý xã hội, nó phản ánh sự phát triển nhu cầu thẩm mỹ của con người trong nhóm xã hội được quy định bởi văn hoá truyền thống, phong tục tập quán của các nhóm đó, thể hiện ở thái độ lựa chọn ổn định đối với sản phẩm, dịch vụ nào đó.” Ví

dụ thị hiếu về sản phẩm du lịch, màu sắc, kiểu dáng…; thị hiếu về cách tổ chức hoạt động du lịch vùng, địa phương…

Trang 14

1.1.2.2 Đặc điểm của thị hiếu

Trước tiên thì thị hiểu được hình thành một cách nhanh chóng dưới tác động của các quy luật tâm lý như “lây lan”, “ám thị”, “bắt chước”

Thứ hai, thị hiếu không ổn định, nó có tính nhất thời, dễ thay đổi

Ví dụ: Mốt thời trang con người ưa chuộng model quần ống túm trước kia, sau

đó đổi sang quần ống rộng và bây giờ là quần ống suông, tương lai cũng sẽ có nhiều thay đổi khác nhau

Thứ ba, thi hiếu lại phụ thuộc rất nhiều vào nhánh văn hoá, phong tục tập quán

và truyền thống của nhóm

Chẳng hạn việc sử dụng màu sắc của các dân tộc có ý nghĩa rất lớn Người Phương Đôngthích màu vàng tượng trưng cho sự giàu sang, quyền lực, phú quý- rất trân trọng Hay màu đỏ tượng trưng cho sự tôn nghiêm nơi thờ tự, ngoài ra màu đỏ còn là đại diện của sựu may mắn Cuối cùng, thị hiếu là cơ chế tâm lý bên trong

điều khiển, điều chỉnh các hành vi trong nhóm

1.1.2.3 Chức năng của thị hiếu

Thị hiếu đã tạo ra sự đồng nhất tâm lý trong nhóm xã hội Ví dụ: Các dân tộc vùng cao dùng hàng dệt thổ cẩm (màu sắc, hoa văn, chất liệu) tạo ra sự thống nhất trong sinh hoạt lễ hội

Tiếp theo nó thúc đẩy hoạt động sản xuất, sự sáng tạo phát huy tính độc đáo điển hình của các nền văn hoá khác

Bên cạnh đó thị hiếu hể hiện trình độ phát triển tình cảm thẩm mỹ của các nhóm xã hội Nó bộc lộ sự đánh giá hiện thực, đánh giá toàn bộ giá trị thẩm mỹ, xuất phát từ cái đẹp, xấu, bi, hài… thể hiện tình cảm thẩm mỹ của cá nhân hay nhóm, tập thể Thị hiếu là một năng lực chủ quan của con người trong việc thưởng thức, đánh giá và sáng tạo cái đẹp, cái thẩm mỹ trong đời sống và trong nghệ thuật

Nó không phải là cái luôn cố định, bất biến mà nó luôn vận động phát triển không ngừng với lịch sử nên nó mang tính dân tộc, tính giai cấp và tính thời đại

Ngoài ra, thị hiếu quy định xu hướng hành vi tiêu dùng của du khách

1.1.2.4 Áp dụng thị hiếu vào trong kinh doanh du lịch

Trong giới kinh doanh du lịch thì việc nắm chắc được thị hiếu của các nhóm đối tượng (du khách) để từ đó mình có những chính sách marketting sao cho phù

Trang 15

hợp, đưa ra chương trình du lịch và sản phẩm du lịch đáp ứng được những với thị hiếu của khách du lịch tăng thu nhập cho doanh nghiệp

Đồng thời nhờ thị hiếu du lịch để quảng cáo những sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc dân tộc của địa phương, từ đó thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng tạo công

ăn việc làm cho người dân địa phương một cách hiệu quả nhất

1.2 Khái quát về du lịch Đà Nẵng

1.2.1 Vài nét chung về thành phố Đà Nẵng

1.2.1.1 Lịch sử hình thành

Giữa thế kỷ XVI, khi Hội An đã là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía Nam thì

Đà Nẵng mới là vị trí tiền cảng, trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền Đầu thế

kỷ XVIII, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng Năm 1835, khi vua Minh Mạng

có dụ: “Tàu Tây chỉ được đậu tại cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được tới

buôn bán”[4] thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn bậc nhất miền Trung

Tiểu thủ công nghiệp địa phương phát triển với những ngành sửa chữa tàu thuyền,

sơ chế nông lâm hải sản; dịch vụ thương mại cũng phát đạt (trích chỉ dụ vua Minh

Mạng năm 1835)

Sau khi xâm chiếm toàn bộ đất nước ta vào năm 1889, thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu

tư Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh được hình thành và phát triển: Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu (chè, lương thực, thực phẩm, nước ngọt, nước đá, rượu, nước mắm, cá khô), sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ Cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng của cả nước Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại

Tháng 3/1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn Năm 1967, Đà Nẵng được Mỹ ngụy ấn định là thành phố trực thuộc Trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Mỹ cho xây

Trang 16

dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng Khu kỹ nghệ Hòa Khánh sản xuất oxygen, acetylene, bột giặt, xay xát, dệt ở thời

kỳ này công nghiệp được phát triển ở mức độ cao hơn: các khu kỹ nghệ thay thế cho công trường thủ công Tuy nhiên, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, hàng trăm nghìn dân quê phải chạy vào các trại tỵ nạn, các khu ổ chuột đô thị; tệ nạn xã hội tăng nhanh, sản xuất không phát triển

Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam

- Đà Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Mặc

dù còn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới, sau 1986

Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao

gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa

1.2.1.2 Vị trí địa lý

Đà Nẵng nằm ở 15o5520" đến 16o14’10" vĩ tuyến bắc, 107o18’30” đến 108o20’00” kinh tuyến đông, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía nam và tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Với vị trí trung độ của cả nước,

