1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian và thời gian trong ca dao quảng nam miền biển

72 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học dân gian xuất phát trong quá trình lao động sản xuất, trong đời sống xã hội, quay quanh lũy tre làng, người xứ Quảng luôn tự hào về vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nhiều người đỗ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN

******

NGUYỄN THỊ THU KHANH

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN TRONG CA DAO QUẢNG NAM (MIỀN BIỂN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

Đà Nẵng, tháng 5/2015

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN

******

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN TRONG CA DAO QUẢNG NAM (MIỀN BIỂN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lê Đức Luận

Các số liệu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa hề công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Khanh

Trang 4

Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Trường ĐHSP Đà Nẵng, Khoa Ngữ văn, các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia, học tập và nghiên cứu Cảm ơn các quý thầy cô, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận và quá trình học Đặc biệt, tôi xin cảm ơn đến Thầy Lê Đức Luận, người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, dù tôi đã rất cố gắng song chắc chắn không thể tránh những thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được

ý kiến đóng góp quý báu từ các nhà khoa học, các quý thầy cô và mọi người để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Khanh

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Quảng Nam đất và người 6

1.1.1 Yếu tố địa lý tự nhiên Quảng Nam 6

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cư dân vùng biển 10

1.2 Khái niệm thi pháp và thi pháp ca dao 13

1.2.1 Khái niệm thi pháp 13

1.2.2 Khái niệm ca dao 14

1.2.3 Khái niệm thi pháp ca dao 15

1.3 Không gian và thời gian trong ca dao 16

1.3.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 16

1.3.2 Khái niệm thời gian nghệ thuật 17

1.4 Đặc điểm ca dao Quảng Nam 17

1.4.1 Đặc điểm về nội dung 17

1.4.2 Đặc điểm về nghệ thuật 23

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬTTRONG CA DAO QUẢNG NAM 28

2.1 Các loại không gian trong ca dao Quảng Nam 28

2.1.1 Không gian vũ trụ, tự nhiên 28

2.1.2 Không gian xã hội 31

2.2 Ý nghĩa biểu đạt của không gian nghệ thuật trong ca dao Quảng Nam 34

Trang 6

2.2.3 Biểu hiện những danh lam thắng cảnh và niềm tự hào quê hương 41

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM THỜI GIAN NGHỆ THUẬTTRONG CA DAO QUẢNG NAM 46

3.1 Các loại thời gian trong ca dao Quảng Nam 46

3.1.1 Thời gian hiện tại 46

3.1.2 Thời gian quá khứ 49

3.1.3 Thời gian quá khứ tiếp diễn đến hiện tại 51

3.1.4 Thời gian tương lai 53

3.2 Ý nghĩa biểu đạt của thời gian nghệ thuật trong ca dao Quảng Nam 55

3.2.1 Biểu thị thời điểm hoạt động của nhân vật trữ tình 55

3.2.2 Biểu thị tâm trạng của nhân vật trữ tình 57

3.3 Mối quan hệ giữa không gian và thời gian trong ca dao Quảng Nam 60

3.3.1 Thời gian hiện tại gắn với không gian sinh hoạt lao động 60

3.3.2 Thời gian quá khứ gắn với không gian tình tự và gia đình 62

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Quảng Nam vùng đất ghi nhớ dấu chân đầu tiên của lịch sử trong quá trình

mở rộng bờ cõi của dân tộc Việt Nam Từ buổi đầu khai hoang, vỡ đất đến khi phát triển thành một đô thị sầm uất là cả một quá trình lâu dài và nhiều truân chuyên Người Quảng Nam từ ngàn đời xưa đã tôi luyện trong bản thân ý chí, nghị lực kiên cường để có thể sinh tồn và phát triển trên vùng đất thiên nhiên khắc nghiệt Hành trang của họ từ ngày vào vùng đất mới có lẽ không có gì khác hơn là nghị lực cứng cỏi, quật cường, ngang tàng, đặc biệt là tính cách lạc quan, yêu đời, niềm tin vào một tương lai tươi sáng

Trải qua sáu trăm năm hình thành và phát triển người Quảng Nam dần dần tích lũy cho mình một vốn văn hóa dân gian đậm đà bản sắc riêng biệt mà không lẫn lộn với bất cứ nơi đâu Có thể khẳng định rằng văn học dân gian là kho tàng lưu giữ truyền thống văn hóa dân tộc và tính cách con người ngàn đời xưa Văn học dân gian xuất phát trong quá trình lao động sản xuất, trong đời sống xã hội, quay quanh lũy tre làng, người xứ Quảng luôn tự hào về vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nhiều người đỗ đạt công danh, nhiều chiến sĩ cách mạng yêu nước lẫy lừng

Văn hóa xứ Quảng được hình thành trên tổng thể vùng văn hóa Miền Trung dựa trên nền tảng văn hóa Sa Huỳnh và nền văn hóa Champa rực rỡ Văn học dân gian Quảng Nam tất nhiên vừa mang đầy đủ đặc trưng của loại hình văn hóa dân gian cả nước nhưng cô đọng lại trong đặc thù văn hóa vùng miền Loại hình văn học dân gian Quảng Nam thì vô cùng phong phú bao gồm truyền thuyết, cổ tích, đồng dao, hò vè, hát hò khoan, đối đáp giao duyên Đặc biệt một bộ phận không thể thiếu trong văn học dân gian đó chính là ca dao Ca dao giữ một vị trí hết sức quan trọng, góp phần tạo nên diện mạo đặc sắc của văn học dân gian Quảng Nam Do sự gần gũi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, dễ đọc, dễ nghi nhớ, thêm vào đó là âm điệu nhịp nhàng càng làm cho ca dao gần gũi hơn với đời sống người dân

Đề tài của ca dao da dạng, phong phú, có thể kể đến như đề tài quê hương, đất nước, hôn nhân, gia đình, lao động sản xuất, tình yêu quê hương đất nước, tình

Trang 8

yêu lứa đôi Với mỗi đề tài người xứ Quảng lại thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau, phong phú, đầy màu sắc như chính cuộc sống của họ trên mảnh đất này

Ca dao giúp người đọc khám phá những vẻ đẹp hiện thực cuộc sống đời thường, làm phong phú nhận thức, nâng cao đời sống tinh thần và bồi đắp tâm hồn con người ngày càng tốt đẹp hơn

Ca dao Quảng Nam cũng được rất nhiều tác giả quan tâm nhưng chỉ dừng lại

ở việc sưu tầm, tổng hợp, nghiên cứu về ngôn ngữ, còn việc tìm hiểu về ca dao trên bình diện không gian và thời gian còn khá ít ỏi Vì vậy, tôi chọn đề tài “không gian

và thời gian trong ca dao Quảng Nam-(miền biển)” Nhằm góp phần làm sáng tỏ đặc trưng nghệ thuật của ca dao Quảng Nam qua sự biểu đạt thời gian và không gian

2.Lịch sử vấn đề

Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Quảng Nam được hình thành trên con đường phát triển về phương Nam của nhiều thế hệ người Việt Nam Với hơn 500 năm hình thành và phát triển, văn hóa đất Quảng đang từng ngày khẳng định vị thế của mình trong dòng chảy của văn hóa dân tộc Xứ Quảng luôn tiềm ẩn trong mình những giá trị đặc trưng về văn hóa đặc biệt là văn hóa dân gian

Khi nghiên cứu về văn hóa Quảng Nam, trong cuốn Tiểu vùng văn hóa Xứ

Quảng, tác giả Hà Nguyễn đem đến một cái nhìn tổng quan về một vùng văn hóa

mang những giá trị đặc trưng về vật chất và tinh thần Cuốn sách giới thiệu về nét đẹp vùng miền qua các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, những hương

vị ẩm thực, sản vật phong phú Văn hóa dân gian được tác giả giới thiệu qua những làn điệu dân ca, hát hò khoan, bài chòi, lý hò vè, các câu hát đồng dao, hát bả trạo, các hoạt động diễn xướng dân gian

Tác giả Lê Minh Quốc trong cuốn Người Quảng Nam khám phá một khía

cạnh vùng đất Quảng Nam dưới con mắt nhìn của người nghệ sĩ đầy chất trữ tình Đây là cuốn sách không chỉ viết về văn hóa mà nghiên cứu về các lĩnh vực như lịch

sử, địa lý, nếp ăn ở của người Quảng xưa và nay, địa danh gắn liền với những tên tuổi lớn của dân tộc,những danh nhân văn hóa nổi tiếng

