ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ====***==== KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM SỬA CHỮA NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT ĐÁ
12
Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học12 1.2 Vai trò của GDTC trong trường học
Giáo dục thể chất trong trường học là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân Giáo dục thể chất trường học, đang góp phần cùng với thể thao thành tích cao đảm bảo cho nền thể thao nước ta phát triển cân đối và đồng bộ nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển TDTT Việt Nam từ nay đến năm
2020, đưa nền TDTT nước ta hòa nhập và tranh đua với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Ngay từ khi thành lập chính quyền, năm 1945 Đảng và nhà nước ta đã hết sức coi trọng công tác giáo dục con người phát triển toàn diện nói chung và nâng cao năng lực nói riêng, coi con người là tài sản của đất nước, các văn bản pháp lý của Đảng và nhà nước ta đều nhấn mạnh TDTT là công tác cách mạng, là công cụ tác động tích cực đến đời sống xã hội, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục con người phát triển toàn diện về mọi mặt.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác GDTC trong trường học nhằm đào tạo những lớp người mới phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, nâng cao về tinh thần và đạo đức…Đó là mục tiêu của Đảng và nhà nước, là ước nguyện của Bác Hồ đối với thế hệ trẻ của Việt Nam - những con người sẵn sang kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những quan điểm của Đảng và nhà nước ta về Giáo dục và Đào tạo nói chung và GDTC nói riêng đều xuất phát từ những cơ sở tư tưởng, lý luận của học thuyết Mác –
Lê Nin về con người và sự phát triển con người toàn diện, về giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội xã hội chủ nghĩa, những nguyên lý giáo dục thể chất Mác xít, cũng như tư tưởng quan điểm của Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và GDTC cho thế hệ trẻ nói riêng Những tư tưởng, cơ sở lý luận, đó đều được Đảng quán triệt trong đường lối phát triển TDTT trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng CNXH ngày nay Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụ thể, Đảng ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo kịp thời đề ra những chủ trương thúc đẩy phong trào TDTT của nước nhà Hàng loạt các chỉ thị về công tác TDTT được Đảng và Nhà nước ban hành như:
Chỉ thị số 106/CT/TW ngày 02/01/1958 của Ban bí thư TW Đảng về công tác TDTT đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như: Vai trò tác dụng của công tác của công tác GDTC về thể thao quốc phòng và phát triển phong trào TDTT quần chúng nhất là ở trường học.
Chỉ thị số 131/CT/TW ngày 13/01/1960 về công tác TDTT và chỉ thị số 158/CT/TW về tăng cường xác định vị trí và tầm quan trọng của TDTT trong những năm tới của Ban Bí Thư TW Đảng đã xác định được vị trí và tầm quan trọng của TDTT, coi TDTT là yêu cầu của quần chúng, là một mặt của sự nghiệp xây dựng CNXH và chủ trương trên được cụ thể hóa tới sự phát triển phong trào TDTT của học sinh. Đại hội Đảng lao động lần thứ III tháng 9/1960 đã định hướng công tác giáo dục và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường và chủ trương này được hội nghị TW Đảng lần thứ VIII tháng 4/1963 phát triển lên một bước mới Đến nghị quyết VIII BCHTW Đảng ( khóa VIII) đã khẳng định bắt đầu đưa việc giảng dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của trường phổ thông.
Chỉ thị 112/CT/TW ngày 09/05/1989 của Hội đồng Bộ Trưởng về công tác TDTT trong những năm trước có ghi: “ Đối với học sinh trước hết là nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy học và môn thể dục theo chương trình đã quy định, có biện pháp hướng dẫn các hình thức tập luyện ngoài giờ…”
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản lần thứ VII tháng 6/1991 khẳng định về công tác TDTT cần coi trọng nâng cao chất lượng GDTC trong trường học Chương III điều
35,36,41 hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ghi: “ GDTC là môn học bắt buộc trong các trường học”.
Chỉ thị 36/CT/TW của Ban bí thư TW Đảng ngày 24/03/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã ghi rõ: “ Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết nhất về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học…”. Đại học lần thứ VII năm 1996 đặt vị trí chủ chốt của con người với tầm chiến lược sâu sắc hơn của thời kỳ mới về sự cường tráng thể chất và nhu cầu của bản thân con người, là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, tất cả các cấp, nghành, các đoàn thể
Vì vậy, trong báo cáo về chất lượng và hiệu quả trong trường học đã nêu GDTC nhằm phát huy nguồn lực của con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Cụ thể của chương trình này, Ban bí thư TW Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có chỉ thị số 34/CT/TW về công tác GDTC trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh:
“Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học là làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của học sinh, sinh viên…” Công tác TDTT được đề cập một cách cấp thiết trong các văn bản pháp luật do Quốc hội thông qua như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, luật chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho các em nhỏ phát triển thể chất trở thành trách nhiệm của Đảng, nhà nước và nhân dân. Điều 15 của pháp lệnh TDTT ngày 25/09/2002 quy định “Bộ GD&ĐT phối hợp với Ủy ban TDTT thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng, chỉ đạo, thực hiện chương trình GDTC theo quy định tiêu chuẩn RLTT và đánh giá kết quả RLTT của người học, quy định hệ thống thi đấu TDTT trường học:.
Việc chăm lo sức khỏe, phát triển thể chất cho thế hệ trẻ được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và coi đó là nhiệm vụ hàng đầu trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Đây cũng là mục tiêu cơ bản quan trọng nhất trong giáo dục con người phát triển toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
1.2 Vai trò của GDTC trong trường học
Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta GDTC còn được hiểu là : “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người” Giáo dục thể chất trong trường học có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền thể thao nước nhà TDTT trường học được xác định là một bộ phận quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thể dục thể thao trường học còn là môi trường giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao Nó còn có tác dụng quan trọng đối với việc đẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng phát triển và có ý nghĩa chiến lược đối với việc phát triển TDTT nước nhà, có tác dụng lâu dài, cơ bản và toàn diện.
Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động.
Công tác GDTC trong các trường học hiện nay
Trong những năm qua, thực hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công tác GDTC và Thể thao trong nhà trường đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trên cả 2 lĩnh vực: thực hiện chương trình môn học thể dục bắt buộc và tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa tự nguyện cho học sinh.
Theo số liệu của Bộ, hiện nay trong cả nước có trên 87% số trường phổ thông dạy đủ tiết thể dục chính khóa một tuần theo chương trình đổi mới ( do Bộ ban hành từ năm học 2005 – 2006 ) theo hướng dạy cho học sinh kiến thức, kỹ năng vận động để phát triển thể chất và góp phần hình thành nhân cách, trong đó ưu tiên số 1 là sự vận động thể lực tích cực của học sinh trong mỗi giờ học Nội dung chương trình có phần bắt buộc và phần tự chọn, gồm các bài tập về đội hình, đội ngũ, điền kinh, thể dục, bơi lội, cầu lông, bóng đá, đá cầu, trò chơi vận động, bóng rổ, bóng chuyền Việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên từ 6 đến 20 tuổi được quy định cụ thể và chính thức áp dụng trong cả nước từ năm học 2008 – 2009 ( gồm 6 bài tập, 3 mức xếp loại thể lực, áp dụng cho HSSV từ 6 đến 20 tuổi) Đội ngũ giáo viên thể dục trong nhà trường phổ thông được tăng cường hơn 23.000 người ( chiếm 80% tổng số cán bộ chuyên nghành TDTT của cả nước ), hầu hết có trình độ Đại học, nhiều người là thạc sỹ, tiến sỹ.
Hình thức tổ chức và nội dung tập luyện TDTT của học sinh, sinh viên ngày càng đa dạng và dần đi vào nền nếp Trong đó, hình thức câu lạc bộ TDTT trường học có tổ chức, có người hướng dẫn ngày càng được phát triển Nhiều nội dung tập luyện được đưa vào các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt là các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian được lồng ghép với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Phong trào “ Toàn dân rèn luyện thân thể thao gương Bác Hồ vĩ đại” được phát động trong các trường học đã thu hút hầu hết cán bộ, giáo viên và học sinh chọn một số môn thể thao hoặc một hình thức rèn luyện thường xuyên để nâng cao sức khỏe Chương trình “Phổ cập bơi lặn cứu đuối phòng chống tai nạn thương thích cho trẻ em” cùng với việc thí điểm tổ chức các hoạt động thể thao cho học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhiều địa phương tích cực hưởng ứng, tạo khí thế mới trong mỗi nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ.
Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/ lần cùng với hàng chục giải thể thao học sinh phổ thông qua cấp quốc gia được tổ chức hàng năm đã thực sự trở thành sân chơi bổ ích cho hàng triệu học sinh các bậc, cấp học rèn luyện thân thể nâng cao sức khỏe và thể hiện tài năng Đã có nhiều VĐV đỉnh cao trưởng thành từ các sân chơi này.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Trong quá trình sống và phát triển cơ thể con người có những biến đổi đa dạng về hình thái lẫn cấu trúc, chức năng sinh lý, sự tác động của yếu tố di truyền và môi trường sống Vì thế tập luyện TDTT mang lại rất nhiều lợi ích và ảnh hưởng tốt đến sức khỏe con người nếu được tiến hành trên cơ sở quán triệt tất cả những đặc điểm trong quá trình phát triển của cơ thể người Trong đó lứa tuổi 17 là lứa tuổi cơ thể phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ sẽ chậm dần Ở lứa tuổi THCS cơ thể các em phát triển theo chiều cao nhiều hơn nhưng ở lứa tuổi THPT lại phát triển chiều ngang nhiều hơn.
1.4.1 Về mặt tâm lý: Ở lứa tuổi này các em tỏ ra mình là người lớn, đã đòi hỏi mọi người xung quanh tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn nên các em tiếp thu cái mới rất nhanh, nhưng cũng rất nhanh nhàm chán khi bị môi trường bên ngoài tác động tạo nên sự đánh giá cao về bản thân, trái lại chỉ thất bại một là là tạm thời tự ti, rụt rè và dễ bỏ cuộc Ở lứa tuổi này các em bắt đầu muốn tự lập và có quan hệ đặc biệt đến sự phát triển ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là lứa tuổi lãng mạn, có nhiều mơ ước độc đáo và mong cho tương lai tốt đẹp hơn.
Sự hưng phấn của các em trong lứa tuổi này xuất hiện thêm nhiều mệt mỏi và đã được xác định rõ ràng hơn, mang tính chất bền vững sâc sắc và phong phú hơn Hưng phấn của các em rất năng động, các em sẵn sàng đi vào các lĩnh vực tri thức mà các em ưa thích và coi thường những môn học mà các em không thích Vì vậy khi tiến hành công tác GDTC cho lứa tuổi này chúng ta cần uốn nắn, nhắc nhở, chỉ bảo, động viên, giúp đỡ các em hoàn thành tốt bài tập trong điều kiện các em tiếp thu chậm, từ đó các em không tỏ ra chán nản, có định hướng đúng đắn và hiệu quả của bài tập được nâng cao giúp các em tự tin trong học tập.
Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến hoàn thiện khả năng tư duy, khả năng phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc điểm thuận lợi cho các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên đối với một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em chóng mệt mỏi Cần thay đổi hình thức tập luyện một cách phong phú hơn.
Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh mẽ của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữ hưng phấn và ức chế không cần bằng ảnh hưởng đến hoạt động thể chất.
Vòng ngực lứa tuổi học sinh THPT nam trung bình từ 67,30 – 72,22 cm, nữ từ 69,5 – 74,84 cm Diện tích tiếp xúc không khí của phổi khoảng 100 – 120 m2 gần bằng lứa tuổi trưởng thành Thể tích phổi tăng lên nhanh chóng Lúc 15 tuổi thể tích phổi khoảng từ 2 – 2,5 lít, từ 16 – 18 tuổi khoảng từ 3 – 4 lít, khả năng hoạt động của phổi tăng lên rõ rệt Ở lứa tuổi từ 12 – 14 tuổi thành phần khí thở ra gồm 17,6% oxy; 3,3% khí cacbonic Từ 16 – 18 tuổi thành phần khí thở ra có nhiều thay đổi gồm 17,6% oxy, 4% cacbonic Tức là khả năng hấp thụ oxy và thải khí cacbonic cao hơn Tần số thở của lứa tuổi học sinh THPT cơ bản giống người lớn khoảng 10 – 20 lần/ phút.
Tuy nhiên nhịp thở vẫn còn yếu, cho nên sức co giãn của lồng ngực ít, học sinh chủ yếu thở bằng bụng Trong tập luyện TDTT cần chú ý thở bằng ngực, thở sâu chậm để tăng cường cơ năng cơ quan hô hấp Luyện tập các động tác phát triển cơ ngực, cơ lườn, cơ lưng và tập các môn như: Bơi lội, chạy cự ly trung bình, chạy việt dã có tác dụng đến cơ quan hô hấp.
* Hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi học sinh THPT hệ tuần hoàn đang phát triển và hoàn thiện, trọng lượng và sức chứa của tim phát triển tương đối hoàn chỉnh Tim của nam mỗi phút đập
70 – 80 lần, của nữ 75 – 85 lần Mỗi phút cung cấp số lượng máu gần tương đương với lứa tuổi trưởng thành Ở lứa tuổi THPT phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sau vận động mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng Cho nên ở lứa tuổi này có thể tập những bài tập chạy dài sức và những bài tập có cường độ và khối lượng vận động tương đối lớn hơn lứa tuổi THCS.
Ngoài ra, tuyến sinh dục, tuyến giáp và tuyến yên hoạt động mạnh, các chất nột tiết ra nhiều sẽ làm rối loạn sự chi phối của hệ thần kinh đối với nội tạng, dẫn đến hiện tượng cao huyết áp tạm thời của tuổi dậy thì Vì vậy trong khi bố trí các bài tập có khối lượng cường độ vận động lớn hoặc các bài tập phát triển sức bền cần phải hết sức thận trọng nếu không sẽ có hại cho sức khỏe.
Xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển khi ở lứa tuổi THPT, sụn ở hai đầu xương vẫn còn dài nhưng sụn chuyển thành xương ít Mỗi năm, nữ cao thêm từ 0,5 – 1cm và nam từ 1 – 3cm, nếu không rèn luyện thân thể, luyện tập TDTT thì nữ sau 20 tuổi và nam sau 25 tuổi hầu như không cao lên nữa Việc tập luyện TDTT sẽ làm cho xương phát triển thêm về chiều dài và nhất là phát triển mạnh theo chiều ngang Các xương nhỏ từ xương cổ tay, bàn tay đã kết thành xương nên các em có thể tập một số động tác trèo chống, mang vật nặng mà không làm tổn hại hoặc đưa đến sự chênh lệch của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được củng cố, vẫn dễ bị cong vẹo nên việc tiếp tục tập luyện tư thế chính xác trong đi, chạy, ngồi, nhảy, cho các em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ Riêng các em nữ sinh do xương xốp hơn nam, lỗ tủy rộng hơn, chiều dài kém hơn, bắp thịt cũng nhỏ và yếu hơn nên không khỏe bằng nam và thường chỉ khoảng 20 tuổi là không lớn được nữa Xương chậu nữ to và yếu hơn nam, bị chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong khung chậu như dạ con, buồng trứng, Vì thế không thể vận dụng khối lượng và cường độ nặng hơn nam mà phải có sự lựa chọn nhất định cho thích hợp với các em.
Trong quá trình phát triển cơ thể, các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương Nói chung cấp 2 và đầu cấp 3 (nữ từ 13 – 15 tuổi, nam từ 14 – 16 tuổi) là thời kỳ các cơ bắp phát triển nhanh nhất Đặc điểm cơ bắp ở lứa tuổi THPT là cơ co vẫn còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn như cơ đùi, cơ cánh tay phát triển tương đối nhanh còn các cơ nhỏ như các cơ bàn tay, ngón tay, các cơ xoay ngoài, xoay trong phát triển chậm hơn Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, nhất là cơ duỗi của nữ lại càng tương đối yếu Đặc biệt vào khoảng 16 tuổi, các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh, do đó phần nào ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ thể.
