1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật truyện ngắn nguyễn minh châu qua tập cỏ lau

64 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 643,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong các sáng tác có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về đời văn, mà còn giúp ta khám phá bản

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Minh Châu là một tài năng lớn, một nhà văn “mở đường tinh anh và tài năng nhất” cho văn học nước ta vào những năm đầu đổi mới Bên cạnh đó, ông được xem là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học thời hậu chiến đã đi tiên phong trong cuộc dò tìm những phương thức biểu hiện mới cho thể loại truyện ngắn Vì vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong các sáng tác có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về đời văn, mà còn giúp ta khám phá bản sắc tư tưởng cùng tiếng nói nghệ thuật riêng của nhà văn

Tập Cỏ lau (NXB Văn học, 1989) được sáng tác vào những năm cuối

đời của Nguyễn Minh Châu, nên nó có một ý nghĩa rất thiêng liêng và đặc biệt Tập truyện chính là “bản di chúc tinh thần” khép lại một cuộc đời với biết bao chiêm nghiệm, suy tư được chắt lọc từ chính sự trải nghiệm của một

nhà văn mặc áo lính Đi sâu vào tìm hiểu tập Cỏ lau là khám phá những băn

khoăn, trăn trở của nhà văn, đồng thời đây cũng là tiếng nói tri ân chúng tôi muốn gửi tới Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu là nhà văn được lựa chọn để giảng dạy trong chương trình môn Văn ở trường Trung học phổ thông Vì vậy, việc tìm hiểu Nguyễn Minh Châu góp phần rất hữu ích vào công việc phục vụ học tập, cũng như quá trình giảng dạy của người giáo viên

Trang 3

trị đều được tác giả Nguyễn Trọng Hoàn sưu tầm và tuyển chọn trong cuốn

Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm Con số trên cho ta thấy rằng cuộc

đời, con người và tác phẩm của Nguyễn Minh Châu như một nguồn sáng mãi tỏa ánh hào quang rực rỡ cùng năm tháng Trong khuôn khổ của đề tài, chúng

tôi xin được nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về tập Cỏ lau như

sau:

Trước hết, phải kể đến Đỗ Đức Hiểu trong bài Đọc Phiên chợ Giát Đây là bài viết mang tính mở đầu cho những phê bình về tập truyện Cỏ lau Nhà phê bình đã đưa ra khái niệm “văn bản đa thanh” khi đánh giá về Phiên chợ Giát Bên cạnh đó, ông còn nêu ra và chỉ rõ “Nghệ thuật xây dựng truyện Phiên chợ Giát, chủ yếu là cái pha màu, cái pha trộn của các tâm trạng đối

nghịch, là sự thâm nhập lẫn nhau của các chi tiết, là cái nét nhòe, cái mơ hồ, cái không xác định của cấu trúc hình tượng” [6, tr.178] Từ bài viết này, Đỗ Đức Hiểu đã ít nhiều mở ra những vấn đề về khai thác thiên truyện cũng như

đi sâu giải quyết nghệ thuật xây dựng truyện Phiên chợ Giát Những gợi mở

quý báu này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu

Trên cái nền chung ấy, Hoàng Ngọc Hiến trong bài Đọc Nguyễn Minh Châu (từ Bức tranh đến Phiên chợ Giát) cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đã đưa ra ý kiến của mình về Phiên chợ Giát và nhấn mạnh “Trong truyện Phiên chợ Giát, có những chi tiết,

những hình ảnh khiến người đọc nghĩ ngợi về thân phận con người (nói chung) Nhưng toàn bộ truyện là một giả thuyết văn học về bản chất và thân

phận người nông dân Truyện Phiên chợ Giát là một tác phẩm có tính chất

vấn đề, không phải với ý nghĩa là nêu vấn đề mà với ý nghĩa như Kant hiểu từ này: nêu vấn đề và làm sáng tỏ cốt lõi của vấn đề” Bên cạnh đó, người viết cũng đề cập tới phong cách truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu: “Trong truyện của Nguyễn Minh Châu không có những nhận định “đơn nghĩa” có

Trang 4

tính chất “kết luận khép kín” [6, tr.192] Từ mọi góc nhìn, Hoàng Ngọc Hiến

ít nhiều mở ra vấn đề về hình tượng nhân vật và phong cách truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn cho rằng trong bài viết Đường tới Cỏ lau đã đề cập rất nhiều về thân phận người phụ nữ, ông đặt nhân vật nữ trong Cỏ lau vào “chủng loại nhân vật vọng phu” với cách đưa ra mới mẻ và

độc đáo giúp ta có cái nhìn sâu sắc hơn về người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu Không chỉ dừng lại ở đó, Chu Văn Sơn còn phát hiện ra

“vẻ đẹp mẫu tính” trong tác phẩm Bởi tác giả cho rằng “Ngay từ khi mới cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã nguyện đi tìm những hạt ngọc trong tâm hồn con người và cuộc đời này Viên ngọc quý giá nhất, trong sáng nhất có lẽ nào không phải là mẫu tính này đây” [6, tr.200] Từ những nghiên cứu, tác giả đã làm nổi bật “vẻ đẹp mẫu tính” trong truyện ngắn và là cơ sở quan trọng để nghiên cứu “vẻ đẹp mẫu tính” trong truyện ngắn của nhà văn

Nguyễn Tri Nguyên với bài viết Những đổi mới về thi pháp trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 đã giúp người đọc có cái nhìn vừa khái

quát vừa cụ thể về thủ pháp nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu: “Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt ở trong truyện ngắn, thường xuất hiện những ẩn dụ, biểu tượng đa nghĩa không tham gia vào cốt truyện và hành động nhân vật nhưng nó giải bày được nhiều suy nghĩ của tác giả, nâng tác phẩm lên ý nghĩa triết học và tượng trưng” [6, tr.221] Đồng thời tác giả bài viết đã khơi dòng cho việc nghiên cứu: “ngôn ngữ phức điệu và đa thanh ngày càng được gia tăng và trở nên hoàn hảo đó là sự đan chéo của nhiều độc thoại và đối thoại” [6, tr.223] Nhận định của tác giả đã cho bạn đọc thấy được việc vận dụng độc đáo các loại ngôn ngữ trong sáng tác Đây là tư liệu quý giúp chúng tôi tiếp tục khám phá nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Trang 5

Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng tiếp tục gợi mở nhiều vấn đề qua bài

viết Vấn đề tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Tác giả nhận định, Cỏ lau và Mùa trái cóc ở miền Nam thuộc kiểu tình huống thắt nút, còn Phiên chợ Giát thuộc tình huống luận đề Khác với Nguyễn Huy Thiệp

thường tạo ra tính bất ngờ cho tình huống, thì Nguyễn Minh Châu trái lại, cố gắng tạo tính chất tự nhiên cho tình huống Vì thế truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như một “mũi khoan” ngày càng xoáy sâu vào người đọc Người viết còn khẳng định: “Những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu

như Bức tranh, Cỏ lau, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát với những tính cách

nhân vật mang hơi thở tầm cỡ thời đại chứa đựng những vấn đề nhân sinh, đạo đức” [6, tr.265] Đây là bài viết công phu về vấn đề tình huống truyện, qua đó đã tạo đà cho chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài

Để bày tỏ tình cảm của mình đối với nhà văn Nguyễn Minh Châu, Văn

Chinh đã gửi tới độc giả bài Nguyễn Minh Châu và tập truyện cuối cùng: Cỏ lau như lời giới thiệu cho sự ra đời của tập truyện Người viết phân tích: “Cỏ lau gồm ba truyện ngắn bị phá cách để thích nghi với thời giờ hiếm hoi của

người hiện đại dành cho tiểu thuyết văn chương trong khi sự hàm chứa hoàn cảnh và số phận nhân vật trót đã dồn tích quá nhiều của một nhà văn đã nhạy cảm còn cần kiệm quý báu đời sống” [6, tr.202] Tuy nhiên, do dung lượng quá ít (hơn ba trang giấy), bài viết của Văn Chinh mới chỉ khơi lên cái nhìn chung chung chứ chưa giúp người đọc nhìn ra từng vấn đề cụ thể trong mỗi tác phẩm

Tôn Phương Lan với công trình Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho người đọc nhiều vấn đề mới mẻ về phong cách nghệ

thuật Nguyễn Minh Châu Theo người viết: “hai loại nhân vật đặc trưng nhất thể hiện được phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu Đó là nhân vật tư tưởng và nhân vật tính cách - số phận” [6, tr.73] Bên cạnh đó “những câu văn

