Thế nhưng trong tiến trình dạy – học phân môn Làm văn ở nhà trường trung học phổ thông trong những năm qua ta dễ thấy một thực tế “nhiều học sinh học hết trung học phổ thông mà chưa nắm
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Khảo sát quy trình kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh một
số trường THPT Bắc Ninh
Danh mục các chữ viết tắt:
BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
SGK Sách giáo khoa Ngữ văn
SGV Sách giáo viên Ngữ văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn ThS.Nguyễn Đăng Châu người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong cả quá trình làm khóa luận, trong một thời gian dài
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Đà Nẵng đã có những hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo ở một số trường THPT đã cung cấp ngữ liệu và đã có những góp ý, đánh giá, nhận xét chân tình về những vấn đề của khóa luận
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi
Trang 4A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Văn bản nghị luận chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông Đây là loại văn bản trực tiếp nói lý lẽ, được viết ra nhằm phát biểu một nhận định, quan điểm tư tưởng, thái độ trước một vấn đề đặt ra từ cuộc sống; qua đó, xác lập cho người nghe, người đọc một chủ kiến nào đó Văn nghị luận là kết quả của tư duy lôgíc, vì thế học sinh muốn đọc – hiểu, cảm nhận một văn bản nghị luận hay diễn đạt – viết tốt một bài văn nghị luận thì cần phải có một tư duy lôgíc tốt
Thế nhưng trong tiến trình dạy – học phân môn Làm văn ở nhà trường trung học phổ thông trong những năm qua ta dễ thấy một thực tế “nhiều học sinh học hết trung học phổ thông mà chưa nắm vững được quy trình làm một bài văn, chưa làm chủ được các thao tác, các công việc cần thiết của tiến trình xây dựng một văn bản nghị luận, dẫn đến chất lượng bài làm văn kém” Để phản ánh rõ thực trạng này và đề ra giải pháp nhằm nâng cao và rèn luyện thói quen sử dụng các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh trung học phổ thông chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Khảo sát quy trình kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh một số trường THPT Bắc Ninh”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong chương trình phân môn làm văn ở THPT học sinh chủ yếu được học
và rèn luyện kỹ năng về văn nghị luận Làm văn là một phân môn có lịch sử lâu đời nhưng giáo trình dạy Làm văn và các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận thì rất ít và còn nhiều hạn chế Việc khảo sát thực trạng sử dụng các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh THPT thì lại càng hiếm hoi, chưa có một chuyên luận, bài viết hay công trình cụ thể nào đi sâu đánh giá thực trạng sử
Trang 5dụng các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh THPT mà chỉ dừng lại ở việc nhận xét tình hình dạy - học làm văn ở THPT còn chủ yếu đi sâu vào các vấn đề dạy – học làm văn nghị luận
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là quy trình các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận
của học sinh một số trường THPT Bắc Ninh
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong khoảng 500 bài (kiểm tra, bài thi) viết
văn nghị luận của học sinh một số trường THPT tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống, phương pháp thực nghiệm khoa học, phương pháp thống kê – phân loại, phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích, phương pháp đối chiếu – so sánh
Trang 6Chương Hai: Khảo sát sử dụng các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh một số trường THPT Bắc Ninh
Chương Ba: Nguyên nhân và các giải pháp nâng cao, rèn luyện các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh một số trường THPT Bắc Ninh
B Phần nội dung Chương Một: Lý thuyết kỹ năng làm văn nghị luận
ở trung học phổ thông 1.1 Văn nghị luận và vị trí văn nghị luận trong chương trình môn Ngữ văn Trung học phổ thông