Do những đặc điểm trên, ở lứa tuổi học sinh THPT cần tập trung những bài tập phát triển sức mạnh để góp phần đẩy mạnh sự phát triển các cơ Nhưng các bài tập không chỉ có treo hoặc chống đơn thuần mà phải là những động tác hỗn hợp vừa treo vừa chống và các động tác khác nữa Như vậy vừa phát triển toàn diện cơ co, cơ duỗi vừa giảm nhẹ sức chịu đựng của các cơ khi tập luyện liên tục trong thời gian dài Các bài tập phải có mức độ, Hợp với sức chịu đựng của cơ thể, bảo đảm cho tất cả các cơ từ cơ to đến cơ nhỏ ít hoạt động như cơ bàn tay, bắp tay, các cơ xoay trong, xoay ngoài đều được phát triển Đối với nữ cần có yêu cầu riêng biệt, tính chất hoạt động của nữ cần toàn diện, mang tính mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo Những động tác ấy rất phù hợp với tâm lý của nữ là thích cái đẹp, mềm mại, nhịp nhàng.
Đặc điểm môn cầu lông
Cầu lônghayVũ cầulà môn thể thao dùng vợt thi đấu với 2 vận động viên (đấu đơn) hoặc 2 cặp vận động viên (đấu đôi) trên hai nửa của sân cầu hình chữ nhật được chia ra bằng tấm lưới ở giữa Người chơi ghi điểm bằng cách đưa quả cầu qua lưới bằng vợt và chạm đất ở trong phần sân bên kia của đối thủ Mỗi bên chỉ có một lần chạm cầu duy nhất để đưa cầu sang sân bên kia Lượt cầu kết thúc khi quả cầu chạm đất, hoặc có lỗi do trọng tài chính hoặc trọng tài biên bắt; trường hợp không có trọng tài thì do tự người chơi bắt, vào bất cứ thời điểm nào trong lượt cầu đang đánh.
Quả cầu được làm bằng lông (hoặc nhựa, không dùng trong thi đấu) khi bay có những tính chất khí động học đặc trưng làm cho nó có cách bay lẫn đường bay khác hẳn với những quả bóng dùng trong các môn thể thao dùng vợt khác; cụ thể, lông cầu tạo ra lực cản vô cùng lớn, khiến quả cầu lông giảm tốc nhanh hơn rất nhiều so với quả bóng Quả cầu lông có vận tốc cực đại cao hơn rất nhiều khi so sánh với các môn thể thao dùng vợt khác Vì nó khá nhẹ nên dễ dàng bị ảnh hưởng bởi gió, do đó các vận động viên chỉ thi đấu trong nhà Cầu lông vẫn có thể chơi được ở ngoài trời nhưng chỉ với mục đích vận động là chính; thường là ở ngoài vườn, công viên hoặc bãi biển.
Từ năm 1992, cầu lông chính thức trở thành một trong các môn thể thao Olympic với 5 hạng mục thi đấu: đơn nam và đơn nữ, đôi nam và đôi nữ, đôi nam nữ (một nam đánh cặp với một nữ) Ở cấp độ chuyên nghiệp, đặc biệt là đánh đơn, cầu lông đòi hỏi một thể lực cực tốt: vận động viên cần có sự dẻo dai, nhanh nhẹn, sức khỏe tốt, tốc độ và sự chuẩn xác Đây còn là môn thể thao có liên quan nhiều đến kỹ thuật, yêu cầu sự kết hợp tốt và sự phát triển các di chuyển phức tạp của cây vợt.
Khởi nguồn của cầu lông có vết tích từ giữa thế kỷ 18 tại British India (vùng thuộc địa cũ của Anh bao gồm Ấn Độ và Myanma), do một sĩ quan quân đội Anh đóng ở Ấn Độ sáng tạo Các bức ảnh đầu tiên cho thấy người Anh thêm vào cái lưới vào trò chơi cầu lôngtruyền thống của người Anh Môn thể thao này có liên quan đến ball badminton, trò chơi dùng vợt và quả bóng bằng len màu vàng có nguồn gốc từ Tamil Nadu, và tương tự như trò Hanetsuki có nguồn gốc từ Nhật Bản Trở nên rất phổ biến tại đơn vị đồn trú của quân Anh ở thị trấn Poona (nay là Pune), trò chơi còn biết đến với tên Poona Năm 1867 thì người ta bắt đầu ghi lại thành văn các luật chơi Ban đầu, quả bóng len đề cập tới ở ball badminton được tầng lớp thượng lưu yêu thích hơn khi trời gió hoặc ẩm ướt, nhưng đa số lại thích dùng quả cầu lông Trò chơi được một sĩ quan về hưu đem về Anh nơi mà nó được phát triển và xây dựng luật chơi.
Dù có một điều rõ ràng là ngôi nhà Badminton House, ở vùng Gloucestershire, thuộc quyền sở hữu của Duke of Beaufort, đã nguồn gốc cho tên gọi của môn thể thao này, nhưng vẫn chưa có bằng chứng nào chỉ ra được khi nào và tại sao cái tên đó được chấp nhận và sử dụng rộng rãi Vào đầu năm 1860, Isaac Spratt, một nhà buôn bán đồ chơi ở Luân Đôn, xuất bản trong một cuốn sách nhỏ,Badminton Battledore – a new game (cầu lông - trò chơi mới), nhưng không may là không còn bản lưu nào sót lại Một bài viết năm 1863 trong tạp chíThe Cornhill Magazinemiêu tả cầu lông như là "battledore and shuttlecock played with sides, across a string suspended some five feet from the ground" (trò chơi cầu lông chơi trên sân chia đội, một sợi dây vắt ngang sân với độ cao 5 feet) Cách chơi này có nhiều sự nghi ngờ vì nguồn gốc du nhập từ Ấn Độ, dù trò chơi đã rất phổ biến ở đó vào thập niên 1870 và bộ luật đầu tiên được xây dựng ở Poonah năm 1873 Một nguồn tin khác ghi lại rằng vào năm 1877 tại Karachi Ấn Độ (lúc này vẫn là thuộc địa của Anh), có một số nỗ lực trong việc lập ra bộ luật hoàn chỉnh. Đến đầu năm 1875, những cựu binh trờ về từ Ấn Độ lập ra một câu lạc bộ ở Folkestone Đến năm 1887, môn thể thao này được chơi ở Anh theo các luật thi đấu phổ biến ở British India Câu lạc bộ cầu lông xứ Bath đã tiêu chuẩn hóa bộ luật và làm cho trò chơi phù hợp với tư tưởng của người Anh J.H.E Hart đã xem xét lại các thay đổi cơ bản vào năm 1887 và vào năm 1890 (lần này là cùng với Bagnel Wild) Năm
1893, Hiệp hội cầu lông Anh xuất bản bộ luật đầu tiên dựa theo những chỉnh sửa đó, tương tự với bộ luật hiện đại, và chính thức tổ chức một giải đấu trong nhà ở "Dunbar" số 6 Waverley Grove, Portsmouth, Anh vào ngày 13 tháng 9 năm đó.
Hiệp hội cầu lông quốc tế, ban đầu lấy tên là International Badminton Federation (IBF) hiện nay đổi thành Badminton World Federation (BWF), được thành lập năm
1934 vớiCanada, Đan Mạch, Anh, Pháp, Hà Lan, Ireland, New Zealand, Scotland, và xứ Wales là các thành viên sáng lập India tham gia với tư cách là một chi nhánh vào năm 1936 Hiện nay BWF chi phối tất cả các hoạt động cầu lông trên thế giới và tổ chức các giải đấu quốc tế.
Một trong những điều quyến rũ của cầu lông là trong hạng mục đôi nam nữ, hai phái có thể thi đấu với khả năng tương đối ngang ngửa nhau Giải đôi nam nữ lần đầu tiên được đưa vào Olympic Sydney 2000.
Và hơn một thế kỷ sau khi giúp giới thiệu cầu lông ra thế giới, nước Anh mới giành được huy chương đồng giải đôi nam nữ với Simon Archer và Jo Goode.
Dù có khởi nguồn từ Anh, các nam vận động viên cầu lông đẳng cấp quốc tế ở châu Âu chủ yếu đến từ Đan Mạch Mặt khác, các quốc gia châu Á lại chiếm ưu thế vượt trội Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc, và Malaysia cùng với Đan Mạch là các quốc gia đi đầu ở môn thể thao này trong vài thập niên vừa qua, với Trung Quốc hiện đang là nước dẫn đầu trong vài năm gần đây. Đối với các môn thể thao nói chung và môn cầu lông nói riêng thì phần kỹ thuật động tác là một phần rất quan trọng khi bắt đầu tập luyện hay học tập môn cầu lông
Kỹ thuật cầu lông là một yếu tố quan trọng từ lúc tập luyện và học tập trong từng bước cơ bản đến nâng cao, nói đến kỹ thuật cầu lông thì có rất nhiều kỹ thuật: kỹ thuật giao cầu thấp tay, kỹ thuật giao cầu cao tay, kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay, kỹ thuật đánh cầu cao sâu trái tay, kỹ thuật đập cầu, kỹ thuật bỏ nhỏ…Do đó người tập sẽ được học và tập luyện để phát triển thành kỹ năng kỹ xảo đối với môn cầu lông.
