1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định

100 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Ở Phủ Giầy, Nam Định
Tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Khoa Lịch Sử
Thể loại đề tài
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (4)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (6)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (9)
  • 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu (10)
  • 6. Đóng góp của đề tài (12)
  • 7. Kết cấu đề tài (13)
  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM VÀ QUẦN THỂ DI TÍCH VĂN HÓA PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH (14)
    • 1.1. Khái lược về tín ngưỡng thờ Mẫu (0)
    • 1.2. Quần thể di tích văn hóa phủ Giầy, Nam Định (22)
      • 1.2.1. Vị trí địa lí (22)
      • 1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của quần thể di tích Phủ Giầy, Nam Định 23 CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU (23)
    • 2.1. Cơ sở thờ tự (27)
      • 2.1.1. Phủ Tiên Hương (27)
      • 2.1.2. Phủ Vân Cát (31)
      • 2.1.3. Lăng chúa Liễu (35)
      • 2.1.4. Phủ Bóng - Nguyệt Du Cung (37)
    • 2.2. Đối tượng thờ tự (0)
    • 2.3. Nghi lễ và lễ hội (44)
      • 2.3.1. Thời gian tiến hành và lễ vật (44)
      • 2.4.2. Các nghi thức (45)
    • 2.5. Giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy (0)
      • 2.5.1. Giá trị tín ngưỡng, tâm linh (50)
      • 2.5.2. Giá trị giáo dục truyền thống lịch sử (53)
      • 2.5.3. Giá trị thẩm mỹ nghệ thuật (54)
      • 2.5.4. Giá trị kinh tế - xã hội (55)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ GIẦY (57)
    • 3.1. Thực trạng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy (0)
    • 3.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy 69 1. Đẩy mạnh công tác sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy (69)
      • 3.2.2. Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân (70)
      • 3.2.3. Tăng cường công tác quản lí của chính quyền địa phương (71)
  • KẾT LUẬN (73)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (75)
  • PHỤ LỤC (81)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ sau Đổi mới, tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt là thờ Mẫu Liễu Hạnh, ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam Nhiều học giả đã nghiên cứu sâu sắc về tín ngưỡng này, khám phá các khía cạnh văn hóa và đời sống tinh thần liên quan Kể từ năm 1990, đặc biệt sau hội thảo quốc tế về Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại Văn Miếu vào năm 1991, hoạt động nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu đã diễn ra sôi nổi, dẫn đến việc công bố nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu giá trị.

2.1 Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Mẫu được nghiên cứu một cách hệ thống và tổng quan qua các tác phẩm của tác giả Ngô Đức Thịnh, đặc biệt là cuốn sách Đạo Mẫu Việt Nam Tác phẩm này đã được tái bản và sửa chữa liên tục vào các năm 2001, 2007, mang đến cái nhìn sâu sắc về tín ngưỡng này.

Năm 2010, mỗi lần tái bản không chỉ đơn thuần là bổ sung tư liệu mà còn phản ánh sự thay đổi trong nhận thức và quan điểm nghiên cứu.

7 vậy, phiên bản năm 2010 của cuốn sách về cơ bản có nhiều điểm ưu việt so với các phiên bản trước đó;

Công trình Hát văn tập trung vào những vấn đề cơ bản liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt là các nghi thức lên đồng và hầu đồng.

Cuốn sách "Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á" tập hợp nhiều bài viết từ các tác giả khác nhau, tập trung vào ba vấn đề chính: Đạo Mẫu ở Việt Nam, các hoạt động lên đồng của người Việt, và vai trò của các shaman trong các tộc người thiểu số tại Việt Nam.

Công trình "Lên đồng: Hành trình của thần linh và thân phận" là một chuyên khảo nghiên cứu về nghi thức lên đồng, đặc biệt liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ ở Việt Nam Bài viết cũng so sánh và đối chiếu các nghi thức lên đồng của các tộc người thiểu số khác, giúp làm nổi bật sự đa dạng văn hóa trong tín ngưỡng tâm linh.

Công trình Tục thờ Mẫu của Đinh Gia Khánh phân tích nguồn gốc và những yếu tố hình thành tâm thức tôn trọng phụ nữ trong văn hóa Việt Nam, từ đó phát triển các tục thờ Nữ thần Ngoài ra, tác phẩm Các nữ thần Việt Nam của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc cũng đóng góp vào việc khám phá và khẳng định vị trí của nữ thần trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Chúc [12] là một nghiên cứu tổng hợp về các nữ thần ở Việt Nam, khám phá nguồn gốc, quá trình hình thành và sự thiêng hóa của họ Bài viết cũng nêu rõ vai trò và tầm ảnh hưởng của những thần nữ này đối với đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt, từ đó làm nổi bật sự quan trọng của họ trong văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam.

Ngoài ra, các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu cũng bao gồm những công trình như Tam Tòa Thánh Mẫu và Văn Hóa Thánh Mẫu, cũng như cuốn sách Nữ Thần và Thánh Mẫu Việt Nam.

Bên cạnh các sách in, nhiều bài viết trên tạp chí cũng đã đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu, như trong tác phẩm của Đinh Gia Khánh, "Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam," đăng trên Tạp chí Văn.

Đạo Mẫu ở Việt Nam được thể hiện rõ qua hệ thống đền miếu và thần tích, như đã được Nguyễn Minh San phân tích trong bài viết của mình trên Tạp chí Dân tộc học Các tục thờ Thánh Mẫu cũng đóng vai trò quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng dân gian, thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần linh.

Tạp chí Di sản văn hóa, số 7/2004; Nguyễn Minh San (1993), Tứ pháp - tín ngưỡng độc đáo của người Việt, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 5, tr 62-64;

Nguyễn Kim Hiền trong bài viết "Lên đồng một sinh hoạt tâm linh mang tính trị liệu" (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, 2001) đã khám phá sâu sắc về ý nghĩa tâm linh của nghi lễ lên đồng Đồng thời, Nguyễn Ngọc Mai cũng đưa ra những suy nghĩ về "Múa đồng trong nghi lễ lên đồng của người Việt và mối quan hệ với múa bóng (Chăm)" (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3, 2009), nhấn mạnh sự kết nối văn hóa giữa hai hình thức nghệ thuật này.

2.2 Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh nói chung và ở Phủ Giầy nói riêng

Từ thế kỉ XVI, tục thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Kẻ Dầy đã phát triển mạnh mẽ, gắn liền với lịch sử và truyền thuyết của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, hay còn gọi là Chúa Liễu Trong văn hóa dân gian Vụ Bản, Liễu Hạnh công chúa được coi là “Thiên Bản lục kỳ chi đệ nhất”, đứng đầu trong số sáu nhân vật kỳ tài Thánh Mẫu Liễu Hạnh còn được tôn thờ trong hệ thống thần linh Việt Nam như một trong “Tứ bất tử”, là vị nữ duy nhất trong bốn vị thánh không chết này Nhiều tài liệu và truyền thuyết phong phú về Mẫu Liễu đã được ghi chép, phản ánh sự đa dạng trong văn hóa dân gian.