Đà Nẵng cách Hà Nội 765km về phía Bắc và thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, nối vùng Tây Nguyên trù phú qua Quốc lộ 14B và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và nước bạn Lào Các trung tâm kinh doanh - thương mại của các nước vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương đều nằm trong phạm vi bán kính 2000km

từ thành phố Đà Nẵng

1.2.2 Tài nguyên du lịch ở thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng được thiên nhiên ưu ái ban tặng vơi nguồn tài nguyên du lịch vô cùng phong phú và đa dạng Một thành phố với những bãi biển, dồi núi có giá trị về du lịch bên cạnh đó Đà Nẵng còn có hệ thống các công trình của Pháp xây dụng để lạ hay những lang nghề truyền thống, đình làng, có tìm năng cho việc phát triển du lịch rât lớn

Việc phân loại tài nguyên du lịch có thể được chia như sau:

Trang 17

1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên thực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch Một

số tài nguyên du lịch tự nhiên tại thành phố:

Núi:

Ngũ Hành Sơn (còn gọi là Non Nước) nằm cách trung tâm thành phố khoảng 5

km về hướng Đông Nam Ngũ Hành Sơn bao gồm 6 ngọn núi: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Dương Hỏa Sơn, Âm Hoả Sơn và Thổ Sơn tượng trưng cho 5 yếu tố của

vũ trụ (Ngũ hành) Trong lòng núi có nhiều hang động đẹp, có rất nhiều chim yến sinh sống và nhiều chùa chiền cổ Dưới chân núi còn có làng nghề đá Non Nước nổi tiếng Bên cạnh là bãi biển Non Nước còn khá hoang sơ

Bà Nà – Núi Chúa là một khu nghỉ mát cách trung tâm thành phố 40 km về phía Tây Nam Được ví như Đà Lạt của miền Trung, và cũng như Đà Lạt, Bà Nà – Núi Chúa được xây dựng thành nơi nghỉ ngơi cho các quan chức người Pháp trong thời

kì Pháp còn đô hộ Việt Nam Sau khi thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương, khu này

bị bỏ hoang và bị tàn phá nhiều bởi chiến tranh và thời gian Gần đây, thành phố Đà Nẵng cho tái tạo lại và hi vọng trong tương lai Bà Nà – Núi Chúa sẽ lại trở thành một khu nghỉ dưỡng cao cấp Năm 2009, thành phố đưa vào hoạt động hệ thống cáp treo hiện đại lên đỉnh Bà Nà với 2 kỉ lục Thế giới: tuyến cáp treo một dây dài nhất (5.042 m) và có cao độ chênh lệch giữa ga trên và ga dưới lớn nhất (1.291 m) Bán đảo Sơn Trà còn được người Mỹ gọi là Núi Khỉ (Monkey Mountain), là nơi

mà Đà Nẵng vươn ra biển Đông xa nhất Nơi đây là khu bảo tồn thiên nhiên với nhiều động thực vật quý hiếm Dưới chân bán đảo Sơn Trà là khu du lịch Suối Đá

và nhiều bãi biển đẹp như: Bãi Bụt, Bãi Rạng, Bãi Bắc, Bãi Nồm

Đèo

Đèo Hải Vân (được mệnh danh là “Thiên hạ Đệ nhất Hùng quan”) là nơi dãy Trường Sơn nhô ra biển Cheo leo và hiểm trở, đèo Hải Vân không chỉ là ranh giới giữa hai miền Nam – Bắc mà còn là một chứng tích hùng hồn cho thời kỳ “mang gươm đi mở cõi” của người Việt Ngày nay, hầm Hải Vân xuyên qua lòng núi giúp cho giao thông giữa hai miền tiện lợi hơn bao giờ hết Đường hầm dài nhất Đông

Trang 18

Nam Ánày đã phần nào đặt dấu chấm hết cho tầm quan trọng của con đèo đã đi vào huyền thoại Tuy vậy, đường đèo Hải Vân vẫn được khách du lịch ưa thích vì cảnh sắc thiên nhiên rất kỳ thú

1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể đó là những công trình, kiến trúc do con người tạo ra trọng quá trình phát triển, có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Một số công trình tiêu biểu tại thành phố:

Thành Điện Hải

Là nơi để lại dấu tích hào hùng về một thời chống thực dân Pháp của nhân dân

Đà Nẵng dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương Đây cũng là đồn lũy quan trọng góp phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858

- 1860 Một tượng đài uy nghi của Tướng quân Nguyễn Tri Phương đã được dựng tại đây, để ghi nhớ một giai đoạn lịch sử hào hùng của thành phố

Bảo tàng Đồng Đình

Bảo tàng Đồng đình nằm trên địa thế dốc đứng phía thượng lưu đường Hoàng

Sa, Bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng, Khu vườn ký ức này đã tái hiện lại những nét cổ xưa, như một địa chỉ văn hóa độc đáo kết hợp hài hòa giữa bảo tồn không gian sinh thái rừng với không gian văn hóa nghệ thuật

Bảo tàng Đồng Đình là bảo tàng tư nhân đầu tiên ở Miền Trung được UBND thành phố Đà Nẵng cấp giấy phép hoạt động từ đầu năm 2011 Đây là bảo tàng tổng hợp trưng bày nhiều sưu tập do chủ dự án là NSUT Đoàn Huy Giao thực hiện Nằm trên một vùng rừng đồi sát đường Hoàng Sa nhưng chủ dự án có chủ ý khai thác lợi thế giữa cảnh quan thiên nhiên rừng với các hiện vật chuyên đề trưng bày tại một khu nhà liên hoàn có kiến trúc kết hợp rất ấn tượng giữa truyền thống với hiện đại Tại đây du khách có thể đến thư giản nghỉ ngơi và chiêm quan thế giới rừng cây cỏ được chủ dự án chăm chút khá hài hoà giữa công năng kiến trúc với

