Thực trạng của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam SGK lớp 11 – chương trình chuẩn ở trường THPT.. Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học thông qu
Trang 2Em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Xuyên,
đã tận tình hướng dẫn, theo sát em trong suốt thời gian dài hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ từ các thầy (cô ) bộ môn Lịch sử ở trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Ngô Quyền đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong thời gian tiến hành khảo sát thực tế, phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến phòng học liệu khoa Lịch sử, thư viện trường Đại Học sư phạm, thư viện Tổng hợp T.P Đà Nẵng, thư viện Tổng hợp Huế
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình đã ủng hộ và tạo điều kiện, giúp em có động lực và thời gian để hoàn thành khóa luận
Mặc dù đã cố gắng nhưng do điều kiện, thời gian, trình độ còn hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp,
bổ sung của quý thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2016 Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Huyền Trang
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮC TRONG KHÓA LUẬN
ĐDTQ : Đồ dùng trực quan
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
[ H7,Tr.33, KL] : Hình 7, trang của 33 khóa luận
BGH : Ban giám hiệu
[ H9, tr.34, KL] : Hình 9, trang 34 của khóa luận
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 ối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích nghiên cứu 3
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
6 óng góp của đề tài 4
7 Bố cục đề tài 4
NỘI DUNG 5
ƯƠ 1: Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC S DỤ Ồ DÙNG TRỰC QUAN TRONG D Y HỌC LỊCH S Ở ƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 ơ sở lý luận 5
1.1.1 Quan niệm về đồ dùng trực quan 5
1.1.2 Vị trí, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông 6
1.1.2.1 Về mặt kiến thức 7
1.1.2.2 Về mặt thái độ, tình cảm 8
1.1.2.3 Về mặt kĩ năng 9
1.2 ơ sở thực tiễn 9
ƯƠ 2 : MỘT SỐ Ồ DÙNG TRỰC QUAN TRONG D Y HỌC PHẦN LỊCH S VIỆT NAM ( SGK LỚP 11 – ƯƠ Ì UẨN) Ở ƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 12
2.1 Nội dung cơ bản của phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn) 12
2.2 Nguyên tắc thiết kế đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử 16
2.2.1 Nắm vững mục tiêu, yêu cầu của nội dung bài học 16
2.2.2 Đảm bảo tính Đảng 17
2.2.3 Đảm bảo tính khoa học 17
Trang 52.2.4 Đảm bảo tính trực quan 18
2.2.5 Đảm bảo tính thẩm mỹ, đơn giản 18
2.2.6 Phải phát huy tính tích cực của học sinh 18
2.3 Một số đồ dùng trực quan trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn) 18
2.3.1 Đồ dùng trực quan hiện vật 19
2.3.2 Đồ dùng trực quan tạo hình 20
2.3.3 Đồ dùng trực quan quy ước 20
ƯƠ 3 : ƯƠ Á Â Ấ ƯỢNG D Y HỌC THÔNG QUA VIỆC S DỤ Ồ DÙNG TRỰC QUAN TRONG D Y PHẦN LỊCH S VIỆT NAM ( SGK LỚP 11 – ƯƠ Ì UẨN) Ở ƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 44
3.1 Thực trạng của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn) ở trường THPT 44
3.2 Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn) ở trường THPT 47
3.2.1 Giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc dạy học lịch sử trong phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 ( chương trình chuẩn) 47
3.2.2 Một số giải pháp khi thiết kế và sử dụng các dụng cụ trực quan phục vụ cho việc dạy học Lịch sử trong phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 -1918 trong sách lớp 11 (chương trinhg chuẩn) 58
3.3 Thực nghiệm sư phạm 61
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 61
3.3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 61
3.3.3 Nội dung và phương pháp tiến hành 62
3.3.4 Kết quả thực nghiệm 62
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môn Lịch sử dạy con người hiểu biết về nguồn cội, hun đúc lòng yêu nước Trong giáo dục phổ thông, các môn xã hội nói chung, môn Lịch sử nói riêng có vai trò rất quan trọng trong hình thành nhân cách, bản lĩnh, năng lực, tư duy của con người Sinh thời, Bác Hồ từng dạy “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Nếu ở nhà trường, học sinh được giáo dục tốt, hiểu biết về lịch sử dân tộc sẽ biết quý trọng những gì cha ông đã gầy dựng nên Qua đó hình thành nhân cách, hun đúc lòng yêu nước, trách nhiệm công dân của các em sau này với đất nước
Trong những năm gần đây, việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông có những đổi mới tiến bộ cả về nội dung, đặc biệt là phương pháp dạy học như : dạy học nêu vấn đề, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh,… Tuy nhiên những đổi mới đó không phải ở đâu, lúc nào cũng thực hiện được Thực tế việc học Lịch sử ở trường phổ thông còn theo lối thầy đọc, trò chép, nội dung dạy học chỉ bó hẹp trong sách giáo khoa, điều đó làm giảm hứng thú học tập, giờ học trở nên chán nản, hiệu quả dạy học không cao
Trong nhiều năm trở lại đây, chất lượng tuyển sinh Đại học, cao đẳng cũng như điểm môn Lịch sử trong kì tốt nghiệp trung học phổ thông rất thấp Thực tế này
có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân quan trọng ở đây là các em không hứng thú khi học tập cũng như lựa chọn môn thi Lịch sử, ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác đó là phương pháp dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông còn nhiều bất cập
Trong các loại đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học Lịch sử ở trường trung học phổ thông thì nhóm đồ dùng trực quan có vai trò cực kì quan trọng Bởi vì :
“loại đồ dùng trực quan này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng, khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử, đặc trưng khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế, chính trị - xã hội của đời sống Nó không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện Lịch sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh” [19, tr.47]
Trang 7Đối với phần Lịch sử Việt Nam Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn) đây
là giai đoạn hàm chứa những kiến thức quan trọng của Lịch sử nước ta với nhiều sự kiện đáng nhớ của dân tộc
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng
dạy học thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử lớp 11 chương trình chuẩn ( phần lịch sử Việt Nam) rất hạn chế Chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào mà chỉ có những công trình nghiên cứu và bài viết mang tính lý luận như
“phương pháp dạy học lịch sử”, tập 2 của Phan Ngọc Liên ( chủ biên), Trịnh Đình
Tùng, Nguyễn Thị Côi Theo đó các nhà lý luận dạy học đã nêu rõ vai trò, tầm quan trọng cũng như vạch ra con đường, biện pháp có tính lý luận chung của việc khai thác, sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử
Ngoài ra còn nhiều tài liệu viết về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
trong dạy học Lịch sử, như Phan Ngọc Liên – Phan Kì Tá… “ đồ dùng trực quan
trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông cấp II (NXB GD, H,1976); Nguyễn Thị
Côi – Trịnh Đình Tùng : “ rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm” ( NXB ĐHQG,
H, 1995),… Ngoài trình bày lý luận và phương pháp trực quan cũng như đồ dùng trực quan trong giảng dạy Lịch sử, các công trình này cũng đề xuất các biện pháp
sư phạm cụ thể
Các công trình trên đây đề cập nhiều khía cạnh khác nhau về việc sử dụng đồ dùng trực quan, khẳng định vai trò ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử Nêu lên phương pháp thiết kế đồ dùng trực quan và đưa ra biện pháp sư phạm cụ thể có hiệu quả trong dạy học Lịch sử, … Đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành khóa luận
3 ối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 ối ượng ngiên cứu
Trang 8Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 ( chương trình chuẩn)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận liên quan đến việc sử dụng đồ dùng trực quan, từ đó ứng dụng vào đồ dùng trực quan nhằm nâng cao chất lượng dạy học khóa trình phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 ( chương trình chuẩn)
Tiến hành điều tra và khảo sát học sinh và giáo viên các trường : Trung Học phổ thông (THPT) Nguyễn Trãi, THPT Ngô Quyền
4 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến các mục đích sau :
- Làm sáng tỏ các vấn đề, lý luận liên quan đến việc thiết kế, sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử ở trường THPT hiện nay
- Nghiên cứu và khai thác các loại đồ dùng trực quan để sử dụng trong dạy học khóa trình phần Lịch sử Việt Nam ( SGK Lớp 11 – chương trình chuẩn)
- Đưa ra các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử nhằm nâng cao hiệu quả dạy môn học Lịch sử ở trường THPT
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn ư liệu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng :
Tài liệu từ các sách chuyên khảo, một số công trình nghiên cứu, các tư liệu liên quan trên mạng Web, cũng như một số tài liệu tham khảo khác
Tư liệu khảo sát của quý thầy cô và các em học sinh về việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận : Nắm vững cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục và đào tạo và coi
đó là kim chỉ nam định hướng cho các hoạt động nghiên cứu
Phương pháp lịch sử : chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng trong sách giáo khoa, sách giáo viên về bộ môn Lịch sử lớp
Trang 911 (chương trình chuẩn) để nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc dùng đồ dùng trực quan trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam lớp 11
Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê – mô tả,
so sánh – đối chiếu
6 óng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ mang lại những đóng góp sau:
- Góp phần đưa ra một số cách sử dụng đồ dùng trực quan để có thể sử dụng trong việt dạy học Lịch sử để nâng cao việc học tập của các em học sinh với môn Lịch sử mà cụ thể là phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn)
- Đề tài cũng góp một phần nhỏ bé vào vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
- Vận dụng những hiểu biết về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc trang bị, sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử phần lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn) vào thực tiễn công tác nghiên cứu giảng dạy ở trường trung học phổ thông
Chương 3 : Phương pháp nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc sử dụng
đồ dùng trực quan trong dạy phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn) ở trường trung học phổ thông
Trang 10NỘI DUNG
ƯƠ 1: Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC S DỤ Ồ DÙNG TRỰC QUAN TRONG D Y HỌC LỊCH S Ở ƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG 1.1 ơ sở lý luận
1.1.1 Quan niệm v đồ dùng trực quan
Trong dạy học Lịch sử phương pháp trực quan góp phần quan trọng vào tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại hóa Lịch sử của học sinh
Đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử có thể hiểu là những đồ vật, công cụ, phương tiện, tranh ảnh, đồ thị, đồ họa… do con người sáng tạo ra, giúp giáo viên học sinh có được những hình ảnh cụ thể về sự vật hiện tượng nào đó trong Lịch sử nhằm nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử
Đồ dùng trực quan nhằm đảm bảo tính trực quan trong dạy học Lịch sử theo quá trình nhận thức “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Do vậy giáo viên phải sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học Đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử không giống với các loại đồ dùng trực quan trong giảng dạy các bộ môn khác Đặc điểm của bộ môn Lịch sử là không trực tiếp quan sát các sự kiện Vì vậy, đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử có những đặc thù riêng, được thiết kế dựa trên cơ sở nội dung của Lịch sử mang tính khái quát và trừu tượng cao, chứa đựng những thông tin về quá khứ giúp học sinh hiểu rõ hơn về Lịch sử và có cách nhìn nhận, đánh giá đúng về lịch sử
Để thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả, trước hết chúng ta cần phân biệt được các loại đồ dùng trực quan, hiện nay có nhiều cách phân loại đồ dùng trực quan, song về cơ bản chúng có thể chia làm 3 nhóm lớn:
Nhóm thứ nhất : đồ dùng trực quan hiện vật lịch sử bao gồm những di tích lịch
sử, di tích cách mạng, di vật khảo cổ, di vật của các thời kì lịch sử Đây là loại tài liệu gốc rất có giá trị, có ý nghĩa to lớn về mặt nhận thức
Nhóm thứ 2 : Đồ dùng trực quan tạo hình: gồm các thể loại phục chế, sa bàn,
tranh ảnh lịch sử… Đồ dùng trực quan tạo hình phản ánh tương đối chính xác, đầy
Trang 11đủ về những lĩnh vực hoạt động của con người, nó có khả năng khôi phục lại những hình ảnh của con người, đồ vật, biến cố, sự kiện lịch sử một cách cụ thể, sinh động
Nhóm thứ 3 : Đồ dùng trực quan quy ước bao gồm nhiều loại khác nhau, bản
đồ, sơ đồ, đồ thị,… được sử dụng nhiều nhất và thường xuyên là loại đồ dùng chủ đạo ở trường THPT hiện nay
1.1.2 Vị rí, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử ở rường trung học phổ thông
Bộ môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông ( THPT) không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức mà nó còn có ưu điểm trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, phát triển toàn diện cho học sinh
Trong thời kì đổi mới để đưa đất nước từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp có năng lực tiên tiến, cùng với sự chuyển biến đó thì nhân cách con người cũng có nhiều thay đổi
