Với các lễ hội như lễ hội Cá Ông, lễ hội Cầu Bông, lễ hội rước Cộ chợ Được, lễ hội Bà Thu Bồn… nét văn hóa này dường như đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống của người
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Nguồn tư liệu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Bố cục đề tài 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN 5
1.1 Khái quát chung về lễ hội 5
1.1.1 Quan niệm về lễ hội 5
1.1.1.1 Phần lễ 7
1.1.1.2 Phần hội 8
1.2 Lễ hội truyền thống 8
1.2.1 Dẫn luận về lễ hội truyền thống Việt Nam 8
1.2.2 Đặc trưng của lễ hội truyền thống 10
1.2.2.1 Lễ hội truyền thống của người Kinh 11
1.2.2.2 Lễ hội của các dân tộc ít người 12
1.3 Tổng quan về Quảng Nam 13
1.3.1 Sơ lược lịch sử hình thành Quảng Nam 13
1.3.2 Đặc điểm địa lí tự nhiên 15
1.3.3 Điều kiện về dân cư 16
1.3.4 Điều kiện về kinh tế - xã hội 17
1.3.5 Đôi nét về lưu vực sông Thu Bồn 19
CHƯƠNG II MỘT SỐ LỄ HỘI LÀNG TRÊN LƯU VỰC SÔNG THU BỒN, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỐN, PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA NÓ………22
2.1 Một số lễ hội làng tiêu biểu trên lưu vực sông Thu Bồn 22
2.1.1 Lễ hội Bà Thu Bồn 22
2.1.1.1 Nguồn gốc 22
Trang 32.1.1.2 Thời gian và địa điểm 23
2.1.1.3 Tiến trình diễn ra lễ hội 23
2.1.1.4 Giá trị của lễ hội đối với đời sống cư dân địa phương 26
2.1.2 Lễ hội Dinh Bà làng Chiêm Sơn 27
2.1.2.1 Nguồn gốc 27
2.1.2.2 Thời gian và địa điểm 28
2.1.2.3 Tiến trình diễn ra lễ hội 28
2.1.2.4 Giá trị của lễ hội đối với đời sống cư dân địa phương 36
2.1.3 Lễ tế Bà chúa Tàm Tang 37
2.1.3.1 Nguồn gốc 37
2.1.3.2 Thời gian và địa điểm 39
2.1.3.3 Tiến trình diễn ra lễ hội 39
2.1.3.4 Giá trị của lễ hội đối với đời sống cư dân địa phương 40
2.1.4 Lễ hội Cầu Bông 40
2.1.4.1 Nguồn gốc 40
2.1.4.2 Thời gian và địa điểm 41
2.1.4.3 Tiến trình diễn ra lễ hội 42
2.1.4.4 Giá trị của lễ hội đối với đời sống cư dân địa phương 47
2.2 Những nét đặc trưng trong các lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn 50
2.3 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị của một số lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn 53
2.3.1 Thực trạng của một số lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn 53
2.3.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị của một số lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn 55
2.3.2.1 Giải pháp chung 55
2.3.2.2 Giải pháp cụ thể 56
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa, là một thành tố quan trọng cấu thành và có tác dụng duy trì những yếu tố văn hóa khác cùng tồn tại Tham gia lễ hội là một ứng xử văn hóa Nói đến “lễ hội”, “hội hè”, “đình đám”… là nói đến sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân Viêt Nam từ xưa đến nay Lễ hội chứa đựng những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc đăc biệt là tính cộng cảm làng - xã vun đắp, nâng đỡ tinh thần cộng đồng của làng quê xóm cũ Nhận thức được ý nghĩa xã hội của lễ hội mà ở bất cứ một thời đại nào, nhà nước nào cũng chăm lo duy trì và phát triển các hoạt động lễ hội cho nhân dân
Ở nhiều nơi trên đất nước ta, do điều kiện, hoàn cảnh mỗi vùng, đặc biệt là do hoàn cảnh chiến tranh nên lễ hội đã bị gián đoạn, không tổ chức được Bước vào thời kì đổi mới, đất nước đang trong tiến trình hội nhập thì nhiều hoạt động văn hóa
xã hội đã được phục hưng Đó có lẻ là điều tất yếu, bởi vì lễ hội có một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa nói chung và đời sống tâm hồn, tâm linh nói riêng của người Việt Nam trong bất kì thời đại nào
Cũng do nhiều yếu tố khác nhau về phong tục, văn hóa của mỗi vùng miền mà từng lễ hội sẽ có những điểm nổi bậc và khoác lên mình màu sắc riêng Quảng Nam
là một trong những nơi hội tụ nhiều lễ hội đặc sắc Với các lễ hội như lễ hội Cá Ông, lễ hội Cầu Bông, lễ hội rước Cộ chợ Được, lễ hội Bà Thu Bồn… nét văn hóa này dường như đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống của người dân nơi này
Cũng như vậy, hệ thống các lễ hội trên lưu vực sông Thu Bồn đã mang lại cho người dân địa phương một món ăn tinh thần và những giờ phút được vui chơi thoải mái sau những ngày tháng lao động vất vả Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, các lễ hội trên lưu vực dòng sông này đã để lại dấu ấn văn hóa không nhỏ đối với người dân tại đây nói riêng và người dân Quảng Nam nói chung
Tìm hiểu lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn là một con sông lớn nhất ở Quảng Nam, do vậy có thể góp phần vào việc tìm hiểu sâu hơn các vấn đề về làng, lịch sử vùng đất và văn hóa làng xã ở đây nói riêng và trên đất nước ta nói chung
Trang 5Đồng thời sẽ lưu giữ được những giá trị của văn hóa làng xã và vạch ra những giá trị chưa phù hợp để từ đó sẽ phát huy những điều phù hợp và hạn chế những gì không phù hợp
Với các giá trị trong từng lễ hội xét về cả truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa lẫn nét hiện đại sẽ đẩy mạnh việc phát triển văn hóa địa phương, có thể phát huy vào việc khai thác phát triển du lịch góp phần nâng cao đời sông kinh tế, những lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn ở Quảng Nam đang dần được quan tâm, giữ gìn
và phát triển Song song với đó cần phải có giải pháp và hướng đi đúng đắn để có thể khai thác có hiệu quả nhất các giá trị về văn hóa cũng như trong phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh rộng khắp trên toàn Việt Nam và vươn xa hơn nữa
Từ đó, ngày càng lưu giữ và phát triển, góp phần khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, chung tay bổn tồn và phát triển các giá trị văn hóa của địa phương, của dân tộc ta
Chính vì những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Tìm
hiểu lễ hội l ng rên lưu vực sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lễ hội là một trong những vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhiều học giả
- Tác phẩm Lễ hội truyền thống và hiện đại của nhóm tác giả Thu Linh - Đặng
Văn Loan (1984),cho ta một cái nhìn toàn cục những lễ hội cả truyền thống và hiện đại diễn ra trên khắp ba miền đất nước
- Tác phẩm Lịch sử xứ Quảng - tiếp cận và khám phá của hội Khoa học lịch sử
thành phố Đà Nẵng cho ta hiểu thêm về lịch sử tỉnh Quảng Nam theo bề dài lịch sử
- Tác phẩm Lễ hội Việt Nam của Võ Ngọc Khánh giúp chúng ta hiểu biết
chung về lễ hội ở Việt Nam
- Tác phẩm Lễ hội và văn hóa dân gian xứ Quảng của tác giả Lê Duy Anh đã
giới thiệu cho chúng ta biết và hiểu thêm một số lễ hội dọc theo dòng sông Thu Bồn, đồng thời cũng đã giới thiệu khái quát một số lễ hội như lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội Cầu Bông ,…diễn ra trên lưu vực sông Thu Bồn và những nét văn hóa tiêu biểu cho lễ hội
Trang 6Như vậy, trên phạm vi cả nước và tỉnh Quảng Nam có không ít các tác phẩm viết
về lễ hội Tuy nhiên, một số lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn với quy mô của từng lễ hội chưa lớn vì vậy các các bài nghiên cứu, bài viết liên quan chưa nhiều
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các trang báo điện tử đã đề cập tới một số lễ hội như Lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội rước Cộ chợ Được, lễ hội Cầu Bồng,… với những nét đặc sắc về lễ hội làng
Nhìn chung, những tác phẩm trên đã tìm hiểu tổng quát các lễ hội nhưng chưa
đi vào cụ thể Tuy vậy, những tác phẩm đó chính là cơ sở cho chúng tôi nghiên cứu
đề tài này
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 ối ượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của vấn đề này là toàn bộ các vấn đề liên quan đến lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn ở tỉnh Quảng Nam, khả năng khai thác phát triển du lịch của nó
3.2 Mục đích đ tài
Việc nghiên cứu đề tài này, mục đích đặt ra trước mắt là dựng lại một bức tranh sinh động về một số lễ hội đã có truyền thống lâu đời và tồn tại cho đến ngày nay Từ đó thấy được vai trò của nó trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người dân trên lưu vực sông Thu Bồn nói riêng, người dân Quảng Nam nói chung,
và những giá trị của nó mang lại cho hoạt động du lịch của tỉnh
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề liên quan đến một số lễ hội làng được tổ chức trên lưu vực sông Thu Bồn ở tỉnh Quảng Nam trước đây và những năm gần đây