1.1.1 Khái quát về văn bản nghị luận
Trước tiên ta cần hiểu nghị luận là gì:
- Nghị luận: là bàn bạc cho ra phải trái (Từ điển Tiếng Việt – Văn Tân )
- Nghị luận: là bàn và đánh giá cho thật rõ về một vấn đề nào đó (Từ điển
Tiếng Việt – Trung tâm từ điển học Vietlex )
- Nghị luận: là bàn bạc (Từ điển Hán Việt – Phan Văn Các)
Vậy, nghị luận chính là bàn bạc cho ra phải trái, đánh giá cho thật rõ đúng sai một vấn đề nào đó
Với văn nghị luận cũng vậy có nhiều cách phát biểu khác nhau về văn bản
nghị luận, ví như trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học của nhóm tác giả Lê Bá
Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) – NXB Đại học Quốc gia, 4, 1999) thì: Văn nghị luận là thể loại văn: “Viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa… Mục đích của văn nghị luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định… Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận
là tính chất luận thuyết – khác với văn học nghệ thuật, văn chương nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ…
Trang 7Trong SGK Ngữ văn 7 tập 2(tr.9) và SGK Ngữ Văn 11 nâng cao tập 2(tr.110) cũng có nói: “Văn nghị luận là văn thuyết lý, trực tiếp trình bày các luận điểm, thể hiện những tư tưởng về chính trị, triết học đạo đức, xã hội, văn học nghệ thuật, Văn nghị luận thời trung đại thể hiện ở các bài cáo chiếu, hịch, bình sử điều trần, luận, Văn nghị luận hiện đại thể hiện các lời kêu gọi, bài bình luận xã luận, tranh luận rất đa dạng
Các áng văn nghị luận đặc sắc thường nêu các vấn đề mới mẻ, độc đáo, thể hiện những tư tưởng, lý lẽ của con người Đó có thể là những tư tưởng chính nghĩa, quan điểm nhân văn hay lập trường cách mạng,
Các tư tưởng ấy có sự sâu sắc của lý trí, sự phóng khoáng của tâm hồn, sự dũng cảm của ý chí, sự kiên định của niềm tin Vì thế, đọc văn nghị luận cần phải nắm bắt được các tư tưởng lớn và cách suy nghĩ của người viết Văn nghị luận giúp cho suy nghĩ con người được sáng sủa, sắc sảo và nhạy bén Văn bản nghị luận là kiểu văn bản được dùng để trực tiếp trình bày, phát biểu các tư tưởng quan điểm bằng luận cứ và lập luận trước một vấn đề đặt ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó, hoặc hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống”
Ở đây chúng tôi đi theo khái niệm về văn bản nghị luận có trong SGK ngữ văn 7 và ngữ văn 11 của NXB giáo dục
1.1.2 Thao tác lập luận và kiểu bài nghị luận
Đây là vấn đề hết sức phức tạp Hiện nay trong các sách Làm văn ở trường phổ thông đang có những điểm khác nhau trong quan niệm Ở đây chúng tôi thống nhất đi theo quan điểm nghiên cứu của Gs Nguyễn Đăng Mạnh
Theo Gs Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn “muốn viết được bài văn hay” thì
đã là văn nghị luận, mục đích cuối cùng là dùng lý lẽ và chứng cứ để làm sáng
tỏ vấn đề được đưa ra bàn bạc nhằm thuyết phục người đọc, người nghe
Bằng cách nào để đạt được mục đích đó? Điểu này suy đến cùng tùy thuộc người viết, vào nội dung và hoàn cảnh phát ngôn, và đối tượng cần thuyết
Trang 8phục… Hình như chúng ta chưa chú ý đúng mức quan hệ giữa người viết và người nghe, người đọc Cùng một nội dung nhưng chỉ hai người viết khác nhau nhằm thuyết phục hai đối tượng khác nhau sẽ có cách viết khác nhau Có nghĩa
là tùy trường hợp cụ thể phải rất linh hoạt trong cách viết Tuy vậy, để xây dựng một bài văn nghị luận, người viết nào cũng phải vận dụng một số thao tác nhất định
Thao tác nghị luận là một tập hợp lý lẽ nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận Những lý lẽ này được hình thành bởi các thao tác tư duy Như vậy thao tác nghị luận có liên quan mật thiết với thao tác tư duy nhưng không đồng nhất với các thao tác tư duy Những thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, đối lập … là những thao tác đơn lập tức là loại thao tác được tiến hành như một hành động đơn lẻ Ví dụ như: thao tác phân tích là chia tách nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố còn tổng hợp lại khái quát các yếu tố nhỏ của đối tượng lại Cũng như thao tác diễn dịch là đi từ cái khái quát đến cái cụ thể Trong khi đó, thao tác nghị luận không phải là một thao tác đơn lập Nó bao