Kỹ thuật cơ bản trong cầu lông rất đa dạng và phong phú Nó bao gồm các bước di chuyển của chân và động tác đánh cầu của tay Sự phối hợp hài hòa các kỹ thuật của chân và tay sẽ góp phần tích cực tạo nên hiệu quả của mỗi lần đánh cầu Để tập luyện và thi đấu cầu lông tốt, người tập phải hoàn thiện tất cả các bài tập kỹ thuật đề làm tiền đề cho việc sử dụng các chiến thuật thi đấu một cách hợp lí và hiệu quả.
Hiện nay thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau ở trong và ngoài nước, chúng tôi đã thu thập được các khái niệm về bài tập bổ trợ như sau: Các nhà khoa học trong và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre (Đức), Nguyễn Văn Trạch, Lê Văn Lẫm (Việt Nam)…Cho rằng: “ bài tập bổ trợ là một trong những phương tiện dùng để giảng dạy, huấn luyện TDTT Trong đó bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho VĐV, bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập mang tính tăng cường các tố chất thể lực Còn bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng biệt cho môn thể thao” Cũng có cùng quan điểm với học giả nước ngoài, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn cho rằng: “ bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phối hợp các yếu tố các động tác thi đấu và các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn dắt động tác có chủ đích và có hiệu quả đến sự nắm vững kỹ năng kỹ xảo và sự phát triển các tố chất thể lực của VĐV ngay ở chính những môn thể thao đó”.
Các khái niệm của tác giả trên tuy có khác nhau về cách trình bày cũng như ngôn ngữ sử dụng nhưng đều có sự nhất trí cao về nội hàm Như vậy bài tập bổ trợ chuyên môn có thể được hiểu là bài tập mang tính chuẩn bị ,tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt nhằm giúp VĐV nắm vững và hoàn thiện, nâng cao kỹ thuật cho từng môn cụ thể.
Sân thi đấu hình chữ nhật và được ngăn đôi bằng tấm lưới Các sân đấu thường có vạch kẻ cho cả 2 nội dung thi đấu đơn và đôi, dù cho bộ luật tiêu chuẩn cho phép chỉ kẻ vạch cho một nội dung duy nhất Sân cho nội dung đánh đôi rộng hơn sân cho nội dung đánh đơn, nhưng cả hai đều có cùng chiều dài Khác biệt duy nhất, thường gây nhầm lẫn cho người mới chơi, chính là phạm vi phát cầu của nội dung đánh đôi có chiều dài ngắn hơn.
Quá trình phát triển môn cầu lông trên thế giới
Do sự phát triển nhanh chóng của môn cầu lông nên đến năm 1874 ở nước Anh, người ta đã biên soạn ra những luật thi đấu đầu tiên của môn cầu lông, đến năm 1877, những luật thi đấu đầu tiên mới được hoàn thiện và ra mắt người chơi, năm 1893 Hội cầu lông nước Anh được thành lập Đây là tổ chức xã hội đầu tiên của môn thể thao này trên thế giới được thành lập để quản lý và tổ chức phong trào Năm 1899, hội này đã tiến hành tổ chức Giải cầu lông toàn nước Anh lần thứ nhất và sau đó cứ mỗi năm giải được tổ chức một lần và duy trì cho tới nay.
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, môn cầu lông đã được phổ biến rộng rãi ra ngoài nước Anh Bắt đầu từ những nước từ những trong khối liên hiệp Anh rồi sang Pháp và một số nước châu Âu khác Đầu thế kỷ XX, cầu lông được lan truyền đến các nước châu Á và châu Mỹ, châu Đại Dương và cuối cùng là châu Phi Trước tình hình đó ngày 5/7/1934 Liên đoàn cầu lông thế giới được thành lập viết tắt tiếng Anh là (IBF) International Badmin – ton Federation, trụ sở tại Luân Đôn Năm 1939, IBF đã thông qua luật thi đấu cầu lông quốc tế mà tất cả các nước hôị viên đều phải tuân theo.
Từ những năm 20 đến những năm 40 của thế kỷ XX môn cầu lông được phát triển mạnh ở các nước châu Âu và châu Mĩ như Anh, Đan Mạch, Mỹ, Canađa,vv…Song vào những năm cuối của thập kỷ 40 trở lại đây ưu thế lại nghiêng về các nước châu Á Trong các giải thi đấu lớn dần dần VĐV các nước châu Á đã giành được thứ hạng cao Bắt nguồn từ Malaixia đến Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan và gần đây là Hàn Quốc.
Năm 1988 tại Olympic Seoul (Hàn quốc), cầu lông được đưa vào chương trình biểu diễn của đại hội Đến năm 1992 tại Bacxêlona, cầu lông được đưa vào môn thi đấu chính thức của Đại hội thể thao Olympic, Đại hội lớn nhất hành tinh của chúng ta.
* Một số giải thi đấu cầu lông của thế giới:
Cho đến nay Liên đoàn cầu lông thế giới vẫn thường xuyên tổ chức theo định kỳ một số giải thi đấu quốc tế lớn như sau.
Cúp Thomas tức là Giải Vô địch Cầu lông đồng đội nam của thế giới Cup Thomas do Chủ tịch đầu tiên của Liên đoàn Cầu lông – Công tước Thomas hiến tặng năm 1939 Cúp cao 71cm, làm bằng bạc, giá trị lúc đương thời khoảng 3000 bảng Anh Do cuộc trở ngại của cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, đến mãi năm 1948 mới tiến hành cuộc thi đấu lần thứ nhất.
Cúp này trước đây được qui định 3 năm tổ chức 1 lần, hiện nay đổi lại 2 năm tổ chức
1 lần và tổ chức vào giữa 2 năm Nội dung gồm đánh đơn 3 trận và đánh đôi 2 trận.
Cup Uber là do một nữ VĐV cầu lông ưu tú của nước Anh tên là Uber tặng, cúp này bắt đầu tổ chức thi đấu từ năm 1956
Phương pháp thi đấu cơ bản giống thi đấu Cup Thomas
- Giải cầu lông vô địch thế giới
Là một giải đánh đơn của môn cầu lông Thế giới Tổng cộng có 5 giải: Đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ hỗn hợp Giải được bắt đầu từ năm 1977 và cứ 3 năm tổ chức 1 lần.
Từ năm 1983 trở đi được đổi thành 2 năm tổ chức 1 lần và được tiến hành vào các năm lẻ. Đây là một giải mới: VĐV được mời là những người có thành tích xuất sắc trong năm, đồng thời do Liên đoàn cầu lông thế giới mời đích danh.
Cúp Xudiman là cuộc thi đấu cầu lông đồng đội hỗn hợp của thế giới được bắt đầu từ năm 1980 Cứ hai năm tiến hành 1 lần vào các năm lẻ Thi đấu gồm 5 nội dung: Đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ hỗn hợp
Quá trình phát triển môn cầu lông Việt Nam
Theo nhận định của các nhà chuyên môn, cầu lông được du nhập vào Việt Nam theo hai con đường Thực dân hoá và Việt kiều về nước, sự xuất hiện của cầu lông ở Việt Nam được xác định là muộn hơn các môn thể thao khác Mãi tới năm 1960 mới xuất hiện vài câu lạc bộ ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn Đến năm 1961 Hà Nội đã tổ chức thi đấu giao hữu giữa các thành viên lần đầu tiên tại vườn Bách Thảo
Hà Nội, song số người tham gia còn ít, trình độ chuyên môn còn thấp Những năm sau đó do đất nước bị chiến tranh phong trào không được nhân rộng mà còn bị tạm thời bị lắng xuống. Đến năm 1975 sau khi đất nước thống nhất, phong trào tập luyện cầu lông mới thật sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Từ năm 1977 đến năm 1980 phong trào chủ yếu phát triển ở các thành phố, thị xã như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, An Giang, Bắc Ninh, Lai Châu. Để lãnh đạo phong trào phát triển đúng hướng, UB TDTT nay đã thành lập Bộ môn cầu lông, vào năm 1977 Trường đại học TDTT cũng chính thức được thành lập bộ môn này (1977) và đưa môn học cầu lông vào chương trình đào tạo chính qui tại trường để cung cấp cán bộ GV, HLV, trọng tài cho toàn quốc.