Trang 6

và sử dụng những chữ cứ y như túm lấy tâm hồn người đọc mà tra hỏi” [6, tr.175] Đã góp phần không nhỏ để làm nên những thành công trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Nhà nghiên cứu văn học Trịnh Thu Tuyết trong bài viết Một số cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là một bài viết khá quan trọng,

giúp tôi tìm hiểu về kiểu cốt truyện chủ yếu trong các sáng tác của nhà văn Điều này liên quan trực tiếp đến việc phân tích nghệ thuật truyện ngắn trong

Cỏ lau Theo tác giả: “Khuynh hướng tiếp cận hiện thực mới mẻ đã dẫn đến

sự xuất hiện một dạng cốt truyện mới trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu - kiểu cốt truyện đời tư Đó là dạng cốt truyện chủ yếu tái hiện những bước

thăng trầm, uẩn khúc trong số phận cá nhân, dạng cốt truyện của Cỏ lau, Phiên chợ Giát, Mùa trái cóc ở miền Nam…” [6, tr.330] Qua bài viết này, tác giả đã minh chứng những nét độc đáo có trong tập truyện Cỏ lau đó là kiểu

“cốt truyện đời tư” được nhà văn sử dụng một cách khéo léo và đầy dụng ý nghệ thuật

Có thể khẳng định rằng, từ khi tập truyện Cỏ lau ra đời đã gây một

tiếng vang lớn trên văn đàn Số lượng các công trình và bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình ngày càng nhiều và đem lại những giá trị to lớn khi đánh giá về tập truyện Tuy mỗi bài viết mới chỉ khơi sâu vào một hoặc hai truyện, nghệ thuật trong tập truyện, những bài viết trên là cuốn cẩm nang vô cùng giá trị để cho những ai yêu mến, muốn tìm hiểu, nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Nhìn chung, các tác giả đã nghiên cứu và tìm hiểu tập Cỏ lau ở phương

diện nghệ thuật truyện ngắn với mức độ nông sâu khác nhau Nhưng, các công trình, bài viết kể trên vẫn chưa thực sự khơi sâu vào đề tài và còn nhiều vấn đề khả thủ bị bỏ ngỏ Trong đề tài này, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu đã đạt được của giới nghiên cứu văn học Điều này tạo tiền đề để chúng

Trang 7

tôi nghiên cứu về đề tài “Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua tập

Cỏ lau” một cách khoa học và hệ thống

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “Nghệ thuật truyện ngắn

Nguyễn Minh Châu qua tập Cỏ lau” Trong đó, chúng tôi tập trung vào những

yếu tố cơ bản như: nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật kiến tạo tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật xây dựng nhân vật và một số đặc điểm ngôn

từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, để có cái nhìn tổng quát về truyện ngắn, cũng như thấy được tư duy sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng truyện ngắn của nhà văn

- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là ba tác phẩm trong tập truyện Cỏ lau (NXB Văn học, 1989) gồm hai truyện ngắn Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam và một truyện vừa Phiên chợ Giát

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã đi tiến hành sưu tầm, đọc và sử

lý tài liệu sau đó áp dụng một số biện pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê: Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong

quá trình sưu tầm, đọc thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình tìm hiểu vấn đề,

chúng tôi đã sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu giữa truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và một số truyện ngắn của các tác giả khác, từ đó có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, nhằm tăng thêm sức thuyết phục cho đề tài

Phương pháp phân tích, đánh giá: Phương pháp này được dùng chủ

yếu khi chúng tôi mổ xẻ vấn đề “Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

qua tập Cỏ lau”, sau đó khái quát lại để đánh giá chung cho đề tài

5 Bố cục của đề tài

Trang 8

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, chúng tôi chia khóa luận thành hai chương:

Chương Một: Nguyễn Minh Châu và tập truyện Cỏ lau

Chương Hai: Những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc trong Cỏ lau

Trang 9

Chương Một

NGUYỄN MINH CHÂU VÀ TẬP TRUYỆN CỎ LAU

1.1 Cuộc đời nhà văn Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu sinh ngày 23 tháng 10 năm 1930 trong một gia đình nông dân khá giả ở làng Thơi thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Là con út trong nhà, nên được bố mẹ, nhất là các chị chăm chút nuôi dưỡng và được học hành đến nơi đến chốn Tuổi thơ Nguyễn Minh Châu được nuôi dưỡng bởi dòng sữa ngọt ngào và lớn lên trong những lời ru từ người mẹ thân yêu Trong mắt nhà văn, người mẹ phúc hậu và tần tảo đã để lại niềm kính yêu và cả nỗi day dứt trong anh, vì xa nhà nên anh không có điều kiện chăm sóc mẹ lúc tuổi già Như vậy, môi trường giáo dục gia đình cùng với sự chăm sóc đầy tình yêu thương của người mẹ chính là một trong những yếu tố quan trọng hình thành nên nhân cách và tài năng văn chương của nhà văn sau này

Làng quê nơi nhà văn sinh ra, thuộc vùng Lạch Thơi huyện Quỳnh Lưu, mảnh đất cửa ngõ xứ Nghệ Nơi đây con người sống trong những huyền thoại mà “tài đến như ông Mackét cũng không tưởng tượng ra được” (lời Nguyễn Minh Châu nói với một nhà văn cùng quê) Là vùng đất của địa linh nhân kiệt, văn chương khoa bảng và rất “phát về văn” đã sản sinh ra bao nhân tài cho đất Việt Người dân xứ Nghệ rất kiên cường trong mưa gào, gió giật của những trận cuồng phong, những người nông dân bốn mùa bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, vắt cục đất làm ra củ khoai hạt lúa, nhưng càng khó khăn bao nhiêu thì con người xứ Nghệ càng quyết tâm bấy nhiêu Chính mảnh đất quê hương đã có ảnh hưởng tới lòng kiên trì, tấm gương hiếu học và cái tài chịu khổ của Nguyễn Minh Châu

Quê hương với một thiên nhiên nước biếc non xanh, một truyền thống nghìn năm văn hiến, một làng quê dữ dội mà hiền hòa, một gia đình thanh bạch nhưng đầm ấm, một người mẹ nhẫn nại hi sinh… Tất cả hòa quyện

Trang 10

chung và đúc nên nhân cách của Nguyễn Minh Châu, thấm đượm trên từng trang văn đặc sắc của anh

Là một con người có nhân cách chân chính, Nguyễn Minh Châu luôn nghiêm khắc với bản thân mình, cố thoát khỏi một lối sống tầm thường nhỏ nhen, xa lánh mọi hư vinh, những đam mê vật chất để hướng tới một tâm hồn trong sạch Trong con mắt của nhà văn Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Minh Châu hiện lên không có gì nỗi trội nhưng rất đáng khâm phục: “Đấy là một con người gầy nhỏ, tướng mạo không có gì đặc biệt (…) phải trả giá đau đớn thế nào, kể cả cái chết” [6, tr.442] Là một nhà văn chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu càng nhận thức sâu sắc hơn về lương tri, trách nhiệm và sứ mạng thiêng liêng của người cầm bút

Nguyễn Minh Châu còn là một người chồng rất mực thương vợ, luôn bên cạnh sẻ chia niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống đời tư Là người cha nhưng anh cư xử như một người bạn để các con có thể tâm sự, giải bày Trong

ký ức của chị Doanh, vợ nhà văn: “Từng ấy năm chung sống hầu như chưa bao giờ anh to tiếng với vợ, với con Anh sống đạm bạc, giản dị, ăn ở thế nào cũng xong, hầu như anh không có một nhu cầu, một đòi hỏi nào cho riêng anh” [6, tr.437] Con người ấy, sống hết sức bình dị nhưng thắm đượm sự yêu thương với vợ con Ngay cả lúc nằm trên giường bệnh, nhà văn vẫn không quên sinh nhật của con mình

Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vào quân đội Là nhà văn mặc áo lính, coi văn chương là một lẽ sống, một cách nhập cuộc và khao khát bằng ngòi bút của mình có thể giúp sức vào cuộc “đấu tranh vì quyền sống của cả dân tộc”, do vậy Nguyễn Minh Châu đã dành trọn vẹn nữa đời văn của mình đi sâu, khám phá, phản ánh vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo của cuộc sống và tâm hồn con người trong cuộc chiến tranh vệ quốc Hiện thực đời sống, hiện

Trang 11

thực chiến tranh đã khiến cho Nguyễn Minh Châu từng băn khoăn, trăn trở như một nỗi khắc khoải, bởi ông mong mỏi làm sao để người viết có thể “ôm cho hết vòng tay của mình” hiện thực bề bộn của cuộc sống, để mỗi tác phẩm viết ra đừng “nhạt nhẽo” và người đọc có thể “bắt gặp những dáng dấp và nhịp sống thực của họ trên trang sách” [6, tr.451] Có lẽ, cuộc sống nhiều bôn

ba khi trực tiếp chứng kiến cảnh chiến trường trong những năm tháng mưa bom, bão đạn và kinh nghiệm thực tế, đã giúp Nguyễn Minh Châu có cái nhìn sâu sắc về hiện thực Từ đó, hiện lên trong tác phẩm của ông những con người như từ cuộc sống bước vào trang văn