hàm môt chuỗi động tác tư duy khác nhau nhằm mục đính nghị luận Ví dụ thao
tác nghị luận phân tích không chỉ là cách chia đối tượng ra làm nhiều yếu tố
(như thao tác tư duy phân tích) mà là sự tiến hành hàng loạt các động tác nữa như liên hệ, đối chiếu, so sánh … Tất nhiên tất cả những động tác này cuối cùng nhằm phân tích một đối tượng nào đó do đề bài yêu cầu Cũng như vậy
thao tác nghị luận chứng minh đâu phải chỉ dùng đến thao tác tư duy chứng
minh mà thôi Làm môt bài nghị luận chứng minh bao giờ cũng cần phải vận dụng cả phân tích, giải thích, diễn dịch, quy nạp, so sánh v.v… nhưng mục đích cuối cùng là để chứng minh một chân lý nào đó do đề bài nêu lên…
Như vậy thao tác tư duy có thể có nhiều, nhưng thao tác nghị luận chủ yếu
có 5 loại sau tương ứng với 5 kiểu bài nghị luận: chứng minh, phân tích, giải
thích, bình giảng , bình luận Những thao tác nghị luận này có liên quan đến các
Trang 9kiểu bài nghị luận Trong chương trình làm văn ở phổ thông trung học, học sinh
đã học lý thuyết về các kiểu bài
Kiểu bài nghị luận chứng minh, chủ yếu dùng thao tác nghị luận chứng minh Kiểu bài nghị luận phân tích, chủ yếu dùng thao tác nghị luận phân tích Kiểu bài nghị luận giải thích, bình giảng, bình luận chủ yếu dùng thao tác
nghị luận giải thích, bình giảng, bình luận
Thao tác nghị luận chính là sự tập hợp và tổ chức một số lý lẽ nào đó tạo ra bởi một loạt các thao tác tư duy nhằm làm sáng tỏ vấn đề do đề bài yêu cầu (gọi
là luận đề)
Không thể biết được một thao tác nghị luận nào đó phải cần đến những lý lẽ
và những thao tác tư duy nào, chỉ biết, nghị luận phân tích thì cuối cùng phải hướng mọi thao tác vào mục đích phân tích, còn nghị luận, giải thích, bình giảng, bình luận hay chứng minh thì phải hướng mọi thao tác vào mục đích giải thích, bình giảng bình luận hay chứng minh
Và thật vậy khi đã nói một kiểu bài nghị luận nào đó chủ yếu dùng thao tác nghị luận của kiểu bài đó thì có nghĩa là nó có thể sử dụng thao tác nghị luận khác ở vị trí thứ yếu hay phụ thuộc
Ví dụ: Phân tích con đường bị tha hóa và đầy bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam cao để thấy rõ giá trị tố cáo xã hội của tác phẩm
Để giải quyết được đề bài trên, hay nói đúng hơn là để viết được một bài nghị luận văn học hay với đề bài ấy, không thể chỉ dùng một thao tác phân tích nhân vật Dù đó là thao tác phân tích chính, và khi phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo người viết phải đi sâu chia tách các phương diện khác nhau của tính cách nhân vật này Nhưng bên cạnh đố còn phải liên hệ đối chiếu, so sánh với các nhân vật khác như Binh Chức, Năm Thọ vì Chí đang đi tiếp con đường của hai nhân vật trên và như để đề bài được sáng tỏ, để bạn đọc được tin hơn, người viết cần đưa ra những mảnh đời bị tha hóa như Chí Phèo để thấy được xã
Trang 10hội thực dân phong kiến thối nát thời bấy giờ đã dồn đẩy những người nông dân nhỏ bé đến bước đường cùng Binh Chức, Năm Thọ và bây giờ là Chí Phèo Và rồi người viết sẽ đưa ra những dẫn chứng về sự tha hóa của Chí Phèo và những
sự kiện trong đời y: trước khi đi ở nhà bá kiến, sau khi đi ở nhà bà kiến, khi đi ở
tù, sau khi ở tù về, khi gặp Thị Nở và sau khi bị Thị Nở cự tuyệt… Như vậy
người viết đã chứng minh bằng những dẫn chứng cụ thể Cuối cùng để người
đọc thấm thía hơn về giá trị tố cáo của tác phẩm người viết cần đưa ra những đánh giá, nhận định của mình xuất phát từ một lập trường quan điểm nhất định
Như vậy là người viết đã tiến hành thao tác bình luận rồi và như ta đã thấy mọi
sự chứng minh hay bình luận… đều xoay quanh cái đích là làm rõ đề bài đã nêu