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Tục thờ Đức Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần của Vũ Ngọc Khánh [24]

Bài viết trên tạp chí Tín ngưỡng thờ Mẫu khám phá tâm thức của người Việt Nam và lễ hội Phủ Giầy, đồng thời nêu bật hình ảnh Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh qua tác phẩm của Nguyễn Thị Huế Ngoài ra, khát vọng của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong bài viết của Phạm Quỳnh Phương Cũng không thể không nhắc đến tín ngưỡng dân dã liên quan đến Mẫu Liễu và điện thờ, được phân tích bởi Trần Lâm Biền.

Một số công trình nghiên cứu nổi bật về tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội ở Phủ Giầy, Nam Định bao gồm: "Lễ hội Phủ Giầy và việc quản lí lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định" của Nguyễn Văn Xuyên, "Bức tranh văn hóa dân gian: Lễ hội Phủ Giầy" của Thang Ngọc Pho, và nghiên cứu về Phủ Dầy như một trung tâm tín ngưỡng thờ.

Mẫu ở Việt Nam của Vũ Huy Toàn [61]; Mẫu Liễu - Phủ Giầy trong bối cảnh các trung tâm thờ Mẫu ở nước ta của Nguyễn Minh San [45]; …

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, sinh viên khai thác tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau

- Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu quan trọng, cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho đề tài

Các tác phẩm chuyên ngành như "Đạo Mẫu ở Việt Nam" của Ngô Đức Thịnh, "Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á" cũng của Ngô Đức Thịnh, "Mẫu Liễu sử thi" của Hồ Đức Thọ, và "Tam Tòa thánh Mẫu" của Đặng Văn Lung, đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu và hiểu biết về Đạo Mẫu và các hình thức tín ngưỡng liên quan tại Việt Nam và khu vực Châu Á.

Các bài viết từ sách, báo và tạp chí như "Hình tượng phụ nữ Việt Nam trong nghệ thuật múa" của Lê Ngọc Canh, "Hầu đồng từ góc nhìn sân khấu" của Đồ Hương, và "Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức loài người" của Trịnh Quang Khanh, cùng với "Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay" của Ngô Đức Thịnh, đều phản ánh sâu sắc các khía cạnh văn hóa và tín ngưỡng của người Việt Nam Những tác phẩm này không chỉ làm nổi bật vai trò của phụ nữ trong nghệ thuật mà còn khắc họa sự phong phú của các lễ hội truyền thống, từ đó góp phần nâng cao nhận thức về di sản văn hóa và giá trị xã hội hiện tại.

Sinh viên đã thu thập tư liệu thực địa từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm người dân địa phương, khách thập phương, và các bô lão có kinh nghiệm trong tín ngưỡng thờ Mẫu Họ cũng tham khảo các tài liệu viết tay và thành văn được lưu giữ tại di tích và địa phương Những tư liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên hoàn thành khóa luận của mình.

5.2 Phương pháp nghiên cứu Để có thể thực hiện đề tài này, sinh viên đã sử dung những phương pháp chủ yếu sau:

- Trước hết, đề tài sử dụng phương pháp luận chung là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Phương pháp điền dã và khảo sát thực địa là cách thức quan trọng nhất để thu thập thông tin và hiểu rõ thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy Tác giả đã trực tiếp đến di tích Phủ Giầy để quan sát, tham dự, mô tả, ghi chép và thu thập dữ liệu từ thực địa.

Để đảm bảo tính xác thực, tác giả đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp với cán bộ quản lý văn hóa, quản lý di tích và người dân sống xung quanh khu vực Phủ Giầy, nhằm thu thập thông tin khách quan và khoa học về thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu tại địa phương này.

Sinh viên đã áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp dựa trên dữ liệu thu thập từ thực địa và tài liệu nghiên cứu, sử dụng logic và lịch sử để đánh giá các hiện tượng Đồng thời, các phương pháp thống kê, mô tả, phân tích và tổng hợp được áp dụng cho từng chương và nội dung của đề tài Khóa luận cũng tham khảo tài liệu về tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt là Mẫu Liễu Hạnh, nhằm cung cấp thông tin bổ sung phong phú cho nghiên cứu.

Phương pháp so sánh, đối chiếu được áp dụng để làm nổi bật đặc điểm tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy, Nam Định, thông qua việc phân tích các giai đoạn thờ tự khác nhau.

Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Giầy, Nam Định, đóng góp quan trọng trong việc làm rõ tín ngưỡng thờ Mẫu tại khu vực này, từ đó làm phong phú thêm văn hóa tín ngưỡng địa phương Khóa luận không chỉ chỉ ra thực trạng của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh mà còn đề xuất các kiến nghị nhằm phát huy giá trị của tín ngưỡng này trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của Phủ Giầy, Nam Định.

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Nghiên cứu này giúp người dân hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, từ đó nâng cao nhận thức về những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng này, thúc đẩy tinh thần dân tộc và lòng tự hào Nó cũng giúp người dân nhận thức được tầm quan trọng của tín ngưỡng, góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa Bên cạnh đó, nghiên cứu đưa ra những nhận xét ban đầu về quy luật phát triển và đặc tính cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu trong bối cảnh mở cõi về phía Nam Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống tại một địa bàn cụ thể, trong bối cảnh kế thừa di sản văn hóa của thế hệ trước.

Đề tài này đóng góp vào việc làm phong phú và đa dạng hóa các nguồn tư liệu tham khảo cho quá trình học tập và nghiên cứu về lịch sử - văn hóa địa phương Nó đặc biệt hữu ích cho những ai quan tâm đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, đặc biệt là Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Giầy, Nam Định.

Chính là cơ sở để chính quyền có thể dựa vào đó ban hành các chính sách cho phù hợp với thực trạng của tín ngưỡng hiện nay.

Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khóa luận chia ra làm 4 chương

Chương 1: Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và quần thể di tích văn hóa Phủ Giầy Nam Định

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy

Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy

KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM VÀ QUẦN THỂ DI TÍCH VĂN HÓA PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH

Quần thể di tích văn hóa phủ Giầy, Nam Định

Nam Định, tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nổi bật với dân cư đông đúc và di sản văn hóa phong phú Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là vùng đất văn hiến, đặc biệt là khu vực Thiên Bản (nay là Vụ Bản) và Thiên Trường, cùng với Quần Anh Thiên Bản không chỉ là vùng đất cổ mà còn lưu giữ những dấu ấn văn hóa tinh túy của người Việt từ thời Vua Hùng, thể hiện bản sắc dân tộc và phát triển mạnh mẽ qua các thời kỳ lịch sử.

Vụ Bản là một huyện thuộc tỉnh Nam Định, nằm cách thành phố Nam Định 15km về phía Tây Nam Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 14.766,23 ha và bao gồm 17 xã cùng 1 thị trấn, với dân số đông đảo.