Trang 9

Trên cơ sở nghiên cứu về văn hóa, Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng đã

phát hành cuốn sách Lịch sử Xứ Quảng- tiếp cận và khám phá Cuốn sách này tập

hợp một số bài nghiên cứu của các thế hệ tác giả tên tuổi gắn bó làm việc, hoạt động nghệ thuật trên vùng đất Quảng Nam Đây là công trình gồm 42 bài viết liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều hướng tiếp cận và khám phá mới mẻ về lịch

sử, văn hóa Những vấn đề văn hóa gắn với từng địa danh cụ thể từ Quảng Nam, Đà Nẵng, Trà Kiệu, Ngũ Hành Sơn, Hoàng Sa Những nhà yêu nước lẫy lừng làm nên cột mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc từ Lê Thánh Tông, Duy Tân, các bậc công thần như Mạc Công Thần, Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Thoại Đến thời kì kháng chiến chống giặc ngoại xâm thì nổi lên nhiều chí sĩ cách mạng yêu nước như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thanh, Lê Văn Hiến, Lâm Quang Thự

Tiếp cận với văn hóa dân gian Quảng Nam, trong cuốn Văn nghệ dân gian

Quảng Nam( miền biển), tác giả Nguyễn Văn Bổn đã tập trung nghiên cứu về văn

hóa dân gian Quảng Nam khu vực ven biển miền Trung Bên cạnh những nét khái quát về địa lý và lịch sử phát triển, cuốn sách còn là bức tranh về đời sống văn hóa tinh thần phong phú của người dân miền biển Từ lễ hội văn hóa, các hoạt động diễn sướng dân gian đến những câu da dao, dân ca, truyền thuyết về vùng đất mới Tác giả còn đứa ra những nghiên cứu và sưu tầm của mình về ngôn ngữ và cách diễn đạt của văn học dân gian Quảng Nam Đó là những khám phá mới mẻ của tác giả trên phương diện thể loại, ngôn ngữ và để tài

Cuốn Ca dao, dân ca xứ Quảng của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam do

Hoàng Hương Việt và Bùi Văn Tiếng chủ biên đã sưu tầm với một dung lượng khá lớn các bài ca dao về đề tài về đất nước, gia đình, quan hệ xã hội, tình yêu lứa đôi Mọi khía cạnh của đời sống con người đều được khắc họa sinh động qua những câu

ca dao, dân ca Ngoài ra còn một số nhà nghiên cứu với các công trình nghiên cứu

về Quảng Nam như Nguyễn Văn Bổn với tiểu luậnĐất nước và con người Quảng

Nam-Đà Nẵng qua văn học dân gian, Thạch Phương với tiểu luận Ca dao của một vùng đất (Ca dao Nam Trung Bộ, Nxb Khoa học Xã Hội- 1994)

Trang 10

Tiếp cận với ca dao về phương diện thi pháp không gian thời gian, trong

cuốn Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã nghiên cứu tương đối kĩ về phương

diện không gian và thời gian nghệ thuật Tác giả đã đưa ra sự phân biệt không gian, thời gian trong ca dao và ngoài hiện thực Nêu ra được dấu hiệu để nhận diện thời gian trong ca dao, các công thức miêu tả thời đã trở thành đặc trưng Về không gian, tác giả đã liệt kê tất cả những không gian thường xuất hiện trong ca dao như không

tự nhiên, xã hội, gia đình, không gian lao động

Ngoài ra con một số tác giả cũng nghiên cứu về thi pháp như Lê Trường Phát, Phạm Thu Yến, Đỗ Bình Trị, Trần Đình Sử v.v

Nhìn chung những tác giả nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian Quảng Nam khá nhiều, đặc biệt trong việc sưu tầm, nghiên cứu về mảng đề tài ca dao Những việc nghiên cứu trên bình diện đặc điểm không gian và thời gian còn khá ít Với đề tài nghiên cứu về “không gian và thời gian trong ca dao Quảng Nam(miền biển)”, tôi đi sâu vào nghiên cứu ca dao Xứ Quảng chủ yếu về đặc điểm không thời gian, ngoài ra đề tài này còn cung cấp một số thông tin về địa lý, lịch sử và văn hóa vùng đất Quảng Nam Công trình cũng nhằm mục đích đề xuất một hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu ca dao Quảng Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Đặc điểm không gian và thời gian trong

ca dao Quảng Nam

3.2.Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu các bài ca dao lưu hành ở tỉnh Quảng Nam trong cuốn “Ca dao Quảng Nam (miền biển)”

4.Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận văn này là:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

Trang 11

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1.Quảng Nam đất và người

1.1.1.Yếu tố địa lý tự nhiên Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh ven biển Duyên Hải Nam Trung Bộ, có vị trí địa lý quan trọng nằm trên trục giao thông chính yếu về cả đường bộ và đường thủy Quảng Nam nằm cách Thủ đô Hà Nội 860km về phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh 865kkm về phía Nam Phía Bắc giáp với Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía nam giáp với tỉnh Quảng Ngãi và Kom Tum Đây cũng là địa bàn cuối cùng của nước ta có đường biên giới CHND Lào ở phía Tây và giáp với biển Đông ở phía Đông.Tổng diện tích của toàn tỉnh là 1.043.836,96 ha, địa hình dạng thấp từ tây sang đông và được chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng núi, trung du-vùng đồng bằng, ven biển

Hệ thống sông ngòi Quảng Nam khá chằng chịt với tổng độ dài tự nhiên khoảng 900km “Ở phía Bắc có các sông Trường Giang, Thủy Tú,sông Hàn Nhưng hai dòng sông lớn nhất là sông Thu Bồn và sông Vu Gia Các sông A Vương, sông Kon, sông Bung, sông Cái, sông Thanh hợp lưu thành nguồn ở Ổ Gia phía Tây Nam huyện Đại Lộc Các con sông Tranh, sông Tiên hợp thành nguồn ở Chiên Đàn ở Tân An Hai nguồn này gặp nhau ở Giao Thủy, rồi lại chia thành hai nhánh, bao bọc

Gò Nổi; nhánh phía Bắc là dòng sông chính Thu Bồn, nhánh thứ hai ở phía Nam, nhỏ hơn là sông Bà Rén Hai nhánh sông lại hợp thành một ở Chợ Củi, Câu Lâu, chảy về hướng Hội An, gặp sông Trường Giang và sông Ly Ly trước khi đổ ra của Đại Chiêm Các dòng sông nhỏ như Ly Ly, Tam kỳ, Vĩnh An đổ ra sông Trường Giang, là dòng sông nước lợ chạy dọc ven biển, bắt nguồn từ Duy Xuyên, qua Thăng Bình, đến Tam Kỳ, Núi Thành và cuối cùng đổ ra cửa An Hòa[1, tr.14-15] Ngày xưa các của sông, cửa biển là nơi tập trung các phương tiện giao thông, nơi tập trung trung buôn bán của cư dân Nên không mấy lạ lẫm khi các đô thị lớn của Quảng Nam-Đà Nẵng đều năm gần các con sông lớn Từ thế kỉ XVI đến TKXVIII

Trang 13

cảng biển Cửa Đại-Hội An đã là trung tâm giao lưu thương mại văn hóa của cả vùng Đông Nam Á với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Phương Tây

Đường bờ biển Quảng Nam-Đà Nẵng có tổng chiều dài là 175km trong đó

Đà Nẵng chiếm 50km và Quảng Nam chiếm 125km Ở đây khi nghiên cứu ca dao Miền Biển thì không thể tách rời vùng Quảng Nam-Đà Nẵng, vì trong lịch sử hai vùng ngày có chung nguồn gốc về văn hóa và thống nhất trong tâm thức văn hóa bao đời nay Dọc ven biển có nhiều vịnh nước sâu có thể tận dụng để xây dựng cảng biển, hiện nay có rất nhiều cảng biển có tiềm năng đang được khai thác như Cảng

Tiên Sa, Cảng Kì Hà, cụm cảng Liên Chiểu-Dung Quất.Bên cạnh đó vùng biển này

còn có những đảo, bán đảo và quần đảo nổi tiếng như bán đảo Sơn Trà, quần đảo

Hoàng Sa, đặc biệt là Cù Lao Chàm một vùng sinh thái trù phú

Về đặc điểm khí hậu, Quảng Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chỉ

có hai mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng trực tiếp của mùa đông lạnh miền Bắc Từ tháng 5 đến tháng 10, gió Tây Nam Ðông Bắc mang hơi nước từ vịnh Thái Lan vào, nhưng bị dãy Trường Sơn ngăn lại, nên không mưa và ngược lại, mang hơi nóng của vùng núi Vôi Ðồng Chum của Lào qua, nên rất oi bức (Gió Lào).Từ tháng 11 đến tháng 4; gió Ðông Bắc Tây Nam (Gió Bấc) mang gió buốt từ phương Bắc, cộng thêm hơi nước biển Nam Hải xuống, bị dãy Trung Sơn ngăn lại, nên mưa nhiều, giá lạnh và lụt lội liên miên, gây thiệt hại cho mùa màng