là phân tích con đường bị tha hóa và đầy bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam cao để thấy rõ giá trị tố cáo xã hội của tác phẩm
Như vậy thao tác nghị luận có liên quan đến kiểu bài nghị luận và do đó liên quan đến dạng đề nghị luận
Một đề nghị luận dù dưới dạng gì, cũng cho chúng ta biết hai thông báo sau:
- Một là: Thao tác nghị luận chính cần vận dụng
- Hai là: Phạm vi nội dung cần nghị luận
(Một thông báo về hình thức, một thông báo về nội dung): Kết hợp cả hai thông
báo này chúng ta sẽ biết được cách giải quyết một đề bài cụ thể [11 tr 8]
1.1.3 Phân loại văn nghị luận – các nhóm đề nghị luận trong phân môn Làm văn
1.1.3.1 Phân loại văn nghị luận
Theo nội dung và cách phân loại rộng, các nhà nghiên cứu chia văn bản nghị luận ra thành hai nhóm
- Nghị luận xã hội: là các văn bản bàn về những vấn đề tư tưởng, chính trị xã
hội Ví dụ như: Chiếu rời đô, Hịch tướng sĩ, Tuyên ngôn Độc lập,…
Trang 11- Nghị luận văn học: là các văn bản bàn về những vấn đề văn học, một trào lưu thơ văn, một tác gia văn học, một tác phẩm, một đoạn thơ, một nhân vật…
Ví dụ: Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh, Hoài Chân, Ngữ văn 11); Nguyễn
Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc (Phạm Văn Đồng, Ngữ văn
12),
1.1.3.2 Phân loại đề nghị luận
Trong phân môn làm văn, nếu căn cứ vào nội dung vấn đề được đưa ra nghị luận thì có thể chia ra ba nhóm đề lớn
- Nhóm đề nghị luận văn học
- Nhóm đề nghị luận xã hội
- Nhóm đề tổng hợp (Dạng đề này rất hiếm)
Ta có bảng tóm tắt các dạng đề nghị luận như sau [11 tr 28]
Loại đề Phạm vi nội dung nghị luận
Hình thức, thao tác nghị luận
ọc - Bình giảng một bài thơ, một đoạn thơ, văn hay
- Phân tích bài thơ
- Phân tích một vấn đề nào đó của tác phẩm văn
Trang 12- Về một giai đoạn văn học
- Về một khuynh hướng văn học
- Về một tác gia văn học
- Về một tác phẩm văn học
Phân tích, giải thích, chứng mnh, bình luận
- Vai trò, ý nghĩa, tác dụng của văn học
- Đặc trưng của văn học
1.1.4 Vị trí văn nghị luận trong chương trình Làm văn ở trường phổ thông
- Về vị trí
Là một bộ phận của Ngữ văn – một môn khoa học xã hội và nhân văn có tác dụng giáo dục và rèn luyện nhiều mặt, phân môn Làm văn có vị trí rất quan trọng:
+ Thể hiện kết quả có tính tổng hợp của môn Ngữ văn về kiến thức và kỹ năng của mỗi học sinh, cho thấy những biểu hiện cụ thể về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách người học, giúp mỗi học sinh tự đánh giá trình độ học vấn, năng lực
tư duy, vốn ngôn ngữ tiếng Việt …
Trang 13+ Môn Làm văn là môn công cụ rèn luyện cho học sinh về nhận thức, tâm hồn, tình cảm, tri thức và các kỹ năng để từng bước hoàn thiện nhân cách
- Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học hình thành và phát triển khả năng tạo lập văn bản (nói và viết)
Làm văn (Tập làm văn) là môn học hướng tới nhiệm vụ thứ hai này Nó giúp học sinh hình thành những kỹ năng cần thiết để làm được bài văn Người học sinh từ tiểu học đến trung học (kể cả vào đại học) đã được “làm văn” theo ba dạng văn bản sau:
Dạng sáng tác văn học như: miêu tả, tường thuật, kể chuyện và một vài thể thơ quen thuộc…
Dạng bài nghị luận với hai nội dung cơ bản: nghị luận xã hội và nghị luận văn học
Dạng bài văn hành chính công vụ như: đơn từ, biên bản…
Đặc trưng cơ bản của nhóm bài thứ nhất là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh Nhóm bài thứ hai nhằm hình thành và phát triển tư duy luận lý với khả năng lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục
Loại văn hành chính công vụ thì có đặc trưng là tính khuôn mẫu, công thức
Trang 14Hiện nay các trường THPT trên toàn quốc đã sử dụng bộ sách giáo khoa mới Từ năm học 2008- 2009 SGK CCGD hợp nhất năm 2000 đã kết thúc vai trò của mình và không còn được sử dụng nữa
Chương trình làm văn THPT hiện nay chỉ tập trung vào văn nghị luận Lớp
10 tập trung dạy văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội Từ lớp 11 đến lớp