Năm 1980 Giải vô địch cầu lông toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội đánh dấu một bước ngoặt của cầu lông Việt Nam theo đà phát triển theo hướng phong trào sâu rộng và nâng cao thành tích thể thao Từ đó cứ một năm một lần được tổ chức luân phiên tại các địa phương trên toàn quốc Ngoài giải vô địch toàn quốc UB TDTTcòn tổ chức nhiều giải đấu cho nhiều đối tượng trên quy mô toàn quốc: Giải vô địch trẻ và thiếu niên toàn quốc, giải người cao tuổi, giải Học sinh các trường phổ thông, giải Sinh viên toàn quốc, được đưa vào chương trình thi đấu chính thức trong Đại hội TDTT toàn quốc, Hội khoẻ Phù Đổng.
Ngày 14 tháng 8 năm 1990 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam được thành lập để phối hợp với bộ môn cầu lông của UB TDTT lãnh đạo môn thể thao này theo hướng chiến lược phát triển phong trào và thành tích thể thao đỉnh cao, phấn đấu trong những năm tới vị trí xứng đáng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.
* Tên viết tắc của liên đoàn Cầu lông Việt Nam (VBF)
Năm 1993 Liên đoàn cầu lông Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn cầu lông châu Á (ABC)
Năm 1994 Liên đoàn cầu lông Việt Nam trở thành viên chính thức của Liên đoàn Cầu lông thế giới (IBF) Các sự kiện nói trên là điều kiện động lực thúc đẩy môn cầu lông Việt Nam phát triển theo xu hướng hội nhập khu vực và thế giới.
Trong những năm gần đây được sự lãnh đạo của UB TDTT Liên đoàn Cầu lông Việt Nam đã cử các cây vợt xuất sắc nhất đại diện cho Việt Nam tham dự Sea Games
17 ( Malaixia), Sea Games18 (Thái Lan), Sea Games 19 (Inđônêsia)… Tuy tại các kỳ Sea Games chúng ta chưa giành được một huy chương nào, song các VĐV trẻ nước ta trong một vài năm gần đây có sự tiến bộ rõ rệt.
Ngoài các giải đấu trên gần đây Việt Nam thường tổ chức các giải đấu trong nước và khu vực Giải cầu lông giao hữu Việt Nam - Nhật Bản Giải cầu lông Challenge Hà Nội - Ciputra 2011 Giải cầu lông Singapore mở rộng Giải cầu lông
Logo Liên Đoàn cầu lông
đồng đội toàn quốc 2011 - Cúp ProAce lần thứ 10 Giải đồng đội cầu lông quốc tế khu vực châu Á
Trước tình hình và nhiệm vụ mới của ngành TDTT, các nhà chuyên môn đã vạch ra kết hoạch chiến lược phát triển lâu dài môn Cầu lông và trước hết là chuẩn bị cho kế hoạch năm 2003, là tổ chức Sea Games 22 tại Việt Nam Để có thành tích cao trong khu vực và thế giới, cầu lông Việt Nam cần có sự đổi mới mạnh mẽ về kế hoạch quy trình đào tạo, đổi mới việc bồi dưỡng đội ngũ HLV theo hướng chuyên môn hoá, từng bước chuyển dần việc đào tạo VĐV theo hướng chuyên nghiệp hoá.
33
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng môn cầu lông của trường THPT Nguyễn Trãi, đề tài đề xuất một số bài tập nhằm sữa chữa sai lầm trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay nhằm nâng cao chất lượng học tập và hoạt động phong trào môn cầu lông của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy bộ môn cầu lông và những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
- Nhiệm vụ 2 : Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, tôi sẽ chọn lựa sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu khoa học Đây là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu, nhằm tiếp thu các nguồn thông tin khoa học có trong các tài liệu đã được công bố Bằng phương pháp này, chúng tôi đã thu thập, phân tích, được nhiều tài liệu, các văn kiện nghị quyết của Đảng và nhà nước có liên quan đến vấn đề giáo dục thể chất, phát triển phong trào TDTT, tài liệu có liên quan đến môn cầu lông trong các trường học Xác định được hiện trạng chương trình GDTC ở cấp phổ thông trung học, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển phong trào TDTT trong nhà trường… để từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu thích hợp Qua đánh giá ưu điểm, tồn tại những vấn đề chưa phù hợp của chương trình giáo dục thể chất hiện hành Từ đó, định ra được hiệu quả của GDTC đối với việc nâng cao sức khoẻ, hoàn thiện thể chất và phát huy tài năng thể thao trong học sinh.
2.3.2 Phương pháp quan sát Sư phạm
Quan sát sư phạm là phương pháp nghiên cứu mà trong đó các nhà nghiên cứu tiếp cận với đối tượng nghiên cứu Trong đề tài này chúng tôi sử dụng chủ yếu để quan sát hình thức, nội dung, phương pháp tổ chức các hoạt động giảng dạy, tập luyện.
Quan sát các buổi học nhằm đánh giá lượng vận động trong buổi học thể dục trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng.
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm
Phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp những vấn đề có liên quan đến mục đích nghiên cứu của đề tài, phỏng vấn các thầy, cô dạy bộ môn thể dục trường THPT Nguyễn Trãi, các thầy, cô thuộc trung tâm Giáo dục thể chất Đại học Đà Nẵng, phóng vấn các em học sinh trường THPT Nguyễn Trãi.
Phỏng vấn gián tiếp: Mục đích nhằm thu thập thông tin cần thiết cho nghiên cứu, nội dung phỏng vấn gồm các câu hỏi liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu.
Phỏng vấn trực tiếp: Là phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi, trao đổi trực tiếp giữa người nghiên cứu với đối tượng được phỏng vấn, nhằm tìm hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn vấn đề cần nghiên cứu.
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm Để kiểm nghiệm, đánh giá tính hiệu quả của bài tập ứng dụng, tiến hành kiểm tra ban đầu, làm cơ sở để phân nhóm tập luyện trong thời gian 6 tuần.
- Nhóm đối chứng (A): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh tập theo các bài tập thường được sử dụng trong giảng dạy
- Nhóm thực nghiệm (B): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh và cho tập luyện theo bài tập đã lựa chọn
2.3.5 Phương pháp toán học thống kê
- Sử dụng phương pháp toán học thống để xử lý số liệu thu được;
- Tính toán các tham số:
* Số trung bình ( X ): là tổng lượng trị số các cá thể với tổng số cá thể của tập hợp mẫu
Trong đó: n: tổng số đối tượng quan sát x i : giá trị từng đối tượng quan sát
: là ký hiệu tổng cộng
* Phương sai ( 2 ) : là tổng độ lệch phương của các giá trị so với số trung bình
Cách đánh giá: - C V 10%: các số liệu phân bổ phân tán quanh số trung bình
Trong đó: W%: nhịp độ phát triển
X 1 : thành tích kiểm tra lần 1
X 2 : thành tích kiểm tra lần 2
* Chỉ số so sánh T student :dùng để so sánh hai số trung bình
Trong đó: X A , 2 A : giá trị trung bình và phương sai của nhóm A
X B , 2 B : giá trị trung bình và phương sai của nhóm B n : Tổng số cá thể được quan sát tương ứng
T student sẽ được so sánh với T bang (1,96)
+ T student < T bang (1,96) thì hai số so sánh khác biệt không có giá trị thống kê với xác xuất P 5% ;
+ T student > T bang (1,96) thì hai số so sánh khác biệt là có giá trịthống kê với xác xuất P 5%
Tổ chức nghiên cứu
- Các em học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Trãi,Tp Đà Nẵng
- Số lượng nghiên cứu gồm 60 học sinh lớp 11/6 và 11/10:
+ Nhóm đối chứng: 30 học sinh
+ Nhóm thực nghiệm: 30 học sinh
-Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng.
- Trung tâm Giáo dục thể chất - Đại học Đà Nẵng.