Nhiệt độ trung bình năm là 24,5C, mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể dưới 20C, vào đầu mùa đông gió mùa Đông Bắc thường gây mưa to đến mưa vừa Lượng mưa trung bình năm đo được khoảng 2000-2500mm, nhưng phân bố không đồng đều theo thời gian và không gian, mưa tập trung ở miền núi nhiều hơn đồng bằng Mưa tập trung vào tháng 9-12, mùa mưa trùng với mùa bão, nên thường xảy

ra hiện tượng sạc lở đất ở trung du và miền núi vào mùa mưa Thiên nhiên ở đây tuy khắc nghiệt nhưng vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi để người dân có thể canh tác, trồng trọt, vào mùa lũ thì phù sa ở các con sông mang lại làm cho đất đai ở đây thêm màu mỡ, cây trái tươi tốt

Về mặt thổ nhưỡng, đất đai ở đây khá đa dạng, mỗi khu vực tập trung những

Trang 14

loại đất khác nhau Vùng đồi núi thì có đất feralit vàng, vùng đồng bằng thì có loại đất phù sa màu mỡ từ các con sông, nhưng hầu hết đồng bằng ở đây đều nhỏ hẹp do

bị chia cắt bởi các vùng đồi núi nhỏ Vùng ven biển thì có đất cồn cát và đất cát ven biển, phần lớn đất này bỏ trống hoặc để trồng rừng phòng hộ chống sự xâm lấm của cát biển Ở các cửa biển chủ yếu phân bố nhóm đất mặn và đất phèn, nó được hình thành do sự xâm lấn của nước triều mặn Nơi đây tập trung chủ yếu các loại động thực vật nước lợ rất đa dạng, người dân chủ yếu sử dụng diện tích đất này để nuôi trồng thủy sản

Tài nguyên thiên nhiên gồm có tài nguyên khoáng sản và tài nguyên biển Khoáng sản ở Quảng Nam phong phú đa dạng như vàng ở Bồng Miêu, than đá ở Nông Sơn, các mỏ các trắng, titan ở vùng Núi Thành Tài nguyên biển so với tài nguyên khoáng sản thì dồi dào hơn, phần lớn là lợi nhuận của ngư thu được từ việc đánh bắt xa bờ và nuôi trồng thủy sản ở những vùng ven biển Nguồn nước lợ ở cuối hai dòng sông Hàn và sông Trường Giang cộng với các đầm nước lợ ở vùng cửa biển Cửa Đại Hội An, Cửa Lở-An Hòa Nguồn nước lợ này được sử dụng để nuôi tôm và trồng rong câu, mỗi năm cho sản lượng hàng nghìn tấn Đặc biệt trên toàn bộ sông Trường Giang và một phần sông Hàn có thể xen vụ nuôi cá vượt và tôm hai loại thủy sản có giá trị kinh tế lớn Các vùng đấm phá nước lợ ven biển ngoài việc nuôi tôm và trồng rong câu còn có thể nuôi trai, ốc, sò Trong rừng nước

lợ thì tập trung hầu hết các loại cây như mắm, cây bần, sú, vẹt thu hút rất nhiều loài chim quý hiếm đến đây làm tổ, sinh sôi, phát triển Rừng không chỉ là nơi sinh sôi của động vật mà còn là nơi chắn gió, giữ gìn cấu trúc cảnh vật ven biển, chống xói mòn, xử lí chất độc từ nước và góp phần vào cải tạo bầu không khí trong lành

Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu là câu nói được người dân nơi đây ca tụng về vùng đất này, rừng đem lại những sản vật vô cùng quý giá, biển lại là nguồn sống phong phú cho mỗi cư dân sống ven biển Hằng năm khu vực biển Quảng Nam-Đà Nẵng cung cấp từ 30000 đến 40000 tấn hải sản các loại, trong đó có khoảng một nghìn tấn tôm và hơn 2000 tấn mực trên một năm Vùng biển nơi đây rất phong phú về các loại sinh vật biển như cua, ghẹ, các loại nhuyễn thể thân trần

Trang 15

hay nhuyễn thể vỏ cứng như hải sâm, bào ngư, sò, ốc, khai thác được vài ngàn tấn mỗi năm Phần còn lại là các loại cá như cá nổi, cá nục, cá chuồn, cá trích, cá ngừ,

cá chim, cá thu Vùng dưới đáy biển thì có các loại cá có giá trị kinh tế cao như cá hồng, cá mú, cá bánh đường, cá phèn, cá đục, cá mối Ngư dân sống chủ yếu bằng nghề khai thác, đánh bắt thủy hải sản, bên cạnh đó họ còn biết khai thác các loại rong tảo, rong mực, rong mơ sản lượng đến vài nghìn tấn mỗi năm Điều hạn chế sản lượng thủy sản thu được mỗi năm là ngư cụ và phương tiện đánh bắt truyền thống, còn thô sơ chưa đem lại hiệu quả và năng suất chất lượng cao

Sản vật thiên nhiên thì vô cùng phong phú nhưng thực sự rất thiếu sót khi không nhắc đến sản vật nổi tiếng nơi đây là yến sào Các vua chúa ngày xưa thì đã biết đến công dụng của yến sào trong việc bồi dưỡng sức khỏe và nhan sắc, biết được người ở huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa có nghề chuyên tìm kiếm yến sào nên mỗi năm bắt họ cống nạp vài nghìn tổ yến Yến sào được khai thác nhiều nhất ở vùng Cù Lao Chàm, nơi có những vách đá cao thuận lợi cho chim yến làm tổ, Đảo Yến là nơi chim yến tập trung về đây đông đúc, mỗi năm ngư dân khai thác từ 1 đến 1,5 triệu tấn Cùng với nghề khai thác yến sào thì nghề làm muối cũng có lịch sử từ rất lâu đời, hai vùng làm muối chính của tỉnh là Núi Thành và Hội An Những ruộng muối trắng trải dài ven biển thấm đẫm nỗi nhọc nhằn gian khổ của mỗi người dân làm muối

Nhắc đến miền Trung người ta nghĩ đến những đồi cát trắng mênh mông trải dài vô tận Trầm tích biển từ hàng nghìn năm cùng với sự mài mòn của những vùng

đá thượng nguồn các con sông cuốn về phía hạ lưu tạo thành những dải cát trắng Bao nhiêu thế hệ người dân biển miền Trung sinh ra và lớn lên bên những đồi cát trắng, đâu ai ngờ đây cũng là một loại khoáng sản có giá trị mà thiên nhiên ban tặng Những dải cát mênh mông vô tận như trên sa mạc mang đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên, không cây cối, thiếu vắng sự xuất hiện của sự sống Điều này một phần nhỏ phản ánh cuộc sống vất vả, nhọc nhằn, cuộc sống hằng ngày phải đối mặt với sự bấp bênh của vùng đất lắm ưu đãi những cũng chất chồng khó khăn.Người dân vùng biển Quảng Nam qua bao thăng trầm của thời gian vẫn bám trụ trên mảnh

Trang 16

đất quê hương đầy nắng gió Bởi quê hương trong tâm thức của mỗi người dân vẫn

là nơi khởi nguồn của số phận, nguồn sống đã nuôi dưỡng biết bao nhiêu thế hệ cha ông Vùng đất không phụ lòng những con người có lòng, có ý chí và nghị lực vươn lên

1.1.2.Lịch sử hình thành và phát triển của cư dân vùng biển

Quảng Nam vùng đất mới gắn liền với những di sản văn hóa và những dấu mốc quan trọng lịch sử dựng nước của dân tộc Việt Nam Bởi vì lí do đó mà từ lâu Quảng Nam đã mang trong trong mình những nét đặc trưng về văn hóa độc đáo mà không lẫn lộn với bất cứ địa phương nào Sự giao thoa tiếp biến giữa nhiều nền văn hóa Đại Việt, Trung Quốc, Ấn Độ đã tạo ra nét rắn rỏi của người đàn ông và sự đằm thắm dịu dàng ở người phụ nữ Xứ Quảng Đất nước ta có hơn 4000 năm lịch sử thì Quảng Nam cùng đã có 500 năm phát triển Để nói về lịch sử ra đời của vùng đất Quảng Nam đầu tiên ta phải nhắc đến những cuộc xuất chinh mở mang bờ cõi của ông cha ta Năm 1069 vua Lí Thánh Tông vượt đèo Ngang thân chinh Chiêm Thành, Chế Củ phải dâng 3 châu là Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính tương đương với địa phận Quảng Nam đến Bình Định ngày nay Bắt đầu từ đó có sự giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của nhân loại là Trung Quốc và Ấn Độ trên vùng đất miền Trung này Năm 1282 Toa Đô tiến đánh Chiêm Thành qua đường thủy chiếm thành