12 chủ yếu chỉ học nghị luận văn học, phân tích, bình giảng, bình luận một số tác phẩm văn học trong chương trình văn học của lớp 11, 12
“Trong chương trình văn nghị luận ở cấp 3, nghị luận văn học chiếm một vị trí đặc biệt: ngoài một số tiết lí thuyết chung cho văn nghị luận, còn lại tỉ lệ giờ
lí thuyết nghị luận xã hội so với nghị luận văn học quá thấp ( 4/21 tiết cho sách của trường Đại học sư phạm Hà Nội I và 6/22 tiết cho sách của Hội nghiên cứu
và giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh) Như vậy, dạy và học làm văn ở cấp PTTH chủ yếu dạy và học làm văn nghị luận văn học” [11, tr.9] Như vậy, dạy và học làm văn ở cấp phổ thông trung học chủ yếu là dạy và học làm văn nghị luận văn học Ở loại bài nghị luận văn học khi học sinh tiến hành làm một bài văn đồng thời cũng là việc kiểm tra, trau dồi kiến thức của các em về văn (bao gồm kiến thức về văn học sử, lý luận văn học, tác phẩm văn học và những kiến thức về ngôn ngữ trong việc trình bày bài văn)
Tóm lại, nhiệm vụ của Làm văn là giúp HS hình thành và phát triển khả năng sản sinh (hay tạo lập) các loại văn bản (nói và viết) Trên cơ sở lí thuyết và thực tiễn tạo lập văn bản, năng lực tiếp nhận văn bản ở HS cũng được nâng cao hơn
Như vậy, có thể nói vai trò và mục tiêu của Làm văn không chỉ hướng đến mục tiêu cuối cùng của dạy học Ngữ văn mà còn làm cơ sở cho tất cả các môn học khác Không có khả năng sử dụng ngôn ngữ trong một chỉnh thể thống nhất
và không có năng lực tư duy tốt HS sẽ gặp nhiều khó khăn trong tất cả các môn học, không phải riêng gì môn Ngữ văn Do đó theo chúng tôi những mục tiêu này cần phải làm cho cả GV và HS thấy được thì việc dạy học làm văn mới có
Trang 15thể phát huy được hết tác dụng và chức năng của nó thông qua việc nghiêm túc dạy và học
Trên tinh thần tích hợp của phương pháp dạy học Ngữ văn, Làm văn là một trong hai trục tích hợp Nếu đọc văn chủ yếu cung cấp cho HS những kiến thức văn học và khả năng cảm thụ văn học, những tri thức đọc – hiểu, thì làm văn rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng những tri thức và năng lực cảm thụ ấy để tạo ra sản phẩm của riêng mình, vận dụng những điều đã học để giải quyết những vấn đề khác nhau, trong đó huy động toàn bộ năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy, năng lực văn học, vốn văn hóa, vốn sống …Sản phẩm ấy trong nhà trường cũng chính là cơ sở của việc kiểm tra, đánh giá năng lực văn học của
HS HS có thể đọc – hiểu, cảm thụ văn học rất tốt nhưng nếu không có khả năng diễn đạt và tạo lập văn bản thì không thể thể hiện năng lực văn học của mình và vì vậy việc học văn sẽ bị hạn chế rất nhiều Không những vậy việc học những môn học khác cũng bị ảnh hưởng
Như vậy văn nghị luận có một vị trí vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong chương trình môn Ngữ văn Trung học phổ thông
1.2 Lý thuyết về quy trình kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh PTTH 1.2.1 Tìm hiểu, phân tích đề
Làm văn giống như dựng một ngôi nhà, trước hết cần phải có đủ vật liệu cần thiết Chất liệu ấy là những luận điểm, luận cứ, các ý lớn, nhỏ, các dẫn chứng thơ văn, các nhận định của các nhà phê bình nghiên cứu, phê bình văn học, của sách giáo khoa v.v
Công việc chuẩn bị chất liệu hiểu theo nghĩa như thế cũng thường được gọi
là sự huy động kiến thức cần cho bài văn Nhưng huy động kiến thức cho mục tiêu nào và trong giới hạn nào? Đó chính là quá trình người viết văn phải nhận thức đề cho đúng và cho trúng Điều này tất nhiên phải căn cứ vào yêu cầu của
đề bài Nên tiến hành hai bước:
Bước một: Đặt ra và giải đáp ba câu hỏi sau đây:
Trang 161 Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết?
2 Việc giải quyết vấn đề ấy phải dụng đến những vùng tư liệu, kiến thức nào
3 Đề yêu cầu kiểu bài gì?
Ví dụ: : “Nhân vật Mị trong truyện vợ chồng A Phủ là một thành công của
Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh Hãy chứng minh nhận định ấy”
Trả lời ba câu hỏi nói trên:
1 Đề đặt ra vấn đề là phải chứng minh luận định “nhân vật Mị trong truyện vợ chồng A Phủ là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh”
2 Vùng tư liệu, kiến thức cần phải dùng đến là : chính là tác phẩm “Vợ chồng
A Phủ của nhà văn Tô Hoài” Hiểu được kiểu nhân vật thức tỉnh trong văn học văn học là gì và đi sâu phân tích quá trình thức tỉnh của nhân vật Mị qua các sự kiện trong cuộc đời của nhân vật này
3 Đề bài yêu cầu kiểu bài chứng minh
Bước hai: huy động kiến thức hay chuẩn bị chất liệu “những luận điểm, các
ý lớn, nhỏ và các dẫn chứng” (như ở đề văn trên là dẫn chứng về quá trình thức tỉnh của Mị trong tác phẩm vợ chồng A Phủ của Tô Hoài để thấy được nhân vật
Mị là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh) Luận điểm lớn, nhỏ hay ý lớn, ý nhỏ ở đây phụ thuộc vào sự chứng minh, phân tích các yêu cầu mà đề bài đã nêu ra Đề bài yêu cầu chứng minh nhân vật
Mị là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh Vậy kiểu bài chứng minh nhưng trước hết lại cần đến thao tác phân tích Ví
dụ : phân tích khái niệm con người thức tỉnh trong văn học là gì, phân tích quá trình thức tỉnh của Mị Trong truyện vợ chồng A Phủ song song với quá trình phân tích là đưa ra những dẫn chứng văn học trong tác phẩm để chứng minh những luận điểm đã đưa ra
Trang 17Và để tăng thêm sức thuyết phục của các luận điểm trên, ta có thể dẫn dắt những nhận định nào đó của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học có uy tín Những nhận định này cũng là một loại chất liệu của bài văn
Việc huy động kiến thức ở đây đặt ra hai yêu cầu:
Một là vận dụng trí nhớ, khi chuẩn bị và làm bài người viết cần chộp và ghi lại những dẫn chứng có ích từ trí nhớ mang lại rồi xắp xếp lại cho đúng
Hai là dẫn chứng văn học ở đây là để chứng minh cho yêu cầu đề bài đã đưa ra như trong đề bài văn trên là “Mị là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh” thì những dẫn chứng ở giai đoạn thức tỉnh nào của nhân vật Mị người viết cần sắp xếp đúng vào giai đoạn ấy Khi các luận điểm đưa ra đã đầy đủ ngữ liệu, số lượng dẫn chứng rồi thì coi như bước chuẩn
bị chất liệu, tìm hiểu và phân tích đề bài văn đã hoàn tất
1.2.2 Tìm ý, phát triển ý, sắp xếp ý và lập dàn ý (đề cương)
Trước một đề văn hay, phân tích, tìm hiểu cho kỹ càng, sâu sắc đã khó, xây dựng cho được một dàn ý cho tương đối hoàn chỉnh và đúng đắn lại càng khó hơn Bởi trước một vấn đề của cuộc sống xã hội hoặc văn chương không ít cách tiếp cận, tìm hiểu Và do vậy ít khi có một lời đáp duy nhất, đặc biệt là loại đề phân tích, bình giảng một tác phẩm Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là trước một đề văn, ai thích nói gì thì nói, ngay cả với việc phân tích, bình giảng một tác phẩm văn học cũng thế Nhà trường tôn trọng, khuyến khích tất cả những cách cảm thụ và kết quả tiếp nhận của cá nhân mỗi người Cách hiểu, cách trình bày và diễn đạt của ai đó có thể rất khác người nhưng tất cả đều phải
có lý, phải có sức thuyết phục Sáng tạo nghệ thuật có những nguyên tắc thì tiếp nhận nghệ thuật cũng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Vì thế trước một đề văn dù muốn hay không người ra đề cũng như người viết phải nêu lên được cách hiểu (nhận thức đề) và những ý cơ bản cần đạt được trong bài viết Tức là phải hình thành được hệ thống ý đáp ứng được yêu cầu của đề
1.2.2.1 Tìm ý, phát triển ý
Trang 18Trước hết cần nhấn mạnh ý ở đây là ý của đề bài đặt ra chứ không phải ý của tác phẩm được phân tích Tất nhiên có khi ý của đề trùng với ý của tác phẩm được phân tích, đó là khi đề bài yêu cầu phân tích một tác phẩm độc lập, cụ thể nào đó
Để tìm được ý và phát triển ý cho một đề văn, một trong những cách tương đối có hiệu quả là người viết biết đặt ra các câu hỏi và tìm cách trả lời Việc đặt
ra các câu hỏi thực chất là biết soi sáng đối tượng dưới nhiều góc độ, biết lật đi lật lại vấn đề để tìm hiểu, xem xét cho kỹ càng, thấu đáo hơn Biết phát triển những ý liên quan nhằm làm rõ ý chính mà không lạc đề