Bình sinh Nguyễn Minh Châu là con người nhiệt thành và đầy tâm huyết với công cuộc đổi mới nền văn học nước nhà, vừa bằng những phát biểu trực tiếp, mạnh mẽ, vừa bằng những sáng tác đã đạt đến độ sâu sắc của

tư tưởng và kết tinh nghệ thuật cao Nhưng số mệnh nghiệt ngã với căn bệnh hiểm nghèo ung thư máu đã khiến hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu phải đột ngột dừng lại khi vừa đạt tới độ chín của tài năng Ngày 23 tháng 1 năm 1989 Nguyễn Minh Châu chút hơi thở cuối cùng tại Viện quân y 108 Hà Nội, sau gần một năm chống chọi với bệnh tật

Trong cuộc đời 59 năm ngắn ngủi, Nguyễn Minh Châu đã hoàn thành

sứ mệnh của một nhà văn Ông đã để lại cho cuộc sống hôm nay một di sản văn học nhiều giá trị và ý nghĩa

1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Xuất phát từ điểm nhìn của người trong cuộc, người trực tiếp tham gia chiến đấu và trải nghiệm chiến tranh, nên các sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã phản ánh sát sao những diễn biến lịch sử phức tạp của dân tộc Sự nghiệp viết văn của Nguyễn Minh Châu có thể chia làm hai giai đoạn: trước

và sau 1975

1.2.1 Giai đoạn trước 1975

Trang 12

Trước khi cuộc kháng chiến chống Mĩ bùng nổ trong cả nước, Nguyễn Minh Châu đã có hơn 10 truyện ngắn và bút ký in trên tạp chí Văn nghệ quân

đội Nhưng phải đến tiểu thuyết Cửa sông (1967) thì con đường văn học của

Nguyễn Minh Châu mới thực sự được định hình Tiếp đó, tập truyện ngắn

Những vùng trời khác nhau (1970) và nhất là tiểu thuyết Dấu chân người lính

(1972) đã đưa Nguyễn Minh Châu trở thành một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn học chống Mĩ

Nói đến văn học chống Mỹ, không thể không nhắc đến Cửa sông với

nhịp sống vừa bình thản vừa quả cảm của một làng nhỏ ven sông bước vào cuộc đối đầu quyết liệt để chống lại âm mưu chiến tranh phá hoại tàn bạo của

đế quốc Mỹ Mặc dù, Nguyễn Minh Châu không bắt đầu sự nghiệp sáng tác

của mình bằng công việc viết tiểu thuyết nhưng Cửa sông - tác phẩm đầu tay

ra đời đã gây một tiếng vang lớn cho giới nghiên cứu Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã từng nhận xét: “Tôi hiểu rằng đây là sự ra đời hiển nhiên của một tài

năng mới” [6, tr.10] Tiểu thuyết Cửa sông là thước phim in đậm dấu ấn thời

sự, của một làng quê ở vùng cửa sông ven biển miền Trung vào những ngày đầu đất nước bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ Dù cuộc chiến tranh đã xảy ra, nhưng con người nơi đây vẫn bình tĩnh, chủ động và khẩn trương

trong tâm thế của người sẵn sàng chiến đấu Cửa sông là “hình ảnh quê

hương ta trong chiến tranh” (Phong Lê) Cuộc chiến đấu với giặc ngoại xâm giống như một cuộc trường chinh không ngừng nghỉ, chiến tranh là những chuỗi dài khó khăn và gian khổ Tuy nhiên, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu

“chân thực mà chưa thật sâu” [6, tr.11] Người ta chưa thấy tác phẩm của anh cái hùng tráng, cái dữ dội của cuộc chiến tranh chống Mỹ

Tiểu thuyết Dấu chân người lính (1972) gồm ba phần: Hành quân, Chiến dịch bao vây, Đất giải phóng, đã dựng lại những khung cảnh rộng lớn

và hào hùng của cuộc chiến tranh với những cảnh vượt Trường Sơn của binh

Trang 13

đoàn chủ lực, rồi những chiến dịch Khe Sanh - Tà Cơn với những trận chiến

ác liệt trên vùng đất Quảng Trị Nguyễn Minh Châu đã viết Dấu chân người lính bằng cả sức cảm nhận mãnh liệt về lịch sử hào hùng, về vẻ đẹp tâm hồn

Việt Nam đượm chất tráng ca qua việc khắc họa hình ảnh người lính cách mạng với hàng chục nhân vật thuộc các thế hệ khác nhau Trong đó, thế hệ trẻ tiêu biểu như Lữ, Khuê, Cận đến với quân đội từ vùng, miền khác nhau nhưng

ở họ đều mang những phẩm chất chung của thế hệ trẻ lúc bấy giờ: lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, niềm say mê chiến đấu, tâm hồn

trong sáng Nói về ưu điểm của tiểu thuyết này, tác giả Phan Cự Đệ viết: “Có

thể nói tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được nhiều tính cách, nhiều kiểu người có những chân dung, lý lịch khác nhau Một số nhân vật có tiểu sử lý lịch rất độc đáo (bác Đảo, cụ Phang)” [6, tr.12] Bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Minh Châu đã tái hiện lại không khí hào hùng thời chống Mỹ, đem đến cho độc giả một bức tranh toàn diện về cuộc đấu tranh chống Mỹ, về

những con người Việt Nam kiên cường, bất khuất Dấu chân người lính là

bản anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta

Điều đáng chú ý trong hai cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu là cùng với việc thể hiện cảm hứng sử thi bao trùm thời đại, nhà văn đã bộc lộ

sự nhạy cảm trước những câu chuyện tình đời, những số phận éo le của con

người Đó là câu chuyện éo le, khó sử của ông Vàng với hai bà vợ trong Cửa sông, là mối tình nồng nàn mà ngang trái của Lượng và Xiêm, là tình yêu giàu

tính lý tưởng mà thầm lặng của Lữ với cô văn công Thu Hiền, là nỗi đau của chính ủy Kinh trước cái chết của Lữ, đứa con trai hi sinh còn quá trẻ trong

Dấu chân người lính Với sức đi, sức viết và kinh nghiêm thực tế Nguyễn

Minh Châu đã khơi sâu vào những vấn đề trong đời sống riêng tư một cách sâu sắc và tinh tế Chính vì điều đó, đã giúp bạn đọc không chỉ hình dung ra

Trang 14

một thời đại hào hùng, cao cả của người lính chiến trường mà còn thấy được tâm tư, tình cảm của các nhân vật trong tác phẩm

Tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970) gồm bảy truyện

ngắn, chủ yếu được viết trong những năm đầu chiến tranh chống Mỹ Đây là sản phẩm truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Minh Châu Vì vậy ngòi bút chưa thực sự già dặn trong nghệ thuật kể chuyện, tổ chức kết cấu, tạo tình huống

Đặc sắc hơn cả là truyện Mảnh trăng (về sau, khi in trong tuyển tập truyện ngắn có tên là Mảnh trăng cuối rừng) Trong truyện ngắn này, tuy viết về đề

tài chiến tranh nhưng nguyễn Minh Châu không đề cập đến sự ác liệt, dữ dội hay sự gian khổ Chủ đích của nhà văn là sự say mê tìm kiếm cái đẹp, phát hiện và biểu dương cái đẹp Phải chăng, đây chính là phương diện quan trọng tạo nên sự thành công cho tác phẩm

Bên cạnh đó, ông còn viết những trang tiểu thuyết đặc sắc dành cho các

em thiếu nhi Tiêu biểu là tác phẩm: Từ giã tuổi thơ (1974) Ngoài ra, Nguyễn Minh Châu còn có một số bài bút ký in trên tạp chí Văn nghệ Quân Đội: Cảnh

1.2.2 Giai đoạn sau 1975

Quá khứ tiếp sức mạnh cho chúng ta, nhưng con người không thể sống bằng quá khứ Từ sau đại thắng mùa xuân 1975, hàng loạt vấn đề mới mẻ được đặt ra nhằm nói lên tiếng nói riêng, tư tưởng riêng, cách nghĩ riêng, quan niệm riêng của mỗi nhà văn về con người và cuộc sống Nguyễn Minh Châu là nhà văn nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội sau chiến tranh