Trang 19

công năng sinh thái Bảo tàng làm theo một mô hình khu nhà vườn trung du xứ Quảng với cây trái và thảm cỏ tóc tiên xanh mướt được bố trí những lối đi nhỏ bằng

đá lát chung quanh vườn Những lối đi này tạo cho khách tham quan một cảm giác thư thái như được trở về khu vườn tuổi thơ của chính mình mà chủ dự án đã cố tạo nên và đặt tên cho nó là “Bảo tàng Đồng Đình – một khu vườn của ký ức” Ký ức

đó được tìm lại bằng chính hình ảnh cây đùng đình (có nơi gọi là cây đủng đỉnh ) một loại cây họ dừa thường xanh, mọc nhiều tại khu bảo tồn thiên Sơn Trà mà chủ nhân lấy đặt tên cho bảo tàng của mình Một khu vườn rừng đá tảng dành cho nhóm bạn hoặc gia đình sau khi tham quan bảo tàng có thể thư thái ngồi nghỉ ngơi để nghe tiếng gió của lá và tiếng hót của chim rừng Bảo tàng Đồng Đình là một trong những điểm tham phục vụ du lịch rất hấp dẫn

Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chămpa (thường gọi là Cổ viện Chàm)

Bảo tàng Điêu khắc Chăm là công trình kiến trúc hết sức độc đáo, hình thành từ cách đây hơn 100 năm, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa Khoảng những năm cuối thế kỷ XIX, những hiện vật điêu khắc như các mảng đài thờ, tượng đá ở vùng Quảng Nam – Đà Nẵng bắt đầu được những người Pháp yêu ngành khảo cổ học thu thập, tập trung lại Tháng 7 năm 1915, một bảo tàng cho tác tác phẩm điêu khắc Chăm tại Đà Nẵng chính thức được xây dựng với sự giúp đỡ của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Pháp) ở Hà Nội Đến năm 1919 thì tòa nhà đầu tiên của Bảo tàng chính thức hoàn thành theo thiết kế của hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair Sau đó, Bảo tàng trải qua 2 lần mở rộng nữa, nhưng vẫn giữ được phong cách kiến trúc ban đầu cho đến ngày nay

Lần mở rộng thứ nhất được tiến hành vào những năm đầu thập kỷ 1930, hoàn thành vào năm 1936 Bảo tàng được xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên, thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ, nhằm đủ chỗ để trưng bày thêm những hiện vật mới được thu thập về trong những năm 1920, 1930 Lúc bấy giờ, hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật Không gian của tòa nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, tạm gọi tên như sau: Phòng Mỹ Sơn - Quảng Trị, Phòng Trà Kiệu, Phòng Đồng Dương, Phòng Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum Ngoài ra còn có một phòng nhỏ làm kho Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay

Trang 20

Lần mở rộng thứ hai, Bảo tàng được xây thêm một tòa nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn

500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975 Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng Ngày 02 tháng 7 năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng Cuối năm 2011, Bảo tàng Điêu khắc Chăm được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là bảo tàng loại 1 (12/119 bảo tàng trên cả nước)

Hiện nay, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng lưu giữ gần 2.000 hiện vật lớn nhỏ, hầu hết các tác phẩm điêu khắc là những tác phẩm nguyên bản trên 3 chất liệu chính là sa thạch, đất nung và đồng, phần lớn là sa thạch, có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau Phía ngoài khuôn viên của Bảo tàng, các mảng đài thờ, tượng đá được xếp đặt rải rác, hài hòa với không gian thoáng mát và trong lành, xen kẽ giữa những cây cổ thụ, làm tăng thêm

vẻ cổ kính, bí ẩn của Bảo tàng Bên trong tòa nhà Bảo tàng trưng bày gần 500 hiện vật, được phân chia thành các phòng trưng bày: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Bình và Bình Định Hơn 1.200 hiện vật còn lại được lưu giữ cẩn thận trong kho

Bảo tàng Điêu khắc Chăm còn là nơi lưu giữ 3 bảo vật quốc gia thuộc nền Văn hóa Chămpa, đó là Tượng Bồ tát Tara, Đài thờ Mỹ Sơn E1, Đài thờ Trà Kiệu Tìm hiểu và khám phá Bảo tàng Điêu khắc Chăm, chúng ta như lạc vào một kho tàng văn hóa phong phú, độc đáo không chỉ của thành phố Đà Nẵng, của Việt Nam,

mà còn của cả thế giới Đến bảo tàng, như thấy lại cả quá khứ vàng son của một dân tộc mà lòng say mê và khả năng sáng tạo nghệ thuật đều ở một trình độ rất cao Thế giới thần linh kỳ bí, những câu chuyện bằng hình ảnh, các biểu tượng tôn giáo, tất

Trang 21

cả đều sống động, chi tiết Đây là bảo tàng độc đáo và duy nhất của thế giới về nền văn hóa Chăm

Đình Hải Châu

Nằm tại kiệt 42, đường Phan Chu Trinh, thuộc Tổ 6, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu, là đình cổ nhất tại Đà Nẵng Trong đình thờ 42 bài vị của 42 tộc họ 42 tộc họ này đều từ thôn Hiếu Hiền, xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa, theo vua Lê Thánh Tôn vào Nam từ năm Tân Mão (1471) Năm 1719, Chúa Nguyễn Phúc Chu trong 1 chuyến tuần du phương Nam đã ghé qua và nghỉ lại