+ Phía Đông giáp thành phố Nam Định và huyện Nam Trực

+ Phía Tây giáp huyện Ý Yên

+ Phía Nam giáp huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng

+ Phía Bắc giáp huyện Mỹ Lộc [48, tr.5]

Vào thời vua Hùng, huyện Vụ Bản có nhiều làng mang tên "Kẻ", trong đó có Kẻ Dầy, nay là thôn Tiên Hương và Vân Cát thuộc xã Kim Thái Hai làng này không chỉ có vị trí quan trọng về chính trị và kinh tế mà còn sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời Sông Sắt, một nhánh của sông Ninh Giang, chảy ở phía Tây làng, kết nối Châu Giang với sông Hồng, tạo nên những con đường thủy và bộ dẫn đến hành cung Thiên.

Vụ Bản, vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa truyền thống, đã ghi dấu ấn văn hóa từ thời Lý - Trần khi các vua đi kinh lý qua đây Không chỉ nổi bật với cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, Vụ Bản còn là quê hương của nhiều nhân vật nổi tiếng như trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhà sử học Trần Huy Liệu, nhạc sĩ Văn Cao và nhà thơ Nguyễn Bính, cùng với nhiều nhà khoa bảng, khoa học, văn nghệ sĩ và chiến sĩ cách mạng xuất sắc.

Quần thể Phủ Giầy, thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, gồm khoảng 17 di tích liên quan đến truyền thuyết về thánh Mẫu Liễu Hạnh Nơi đây sở hữu cảnh quan thiên nhiên phong phú với núi sông xen kẽ đồng ruộng màu mỡ Với vị trí thuận lợi tại giao điểm của các trục đường lớn như quốc lộ 10, 21 và các tỉnh lộ 56, 12, Phủ Giầy cách thành phố Nam Định chỉ hơn 10km, dễ dàng tiếp cận bằng đường bộ.

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của quần thể di tích Phủ Giầy, Nam Định

Khái niệm "phủ" trong văn hóa dân gian Việt Nam được hiểu rộng rãi như một cõi, có thể là cõi trời, cõi nước hay cõi mây Phủ không chỉ là một ban thờ hay một tĩnh nhỏ trong nhà, mà còn có thể là một khu kiến trúc tín ngưỡng lớn.

Phủ Giầy là quần thể di tích quan trọng của Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, với các di tích liên kết chặt chẽ, tạo thành một điện thần hoàn chỉnh giống như Bạch Vân Quán của Đạo giáo Trung Quốc Nằm tại “Thiên Bản lục kỳ”, Phủ Giầy là nơi Mẫu Vân Hương, hay Mẫu Liễu Hạnh, giáng sinh lần thứ hai, do đó được gọi là Vân Hương Thánh Mẫu, trong đó "Vân" chỉ làng Vân Cát và "Hương" chỉ quê hương.

Phủ Giầy, trước đây được biết đến với tên Kẻ Dầy, đã được đổi tên khi bà Liễu Hạnh được phong làm Mẫu Nghi Thiên Hạ Từ "Phủ" thể hiện nơi ở của các vương công, và đền thờ Liễu Hạnh cũng mang ý nghĩa tương tự Tên gọi Kẻ Giầy - Phủ Giầy gắn liền với truyền thuyết về bà Chúa Liễu Hạnh, người đã để lại một chiếc giầy trước khi trở về thượng giới vì nỗi nhớ gia đình Huyền thoại cũng kể rằng vua đã nghỉ qua đêm tại vùng đất này.

Phủ Giầy, nơi thờ tự của bà chúa Liễu Hạnh, được hình thành từ 24 quán hàng và một đôi giày được tặng Tên gọi Phủ Giầy không chỉ vì sự hiện diện của bánh dày giò nổi tiếng mà còn có giả thuyết cho rằng tên gọi này xuất phát từ gò đất hình bánh dày trước cửa phủ.

Phủ Giầy là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng nổi bật, bao gồm ba di tích chính: phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Thánh Mẫu, nơi thờ Công chúa Liễu Hạnh Với mật độ di tích dày đặc trong bán kính 1km, Phủ Giầy không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc Các di tích nằm rải rác trong ba thôn Tiên Hương, Vân Cát và Bảng Già, hòa quyện giữa thiên nhiên và cuộc sống hàng ngày, từ những mái nhà nhỏ đến những con đường tấp nập Mặc dù trước đây có khoảng 17 di tích, nhưng theo thời gian, một số đã bị phá hủy hoặc hư hại.

Trong quần thể di tích Phủ Giầy, nhiều người lầm tưởng rằng Mẫu sinh ra ở Vân Cát và lấy chồng ở Tiên Hương, nhưng thực tế không phải vậy Theo tác giả Bùi Văn Tam, Vân Cát và Tiên Hương trước đây là một địa điểm có tên nôm là Kẻ Dầy, tên chữ là An Thái Khi thành lập xã An Thái, khu vực này bao gồm bốn thôn: Vân Cát, Vân Đình, Tây Cầu (còn gọi là Tây La hay La Hào) và Nham Miếu, tương ứng với các tên Giáp Nhất, Giáp Nhì, Giáp Ba, Giáp Tư Vào thời Lê Cảnh Hưng, sự phân chia này đã diễn ra.

Từ năm 1740 đến 1786, dân thôn Vân Cát (Giáp Nhất) đã phát triển đông đúc về phía Bắc, dẫn đến việc tách ra thành một xã mới mang tên xã Vân Cát Trong khi đó, xã An Thái vẫn duy trì bốn giáp cũ cho đến năm Tự Đức thứ

Năm 1947, hai xã Vân Cát và Tiên Hương được hợp nhất thành xã Kim Thái, bao gồm ba thôn: Tiên Hương, Vân Cát và Bảng Già (Xuân Bảng) Trước đó, vào năm 1860, xã Tiên Hương đã được đổi tên từ tên gọi cũ.

Tấm bia “Khải Định lục niên xuân” (Mùa xuân niên hiệu Khải Định thứ 6 –

Năm 1921, Tiến sĩ đốc học Hải Phòng Nguyễn Văn Tính đã biên soạn một tài liệu ở phủ Vân Cát, trong đó có nhắc đến lịch sử của làng: “Vốn làng này trước chung nhau, sau mới chia ra (trước là thôn Vân Cát nằm trong xã An Thái) một là hai, hai cũng là một vậy” Điều này cho thấy sự gắn bó và phát triển của cộng đồng dân cư tại thôn Vân Cát.

Vân Cát hiện nay bao gồm Vân Cát 2, phần mở rộng về phía bắc, và Vân Cát 1, phần đất còn lại của thôn Vân Cát cũ, nằm ở Giáp Nhất thôn Tiên Hương.