Ngay sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những hạn chế của nền văn học thời chiến tranh và nhà văn đã dũng cảm, kiên định tìm

kiếm con đường đổi mới sáng tác của chính mình Hai cuốn tiểu thuyết Miền cháy và Lửa từ những ngôi nhà cùng xuất bản 1977 đã mang đến một sắc điệu

Trang 15

mới trong sáng tác của nhà văn Miền cháy là câu chuyện đất nước vừa bước

ra khỏi chiến tranh phải đối mặt với bao khó khăn và thử thách Chiến tranh kết thúc, hành trang mang về từ chiến trường của người lính không chỉ là những tấm huân chương mà còn là những di chứng ám ảnh khôn nguôi, những đau thương mất mát mà con người đang phải oằn mình ra chịu đựng Ở cuốn tiểu thuyết này, Nguyễn Minh Châu đã sớm cảnh báo về những u nhọt hiểm họa của cái xấu, cái ác đang mọc ra ngay trong hàng ngũ cách mạng sau ngày chiến thắng Đồng thời, nhà văn muốn gửi thông điệp đến bạn đọc qua câu chuyện gia đình mẹ Êm và những con người vừa đi ra khỏi cuộc chiến trên mảnh đất khốc liệt Quảng Trị, miền đất phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh: “Bước ra khỏi cuộc chiến tranh cũng cần thiết phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào một cuộc chiến tranh” Hậu quả của chiến tranh đang làm cho con người rĩ máu từng ngày bởi những di chứng mà nó để lại Vì vậy, Nguyễn Minh Châu muốn cái cần phải có lúc này ở mỗi con người là trí tuệ, nghị lực và tinh thần đoàn kết hòa hợp để chung tay xây dựng cuộc sống mới Với ngòi bút tinh tế của nhà văn, tiểu thuyết thực sự để lại một bài học nhân sinh sâu sắc

Năm 1977 tiểu thuyết Lửa từ những ngôi nhà được ra mắt độc giả Qua

câu chuyện một chuyến về phép của người lính chiến trường về thành phố, nhà văn đã tái hiện lại hình ảnh hậu phương không êm ả như nhiều sách hồi đầu chiến tranh mô tả, mà tiềm ẩn bên trong không ít vấn đề cần giải quyết Nhưng vượt lên mọi thiếu thốn, khó khăn là một hậu phương vững chắc với những con người tất cả dành cho tiền tuyến và mỗi người lính đều được truyền lửa từ những ngôi nhà, mỗi tấm lòng của người hậu phương

Hai cuốn tiểu thuyết kể trên, có thể coi là những cố gắng đầu tiên của Nguyễn Minh Châu để chuyển hướng ngòi bút của mình khi bước sang một thời kỳ mới Mỗi tác phẩm đều giúp cho độc giả hình dung ra bối cảnh cuộc

Trang 16

sống của người lính trong và sau chiến tranh Tuy nhiên, các ý tưởng mới của tác giả chưa phải đã được hóa thân đầy đủ và sâu sắc vào các hình tượng và chi tiết nghệ thuật, nên đã hạn chế phần nào sức hút và giá trị của những tiểu thuyết này Trong những năm 80 Nguyễn Minh Châu còn có hai tiểu thuyết

được xuất bản: Những người đi từ trong rừng ra (1982) và Mảnh đất tình yêu

(1987)

Nguyễn Minh Châu không chỉ tái hiện hình ảnh người lính một thời chỉ quen hành quân và cầm súng chiến đấu với kẻ thù, mà nay bước vào cuộc sống hòa bình tiếp tục công cuộc lao động xây dựng đất nước Vẫn nối tiếp

mạch khai thác về cuộc sống thời chiến trong tiểu thuyết Miền cháy, nhưng ở Những người đi từ trong rừng ra vấn đề phản ánh của tác phẩm không chỉ là

những khó khăn bộn bề của hiện thực cuộc sống vừa sau giải phóng nói chung

mà là hiện thực cuộc sống của những người lính trong thời bình Tiểu thuyết đặt ra vấn đề có tính thời sự - đó là đời sống của con người sau chiến tranh, nhưng đồng thời cũng vươn tới những ẩn ý mà Nguyễn Minh Châu muốn thể hiện qua từng trang văn Đúng như tác giả Nguyễn Văn Long đánh giá:

“Xuyên thấm trong những trang viết về cuộc sống hôm nay là cái ý thức về sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại, ý thức về sự vận động của lịch sử” [6, tr.16] Tuy nhiên, cuốn tiểu thuyết này vẫn chưa phát huy được hết khả năng của Nguyễn Minh Châu nên vẫn có một số hạn chế đó là: hai nhân vật chính Hiển

và Thu Lan còn đậm màu sắc lý tưởng hóa, và ở cuối truyện số phận nhiều nhân vật được tác giả an bài có phần mau chóng và dễ dàng

Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, Nguyễn Minh Châu vẫn luôn đau đáu

về đề tài cuộc sống lao động của những người nông dân lam lũ quê mình - nơi

mà ông đã gửi gắm trong tiểu thuyết Mảnh đất tình yêu Câu chuyện tái hiện

cuộc sống ở một vùng Cửa Lạch thuộc xóm Bến Đá - xã Hiền An, Nguyễn Minh Châu trở về với cuộc sống của những con người sau thăng trầm “chỉ

Trang 17

còn lại cái tình yêu cuộc sống và hai bàn tay không ngừng làm lụng” Nhưng

Mảnh đất tình yêu chính là bước ngoặt thể hiện dấu hiệu đổi mới rõ rệt trong

quan niệm, triết lý sống mà nhà văn gửi gắm vào nhân vật Quỳ

Những tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu đã minh chứng cho những chuyển biến trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà văn ở giai đoạn sáng tác sau

1975 Nhưng vấn đề đổi mới của nhà văn thực sự được thể hiện đầy đủ và rõ nét hơn cả trong các truyện ngắn và truyện vừa của ông

Đầu tiên phải kể tới truyện ngắn Bức tranh được tác giả đặt bút viết từ

1976, mãi đến 1982 tác phẩm mới được ra mắt công chúng Trong truyện

ngắn Bức tranh, Nguyễn Minh Châu đã để cho nhân vật họa sĩ tự lột mặt nạ,

tự nhận ra “bộ mặt bên trong” tệ bạc giả dối của mình, đó là một “bộ mặt xấu

xí và lạ lùng” Viết Bức tranh, Nguyễn Minh Châu đặt niềm tin ở khả năng

thức tỉnh để tự hoàn thiện của con người, cùng với thông điệp khẩn thiết:

“Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để

tự suy nghĩ về chính mình” [6, tr 20] Đó cũng chính là âm hưởng chủ đạo chi phối toàn bộ giai đoạn “chuyển mình” có tính chất “bước ngoặt” của nhà văn trước khát vọng đổi mới cả đối tượng lẫn phương thức thể hiện tác phẩm

Nguyễn Minh Châu là nhà văn có con mắt quan sát cuộc sống xung quanh rất tinh tế, nhận thấy ngày càng có nhiều vấn đề cần phải quan tâm và nhà văn muốn “dùng ngòi bút tham gia trợ lực cho con người trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong mỗi con người” (lời phát biểu của tác giả trong cuộc trao đổi về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, tháng 6 - 1985) Trên

tinh thần đó, nhiều truyện ngắn được ra đời như: Cơn giông, Dấu vết nghề nghiệp, Đứa ăn cắp, Sắm vai, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa…Qua những câu truyện này, nhà văn lại hướng vào ý

thức tự vấn để con người tự nhìn vào chính mình, nhất là con người bên trong

Trang 18

Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành kể về nhân vật nữ tên Quỳ Đó

là cuộc đời của một con người có nhiều biến động, người đàn bà ấy mắc

chứng bệnh mộng du, nhưng lại có nhiều sức hút đối với đàn ông Đọc Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, có những khoảnh khắc làm tim người đọc se

thắt lại Tác giả bóp nghẹt tim ta để ta chợt cảm nhận được sự đồng cảm của mình đối với nhân vật, với tác giả về những suy nghĩ và ứng xử Đây là một trong những tác phẩm đánh dấu chuyển biến rõ rệt trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu

Bến quê là một trong vài truyện ngắn, ngắn nhất của Nguyễn Minh

Châu Từ khi ra đời đã được dư luận đặc biệt chú ý Tác giả Trần Đình Sử

trong một bài nghiên cứu đánh giá Bến quê “Như là hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới” [6, tr.22] Truyện ngắn Bến quê viết về cuộc

sống thường nhật của bao kiếp người lam lũ làm ăn, luôn thao thức hoài một câu hỏi lớn về hạnh phúc