ở đình này Sau này, khi chúa băng hà, người dân trong vùng đã lập bài vị thờ chúa tại đây Đình được Bộ văn hóa thông tích công nhận là di tích lịch sử vào ngày 12/7/2001/

14 - 15 tháng 2 âm lịch và tế Thu vào 14 - 15 tháng 8 âm lịch tại đình Hiện nay, đình Túy Loan là ngôi đình duy nhất còn giữ được 15 sắc phong từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại

Trang 22

Hàng năm dân làng có hai kỳ Xuân Thu tế lễ vào các ngày 20 tháng 2 và 12 tháng 7 âm lịch để tưởng nhớ lại các vị tiền hiền đã mở mang vùng đất này Đình Quá Giáng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích quốc gia năm 2000

sự tích đều gắn liền những con người có thật, trong đó có người đang còn sống, đang xây dựng cuộc sống mới ngay tại mảnh đất lịch sử này

Bia chùa An Long (Long Thủ) – Đà Nẵng

Bia chùa Long Thủ được dựng trong khuôn viên chùa Long Thủ nay đổi tên là chùa An Long Chùa tọa lạc trên một khu đất nằm phía sau Bảo tàng Điêu khác Chăm, thuộc địa bàn phường Bình Hiên, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Bia chùa Long Thủ được dựng vào năm Thịnh Đức thứ 5, triều vua Lê Thần Tông (1658)

Ngày nay, tuy ngôi chùa cũ không còn nữa, nhưng tấm bia này là một di tích quan trọng, minh chứng cho sự hiện hữu của ngôi chùa ngày xưa, động thời đây cũng là một trong những tấm bia cổ nhất ở Đà Nãng, góp thêm tư liệu cho việc, nghiên cứu lịch sử địa phương Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận bia chùa Long Thủ là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992

Mộ Ông Ích Khiêm – Đà Nẵng

Trang 23

Làng mộ danh nhân Ông ích Khiêm hiện tọa lạc tại nghĩa trang xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Ông ích Khiêm, tự là Mục Chi Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm Mậu Tý (1829) tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là làng Phong Lệ Bắc, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang Lăng mộ danh nhân Ông ích Khiêm được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận

là Di tích quốc gia năm 2001

Nghĩa trang Khuê Trung – Đà Nẵng

Nghĩa trang Khuê Trung (còn gọi là Nghĩa trang Hòa Vang) – mộ lớn của nghĩa

sĩ lập tại Khuê Trung – Hòa Vang, theo sắc tứ vua ban để quy tụ hài cốt tướng sĩ vị quốc vong thân trong cuộc kháng chiến chống quân Pháp xâm lược năm 1858 Hòa Vang Nghĩa trang đầu tiên được lập ở trang bờ làng Nghi An (Phước Tường) Khoảng năm 1920 Pháp mở sân bay Đà Nẵng, phải dời nghĩa trang về vườn Bá Khuê Trung Đến 1962, quân đội Mỹ mỏ rộng sân bay về phía Nam, lại phải dời nghĩa trang đến chỗ hiện nay, khu vực Bình Hòa 1, phường Khuê Trung, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Nghĩa trang Khuê Trung được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích quốc gia năm 1999

Nghĩa trang Phước Ninh – Đà Nẵng

Nghĩa trang Phước Ninh là nơi quy tụ thi hài các chiến sĩ và đồng bào Quảng Nam – Đà Nẵng và các tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định chiến đấu ỏ mặt trận Đà Nẵng đã hi sinh trong buổi đầu chống Pháp (1858-1860) Di tích này được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận năm 1998

1.2.2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật

Trải qua 55 năm phát triển, ngành Du lịch Việt Nam đã có bước tiến mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư, tạo nhiều việc làm, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Ngành đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều danh hiệu cao quý khác

Đối với ngành Du lịch Đà Nẵng, sau ngày đất nước giải phóng, tiền thân là Công ty Du lịch Quảng Nam-Đà Nẵng với một vài khách sạn ở trung tâm thành phố, chủ yếu phục vụ các chuyên gia Nga và khách nội địa đi công tác, qua 40 năm,

Trang 24

ngành Du lịch Đà Nẵng đã có những bước phát triển vượt bậc, đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực

Những bước phát triển vượt bậc :

Từ sau Ngày giải phóng Đà Nẵng (29-3-1975), ngành Du lịch thành phố Đà Nẵng đã có những giai đoạn phát triển mạnh mẽ Giai đoạn từ sau giải phóng đến khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (1975-1997), du lịch Đà Nẵng đã có những thay đổi cơ bản về cơ sở vật chất, từ một vài khách sạn sau giải phóng, đến năm 1997 Đà Nẵng đã có 58 khách sạn với 1.948 phòng, trong đó đã có một số khách sạn 3 sao

Trong giai đoạn từ 1997 - 2008, ngành Du lịch Đà Nẵng có những bước phát triển nhanh chóng; nhất là từ sau năm 2003, ngành du lịch được định hướng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Hệ thống cơ sở lưu trú phát triển cả về số lượng và chất lượng Đến năm 2008, thành phố có 138 khách sạn với 4.239 phòng Trong giai đoạn này, thành phố đã đầu tư xây dựng hạ tầng tại bán đảo Sơn Trà và Công viên biển Phạm Văn Đồng (nay là Công viên Biển Đông), xây dựng bãi tắm du lịch kiểu mẫu Mỹ Khê và T18 Thị trường khách du lịch quốc tế nổi bật với lượng khách du lịch đường bộ Thái Lan đến Đà Nẵng đạt từ 20.000-30.000 khách/năm