Trong quần thể di tích Phủ Giầy bao gồm rất nhiều di tích nhưng trong đó quan trọng nhất là hai phủ: Phủ Tiên Hương và Phủ Vân Cát

- Phủ Vân Cát: Có khá nhiều tư liệu Hán Nôm mang nội dung: “Vân Cát Thiên

Cơ sở thờ tự

Phủ Giầy là một quần thể kiến trúc độc đáo nằm giữa vùng đồng bằng rộng lớn, với khung cảnh sông nước hữu tình và các dãy núi được ví như hình ảnh một con rồng khổng lồ Mặc dù di tích Phủ Giầy không phải là công trình kiến trúc hoành tráng, nhưng nó sở hữu nét độc đáo khó nơi nào có được và đã được nhà nước công nhận Hai thôn Vân Cát và Tiên Hương từng là một, và ngôi phủ thờ "Tam tòa thánh mẫu" được xây dựng từ thời Lê Cảnh Trị Vào năm 1806, hai thôn tách thành hai đơn vị riêng biệt, mỗi thôn xây dựng phủ thờ riêng cho bà chúa Liễu Hạnh, thể hiện rõ nét văn hóa triều đại nhà Nguyễn Hiện nay, bộ ba di tích gồm Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu được coi là liên quan mật thiết đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cùng với nhiều đền miếu khác, làm tăng thêm sự tôn nghiêm của Phủ Giầy, trong đó nổi bật nhất là Phủ Tiên Hương và Phủ Vân Cát.

Phủ Tiên Hương, nằm ở thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Giầy và là nơi thờ chính của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Phủ chính Tiên Hương là một công trình kiến trúc độc đáo và lâu đời, bao gồm 19 tòa nhà với 81 gian lớn nhỏ, cao thấp khác nhau Quy hoạch rõ ràng giữa chính và phụ tạo nên không gian vừa thoáng đãng vừa trang nghiêm.

Phủ Tiên Hương, với kiến trúc “nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc”, đã được chuyển thành công trình gạch ngói vào năm 1841 và trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được dấu tích của phủ cổ Hiện nay, phủ chính Tiên Hương lưu giữ 15 đạo sắc phong thần cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh, trong đó đạo sắc sớm nhất ghi ngày 10 tháng chạp năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730) phong Thánh Mẫu là Mã Vàng Công Chúa thượng đẳng thần, và đạo sắc muộn nhất ghi ngày 25/7/1924 phong Đức Thánh đệ Tam - Ngọc nữ Quang cung Quế Anh Ngoài ra, phủ chính còn bảo tồn nhiều cổ vật, bao gồm chiếc ấn đồng cổ và nhiều đồ sứ khắc chữ, khẳng định đây là nơi thờ Mẫu và là nơi Mẫu đầu thai.

Phủ xây trên khu đất rộng 1 mẫu 4 sào, bao quanh là nhà dân, đường cái và được che chắn bởi núi Tiên Hương Từ xa, phủ rất nổi bật với giếng tròn ở cổng vào, mang ý nghĩa tụ thủy để tụ phúc, giữa giếng có ụ đất cắm cờ vào mùa hội Cán cờ được làm bằng tre hoặc gỗ, buộc lá hoặc con quạ gỗ, biểu trưng cho thiên sứ Sân lớn phía sau là nơi biểu diễn xếp chữ và bán hàng lưu niệm trong mùa hội Ba phương đình được xây dựng theo kiểu chồng diêm tám mái, trong đó phương đình giữa bề thế hơn với ba gian, có các chi tiết tinh xảo và cặp nghê đỡ trụ non đấu Các mảng đề tài tùng, cúc, trúc, mai trang trí trên lá cốn tạo nên vẻ đẹp hài hòa, trong khi cửa phía Tây có rồng chầu và hai cửa phía Đông tạo nên một cặp hồ sinh động, chào đón du khách.

29 phương đình đã tạo cho mặt tiền Phủ Tiên Hương thêm ý nghĩa, hấp dẫn, gợi cảm cho ai đó mỗi khi đến hành hương

Trước sân là “nguyệt hồ” được thiết kế đối xứng, bao quanh là tường hoa đẹp mắt, với cửa xuống hồ có rồng chầu và bia đá mang kiểu cuốn thư độc đáo, ghi lại việc xây dựng phủ Hồ được xem là điểm tụ thủy, giữa hồ có đảo nhỏ đặt cột cờ đá Hai cầu đá đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô Khu vực này nối với sân rộng và hệ thống nghi môn trụ, trên đỉnh trụ có hình phượng, tượng trưng cho không gian và lân kiểm soát khách hành hương.

Phủ Tiên Hương là một khu vực thờ cúng độc đáo, được cấu thành từ nhiều dãy nhà liên kết với nhau, tạo nên không gian rộng rãi và sâu thẳm Trong mỗi dãy nhà, các gian được phân chia thành nhiều cung, trong đó Cung đệ tứ là nổi bật nhất với kích thước 22m chiều dài và 8m chiều rộng, hai hồi bít đốc và mái lợp ngói âm dương Cấu trúc mái được thiết kế vững chắc với các ngoàm đỡ hoành liên kết, cùng với hệ thống kèo, xà được gia công tỉ mỉ với những họa tiết sinh động như dơi, chim, cá, nho, lựu, trúc, hoa sen và hoa cúc Các chi tiết chạm khắc tinh xảo giữa cột chính và xà ngang cùng với họa tiết vân mây và mặt hổ phù cách điệu, tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật độc đáo cho khu thờ.

Ngũ phúc và những trái đào lồng được chạm khắc tinh xảo gợi nhớ đến cảnh “đào tiên trường thọ” và ước muốn “phúc, lộc, thọ” của con người Những đề tài tứ quý, tứ linh tạo nên sự hấp dẫn cho tòa nhà lớn, dù làm từ gỗ tứ thiết nhưng vẫn mang lại cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng và dễ chịu Cung Đệ Tứ thờ Tứ phủ Công đồng, hay còn gọi là ban Công Đồng, với nhang án thờ Tứ phủ Công đồng nằm chính giữa, cùng tòa cửu long và 36 ngọn đèn tạo nên không gian trang nghiêm và huyền bí.

Trước khi thực hiện nhang án, người thợ cần khéo léo gia công và áp dụng tư duy vũ trụ để đạt được kết quả tốt nhất Bên cạnh đó, trong cung còn có các kiệu thờ Mẹ và kiệu võng, thể hiện sự đa dạng trong văn hóa thờ cúng.

Cung đệ tam có kích thước thấp và hẹp hơn cung đệ tứ, với 5 gian, chiều dài 13m và chiều rộng 6m3 Trong cung, hai sập thờ được thiết kế với chân uốn cong và chạm nổi hình hổ phù cùng hoa lá, trong đó bốn góc được chạm khắc hình “thao thiết” Cung còn có giá để đồ bát bửu và hai giá chiêng, trống, với thanh giá được tạo hình hai con rồng quay đuôi vào mặt trời ở giữa Theo quan niệm chung, hình ảnh này biểu trưng cho việc cầu mưa của cư dân nông nghiệp, với âm thanh từ mặt trống tượng trưng cho sấm sét trên bầu trời nhằm gọi mưa.