4 hương pháp nghiên cứu
- Về phương pháp luận: đây là đề tài có liên quan đến đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng của dân tộc do vậy chúng tôi đứng trên quan điểm của Đảng về vấn đề văn hóa dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng để làm cơ sở phương pháp luận trong việc tìm hiểu, nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp lịch sử
và phương pháp logic
Trang 7- Về phương pháp cụ thể: chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã sưu tầm, thu thập tài liệu, phỏng vấn những người am hiểu Đồng thời vận dụng các thao tác
phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu
5 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tiềm kiếm tư liệu trên sách báo, các tạp chí, các văn bản tổ chức lễ hội… có liên quan và các nguồn tài liệu thu thập trên báo đài, các phương tiện truyền thông khác Cùng với đó là nguồn tư liệu
có được qua công tác điền dã, phỏng vấn những nhà nghiên cứu, những người trực tiếp tham gia lễ hội
Chương 1: Cơ sở thực tiễn và lý luận
Chương 2 : Một số lễ hội làng trên lưu vực sông Thu Bồn, thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị của nó
Trang 8NỘI DUNG
ƯƠ
Ơ Ở THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát chung về lễ hội
1.1.1 Quan niệm về lễ hội
Dân tộc Việt Nam có một nền văn hóa lâu đời giàu giá trị nhân bản và đậm đà bẳn sắc dân tộc Các loại hình nghệ thuật phát triển phong phú và nhiều dáng vẻ Nói đến văn hòa nói đến toàn bộ những giá trị sáng tạo về vật chất và tinh thần, thể hiện trình độ sống và dân trí, những quan điểm về đạo lý, nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn của mỗi cá nhân trong cộng đồng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
trước Cách mạng Tháng 8 đã đưa ra một định nghĩa sâu sắc về văn hóa: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, con người sáng tạo ra, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học tôn giáo, nghệ thuật văn học, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn mặc ở và những phương tiện, phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo đó là văn hóa Văn hóa là sử dụng tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loại người đã sinh sản ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, những đòi hỏi của sự sinh tồn”.[16]
Như vậy, có thể nói văn hóa là chứng tích của trình độ văn minh Sức mạnh của các nền văn hóa dân tộc đang dần dần được coi như một nhân tố nội sinh trong việc phân tích nghiên cứu các trường hợp thành công của phát triển Không thể nói đến sự phát triển hoàn thiện của một dân tộc non kém Ngược lại, thước đo của một nền văn hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trình độ phát triển của xã hội về khoa học
kĩ thuật, trình đồ dân trí, sự phát triển của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, vấn đề con người và môi trường văn hóa, sức sáng tạo bền bỉ tỏng lao động và đấu tranh của nhân dân và dân tộc đó
Ngay từ đầu Cách mạng Tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định sức mạnh của nền văn hóa dân tộc, xác định nền văn hóa mới phải phục vụ nhân dân:
“Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng được lười biếng, phù hoa xa xỉ Tâm lý của ta lại
Trang 9còn muốn lấy tự do độc lập làm gốc Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do Đồng thời văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng Với xã hội, văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân của Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông đàn bà hiểu cái nhiệm vụ của mình và biết hưởng thụ cái hạnh phúc của mình nên được hưởng”.[15:tr 72]
Phải có một nền văn hóa, văn nghệ mới do nhân dân trực tiếp xây dựng và làm chủ, văn hóa phải có ích, phải phục vụ đất nước, phục vụ đời sống nhân dân Nghị quyết Đại hội Đảng 8 đã dành cho văn hóa một vị trí quan trọng trong toàn bộ hoạt động xã hội Yếu tố nội sinh này là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển
xã hội Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đầm đà bản sắc dân tộc “Tiến tiến” ở đây nhằm nhấn mạnh đến tính thời đại, tính hiện địa và phẩm chất tiến bộ của văn hóa “Đậm đà bản sắc dân tộc” là nhấn mạnh cái gốc, cái truyền thống, tính ổn định
và bền vững của những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp
Nền văn hóa Việt Nam thời kì hiện đại đang tiếp tục sinh sôi phát triển về nhiều mặt Đối với giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được gìn giữu, khám phá và tôn vinh ở trong và ngoài nước
Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa, là một thành tố quan trọng cấu thành và có tác dụng duy trì những yếu tố văn hóa khác cùng tồn tại Tham gia lễ hội là một ứng xử văn hóa Nói đến “lễ hội”, „hội hè”, “đình đám”, …là nói đến sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay Lễ hội chứa đựng những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc đặc biệt là tính cộng cảm làng xã - vun đắp, nâng đỡ tinh thần cho từng cá nhân
Có thể nói, lễ hội đã góp phần củng cố cái tinh thần cộng đồng của làng quê xóm cũ Nhận thức được ý nghĩa xã hội của lễ hội mà ở bất cứ thời đại nào, nhà nươc nào cũng chăm lo duy trì và phát triển các hoạt động lễ hội cho nhân dân M.Bakhtin, nhà triết học, nhà nghiên cứu văn học đã viết rằng: “Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức lễ tế và trò diễn là cuộc sống lao động
và chiến đấu của cộng đồng dân cư Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể trở
Trang 10giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng vượt lên trên tôn giáo của các phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hiện hữu, đạt tới lý tưởng mà ở đó mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả.”
Theo GS.Kuahayyashi (Nhật Bản): “Xét về tính chất xã hội, lễ hội là quảng trường của tâm hồn Xét về tính chất văn hóa, lễ hội là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật như: mỹ thuật, nghệ thuật, giá trị, kịch văn học và với ý nghĩa đó
lễ hội tồn tại và có liên quan mật thiết đến sự phát triển của văn hóa.”
Beverly J.Stoeltie cho rằng: “Lễ hội là một hình thức văn hóa cổ xưa và linh
hoạt, giàu biến thái về mặt tổ chức và mặt chức năng trong các xã hội trên khắp thế giới Tuy nhiên, do tính đa dạng của chúng các lễ hội thể hiện một số đặc trưng Chúng diễn ra theo từng khoảng thời gian, lịch quy định và công khai về bản chất
Lễ hội có tính chất cũng tham gia về nội dung, lại phức tạp về cấu trúc, phong phú
Lễ hội chia làm hai phần: Lễ và Hội
1.1.1.1 Phần lễ
Lễ là tổng thể nghi thức thể chế hóa trật tự, gán với sự tích, quyền năng của thần, diễn đạt mối quan hệ của Người và Thần Lễ cơ bản là linh thiêng Theo từ điển tiếng Việt 2002 Nhà xuất bản Đà Nẵng: “Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm của một sự kiện có ý nghĩa nào đó.”
Dưới thời phong kiến, các nhà Nho quan niệm Lễ là trật tự, là chữ đã định sẵn của Trời “Lễ nghĩa thiên chi tự”, cần phải có và không thể đảo ngươc Cuộc sống xã hội cần phải có lễ để phân biệt, giữ gìn trật tự trong mối quan hệ đa chiều, luôn diễn
ra trong đời sống xã hội Lễ được coi là cơ sở của một xã hội có tổ chức và đã phát
Trang 11triển đến một trình độ nào đó
Nghi lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu tượng để đánh dấu, kỉ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh ước nguyện về sự kiện nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng mà người ta thờ cúng
Lễ là các nghi lễ trang trọng gắn liền với một tôn giáo, một thần thoại, một huyền thoại, một phong tục,… khẳng định nền nếp, đạo lý truyền thống của dân tộc Với những nghi thức tế lễ, rước, dâng hương,… Phần lễ tiến hành tiến hành theo một trật tự gần như không thống nhất: cáo, hiến tế, cầu xin, cảm tạ
Lễ đơn giản diễn ra trong thần điện, đa số các lễ hội đền, hội chùa, đình nước
ta tiến hành lễ đơn giản Lễ mở rộng ra ngoài thần điện với đám rước, diễn xướng
1.1.1.2 Phần hội
Trong một lễ hội, phần hội là phần khá quan trọng phản ánh những nét sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, không thể gọi là Lễ hội nếu thiếu đi phần này Theo từ điển Việt 2002: Nhà xuất bản Đà Nẵng: “Hội là những cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt.”