- Trường THPT Nguyễn Trãi, TP Đà Nẵng
2.4.3 Thời gian nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014; được chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014:
+ Tham khảo tài liệu (Văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, tạp chí khoa học Thể dục Thể thao, sách chuyên môn, đề tài của các tác giả trước,…)
+ Tham khảo ý kiến của các thầy cô để lựa chọn đề tài cho phù hợp.
+ Lập đề cương nghiên cứu.
+ Thông qua đề cương nghiên cứu.
+ Chuẩn bị biểu mẫu, phiếu hỏi và các phương tiện phục vụ việc nghiên cứu.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014:
+ Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 3 năm 2014: giải quyết nhiệm vụ 1.
+ Từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014: giải quyết nhiệm vụ 2.
- Giai đoạn 3: Từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2014:
+ Tổng hợp phân tích các số liệu nghiên cứu và viết đề tài hoàn chỉnh.
+ Hoàn chỉnh và báo cáo đề tài nghiên cứu.
- Máy ghi âm; ghi hình; chụp ảnh;
- Sân bãi, vợt cầu lông và trái cầu lông;
- Các dụng cụ hỗ trợ khác.
38
Thực trạng về công tác giảng dạy bộ môn cầu lông
Để nắm được chương trình môn học GDTC của trường THPT Nguyễn Trãi – TP Đà Nẵng, chúng tôi đã tiến hành điều tra và thu được kết quả:
Bảng 3.1: Nội dung chương trình học môn GDTC của trường THPT Nguyễn
Kết quả điều tra mức độ hứng thú học các môn thể thao tự chọn GDTC của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi Đà Nẵng
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn mức độ hứng thú tập luyện các môn thể thao tự chọn của học sinh khối 11, trường THPT Nguyễn Trái Đà Nẵng
TT Môn thể thao Số học sinh đồng ý Tỷ lệ
Kết quả phỏng vấn ở bảng 3.2 nêu trên cho ta thấy rằng: Trong các môn thể thao tự chọn thì môn Cầu lông được các học sinh lựa chọn chiếm tỷ lệ trung bình.
Qua những số liệu thu được, cho ta thấy việc giảng dạy môn Cầu lông tại trường THPT Nguyễn Trãi đã được quan tâm, khuyến khích và coi trọng; việc giảng dạy môn cầu lông không những trang bị những kiến thức cơ bản, kỹ năng cho học sinh mà còn xây dựng được phong trào thi đua trong các kỳ đại hội TDTT ở trường và địa phương.
Bộ môn càu lông tuy không nằm trong chương trình học GDTC bắt buộc, song hiện nay nó đã trở nên phổ biến rộng rãi và là nhu cầu không thể thiếu trong hoạt độngTDTT của mọi người; nó giúp cho học sinh tăng cường sức khỏe, phát triển toàn diện.
Trong mỗi năm học chỉ có 20 tiết tự chọn chia đều cho 2 kỳ, mỗi kỳ 10 tiết Từ đó, ta thấy số lượng tiết học dành cho các môn này là quá ít không đủ thời lượng để đáp ứng nhu cầu tập luyện cho học sinh, với tiết học trên lớp như vậy thì giáo viên chỉ mang tính chất giới thiệu động tác và không có thời gian để hình thành kỹ năng kỹ xảo cho học sinh được Mỗi tuần 02 tiết học thể dục như vậy thì không thể phát triển các môn thể thao nói chung và môn cầu lông nói riêng, mặt khác vừa không đáp ứng được nhu cầu ham thích tập luyện của các em vừa không thể có điều kiện tốt để các em phát triển toàn diện về thể chất Do vậy, cần phải tăng cường thêm số tiết học chính khóa cho môn thể thao tự chọn Để tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt được kiến thức chuyên môn và hình thành được kỹ năng kỹ xảo về môn thể thao Trên cơ sở đó mới phát huy được năng khiếu của học sinh và việc đưa môn thể thao tự chọn vào chương trình GDTC cho học sinh mới thực sự có ý nghĩa trong việc phát triển tài năng.
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và tập luyện môn cầu lông trong trường THPT Nguyễn Trãi TP Đà Nẵng
Bảng 3.3 : Thực trạng cơ sở vật chất trong trường THPT Nguyễn Trãi , Đà Nẵng
Sân học tập và tập luyện thể thao
Chất lượng Hiệu quả sử dụng
Tốt Trung bình Kém Tốt Không tốt
Qua bảng số liệu cho ta thấy trường THPT Nguyễn Trãi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng đã quan tâm đến việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn cầu lông Với tổng số sân cầu lông được xây dựng ở trường là 04 sân, sân đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn cần nâng cấp thêm nền và vệ sinh hàng ngày để đảm bảo an toàn trong học tập và luyện tập hàng ngày cho học sinh trong trường.
Nhu cầu tập luyện và hoạt động phong trào bộ môn cầu lông của học sinh trường
Bảng 3.4: Nhu cầu tập luyện và hoạt động phong trào bộ môn cầu lông của học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng năm học 2013-2014.
Yêu thích Tập luyện Thi đấu cấp tích thành phố
Thời gian gần đây phong trào cầu lông tại TP Đà Nẵng đang phát triển một cách mạnh, nhưng tại trường THPT Nguyễn Trãi, số lượng tập luyện và thi đấu ít hơn rất nhiều so với số học sinh yêu thích môn cầu lông; có rất nhiều học sinh yêu thích môn cầu lông nhưng do điều kiện cơ sở vật chất chưa tốt và nội dung tập luyện cũng như thời gian tập luyện chưa hợp lí nên các em đã không tham gia tập luyện.
Thực trạng học sinh trường THPT học tập và thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay bộ môn cầu lông
Bảng 3.5: Thực trạng học sinh trường THPT Nguyễn Trãi học tập và thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu
Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu
Qua bảng số liệu tôi thống kê được thì tỷ lệ học sinh thực hiện kỹ đánh đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông đạt yêu cầu rất thấp Tập luyện và học tập môn cầu lông của trường THPT Nguyễn Trãi vẫn chưa được nâng cao, giáo viên giảng dạy chưa chuyên sâu về kỹ thuật cho các em, làm cho các em học sinh không nắm rõ được các chi tiết kỹ thuật và thực hiện không đúng động tác đã được học tại trường.
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện kỹ thuật cầu lông của học sinh trường
3.1.5.1 Nhận thức của học sinh
Trong giáo dục thể chất thì nhận thức là tiền đề để kích thích tính tự giác tích cực của học sinh Chính vì vậy, muốn nâng cao chất lượng giáo dục thể chất thì chúng ta không thể không coi trọng việc giáo dục bồi dưỡng nhận thức của người học Ở đây nhu cầu được vui chơi, giải trí, muốn giao lưu, kết bạn, tăng vẻ đẹp hình thể… xuất phát từ nhận thức chính của các em về môn thể thao mình chọn lựa Để phát triển phong trào tập luyện và thi đấu môn cầu lông cho học sinh thì phải thông qua hoạt
Những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
Trong tập luyện và thi đấu môn cầu lông thì cơ sở vật chất đóng vai trò hết sức quan trọng Nếu cơ sở vật chất tốt đáp ứng được nhu cầu tập luyện của học sinh thì sẽ kích thích hứng thú, làm cho người học tích cực tham gia tập luyện từ đó sẽ thúc đẩy phong trào phát triển Ngược lại, nếu sân bãi không đầy đủ và không đảm bảo chất lượng thì sẽ gây khó khăn cho học sinh trong quá trình tập luyện dẫn đến việc các em không còn hứng thú và say mê tập luyện nữa.
3.1.5.3 Số lượng và trình độ của giáo viên chuyên môn cầu lông Để phát triển phong trào TDTT nói chung và phong trào cầu lông nói riêng thì đội ngũ giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức tập luyện và thi đấu Đội ngũ giáo viên chuyên môn là lực lượng cốt cán thúc đẩy sự phát triển của phong trào Việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện các kỹ năng của các em phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của giáo viên Nếu giáo viên có chuyên môn cao và phương pháp giảng dạy và huấn luyện tốt thì người tập sẽ nhanh chóng hình thành kỹ năng, kỹ xảo và nâng cao thành tích tập luyện, thi đấu cho học sinh.