Cung đệ nhị được thiết kế hẹp với chiều rộng 2,5m và chiều dài 11m, nối liền mái với cung đệ nhất và cung đệ tam Bên trong cung có ban thờ Tứ vị chầu Bà cùng ba bộ long ngai lớn trên ba sập thờ Cung đệ nhất, hay còn gọi là cung cấm, hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài nhờ hệ thống cửa ngăn, sử dụng ánh sáng điện hoặc nến để tạo không gian linh thiêng Cung này dài 10m và rộng 7,6m, bao gồm ba gian, là nơi thờ Tam tòa Thánh Mẫu cùng Tổ Phụ, Tổ Mẫu Năm pho tượng được đặt trong năm khám nhỏ và một khám lớn khảm trai, với Mẫu đệ nhất ở giữa mặc áo đỏ, Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn áo xanh và Mẫu đệ tam Thoải Phủ áo trắng ở hai bên Ba pho tượng này được nhiều người tin rằng đều là Mẫu Liễu phân thân, cho thấy sự giao thoa giữa đạo Phật, đạo Mẫu và đạo Thần tiên tại Việt Nam Hai pho tượng còn lại là Tổ Phụ và Tổ Mẫu.

Cấu trúc sâu và hẹp của bốn lớp cung mang đến ấn tượng mạnh mẽ cho khách hành hương, đưa họ từ không gian đời thường vào chốn linh thiêng Ba cung sau được trang trí chủ yếu bằng tán lọng, hoành phi câu đối, nón công đồng và các đồ thờ tự, nổi bật với những bức y môn chạm trổ tinh xảo Y môn được chia thành ba ô bởi các gờ nổi trụ lửng kiểu dải lụa, với các họa tiết lưỡng long chầu nhật, hoa lá và hình long mã đang lao vào sóng nước Những bức y môn rực rỡ này không chỉ làm tăng vẻ đẹp mà còn tạo thêm độ sáng cho kiến trúc trong Phủ.

Đằng sau Phủ Tiên Hương, có một khu vườn nhỏ gắn liền với truyền thuyết về nơi học hành của Liễu Hạnh, nơi đây không chỉ nổi bật với động Sơn Trang mà còn có cây chuối với buồng chuối hàng trăm nải và cây thị trăm tuổi.

Theo báo cáo kiểm kê năm 1986 của Bảo tàng Nam Hà, phủ Tiên Hương có 230 hiện vật, trong đó bao gồm 63 hiện vật mộc, 51 hiện vật sành sứ và thủy tinh, cùng 116 hiện vật kim loại Di tích này còn lưu giữ 31 đạo sắc phong từ năm Chính Hòa thứ tư (1688) đến năm Khải Định thứ chín (1924), 14 văn bia cổ, 3 quả chuông và 2 chiêng đồng, tuy nhiên, các sắc phong hiện nay đã bị thất lạc.

Cách bào trí trong các cung ở Phủ Tiên Hương được biểu hiện ở sơ đồ 2.1 (trang

Phủ Vân Cát, một trong những di tích quan trọng của Quần thể tâm linh Phủ Dầy, tọa lạc ở phía bắc thôn Vân Cát, xã Kim Thái, cách Phủ Tiên Hương khoảng 1km Để đến Phủ Vân Cát, từ Phủ Tiên Hương, du khách có thể đi thẳng tới Ủy ban nhân dân xã Kim Thái, sau đó rẽ trái để tới di tích này.

Nghi lễ và lễ hội

2.3.1 Thời gian tiến hành và lễ vật

Theo truyền thống dân gian, tháng Ba Âm lịch là thời điểm để tưởng nhớ và tri ân công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và sự kính trọng đối với tổ tiên Câu nói "Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ" nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì phong tục giỗ Mẹ trong văn hóa Việt Nam.

Hội Phủ Giầy là lễ hội truyền thống nổi bật của Việt Nam, diễn ra hàng năm vào tháng 3 âm lịch tại làng Vân Cát và Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Lễ hội này không chỉ là dịp để tổ chức nghi lễ mà còn thể hiện lòng biết ơn đối với Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một trong bốn vị thánh bất tử của dân tộc.

Lễ hội ở Phủ Giầy được tổ chức kéo dài 10 ngày: Từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch và theo các phong tục sau :

- Ngày mồng 1, hai phủ Tiên Hương và Vân Cát tế cáo mở cửa phủ người ta gọi là tế khai hội

- Ngày mồng 2, phủ Tiên Hương rước nước ở Giếng về “mộc dục” Thánh tượng, sau đó làm lễ bái yết cáo

Ngày mồng 3 là một ngày lễ quốc tế trọng thể, thường do quan tổng đốc Nam Định hoặc quan lại triều đình chủ tế Trong lễ hội này, các lễ vật được chuẩn bị bao gồm bánh dầy, lợn sống, xôi, rượu và hoa quả.

Vào ngày mồng 4, lễ giỗ chính thức tại phủ Vân Cát đã thu hút sự tham gia của các quan chức triều đình từ huyện, tổng, xã cùng với con nhang đệ tử và nhân dân, tất cả đều có mặt để thực hiện các nghi thức tế lễ một cách chu đáo và trang trọng.

- Ngày mồng 5, phủ Vân Cát rước Thánh Mẫu lên Chùa Dần (Vân Tháp Tự) ở xã Trung Thành lễ Phật rồi rước về

- Ngày Mồng 6, phủ Tiên Hương rước Thánh Mẫu xuống chùa Gôi (Tiên Sơn Tự), nhưng gần đây rước lên chùa Báng (chùa Linh Sơn)

- Vào các ngày mồng 7,8,9, còn có hội “Kéo Chữ” hay còn gọi là hội hoa trượng rất đẹp mắt và độc đáo so với các hội khác

Vào ngày 1 tháng 3 âm lịch, lễ hội khai hội được tổ chức tại hai làng Tiên Hương và Vân Cát, nơi người dân thực hiện nghi thức tế lễ mở cửa Phủ Truyền thống này yêu cầu sự có mặt của các tiên chỉ, thứ chỉ, hương lý, kỳ mục địa phương và vẫn được duy trì cho đến ngày nay với sự tham gia của các quan chức cấp xã thôn.

Ngày 2 tháng 3, phủ Tiên Hương tiến hành lễ rước nước và mộc dục Trong lễ này, 8 cô gái đồng trinh khiêng kiệu bát cống Trên kiệu có bình sứ, miệng bình phủ vải đỏ, được buộc bằng giải lụa xanh Đoàn rước nước đi từ phủ Tiên Hương ra đến đền Giếng Găng Sau khi làm lễ xong, cụ cao niên nhất làng (xưa là ông Tiên chỉ) xuống giếng lấy nước vào bình, đặt lên kiệu rồi rước về phủ Tiên Hương làm lễ mộc dục Bốn cô gái đồng trinh dùng khăn lụa đỏ nhúng nước lau mình tượng

Mùng 3 tháng 3, là ngày giỗ Mẫu, nghi lễ được tổ chức ở cả hai phủ Tiên Hương và Vân Cát (phủ Vân Cát thường giỗ sau Tiên Hương 1 ngày, vào 4 tháng 3) Các hoạt động tế lễ diễn ra đối với các quan chức từ cấp tỉnh (tổng đốc) đến chánh, phó tổng… Mỗi tuần tế thường diễn ra khoảng 2 tiếng đồng hồ Lễ vật dâng thánh ngoài hương, hoa, oản quả còn có nhiều lễ vật khác Theo như người xưa tương truyền lại, xưa kia mỗi phủ (Tiên Hương, Vân Cát) đều có ruộng để cầy cấy Người được giao

Trong năm, 46 ruộng này cần được cầy cấy, và vào ngày giỗ kỵ Mẫu hàng năm, lễ vật phải được chuẩn bị gồm 10 mâm cỗ lễ Mỗi mâm cỗ bao gồm 100 chiếc bánh dầy, trên mặt bánh dán chữ thọ bằng giấy trang kim Ngoài ra, cần có một con lợn mổ thịt sống và một hương án chuối tiêu Các lễ vật khác do các hội hào hàng huyện đóng góp thường bao gồm một cỗ xôi trị giá 20 quan tiền, 30kg gạo nếp thơm, một con lợn quay và một mâm cau tươi.