Hội là đời thường diễn ra bên ngoài thần điện và mở rộng ra tất cả các vùng miền, cộng đồng, đến từng gia đình, diễn ra trong thời gian lễ sau đó Hội mang hai tính chất đó là chúc mừng thần linh và hưởng thụ ân huệ Thần ban ca múa, đánh
đu, chọi gà… Hội là phần của những trò chơi dân gian, diễn xướng vui chơi cúa tất
cả mọi người đều có thể tham gia vì nó được mô phỏng theo những động tác lao động hàng ngày như đấu vật, đánh đu, chơi cờ, hát đối…
1.2 Lễ hội truyền thống
1.2.1 Dẫn luận về lễ hội truyền thống Việt Nam
Với nền văn minh lúa nước lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội cổ truyền Việt Nam xuất phát từ đó vơi nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo
Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp Vậy lễ hội truyền thống Việt Nam là lễ hội nông
Trang 12nghiệp Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp của các dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hòa cho vạn vật sinh sôi nảy nở Theo GS Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm những
lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi thức hay nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “Lồng Tồng” của người Tày, lễ tế Thần Nông, lễ Hạ điền (xuống đồng của người Mường), lễ hội Thượng điền của người Việt - mà bao gồm
cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắt cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hái nấm ở rừng, ở bụi bao gồm cả những hội đền, hội phù, hội chùa, hội đình Tất cả chúng đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không gian thôn dã (mang tính chất chu kì) Chủ nhân của những lễ hội này phần lớn là nông dân, là thợ thủ công, địa chủ, quan lại, sống ở vùng quê và có lối sống thôn dã Bản sắc văn hóa Việt Nam được thể hiện đậm nét nhất ở văn hóa làng Lễ hội cổ truyền là ính hoạt văn hóa điển hình của văn hóa dân gian truyền thống - thành tố làm nên bản sắc văn hóa đó
GSTS Nguyễn Duy Quý có định nghĩa về lễ hội một cách chính xác như sau:
“Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần
và vật chất, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường
Đó còn là một sinh hoạt có quy mô lớn về tầm vóc và có sức cuốn hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội…”
Lễ hội mang sức sống của một dân tốc được minh chứng qua thời gian ngàn năm lịch sử, là một bảo tàng văn hóa sống lưu giữ tín ngưỡng tôn giáo, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian,nơi phản ánh một cách trung thực nhất tâm thức của một dân tộc cần cù chịu khó, yêu lao động
Đối với cá nhân con người, tham gia lễ hội là một cách tham gia vào quá trình sáng tạo và sáng tạo văn hóa, được hòa mình vào trong dòng nước đầu nguồn của văn hóa dân tộc với một tinh thần cộng đồng và cộng cảm sâu sắc
Bản chất và nội dung của lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng bởi đây là hoạt động văn hóa tập thể thuộc về tập thể, do tập thể tổ chức và tiến hành Dù ở bất cứ nơi đâu vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm
Trang 13người nào đó trong xã hội Không có đông người đến sự không thành hội, bởi thế mới có câu “đông như hội” chính là vậy
Mục đích lễ hội là một hoạt động văn hóa nổi bậc trong đời sống con người với nhiều hình thức khác nhau nhằm phục vụ lợi ích của con người
Lễ hội là cách thức giao cảm cộng đồng, giao hòa giữa con người với trời đất, giữa hiện tại với hồi tưởng trong quá khứ và hi vọng tương lại
Lễ hội truyền thống xưa nhấn mạnh phần lễ, tức là phần nghi lễ vì nhu cầu tâm linh lớn
Lễ hội truyền thống nay phần hội được nhấn mạnh nhiều hơn vì từ nhu cầu tâm linh giờ đã chuyển sang giải quyết như cầu vui chơi, sống lại không khí dân dã của những trò chới dân gian xưa, không khí tưng bừng náo nhiệt hơn
Nhu cầu sinh hoạt cộng đồng là một nét văn hóa tâm thức đặc biệt của người Việt Nam Để lễ hội là dịp thể hiện sức mạnh cao nhất, sự tập trung sức đoàn kết của cộng đồng, chúng ta phải giữ cho được nét văn hóa của từng lễ hội
1.2.2 ặc trưng của lễ hội truyền thống
Việt Nam là mảnh đất đa sắc tộc và đa lễ hội
“Mồng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu Mồng chín đâu đâu trở về hội Gióng”
Với 54 dân tộc anh em cư trú trên khắp các miền đất nước, sự đậm đặc của Lễ hội được đúc kết trong nhiều câu ca dao tục ngữ đã in sâu vào trong trí nhớ dân gian Phong phú hơn cả là sinh hoạt lễ hội ở đồng bằng Bắc bộ của người Kinh với
118 lễ hội lớn nhỏ từ vùng đất Tổ Phú Thọ tới Bắc Ninh với Hội Lim, Hội Dâu… rồi tới cả Hà Tây của Hội chùa Hương vòng qua Thái Bình với hội chùa Keo, lại qua Hải Dương để dự Hội Côn Sơn Kiếp Bạc Tới dải đất miền Trung của nắng và gió rồi tới Tây Ninh, Bà Chúa xứ núi Sam (An Giang), Linh Sơn Thánh Mẫu núi Bà Đen, lễ hội Lăng Bà Chiểu (Thành phố Hồ Chí Minh) Nhìn chung lễ hội diễn ra chủ yếu vào mùa xuân, ở 3 tháng đầu năm, bởi thế mới có câu “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” và tháng 3 là hội hè
Trang 141.2.2.1 Lễ hội truyền thống của người Kinh
Tết nguyên đán: đánh dấu sự kết thúc của một năm cũ, khởi đầu một năm mới Giỗ tổ Hùng Vương (lễ hội Đền Hùng)
Hiếm có nơi nào trên thế giới lại có được hình thức tín ngưỡng thờ tổ tiên độc đáo như ở Việt Nam Truyền thống này gắn với truyền thuyết của con Lạc cháu Hồng Lễ hội diễn ra trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc thôn cổ tích xã Hy Cương – Phong Châu – Phú Thọ từ ngày mồng 8 đến 10 tháng 3 Âm lịch Tại lễ hội diễn ra các hoạt động nhưu hát xoan, hát chèo, tuồng, hát ghẹo,…
Lễ hội Cổ Loa
Đền Cổ Loa thờ vua An Dương Vương - người có công to lớn trong việc dựng nước và giữ nước Lễ hội diễn ra từ mồng 6 tháng giêng để tưởng nhớ công ơn của nhà vua
Lễ hội tưởng nhớ các anh hùng dân tộc như:
Diễn ra tại cố đô Hoa Lư để tưởng nhớ công ơn lớn lao của Đinh Tiên Hoàng
và Lê Đại Hành Tại đây diễn ra các nghi thức rước nước, tế lễ ở hai đền Đặc biệt, phần hội có diễn ra trận cờ lau tập trận, bơi chải, múa rồng,…
Lễ hội tôn vinh các vị thần
+ Hội Phù Đổng: Diễn ra tại xã Phù Đổng, Huyện Gia Lâm, Hà Nội từ ngày 6
đến 12 tháng tư âm lịch
Trang 15+ Hội Phủ Giầy thờ thánh Mẫu văn hóa dân tộc: Bà chúa Liễu - là một trong
tứ bất tử của điện thần Việt Nam
+Hội đền Dạ Trạch thờ Chữ Đồng Tử và Tiên Dung có công giúp dân khai
+ Lễ hội làng Triều Khúc: làng có nghề làm nón quai thao, thêu may tuyệt
xảo, làm đồ thờ tự Thêm vào đó là hơn 10 nghề thủ công, buôn bán
Lễ hội văn hóa: Rất nhiều lễ hội văn hóa được diễn ra như lễ hội chùa Hương,
Hội Lim
Lễ hội tôn giáo: Lễ hội Rằm tháng hay còn gọi là lễ Vu Lan, cầu khấn cô hồn,
là ngày “ mở cửa địa ngục”, Lễ hội Phật Đản, Lễ hội Thiên chúa giáo
1.2.2.2 Lễ hội của các dân tộc ít người
Bên cạnh lễ hội của người Kinh, các dân tộc anh em còn lại cũng đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc những lễ hội truyền thống đặc sắc và độc đáo như: Lễ hội đâm trâu: tục đâm trâu, ăn tràu Dâng trâu của người Banar ở Tây Nguyên