Giai đoạn từ năm 2008 đến nay, du lịch Đà Nẵng đã phát triển thực sự khởi sắc

và ấn tượng Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tiếp tục được phát triển với việc hình thành hệ thống các khách sạn, khu nghỉ mát cao cấp 5 sao ven biển và các khách sạn cao cấp 3-5 sao trong thành phố và các khách sạn tiêu chuẩn 1-2 sao, đáp ứng nhu cầu từ khách du lịch nghỉ dưỡng cao cấp đến khách công vụ, khách du lịch kết hợp hội thảo, hội nghị (MICE), khách vãng lai Các thương hiệu du lịch nổi tiếng thế giới đã có mặt tại Đà Nẵng: InterContinental, Novotel, Hyatt, Vinpearl, Pullman…Hệ thống doanh nghiệp kinh doanh du lịch lữ hành cũng phát triển mạnh, cuối năm 2014, trên địa bàn thành phố có 183 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, trong đó có 108 doanh nghiệp lữ hành quốc tế

Trong 5 năm gần đây (2011-2015), lượng khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng tăng bình quân 20,14%/năm, trong đó khách quốc tế tăng 25,4%, khách nội địa tăng 18,6% Doanh thu chuyên ngành du lịch tăng bình quân 30,6%/năm Năm 2014, tổng lượt khách du lịch đến Đà Nẵng đạt 3,8 triệu lượt, tăng 21,9% so với năm

Trang 25

2013; trong đó khách quốc tế là 955.000 lượt, khách nội địa đạt 2.845.000 lượt Tổng thu du lịch đạt 9.740 tỷ đồng, tăng 25,1% so với năm 2013

Trong giai đoạn này, cơ sở hạ tầng thành phố có sự phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của cơ sở vật chất ngành Du lịch đã làm Đà Nẵng trở thành một thành phố năng động, hấp dẫn đối với khách du lịch Hàng loạt công trình lớn về du lịch được hoàn thành, đưa vào hoạt động như Cáp treo Bà Nà, khu giải trí Fantasy Park, Vòng quay Mặt trời (Sun Wheel), Công viên Châu Á, Khu giải trí Helio Center…

Đà Nẵng liên tiếp được nhiều tổ chức du lịch quốc tế có uy tín bình chọn là điểm đến hấp dẫn Nhiều sản phẩm của thành phố đã đoạt những giải thưởng lớn như Khu nghỉ dưỡng 5 sao InterContinental Danang Sun Peninsula Resort vừa đoạt giải Khu nghỉ dưỡng sang trọng nhất châu Á 2014 do World Travel Awards trao thưởng Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn Đà Nẵng là top 10 điểm đến hấp dẫn của châu Á năm 2014 Đà Nẵng đứng đầu danh sách top 10 điểm đến mới nổi trên thế giới năm 2015 theo kết quả bình chọn trên trang thông tin điện tử du lịch uy tín TripAdvisor

Các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng và nâng cao về chất lượng Nhiều khu, điểm tham quan, du lịch trên địa bàn thành phố đã được xây dựng mới hoặc nâng cấp và bổ sung thêm nhiều sản phẩm du lịch mới phục vụ du khách Du lịch nghỉ dưỡng biển được phát triển theo hướng mở rộng cung ứng các dịch vụ vui chơi thể thao biển như canô, dù kéo, jetski, kayak, lặn biển… kết hợp với hàng loạt các khu nghỉ mát, biệt thự cao cấp dọc tuyến biển cung cấp những dịch vụ ngày càng hoàn thiện cho du khách

Khu du lịch Bà Nà trong những năm qua đã được đầu tư phát triển mạnh phục

vụ du lịch như hệ thống cáp treo đạt 4 kỷ lục thế giới và các dịch vụ vui chơi, giải trí tại Bà Nà; các tour tuyến, điểm tham quan, khám phá Sơn Trà được khai thác

Du lịch công vụ, hội nghị hội thảo (MICE) được tổ chức ngày càng chuyên nghiệp hơn với các sự kiện mang tầm cỡ quốc tế Các dịch vụ trọn gói kết hợp cùng các điểm du lịch nghỉ dưỡng đang dần khẳng định uy tín và thương hiệu cho du lịch Đà Nẵng

Tiếp tục triển khai Đề án Phát triển dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; triển khai Chương trình Phát triển du lịch 2016-2020 Xây

Trang 26

dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm đón tiếp và phân phối khách khu vực miền Trung-Tây nguyên Tiếp tục thu hút và mở thêm các đường bay quốc tế đến Đà Nẵng, trong đó ưu tiên các đường bay từ châu Âu và các thị trường gần như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore Nâng cấp và hoàn thiện các dịch

vụ để Đà Nẵng trở thành trung tâm đón tàu biển và du thuyền quốc tế Phối hợp với các địa phương khu vực miền Trung trong việc xây dựng các chuỗi sản phẩm du lịch đặc trưng, chất lượng cao; liên kết, phối hợp trong công tác xúc tiến, quảng bá

Thu hút và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch Triển khai có hiệu quả Kế hoạch Phát triển nguồn nhân lực du lịch đã được UBND thành phố phê duyệt; tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ, bồi dưỡng về du lịch cho các khách sạn, nhà hàng, nghiệp vụ bán sản phẩm, tiếp thị du lịch, đào tạo hướng dẫn viên, thuyết minh viên Nâng cao chất lượng phục vụ của các khách sạn, nhà hàng, khu điểm du lịch…

Bảo đảm môi trường du lịch trong sạch cả về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Xây dựng Đà Nẵng trở thành Thành phố môi trường, thành phố sự kiện Xử lý dứt điểm tình trạng bán hàng rong, bu bám, chèo kéo khách du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ du lịch và tạo nên hình ảnh du lịch