Tiếp tục khẳng định khuynh hướng đổi mới tư duy, năm 1988, tập

truyện Cỏ lau ra đời (gồm ba truyện: Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam và Phiên chợ Giát) Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, tác giả đã mạnh dạn đề

cập những cảnh đời éo le và nghịch lý, những quan hệ con người phức tạp, những vấn đề thời sự xã hội nóng bỏng có tính điển hình để từ đó cắt nghĩa và

khái quát nghệ thuật Tập truyện Cỏ lau được xem như một “bản di chúc tinh

thần” của nhà văn

Cùng với sáng tác là công việc được xem như chính yếu trong sự nghiệp của mình, Nguyễn Minh Châu còn viết khá nhiều trang tiểu luận phê bình có giá trị Nhìn chung, những tiểu luận phê bình của Nguyễn Minh Châu thể hiện cách nhìn của người trong cuộc bàn về công việc của chính mình và đồng nghiệp mình Tất cả những bài viết của ông đăng rải rác trên các số của Tạp chí Quân Đội, sau này được tập hợp lại và in trong tập tiểu luận phê bình

Trang 19

Trang giấy trước đèn Nổi bật trong mảng lý luận phê bình của nhà văn là bài viết: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu bao gồm sáu cuốn tiểu thuyết, năm tập truyện ngắn và một bộ (ba quyển) truyện viết cho lứa tuổi thiếu niên Ngoài ra còn một số bút ký và truyện ngắn đăng trên các báo, một tập những trang bản thảo còn dang dở Văn nghiệp của Nguyễn Minh Châu, xét về số lượng không đồ sộ lắm, nhưng đó là kết quả của ba mươi năm miệt mài trên chặng đường sáng tạo văn học của nhà văn Những sáng tác của Nguyễn Minh Châu vừa mang giá trị nhân văn cao cả vừa độc đáo trong bút pháp thể hiện Vì vậy, nhà văn xứng đáng được công luận trân trọng và ghi danh là “người mở đường đầy tài hoa và tinh anh”

1.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu

1.3.1 Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về con người và hiện thực trong văn chương

Quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực chính là cơ sở để chi phối nguyên tắc chiếm lĩnh, cắt nghĩa đời sống của nhà văn, là nơi đánh dấu

tư duy nghệ thuật của một thời đại, một trào lưu, một tác giả Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi 1975 bắt đầu lấy con người làm tâm điểm soi chiếu lịch sử Con người từ điểm nhìn lý tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư Nguyễn Minh Châu cùng các nhà văn khác đã tích cực làm cho quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực ngày càng toàn diện và có cái nhìn sâu sắc hơn

Từ cuối những năm 60, Nguyễn Minh Châu đã được nhiều bạn đọc chú

ý Bằng ngòi bút tài hoa hiếm có cộng với một ý thức nghề nghiệp nghiêm túc, ông xác định rõ nhiệm vụ của những nhà văn mặc áo lính, nhưng cũng là trách nhiệm chung của những người cầm bút: “Đừng bao giờ lười biếng nằm

ỳ ra trên một cách viết như một sự tự khuôn hình và cũng đừng bao giờ để

Trang 20

cho văn chương trở nên xa lạ với đời sống của dân tộc mình” (Nguyễn Công Hoan) Phải chăng, đó cũng là lời nhắn gửi tâm huyết của nhà văn Nguyễn Minh Châu tới tất cả những người cầm bút đương thời cũng như thế hệ các nhà văn hôm nay Trong quá trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu, mối quan tâm lớn nhất của ông là quan hệ giữa hiện thực và văn học Với ông “Văn học

và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Trả lời phỏng vấn báo văn Nghệ đầu xuân 1987) Trong cả hai giai đoạn của sự nghiệp văn chương, nhà văn ít phát biểu một cách trực tiếp những quan niệm của mình dưới dạng lý luận mà thường được bộc lộ nó qua các sáng tác

Với phương châm “văn học phản ánh hiện thực” nên trong giai đoạn sáng tác trước những năm 1975 của Nguyễn Minh Châu luôn ý thức sâu sắc hơn lương tri, trách nhiệm và sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút Với tâm niệm sáng tác hướng tới cuộc “đấu tranh vì quyền sống của cả dân tộc”

đã trở thành kim chỉ nam cho hoạt động nghệ thuật của nhà văn Từ đó, ông nghiệm ra rằng: “Phải viết về con người Tất nhiên là con người không thể tách rời sự kiện chiến tranh” [9, tr.209] Qua đó, để nhà văn đặt niềm tin vào con người, đề cao vẻ đẹp con người từ hình thức đến “hạt ngọc” tâm hồn ẩn giấu sâu bên trong con người mà không bom đạn nào phá nổi Nhưng càng đi sâu vào vẻ đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người, Nguyễn Minh Châu nhận thấy

có nhiều vấn đề cần phải quan tâm và nhà văn muốn “dùng ngòi bút tham gia trợ lực cho con người trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong mỗi con người” [9, tr.215] Nguyên nhân có thể do sự vô tâm và thói xấu “ngồi lê đôi mách” của những người đàn bà trong khu tập thể có thể dẫn đến cái chết

thương tâm của một cô gái bị nghi là ăn cắp (Mẹ con chị Hằng)

Theo hướng tiếp cận hiện thực, ngòi bút Nguyễn Minh Châu lại hướng vào ý thức tự vấn, tự thức tỉnh để con người tự nhìn vào chính mình, nhất là con người bên trong Tư tưởng này được Nguyễn Minh Châu thể hiện độc đáo

Trang 21

qua các truyện ngắn như Bức tranh, Sắm vai, Dấu vết nghề nghiệp… Nói như nhân vật họa sĩ trong Bức tranh: “Trong con người tôi sống lẫn lộn cả rồng

phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ” [9, tr.215] Mỗi truyện là một cuộc

tự vấn, là sự xung đột giữa phần con người chân chính với phần tầm thường, giả dối, ích kỷ trong chính mình để vượt lên hướng tới cái thiện Đó là sự tha

hóa của Bàng trong Miền cháy, sự bất nhẫn đầy hãnh tiến và xơ cứng chất người của Toàn trong Mùa trái cóc ở miền Nam…

Đi sâu vào số phận con người, xem con người là giá trị cao nhất của cuộc sống, đề cao nguyên tắc nhân bản và tôn trọng sự thật trong sáng tác nghệ thuật Là người nghệ sĩ, nhạy cảm trước những thay đổi của cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận thức được rằng không thể tiếp tục nghĩ như

cũ, viết như cũ, tiếp tục cách nhìn giản đơn về con người và hiện thực, như thế sẽ hạn chế nhân cách của người cầm bút chân chính Mặc dù, Nguyễn Minh Châu chưa làm được nhiều điều như mình muốn, nhưng anh đã “nhận đường” đúng, đã kịp thời thay đổi khi cần thay đổi Nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét: “hiện thực của văn học có khi là hiện thực trong cái nhìn lý tưởng hóa, nó đẹp nhưng có phần đơn giản, dễ dãi” Cũng chính Nguyễn Minh Châu năm 1978 nêu câu hỏi: “chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiện thực ước mơ?” Vai trò “người mở đường” cho văn học thời đổi mới của nhà văn gắn liền với việc ông thay đổi quan niệm và cách tiếp cận hiện thực

Sau năm 1975, nhận thức của nhà văn về hiện thực càng được rộng mở

và đạt tới chiều sâu mới Nguyễn Minh Châu nỗ lực đưa văn chương trở về với đời sống, để có được những trang viết xác thực, đa dạng và cận nhân tình hơn Là nhà văn có trách nhiệm, anh không bằng lòng với những cách phản ánh hiện thực giản đơn, một chiều được “tráng một lớp men trữ tình hơi dày”

Vì vậy nhà văn phê phán lối hiện thực cảm tính, hiện thực được viết ra không

Trang 22

phải như thực tế vốn có mà là “hiện thực mọi người đang hi vọng, đang mơ ước” [14, tr.21] Theo nhà văn, cuộc đời này còn nhiều điều phức tạp, trần trụi

và tàn nhẫn khi cái chết của Phác đâu phải là sự vô tình (Mùa trái cóc ở miền Nam), hay đó là cuộc hội ngộ bất ngờ, trớ trêu giữa Lực, Quảng và Thai (Cỏ lau)… Theo hướng đó, nhà văn đã vươn tới được chiều sâu tâm lý và tính

chân thực lịch sử trong những giải pháp nghệ thuật cho những vấn đề con người và hiện thực

Nhìn chung, qua các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đặc biệt là những sáng tác sau 1975 đã thể hiện “mối quan hoài sâu sắc” và thường trực của nhà văn với số phận và nỗi khổ đau của con người