Lễ hội Ok om Bok (dân tộc Khơ Me) hay còn gọi là lễ hội cũng trăng của người Khơ Me Nam Bộ ở các tỉnh Nam Bộ Tại đây ngoài những nghi thức còn có các trò chơi như đùa ghe,…
Lễ hội Bỏ mà truyền thống của người Bana ở Gia Lai…
Lễ hồi Lồng Tồng (dân tộc Tày) hay còn gọi là lễ hội xuống đồng mở lúa gieo trồng lúa mới Đặc sắc của lễ hội là có màn cúng thần nông, có màn múa kì lân, ném còn, đánh đu…
Trang 161.3 Tổng quan về Quảng Nam
1.3.1 ơ lược lịch sử hình thành Quảng Nam
Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành, năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông, vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới, người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc
Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị
Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây
Theo dòng lịch sử, Quảng Nam từng là đất đóng đô của một vương quốc cổ có thời gian tồn tại 15 thế kỷ Dưới triều Lê Thánh Tông (năm 1471), Quảng Nam trở thành một bộ phận của Đại Việt và trong thời điểm Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570) Hội An được chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi Quảng Nam Quốc Bằng lao động sáng tạo, Quảng Nam đã góp phần vào tiến trình mở nước của dân tộc và tạo lập cuộc sống phồn vinh của một vùng -
xứ Quảng Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn này như sau: “Chúa ở trấn hơn 10 năm, (chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp Thuyền buôn các nước đến nhiều Trấn trở nên một đô hội lớn”
Đến giữa thế kỷ XVII, chính quyền đàng Trong nhanh chóng suy yếu, nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất diễn ra gay gắt, thuế khóa ngày càng tăng… Quan lại lợi dụng hành hạ, ẩu lậu, cố tình tăng giảm, sinh sự làm khổ dân Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, nhân dân Quảng Nam đã hưởng ứng
Trang 17mạnh mẽ Mùa thu năm 1773, khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, nhân dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Bình, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách… chỉ huy Chiến thắng của phong trào Tây Sơn trong sự nghiệp đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh-Nguyễn, mở đầu sự nghiệp thống nhất đất nước có phần đóng góp rất lớn của nhân dân Quảng Nam
Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh
Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này Tỉnh Quảng Nam được chia thành 8 phủ, huyện gồm Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, và Tiên Phước
Năm 1888, dưới thời vua Thành Thái, Đà Nẵng thị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp
Sau Hiệp định Giơnevơ, dưới thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa tỉnh Quảng Nam (1956) bị chia thành hai tỉnh mới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm các quận Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức,
và Thường Tín và Quảng Tín ở phía Nam gồm Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức,
Lý Tín, Hiệp Đức và Tam Kỳ
Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Thành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng gồm Thành phố Đà Nẵng và các huyện Hoà Vang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tiên Giang, Phước Sơn, Trà My
Năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc Hội, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị thành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm Giằng (nay là huyện Nam Giang),
Trang 18Hiên (nay là Đông Giang và Tây Giang), Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn (nay là Quế Sơn và Nông Sơn), Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My (nay là Bắc Trà My và Nam Trà My), Núi Thành và 2 thị xã: thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố tỉnh lị Tam Kỳ và huyện Phú Ninh) và thị xã Hội An (nay là thành phố Hội An)
1.3.2 ặc điểm địa lí tự nhiên
Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 883 km về phía Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 887 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2 Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía Tây, trung du ở giữa và đồng bằng ven biển phía Đông Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt
độ trung bình năm trên 25oC, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000-2.500mm với hơn 70% tập trung vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10, 11 và 12) Vu Gia Thu Bồn
và Tam Kỳ là hai lưu vực sông chính
Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh là kiểu sinh thái chủ đạo của Quảng Nam Quảng Nam là tỉnh giàu tiềm năng rừng nhưng do bị khai thác quá mức trong một thời gian dài nên diện tích rừng nguyên sinh còn ít
Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành) Cù Lao Chàm là cụm đảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Quảng Nam (thời tiết-khí hậu, địa hình, tài nguyên nước, biển) có nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát triển sự nghiệp văn hóa
Trang 19đa dạng, độc đáo (phát triển những tiểu vùng văn hóa), phát triển ngành du lịch (du
lịch văn hóa, du lịch sinh thái)
1.3.3 iều kiện về dân cư
Cư dân Quảng Nam là sự cộng cư trong suốt quá trình mở nước Người Việt (Kinh) có mặt ở Quảng Nam trước năm 1471, cùng với người Chăm pa, người Hoa Ngày nay, ở Quảng Nam, ngoài người Việt thuần gốc, người Hoa, còn có người Việt (Kinh) có nguồn gốc tổ tiên lâu đời là người Trung Quốc (người Minh Hương)
Có thể nói cộng đồng những người khai phá vùng đất mới Quảng Nam là những con người bản lãnh và khát vọng, giàu tinh thần đấu tranh, được tôi luyện trong gian khổ và trưởng thành trong chiến đấu khắc phục những khó khăn từ thiên nhiên và do lịch sử đem lại
Những con người Việt Nam tiên phong đó lại tiếp xúc và hội nhập với nền văn hóa Chàm, trong dòng văn hóa Ấn Ðộ Mã Lai và Hải đảo Thái Bình Dương tại cựu đô Trà Kiệu và Thánh Ðịa Mỹ Sơn của Chiêm Thành Ðó là một nền văn hóa
Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629 người, với mật độ dân số trung bình là 139 người/km² Dân cư phân bố trù mật ở dải đồng bằng ven biển, dọc quốc lộ 1, đồng bằng Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ Mật độ dân số của Tam Kỳ, Hội An và Điện Bàn vượt quá 1,000 người/km2 trong khi rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây Mật độ dân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My và Nam Trà My là dưới 20 người/km2 Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước Tuy nhiêu quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động lớn đến sự phân bố dân
Trang 20cư nông thôn-thành thị trong thời gian tới
Theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 01.04.2009, có 34 tộc người cùng sinh sống trên địa bàn Quảng Nam trong đó đông nhất là người Kinh (91.1%), người Cơ
Tu (3.2%), người Xơ Đăng (2.7%), và người Gié Triêng (1.3%) 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0.9% dân số
Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%
Là một tỉnh với quy mô dân số trung bình, nhưng cơ cấu dân số trẻ và đa phần trong độ tuổi lao động sẽ đặt ra nhu cầu lớn về tiêu dùng và hưởng thụ văn hoá, nhất
là các hoạt động văn hoá công cộng, các loại hình văn hoá, nghệ thuật mới, các hoạt động thể thao
1.3.4 iều kiện về kinh tế - xã hội
Quảng Nam có điều kiện về tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế - xã hội:
Về tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.040.683ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù
sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá, Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản
Về tài nguyên rừng: Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỉ lệ che phủ đạt 40,9%; trữ lượng gỗ của tỉnh khoảng 30.000.000m3 Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha Rừng già ở Quảng Nam hiện có khoảng 10.000
ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69m3/ha Các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh chủ yếu thuộc huyện Nam Giang
Tiềm năng thủy điện: Quảng Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc với tổng chiều dài khoảng 900 km, trong đó có 337km đã đưa vào khai thác, bao gồm 9 con
Trang 21sông chính Sông ở Quảng Nam có dòng chảy luôn luôn thay đổi, luân chuyển dòng
và bị bồi lắng hoặc xói lở vào mùa mưa lũ Vấn đề quan trọng là phải xây dựng các công trình thủy lợi ở thượng lưu các con sông kết hợp xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ như: thủy điện Sông Tranh I, thủy điện Sông Tranh II, thủy điện Sông A Vương, thủy điện Sông Bung nhằm hạn chế lũ lụt và cung cấp nước về mùa khô cho vùng đồng bằng ven biển, tạo tiền đề bền vững cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, đô thị và nước sạch cho dân cư đô thị
Tài nguyên thủy sản: Quảng Nam có bờ biển dài trên 125km và thềm lục địa rộng lớn, có nguồn hải sản vô cùng phong phú thuộc vùng biển Nam Trung bộ Theo số liệu của Viện Quy hoạch thủy sản thì vùng biển Nam Trung bộ có trữ lượng cá khoảng 42 vạn tấn, khả năng đánh bắt hàng năm 20 vạn tấn, trữ lượng mực 7.000 tấn, tôm biển 4.000 tấn Với những tiềm năng và lợi thế kể trên, Quảng Nam
có điều kiện để phát triển ngành đánh bắt xa bờ cũng như ngành nuôi trồng thủy sản
ở các vùng ven sông, ven biển và ở quần đảo Cù Lao Chàm
Tài nguyên khoáng sản : Theo đánh giá chung của các nhà nghiên cứu thì
nguồn tài nguyên khoáng sản của Quảng Nam là một tiềm năng đang được khai thác, mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh với nhiều loại đa dạng và phong phú Trong
đó đáng kể là than đá ở Nông Sơn có trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, đã và đang khai thác với sản lượng năm cao nhất đạt khoảng 5 vạn tấn/năm Ngoài ra còn có mỏ than Ngọc Kinh (trữ lượng khoảng 4 triệu tấn) nhưng đã ngừng khai thác từ năm
1994 vì không có khả năng khai thác công nghiệp; vàng gốc và vàng sa khoáng ở Bồng Miêu, Du Hiệp, Trà Dương, riêng ở Bồng Miêu đã và đang khai thác với sản lượng khoảng vài trăm kg/năm; cát trắng công nghiệp là khoáng sản có trữ lượng lớn, phân bố chủ yếu ở khu vực các huyện Thăng Bình, Núi Thành
Tài nguyên du lịch: Quảng Nam là một trong những tỉnh, thành có chiều dài
bờ biển lớn nhất ở khu vực duyên hải Nam Trung bộ, với nhiều bãi tắm sạch đẹp và thơ mộng nằm ở khu vực Điện Bàn, Hội An, Tam Kỳ, Núi Thành không bị ô nhiễm, độ dốc ít, cát mịn và độ mặn vừa phải, nước biển xanh và khí hậu biển rất lý tưởng cho việc phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng Bên cạnh đó, còn có quần đảo Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế
Trang 22giới vào tháng 5.2009, cùng 10 hồ nước (với 6.000 ha mặt nước, khoảng 11.000 ha rừng xung quanh khu vực hồ và 40 đảo trong các hồ) là một trong những tiềm năng lớn để phát triển du lịch Quảng Nam Ngoài ra, hai di sản văn hóa thế giới là Đô thị
cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và nhiều di tích lịch sử văn hóa (LSVH) cùng với nhiều loại hình hoạt động văn hóa như hát tuồng, hát đối, hô bài chòi, dân ca, hát hò khoan… và các quần thể kiến trúc khác đã tạo nên những điểm thu hút khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu
Cùng với những tài nguyên và di sản đó, Quảng Nam còn có nhiều làng nghề sản xuất hoa màu, thủ công mỹ nghệ truyền thống cùng những vùng đồng ruộng, sông nước vẫn giữ nguyên nét điển hình của làng quê Việt Nam, các lễ hội đặc sắc hội đủ các yếu tố phát triển du lịch đồng quê, du lịch làng nghề, làm đa dạng các loại hình du lịch, tạo thêm sức hấp dẫn đối với du khách
Đến nay, toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn đã chuẩn về phổ cập Tiểu học
và chống mù chữ, trong đó có 227/240 xã, phường, thị trấn phổ cập Tiểu học đúng
độ tuổi đạt 94,6%; 15/18 huyện phổ cập THCS, có 215 xã đạt chuẩn về phổ cập THCS đạt 89,58% số xã, tăng 11,04% so với năm học trước Toàn tỉnh có 204 trường mầm non, tiểu học, THCS được công nhận chuẩn Quốc gia
Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng có nhiều tiến bộ đáng kể Năm 2008 bình quân 1 vạn dân có 4,45 bác sĩ; 20,65 cán bộ y tế/1 vạn dân; 24,84 giường bệnh/1 vạn dân Đến nay, 100% số xã phường có trạm y tế; tỷ lệ trạm y tế
xã, phường có bác sĩ là 34,58%
Đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Đến nay, toàn tỉnh
có 224 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, số lượng thuê bao điện thoại cố định 157.152 thuê bao, mật độ điện thoại trung bình trên 100 dân năm 2008 đạt 10,48 máy Tỷ lệ người dân sử dụng internet trên địa bàn tỉnh năm 2008 là 0,76 người/100 dân, có 219 bưu cục khu vực và bưu điện văn hoá xã
1.3.5 ôi nét về lưu vực sông Thu Bồn
Sông Thu Bồn với diện tích lưu vực rộng 10,350 km2, là một trong những sông nội địa có lưu vực lớn nhất Việt Nam Sông bắt nguồn từ khối núi Ngọc
Trang 23Linh thuộc huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum và đổ ra biển tại cửa Đại, thành phố Hội
An, tỉnh Quảng Nam, một nhánh chảy vào sông Vĩnh Điện để đổ nước vào sông Hàn, Đà Nẵng Trước khi đổ ra biển tại cửa Đại, một phần nước của sông chảy vào sông Trường Giang để đổ ra vịnh An Hòa Tam Quang, huyện Núi Thành Sông Thu Bồn cùng với sông Vu Gia, hợp lưu tại Đại Lộc tạo thành hệ thống sông lớn có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và tâm hồn người Quảng Phần lớn diện tích lưu vực sông chảy trong địa phận Quảng Nam, phần thượng nguồn một phần nằm trên đất Kon Tum và Quảng Ngãi