Đồ Bàn Năm 1285, Trần Nhân Tông phản công đánh bại Thoát Hoan, chém đầu Toa Đô, Chiêm Thành được giải phóng Trong chuyến vân du Chiêm Thành, Trần Nhân Tông hứa gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chế Mân, ông vua Chiêm Thành này đã hào phóng dâng Châu Ô và Châu Lý để làm sính lễ Thuở ấy lưu dân vào Xử Quảng chủ yếu là lưu dân chủ yếu đi bằng đường bộ và đường thủy, đàn ông thì khuân vát đi bộ còn đà bà, trẻ nhỏ thì di chuyển bằng ghe, xuồng Đến đời nhà Hồ sau nhiều lần giao tranh, thương thảo, năm 1402 vua Chiêm Thành là Ba Đích đã nhường Chiêm Động, Cổ Lũy cho nhà Hồ Vùng đất này được chia làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư Nghĩa và đặt An phủ sứ điều hành công việc

Năm 1407, quân Minh đến hỗ trợ Chiêm Thành lấy lại đất cũ, chính quyền Chiêm Thành lấn ra tới vùng Thuận Hóa Đến năm 1470 có một sự kiện quan trọng

Trang 17

liên quan đến bước đường Nam Tiến, đích thân vua Lê Thánh Tôn cầm quân chinh phạt những cuộc loạn quân, giặc giã ở vùng biên giới Việt-Chiêm Thành Năm 1471 nhà vua đã lấy đất ấy đặt làm Quảng Nam thừa tuyên chia thành ba phủ Thăng Hoa,

Tư Nghĩa và Hòa Nhơn Ta có thể hiểu Quảng là rộng , Nam là chỉ vùng đất ở phương Nam[15, tr.18]

Như vậy địa danh Quảng Nam có từ năm 1471 và do vua Lê Thánh Tôn đặt.Phần lớn người dân Quảng Nam có quê gốc ở miền Bắc mà chủ yếu là vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh một số đến từ Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên Ở các triều đại nhà Hồ và nhà Lê đều có những cuộc di dân rầm rộ Nhất là vào thời Nguyễn Hoàng có những đợt khai phá có quy mô lớn, Chúa Nguyễn đã sử dụng nhiều chính sách ưu đãi như ban thưởng nhiều ruộng đất cho những người có công khai khẩn được nhiều ruộng đất hoang, hay khuyến khích người dân khai khẩn để tạo thành tư hữu Ngoài ra triều đình còn bắt tù binh và nông dân vào vùng đất mới

để lập ấp, cung cấp nông cụ để khẩn hoang Chính vì việc khai hoang có kế hoạch

và tổ chức mà chỉ sau vài chục năm nơi đây đã trở thành vùng đất trù phú, nơi an cư lập nghiệp của nhiều người dân đến từ phía Bắc Số lượng ruộng của tư điền ngày càng nhiều, ruộng lúa thì ngày càng màu mỡ, năng xuất lúa thì không ngừng tăng cao, đồng thời kèm theo đó thì chủ đất ngày càng nhiều Đến khi làng xã được thành lập những người đầu tiên vào khai phá những bậc tiền hiền có công có nhiều ruộng đất, trở thành người chiếm ưu thế và được cử làm lí trưởng, xã trưởng, người nắm giữ quyền hạn Những người đến sau thì không có ruộng đất, đến khai hoang đất mới thì không dễ dàng gì, vì không có phương tiện nên đành phải làm thuê, làm mướn nộp hoa lợi mỗi năm Một số người thì chọn vùng sông nước để gắn bó, hành nghề chài lưới đánh bắt tôm cá, lập thành những vạn đò ven sông Vùng đất này trở nên quá chật chội cho những người đến sau, họ có xu hướng lùi dẫn về phía ven biển và bắt đầu khai phá những vùng cát trắng này, đây chính là những cư dân đầu tiên của vùng biển Quảng Nam Vùng đất mới còn chồng chất những khó khăn, biển đâu phải lúc nào cũng sóng yên biển lặng mà luôn gầm gừ dậy sóng, oằn mình hứng chịu những cơn bão dữ dội Khi mới đặt chân đến vùng biển này, kinh nghiệm còn

Trang 18

chưa nhiều, hầu hết ngư dân chỉ đánh bắt bằng những dụng cụ thô sơ, năng suất không cao, phải lúc trời yên biển mới có thể đánh bắt Và cứ thế cuộc sống khó khăn cứ tiếp diễn từ đời này sang đời khác Nhưng không phải vì thế mà nơi đây thưa thớt dân cư, hằng năm vẫn có rất nhiều người đến đây để lập nghiệp, bám trụ

và cố gắng làm giàu trên mảnh đất đầy nắng gió này

Cho đến ngày nay thì dọc vùng bờ biển Quảng Nam tập trung rất đông đúc các làng chài lớn, cư dân biển thì ngày càng đông đúc Những người dân nơi đây đã sống cả đời với ý chí và nghị lực phi thường, đương đầu với đầu sóng ngọn gió càng nung nấu trong họ bản lĩnh vượt lên số phận, chinh phục thiên nhiên Từ ngày mới đặt chân đến đây để lập nghiệp những người ngư dân phải lao động không ngừng nghỉ để có thể tồn tại và phát triển đông đúc, xung tụ như các làng chài ven biển như hiện nay

Những làng chài ven biển cũng đó lịch sử vài trăm năm, cũng đã trải qua hết những thăng trầm, biến động của lịch sử dân tộc Trải qua 1000 năm phong kiến đất nước ta phải tiếp tục chịu sự nô dịch, thống trị của bọn thực dân đế quốc Cuộc sống

đã chất chồng những cực khổ còn phải gánh thêm sưu cao, thuế nặng,người dân rơi vào cảnh lầm than, cơ cực Chính bởi những lí do đó mà trải qua gần nhiều thế kỉ

mà cuộc sống của đại đa số ngư dân vẫn không thể cải thiện được Nghề đánh cá trên sông hầu hết chỉ có nghề lưới bén, rớ chồ, rớ thuyền, bát giã, để nom, đi câu Sản phẩm thu được cũng chỉ là những loại cá thông thường không mang lại giá trị cao về kinh tế Cư dân vùng biển thì đã có tiến bộ hơn về ngư cụ, họ đã sắm được

bộ đồ nghề đi biển như giá, câu,te, vét, xiệp, xịch, vây, rê… Thuyền lớn dùng để đánh bắt xa bờ thì ngày càng được cải tiến, kéo theo đó là nghề đóng thuyền, ghe bầu ngày càng phát triển, thuyền lớn có thể đi xa hơn, lâu hơn ngoài khơi Đa phần những người không có điều kiện đi xa để đánh bắt lại chiếm phần lớn ngư dân Họ chỉ có thể dùng thuyền nhỏ, dùng sức để chèo hay lợi dụng sức gió để đi, như thế thì chỉ đánh bắt được mười mấy câu số trên biển Nhìn lại quãng thời gian từ ngày đầu lập nghiệp đến nay, thì cuộc sống của những người dân chài tuy đã có tiến bộ hơn nhưng vẫn còn rất vật chật vật, bấp bênh, nguy hiểm “Sinh nghề tử nghiệp” là câu

Trang 19

nói được cư dân truyền miệng nhau về số phận của những người đã bỏ mạng trong những chuyến khơi xa, cuộc sống dựa quá nhiều vào sự may rủi là rào cản lớn nhất trong sự phát triển của cư dân từ bao đời nay Bước vào thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta ngư dân vùng biển đã có những thay đổi tích cực về mọi mặt Nghề biển đã có một bước tiến lớn trong việc cơ giới hóa công cụ đánh bắt, kể

từ đó đến nay số lượng tàu thuyền và sản lượng cá không ngừng tăng Hiện nay Quảng Nam đã có khoảng 25 tàu cá có công suất từ 110cv trở lên, được trang bị những thiết bị hang hải hiện đại như máy định vị, tầm ngư, thông tin liên lạc tầm xa, máy bộ đàm Năm 1999 sản lượng khai thác thủy sản đạt 34160 triệu tấn, số lao động trên biển ngày càng tăng khoảng 20000 người[1,tr.46-47]