Đà Nẵng thân thiện, mến khách Tất cả nhằm mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành một thành phố du lịch có thương hiệu trong khu vực và trên thế giới

Trang 27

Với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo thành phố, sự chung tay góp sức của các ngành, các cấp, doanh nghiệp và cộng đồng người dân thành phố, ngành Du lịch Đà Nẵng sẽ tiếp tục phát triển lên những tầm cao mới, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố

Trang 28

CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU THỊ HIẾU CỦA KHÁCH DU LỊCH MIỀN BẮC

ĐẾN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Một số đặc điểm của khách du lịch miền Bắc

Miền Bắc là cách gọi dùng để chỉ vùng lãnh thổ ở phía Bắc nước Việt Nam Tuy nhiên, tùy theo thời điểm lịch sử hoặc thói quen sử dụng mà khái niệm này được dùng để chỉ các vùng lãnh thổ khác nhau

Theo địa lý tự nhiên vùng lãnh thổ này miền Bắc được chia thành 3 vùng lãnh thổ nhỏ:

Tây Bắc Bộ (bao gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La) Vùng này chủ yếu nằm ở hữu ngạn sông Hồng Riêng Lao Cai, Yên Bái đôi khi vẫn được xếp vào tiểu vùng Đông Bắc

Đông Bắc Bộ (bao gồm 9 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh.)

Đồng bằng Bắc Bộ (bao gồm 10 tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc.)

Và để thực hiện việc điều tra thị hiếu khách miền Bắc nhằm lấy cơ sở cho việc nghiên cứu của đề tài, tôi đã tiến hành điều tra 150 khách du lịch miền Bắc, với 150 phiếu phát ra, thu vào 150 phiếu, thành phần 84 nam chiếm 56%, 66 nữ chiếm 44%

tổng cộng 150 người cho cuộc khảo sát này

Theo kết quả điều tra ấy, chúng tôi nhận thấy khách du lịch miền Bắc thường đi

du lịch chủ yếu vào các dịp hè và các dịp lễ đặc biệt Hơn 50% người ở Hà Nội đều cho rằng họ sẽ đi du lịch vào các dịp lễ lớn và những ngày nghỉ dài (như 30/4, 1/5

và 2/9) (thống kê từ tài liệu điền dã của tác giả)

Cũng giống như các thành phần khách du lịch khác, Người miền Bắc thường dùng những chuyến du lịch để gắn kết tình cảm, vì vậy có tới 60% những chuyến du lịch thường được sắp xếp để đi cùng với người thân trong gia đình; 30% đi cùng bạn bè Người miền Bắc có thiên hướng đi với gia đình nhiều hơn người các miền khác

Chẳng hạn trong cuộc phỏng vấn Anh Lê Văn Ngọc, 34 tuổi, là khách du lịch

đến từ tỉnh Thái Nguyên, anh chia sẻ rằng “ Anh đi du lịch cùng với bố, mẹ, vợ và

Trang 29

các con, anh muốn đưa cả nhà đi du lịch sau những tháng ngày làm việc, càng làm cho tình cảm gia đình anh thêm hạnh phúc, đầm ấm hơn”

Hay là cuộc trò chuyện với vợ chồng chị Lan, 25 tuổi, khách du lịch đến từ Lào

Cai Chị chia sẽ rằng: “Chị thích đi du lịch cùng chồng, có những khoảng thời gia

riêng tư, có thể hiểu và cảm thông cho nhau nhiều hơn, và chị không thích một mình

đi đến vùng đất lạ lẫm.”

Bên cạnh đó, cũng qua khảo sát, người miền Bắc vẫn thường có thói quen tự tổ chức tour riêng khi họ đi du lịch hơn là phải thông qua công ty du lịch và họ thích chọn loại hình du lịch du lịch nghỉ dưỡng thay vì tham quan

Khi nghiên cứu về tính cách vùng miền ở Việt Nam, dưới góc độ tâm lý học có các công trình nghiên cứu của Đỗ Long, Vũ Dũng, Phạm Minh Hạc như "Những nghiên cứu tâm lý học" (2007) của Đỗ Long, "Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Những điều cần khắc phục" (2004) của tập thể tác giả hội viên Hội khoa học Tâm lý - Giáo dục học Việt Nam do Phạm Minh Hạc chủ biên cũng đã đề cập đến tính cách của từng vùng ảnh hưởng rất lớn đến thị hiếu du lịch của họ So với các vùng miền trong cả nước, người miền Bắc ắc thường ăn nói nhẹ nhàng, kín đáo, thường hay suy nghĩ sâu xa, người miền Bắc thường thể hiện mình qua lời nói, trong bất cứ tình huống nào họ cũng đều phải nói cho được nên rất khó nắm bắt được suy nghĩ của họ, gặp vấn đề gì không hài lòng họ thường không nói thẳng mà tỏ thái độ rất khó chịu Nên với tính cách như vậy đối với những đối tượng khách này khi đưa vào phục vụ du lịch chúng ta cần phải có những lưu ý nhất định, cần tôn trọng khách, hiểu tâm lí khách này nhiều hơn, họ rất ham học hỏi và nhiều thắc mắc, chẳng hạn khi đề họ mua một tour du lịch của mình thì phải nắm bắt được đó là đối tượng khách DL miền Bắc để bố trí HDV sao cho phù hợp, có nguồn kiến thức tương đối sâu,