Sông Thu Bồn là dòng chính của hệ thống sông cùng tên Phần thượng nguồn của sông còn được gọi với một cái tên khác là sông Tranh Sông bắt nguồn từ núi Ngọc Linh cao 2,598m thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam Phần thượng lưu, sông chảy theo hướng Nam-Bắc qua các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đước, Nông Sơn, Quế Sơn Đến Giao Thủy sông chảy vào vùng đồng bằng các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn và Thành phố Hội An Chiều dài của dòng chính đến Cửa Đại dài 198 km với tổng diện tích đến Giao Thủy (nơi hợp lưu với sông Vũ Gia) rộng 3,825 km 2 Thượng lưu của sông Thu Bồn có các phụ lưu cấp II lớn như Sông Khang, sông Vang, sông Tranh, sông Gềnh Gềnh Tại Giao Thủy, sông nhận nước từ phụ lưu Vu Gia tạo thành một hệ thống phân lưu khá phức tạp ở vùng hạ lưu sông Tại thị trấn Vĩnh Điện, một phần nước của sông Thu Bồn
đổ vào chi lưu Vĩnh Điện dẫn nước vào sông Hàn và đổ ra cửa Đà Nẵng
Về tài nguyên khoáng sản: Lưu vực sông Thu Bồn phần thượng lưu là nơi được cho là có nhiều vàng sa khoáng Việc khai thác vàng thủ công, khai thác sỏi và cát ở đây đã làm ô nhiễm nước sông và gây xói mòn đất Trên thượng nguồn sông Thu Bồn có hai công trình thủy điện đã và đang được xây dựng, đó là Sông Tranh
1 và Sông Tranh 2
Về tài nguyên sinh vật: Vùng cửa sông Thu Bồn là một vùng đất ngập nước,
có nhiều cồn, với hai hệ sinh thái là rừng nhiệt đới và cỏ biển Với tầm quan trọng
về đa dạng sinh học và văn hóa, vùng hạ lưu sông Thu Bồn bao gồm quần thể khu
đô thị cổ Hội An, Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm và vùng hạ lưu sông Thu Bồn được Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và tỉnh Quảng Nam lập hồ sơ khoa học
Trang 24đệ trình UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước cho biết, vùng hạ lưu sông Thu Bồn là nơi có khí hậu, môi trường tốt cho các loại sinh vật nước ngọt, nước mặn và cả sinh vật trên cạn sinh sống, sinh sôi nảy nở và phát triển Bên sông Thu Bồn có nhiều di tích lịch sử của vương quốc Chăm Pa cổ xưa, như thánh địa Mỹ Sơn (Duy Xuyên), Trà Kiệu (kinh đô cổ của Chăm Pa), cảng thị cổ Hội An (tả ngạn sông Thu Bồn, cách cửa Đại 4 km)
Địa chất, thổ nhưỡng: Lưu vực có thành phần đất đá khá đa dạng Ở vùng thượng nguồn là các thành tạo macma: granit biotit, granit haimica, cát kết, andezit,
đá phiến sét Phía Nam lưu vực còn bắt gặp phylit, quazit, cuội kết, đá hoa, đá phiến mica, porphyolit, đá phiến lục của hệ tầng A Vương Phần thấp của lưu vực phổ biến các thành tạo sông cuội, sỏi, mảnh vụn, cát, bột, sét Vùng gần biển chủ yếu là cát có nguồn gốc gió biển và một phần nhỏ thành tạo cuội cát, bột có nguồn gốc sông – biển Dọc theo sông là các thành tạo: cuội, cát, bột, sét có nguồn gốc sông tuổi Đệ tứ Phần thượng nguồn là đất mùn vàng đỏ trên núi, dọc hai bờ sông là đất
đỏ vàng trên phiến sét và đất xói mòn trơ sỏi đá Đất núi dốc phần lớn trên 200 , tầng đất mỏng có nhiều đá lộ Các đồng bằng được cấu tạo bởi phù sa cổ, phù sa mới ngoài ra còn có các cồn cát và bãi cát chạy dọc theo bờ biển ở các đồng bằng ven biển
Thảm thực vật: Rừng tự nhiên trên lưu vực còn ít, chủ yếu là loại rừng trung bình và rừng nghèo, phần lớn phân bố ở núi cao Vùng núi cao có nhiều lâm thổ sản quý Vùng đồi núi cao còn rất ít rừng, đại bộ phận là đồi núi trọc và đất cây công nghiệp, cây bụi, ngoài ra ở vùng hạ lưu có đất trồng nương rẫy xen dân cư
Chính nhờ các yếu tố tự nhiên phong phú, đa dạng nhất là lượng phù sa bồi đắp hai bên bờ sông đã sớm hình thành nên những làng xã trù phú có đời sống văn hóa tinh thần phát triển
Trang 25Cũng có truyền thuyết cho rằng bà Thu Bồn là nữ tướng vua Chăm rất xinh đẹp, có mái tóc đen, dài óng mượt Khi bị quân vua Lê đánh bại, bà phi ngựa chạy
về hướng làng Thu Bồn thì mái tóc dài vướng vào chân bạch mã, bà tử nạn, xác trôi lập lờ trên dòng sông Phát hiện xác bà, dân chúng vớt lên khâm liệm bà bằng lá cây
và nhập chốn bồng lai vào giờ Ngọ, ngày 12 - 2 Năm đó, trời hạn hán, mất mùa, đồng khô, cỏ cháy, dân làng cơ cực, đói khổ, bà linh ứng cho mưa thuận, gió hòa, cây trái tốt tươi, mùa màng trĩu hạt
Lại có chuyện kể bà Thu Bồn là nữ tướng nhà Lê, bị giặc đuổi đánh Khi chạy đến Phường Rạnh, nay thuộc huyện Nông Sơn, thì bà ngã ngựa, bị quân thù đuổi kịp, giết chết, đẩy xác xuống dòng sông Xác bà trôi theo dòng nước trong xanh được một đoạn rồi tấp vào ven bờ một ngôi làng phía hữu ngạn Bấy giờ cư dân của làng này còn thưa thớt, cuộc sống của họ chủ yếu chài lưới, trồng tỉa ven sông Khi thấy xác bà nữ tướng xinh đẹp bị giặc sát hại, dân làng xúm nhau đưa bà lên bờ tổ chức khâm liệm để bà thanh thản đi vào chốn thiên thu
Thế là vong linh người nữ tướng luôn hiện hữu trong đời sống của bà con nơi đây để độ trì cho dân lành luôn được tai qua, nạn khỏi, cuộc sống no ấm Bà bị giặc
Trang 26giết trôi trên dòng sông và được dân làng lo liệu, chôn cất với cả tấm lòng tiếc thương vô hạn nên từ đó dòng sông nhuốm máu bà và cái làng nhỏ bé bà yên nghỉ mang tên Thu Bồn Về sau, bà được các vua triều Nguyễn sắc phong “Mỹ đức thục hạnh Bô Bô phu nhân thượng đẳng thần”
Có nhiều truyền thuyết về bà Thu Bồn, song tất cả đều hội tụ và toát lên chân dung vẻ đẹp của người phụ nữ đa tài, đức độ, là người mẹ của quê hương, xứ sở mang sắc màu thần bí, là biểu tượng của khát vọng đất nước thái bình Từ đó lễ hội
Bà Thu Bồn được tổ chức thường xuyền vào ngày 11, 12 tháng 2 âm lịch hằng năm Làng quê mỗi ngày thêm đổi mới, phát triển, dân số đông đúc nên làng Thu Bồn cũng được tách ra thành 2 thôn: Thu Bồn Đông và Thu Bồn Tây Cư dân ở phía ngoài dọc ven sông Thu Bồn, nơi có Lăng bà Thu Bồn hiện nay là thôn Thu Bồn Đông, nơi hằng năm diễn ra lễ hội Bà Thu Bồn Lễ hội tôn vinh vị nữ tướng này đã
có từ lâu đời, được tổ chức hằng năm theo quy mô có khác nhau
2.1.1.2 Thời gian v địa điểm
Lễ hội vía bà Thu Bồn là một trong những lễ hội rất truyền thống được diễn
ra ở tỉnh Quảng Nam hàng năm Lễ hội được tổ chức hằng năm từ ngày 11 đến ngày
12 tháng 2 âm lịch tại làng Thu Bồn Lễ hội vía bà Thu Bồn diễn ra trong không khí rất tưng bừng náo nhiệt bắt đầu từ sáng cho đến tối mịt mới chấm dứt
Lễ hội được tổ chức ngay tại Lăng Bà, nằm cạnh dòng sông Thu Bồn, xã Duy Tân, huyện Duyên Xuyên, tỉnh Quảng Nam Người dân nơi đây thường nhắc
tới bà với tấm lòng thành kính và trân trọng
2.1.1.3 Tiến trình diễn ra lễ hội
Phần lễ
Lễ hội bà Thu Bồn tuần tự diễn ra như sau:
- Hội đồng hương lão họp bàn việc tổ chức lễ
- Phân công người nào việc nấy chu đáo trước khi hành lễ
- Lễ rước sắc:
Từ chiều ngày 11-2 âm lịch, Ban phụ trách lễ rước sắc đều tập trung bên kiệu
Trang 27rước sắc (Long đỉnh) trước nhà ông Thủ sắc (Người Thủ sắc đảm bảo các tiêu chí như từng làm Lí trưởng trong làng, có uy tín được dân bầu chọn, nhất là đảm bảo tránh hỏa hạn, lụt lội) Sắc được cung nghinh ra kiệu Lễ rước cử hành qua hương lộ chính, dẫn đầu là cờ vuông, cờ phướn, cờ đuôi nheo, chiêng trống, thanh lao rộn ràng, tượng trưng cho uy lực của thần Tiếp theo là cờ ngũ sắc, tượng trưng cho ngũ hành “Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ”, là năm đạo quân của Ngũ hành Tiên Nương Đi giữa là Ban nhạc cổ bát âm, số nhạc hòa tấu inh tai Tiếp đến là kiệu rước sắc do bốn người mặc áo quần màu đỏ, thắt lưng vàng khiêng Tiếp theo sau kiệu sắc là đoàn bô lão hương chức trong làng Đứng hai bên đường nghinh đón rước sắc là dân rước sắc về đến Lăng Thờ Bà, thì vị Thủ sắc xếp hai tay đỡ hòm sắc nâng lên ngang mày, đặt lên ở bàn thờ chính diện và vị Thủ sắc còn phải có nhiệm vụ túc trực trông nom, bảo vệ sắc cho đến khi lễ tạ (cố lễ) Sắc được đưa về lại nhà của ông Như thế mới xong phần việc của vị Thủ sắc