Ý thức làm chủ cuộc sống đã tôi luyện nên những con người bền gan, kiên cường Cuộc sống hôm nay được đánh đổi bằng những nỗ lực thực sự từ bản thân Tuy vẫn còn nhiều khó khăn thách thức với nghề biển hôm nay nhưng mỗi người dân vùng biển Quảng Nam vẫn tự hào với truyền thống của ông cha ta, luôn lấy đó làm tấm gương phấn đấu cho hôm nay

1.2.Khái niệm thi pháp và thi pháp ca dao

1.2.1.Khái niệm thi pháp

Theo Từ điển thuật ngữ văn họcthì thi pháphọc được hiểu “thi pháp học là

khoa học nghiên cứu về thi pháp, tức hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật.Xét tới các chỉnh thể mang thi pháp, có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp tác giả, thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học một thời đại, một thời kì lịch sử, thi pháp văn học dân tộc Xét các phương tiện, phương pháp nghệ thuật đã chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của của phong cách, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ” [2, tr.304]

Thi pháp là khái niệm Hán-Việt, thi là thơ, pháp là phương pháp, biện pháp, nghĩa là phương pháp nghệ thuật sáng tác thơ Thi pháp học là ngành khoa học

Trang 20

nghiên cứu phương pháp, biện pháp nghệ thuật thi ca Bên cạnh những khái quát chung về thi pháp còn có một số khái niệm triển khai chi tiết hơn Viện sĩ V Vinogradop: “Thi pháp là khoa học về hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương pháp tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, các kiểu cấu trúc và thể loại tác

phẩm văn học Theo Từ điển Bách khoa văn học giảng yếu Nga định nghĩa “Thi

pháp là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống phương tiện thẫm mĩ

mà chúng sử dụng” MB.Khrapchenco cho rằng “ Thi pháp học như bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá nghệ thuật bằng hình tượng” [16,tr.18]

Theo cách hiểu hiện nay, thi pháp là phương pháp nghiên cứu, tiếp cận, tức

là nghiên cứu phê bình tác phẩm văn học từ những hình thức biểu hiện bằng ngôn

từ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm, ý nghĩa

mỹ học, triết học, đạo đức Có người quan niệm thi pháp là sự tổng hợp của các thành tố của hình thức nghệ thuật của các tác phẩm ngôn từ: cốt truyện, kết cấu các hiện tượng ngôn ngữ nghệ thuật, nhịp và vần Còn hiểu theo nghĩa rộng, thi pháp không chỉ là những thành tố kể trên mà còn bao gồm cả những vấn đề loại hình, thể tài Những nguyên tắc và phương pháp phản ánh, các phạm trù không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tác giả về thế giới và con người

Mặc dù có rất nhiều quan niệm về thi pháp với mức độ rộng hẹp khác nhau nhưng mặt cốt lõi nghiên cứu thi pháp văn học là nhấn mạnh bản chất nghệ thuật của tác phẩm Xem xét tác phẩm văn học như là một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất giữa các thành tố, các cấp độ nghệ thuật

1.2.2.Khái niệm ca dao

Ca dao là một thuật ngữ Hán-Việt Theo từ nguyên, ca là bài hát có chương, khúc, giai điệu dùng để hát hoặc ngâm, dao là bài hát ngắn độ một vài câu Ca dao

là một bộ phận lớn trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam.Từ xa xưa, ở vùng nông thôn đã xuất hiện các bài hát đồng dao của những trẻ em mục đồng cưỡi trâu, thổi sáo và hát đồng dao Hình thức ca hát dân gian của người Việt xuất hiện

Trang 21

rất sớm nhưng đến cuối TKXIX, đầu TKXX tên gọi ca dao mới được xuất hiện

trong các công trình nghiên cứu biên soạn của các nhà Nho Trong Từ điển tiếng

Việt định nghĩa ca dao là một thuật ngữ chỉ loại “Thơ ca dân gian truyền miệng dưới

hình thức những câu hát theo một nhịp điệu nhất định[14,tr.132]

Về khái niệm ca dao Chu Xuân Diên viết “Theo cách hiểu thông thường thì

ca dao là lời ca của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca” [3,tr.411] Vì vậy ranh giới giữa ca dao và dân ca là không rõ ràng, sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ khác ở chỗ khi nói đến ca dao người ta nghĩ ngay đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến ca dao người ta nghĩ ngay đến những làn điệu những thể hát nhất định Như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát dân ca nào đó cứ tướt bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì sẽ đều là ca dao Thực ra ca dao được tạo ra từ hai nguồn, nguồn chủ yếu là từ lời của các bài hát dân gian và từ các sáng tác ngâm vịnh của quần chúng được hòa vào dòng chảy dân gian

Ngày xưa ca dao làm ra dùng để hát, lời lẽ trong ca dao chủ yếu nhằm mục đích bộc lộ tình cảm của chủ thể trữ tình cho nên ca dao với nội dung thiên về mặt tình cảm Ca dao được phổ biến rộng rãi và được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Ca dao có đặc trưng riêng về tính đặc thù của phương thức diễn xướng và lưu truyền trong dân gian

1.2.3 Khái niệm thi pháp ca dao

Thi pháp ca dao là toàn bộ các dạng thức, các phương tiện, phương pháp tổ chức tác phẩm ca dao Thi pháp ca dao bao gồm thi pháp của hình thức diễn xướng

và đặc trưng nghệ thuật ngôn từ Thi pháp ca dao khác với thi pháp thơ ở chỗ ca dao gắn với diễn xướng, là loại hình ngôn ngữ giao tiếp ứng xử, là các hình thức đối đáp giao duyên bằng thơ Vì thế thi pháp ngôn từ ca dao vừa là ngôn ngữ trau chuốt hình tượng của thơ vừa là ngôn ngữ nói thường ngày, ngôn ngữ hội thoại

Thi pháp ca dao thường đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ môtip, ngôn ngữ biểu tượng Ngôn ngữ ca dao chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa dân gian như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tri thức đời sống mà ngôn ngữ thơ ít biểu hiện

Trang 22

1.3 Không gian và thời gian trong ca dao

1.3.1.Khái niệm không gian nghệ thuật

Để tìm hiểu về khái niệm không gian nghệ thuật, đầu tiên cần hiểu thế nào là

không gian Trong cuốn Từ điển tiếng Việt đã đưa ra lí giải về không gian như sau:

“Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung quanh đời sống con người” [14, tr.656]

Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa: “Không gian nghệ thuật là hình

thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả trần trụi trong ca dao bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quán tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, nối tiếp,cao, thấp, xa, gần, rộng, dài tạo thành viễn cảnh nghệ thuật” [2,tr.162]

Trong cuốn Giáo trìnhdẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử đã cho rằng

“Không gian nghệ thuật chính là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật và cũng là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật” “Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, và bản thân người kể chuyện hay nhà thơ trữ tình cũng nhìn sự vật trong một khoảng cách, gốc nhìn nhất định Nhờ có điểm nhìn của chủ thể mà không gian có chiều cao-thấp, rộng-hẹp, xa – gần, sâu- cạn Có thể nói không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một phương diện nhất định của cuộc sống[16, tr.107-108]

Phạm Thu Yến trong cuốnNhững thế giới nghệ thuật ca dao đã đưa ra nhận

định của mình “Không gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp Vừa là đại lượng chỉ địa điểm, vừa gắn với trường điểm nhìn, môi trường hoạt động, không gian nghệ thuật trở thành một trường chiếm lĩnh đời sống, nhiều khi mang nghĩa biểu tượng nghệ thuật Là một hiện tượng nghệ thuật, không gian mang tính ước lệ, mang ý tưởng cảm xúc tâm tưởng”[20,tr.146]

Có thể khẳng định rằng không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, không gian nghệ thuật còn là môi trường hoạt động của nhân vật, được mô tả thông qua cái nhìn của nhà văn về thế giới quan Không gian nghệ thuật

Trang 23

khác với không gian hiện thực ngoài thực tế, không gian nghệ thuật rất trừu tượng

Đó là không gian tinh thần của con người, nơi chủ thể trữ tình có thể bộc lộ cảm xúc của mình Bởi vì vậy mà không gian nghệ thuật mang đậm tính chất chủ quan của chủ thể sáng tạo ra nó

1.3.2.Khái niệm thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật là một phạm trù của hình thức nghệ thuật thể hiện

phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Theo Từ điển thuật ngữ

văn họcLê Bá Hán đã định nghĩa “thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình

tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật”[2, tr.322]