Việc lập ý, tìm ý và phát triển ý trong thực tế thường được tiến hành cùng một lúc và không tách rời với việc huy động kiến thức Vì ý của người viết hay của chính những em học sinh chủ yếu là chế biến từ những kiến thức đã được học trong sách giáo khoa và trong các giờ giảng trên lớp của thầy, cô giáo được huy động ra theo trí nhớ và sự liên tưởng với các kiến thức liên quan, chính vì vậy lập ý, phát triển ý cũng nằm trong khâu chuẩn bị chất liệu cho bài viết
1.2.2.2 Sắp xếp ý và lập dàn ý (đề cương)
Khi đã có ý rồi thì công việc của người viết bây giờ là cần biết tổ chức, sắp xếp ý ấy thành một hệ thống nhằm làm nổi bật đối tượng, vấn đề Công việc này chính là việc lập dàn ý hoặc xây dựng bố cục, kết cấu cho bài viết
Không thể viết một bài văn hay nếu không có một đề cương, một dàn ý Ngay cả những cây bút chuyên nghiệp, các nhà phê bình giàu kinh nghiệm, tài hoa vẫn phải có đề cương trước khi viết Chúng ta nên hiểu đề cương một cách linh hoạt, đề cương có thể viết ra giấy nháp, nhưng cũng có khi đề cương nằm ngay trong đầu người viết Làm sao cho trước khi viết, mô hình của bài đã cơ bản hình thành với những ý và sự sắp xếp các ý ấy thế nào cho nổi bật vấn đề
mà mình cần làm sáng tỏ
Có hai loại đề cương: tổng quát và chi tiết
Trang 19• Đề cương tổng quát là đề cương người viết đưa ra những luận điểm lớn nhất của bài viết, bao gồm
Mở bài: Nêu luận đề của bài viết(Vấn đề mà mình sẽ bàn luận trao đổi trong
thân bài)
Thân bài: Nêu các luạn điểm lớn để triển khai và làm sáng tỏ luận đề đã nêu
ở đề bài
Kết bài: Nêu khái quát từ các ý đã trình bày trong bài
• Đề cương chi tiết là loại đề cương phát triển từ đề cương tổng quát Có nghĩa là nó không chỉ dừng lại ở các điểm lớn mà phải cụ thể hơn, chi tiết hơn,
rõ hơn (nhất là phần thân bài)
Quan niệm thế nào là đề cương chi tiết, thế nào là đề cương tổng quát, thế nào là đề cương chi tiết cũng phải linh hoạt uyển chuyển Có khi ý lớn ở bài này lại là ý nhỏ của bài khác và ngược lại
Trong cuốn “Muốn viết được bài văn hay” nhóm tác giả Nguyễn Đăng Mạnh – Đỗ Ngọc Thống – Lưu Đức Hạnh đã nêu ra một số mô hình chung cho dàn ý một bài văn nghị luận như sau:
Trang 20Mở bài (Còn gọi là đặt vấn đề): Dẫn dắt từ vấn đề rộng hơn thu hẹp dần đến
việc giới thiệu luận đề
Thân bài (Còn gọi là giải quyết vấn đề): Bao gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn
văn là một luận điểm Các luận điểm tập trung làm nổi bật luận đề ở mở bài
Kết bài (Kết thúc vấn đề): Tổng hợp lại từ các luận điểm đã trình bày đánh
giá và gợi mở
Ở mô hình II:
Tác giả đã đưa ra giả thiết: Nếu thỏa thuận rằng luận đề là ý bao trùm, là vấn
đề chính cần được làm sáng tỏ; các ý lớn của thân bài được gọi là luận điểm Trong mỗi luận điểm lại có những luận cứ nhằm làm sáng rõ luận điểm, thì bài viết cần được tổ chức như sau:
1 Luận đề bao giờ cũng được nêu ngay ở mở bài (đặt vấn đề) thường là ở phần giữa của phần mở bài
2 Mỗi luận điểm là một đoạn văn của thân bài Tùy theo vấn đề của đề bài
mà xác định thân bài có mấy luận điểm Tất cả các luận điểm này đều phải liên quan và tập trung làm sáng tỏ luận đề đã nêu ở mở bài
3 Luận cứ có thể là lý lẽ, có thể là những dần chứng cụ thể nhằm làm sáng
tỏ luận điểm
Mô hình II được lập như sau:
Mở bài: Nêu luận đề
Thân bài:
Đoạn I: Nêu luận điểm A Triển khai và làm sáng Đoạn II: Nêu luận điểm B tỏ luận đề ở mở bài Đoạn III: Nêu luận điểm C
- Luận cứ 1 Triển khai và làm sáng tỏ
- Luận cứ 2 cho luận điểm C
Kết bài: …
Chú ý:
Trang 211 Dàn bài đẹp là một dàn bài trong đó các phần cân đối, hài hòa cả về nội dung lẫn hình thức ngắn dài
2 Mỗi đoạn thân bài là một kết cấu hoàn chỉnh, tự mỗi đoạn cũng có ba phần : mở đầu đoạn, phần giữa đoạn và phần kết đoạn (Tổng – Phân – Hợp) Đây chính là kết câu đoạn dạng “kinh điển”
- Mở đầu đoạn: nêu luận điểm
- Phần giữa đoạn: dùng một số luận cứ triển khai và làm rõ luận điểm vừa nêu