- Lễ cáo tiên thường
- Lễ rước nước:
Trước đây, lễ rước nước cũng là một nghi thức khá quan trọng không thể thiếu trong lễ tế Bà Thu Bồn Lễ được diễn ra vào giờ Dần (Khoảng 3 giờ sáng) ngày 12-
2 âm lịch Đoàn ghe thuyền được trang hoàng rực rỡ, cũng có đủ chiêng trống, cờ
xí, lộng và cùng hàng trăm người quần áo chỉnh tề dưới sự điều hành của vị Thủ lễ hay trưởng ban Khánh tiết Ghe đi đầu có trưng bày hương án, trầm hương nghi ngút, hộ tống có năm ghe, chèo ngượng dòng sông Thu Bồn lên đến Phường Rạnh, làng Trung An thuộc huyện Quế Sơn, làm lễ cáo tại dinh Bà nơi đây, rồi ra giữa dòng sông lấy nước đựng vào trong lọ sành sứ để trên án kiệu, có trưng bày đầy đủ nghi trượng Chiếc ghe rước nước bơi bằng dầm được tuyển chọn những chàng trai sống nghề chèo thuyền trên sông và được trang bị trang phục kiểu lính lệ đời xưa, đầu đội nón dấu, dầm bơi sơn màu vàng vẽ vòng tròn thái cực âm dương Bơi nhịp nhàng vang vọng trong tiếng hò chèo ghe:
Ra đi van vái lệnh Bà Thuyền bơi rước nước bởi Bà linh thiêng
Trang 28Độ tám giờ sáng, đàn rước nước về đến bến đúng giờ này, bến đông nghẹt người đứng hai bên đường dẫn đến Lăng Bà trong không khí tôn nghiêm Kiệu rước nước được khiêng về Lăng để làm thủ tục tắm rửa cốt tượng các thần vị và làm nước dâng cúng
- Lễ chánh tế Bà Thu Bồn bao gồm: Múa rồng, hành nghi gia lễ, xướng và đọc
Nghi lễ cũng giống như mọi đại lễ của các địa phương khác, nghĩa là có đầy
đủ nghi thức về cúng tế, nào cúng cô hồn và đọc văn tế cao hồn thập lạ, nào xướng, nào đọc văn tế, tích chúc văn, nào dẫn lễ hành nghi tức hành nghi gia lễ…Mở đầu của chánh lễ, có trích dẫn tuần hát bội quan công phục Huê Dung độ hay Quan công phò nhị tẩu
Xong lễ chánh, đến phần hương ẩm gọi là hưởng huệ tàn, nào thực phẩm, bánh trái, tà rượu dâng cúng được bày viện thành nhiều mâm trên tất cả các chiếu trải từ trong Lăng đến sau Lăng Bà (Sau này thì được bày dọn trên các bộ bàn tròn
để mời khách khứa cùng các quan chức, các bô lão và dân làng có công lao trong các ngày lễ ăn uống
- Xong đến bài hương án cố thần để đua ghe, diễn tuồng, thả hoa đăng của phần hội
Phần hội
Phần hội bao gồm các chi tiết mục: nào đua ghe trên đoạn sông dộc theo chiều dài của làng Thu Bồn, gồm thành phần các đội đua của làng và các địa phương lân cận, đồng phục của mỗi đội màu sắc khác nhau, nào cùng chơi các trò chơi dân gian khác như đẩy gậy, kéo co, nhảy bao tời, bịt mắt bắt vịt, bịt mắt đập nồi đất treo lơ lửng trên khung trung hay chơi trò ném vòng vào cổ vịt, ai ném vòng tròn được vào
Trang 29cổ con vịt nào thì được hưởng con vịt đó Xong các trò chơi dân gian, đến chiều tối, dân chúng lại có dịp đi xem hát bội hiến Hát bội có khi diễn trọn một đêm của một tích tuồng, có khi diễn đến ba ngày đêm Hát bội vẫn được xem là bộ môn diễn xướng đậm chất nghệ thuật được dân gian ưa thích về lối diễn xuất, về điệu bộ đầy phẩm chất nghệ thuật, gắn liền với nội dung tích tuồng đầy ý nghĩa về trung hiếu tiết nghĩa, phù hợp với truyền thống văn hóa giáo dục đọa lí làm người của phương Đông Ngoài ra, lễ hội còn có tổ chức hát bài chòi, thi làm bánh ít, bánh gói Đêm của ngày chánh lễ trước khi đi xem hát bội, dân chúng còn tề tựu tại bến sông để xem thả hoa đăng trên dòng sông Thu Bồn
2.1.1.4 Giá trị của lễ hội đối với đời sống cư dân địa phương
Đây là lễ hội dân gian truyền thống lâu đời của cư dân trong vùng nhằm tưởng nhớ Bà Thu Bồn Bà Thu Bồn, còn gọi là Bô Bô phu nhân, người Chăm, có công gây dựng nghề nông - ngư nghiệp cho vùng đất phù sa Bà là hiện thân của tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, vươn lên chiến thắng thiên tai, địch hoạ, có công đức đối với cư dân trong vùng Lăng Bà do cư dân từ xưa xây dựng tại xã Duy Tân
Là lễ hội lớn mang màu sắc tín ngưỡng dân gian có từ bao đời thể hiện tinh thần đoàn kết các dân tộc Chăm, Cơ Tu, Kinh sinh sống vùng thượng lưu sông Thu Bồn, Vu Gia (Quảng Nam)
Thông qua lễ hội, tính cộng đồng của cư dân địa phương được thể hiện rõ nét Mọi người ngày càng trở nên thân thiết, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống lao động thường ngày
Qua trang phục được mặc trong quá trình diễn ra lễ hội, cách bài trí lễ vật cho đến quang cảnh của lễ hội đã cho chúng ta thấy được khiếu thẩm mĩ đã được thể hiện rõ nét
Một trong những giá trị quan trọng của lễ hội chính là đáp ứng được nhu cầu đời sống tinh thần của người dân
Trang 302.1.2 Lễ hội Dinh Bà làng hiêm ơn
2.1.2.1 Nguồn gốc
Duy Xuyên là mảnh đất một thời phồn thịnh của vương quốc Chăm, từ thuở đầu tiên, khi người dân Việt lưu xứ đến khai canh định cư vùng đất này, với tâm thức của cư dân nông nghiệp, họ đã gửi gắm niềm tin vào tín ngưỡng dân gian, mong trời đất thần linh phù trợ được mùa, no ấm Vì vậy, ngay từ buổi đầu lập làng người dân dựng dinh thờ vị nữ thần ở Chiêm Sơn, tổng Mậu Hoà với nhiều huyền thoại
Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa, giữa cồn cát làng An Tây xuất hiện một tảng
đá giống người đàn bà, gọi là Bà Đá Người dân trong các làng lân cận cảm nhận sự linh thiêng của tảng đá nên dự định đến chuyển về để thờ cúng nhưng không thực hiện được Nghe truyền về câu chuyện kỳ bí này, vào một đêm trăng sáng, tám người chăn trâu ở làng Chiêm Sơn có ý định thử vận may mang Bà Đá về làng mình Họ đã làm được và chuyển về làng định đem thờ trong ngôi chùa Nhưng vừa
đi được nửa đường qua ngọn đồi Chiêm Sơn bỗng nhiên dây khiêng bị đứt và Bà Đá rơi xuống bám chặt vào đất, người dân dùng mọi cách cũng không thể nâng lên được Người dân cho rằng Bà đã quyết định ở ngay đó Để thỏa nguyện ý Bà, tám người chăn trâu làm một ngôi miếu nhỏ lợp tranh tre để thờ, mặt ngôi miếu nhìn ra nơi tìm thấy tảng đá
Cộng đồng dân làng Chiêm Sơn có đức tin Bà Đá là vị phúc thần phù trợ và tạo phúc cho làng, từ xưa đến nay đã nhiều lần làng Chiêm Sơn bị hạn hán nặng nề, sâu bọ phá hoại mùa màng, người dân đến cầu khấn tại Dinh Bà thì khỏi Có lần cả tỉnh Quảng Nam bị hạn hán khủng khiếp, dân làng Chiêm Sơn đến khấn cầu Bà thì tức khắc mưa rơi xuống ngay giữa buổi đang làm lễ tế, lúc hương đèn còn đang cháy.Sự linh nghiệm của Bà Chiêm Sơn còn được tô thêm màu huyền thoại và lưu truyền trong dân gian là khi vua Minh Mệnh đi kinh lý Quảng Nam, có đến viếng lăng mộ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu và Hiếu Văn Hoàng Hậu, đoàn xa giá phải đi theo con đường lộ trước dinh, thật bất ngờ khi đi ngang qua, ngựa nhà vua đang cưỡi bỗng lồng lên rồi vùng chạy, may có quan quân hộ giá nên nhà vua không bị ngã Vua lệnh cho dân làng phải quay hướng Dinh Bà ra phía sau để tránh con đường, kể