Nên vấn đề đặt ra là nhân cách hình thành và phát triển nói chung, THPT nói riêng như lòng tự tin, tính bản lĩnh, ham học hỏi, giám đương đầu với những thách thức Tuy nhiên, muốn giáo dục nhân cách cho học sinh thì phải chú ý đến bản sắc văn hóa dân tộc
Để hình thành được những nhân cách nói trên thì bộ môn Lịch sử có ưu thế so với các môn khác, vì nội dung ở phổ thông là cung cấp cho học sinh những hiểu biết
cơ bản, vững chắc về sự phát triển xã hội, xã hội loài người và dân tộc đã chảy qua,
từ đó học sinh rút ra những bài học Lịch sử, xã hội loài người sẽ giúp học sinh hành động đúng đắn hơn
Nói cách khác thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan sẽ phát huy tính tích cực của học sinh từ đó dễ dàng thực hiện được 3 nhiệm vụ của giáo dục đó chính là: Giáo dục, giáo dưỡng và phát triển học sinh thông qua những hình ảnh “ trực quan sinh động” kết hợp với lời giảng của giáo viên sẽ có những khái niệm, biểu tượng chính xác về nghiên cứu và tìm hiểu sách giáo khoa
Đồ dùng trực quan không chỉ tạo biểu tượng mà còn là chỗ dựa vững chắc cho việc nắm quá khứ Lịch sử, những nét khái quát định hình, hiểu sâu sắc sự kiện Lịch
sử Nó là phương tiện có hiệu quả để hình thành khái niệm Lịch sử và làm cho họ sinh nắm được những quy luật của sự phát triển Lịch sử Song song với nó, đồ dùng
Trang 12trực quan còn giúp cho các em rèn luyện kĩ năng, so sánh, phán đoán, và phẩm chất đạo đức cần cù, lao động, trung thực, cẩn thận…
Nhìn chung thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan nó còn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy học tập Lịch sử ở trường THPT, gây hứng thú cho học sinh đối với việc tìm hiểu quá khứ, làm cho các em dễ hiểu, gợi trí tò mò và óc tưởng tượng cần thiết cho sự tìm hiểu Lịch sử của lứa tuổi học sinh
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan ở trường THPT nó có ý nghĩa vô cùng to lớn thể hiện được cả hai nhiệm vụ dạy – học
xã hội đã qua bằng lời nói của mình Ví dụ, quan sát lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Kì trong bài 19 : Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược ( từ năm 1858 đến trước năm 1873 ) thì học sinh sẽ biết được trung tâm của phong trào, những căn cứ kháng chiến của chúng ta và học sinh còn biết thêm
về nơi diễn ra các cuộc khởi nghĩa chống Pháp Và nó còn giúp cho học sinh thấy được phong trào đấu tranh kiên cường của nhân dân ta trước thực dân Pháp
Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những ảnh, những kiến thức lịch sử K.Đ U – sin – xki đã viết : “ hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh mà chúng ta thu được bằng trực quan và những hình ảnh nào được khắc sâu vào trí nhớ chúng ta thì cũng được chúng ta nhớ kĩ, hiểu sâu những tư tưởng của nó” [25, tr.7]
Ví dụ, xem lược đồ cuộc khởi nghĩa Hương Khê nó giúp cho học sinh thấy được quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta để bảo vệ độc lập cho dân tộc Và nó còn giúp cho học sinh thấy được phong trào thất bại do thiếu tổ chức và người lãnh đạo
từ đó cần đưa ra được đường lối và phương pháp tổ chức và người lãnh đạo để có
Trang 13thể dẫn dắt nhân dân ta đi tới thắng lợi cuối cùng để có thể bảo vệ được độc lập dân tộc
Sử dụng lời nói trong dạy học Lịch sử là điều kiện cần thiết để tạo biểu tượng
và hình thành khái niệm cho học sinh Nhưng với tư duy của học sinh cấp ba sẽ không đủ khả năng để hình dung ra tất cả những gì mà giáo viên đã miêu tả về một
sự kiện lịch sử Từ chỗ không thể hình dung đầy đủ về sự kiện Lịch sử trong quá khứ sẽ dẫn đến “ hiện đại hóa lịch sử” Do đó việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với lời nói của giáo viên trong dạy học Lịch sử là hết sức cần thiết để tránh được hiện tượng hiện đại hóa lịch sử, giúp học sinh nhận thức đúng, hình dung đúng
sự kiện Lịch sử đã xảy ra trong quá khứ
Trong các loại đồ dùng trực quan thì đồ dùng trực quan qui ước là dễ dàng nhất trong việc dạy học lịch sử ở trường THPT Và giáo viên cũng có thể thiết kế thêm các loại đồ dùng trực quan qui ước, nâng cao kĩ năng chuyên môn, sáng tạo, truyền đạt những sự kiện lịch sử trong quá khứ cho học sinh nhanh hơn, việc hình thành khái niệm lịch sử đạt kết quả cao hơn thay vì việc sử dụng lời nói suông như trước, giáo viên cũng tạo được sự hứng thú, tập trung chú ý cho học sinh
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng đồ dùng trực quan sẽ giúp cho học sinh huy động được sự tham gia của nhiều giác quan Tai nghe, mắt thấy tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát, hứng thú
1.1.2.2 V mặ hái độ, tình cảm
Việc giáo dục tư tưởng qua bộ môn Lịch sử bao giờ cũng được coi trọng, càng được coi trọng hơn khi trong tình hình hiện nay khi đang có nhiều biến động chính trị sâu sắc trên thế giới Lịch sử quá khứ làm cơ sở vững chắc cho việc hiểu sâu sắc hiện tại, chuẩn đoán quy luật phát triển của tương lai
Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giáo dục tư tưởng, tình cảm yêu ghét đối với một nhân vật Lịch sử, một sự kiện lịch sử,… niềm tự hào về dân tộc cho học sinh Khi nhìn những bức tranh về cuộc chiến đấu của nhân dân ta với thực dân Pháp hay một vài bức ảnh về chân dung các vị anh hùng dân tộc nào
đó Nó giúp cho học sinh nhận thức được tình cảm yêu mến các vị lãnh tụ , cảm
Trang 14phục tài năng và lòng dũng cảm yêu mến các vị lãnh tụ, cảm phục tài năng và lòng dũng cảm hy sinh của họ vì đất nước, đồng thời có thái độ căm thù giặc ngoại xâm
và chiến tranh, kiên quyết đấu tranh để có thể giữ được hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc
Như vậy, từ đây chúng ta có thể thấy rằng bộ môn lịch sử không chỉ có ý nghĩa cung cấp kiến thức cho học sinh mà nó còn có vai trò giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh
1.1.2.3 V mặ kĩ năng
Đồ dùng trực quan còn có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục, phát triển toàn diện học sinh Việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với lời giảng của giáo viên góp phần tích cực trong việc phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh Sử dụng đồ dùng trực quan góp phần gây hứng thú cho học sinh, phát triển trí nhớ, học sinh phải suy nghĩ, hình dung, nhận xét các hiện tượng Lịch sử Từ đó nó kích thích được trí tò mò trong học sinh, tìm hiểu của học sinh rồi ghi nhớ các sự kiện lịch sử dẫn đến phát triển tư duy cho học sinh
Việc sử dụng đồ dùng trực quan cũng nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh, giảm bớt quan niệm học Lịch sử không có thực hành, tiếp cận tốt được các nguồn tri thức trong quá khứ, giúp học sinh tiếp cận với phương pháp tìm kiếm và
xử lý tài liệu…
Với tất cả những ý nghĩa nói trên thì việc sử dụng đồ dùng trực quan góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử Nó là chiếc “ cầu nối” giữa quá khứ và hiện tại, giúp học sinh có thể hiểu rõ hơn về bản chất các sự kiện lịch sử, phát triển toàn diện cho học sinh, tránh được việc “ hiện đại hóa” lịch sử, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Lịch sử ở trường THPT