Ngày 5 tháng 3, diễn ra lễ rước thỉnh kinh ở phủ Vân Cát lên chùa Dần (chùa Pháp Vân) thuộc xã Trung Thành, Vụ Bản Ngày 6 tháng 3, rước Thánh Mẫu từ phủ Tiên Hương lên chùa Gôi, thuộc thị trấn Gôi, Vụ Bản Trong đó lễ rước thỉnh kinh được coi là quy mô hoành tráng nhất, thời gian diễn ra từ 6 giờ sáng đến 4h chiều ngày

Vào ngày 6 tháng 3, lễ hội trở nên ý nghĩa và thiêng liêng nhờ sự tham gia của hàng vạn khách hành hương Trong những ngày diễn ra lễ rước, đoàn rước bao gồm nhiều đồ nghi trượng như cờ phướn, cầu giải oan, và các kiệu trang trọng Đi đầu là các cụ cao niên niệm kinh Phật, tiếp theo là các nhà sư và hàng trăm tăng ni phật tử Kiệu long đình rước lư nhang Thánh Mẫu và bát cống rước sắc phong cũng được đưa lên Nam thanh niên thường đảm nhiệm việc khiêng kiệu, trong khi các kiệu võng do các cô gái chưa chồng phụ trách Đằng sau các kiệu Mẫu là các con công/nhang, đệ tử trong trang phục truyền thống, thể hiện lòng thành kính với Thánh Mẫu.

Một trong những hoạt động quan trọng trong lễ hội Phủ Giầy là nghi thức “kéo chữ” (Hoa Trượng Hội), diễn ra vào ngày 7 tháng 3 Đây là ngày hội kéo chữ, được xem là nét độc đáo nhất của lễ hội Phủ Giầy, liên quan đến vương phi của chú Trịnh - bà Trịnh Thị Ngọc Đài Hàng năm, vào ngày này, mỗi tổng trong huyện Vụ đều tham gia vào hoạt động này.

Hội làm phu cờ thu hút 10 người từ 20 đến 35 tuổi, gộp thành 100 phu cờ từ mười tổng trong huyện, cùng với sự tham gia của một số tổng khác như Mỹ Lộc và Bình Lục Phu cờ mặc đồng phục gồm áo cánh vàng, quần trắng, khăn đen có dải lụa vàng, và đi chân đất, mỗi người cầm một cây gậy dài với ngù lông gà và vòng giấy màu xanh đỏ Tổng cờ chỉ huy đoàn phu cờ, tập trung tại một địa điểm để tiến vào khoảng đất rộng trước phủ Chính Vào buổi trưa, phu cờ chuẩn bị xếp chữ theo lệnh của Tổng cờ, thực hiện các động tác theo nhịp trống để tạo hình chữ như “Mẫu nghi thiên hạ” hay “Thiên hạ thái bình”, đồng thời mô phỏng tục vứt cuốc xẻng của dân phu xưa.

Một người dân ở xã Kim Thái tham gia vào lễ hội Phủ Giầy cho biết:

Ngày xưa, vào dịp chính hội, nhà đền huy động người dân xã Kim Thái tham gia các nghi lễ như rước kiệu, tế lễ, kéo chữ Tuy nhiên, từ năm 1994, do thiếu nhân lực địa phương, nhà đền đã thuê người từ các xã lân cận và thậm chí từ nơi khác để tham gia Những người được thuê không chỉ có kinh phí mà còn cảm thấy vui vẻ khi thực hiện các nghi lễ tâm linh, nhiều người tin rằng điều này sẽ mang lại may mắn cho bản thân và gia đình.

Người dân cho biết thêm:

Việc thuê người tham gia lễ hội thường do cá nhân trong xã hoặc từ các xã lân cận đảm nhận, họ nhận tiền từ nhà đền để tổ chức, thuê người và tập huấn Vào ngày lễ hội, những người này sẽ tham gia biểu diễn Người đứng ra thầu công việc này có thể là một cá nhân từ xã Giầy hoặc từ xã khác.

48 đại diện Đoàn Thanh niên hoặc các tổ chức đoàn hội của xã Kim Thái đứng ra”[chị

Trong các dịp lễ hội tại đền Phủ Tiên Hương và Phủ Vân Cát, nghi lễ hầu đồng là một hình thức diễn xướng đặc trưng của đạo Mẫu, kết hợp giữa hát văn chầu, lên đồng và múa thiêng Trang phục trong các giá đồng, như giá Chầu Đệ tam với khăn áo trắng, hay trang phục uy nghi của các Quan Lớn, thể hiện sự trang trọng và quyền lực Ngoài trang phục, trang sức và các vật dụng như quạt và khăn đội đầu cũng được chế tác tỉ mỉ theo truyền thống Nghệ thuật trang điểm và sự khéo léo trong việc thay đổi trang phục của thanh đồng góp phần vào sự thành công của buổi lễ Âm nhạc và lời hát văn mượt mà tạo ra cảm xúc rộn ràng cho các con nhang Dàn nhạc trong hát văn, với đàn nguyệt, sáo và trống, giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh điệu hát Hát văn tại Phủ Dầy đòi hỏi kỹ thuật cao, với sự kết hợp giữa hát và nhạc cụ, mang đến những điệu hát phong phú từ hào sảng đến nhẹ nhàng, cùng với những điệu múa đa dạng của thanh đồng.

Giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy

Tại hội Phủ Giầy, du khách có thể tìm thấy nhiều sản phẩm từ làng mộc La Xuyên, từ các công cụ đánh bắt cá như lưới, vó đến đồ nội thất như giường, tủ, bàn, ghế Ngoài ra, hội còn nổi tiếng với các mặt hàng truyền thống như dày, dép, đồ đan, áo tơi và sản phẩm sơn mài Đặc biệt, ẩm thực địa phương là điểm nhấn không thể bỏ qua, với món thịt bò thui chấm tương gừng và bánh dày giò rất phù hợp với khí hậu tháng ba Chính sự phong phú về văn hóa và ẩm thực đã khiến cho những ai đã một lần tham gia hội Phủ Giầy đều muốn quay lại.