3.1.6 Những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
Qua phân tích, tổng hợp các tài liệu tham khảo có liên quan, cơ sở lý luận của những sai lầm, cùng với sự trao đổi, phỏng vấn ý kiến của thầy, cô trong bộ môn và những người làm công tác chuyên môn về cầu lông đã có nhiều kinh nghiệm giảng dạy và huấn luyện; đồng thời, qua quan sát thực tế giảng dạy tại các lớp 11/4,11/6,11/8,11/10 trường THPT Nguyễn Trãi, TP Đà Nẵng, chúng tôi đã nhận thấy rõ những sai lầm thường mắc trong khi học kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông và nguyên nhân gây nên những sai lầm đó.
Kết quả của phương pháp quan sát sư phạm: Đây là phương pháp tiến hành chủ yếu khi nghiên cứu để rút ra những sai lầm cơ bản nhất của học sinh Trong quá trình thực hiện của học sinh, chúng tôi đã đứng gần người tập rồi quan sát thực hiện toàn bộ kỹ thuật động tác Qua quan sát những buổi tập khác nhau trong khoảng thoài gian dài và dựa vào tài liệu liên quan, chúng tôi đã tìm ra được 7 sai lầm mà người tập thường mắc phải:
1 Điểm tiếp xúc cầu với mặt vợt
2 Khả năng phối hợp lực khi đánh cầu
3 Cánh tay không thẳng khi thực hiện động tác
5 Chọn điểm rơi cầu không chính xác
6 Khả năng phối hợp các bước khi thực hiện
7 Cách cầm vợt không chính xác Với 7 sai lầm mà người tập thường mắc phải sau khi quan sát lần thứ nhất các giờ học của các lớp 11/4,11/6,11/8,11/10 trường THPT Nguyễn Trãi, Tp Đà Nẵng, chúng tôi đã xác định được những sai lầm mà người tập thường mắc phải nhất
Bảng 3.6 Kết quả quan sát sư phạm lần 1 (Tính theo tỷ lệ %, n0)
Kết quả ở trên cho ta thấy:
- Ở sai lầm 1 có 130 người tập mắc phải chiếm tỷ lệ 87%
- Ở sai lầm 2 có 140 người tập mắc phải 93%
- Ở sai lầm 3 có 100 người tập mắc phải 67%
- Ở sai lầm 4 có 95 người tập mắc phải 63%
- Ở sai lầm 5 có 50 người tập mắc phải 33%
- Ở sai lầm 6 có 135 người tập mắc phải 90%
- Ở sai lầm 7 có 127 người tập mắc phải 85%
Sau đó chúng tôi tiến hành quan sát lần thứ 2 các giờ học của các lớp 11/4, 11/6, 11/8, 11/10 trường THPT Nguyễn Trãi - Tp Đà Nẵng, chúng tôi đã xác định được những sai lầm mà người tập thường mắc phải nhất.
Bảng 3.7 Kết quả quan sát sư phạm lần 2 (Tính theo tỷ lệ %, n0)
Kết quả ở trên cho ta thấy:
- Ở sai lầm 1 có 128 người tập mắc phải chiếm tỷ lệ 85%
- Ở sai lầm 2 có 135 người tập mắc phải 90%
- Ở sai lầm 3 có 120 người tập mắc phải 80%
- Ở sai lầm 4 có 100 người tập mắc phải 67%
- Ở sai lầm 5 có 45 người tập mắc phải 30%
- Ở sai lầm 6 có 140 người tập mắc phải 93%
- Ở sai lầm 7 có 125 người tập mắc phải 83%.
Bảng 3.8 So sánh kết quả của 2 lần quan sát sư phạm
Như vậy qua 2 lần quan sát và so sánh kết quả cho thấy sự trùng lặp giữa hai lần quan sát với những sai lầm 1,2,3,4,6,7 chiếm tỷ lệ người mắc nhiều hơn.
Kết quả của phương pháp phỏng vấn: Để đạt được tính khách quan hơn chúng tôi tiến hành phỏng vấn các giáo viên của trường THPT Nguyễn Trãi, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thượng Hiền, Thái Phiên của thành phố Đà Nẵng Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng
Bảng 3.9 Kết quả phương pháp phỏng vấn (Tính theo tỷ lệ %, n )
Kết quả ở bảng trên cho ta thấy:
- Ở sai lầm 1 có 17/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 85%
- Ở sai lầm 2 có 20/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 100%
- Ở sai lầm 3 có 15/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 75%
- Ở sai lầm 4 có 15/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 75%
- Ở sai lầm 5 có 7/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 35%
- Ở sai lầm 6 có 18/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 90%
- Ở sai lầm 1 có 17/20 người đồng ý chiếm tỷ lệ 85%
Qua phương pháp phỏng vấn chúng tôi thấy các sai lầm 1,2,3,4,6,7 chiếm tỷ lệ cao hơn, còn sai lầm 5 chiếm tỷ lệ ít hơn.
Nhận xét: Bằng phương pháp sư phạm và phương pháp phỏng vấn chúng tôi đã tìm ra được 7 sai lầm cơ bản, nhưng trong 7 sai lầm đó khi chúng tôi quan sát và phỏng vấn giáo viên các trường THPT thì thấy rằng các sai lầm 1,2,3,4,6,7 chiếm tỷ lệ cao hơn, còn sai lầm 5 chiếm tỳ lệ ít hơn Từ đó có thể coi các sai lầm 1,2,3,4,6,7 là những sai lầm mà người tập mắc phải nhiều nhất Trước tiên tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó để rồi có những biện pháp thích hợp khắc phục và sửa chữa.
Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm trong khi thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
Từ những cơ sở lý luận đó, thông qua phương pháp quan sát sư phạm, phương pháp phỏng vấn với thực tế qua đợt thực tập giảng dạy ở trường THPT Nguyễn Trãi,
Tp Đà Nẵng, mà chúng tôi đã tìm ra được nguyên nhân dẫn đến 7 sai lầm thường mắc của học sinh.
Sai lầm 1: Điểm tiếp xúc cầu với mặt vợt Sai lầm 2: Khả năng phối hợp lực khi đánh cầu Sai lầm 3: Cánh tay không thẳng khi thực hiện động tác Sai lầm 4: Điểm đặt chân trụ
Sai lầm 5: Chọn điểm rơi cầu không chính xácSai lầm 6: Khả năng phối hợp các bước khi thực hiệnSai lầm 7: Cách cầm vợt không chính xác
- Khái niệm về kỹ thuật không chính xác
- Mắt không quan sát kỹ khi đánh cầu lông
- Cảm giác cơ bắp và phối hợp toàn thân không tốt
- Quá căng thẳng khi thực hiện
- Sức mạnh cơ tay còn yếu
Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường
sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường THPT Nguyễn Trãi.
3.2.1 Lựa chọn, ứng dụng các bài tập
3.2.1.1 Cơ sở lựa chọn bài tập
Với việc sử dụng các bài tập phát triển chung và các bài tập phát triển chuyên môn như: các bài tập phát cầu, di chuyển, cầm vợt, các bài tập thể lực, các bài tập bổ trợ…, các bài tập này tạo nên cơ sở để xây dựng biểu tượng vững chắc lâu dài, là tiền đề hoàn thiện kỹ thuật phức tạp trong quá trình tập luyện, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn về tập luyện cầu lông.
Căn cứ nguyên tắc chung của GDTC và huấn luyện thể thao, các quá trình hình thành kỹ năng vận động đánh cầu để rút ra những nguyên tắc khi soạn các bài tập:
- Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa
- Nguyên tắc tăng dần yêu cầu
- Nguyên tắc nâng cao sức khỏe
Khi xem xét nội dung bài tập từ góc độ sư phạm, điều quan trọng là phải xem xét tác dụng tổng hợp của các bài tập đó với việc phát triển năng lực vận động, khéo léo của cơ thể và sự hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cũng như sự tác động đến hành vi, nhân cách người tập Những bài tập lựa chọn phải nhằm mục đích hoàn thiện kỹ thuật và phát triển thể lực cho người tập cầu lông, từ đó là cơ sở tiếp thu sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông và nâng cao trình độ kỹ thuật ở mức độ cao hơn.