1.2 ơ sở thực tiễn
Chương trình sách giáo khoa Lịch sử đã được đổi mới theo hướng dành một dung lượng nhất định cho đồ dùng trực quan Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy, đồ dùng trực quan có được giảng dạy hay không và hiệu quả của nó lại còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố, tùy thuộc vào quan niệm, năng lực sư phạm của giáo viên
và thái độ học tập, hợp tác của học sinh Để thực hiện vấn đề này tôi đã tiến hành
Trang 15điều tra thực tế việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử thông qua việc sử dụng đồ dùng trực trong phần lịch sử Việt Nam lớp 11 ( chương trình chuẩn) ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Việc điều tra này nhằm tìm hiểu việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan ở các trường THPT để việc dạy và học bộ môn lịch sử ngày càng được tốt hơn Từ đó, chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi với các giáo viên dạy bộ môn lịch sử và học sinh lớp 11 ở 2 trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Ngô Quyền trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Hiện nay, trong chương trình sách giáo khoa lớp 11 – chương tình chuẩn phần lịch sử Việt Nam từ ( 1858 – 1918) có 6 lược đồ và 2 niên biểu cuối bài học Ngoài
ra còn có rất nhiều các hình ảnh về các văn thân, sĩ phu yêu nước của Việt Nam trong giai đoạn này Việc sử dụng lược đồ, niên biểu, hình ảnh mà sách giáo khoa
đã nêu có tác dụng rất tích cực tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, phát huy tính tích cực của học sinh và giúp học sinh ghi nhớ các sự kiện lịch sử, hiểu được mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử Tuy nhiên nó còn cho chúng ta thấy rõ một điều rằng việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học còn rất hạn chế
Qua khảo sát và xử lý kết quả điều tra của học sinh ( phụ lục 5 ), và giáo viên (phụ lục 6) về việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan thì tôi thấy rằng đa số giáo viên đều khẳng định rằng việc sử dụng đồ dùng trực quan có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy học, hình thành một số kĩ năng cho học sinh và tiết kiệm được thời gian trong giờ học Đa số giáo viên đều cho rằng trong một số bài học cần thiết thì cần phải sử dụng đồ dùng trực quan Nhưng
đa số chưa thật sự chú trọng và việc sử dụng đồ dùng trực quan trong việc dạy học Lịch sử thì chưa được sử dụng một cách rộng rãi, mà chỉ sử dụng theo hướng sử dụng ở một số bài học nhất định mà thôi
Như vậy, căn cứ vào vấn đề điều tra trên thì chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử là rất cần thiết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp học sinh tái tạo lại được những sự kiện lịch sử Để có thể nâng cao được quá trình dạy học này thì giáo viên cần sử dụng nhiều loại đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học của mình để học sinh có thể nắm được kiến thức một cách
dễ dàng hơn Từ đó chúng tôi còn có cơ sở để nâng cao việc sử dụng đồ dùng trực
Trang 16quan trong dạy học Lịch sử ở trường THPT, đặc biệt là trong phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 ( 1858 – 1918) theo chương trình chuẩn
Trang 17ƯƠ 2 : ỘT SỐ Ồ DÙNG TRỰC QUAN TRONG D Y HỌC PHẦN LỊCH S VIỆT NAM ( SGK LỚP 11 – ƯƠ Ì UẨN) Ở
ƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Khóa trình Lịch sử Việt Nam phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn)
2.1.1 Vị trí, ý nghĩa của phần Lịch sử Việt Nam lớp 11
Trong chương trình Lịch sử lớp 11( chương trình chuẩn) thì khóa trình Lịch
sử Việt Nam là một phần không thể thiếu Phản ánh tình hình đất nước trong 60 năm (1858- 1918) và được phân phối gồm 12 tiết với 6 bài học Ngoài ra còn có một tiết dạy sơ kết
Trong chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 11 thì nó giữ một vị trí vô cùng quan trọng Nó giúp học sinh mở rộng hiểu biết kiến thức mà còn giáo dục quan điểm, tư tưởng, lập trường, phẩm chất đạo đức, nhân cách cho học sinh, giáo dục lòng yêu thương quê hương, đất nước, giáo dục tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ, hòa bình, dân chủ…
2.1.2 Nội dung cơ bản
Phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 lớp 11 chương trình chuẩn ở trường THPT là hệ thống kiến thức cơ bản, phù hợp với học sinh theo đúng chủ trương của việc đổi mới chương trình sách giáo khoa ở trường THPT
Phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 – 1918 là sự kế tiếp chương trình lịch sử Việt Nam ở lớp 10 Phần này bao gồm hai chương Đối với chương I thì nội dung chủ yếu của khóa trình này là chế độ phong kiến Việt Nam đã rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Kinh tế lạc hậu, chính sách đối ngoại sai lầm, nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình nổ ra khắp nơi Việt Nam đối diện với nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược Còn ở chương II nói về tình hình xã hội của nước ta trong giai đoạn lúc bấy giờ, và các phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta đến đầu thế kỉ XX Hơn nữa là nói về tình hình Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất
Trang 18Nội dung kiến thức cơ bản của khóa trình Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918
nó gồm có 6 bài và một phần sơ kết Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918
Bài 19 : Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược ( từ năm 1858 đến trước năm 1873)
Bài này nói lên sự khủng hoảng của chế độ phong kiến và sự xâm lược của Pháp ở Đà Nẵng, mở đầu thời kì đất nước ta bị thực dân Pháp thống trị trong gần một thế kỉ Sau nhiều lần khiêu khích, chiều ngày 31/8/1858 liên minh Pháp – Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng Âm mưu của Pháp là chiếm Đà Nẵng làm căn cứ, rồi tấn công ra Huế, nhanh chóng buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng Sáng 1/9/1858, Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà Âm mưu của Pháp không thực hiện được vì vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và nhân dân ta
Tiếp đó Pháp tấn công vào Gia Định, các tỉnh miền Đông Nam Kì Trong lúc nhân dân kháng chiến quyết liệt thì triều đình lại kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) Không đứng lại ở đó Pháp còn chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì
Bài 20 : chiến sự lan rộng ra cả nước Cuộc kháng chiến của nhân dân từ 1873 đến năm 1884 Nhà Nguyễn đầu hàng
Từ sau năm 1867 thực dân Pháp từng bước mở rộng đánh chiếm toàn bộ Việt Nam Năm 1873, chúng đem quân đánh chiếm thành Hà Nội và một số tỉnh thành ở Bắc Kì lần thứ nhất, triều đình nhà Nguyễn tiếp tục lún sâu vào con đường thỏa hiệp
và kí hiệp ước Giáp Tuất năm 1874 Đến năm 1882 Pháp lại đưa quân đánh chiếm