2.5 Giá trị của tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Phủ Giầy

2.5.1 Giá trị tín ngưỡng, tâm linh

Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh là một phần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ Qua các nghi thức và lễ hội, tín ngưỡng này đã hình thành những đặc trưng riêng biệt, đóng góp vào đời sống văn hóa cộng đồng Giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh chính là giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng do có cơ chế vận hành riêng, nó cũng tạo ra những giá trị đặc thù và riêng biệt.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh đã tạo dựng niềm tin thiêng liêng cho cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ, những người gánh chịu nhiều áp lực trong gia đình Họ thường phải đối mặt với bất công và khó khăn để duy trì cuộc sống tổ ấm Sự lo lắng về sức khỏe trong thai kỳ khiến họ tìm đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh như một nguồn an ủi và cầu nguyện cho sự bình an Qua nhiều thế kỷ, tục thờ Mẫu - Thần tứ phủ vẫn giữ vững vị trí trong lòng dân, dẫn đến sự hình thành của lễ hội Phủ Giầy, nơi diễn ra các hoạt động tâm linh phong phú.

Nội dung sinh động của chúng tôi không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh của một nhóm hay thế hệ nhất định, mà còn thỏa mãn nhu cầu tâm linh của nhiều lứa tuổi và thế hệ khác nhau trong cộng đồng.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, giống như nhiều tín ngưỡng bản địa khác của Việt Nam, đã phát triển qua sự giao thoa với các tôn giáo khác, đặc biệt là Đạo, Phật và Nho Đây là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian Việt Nam và Đạo giáo, giúp hoàn thiện thần điện và nghi lễ Hơn nữa, Phật giáo cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tín ngưỡng này, thể hiện qua việc Phật Bà Quan Âm đã cứu giúp thánh Mẫu Liễu Hạnh sau thất bại tại Sòng Sơn.

Sự kết hợp giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo đã tạo nên đặc trưng của đạo Mẫu Việt Nam, định hướng tâm linh của cộng đồng Điều này không chỉ giúp cư dân hướng về cội nguồn mà còn nuôi dưỡng đức tin và cuộc sống thánh thiện Từ đó, con người trong cộng đồng tìm kiếm hạnh phúc, làm việc thiện và tránh xa điều ác, đồng thời tin tưởng vào sự phù trợ của các Mẫu và thần linh Với niềm tin này, tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa và là một hiện tượng tín ngưỡng tâm linh không thể thiếu ở Việt Nam.

Giá trị tín ngưỡng tâm linh của thờ Mẫu ở Phủ Giầy được thể hiện qua các nghi thức hành lễ trong lễ hội, đảm bảo tính chuẩn mực và thiêng liêng Thành viên tham gia được tuyển chọn kỹ lưỡng và nghi thức được tập dượt cẩn trọng, với các yếu tố như đọc văn tế bằng chữ Hán và kéo chữ thể hiện ảnh hưởng của Nho giáo Các hoạt động rước xách và giao tiếp với thần linh qua nghi thức hầu đồng cũng góp phần làm nổi bật giá trị tâm linh này.

Lễ hội Phủ Giầy mang trong mình sức sống và giá trị thiêng liêng đặc trưng, nhờ vào sự giao tiếp với thần linh, tạo nên giá trị tín ngưỡng độc đáo Ông Nguyễn Văn Ngọc, một người tham dự lễ hội, đã chia sẻ về trải nghiệm của mình tại đây.

Là một người học ngành khoa học xã hội, tôi nhận thấy tính thiêng liêng của Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã tồn tại hàng trăm năm trong văn hóa Việt Nam, thể hiện sự tôn nghiêm và thành kính hơn là yếu tố thần bí Hàng năm, tôi tham gia lễ hội Phủ Giầy chủ yếu để cầu mong bình an và thanh tịnh trong tâm hồn, giúp tôi có những quyết định đúng đắn và giảm áp lực trong cuộc sống Thỉnh thoảng, tôi chỉ thắp hương vái Thánh Mẫu và tham quan như một khách du lịch, bởi tôi hiểu rằng cầu nguyện mà không hành động thì sẽ không có kết quả Mặc dù thế giới tâm linh vẫn còn nhiều điều bí ẩn mà khoa học chưa giải thích, tôi vẫn tiếp tục đi lễ để cầu mong sức khỏe và bình an, với niềm tin rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành.”

Giá trị tín ngưỡng tâm linh của thờ Mẫu tại Phủ Dầy là sự kết hợp giữa tín ngưỡng bản địa của người Việt và các tôn giáo ngoại lai Tín ngưỡng này diễn ra trong không gian thiêng như đền, phủ, miếu và thời gian thiêng được xác định bởi các thời điểm quan trọng Đặc biệt, lễ hội tại Phủ Dầy không thể tách rời khỏi các nghi thức tế lễ, kéo chữ và lên đồng/hầu đồng, tạo nên sự gắn kết sâu sắc với tín ngưỡng thờ Mẫu.

2.5.2 Giá trị giáo dục truyền thống lịch sử

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, đặc biệt là tại Phủ Giầy, không chỉ là một phần quan trọng của văn hóa mà còn mang tính lịch sử sâu sắc, đại diện cho bản sắc dân tộc Qua các giai đoạn khác nhau, tín ngưỡng này thể hiện sự kế thừa có chọn lọc những giá trị văn hóa tốt đẹp từ quá khứ, đồng thời cũng thích ứng với nhu cầu và xu hướng của đời sống hiện đại, phản ánh sự giao thoa giữa truyền thống và đương đại.

Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy không chỉ khẳng định giá trị lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam mà còn định hướng giá trị tâm linh cho cộng đồng, giúp họ hướng về cội nguồn Hàng năm, người dân tụ tập để ca ngợi công đức của tổ tiên, tái hiện sự tích và những đặc trưng của thánh Mẫu và các thần linh Việc này không chỉ duy trì sự tiếp nối giữa các thế hệ mà còn giúp con người hiểu biết về bản thân và cộng đồng Những giá trị quá khứ là căn cước văn hóa của từng cá nhân, dòng họ, làng xã và quốc gia Để hiểu biết về lịch sử, con người cần học từ những sinh hoạt thực tế trong cộng đồng Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy đóng vai trò kết nối giữa quá khứ và hiện tại, truyền tải giá trị truyền thống vào đời sống hiện đại, đồng thời giáo dục truyền thống cội nguồn cho thế hệ trẻ.

Thông qua các hoạt động tín ngưỡng, giáo dục truyền thống lịch sử được truyền tải hiệu quả và sinh động nhất đến đời sống văn hóa cộng đồng Điều này giúp duy trì và trao truyền những giá trị truyền thống lịch sử cho các thế hệ sau.

Việc phục dựng tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy từ sau năm 1994 cho thấy sức sống bền bỉ của truyền thống lịch sử trong lòng người dân Người dân đã ghi nhớ, gìn giữ và phát huy giá trị của tín ngưỡng này vào thời điểm thuận lợi Từ đó, tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng mà còn góp phần tạo dựng giá trị truyền thống trong bối cảnh văn hóa đương đại.