Nghiên cứu văn hóa Việt Nam có "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" (1996), của Trần Ngọc Thêm, "Việt Nam - văn hóa và con người" của Nguyễn Đắc Hưng cũng đã đề cập đến tính cách của người miền Bắc khi vào thì phong nhã còn ra ngoài thì hào hoa, họ rất chú ý đến bề ngoài tức là lúc nào ăn mặc, đầu tóc cũng phải nghiêm túc, tề chỉnh, nhất là các món ăn phải nấu cầu kỳ, phải theo đúng gia vị của nó “ăn Bắc mặc Nam”, cho nên từ đó có lẽ người hay phàn nàn về món ăn nhất

là người Bắc và phần lớn người miền này thích ăn mặn Bên cạnh đó, các nhà

Trang 30

nghiên cứu còn cho rằng, người miền Bắc rất chăm lo về chất lượng cuộc sống thể hiện qua cách ăn mặc, đi đứng, xe cộ nên khi chọn phương tiên du lịch họ cũng đòi hỏi nhiều Về tiền bạc, họ rất song phẳng, ai lo phần nấy, không có khái niệm “ bao” Như vậy thị hiếu của khách miền Bắc ở đây là họ thích xòng phẳng, rõ ràng, trong việc phục vụ những dịch vụ, nghỉ ngơi, ăn uống thì cũng cần lưu ý

Và chúng tôi thiết nghĩ, du lịch là một sự nghỉ ngơi, thể hiện nhu cầu đa dạng của khách Tính cách vùng sẽ ảnh hưởng, chi phối đến thị hiếu du lịch của khách rất lớn Việc tìm hiểu tính cách người miền Bắc ở trên đã gợi mở hơn các thị hiếu muốn có được khi du lịch của họ…

Như vậy với những nghiên cứu và nhận xét của những nhà khoa học, thì thị hiếu của người miền Bắc có ảnh hưởng rất lớn đến việc đi du lịch của họ vì vậy thông qua những tính cách, quan điểm cảu người miền Bắc mà chúng ta sẽ nắm bắt được những thị hiếu, sở thích của khách mà có các chính sách, biện pháp sao sao phù hợp

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị hiếu đi du lịch của du khách

2.2.1 Các nhân tố thuộc về nhân khẩu học

2.2.1.1 Tuổi đời của khách

Với việc phỏng vấn anh Ngô Văn Ân, 19 tuổi cho rằng: “ Anh muốn đến du lịch

tại Đà Nẵng tìm hiểu những cái mới, muốn trãi nghiệm sự đam mê tuổi trẻ nhiệt huyết của mình”

Với chị Mai, 21 tuổi thì cho rằng: “Chị thích đi phượt cùng bạn bè, muốn tìm đến

cái mới cái hay tại thành phố này”

Như vậy đối với du khách trẻ tuổi, họ thường ham thích cái mới, ham muốn tìm tòi cái mới, tìm tòi tri thức Họ có điều kiện sức khỏe tốt, thích du lịch, nhưng thu nhập thấp Do vậy, chỉ có thể thực hiện các chuyến du lịch cấp thấp như du lịch ba

lô, du lịch du học…

Như điều tra hơn 10 điền giả ở độ tuổi 30-35 họ đều cho rằng: “Họ không muốn

tốn nhiều thời gian, và họ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để được phục vụ tốt và đầy đủ các dịch vụ”

Đối với người ở độ tuổi trung niên, là thời kỳ thành đạt trong sự nghiệp, đủ điều kiện kinh tế và thể lực tốt, thường có địa vị xã hội khá cao, do vậy họ thường chọn

Trang 31

các chương trình du lịch ở cấp tương đối cao, giao thông tiện lợi, khoảng cách tương đối gần

Với bác Năm thì lại cho rằng: “ Bác muốn đến Đà Nẵng về lại với những di tích

lịch sử, muốn nhìn lại những hoài niệm thời còn trẻ, và tìm gặp một số người bạn thân năm xưa ”

Như vậy đa phần người cao tuổi có sự tham gia vào cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ những năm cuối cùng, vì thế trong nếp sống, nếp nghĩ còn thiên về tư tưởng truyền thống Vì vậy những chuyến du lịch mà họ lựa chọn nhiều chuyến đi

về nguồn, thăm lại chiến trường xưa… Bên cạnh đó cũng đã có những tiếp thu những tư tưởng mới của xã hội hiện đại nên có tâm lý thoải mái hơn, lạc quan yêu đời hơn Người già vốn ưa thích sự gặp mặt, đoàn tụ nên cũng thường hay tổ chức các chuyến du lịch thăm thân Bên cạnh đó là sở thích đi chùa Người Việt Nam có câu “ trẻ vui nhà già vui chùa” chính vì vậy rất nhiều chuyến du lịch thăm và lễ đền chùa được người già ủng hộ Những lần đi này hầu như được tổ chức thường niên

và mỗi năm có thể đi nhiều lần

xã hội

2.2.1.3 Trình độ học vấn của du khách

Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng những người có mức độ giáo dục cao, dễ khắc phục trở ngại tâm lý như cảm giác xa lạ về môi trường sống, phong tục tập quán, ăn uống và ngôn ngữ ở vùng đất mới lạ, họ dễ tìm hiểu và tiếp thu cái mới, thích tìm tòi, thưởng thức cái đẹp Ngược lại, người có mức độ giáo dục và trình độ văn hóa tương đối thấp sẽ thiếu sự hiểu biết đối với sự vật bên ngoài, khả năng thích ứng với môi trường lạ tương đối kém, dễ sinh ra cảm giác sợ sệt, ngại đi du lịch Theo thực tế, đa số khách du lịch đến với đà nẵng thông qua 150 phiếu khảo sát thì họ đã có công việc ổn định, đều có trình đọ học vấn cao thì nghề nghiệp càng ổn

Trang 32

định và thu nhập của họ cũng càng tốt, từ đó họ sẽ càng có nhiều nhu cầu, động cơ