Hà Nội và Bắc Kì lần 2, sau đó quyết định đánh thẳng ra Huế Hai bản hiệp ước
1883 và hiệp ước 1884 đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến Việt Nam và xác lập nền bảo hộ của Pháp trên toàn bộ đất nước ta
Song song với sự bạc nhược, đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn thì phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hà Nội và Bắc Kì diễn ra sôi nổi, gây cho địch nhiều khó khăn và giành được nhiều thắng lợi trong trận Cầu Giấy lần thứ nhất và lần thứ hai
Bài 21 : Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX
Với hai hiệp ước 1883 và hiệp ước 1884, thực dân Pháp đã hoàn thành về cơ bản cuộc xâm lược Việt Nam Chúng bắt đầu xúc tiến việc thiết lập chế độ bảo hộ
Trang 19và bộ máy chính quyền thực dân trên lãnh thổ Bắc Kì và Trung Kì Nhưng chúng đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt của một số quan lại, văn thân, sĩ phu yêu nước và nhân dân các địa phương
Sau cuộc phản công của quân Pháp tại kinh thành Huế thất bại, một phong trào khởi nghĩa vũ trang mới dưới danh nghĩa Cần Vương diễn ra sôi nổi, kéo dài đến năm 1896 như cuộc khởi nghĩa Bẫy Sậy (1883-1892), khởi nghĩa Ba Đình ( 1886 – 1897), khởi nghĩa Hương Khê ( 1885 -1896 ),… trong đó tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê, cuộc khởi nghĩa này bắt đầu từ khi ban bố chiếu Cần Vương cho đến khi cuộc khởi nghĩa kết thúc cũng chính là mốc chấm dứt phong trào kháng chiến chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương
Bên cạnh các cuộc đấu tranh vũ trang dưới ngọn cờ Cần Vương, còn có những cuộc tự vệ của nông dân và nhân dân các dân tộc thiểu số vùng núi, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Yên Thế
Bài 22 : Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Sau khi thực dân Pháp cơ bản đã bình định xong được đất nước ta bằng quân
sự, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác trên đất nước ta Dưới tác động của cuộc khai thác của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những biến động đáng kể, từ một xã hội phong kiến biến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến
Trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp đã làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước du nhập vào Việt Nam Tuy vậy, khi tiến hành khai thác, thực dân Pháp vẫn duy trì phương thức bóc lột phong kiến trong mọi lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội
Tình hình xã hội Việt Nam trong giai đoạn này có sự biến đổi một cách sâu sắc Nó dẫn đến sự phân hóa của các giai cấp cũ trong xã hội mà nó còn làm xuất hiện những lực lượng xã hội mới Sự biến đổi này nó đã tạo điều kiện bên trong cho cuộc vận động giải phóng dân tộc theo xu hướng mới ở đầu thế kỉ XX
Bài 23 : Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 )
Vào đầu thế kỉ XX cùng với sự xuất hiện của tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, nhiều Tân Thư, Tân báo của Trung Hoa cổ động cho tư tưởng của dân chủ tư sản được đưa vào nước ta Các sĩ phu yêu nước thức thời đã tiếp nhận tư tưởng đó một
Trang 20cách nồng nhiệt Đặc biệt trong đó có Phan Bội Châu với xu hướng bạo động và Phan Châu Trinh với xu hướng cải cách Hơn nữa đó chính là những đổi mới của Nhật Bản sau cuộc Duy Tân Minh Trị ( 1868 ) càng củng cố niềm tin của họ vào con đường cách mạng tư sản
Trong đó có “ Đông Kinh nghĩa thục” của Phan Bộ Châu và vụ đầu độc binh
sĩ Pháp ở Hà Nội và những hoạt động cuối cùng của nghĩa quân Yên Thế Cuối cùng thì tất cả đều thất bại nhưng làm cho thực dân Pháp lo sợ và nó thể hiện được lòng yêu nước của nhân dân ta Hơn nữa nó còn cho thầy rằng Việt Nam trong giai đoạn này cần có một đường lối phù hợp và có người lãnh đạo để có thể giành lại được độc lập cho dân tộc
Bài 24 : Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914
ra người nông dân bên cạnh việc trồng cây lúa thì còn tiến hành trồng nhiều loại cây công nghiệp Tuy nhiên do thực dân Pháp tiến hành khai thác quá mức để phục vụ cho chiến tranh của chính quốc cho nên làm cho nền kinh tế của Việt Nam bị kiệt quệ Cùng với sự khai thác đó đã làm cho các tầng lớp, giai cấp trong xã hội tăng nhanh về số lượng đồng thời nảy sinh một loạt cuộc khởi nghĩa vũ trang đó chính là hoạt động của Việt Nam Quang phục hội, cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên
và Trần Cao Vân ( 1916 ), khởi nghĩa binh lính ở Thái Nguyên ( 1917 ) Bên cạnh
đó còn có những cuộc khởi nghĩa vũ trang của đồng bào các dân tộc thiểu số và phong trào Hội kín ở Nam Kì
Trong giai đoạn này nó cũng xuất hiện khuynh hướng cứu nước mới là các phong trào đấu tranh bằng bạo động vũ trang của công nhân Hơn nữa đó chính là trong giai đoạn này thì Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước ( 1911 -1918 )
nó đã đáp ứng được yêu cầu lịch sử của dân tộc ta Những hoạt động yêu nước của
Trang 21Nguyễn Ái Quốc tuy mới bắt đầu nhưng là cơ sở quan trọng để Người xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam
Cuối cùng là phần Sơ kết lịch sử Việt Nam ( 1858 – 1918 ) tóm gọn lại quá trình Việt Nam trong giai đoạn này, bài sơ lược nói về tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược, quá trình thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, những biến đổi về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX và đặc biệt đó chính
là phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này
2.2 Nguyên tắc thiết kế đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử
2.2.1 Nắm vững mục tiêu, yêu cầu của nội dung bài học
Để bài học Lịch sử có thể đạt được kết quả cao thì khi tiến hành xây dựng đồ dùng trực quan thì người giáo viên cần phải nắm vững mục tiêu, yêu cầu và nội dung bài học
Trên cơ sở nắm vững kiến thức và nội dung bài học thì giáo viên có thể xây dựng các loại đồ dùng trực quan phù hợp với từng bài học, từng mục trong bài học thông qua đồ dùng trực quan và thêm nữa là các câu hỏi của giáo viên để nhằm nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan
Ví dụ : như việc xây dựng đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học đặc biệt
là đồ dùng trực quan quy ước như trong bài 21 “ Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX
Về kiến thức : sau khi học xong bài này thì học sinh phải nắm được các kiến thức như :
- Phong trào Cần Vương và sự phát triển của nó
- Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần Vương và phong trào đấu tranh tự vệ cuối thế kỉ XIX
Trang 22- Rèn luyện cho các em kĩ năng phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện lịch
sử
- Sử dụng được lược đồ để trình bày các sự kiện
- Ngoài ra nó còn giúp cho học sinh biết liên hệ và rút ra bài học kinh nghiệm
Từ mục tiêu bài học ở trên, giáo viên có thể xác định được nội dung và kiến thức cơ bản của bài học và từ đó xây dựng đồ dùng trực quan cho phù hợp để giúp cho học sinh nắm vững kiến thức mà giáo dục và đào tạo đã đưa ra Ngoài ra nó còn giúp cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao
2.2.2 ảm bảo ính ảng
Tính Đảng là một nội dung quan trọng của phương pháp luận sử học Trong dạy học Lịch sử khi xây dựng đồ dùng trực quan, giáo viên phải quán triệt nguyên tắc đảm bảo tính Đảng Việc sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học Lịch sử tùy thuộc vào mục đích sử dụng nên thể hiện tính giai cấp rõ rệt Thêm vào đó Lịch sử gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, vì thế tính Đảng là không thể phủ nhận được Trong quá trình xây dựng, giáo viên phải tuân thủ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nghiên cứu sự kiện lịch sử và coi đó là kim chỉ Nam định hướng cho các hoạt động nghiên cứu, xây dựng đồ dùng trực quan
Tính Đảng trong lịch sử được thể hiện qua việc dựa vào hệ tư tưởng, vào lý tưởng nào trong xã hội, với chúng ta, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là mục tiêu định hướng trong nghiên cứu lịch sử và giảng dạy Lịch sử
Ví dụ như trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế giáo viên muốn sử dụng lược đồ để truyền tải nội dung bài học và diễn biến của trận đánh cho học sinh Mặc khác, giáo viên phải quán triệt quan điểm đường lối của Đảng, tinh thần kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta để giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh, làm cho học sinh nhận thức đúng vai trò của nhân dân trong công cuộc kháng chiến chống Pháp bảo
vệ tổ quốc
2.2.3 ảm bảo tính khoa học
Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng đồ dùng trực quan
và cũng là một nội dung quan trọng trong phương pháp luận sử học
Tính khoa học của đồ dùng trực quan được biểu hiện chính xác của các sự kiện, hiện tượng được phản ánh, biểu thị được sự phát triển nội tại của nội dung sự
Trang 23kiện, rút ra những khái quát, lý luận Vì vậy khi xây dựng đồ dùng trực quan, giáo viên cần phải lựa chọn những nội dung kiến thức cơ bản, đúng đắn để khi trình bày cho học sinh thì phải đảm bảo tính khoa học, tránh việc hiện đại hóa lịch sử, qua đó phát triển trí tuệ và năng lực hành động, hình thành ở các em cơ sở thế giới khoa học và đạo đức cách mạng, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống lao động sáng tạo, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Đảm bảo tính khoa học đòi hỏi phải có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo,phù hợp khi sử dụng kiến thức lịch sử để giảng dạy
2.2.4 ảm bảo tính trực quan
Dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng là một quá trình tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh Trong phương tiện dạy học đồ dùng trực quan có vị trí rất quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
Tính trực quan được biểu hiện ở dạng trực quan, bao trùm lên đối tượng và hiện tượng với tất cả các tính chất nguyên vẹn và phức tạp của nó, với mọi chi tiết riêng phù hợp với quy luật
2.2.5 ảm bảo tính thẩm mỹ, đơn giản
Xây dựng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử phải đảm bảo tính thẩm mĩ
và đơn giản
Hình thức đẹp, màu sắc phù hợp với người sử dụng
Các loại đồ dùng trực quan phải giúp cho học sinh dễ hiểu, dễ nắm vững kiến thức cơ bản, có khả năng phân tích rút ra nhận xét, đánh giá
2.2.6 Phải phát huy tính tích cực của học sinh
Tính tích cực của học sinh trong học tập Lịch sử diễn ra theo một trình tự, tuân thủ nguyên tắc về con đường nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Việc “ trực quan sinh động” trong nhận thức Lịch sử không thể bắt đầu từ cảm giác trực tiếp về hiện thực lịch sử đã qua, mà từ những biểu tượng được tạo nên trên cơ sở các sự việc cụ thể Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan nhằm giúp cho các em có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức ở lớp, kích thích sự hứng thú say mê ở học sinh, tự giác trong học tập
2.3 Một số đồ dùng trực quan trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam ( SGK lớp 11 – chương trình chuẩn)
Trang 24Tuy nhiên tất cả các đồ dùng trực quan hiện vật đều có giá trị lịch sử rất là lớn cho nên hầu hết đều xếp vào dạng cần được bảo tồn nên được cất giữ rất cẩn thận Cho nên việc áp dụng các loại đồ dùng trực quan hiện vật vào giảng dạy là rất khó Cho nên việc sử dụng đồ dùng trực quan hiện vật trong nhà trường còn rất hạn chế Bởi vì nó không có sẵn trong nhà trường mà được bảo quản cẩn thận, hoặc nơi
di tích Nó không còn được nguyên vẹn, bị phá hủy qua thời gian Điều quan trọng nhất là việc nhận thức hiện vật Lịch sử không đơn giản Nó đã tách khỏi hiện thực lịch sử, của thời đại nảy sinh, nó chỉ là dấu vết của quá khứ, chứ không phải là toàn
bộ quá khứ Vì vậy khi nghiên cứu hiện vật Lịch sử học sinh phải phát huy trí tưởng tượng, tái tạo, tư duy lịch sử để hình dung đúng đời sống hiện thực của quá khứ, với tất cả sự vận động biểu hiện muôn màu, muôn vẻ của nó
Tuy nhiên, dù không thể áp dụng được vào công tác giảng dạy ngay tại trường nhưng người giáo viên cũng có thể sử dụng các loại đồ dùng trực quan hiện vật để nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong Lịch sử bằng cách : là giáo viên có thể xin phép nhà trường có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa, để cho học sinh có thể quan sát được các di tích Lịch sử của dân tộc và hơn nữa là nó cũng nhằm tạo thêm được hứng thú học tập môn Lịch sử cho các em học sinh Giáo viên nên tổ chức giảng dạy trong các viện bảo tàng ở trung ương hay địa phương, hay ở ngay các địa điểm diễn ra sự kiện để có thể sử dụng kết quả đồ dùng trực quan hiện vật Bên cạnh đó thì nó còn góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch
sử ở trường phổ thông, ở phần lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 Nó cũng giúp cho các em hiểu hơn về Lịch sử dân tộc và có lòng tự hào dân tộc một cách sâu sắc và
Trang 25biết yêu quê hương hơn Các em sẽ cô gắng phấn đấu để bảo vệ đất nước, xây dựng quê hương phát triển như ông cha ta đã làm trước đó
2.3.2 ồ dùng trực quan tạo hình
Đồ dùng trực quan tạo hình là loại đồ dùng trực quan chủ yếu gồm các loại phục chế, sa bàn, tranh ảnh Lịch sử… Đồ dùng trực quan tạo hình nó phản ánh tương đối chính xác, đầy đủ về những lĩnh vực hoạt động của con người, nó có khả năng khôi phục lại được những hình ảnh của con người, đồ vật, biến cố, sự kiện lịch
sử một cách sinh động, cụ thể
Mô hình, sa bàn và các loại phục chế khác có khả năng diễn tả khá đầy đủ vẻ
bề ngoài của một sự vật hay sự kiện Lịch sử, như công cụ lao động, các chiến dịch hay một trận đánh, vũ khí