2.5.3 Giá trị thẩm mỹ nghệ thuật

Tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt là thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giầy, là một hiện tượng văn hóa dân gian phong phú, kết hợp nhiều hình thức diễn xướng tâm linh Nó bao gồm các loại hình nghệ thuật truyền thống như trang phục, trang điểm, âm nhạc, ca từ và vũ đạo dân gian, cùng với nghệ thuật tạo hình và điêu khắc Bên cạnh đó, tín ngưỡng này còn có các nghi thức tế lễ gắn liền với hoạt động nghệ thuật diễn xướng, trong đó trò kéo chữ (hoa trượng hội) không chỉ thể hiện tính hàn lâm qua việc sử dụng Hán tự mà còn là một nghệ thuật sắp đặt công phu, yêu cầu sự luyện tập, kiến thức và kỷ luật cao từ người tham dự.

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ GIẦY

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hóa sử cương, Viện Khoa giáo Hiên Tân Biên, Bốn Phương xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2014
2. Toan Ánh (1992), Tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng - quyển hạ), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng - quyển hạ)
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
3. Toan Ánh (2005), Nếp cũ - Hội hè đình đám (quyển thượng - quyển hạ), Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nếp cũ - Hội hè đình đám (quyển thượng - quyển hạ)
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
4. Ngô Bạch (2010), Nghi lễ thờ Mẫu văn hóa và tập tục, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ thờ Mẫu văn hóa và tập tục
Tác giả: Ngô Bạch
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
5. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2003
6. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
7. Mai Thị Ngọc Chúc, Đỗ Thị Hảo (1984), Các nữ thần ở Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nữ thần ở Việt Nam
Tác giả: Mai Thị Ngọc Chúc, Đỗ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1984
8. Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hoá tâm linh, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2001
9. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
10. Thanh Hà (1995), Âm nhạc hát Văn, Nxb Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc hát Văn
Tác giả: Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1995
11. Cao Đức Hải (2014), Quản lý lễ hội và sự kiện, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội và sự kiện
Tác giả: Cao Đức Hải
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2014
12. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc (1984), Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nữ thần Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1984
13. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
14. Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bài viết về tôn giáo học
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
15. Nguyễn Văn Huyên (1994), Việc thờ cúng các vị Thần bất tử ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc thờ cúng các vị Thần bất tử ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
16. Nguyễn Văn Huyên (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
17. Nguyễn Văn Huyên (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
18. Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
19. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Văn Ty (Chủ biên) (1990), Vân Cát thần nữ, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân Cát thần nữ
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Phạm Văn Ty (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1990
20. Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh (1991), Tứ bất tử, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ bất tử
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Vai trò tín ngƣỡng thờ Mẫ uở Phủ Giầy đối với đời sống cộng đồng địa phƣơng  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Bảng 3.1 Vai trò tín ngƣỡng thờ Mẫ uở Phủ Giầy đối với đời sống cộng đồng địa phƣơng (Trang 57)
Số liệu trên bảng thống kê bảng 3.1 (trang 5 6- 57), vai trò - tầm quan trọng của tín ngưỡng đối với đời sống xã hội của cộng đồng cư dân đạt được ở các mức độ khác  nhau - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
li ệu trên bảng thống kê bảng 3.1 (trang 5 6- 57), vai trò - tầm quan trọng của tín ngưỡng đối với đời sống xã hội của cộng đồng cư dân đạt được ở các mức độ khác nhau (Trang 58)
Bảng 3.2: Số liệu phân loại thành phần cƣ dân cộng đồng địa phƣơng tại phủ Giầy tham gia vào hoạt động lễ hội của tín ngƣỡng thờ Mẫu  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Bảng 3.2 Số liệu phân loại thành phần cƣ dân cộng đồng địa phƣơng tại phủ Giầy tham gia vào hoạt động lễ hội của tín ngƣỡng thờ Mẫu (Trang 59)
Bảng 3.3: Số liệu phân loại thành phần nhóm cộng đồng cƣ dân thập phƣơng tham gia hoạt động lễ hội trong tín ngƣỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Bảng 3.3 Số liệu phân loại thành phần nhóm cộng đồng cƣ dân thập phƣơng tham gia hoạt động lễ hội trong tín ngƣỡng thờ Mẫu tại Phủ Giầy (Trang 61)
2.1. Một số hình ảnh của Phủ Giầy, Nam Định - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
2.1. Một số hình ảnh của Phủ Giầy, Nam Định (Trang 84)
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ HÌNH ẢNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHỦ GIẦY VÀ LỄ HỘI PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
2 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHỦ GIẦY VÀ LỄ HỘI PHỦ GIẦY NAM ĐỊNH (Trang 84)
Hình 3: Cảnh quan bên ngoài Phủ Tiên Hương [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019]  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 3 Cảnh quan bên ngoài Phủ Tiên Hương [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019] (Trang 85)
Hình 4: Hồ sen bán nguyệt trước cửa Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019]  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 4 Hồ sen bán nguyệt trước cửa Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019] (Trang 85)
Hình 5: Lầu Cậ uở phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019]  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 5 Lầu Cậ uở phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019] (Trang 86)
Hình 6: Nhà bía đá ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019]  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 6 Nhà bía đá ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019] (Trang 86)
Hình 8: Chính điện Phủ Tiên Hương - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 8 Chính điện Phủ Tiên Hương (Trang 87)
Hình 7: Bên trong Phủ Tiên Hương - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 7 Bên trong Phủ Tiên Hương (Trang 87)
Hình 9: Dâng lễ ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 9 Dâng lễ ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy (Trang 88)
2.2. Một số hình ảnh của lễ hội Phủ Giầy, Nam Định - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
2.2. Một số hình ảnh của lễ hội Phủ Giầy, Nam Định (Trang 88)
Hình 11: Một ông/bà đồng đang hầu bóng ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn:  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 11 Một ông/bà đồng đang hầu bóng ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: (Trang 89)
Hình 13: Lễ rước trong lễ hội Phủ Giầy - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 13 Lễ rước trong lễ hội Phủ Giầy (Trang 90)
Hình 12: Một ông/bà đồng đang hầu bóng ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn:  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 12 Một ông/bà đồng đang hầu bóng ở Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: (Trang 90)
Hình 14: Kéo chữ (hoa trượng hội) ở Phủ Giầy - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 14 Kéo chữ (hoa trượng hội) ở Phủ Giầy (Trang 91)
Hình 15: Ðội hình dám ruớc trong lễ hội Phủ Giầy - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 15 Ðội hình dám ruớc trong lễ hội Phủ Giầy (Trang 91)
Hình 17: Một số hàng quán kinh doan hở trong sân Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019]  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 17 Một số hàng quán kinh doan hở trong sân Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019] (Trang 92)
Hình 16: Một số hàng quán kinh doan hở trong sân Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019]  - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
Hình 16 Một số hàng quán kinh doan hở trong sân Phủ Tiên Hương, Phủ Giầy [Nguồn: ảnh do sinh viên tự chụp, ngày 20/1/2019] (Trang 92)
3.2. Bảng hỏi dành cho cộng đồng du khách thập phương - Tín ngưỡng thờ mẫu ở phủ giầy nam định
3.2. Bảng hỏi dành cho cộng đồng du khách thập phương (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w