Quan sát hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, điều đáng chú ý là ở quan niệm nghệ thuật và sự nghiệp sáng tác của nhà văn có sự thống nhất, hòa quyện chặt chẽ Chính điều đó, đã giúp Nguyễn Minh Châu tạo cho mình một vị trí không thể thay thế trong giai đoạn văn học trước và sau 1975, trở thành một nhà văn đặt nền móng toàn diện và sâu sắc cho sự đổi

mới về cả quan niệm nghệ thuật lẫn phương thức biểu đạt

1.3.2 Cỏ lau - "Bản di chúc" giàu giá trị nội dung tư tưởng

Bước sang giai đoạn mới, văn học có sự thay đổi cần thiết, chiến tranh

và thân phận con người trong thời chiến đã được nhìn nhận lại Chiến tranh không chỉ được nhìn nhận ở góc độ hùng tráng, oai vệ mà còn được khơi sâu vào những mặt trái, những nỗi đau, soi tỏ những góc khuất của nó để người đọc thấy rõ được bộ mặt ghê sợ của chiến tranh Người anh hùng trong chiến trận không chỉ hiện lên vẻ hào hùng, rạng rỡ mà nhà văn đã chú ý hơn đến những mất mát mà con người đang phải chịu đựng sau thời bình Hòa trong

không khí đổi mới đó, năm 1988, tác phẩm Cỏ lau ra mắt độc giả Tháng 3

năm đó, nhà văn mắc bệnh ung thư máu Bệnh nặng và dai dẳng nhưng Nguyễn Minh Châu thường xuyên phải dấu vợ, cướp thời gian mà viết Tâm

Trang 23

huyết với nghề, nhà văn đã vắt kiệt thời gian và chút sức lực cuối cùng của

cuộc đời để hoàn thành Mùa trái cóc ở miền Nam và Phiên chợ Giát làm nên tập truyện Cỏ lau

Cỏ lau gồm ba truyện thể hiện “dày đặc chi tiết, cuồn cuộn sức vóc và

điệp trùng ý nghĩa” [6, tr.202] Mỗi trang viết trong từng truyện ngắn là sự trăn trở, trình bày của Nguyễn Minh Châu với mong muốn “xới lật được tầng

đáy ý nghĩa của sự vật” Điều làm nên thành công cho tập truyện Cỏ lau và

gây được dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn đọc, bởi giá trị nội dung tư tưởng

mà tác giả muốn gửi gắm qua tập truyện

Viết về những đau thương mất mát trong chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã đi sâu vào khai thác những nỗi đau thời hậu chiến mà con người đang phải chịu đựng Hòa bình đã trở lại nhưng những dư âm của chiến tranh vẫn còn là nỗi ám ảnh đối với con người thời hậu chiến Nếu trước kia, trong văn học hình ảnh người lính trở về trở thành niềm tự hào, tự tin của cả dân tộc Đến Nguyễn Minh Châu ông đã giúp người đọc nhìn thấy đằng sau ánh hào quang rực rỡ là những vết thương không thể hàn gắn Đó là nỗi đau khổ

của lão Khúng trước cái chết của đứa con khi không trở về (Phiên chợ Giát)

Tình thương con bao la ấy khiến lão cảm thấy “một cái gì đó bỗng xụp đổ trong lòng”, lão Khúng như hôn mê “ông kêu lên một tiếng rồi im bặt” Cú sốc ấy giáng xuống gia đình lão Khúng một đòn chí tử, một nỗi đau không thể gượng dậy Ngay cả khi người lính sống xót trở về cũng trở thành một người lạc lỏng, dù cố gắng đến đâu cũng không thể hòa nhập với cuộc sống hiện tại Chiến tranh vẫn còn khi đất nước không còn tiếng súng, vết thương tinh thần đâu dễ nguôi ngoai Bởi chiến tranh như một nhát dao phạt ngang hai nữa

cuộc đời của Lực (Cỏ lau) Lực hiểu chỉ có Thai “mới có thể xoa dịu trong

lòng” anh, nhưng hơn ai hết anh cũng “biết một cách đau đớn rằng cuộc sống

đã an bài” và “chẳng dễ gì thay đổi được hoàn cảnh” Sự trở về của anh chỉ

Trang 24

đem lại nỗi buồn tủi khi đứng trước ngôi mộ của chính mình và là “niềm hăm dọa” đối với hạnh phúc riêng của gia đình Thai Nguyễn Minh Châu không chỉ thể hiện tinh tế nỗi đau thời hậu chiến qua những người lính từng xông pha chiến trường, mà ngòi bút của nhà văn còn hướng tới những người phụ nữ không được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, phải chịu những đau khổ như Thai, cô

gái điếm tên Huệ và người vợ lính patiđăng (Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam)

Tập truyện Cỏ lau được Nguyễn Minh Châu viết vào những năm cuối

đời, thể hiện một nỗi đau mà ông đã day dứt trong bao nhiêu năm cầm bút đó chính là niềm tin pha lẫn với thái độ lo âu về con người Nhà văn từng tâm sự:

“những dằn vặt, lo âu về vấn đề được mất, thiện và ác (…) lúc này mới hiện diện đúng bản chất của nó” [6, tr.217] Nói như vậy, Nguyễn Minh Châu muốn đề cập tới vấn đề “con người bên trong con người” để họ có cơ hội tự

vấn lương tâm của chính mình Trong Cỏ lau, Lực vừa là nạn nhân của chiến

tranh, mặt khác Lực lại là hung thủ giết chính đồng đội mình bởi mệnh lệnh

vô lý xuất phát từ sự ích kỉ cá nhân Qua nhân vật Lực, nhà văn ít nhiều còn gửi gắm niềm tin vào sự tự nhận thức của con người Bên cạnh đó, Nguyễn Minh Châu còn chỉa thẳng ngòi bút vào cái ác đang tồn tại Toàn là một minh chứng rõ nét nhất, chỉ qua mấy câu nói sâu cay của Phác, Toàn đã bộc lộ bản chất của một con quỷ dữ sẵn sàng “gài mìn với nội bộ mình” gây ra cái chết cho đồng đội chỉ sau “hòa bình được mấy ngày” Nhân vật ông Thái trong

Mùa trái cóc ở miền Nam cũng được nhà văn đặc biệt chú ý Ông Thái không

chỉ phục tùng cho cái ác mà còn cố tạo cho mình cái dáng vẻ giả tạo của một bậc lãnh đạo cấp cao “hai khuỷu tay ông Thái cố khuỳnh rộng, ra vẻ một người cấp trên khoáng đạt” Từ đó, nhà văn muốn cảnh báo về sự tha hóa của con người và nguy cơ cái ác, cái xấu đang lên ngôi và giành phần thắng trong

xã hội là điều có thật

Trang 25

Trong tập Cỏ lau, Phiên chợ Giát đứng tách ra khỏi hai truyện kia, với

một đề tài riêng biệt: người nông dân Đề tài này trong toàn bộ sự nghiệp sáng

tác của Nguyễn Minh Châu mới chỉ có tiền lệ ở truyện ngắn Khách ở quê ra đăng trên báo Văn nghệ năm 1984 Trong truyện ngắn Phiên chợ Giát, thông

qua nhân vật lão Khúng, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cái nhìn khái quát về những mặt tốt - xấu, tích cực - tiêu cực của người nông dân Việt Nam, đồng thời là lời cổ vũ khát vọng tự do trong mỗi con người Với mạch truyện, đi sâu đào xới những số phận lam lũ, trì trệ “suốt đời chúi mũi vào hòn đất”,

“tưới cạn kiệt mồ hôi” cho mảnh đất nghèo khó của lão Khúng, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được một hình tượng có tầm khái quát cao, còn rất hiếm hoi trong văn học Việt Nam hiện đại Nếu Chí Phèo là một khám phá lớn của Nam Cao về người nông dân trước cách mạng thì lão Khúng của Nguyễn Minh Châu cũng mang một ý nghĩa khám phá lớn về người nông dân tư hữu Việt Nam trong cuộc sống hôm nay

Có thể nói, tập truyện Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu đã khơi trúng

mạch nguồn nhân văn, đáp ứng nhu cầu nhân bản cấp thiết đặt ra đối với nền văn học thời hậu chiến khi viết về những di chứng của chiến tranh, những mất mát, éo le, những bi kịch khủng khiếp của chiến tranh hằn sâu trong từng số phận con người một cách da diết, đau đớn Bằng sự trải lòng thành thực với cuộc sống, với những trang viết rút ra từ “máu thịt và linh hồn” của mình,