Tuy nhiên loại đồ dùng trực quan tạo hình cũng rất có giá trị và tốn kém rất nhiều kinh phí cho nên việc sử dụng đồ dùng trực quan tạo hình vào trong các bài dạy Lịch sử ở trường THPT là rất khó Nhưng giáo viên cũng có thể xin phép nhà trường cho các em tham gia các hoạt động ngoại khóa, cho các em được có cơ hội tham quan các viện bảo tàng để có thể hiểu thêm về lịch sử dân tộc Nó cũng giúp học sinh hững thú hơn đối với việc học tập môn Lịch sử và không còn cảm giác học nhàm chán nữa Đó cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT đặc biệt là lịch sử lớp 11 phần Lịch sử Việt Nam ( chương trình chuẩn)
2.3.3 ồ dùng trực quan quy ước
Đây là loại đồ dùng trực quan được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong quá trình giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh Ngoài ra nó còn giúp tăng hứng thú trong quá trình học tập của học sinh, chất lượng giáo dục thì được nâng cao hơn Hơn nữa là đồ dùng trực quan dễ sử dụng và giáo viên có thể tạo ra các loại đồ dùng trực quan quy ước để phục vụ cho quá trình dạy học của mình
Đồ dùng trực quan quy ước gồm có nhiều loại như : niên biểu lịch sử, bản đồ (lược đồ) lịch sử, sơ đồ
Niên biểu lịch sử: thì nó gồm có niên biểu chuyên đề, niên biểu so sánh, niên
biểu tổng hợp
Niên biểu chuyên đề
Trang 26Bảng 1 : Niên biểu chuyên đề về chiến sự Gia Định
Cuộc xâm lược
của Pháp
Kháng chiến của triều đình
Kháng chiến của nhân dân
Phương hướng tác chiến sai lầm, chỉ
lo phòng ngự mà không tiến công
Nhân dân chủ động kháng chiến ngay từ đầu
Nhân dân tiếp tục tấn công địch ở đồn chợ Rẫy (7/1860)
ở vào thế “ tiến thoái lưỡng nam”
Sử dụng bảng niên biểu này để tóm tắt diễn biến về cuộc xâm lược Gia Định của Pháp và thái độ chống Pháp của triều đình và phong trào kháng chiến của nhân dân Gia Định cho học sinh ghi vào vở giúp học sinh dễ dàng nắm bắt được kiến thức của bài học
Bảng 2 : Niên biểu chuyên đề về cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kì,
chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì :
Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên
- kháng chiến 3 tỉnh miền Đông Nam Kì tiếp tục diễn ra mạnh
mẽ
- Trương Định chống trả quyết liệt
- Nhân dân miền Tây kháng chiến anh dũng
- Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Trương
-Thất bại
Trang 27 Niên biểu so sánh
* Giống nhau Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều là những sĩ phu phong
kiến chịu ảnh hưởng các tư tưởng tư sản tiến bộ, đều xuất phát từ tấm lòng yêu nước để tìm con đường giải phóng dân tộc Con đường đó theo khuynh hướng dân chủ tư sản
* Sự khác nhau: của hai ông thuộc về phương pháp: Phan Bội Châu chủ
trương bạo động, Phan Châu Trinh chủ trương cải cách
Bảng 3 : Bảng niên biểu so sánh sự khác nhau về cải cách của han Bội
Châu và Phan Châu Trinh
Cộng hòa dân quốc Việt Nam
- Đấu tranh ôn hòa, công khai, dựa vào Pháp
để đánh đổ vua quan phong kiến hủ bại, xem
đó là điều kiện tiên quyết để giành độc lập
- Kêu gọi dân quyền, dân sinh, dân khí
Biện
pháp
- Tổ chức phong trào Đông
Du, đưa học sinh sang Nhật
học, chuẩn bị cho công cuộc
đánh Pháp cứu nước
- Bạo động, ám sát
- Cổ động thực nghiệp, lập hội kinh doanh
- Mở trường theo lối mới để nâng cao dân trí
- Vận động đổi mới “phong hóa”, cải cách lối sống, bài trừ mê tín dị đoan
Giáo viên có thể dùng niên biểu về cải cách của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Qua đó giáo viên có thể giúp học sinh có thể nắm vững kiến thức, ngoài ra
Trang 28các em học sinh cũng thấy được sự giống và khác nhau về chủ trương và biện pháp của hai nhà yêu nước
Bảng 4 : Niên biểu so sánh các giai đoạn của phong trào Cần Vương
- Giành độc lập chủ quyền cho đất nước và mang tính chất yêu nước
Thuyết, các văn thân, sĩ phu yêu nước
- Do các văn thân, sĩ phu yêu nước tiếp tục lãnh đạo
Lực lượng -Nhân dân các tộc người thiểu
Thưởng, Lê Trung Đình, Nguyễn Xuân Ôn, Phạm Bành, Đinh Công Tráng,…
Khởi nghĩa Hương Khê, Hùng Lĩnh, Bãi Sậy,…
Nghi bị bắt phong trào vẫn phát triển
Năm 1896 phong trào thất bại
Giáo viên có thể sử dụng niên biểu này trong bài 21, mục 2 : Các giai đoạn phát triển của phong trào Cần Vương, chốt lại những ý kiến cơ bản cho học sinh dễ ghi nhớ đồng thời giáo viên có thể đặt câu hỏi nhận thức cho học sinh trả lời : dựa vào bảng so sánh trên, các em hãy rút ra nhận xét về hai giai đoạn phát triển của phong trào Cần Vương? Sau đó học sinh đưa ra câu trả lời Cuối cùng là giáo viên chốt ý thì ở giai đoạn đầu có nhà vua lãnh đạo còn giai đoạn sau thì không có
Niên biểu tổng hợp
Trang 29Bảng 5 : Thống kê các phong trào yêu nước trong chiến tranh thể giới thứ
nhất Phong
tuyến Hải Phòng -Vân Nam
- Tấn công các đồn binh Pháp ở Cao Bằng, Phú Thọ, Nho Quan, Móng Cái…;
- Phá nhà ngục Lao Bảo
Thất bại và tan rã năm 1916
- Đêm 30 rạng 31.08.1817, qưân khởi nghĩa kiểm soát toàn bộ thị xã (trừ trại lính Pháp), giương cờ “Nam binh phục quốc”, phát hịch tuyên bố Thái Nguyên độc lập, đặt quốc hiệu là Đại Hùng, vạch tội ác của giặc Pháp, kêu gọi khôi phục nền độc lập của đất nước
Pháp đưa 2000 lính đán áp nghĩa quân chiến đấu anh dũng trong 6 tháng thì thất bại
Phát triển rầm rộ ở miền Nam Đáng chú ý nhất là
vụ đột nhập vào Sài Gòn, mưu phá khám lớn để cứu
Thất bại vì thiếu sự lãnh đạo của giai cấp tiên tiến
Trang 30- 1914 – 1915: khởi nghĩa của người Thái ở Tây Bắc
- 1918, người Mông ở Lai Châu khởi nghĩa
- 1918 - 1919, ở Đông Bắc, binh lính đồn Bình Liêu nổi dậy, lôi cuốn đông đảo các dân tộc Nùng, Dao
- Ở Tây Nguyên, lớn nhất
là khởi nghĩa của đồng bào Mơ-nông do Nơ-trang Lơng chỉ huy, dài hơn 20 năm
Tất cả đều thất bại nhưng đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc
Giáo viên có thể sử dụng bảng thống kê trên để giúp cho học sinh có thể khái quát, và nhớ một cách dễ dàng các phong trào yêu nước trong chiến tranh thế giới thứ nhất Nhờ đó, nó sẽ giúp các em không bị nhầm lẫn giữa các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn này
Bảng 6 : Niên biểu tổng hợp phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta tử 1858 đến cuối thế kỉ XIX
1858 – 1862 Khi Pháp tán công Đà Nẵng, Gia
Định, nhân dân đã cùng triều đình chống giặc, làm thất bại âm mưu
“đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp
Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương,…
Trang 31trung tâm kháng chiến được xây dựng : Đồng Tháp Mười, Tây Ninh, Bến Tre, Rạch Giá, Hà Tiên,…
Liêm,…
1873 -1884 -Pháp 2 lần tấn công Bắc Kì, nhân
dân sát cánh cùng trều đình, đào hào, đắp lũy, lập các đội dân binh,… chống giặc
- Pháp thiệt hại nặng ở hai trận Cầu Giấy
Trương Quang Đản, Lưu Vĩnh Phúc, Phạm Văn Nghị
1885 – cuối thế
kỉ XIX
-Năm 1885 hưởng ứng chiếu Cần Vương, phong trào kháng chiến chống Pháp diễn ra sôi nổi, rộng khắp thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia Trong đó có cuộc khởi nghĩa vũ trang Bãi Sậy,
Ba Đình, Hương Khê và cuộc đấu tranh tự vệ của nhân dân Yên Thế
- Gây cho Pháp nhiều thiệt hại nhất
là trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành, Đinh CÔng Tráng, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Đề Nắm, Đề Thám