Khác với thời gian của hiện thực khách quan, có khi thời gian nghệ thuật mang đậm tính chất chủ quan của chủ thể sáng tạo Thời gian được đo bằng nhiều thước đo khác nhau mà chủ yếu là thước đo tâm lí, có khi một trăm năm lại rất ngắn, có khi “ba thu dồn lại một ngày dài nghê”, thời gian cũng có thể là mùa gặp

gỡ, chia tay của đôi lúa yêu nhau, mùa lúa, hay mùa hoa phượng Thời gian nghệ thuật trong ca dao lại là thời gian diễn xướng, thời gian hiện tại

Như vậy thời gian là một yếu tố tạo nên hoàn cảnh, là một phương tiện nghệ thuật để chủ thể trữ tình có thể bộc lộ cảm xúc và tâm lí Mỗi giai đoạn lịch sử lại có những cảm thụ về thời gian khác nhau nhưng tựu chung lại nó đều nằm trong hệ quy chiếu với đời sống con người, không có thời gian nghệ thuật nào lại tách rời với đời sống con người

1.4.Đặc điểm ca dao Quảng Nam

1.4.1.Đặc điểm về nội dung

Ca dao cũng thực hiện chức năng cũng giống như văn học nói chung đều là hiện tượng ý thức của xã hội, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội từ lao động, xã hội, đến chính trị Nhưng nội dung của ca dao thường thiên về phản ánh đời sống tình cảm của người dân lao động Bởi vậy mà nội dung của ca dao Việt Nam nói chung và ca dao vùng miền biển Quảng Nam nói riêng là vô cùng phong phú.Ca

Trang 24

dao đã theo chân những con người khai hoang từ ngày đầu tiênvỡ đất, trên những cánh đồng hay ngoài khơi xa những câu hát được ngân lên xóa tan những mệt nhọc, làm cho đời sống tinh thần con người nhiều màu sắc hơn Qua những vần ca dao thế

hệ hôm nay đều ý thức được những gì có được đều do bàn tay lao động cần mẫn, nghị lực phi thường của con người Bởi vậy đề tài về sản xuất lao động cũng chiếm phần lớn trong kho tàng ca dao của người dân Quảng Nam Người dân Quảng Nam không chỉ sáng tác ra những câu ca dao để thỏa mãn những nhu cầu của tình cảm

mà còn để thỏa mãn nhu cầu lao động Trong lao động sản xuất, những câu ca dao

có tác dụng lên dây cót tinh thần, làm cho con người quên đi những nhọc nhằn, vất

vả trong cuộc sống Người dân miền biển lao động trên biển là chủ yếu, những tháng không ra khơi được người dân mới phải làm nông để đỡ đần cuộc sống gia đình:

Em nay nuôi dưỡng lợn gà Vào ra chăm sóc ớt,cà, chè, tiêu

Còn anh bám biển sớm chiều,

Ra khơi vào lộng, đủ điều chăm lo

Người dân biển Quảng Nam vẫn luôn tự hào với nghề mà đã nuôi sống con

Đêm mù sương, trăng sao không tỏ,

Ấy là điềm mưa gió tới nơi

Đêm nào sao sáng xanh trời,

Ấy là nắng mới mà người đợi trông

Trang 25

Những ai lo việc biển sông, Nhìn trời trông gió mà giong cánh buồm

Nhưng nghề biển với chống chất những khó khăn vất vả đâu dễ có được một cuộc sống giàu sang, sung túc:

Cha chài, mẹ lưới, con câu,

Ăn nhờ bọt biển lấy đâu mà giàu

Người dân miền biển thấm thía với nỗi nhọc nhằn, cực khổ với biển khơi Bởi vậy mà mỗi con người dân nơi đây đều trang bị cho mình một tinh thần vững chãi, lạc quan, yêu đời Hi vọng và đặt niềm tin vào thế hệ tương lai sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn

Người Quảng Nam có cách riêng để thể hiện niềm tự hàovề tình yêu quê hương đất nước Họ đã đem niềm tự hào đó gửi vào những câu ca dao mang địa danh, sản vật nổi tiếng của quê hương Nhìn vào quá khứ hào hùng mở đất của ông cha ta còn hiện lên rõ nét hàng vạn lớp người của buổi đầu Nam tiến,đuổi hùm, phá bụi, xé núi, đào sông, vỡ hoang, cầy cuốc Người dân Quảng Nam đã bước qua sự chết chóc của vùng đất hoang vu đề lập nghiệp và mở mang bờ cõi Vượt lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khắc phục sự khô cằn, sỏi đá của đất đại, rừng núi để

mở con đường sống và nuôi dưỡng lớp lớp những thế hệ con cháu về sau Đọc lại trang sử xưa, người dân Quảng Nam càng có quyền tự hào về vùng đất quê hương của mình Người Quảng Nam ý thức được rằng, mỗi mảnh đất là máu thịt thiêng liêng của tổ quốc, tổ quốc bắt nguồn từ quê hương, yêu quê hương, tự hào về quê hương cũng chính là tự hào về đất nước Người dân Quảng Nam đã ý thức sâu sắc được quyền làm chủ đất nước, sự trù phú, tươi đẹp của quê hương:

Quảng Nam là đất quê mình, Núi, đồng, sông, biển rành rành từ lâu

Thương yêu đùm bọc trước sau, Cùng trong Đại Việt cùng chung cơ đồ

“Trong lịch sử văn học dân gian Việt Nam, không phải đã có nhiều những vùng đất, tỉnh thành có được bài ca địa chí Vậy mà ở Quảng Nam có đến ba bài ca

Trang 26

địa chí rất hay, kể rõ sự hình thành của tỉnh, với những vùng đất, địa giới, núi sông, các khoáng sản, các thổ sản, những tên huyện, tên làng, tên trạm, và cả những nguồn phát nguyên của các dòng sông Dĩ nhiên, qua đó, người sáng tác dân gian cũng bày tỏ niềm tự hào chính đáng của nhân dân trước quê hương gấm vóc”[1,tr.57] Bởi vậy mà người dân Quảng Nam qua nhiều thế hệ vẫn tự hào về mảnh đất sinh đẹp, nhiều tài nguyên và những con người cần mẫn lao động xây dựng quê hương Không có nơi đâu mà những lời ca tiếng hát ca ngợi quê hương lại phong phú như ở nơi đây:

Quảng Nam có lụa Phú Bông,

Có khoai Trà Đã, có sông thu bồn

Tình cờ sao khéo tình cờ, Mới mơ hồi nãy, bây giờ gặp đây

Bao nhiêu mối tình thì có bây nhiêu hoàn cảnh gặp gỡ, chàng trai xứ Quảng không có lối nói vòng vo, mượn cảnh này gửi ý kia mà có cách thổ lộ khác độc đáo, mới mẻ hơn:

Mưa từ Bà Rén mưa ra, Mưa khắp thiên hạ, mưa qua Cẩm Hà

Đôi ta như cửa không nhà, May mô lại gặp cũng là nợ duyên

Trong tình yêu làm sao có thể thiếu những lời hứa hẹn tình yêu giữa hai người Tình yêu thì gắn liền với đồng lúa, với nương dâu, với biển cạn, đá mòn, đã yêu thi phải yêu mãnh liệt, thương nhớ khôn nguôi, đó chính là tính cách của những chàng trai cô gái xứ Quảng:

Trang 27

Tình yêu thương gươm trường không sợ, Súng nổ vào lòng duyên nợ không suông

Tiếng thời chịu tiếng cho luôn, Đem dao vàng cắt cổ máu tuôn cũng đành

Có thể nói ca dao đã ghi lại tất cả những chặng đường tình yêu, mọi khía cạnh, cảm xúc tâm trạng, những phút thăng hoa Lời ca chân thành giản dị, không khoa trương hình thức của các chàng trai cô gái càng làm tăng thêm dư vị tình yêu trong ca dao:

Thương nhau từ thuở giữ bò, Hai vai gánh nặng con đò song song

Thương nhau như như vải như bông, Như tằm như kén như đồng lúa xanh

Nhưng đâu phải tình yêu nào cũng êm đềm, có thể vượt qua mọi thử thách, trở ngại đề có thể đến với nhau đâu Cũng có tình yêu tan vỡ, lỗi lời hẹn ước trăm năm Bởi vậy ca dao không chỉ là nơi gửi gắm tình yêu mà còn là nơi gửi gắm những phiền muộn về tình yêu không thành, tan vỡ hay chia lìa:

Ngắt bông sen còn vương tơ ống, Cắt dây tình nào có dao đâu,

Ai làm cho ta phải xa nhau, Bông sen rụng hết cũng để cái hương đầu cho ai

Trang 28

hiện được thái độ tách bạch, rõ ràng giữa tiền bạc và tình cảm:

Chim xanh ăn trái ổi tàu, Xứng đôi mẹ gả, ham giàu làm chi

Tình yêu trong ca dao Quảng Nam đa dạng, nhiều màu sắc cũng như đời sống tinh thần của họ vậy Những con người thường xuyên phải vậtlộn với thiên nhiên, nếm trải mọi thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên lại có những cách bày tỏ tình yêu thật đặc biệt Tình yêu gửi gắm qua ca dao như một dư vị của cuộc sống tinh thần, nuôi dưỡng con người qua hàng thế hệ

Từ những câu hát bình dị, mộc mạc đời thường, người dân Quảng Nam lại gửi gắm vào đó những triết lý về con người và cuộc đời:

Lòng người thăm thăm mù khơi, Không bờ không bến biết mô mà dò

Lòng người thăm thẳm sao đo,

Ai đo dài ngắn, ai dò cạn sâu

Ngoài nội dung về tình yêu, tình cảm với quê hương đất nước, lao động, triết

lí, ca dao Quảng Nam còn đề cập rất nhiều đến cuộc chiến tranh chống áp bức và xâm lược của dân tộc Quảng Nam nổi tiếng vùng đất của những anh hùng, truyền thống yêu nước đã thấm vào máu thịt của những con người nơi đây Trong thời kì kháng chiến xuất hiện rất nhiều bài ca dao nói về nỗi thống khổ của nhân dân dưới hai tầng xiềng xích thực dân và phong kiến:

Vì đâu cực khổ cuộc đời,

Vì đâu sưu thuế, đòn roi bao lần

Vì quân cướp nước bạo tàn,

Vì phường bán nước cầu an mấy đời

Nỗi khổ lớn nhất không phải vì sưu cao, thuế nặng, cái ăn cái mặc mà chính

là tấm thân nô lệ, mất tự do, mất đi chủ quyền Đã mất đi tự do là mất tất cả, những con người Quảng Nam luôn ý thức rất mãnh liệt về điều đó

Tiền dư thì bớt ăn quà,

Để may chiếc áo gửi ra chiến trường

Trang 29

Áo dư chớ chất đầy rương,

Nỡ quên chiến sĩ gió sương lạnh lùng

Dù cuộc sống nghèo đói, cực khổ người dân Quảng Nam luôn dành trọn cái tình cho chiến sĩ chiến đấu vì tổ quốc Chỉ là một manh áo mỏng cũng thể hiện được tình cảm của mình với những người hi sinh vì tổ quốc Mỗi con người nơi đây luôn

có niềm tin sắt đá vào ngày đất nước thống nhất Bắc Nam sumhọp một nhà

1.4.2.Đặc điểm về nghệ thuật

Đa số các bài ca dao được sáng tác theo thể thơ lục bát Thể thơ được coi là đặc trưng của dân tộc, lục bát là thể thơ dân tộc mang đậm bản sắc và phong vị quê hương Thơ lục bát rất dễ thuộc và dễ nhớ vì lời thơ giản dị, mộc mạc, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Câu thơ đọc lên mà cứ ngỡ là câu hát hay một bản nhạc, vừa có vần vừa có điệu nghe rất thanh thoát và êm tai

Trong ca dao Quảng Nam một số bài thơ vẫn giữ được cách hiệp vần của thể

thơ lục bát (chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ 6 của câu bát):

Mặt trời tang tảng rạng đông, Chàng ơi thức dậy ra đồng kẻo trưa

Hay:

Muốn về Trà Quế trồng rau,

Sợ e gánh nước hai gàu không quen

Tuy ở một số bài vẫn giữ được cách gieo vần của thể lục bát, nhưng đa số đều được biến tấu một cách da dạng hơn Có thể chữ thứ sáu của câu lục vần với chữ thứ tư của câu bát:

Ai về có nhớ Bàn Than, Nhớ đường biển Rạn, hòn Mang sóng trào

Nhưng đến Quảng Nam thì những câu ca dao giữ nguyên thể lục bát không con nhiều nữa Đến đây những câu thơ lục bát được biến tấu một cách sinh động, vượt ra khỏi khuôn khổ lục bát Điều đó thể hiện được sự biến đổi sinh động của ngôn ngữ, đời sống và cách bày tỏ tình cảm đặc biệt của người dân nơi đây:

Trang 30

- Thân em như thể bông hường, Anh xem cho kỹ kẻo mắc đường chông gai

- Bữa nay anh gối tay nàng, Đến mai ra biển anh gối dàn dây neo

Bên cạnh thể thơ lục bát người dân Quảng Nam còn sử dụng thể song thất lục bát Bởi đời sống tinh thần quá phong phú, sôi nổi, dâng trào trong lòng mỗi khi sáng tác, những khuôn khổ gò bó không thể diễn tả được hết tình ý sâu xa nên phải phá vỡ cái khung đó Những câu da cao được sáng tác theo thể song thất lục bát lại rất tinh tế, sâu sắc:

Trăng trên trời khi tròn khi khuyết, Người ở đời lúc thịnh lúc suy,

Em ơi, phân biệt làm chi, Khi nằm buồn gói khi đi xúc bùn

Đặc biệt trong ca dao Quảng Nam sử dụng rất nhiều hình ảnh so sánh, ẩn dụ lấy từ đời sống hoặc thiên nhiên So sánh là việc đối chiếu sự vật này với sự vật khác dựa trên những đặc điểm giống nhau nào đó giữa hai sự vật nhằm tạo nên những hình ảnh nghệ thuật mới mẻ So sánh ở đây có rất nhiều loại, có thể là so sánh trực tiếp hai hiện tượng khác loại nhưng có chung đặc điểm Hình ảnh so sánh thường bắt gặp trong lời nói của các chàng trai cô gái khi đối đáp trao duyên:

Anh nói với em như rựa chém xuống đất, như mật rót vào chai

Chuyện để ngoài tai, không đem vào trong dạ, không gài vào trong tâm

Thương ai chẳng lẽ thương thầm, Thương thời rượi hũ trầu mâm tới nhà

Trang 31

Cùng với so sánh thì ẩn dụ tượng tượng trưng cũng được sử dụng khá phổ biến Biện pháp này làm cho bài ca dao được rút ngắn và do đó trở nên hàm súc, cô đọng hơn Người dân miền biển Quảng Nam thường sử dụng hình ảnh thuyền và biển, sông bể, để nói lên tình yêu đôi lứa trong sáng, đẹp đẽ, khăn khít giữa hai người:

Sông biển cạn lòng em không cạn, Đất lỡ gành bồi, nghĩa bạn không phai

Hay:

Đò đầy biển rộng khoan sang,

Đỡ nâng vách lá cậy chàng một phen

Những hình ảnh ẩn dụ, so sánh hầu hết đều được lấy từ cuộc sống đời thường hay từ thiên nhiên, vũ trụ Có những hình ảnh đã rất quen thuộc trong ca dao như hình ảnh con cò, thuyền, biển, sông núi Đồng thời cũng có những hình ảnh rất mới

lạ mà ta chỉ bắt gặp trong ca dao Quảng Nam mà thôi:

Sông Trường Giang chảy qua trước ngõ,

Em có về qua ngõ nhà anh?