Nguyễn Minh Châu đã tạo nên tập truyện Cỏ lau “bản di chúc tinh thần” đạt

tới chiều sâu về tư tưởng Từ đó, bức tranh hiện thực về cuộc sống hậu chiến được phơi bày một cách rõ nét Chiến tranh kết thúc bên cạnh niềm vui chiến thắng, sự vinh quang sáng ngời còn chất chứa bao nỗi đau cá nhân Cuộc chiến bom đạn không còn nữa nhưng cuộc chiến bên trong con người đang nổi lên và đáng báo động Đó chính là bức thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm tới độc giả mọi thế hệ

Trang 26

Sau chiến tranh, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện một dạng cốt truyện mới đó là kiểu cốt truyện đời tư Điều này được minh chứng

rõ nét nhất trong tập truyện Cỏ lau Chẳng hạn trong tác phẩm Cỏ lau, cốt

truyện chính xoay quanh bi kịch của Lực - Thái - Quảng được tái hiện trong những khoảng thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai Cốt truyện có sự vận động giữa các biến cố, tình huống bất ngờ làm đảo lộn tất cả Đọc truyện ngắn

Mùa trái cóc ở miền Nam cốt truyện chỉ gói gọn trong quãng thời gian ngắn

ngủi từ lúc anh nhà báo gặp đến khi chia tay vị sư già Thiên linh Nhưng cái kết thúc để ngỏ của cốt truyện khiến người đọc day dứt không yên Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, cốt truyện thường được xây dựng trên cơ sở

miêu tả những cuộc đấu tranh nội tâm của nhân vật Phiên chợ Giát là một

trong những sáng tác đó Có thể nói, cốt truyện trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện thành công những góc khuất trong tâm hồn con người một cách chân thật, tự nhiên, khách quan như nó vốn tồn tại, bên cạnh đó nhà văn muốn nói lên những mất mát đau thương của từng mảnh đời, kiếp người thời hậu chiến Để có cái nhìn khái quát về cốt truyện trong truyện ngắn

Trang 27

Nguyễn Minh Châu, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu: khái niệm truyện ngắn và môtip truyện ngắn để thấy được nét độc đáo trong nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Nói đến truyện ngắn, trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại đã xuất hiện nhiều nhà văn có tài và “có duyên” với thể loại văn học mới mẻ này như:

Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp v.v… Thật ra khái niệm truyện ngắn có phạm vi

rộng hơn Bởi thực tế văn học cho thấy, ngoài những truyện ngắn còn có truyện vừa, truyện dài Tuy vậy, khác với truyện vừa và truyện dài - vốn là những thể tài mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự toàn vẹn, đầy đặn của nó, thì truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay trong đời sống con người

Đi sâu và tìm hiểu về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, ta có thể thấy được kỹ thuật tạo dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ đặc trưng trong sáng tác của ông Có phải vì thế mà đọc truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ta như bước vào một thế giới mà ở đó diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa cái thiện và cái ác, giữa ranh giới mong manh của cái chân - thiện - mĩ Tất cả đã làm nên sự sắc sảo và chiều sâu trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

Đọc truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, ta nhận thấy nhà văn sử dụng triệt để nhiều yếu tố nghệ thuật để tạo nên cái hay và sức sáng tạo của tài năng văn chương Trong đó việc sử dụng môtip đã tạo nên tính nghệ thuật và những nét riêng theo chủ ý của tác giả Có thể thấy, hai môtip chủ yếu được

tác giả sử dụng nhiều trong tập Cỏ lau là môtip hình tượng người phụ nữ và

môtip các hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng

Trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, nhân vật đáng yêu và đặc biệt nhất chính là những nhân vật nữ, đây là nhân vật thường trực và đầy

Trang 28

sức hấp dẫn trong tác phẩm của ông Với loại nhân vật này, nhà văn như tìm mọi dịp đào bới, xới lật từng vẻ, từng ngóc ngách, nguồn cội mọi biểu hiện, biến thái trong tâm lý tình cảm Đối với Nguyễn Minh Châu, nhà văn chuyên viết về chiến tranh và cuộc sống con người sau thời bình thì loại nhân vật được gây chú ý hơn cả là nhân vật nữ - những người phụ nữ đi qua chiến tranh Nhân vật nữ đã trở thành môtip được lặp đi lặp lại trong các sáng tác

của Nguyễn Minh Châu như: cô thiếu nữ Phi trong Mùa hè năm ấy, Hạnh trong Bên đường chiến tranh, người mẹ và người con gái trong Mẹ con chị Hằng, kể cả cô Thoan trong Đứa ăn cắp, Thai trong Cỏ lau, bà mẹ và Huệ trong Miền trái cóc ở miền Nam… để thấy rằng Nguyễn Minh Châu có một

cái nhìn ấm áp, nhân hậu, luôn chăm chú phát hiện những vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam từ nhiều chiều, nhiều hướng, nhiều phía khác nhau Không phải Nguyễn Minh Châu không thấy những mặt trái, mặt tiêu cực của người phụ nữ trong cuộc sống Nhưng nhà văn ít đề cập đến khía cạnh này Là con người có tâm hồn yêu thương và dễ xúc động, anh xót xa trước những bất hạnh và đau khổ của người phụ nữ Vì vậy, những trang văn viết về họ đầy trân trọng và chứa chan yêu thương

Thai một người “đàn bà cổ” trong Cỏ lau có số phận éo le, vất vả, ít

gặp may mắn trong tình yêu và sự yên ổn trong cuộc sống gia đình Đây là

một môtip số phận với những éo le ngang trái Thai là linh hồn của Cỏ lau,

người đàn bà ấy phải lấy chồng tới hai lần và luôn giằng xé giữa tình và duyên, bởi tình yêu như một niềm trung tín vẫn cứ hướng về người chồng mà

cô tưởng như đã chết Sống với chồng mới cô vẫn phụng dưỡng người bố già của chồng cũ, vẫn không quên mang theo bát hương cúng giỗ đều đặn cho người chồng Ấy thế mà người chồng thứ hai vẫn phải nể phục mà ngợi ca rằng: “Thai là một thứ đàn bà cổ, suốt đời chỉ có thể yêu được một người, đó

là một người đàn bà chờ chồng có thể hóa đá” Trong sâu thẳm cõi lòng của

Trang 29

người đàn bà ấy, vẫn cứ sống nguyên vẹn một nàng vọng phu với lòng thủy chung ngàn đời đã trở thành bất diệt Bên cạnh đó, Nguyễn Minh Châu còn thể hiện cái nhìn nhân hậu, thấu hiểu nỗi thống khổ của một cô gái điếm Phi Phi (Huệ) Chiến tranh đã cướp đi người mà cô thương yêu và luôn chờ đợi Huệ còn quá trẻ vậy mà cuộc đời đã giáng cho Huệ những nỗi đau tưởng như không thể vực dậy

Nguyễn Minh Châu viết về người phụ nữ với nhiều tư cách khác nhau,

nhưng anh rất quan tâm tới người đàn bà làm mẹ Hình ảnh bà mẹ (Mùa trái cóc ở miền Nam) với cuộc đời làm vợ một người lính patidăng là kết quả của

những xô đẩy số phận trong những năm chiến tranh loạn lạc Lựa chọn ấy xuất phát từ khát khao có một cuộc sống hạnh phúc của người phụ nữ, nhưng đồng thời nó cũng tước đoạt đi đứa con của bà Hình ảnh bà mẹ xuất hiện không phải với tư cách là một bà mẹ Việt Nam anh hùng tham gia kháng chiến mà xuất hiện trong hình ảnh vị sư già Thiện Linh Bà mẹ ấy đang đi tìm con để cầu mong sự tha thứ Cũng như nhiều nhân vật nữ khác của Nguyễn Minh Châu sau 1975, thì bà mẹ vẫn mang những nét u hoài và những nỗi đau

do chiến tranh để lại

Hình tượng người phụ nữ trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã trở thành môtip quen thuộc đối với bạn đọc mọi thế hệ Đọc truyện ngắn của ông chúng ta không thể không nhớ tới các nhân vật nữ như: Thai

(Cỏ lau), vị sư già Thiện Linh, Huệ (Mùa trái cóc ở miền Nam)… Những con

người chung thủy suốt đời chỉ yêu một người, sống có nghị lực, có trách nhiệm với gia đình Họ là hiện thân của lòng yêu thương, sự hi sinh, nhẫn nhục

Trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ngoài môtip về hình tượng người phụ nữ thì môtip các hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cũng được tác

giả sử dụng với tần số cao Dương Thị Thanh Hiên trong bài Truyện ngắn của

Trang 30

Nguyễn Minh Châu viết: “Hình ảnh biểu tượng là một phương diện cách tân

nghệ thuật trong các sáng tác của ông, đặc biệt là thể loại truyện ngắn Dưới góc độ văn học, biểu tượng luôn được khẳng định là một phương tiện tạo hình

và biểu đạt hữu hiệu có tính đa nghĩa thể hiện dưới dạng một hình tượng cụ thể, cảm tính, có thể được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong tác phẩm và

có giá trị gợi cảm cao” [6, tr.313] Nguyễn Minh Châu đã xây dựng truyện ngắn bằng những điểm sáng, những hình tượng có sức ám ảnh tâm trí người đọc, khiến cho những sáng tác của ông trở nên sâu sắc và biến ảo hơn trong việc thể hiện cuộc sống và đi sâu hơn vào nội tâm con người

Hình ảnh mang tính biểu tượng trong Cỏ lau được Nguyễn Minh Châu

tập trung vào hai hình ảnh đó là: núi vọng phu xuất hiện 16 lần và cỏ lau xuất hiện 26 lần trong tác phẩm Hai hình ảnh đặc sắc này hiện lên trong dòng miêu tả thiên nhiên của nhân vật, khi thì xen kẽ dòng độc thoại nội tâm của nhân vật tạo nên những điệp khúc xoáy sâu, ám ảnh, xâu chuỗi các sự kiện ở từng thời điểm khác nhau lại một cách hợp lý và lôgic Dưới ngòi bút tinh tế,

những hòn vọng phu đứng câm lặng ở vùng núi Đợi (Cỏ lau) phản chiếu về

những con người có số phận bất hạnh, những thân phận nổi chìm trong chiến tranh đều quần tụ xung quanh những hình người bằng đá đầy cô đơn giữa trời xanh Họ đều là nạn nhân của chiến tranh với những cuộc đời đau khổ và chịu nhiều mất mát Có thể nói biểu tượng núi vọng phu đã tạo thành một môtip số phận - chủ yếu là những bi kịch với nhiều dạng khác nhau: bi kịch chiến tranh

ly tán, những cô đơn bất hạnh… Bằng những hình ảnh biểu tượng ấy, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sự cảm thông và hiểu biết được những số phận nhọc nhằn, những cảnh ngộ đau đớn riêng tư tạo nên dấu ấn riêng trong lòng người đọc Bên cạnh hình ảnh núi vọng phu, độc giả còn bị ám ảnh bởi những trang viết đầy ma lực về hình tượng cỏ lau ham sống và lớp rễ trùng trùng phàm ăn

Trang 31

của nó cứ sục mãi vào lớp hài cốt tử sĩ ngã xuống vùng núi Đợi, xứ Vọng Phu

Hình ảnh xuất hiện nhiều nhất và cũng dễ nhận thấy nhất là những biểu tượng luôn gắn liền với bước thăng trầm trong suốt cuộc đời con người,

những tấm gương phản chiếu số phận nhân vật trong Phiên chợ Giát đó là

hình ảnh con bò khoang và tiếng xe cút kít Đây là hai hình ảnh gắn liền với cuộc đời vất vả, cực nhọc của lão Khúng - một con người phải rời bỏ quê hương xóm làng lên rừng khai khẩn đất hoang, tạo dựng cuộc sống Bò khoang và tiếng xe cút kít vừa là biểu tượng của cuộc sống vô cùng lạc hậu, trì trệ lam lũ cùng đức tính kiên trì, nhẫn nại, gắng vượt qua số phận vốn bị vây bọc tưởng như không thể thoát ra nổi của bóng tối và hoang vu, đồng thời

nó vừa là hiện hữu của quan niệm về thân phận con người

Với việc xây dựng hệ thống hình ảnh biểu tượng mang nhiều tầng ý nghĩa, Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho người đọc những giá trị nhận thức sâu sắc, giúp người đọc tiếp cận gần với chân lý đời sống Trên suốt hai chặng đường sáng tác, Nguyễn Minh Châu đã không ngừng tìm tòi những sắc thái mới cho các hình ảnh biểu tượng khiến các hình ảnh ấy từ tính chất lãng mạn sang hiện thực, trở thành một hình tượng độc đáo, đa nghĩa, đầy chất triết lý

2.2 Nghệ thuật kiến tạo tình huống truyện độc đáo

Trong truyện ngắn, tình huống truyện là phương tiện thiết yếu nhất, quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng của tác phẩm - cũng là tư tưởng của nhà văn Nguyễn Kiên tâm đắc: “Điều quan trọng đối với truyện ngắn là phải lựa chọn được cái tình thế nó bộc lộ ra nét chủ yếu của tính cách và số phận, tự nó đặc trưng cho một số phận xã hội Theo tôi hiểu thì mỗi truyện ngắn chỉ chứa đựng một tình thế như thế nào đó xảy ra trong đời sống, nếu có hai tình thế trở lên truyện ngắn sẽ bị phá vỡ” [6, tr.262] Để tạo ra tình huống hấp dẫn và giàu ý nghĩa, nhà văn cần có bản lĩnh nghệ thuật và giải quyết tình huống ấy

Trang 32

một cách tinh tế và quan trọng nhất là tấm lòng người viết Nguyễn Minh Châu là người rất có ý thức sáng tạo trong tình huống truyện Điều này góp phần khẳng định tư duy sáng tạo và cũng là áp lực nghệ thuật lên người nghệ

sĩ để hoàn thành một tác phẩm hay mang đến cho độc giả Có thể thấy, trong

nhiều truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đặc biệt là tập truyện Cỏ lau, tác

giả đã sử dụng nhiều tình huống truyện độc đáo với ba dạng tiêu biểu: Tình huống gặp gỡ bất ngờ, trớ trêu, tình huống thắt nút, tình huống diễn biến theo chiều sâu tâm lý Qua mỗi truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu muốn gắn kết các nhân vật vốn xa lạ cùng tham gia vào sự kiện, biến cố có ý nghĩa, bộc lộ quan

hệ và tính cách của các nhân vật, đồng thời thể hiện chủ đề của tác phẩm

2.2.1 Tình huống gặp gỡ bất ngờ, trớ trêu

Đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại, nó chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng

được bộc lộ sắc nét nhất Có thể nói, qua tác phẩm Cỏ lau nhà văn đã thể

hiện tình huống gặp gỡ bất ngờ, trớ trêu, mang ý nghĩa khám phá và phát hiện

về đời sống một cách sâu sắc Nguyễn Minh Châu đã rất khéo léo khi xây dựng tình huống gặp gỡ gây cấn, chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ giữa các nhân vật Trước hết, ngòi bút của nhà văn đã xoáy sâu vào cuộc hội ngộ đầy bất ngờ giữa Lực - Quảng - Thai Như chính dụng ý của Nguyễn Minh Châu, Lực tình cờ vào hiệu ảnh của Quảng và nhận ra tấm hình cưới của mình và vợ năm xưa được treo ở giữa tiệm với vẻ đầy tự hào của ông chủ Một người lính may mắn sống sót sau chiến tranh, trở về mong được đoàn tụ bên người vợ đã

xa cách bao nhiêu năm, nhưng cuộc sống thật trớ trêu khi vợ mình đã thuộc

về người khác Cuộc gặp gỡ đặt nhân vật vào tình thế tiến thoái lưỡng nan Nếu như Lực trở về bên Thai để được hưởng hạnh phúc những năm tháng còn lại thì gia đình Quảng sẽ tan vỡ, anh chẳng khác nào là điềm họa, là người

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
2. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
3. Phan Cự Đệ (2007), Truyện ngắn Việt Nam – Thi pháp, chân dung, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam – Thi pháp, chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2000
5. Nguyễn Thái Hòa (2002), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
6. Nguyễn Trọng Hoàn (2004), Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
7. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Tôn Phương Lan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
8. Phong Lê (2005), Về văn học Việt Nam hiện đại nghĩ tiếp, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học Việt Nam hiện đại nghĩ tiếp
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Long (2007), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại tập 2, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: trình văn học Việt Nam hiện đại tập 2
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Phương Lựu (2004), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
12. Trần Thị Lý (2009), Quan niệm về con người trong các sáng tác của nguyễn Minh Châu, Luận văn, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về con người trong các sáng tác của nguyễn Minh Châu
Tác giả: Trần Thị Lý
Năm: 2009
13. Bùi Việt Thắng (1999), Bình luận truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận truyện ngắn
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
14. Đỗ Hạ Quỳnh (2008), Thế giới nghệ thuật trong tập truyện Cỏ Lau của Nguyễn Minh Châu, Luận văn, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật trong tập truyện Cỏ Lau của Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Đỗ Hạ Quỳnh
Năm: 2008
15. Tuấn Thành – Anh Vũ (2000), Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu – tác phẩm và dư luận, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu – tác phẩm và dư luận
Tác giả: Tuấn Thành – Anh Vũ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w