đi du lịch hơn so với những người có trình độ học vấn thấp

2.2.1.4 Mức thu nhập của du khách

Nghiên cứu gần đây là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch Con người khi muốn đi du lịch không chỉ cần có thời gian mà còn phải có đủ tiền để thực hiện mong muốn đó, vì khi đi du lịch họ còn phải trả các khoản tiền như tiền tàu xe, tiền thuê phòng, tiền tham quan, tiền tiêu dùng… Người

có thu nhập trung bình thì họ chỉ thực hiện các nhu cầu cơ bản (thiết yếu), nhưng khi họ có thu nhập cao, họ còn muốn thưởng thức những cái mới lạ, cái đẹp, tự khẳng định mình…

Phỏng vấn anh Tiến, 37 tuổi là Phó giám đốc một công ty Thực phẩm tại Hà

Nội anh chia sẽ rằng: “ Anh đến Đà Nẵng nghĩ dưỡng và muốn được phục vụ với

những chất lượng dịch vụ tốt nhất”

Bác Tuấn, 62 tuổi, là bác sĩ đã về hưu bác cho rằng: “ Bác và gia đình chọn mua

tour của một công ty có uy tính và chất lượng lên hàng đầu, ”

2.2.1.5 Tình trạng hôn nhân của du khách

Những người độc thân có xu hướng đi du lịch nhiều hơn những người đã lập gia đình vì đa số những đã người lập gia đình phải chăm sóc con cái, chăm lo cho nhà cửa nhiều hơn, còn những người chưa lập gia đình ít có điều gì phải vướng bận Khi

đó, những người độc thân thường hướng đến việc tìm hiểu, khám phá, thích trải nghiệm…còn những người đã lập gia đình thì chủ yếu là nghỉ ngơi, tham quan, du lịch mua sắm hoặc tham gia các hoạt động giải trí cùng gia đình

2.2.2 Các nhân tố về điểm đến

Du khách đi du lịch với những thị hiếu/ động cơ khác nhau thì họ có những nhu cầu và hành vi tiêu dùng khác nhau hơn nữa họ sẽ đòi hỏi những dịch vụ, cách giao tiếp và phục vụ khác nhau Kết quả của việc phân tích thị hiếu/động cơ du lịch của khách du lịch sẽ cho phép nhà quản lý kinh doanh có những biện pháp nhằm khai thác và phục vụ tốt hơn Theo các nghiên cứu trên thế giới về thị hiếu trong du lịch, người ta chia thị hiếu du lịch của du khách bao gồm từ nội tại du khách

2.2.2.1 Tài nguyên điểm đến

Thông thường chúng ta thường quan niệm rằng: du lịch là đồng nghĩa với việc tham quan, thưởng thức những danh thắng, những địa điểm nổi tiếng, những đất

Trang 33

nước xa xôi hay tiếp xúc và tìm hiểu những con người có phong tục tập quán, văn hóa khác với mình Việc đi du lịch như vậy đã đem lại nhiều điều thú vị và hạnh phúc, khiến cho bao người làm việc hằng ngày cốt chỉ để dành tiền đi cho biết đó biết đây Nhưng khi cuộc sống phát triển, theo thời gian gần đây, khái niệm về “du lịch nghỉ dưỡng” đã có sự thay đổi hiện đại hơn Đó là việc kết hợp giữa du lịch với bồi bổ sức khỏe hoặc khám chữa bệnh Việc đi du lịch kết hợp với bồi bổ sức khỏe

và chữa bệnh có hiệu quả cao, sở dĩ là vì những người đi du lịch sẽ có cảm giác như thoát ra khỏi cuộc sống đời thường với bao lo toan, bận rộn, vất vả để đến với những nơi có điều kiện khí hậu tuyệt vời, hòa mình vào những cảnh quan xung quanh, và có điều kiện thảnh thơi để nghĩ đến chính mình Du lịch nghỉ dưỡng được xem là loại hình du lịch giúp cho con người phục hồi sức khoẻ và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng thường xuyên xảy ra trong cuộc sống Việc xây dựng và mở ra các trung tâm chăm sóc sắc đẹp, phục hồi sức khỏe, tắm suối nước nóng, tắm bùn, bấm huyệt, xoa bóp, châm cứu… và áp dụng các thành tựu của y học cổ truyền đã và đang thu hút được sự quan tâm của du khách cho mục đích du lịch nghỉ dưỡng Các trung tâm này có thể nằm trong các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, hoặc độc lập ở các khu suối nước nóng Bên cạnh đó, sau khi nghỉ ngơi thư giãn du khách thường có xu hướng tìm kiếm đến các trung tâm, địa điểm để mua sắm các hàng hóa và hy vọng mua được các sản phẩm đặc thù của mỗi địa phương Trên thực tế, có rất nhiều tour du lịch được hình thành như tour Sơn Trà- Bà Nà, Tour Ngũ Hành Sơn - Hội An, Tour Bà Nà, Tour Phan Thiết - Mũi Né,…những Tour du lịch nghỉ dưỡng này ra đời nhằm mang đến một kỳ nghỉ hoàn hảo, một không gian riêng tư, một không gian ẩm thực riêng biệt của từng vùng, một phong cách phục vụ chu đáo và chuyên nghiệp của nhà hàng, khách sạn…

Ví dụ: Anh P.B.T, Phó giám đốc công ty du lịch lữ hành/ đơn vị S-Tours chia

sẻ với chúng tôi rằng: “Một số khách du lịch đến với Đà Nẵng mà đặc biệt là khách

du lịch miền Bắc họ đòi hỏi cao về chất lượng tour du lịch, ăn uống, bên cạnh đó thường có nhu cầu muốn mua sắm đặc sản với giá cả hợp lí, luôn đòi hỏi những điểm đến mới có sức hấp dẫn như suối khoáng nóng Thần Tài, khu du lịch Bà Nà, ”

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w