từ đó ngôi miếu được xây dựng lại và quay hướng ra cánh đồng, nhìn về phía núi
Trang 31cho đến ngày nay
Hiện nay, Dinh bà Chiêm Sơn tọa lạc tại làng Chiêm Sơn, mặt quay về hướng Nam Dinh xây theo kiểu cổ, 4 mái đúc lợp ngói, bên trên có gắn bộ tứ linh Bên trong dinh, tượng Bà được đặt chính giữa ở thế ngồi, tai dài, đầu đội mũ, chân xếp bằng, mặc áo choàng vai, cuộn quanh mình là thân rắn 7 đầu vươn trườn ra hai bên; phía trước và tả hữu có đặt các bàn hương án Cạnh dinh Bà có cây cổ thụ cành lá xanh tươi, quanh năm tỏa bóng mát
Trải qua bao thăng trầm, Dinh Bà Chiêm Sơn và truyền thuyết về Bà vẫn được dân làng Chiêm Sơn gìn giữ như một bảo vật truyền thống đời đời Tháng giêng, sau ba ngày tết, bảy ngày xuân thảnh thơi, dân làng Chiêm Sơn lại cùng nguyện cầu bình an viếng Dinh Bà Đá, lễ hội Dinh Bà làng Chiêm Sơn vẫn được duy trì cho đến
ngày nay
2.1.2.2 Thời gian v địa điểm
Lễ hội Dinh Bà làng Chiêm Sơn được tổ chức ngày 10-12 tháng Giêng âm lịch, tại Dinh bà Chiêm Sơn, làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên Lễ hội là dịp bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho địa phương Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Quảng Nam Lễ hội còn là dịp để tham gia các trò
2.1.2.3 Tiến trình diễn ra lễ hội
Phần lễ
Theo truyền thống hằng năm cứ sau tết cổ truyền, dân làng Chiêm Sơn cùng nhân dân các vùng lân cận và những người con xa quê hương đang sinh sống trên mọi miền đất nước, cùng nhau trở về quê hương để chuẩn bị và dự lễ hội Bà Chiêm Sơn Đây là lễ hội tín ngưỡng dân gian truyền thống, phổ biến theo phong tục thờ Mẫu của nhân dân ta còn lưu lại cho đến ngày nay, đã kế thừa, tiếp biến một cách tinh tế từ nữ thần Pô-Na-Ga đến Thiên-y-a-na để trở thành tín ngưỡng của làng xã Việt Nam
Lễ hội được rổ chức ngay tại Dinh Bà vào hai ngày 11 và 12 tháng giêng âm lịch Công việc chuẩn bị cho lễ hội được tiến hành rất chu đáo trước đó nhiều ngày
Trang 32Trước ngày tổ chức lễ hội, các vị bô lão trong làng hợp bàn nhiều vấn đề cần thiết như: cách tổ chức lễ hội, huy động kinh phí, bầu trưởng ban, phó ban và phân công trách nhiệm cho từng người dân trong làng, ai nấy đều náo nức tham gia đóng góp sức người, sức của và tiến hành bầu chánh tế, đây là công việc cực kì quan trọng, quyết định sự thành bại của lễ hội, bởi ông là người thay cho dân làng làm cầu nối với thần linh, giữa cõi thiêng và cõi tục
Chánh tế được chọn, phải là người lớn tuổi, khỏe mạnh, minh mẫn, tài đức vẹn toàn, được dân làng tin yêu và kính trọng, gia đình con cái đủ gái, đủ trai, hào thuận, vui vẻ, hạnh phúc, làm ăn phát triển
Ba ngày trước khi hành lễ tế Bà, chánh bái phải kiêng cữ và chay tịnh, trước khi cũng ông phải tự tay chuẩn bị một loại nước thơm nấu từ hoa lá để tắm tượng Ban lễ tự do dân làng bầu ra gồm 17 người, phần lớn là những người già có uy tín trong làng (1 chủ tế, giúp việc có 2 phó tế, 2 người Đông xướng và Tây xướng, 2 nội tán, 10 chấp sự) là những người lo việc dâng hương, dâng rượu, chuyển chúc, đọc chúc
Ngoài ban lễ tự còn có phường bát âm và các trai làng
Trước khi lễ tế chính thức là lễ cúng tiên thường (còn gọi là lễ túc) Lễ này, thường diễn ra vào lúc 16 giờ đến 18 giờ ngày 11 tháng giêng Lễ vật cho buổi cũng tiên thường là: một mâm cơm và hoa quả bánh trái Trong lễ cúng tiên thường, không đọc văn mà chỉ đọc chúc cáo, với 4 lạy nghinh, 4 lạy tạ và 2 lạy chúc cáo
Lễ tế chính thức, diến ra vào lúc 0 giờ là thời khắc chuyển giao của ngày và đêm đó (11-12) Kéo dài với 30 lần xướng cùng nhiều nghi thức cổ truyền, theo trống hiệu và chiêng hiệu Tất cả diễn ra trong không khí trang nghiêm và linh thiêng Trong buổi tế lễ này, những người không tinh khiết, người say rượu, người
bị bệnh tâm thần không dược vào Dinh
Lễ vật tế Bà ngày xưa gồm: 100 món, đều từ sản vật làng chăn nuôi, trồng trọt làm ra và chế biến với lòng thành tâm mang đến dâng cúng Bà Nhưng có những lễ vật không thể thiếu trong buổi tế lễ này là: 1 con cua đồng, một cây tỏi còn nguyên
rể và lá, 1 cây cải xanh, con cá Tràu (cá Lóc) nấu ốm và 1 con Chồn quay (con chồn
Trang 33này sẽ do các phường săn bắn trong làng tổ chức săn bắn để làm lễ vật dâng cúng Bà) Trải qua một thời gian dài với nhiều biến cố, lễ hội Bà Chiêm Sơn bị gián đoạn, không còn quy mô như trước, nhiều nội dung bị cắt bỏ, những năm trở lại đây, thực hiện Pháp lệnh của Nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã, quí hiếm, phần lễ tế con chồn quay được nhân dân thay vào đó là con heo quay
Các lễ tế chính diễn ra trong lễ hội:
Tiếp theo sau là đoàn đại cổ (gồm chiêng lệnh và trống lệnh) và tiểu cổ
Sau đoàn đại cổ là phường bát âm với tám loại nhạc cụ khác nhau như: (đàn, trống, phách, chõa, chiêng, mõ, sáo) phát ra những âm thanh khác nhau
Tiếp theo là đoàn người rước kiệu, đi đầu giữa hai hàng là bức trướng mục đồng do một thanh niên trai tráng đảm nhiệm
Sau trướng mục đồng, là hai lọng do hai thiếu nữ của làng trong trang phục áo dài truyền thống, đội khăn vành vác lọng hầu Bà
Theo sau lọng là kiệu Bà, do tám mục đồng trên tay mỗi người là một cành sơn tuế đảm nhiệm việc khiêng kiệu Bà
Tiếp theo kiệu Bà là kiệu rước sắc, do 16 thanh niên trai tráng trong làng khiêng, theo sau kiệu là người thủ sắc và 16 binh lính hộ tống
Và tiếp bước theo đoàn là 12 phụ nữ duyên dáng trong trang phục truyền
Trang 34thống với 12 mâm ngũ quả bánh trái làm lễ vật cúng Bà
Theo sau, là 24 nữ sinh tuổi trăng tròn trong ban lục cúng với lễ vật: hương, đèn, trầu, tượu, trà, quả
Theo sau là các bô lão co niên, đại diện cho các chư tộc họ trong làng trong trang phục truyền thống khăn đóng, áo dài, chân đi guốc mộc, cùng với các cụ bà và dân làng trong đoàn rước
Đứng dọc hai bên đường là dân làng và khách hành hương về dự lễ chào đón Hòa theo bước chân của đoàn người rước kiệu là tiếng trống, tiếng chiêng và dàn nhạc cổ của phường bát âm
Về đến dinh Bà, đội hình của đoàn từ từ dừng lại, nhường đường để 8 mục đồng khiêng Bà tiến thẳng vào Dinh Tiếp theo sau là người thủ sắc kính cần khiêng hòm sắc vào giao cho vị Chánh bái, Chánh bái trịnh trọng nâng hòm sắc vào đặt trên bàn thờ chính của dinh
12 phụ nữ trong hội Bà lần lượt mang lễ vật vào dâng cúng Bà Theo sau là 24
em trong cùng đội cúng vừa mang lễ vật vào dinh dâng lễ vừa múa hát theo nhạc Hôm nay bao người lòng hân hoan lễ hội bà
Kính đón Bà về đây để con cháu sớm hôm phụng thờ
Chúng con cầu xin Bà linh thiêng minh chứng cho
Cộng hưởng hồng ân dày phước đức tổ tiên ông bà
Con dâng lễ này lòng tỏa hương khắp mười phương
Con cháu làng Chiêm Sơn được vui sống an vui thái bình
Nơi gương tiền nhân cùng chung tay lo đắp xây
Thôn xóm đẹp tươi làm rạng rỡ uy danh của Bà
Hôm nay, chúng con quỳ trước Dinh tâm thành kính dâng
Hương đăng cùng hoa quả ngát hương
Cầu xin Bà llinh thiêng chứng giám cho, hôm nay lễ hội Bà