Từ điều kiện thực tế, căn cứ lý luân, tài liệu tham khảo, kiến thức lý thuyết được học và kiến thức thực tập tại trường THPT Nguyên Trãi để chọn một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông theo 2 phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp trực quan: cho học sinh quan sát động tác mẫu của giáo viên hoặc vận động viên có trình độ cao, chuyên nghiệp; xem bang video; xem tranh ảnh…
- Phương pháp giảng giải: phân tích và thị phạm lại toàn bộ kỹ thuật chi tiết từng giai đoạn giúp học sinh tập năm được và xây dựng biểu tượng kỹ thuật, động tác đúng. Để đảm bảo bài tập trên có độ tin cậy và khách quan hơn chúng tôi phỏng vấn các giáo viên trường THPT Số phiếu phát ra là 20, số phiếu thu về là 20
Bảng 3.10 Kết quả phỏng vấn để lựa chọn các bài tập
TT TÊN BÀI TẬP Tỷ lệ đánh giá (%)
1 Tay cầm vợt xoay vợt hình số 8 30 45 25
3 Bật nhảy hình chữ thập 100
4 Tay tập kéo dây thun 60 40
5 Treo trái cầu trên không đứng tại chỗ thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu 80 20
6 Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ không có vợt 85 15
7 Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ có vợt 70 30
8 Di chuyển thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu có vợt 60 40
II Bài tập kỹ thuật
1 Một người giao cầu và một người thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lưới và đổi lại 80 20
2 Hai người cách cự ly 10m thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lại 90 10
3 Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào ô vuông đã quy định 75 20 5
4 Vừa di chuyển lên xuống, trái, phải thực hiện kỹ thuật động tác đánh cầu cao sâu 100
5 Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào nhiều vị trí trên sân 45 55
Dựa vào kết quả phỏng vấn thì chúng tôi tìm ra được:
8 bài tập bổ trợ cho kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay là:
Tay cầm vợt xoay vợt hình số 8.
Bật nhảy hình chữ thập.
Tay tập kéo dây thun
Treo trái cầu trên không đứng tại chỗ thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu
Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ không có vợt
Thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu tại chỗ có vợt
Di chuyển thực hiện mô phỏng kỹ thuật đánh cầu cao sâu có vợt
5 bài tập kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay:
Một người giao cầu và một người thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lưới và đổi lại.
Hai người cách cự ly 10m thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu qua lại.
Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào ô vuông đã quy định.
Vừa di chuyển lên xuống, trái, phải thực hiện kỹ thuật động tác đánh cầu cao sâu.
Thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu vào nhiều vị trí trên sân.
3.2.1.3 Ứng dụng bài tập đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông:
- Giai đoạn chuẩn bị: Trước hết phải phán đoán chuẩn xác phương hướng và điểm rơi của cầu đối phương đánh sang, nghiêng người lùi sau, làm sao cho cầu ở vị trí phía trên lệch ra trước vai phải cơ thể mình Vai trái đối diện với lưới, chân trái ở trước, chân phải ở sau, trọng tâm rơi vào chân phải Tay trái co khuỷu giơ lên tự nhiên, tay phải cầm vợt, cánh tay co khuỷu tự nhiên, đưa vợt lên phía trên vai phải, hai mắt chú ý nhìn cầu đến
- Giai đoạn đánh cầu: Khi đánh cầu, bắt đầu từ động tác chuẩn bị, cánh tay phải đưa ra sau, theo đó khuỷu tay nâng lên cao hơn hẳn so với vai để đưa vợt ra sau đầu, cổ tay duỗi tự nhiên (lòng bàn tay hướng lên trên) Sau đó, với sự phối hợp dùng sức nhịp nhàng của động tác chân sau đạp đất, quay người hóp bụng, lấy vai làm trục, cánh tay kéo theo cẳng tay nhanh chóng vẩy cổ tay ra trước đánh cầu ở điểm cao nhất khi tay đã vươn thẳng
- Giai đoạn kết thúc: Sau khi đánh cầu tay cầm vợt có thể theo đà quán tính vung ra trước và xuống dưới phía bên trái rồi thu vợt về trước thân người Cùng lúc đó chân phải ở phía sau bước ra trước, trọng tâm cơ thể từ từ rơi vào chân sau chuyển dịch sang chân trước Đánh cầu cao sâu thuận tay cũng có thể thực hiện với bật nhảy để đánh cầu Khi thực hiện tốt động tác chuẩn bị theo đúng các yêu cầu trên, sau đó chân phải bật nhảy lên cao nhanh chóng quay người trên không, đồng thời hoàn thành động tác vung vợt đánh cầu Động tác đánh cầu được hoàn thành đúng lúc cầu đang ở độ cao nhất trên không chuẩn bị rơi xuống thấp
3.2.2 Test kiểm tra đánh giá thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
3.2.2.1 Cơ sở lý luận để đưa ra test kiểm tra kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông
* Khái niệm về kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay là kỹ thuật cơ bản quan trọng nhất mà bất cứ đối tượng nào (mới học hoặc đã thành thạo) đều phải sử dụng Theo thống kê chưa đầy đủ những người tập cầu lông (cả chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư) đều phải sử dụng 80% kỹ thuật này để phục vụ cho ý đồ của cuộc chơi.
* Các giai đoạn thực hiện kỹ thuật:
Giai đoạn 1: Xác định điểm rơi của cầu
Giai đoạn 2:Đặt chân trụ (thuận chân phải)
- Chân phải lui về sau một bước rộng bằng vai
- Mũi chân trái và phải hướng về trước, chếch về 1 góc 5 độ
- Đầu gối khuỵu, toàn bộ trọng tâm dồn vào chân trụ
Gian đoạn 3: Tiếp xúc cầu
- Cánh tay phải đưa ra sau, theo đó khuỷu tay nâng lên cao hơn hẳn so với vai để đưa vợt ra sau đầu, cổ tay duỗi tự nhiên Sau đó phối hợp dùng sức nhịp nhàng của chân sau đạp đất, quay người hóp bụng, lấy vai làm trục, cánh tay kéo theo cẳng tay nhanh chóng vẫy cổ tay ra trước đánh cầu ở điểm cao nhất khi tay đã vươn thẳng.
Giai đoạn 4: kết thúc động tác
- Sau khi đánh cầu tay cầm vợt có thể theo đà quán tính vung ra trước và xuống dưới phía bên trái rồi thu vợt về trước thân người Cùng lúc đó chân trái lùi ra sau, chân phải bước ra trước trọng tâm chuyển từ chân sau ra chân trước.
- Thực hiện các giai đoạn của động tác đánh cầu: Rút vợt; lăng vợt; tiếp xúc cầu; dừng cầu; về động tác chuẩn bị.
* Hình thức kiểm tra: học sinh thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay sao cho đánh trái cầu vào vị trí đã quy định trên sân Mỗi người được thực hiện 10 lần.
Chỉ tiêu Đánh giá xếp loại
Giỏi Khá Trung bình Yếu
- Giỏi: Đánh cầu chính xác vào vị trí quy định 8/10 quả
- Khá: Đánh cầu chính xác vào vị trí quy định 6/10 quả
- Trung bình: Đánh cầu vào vị trí quy định 4/10 quả
- Yếu: Đánh cầu không vào vị trí
Người phục vụNgười thực hiện
3.2.2.2 Đánh giá độ tin cậy của test: Để đánh giá độ tin cậy của test kiểm tra kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay sao cho đánh trái cầu vào vị trí đã quy định trên sân, chọn ngẫu nhiên 20 em học sinh tại cùng thời gian, địa điểm giống nhau để thực hành bài test.
Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra độ tin cậy của Test (n )
Tính giá trị độ biến thiên chung Q C
= 136,775 Tính giá trị biến thiên giữa các nhóm Q G
= 0,025 Tính giá trị biến thiên trong các nhóm Q T
Giá trị biến thiên dư thừa Q D
Tính phương sai trong các nhóm:
= 6,857 Tính phương sai hợp của biến thiên giữa các nhóm và biến thiên dư thừa:
Tính hệ số bên trong các nhóm R tt :
Kết quả hệ số tương quan bên trong là 0,95 như vậy test kiểm tra có độ tin cậy tốt.
3.2.3 Đáng giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn
* Để đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông, tiến hành tính toán các số liệu thu được qua phương pháp thực nghiệm Chọn ngẫu nhiên 60 học sinh của khối 11 trường THPT Nguyễn Trãi, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 30 học sinh
- Nhóm đối chứng (A): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh tập theo các bài tập thường được sử dụng trong giảng dạy
- Nhóm thực nghiệm (B): lấy ngẫu nhiên 30 học sinh và cho tập luyện theo bài tập đã lựa chọn