Giáo viên có thể sử dụng bảng kiến thức này để hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học về phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858 đến cuối thế kỉ XIX giúp học sinh có thể nhớ lại kiến thức cũ một cách hệ thống, làm cơ
sở để tiếp thu phần kiến thức mới Đồng thời, giáo viên có thể sử dụng bảng kiến thức này để nâng cao được chất lượng dạy học
Như vậy, những sự kiện lịch sử xảy ra trong một thời gian dài, hay một sự kiện xảy ra trên một nước trên nhiều mặt khác nhau hay trong nhiều thời kì thì chúng ta sử dụng niên biểu tổng hợp Những sự kiện quan trọng cần đi sâu trình bày, phân tích thì sử dụng niên biểu chuyên đề Những sự kiện xảy ra môt lúc trong Lịch sử, để làm nổi bật bản chất, đặc trưng,… thì sử dụng niên biểu so sánh giúp
Trang 32học sinh không những nắm được những nội dung chính, nhớ được các môc thời gian quan trọng trong bài mà còn giúp học sinh rút ra được những kết luận có tính khái quát theo quy luật
Bản đồ ( lược đồ ) lịch sử
Có thể nói rằng bản đồ Lịch sử là loại đồ dùng trực quan quy ước quan trọng, giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử, ngoài ra nó còn giúp các
em củng cố và ghi nhớ kiến thức lịch sử quan trọng
Trong bài 19 : Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược ( từ
1858 – 1873 ) là bài đầu tiên trong phần lịch sử Việt Nam đề cập đến một sự kiện
đáng nhớ đó chính là sự kiện thực dân Pháp xâm lược đất nước ta, mở đầu thời kì đất nước ta bị thực dân Pháp thống trị trong vòng gần một thế kỉ, nó gồm các lược
đồ sau :
Hình 1: ược đồ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống lại thực
dân háp xâm lược 1858 - 1885
Trang 33Đối với lược đồ này thì giáo viên có thể sử dụng trong mục I, phần 3 : chiến
sự ở Đà Nẵng và mục II, phần 1 : kháng chiến ở Gia Định và giáo viên có thể đặt câu hỏi vì sao Pháp lại chọn Đà Nẵng để xâm lược đất nước ta? Và vì sao khi thất bại Pháp lại chuyển hướng tấn công vào Gia Định? Sau đó giáo viên có thể lý giải vấn đề để giúp học sinh có thể dễ dàng tiếp thu về kháng chiến của nhân dân Đà Nẵng và Gia Định trong chiến sự ở Đà Nẵng và Gia Định
ình 2 : ược đồ chiến sự ở à ẵng năm 1858
Giáo viên có thể sử dụng lược đồ này trong mục I, phần 3 : chiến sự ở Đà Nẵng để trình bày lại việc quân đội Pháp và Tây Ban Nha tấn công lên bán đảo Sơn Trà Giáo viên có thể đặt câu hỏi âm mưu của Pháp đánh chiếm Đà Nẵng có thực hiện được không, vì sao? Dựa vào đó giáo viên có thể phân tích cho học sinh biết rằng cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã làm thất bại âm mưu “ đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp
Trang 35Lược đồ này thì giáo viên có thể sử dụng trong mục III : cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kì sau hiệp ước 1862 để giới thiệu cho các em biết về ba tỉnh miền Tây Nam Kì và giúp cho học sinh thấy được quyết tâm chống giặc của nhân dân ta trong giai đoạn lúc bấy giờ
Trong bài 20 : Chiến sự lan rộng ra toàn quốc Cuộc kháng chiến của nhân
dân ta từ năm 1873 – 1884, nhà Nguyễn đầu hàng thì có thể sử dụng các lược đồ
sau :
ình 6 : ược đồ chiến trường Hà Nội
Giáo viên có thể sử dụng lược đồ này trong mục I : Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất ( 1873 ), kháng chiến lan rộng ra Bắc Kì và mục II thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai Cuộc kháng chiến ở Bắc Kì và Trung Kì trong những năm 1882 – 1884 để tường thuật lại cho học sinh biết về quá trình thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần 1 và lần 2 nhất là trong trận Cầu Giấy để giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về âm mưu và quá trình thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì
Từ đó giúp học sinh giải thích và nhớ sâu sắc các sự kiện lịch sử
Trang 36ình 7: ược đồ chiến trường Huế 1883 – 1885
Đối với lược đồ này thì giáo viên có thể sử dụng trong mục III, phần 1 : Quân Pháp tấn công vào cửa biển Thuận An Để cho học sinh có thể thấy rõ rằng lúc bấy giờ triều đình nhà Nguyễn đang lúng túng và hơn nữa là vua Tự Đức qua đời cho nên buộc nhà Nguyễn kí hiệp ước đầu hàng Nó còn thể hiện việc thực dân Pháp hoàn thành kế hoạch xâm lược và bắt đầu thiết lập chế độ bảo hộ ở Bắc Kì và Trung
Kì của nước ta
Bài 21 : Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong
những năm cuối thế kỉ XIX
Đối với bài này thì giáo viên có thể sử dụng các lược đồ sau trong quá trình giảng dạy của mình :
Trang 37ình 8: ược đồ kinh thành Huế 1885
Giáo viên có thể sử dụng lược đồ này trong mục I, phần 1 cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến tại kinh thành Huế và sự bùng nổ phong trào Cần Vương Qua lược đồ giáo viên có thể giúp học sinh thấy rõ về vị trí của kinh thành Huế và cũng nhằm giúp học sinh hiểu thêm về cuộc phản công của phái chủ chiến trong giai đoạn này
Trang 38Hình 9: Lược đồ những địa điểm diễn ra các cuộc khởi nghĩa trong
phong trào Cần Vương 1885 - 1896
Giáo viên có thể sử dụng lược đồ trên trong mục I, phần 2 các giai đoạn phát triển của phong trào Cần Vương Qua lược đồ trên, giáo viên sẽ giúp cho các em thấy được nơi ban chiếu Cần Vương, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa tiêu biểu và các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu khác Qua đó, giáo viên cũng có thể giúp học sinh tóm lược được diễn biến hai giai đoạn phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX
Từ đó, giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi phát vấn để giúp học sinh rút ra được đặc diểm của các giai đoạn trong phong trào Cần Vương
Trang 39ình 8: ƣợc đồ cuộc khởi nghĩa Bẫy Sậy
Giáo viên có thể sử dụng hình ảnh trong phần II, mục 1 khởi nghĩa Bẫy Sậy
1883 – 1892 Qua lƣợc đồ giáo viên có thể giúp các em biết thêm về căn cứ của cuộc khởi nghĩa và nơi hoạt động của nghĩa quân Và giúp cho học sinh thấy đƣợc tinh thần chiến đấu anh dũng của nhân dân ta để chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp
Ngoài ra giáo viên còn có thể sử dụng thêm các lƣợc đồ trong sách giáo khoa
để có thể làm rõ các vấn đề để giúp học sinh hiểu hơn và hứng thú hơn trong việc học môn Lịch sử
Bài 22 : Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thộc địa lần thứ nhất của thực
dân Pháp
Đối với bài 22 thì giáo viên có thể sử dụng lƣợc đồ:
Trang 40ình 9 : ược đồ cuộc xâm lược của Pháp ở ông Dương thế kỉ XIX
Giáo viên có thể dùng lược đồ này để giúp học sinh gợi nhớ lại kiến thức, ngoài ra nó còn giúp học sinh biết được tinh hình đất nước ta trong giai đoạn lúc bấy giờ Và dần dần gợi mở kiến thức để cho các em biết được chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp đối với đất nước ta
Bài 23 : Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến
chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914)
Đối với bài này thì giáo viên có thể sử dụng lược đồ :