Dòng sông rợp những cánh buồm, Sớm mai Nam lại, chiều Nồm thổi lên

Về mặt ngôn ngữ, ca dao vừa là ngôn ngữ thơ vừa là ngôn ngữ giao tiếp, có

cả cấu trúc lời đơn và đối đáp hội thoại Ngôn ngữ trong ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Ngôn ngữ trong ca dao thường mang cách nói ý nhị, trau chuốt, mượt mà, ngôn ngữ rất đời thường nhưng lại đầy chất thơ:

Cuộc đời lắm lúc đổi thay, Nhưng tình quê chẳng đổi thanh bao giờ

Cẩm An xinh đẹp như thơ,

Có dòng sông nhỏ bên bờ dừa xanh

Hay câu dưới đây sử dụng ngôn ngữ đối thoại, lời đối thoại của đôi trai gái yêu nhau, thề nguyền, hẹn ước Ngôn ngữ đối thoại rất giản dị, mộc mạc những chuyển tải được hết ý nhị, tâm tư của chủ thể trữ tình:

Trang 32

Anh thề với em ba năm anh không lấy vợ,

Em thề với anh sáu tháng em không lấy chồng

Dắt nhau lên miếu tơ hồng, Anh có vợ thì anh chết, em có chồng thì em điên

Đặc điểm thứ hai về ngôn ngữ trong ca dao Quảng Nam là sử dụng nhiều từ địa phương hay còn gọi là phương ngữ Đây không chỉ là đặc điểm trong ca dao ở Quảng Nam mà là đặc điểm chung của ca dao ở tất cả vùng miền trong cả nước Phương ngữ là biểu hiện đặc thù của lời ăn tiếng nói của cư dân ở mỗi vùng miền, đây là nét đặc trưng ngôn ngữ riêng biệt được phân định rõ ràng trong quá trình hình thành vùng miền địa lý:

- Đa tình chi(gì) rứa hỡi trăng,

Nửa trăng núi nọ, nửa giằng sông kia

- Ra về răng( sao) được mà đành,

Ra về bỏ tấm lưới mành ai đan

- Ai về đất Quế làm dâu,

Ăn cơm ghế( trộn) mít hát câu ân tình

- Gặp nhau đường vắng hỏi han,

Tiếc lời ăn tiếng nói,día(thương nhau) với dạng( qua lại) mặn nồng.[1, tr.168]

Ca dao Quảng Nam đặc biệt sử dụng rất nhiều những phương ngữ như: chi,

mô, răng, rứa, ổng, tê.Đặc biệt ca dao của ngư dân miền biển lại sử dụng rất nhiều những từ nghề nghiệp như: thúng, ghe, chài, lưới, lộng, neo, buồm:

- Bữa nay anh gối tay nàng,

Đến mai ra biển anh gối dàn dây neo

- Bữa nay buồm kéo neo treo,

Khuyên em ở lại để anh theo cho kịp đoàn

Quảng Nam một vùng đất nhận được nhiều sự ưu đãi của thiên nhiên Tuy là một vùng đất mới nhưng Quảng Nam đã có những tiến rất nhanh trong lịch hình thành và phát triển Người Quảng Nam với vẻ đẹp đằm thắm, mặn mà góp phần tạo nên dấu ấn về một vùng văn hóa dân gian không thể phai mờ Với những câu ca dao

Trang 33

mang đậm chất nghệ thuật người Quảng Nam đã thể hiện đời sống tinh thần đầy màu sắc để làm phong phú hơn cho những sắc màu cuộc sống Khi tìm hiểu về ca dao ta phải nắm được khái niệm và nguồn gốc của ca dao Ca dao là một nét đẹp trong văn hóa của mỗi vùng miền, khi nghiên cứu về ca dao lại có những cách tiếp cận khác nhau Không gian và thời gian là những yếu tố của thi pháp học, vì vậy cần tìm hiểu khái niệm để nhận biết được chính xác thế nào là không gian và thời gian nghệ thuật Nắm được đặc điểm của ca dao Quảng Nam là hiểu được đặc điểm

về mặt nội dung và nghệ thuật Nội dung của ca dao Quảng Nam rất đa dạng và phong, những đề tài trong ca dao đều được lấy từ cuộc sống sinh động, đầy màu sắc của người dân Quảng Nam Về mặt đặc điểm nghệ thuật của ca dao Quảng Nam bao gồm những đặc điểm về thể thơ, các biện pháp nghệ thuật, ngôn ngữ

Trang 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG CA DAO QUẢNG NAM

2.1 Các loại không gian trong ca dao Quảng Nam

2.1.1.Không gian vũ trụ, tự nhiên

Không gian vũ trụ, tự nhiên là không gian bao la rộng lớn gắn liền với trời đất, thiên nhiên Không gian vũ trụ, tự nhiên được thể hiện rất đa dạng trong ca dao Quảng Nam Không gian vũ trụ thiên nhiên bao gồm cả, trời, đất, mây, gió, núi, sông, cỏ cây tất cả những gì thuộc về tự nhiên Không gian vũ trụ, tự nhiên đưa vào

ca dao để khắc họa thêm cho vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây Không gian vũ trụ, tự nhiên là cái nền tồn tại của vạn vật, ở đó diễn ra mọi hoạt động để tồn tại và duy trì

sự sống Bởi vậy mà không gian tự vũ trụ, tự nhiên quan hệ gắn bó mật thiết với đời sống con người

Bằng cảm quan thẩm mĩ tinh tế, chủ thể đã nhìn tự nhiên vũ trụ với một vẻ mới lạ, độc đáo hoàn toàn so với không gian thực tại Phần lớn các lời ca dao miền biển đều nhắc đến không gian biển cả mênh mông, không gian mang tầm vóc vũ trụ Không gian vũ trụ thường được gắn với những tín ngưỡng tâm linh, niềm tin vào trời đất, thần linh Nông dân này xưa xem “trời” là tất cả, sướng khổ, sống chết cũng là do số trời Bởi vậy mà không gian vũ trụ thường được đi liền với “trời”,

“trời cao”, “trên trời”, “trời sinh”, “trời mưa” Những từ này thường gắn với nỗi niềm của con người về cuộc sống, đây cũng là những lời than thân trách phận, cầu mong:

- Trời cao cao bấy không xa Đất kia dẫu rộng nhưng mà dày sâu Biển xa mây nước mù mù

Biết mô cửa lạch, biết đâu sông cùng?

- Ra khơi bữa có bữa không, Lạy trời đừng để tố giông cho mình

Trang 35

- Không lo chi áo cụt tay, Ông trời kia ngó lại lụa may mấy hồi

- Em về chẳng có chi đưa, Trông trời hửng nắng đừng mưa trơn đường

- Trời mưa nước nhỏ đuôi tranh, Hết mưa nước đứng, trăng thanh gió dừng

Ơn đền nghĩa trả người dưng, Đường chông gai khó bước, bạn đừng trách ta

- Trời ơi khoan sáng hỡi trời

Để người bạn cũ trao lời cùng ta

- Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết

Người ở đời có khi thiệt khi sai

- Ngó lên trên trời, trời cao lồng lộng

Ngó xuống dưới đất, trời rộng cát rời

Thấy người thương quá người ơi,

Vợ con chưa có đứng ngồi không yên

Trong ca dao miền biển Quảng Nam không khó để bắt gặp những hình ảnh hùng vĩ của núi non, sông nước Cái không gian phải “dào dạt sóng xanh”, “bao la biển cả” mới có thể biểu đạt hết cái tình ý của con người:

Non cao biển cả Con chim tra trả đi tìm mồi Khi mô vật đổi sao dời Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

Thiên nhiên trong ca dao Quảng Nam không bao giờ vắng mặt những Cù Lao lênh đênh giữa biển khơi Đó là một trong những cảnh đẹp mà không phải nơi nào cũng có được:

- Cù Lao cơm gắm mắm cà Rừng trầu, câu rễ em đà biết chưa?

- Cù Lao đảo nhỏ quê ta

Trang 36

Dạt dào sóng biển, thuyền ra thuyền vào

Đêm đêm nằm ngửa trông sao, Trông cho biển lặng cá vào đầy ghe

- Rủ nhau cơm gói ra Hòn Muốn ăn được yến phải lòn hàng Khô

Không gian biển cả xuất hiện rất nhiều trong ca dao Quảng Nam, cũng không mấy lạ lẫm khi con người luôn lao động và gắn bó với biển, biển đã trở thành một phần trong đời sống tinh thần của họ Không gian biển thường gắn với sự rộng lớn, mênh mông, ca xa vời vợi:

- Trông xa, xa tít chân trời, Biển xanh sóng vỗ bồi hồi dạ em

- Bao giờ cho sóng bỏ gành,

Cù lao bỏ biển thì anh mới bỏ nàng

- Biển Đông sóng dợn cát đừa Sánh đôi chẳng đặng, lên chùa đi tu

Quảng Nam là một vùng đất nhận được sự ưu đãi lớn của thiên nhiên Không chỉ có núi non, hùng vĩ mà còn có những con sông nhỏ, hiền hòa uốn lượn quanh co qua những dạy núi, tạo nên vẻ đẹp sơn thủy hữu tình:

- Cuộc đời lắm lúc đổi thay, Nhưng tình quê chẳng đổi thay bao giờ

Cẩm An xinh đẹp như thơ,

Có dòng sông nhỏ bên bờ dừa xanh

- Sông Trường Giang chảy ngang qua ngõ,

Em có về qua ngõ nhà anh

Dòng sông rợp những cánh buồm, Sớm mai Nam lại, chiều Nồm thổi lên

- Sông Thu khúc lở khúc bồi, Khúc lở lở tuốt, khúc bồi bồi luôn

Trời sinh có biển có nguồn,

Có ta có bạn, bạn buồn nỗi chi

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w