- Phần kết đoạn: nêu tiểu kết rút ra ở đoạn [11 tr 75]
1.2.2.3 Một số lỗi trong việc tìm ý và lập dàn ý của học sinh
Sau đây là một số lỗi phổ biến khi lập dàn ý của học sinh
- Lạc đề : các bài viết có biểu hiện sau đều bị coi là lạc ý
+ Các ý lớn không tập trung làm sáng tỏ cho vấn đề trọng tâm của đề bài + Các ý nhỏ không tập trung làm sáng tỏ cho ý lớn
+ Các dẫn chứng không liên quan gì đến ý cần làm sáng tỏ
- Thiếu sót ý: các bài viết có biểu hiện sau đều bị coi là thiếu sót ý
+ Không đủ ý lớn để làm sáng tỏ ý trọng tâm
+ Không đủ ý nhỏ đển làm sáng tỏ ý lớn
+ Không có hoặc không đủ các dẫn chứng để làm sáng tỏ các ý nhỏ
- Lặp ý: Bài viết bị coi là phạm lỗi lặp ý khi các ý sau (ý lớn hoặc ý nhỏ) lặp lại
hoàn toàn hoặc lặp lại một phần ý trước
- Ý lộn xôn: Đó là các bài viết sắp xếp ý không theo thứ tự nào cả với hai biểu
hiện chính:
+ Không phân biệt được ý lớn với ý nhỏ, ý phải trình bày trước với ý phải trình bày sau
+ Trình bày ý một chưa hết đã nhảy sang ý hai, sau đó lại quay về ý một…
1.2.3 Từ đề cương đến văn bản hoàn chỉnh
Trang 22Một nhà phê bình văn học có uy tín nói rằng: “giải một bài toán, tìm được đáp số là xong nhưng làm một bài văn, tìm được đáp số công việc xem như mới được một nửa Bài văn hay là bài văn biết diễn đạt tốt đáp số” Thực ra đối với việc làm văn, nếu không diễn đạt được tốt “đáp số” (Nhận thức và cảm thụ chính xác chân lý văn học) thì kết quả vẫn chỉ là một cái gì còn ẩn kín trong đầu người viết mà thôi [11 tr 83]
Đọc một bài thơ, một đoạn văn, một cuốn sách nhiều khi ai cũng thấy hay Nhưng hay ở chỗ nào? Vì sao như thế lại hay? Nói được câu trả lời đã khó, đặt bút xuống viết, diễn tả cho hết những cảm nghĩ của mình cho người đọc cũng thấy là hay thật lại càng khó hơn Đó là chưa kể yêu cầu cao hơn là giúp bạn đọc khám phá ra những điều hay mà họ chưa thấy được Người ta gọi nhà phê bình là siêu độc giả là vì thế Trong quá trình học và làm văn nghị luận ở trường phổ thông học sinh thường gặp phải những tình huống là đã có ý rồi, đã nghĩ ra rồi mà vẫn cứ bế tắc Nhiều khi cố viết cũng được nhưng đọc lại thấy ý rời rạc, lời lẽ không được trau chuốt, đọc không xuôi Như vậy bài văn có chất lượng là bài văn vừa có ý lại vừa phải có văn, có ý nhưng phải biết diễn đạt tốt ý mình đưa ra Trong quá trình làm văn nghị luận thao tác từ dàn ý, đề cương đến một văn bản hoàn chỉnh là cả một vấn đề, một công việc không mấy dễ dàng đối với nhiều học sinh THPT
Dưới đây là một số kinh nghiệm cụ thể
1.2.3.1 Mở bài hay và kết bài hay
a, Mở bài hay
Mục đích của mở bài ai cũng biết rõ là nhằm giới thiệu vấn đề mình sẽ viết,
sẽ trao đổi bàn bạc trong bài Vì thế khi viết mở bài, thực chất là trả lời cho câu hỏi: Anh (chị) định viết, định bàn bạc vấn đề gì?
Trả lời thẳng vào câu hỏi ấy người ta gọi là mở đề trực tiếp Nêu vấn đề sẽ bàn bạc trong bài sau khi dẫn ra một ý khác có liên quan gần gũi với vấn đề ấy, gọi là mở bài gián tiếp Để bài viết có không khí tự nhiên và có chất văn, người
Trang 23ta thường mở bài theo kiểu gián tiếp Có nhiều cách vào bài theo kiểu gián tiếp này, nhưng nhìn chung có bốn cách cơ bản mà nhiều tài liệu từ trước đến nay đã nêu”
- Diễn dịch (suy diễn)
- Quy nạp
- Tương liên (tương đồng)
- Tương phản (đối lập)
Chia ra bốn cách ấy để học sinh có ý thức phân loại và thực hành rèn luyện cho
có bài bản là hết sức cần thiết; tuy vậy, trong thực tế khi làm bài thi, có nhiều nguyên nhân, ít khi người viết suy nghĩ xem nên lựa chọn cách nào khi vào bài,
cứ theo yêu cầu của đề mà viết, xong cũng không biết mình vào bài bằng cách nào nữa Tuy vậy vẫn có một thực tế là đại đa số học sinh rất mất thời gian với khâu mở bài mà kết quả vẫn không được một mở bài hay Một mở bài hay cần phải là một đoạn văn hoàn chỉnh, đoạn văn ấy cần có mở đầu đoạn, phần giữa đoạn và phần kết đoạn
Mở đầu đoạn: Viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan gần gũi với vấn
đề chính sẽ nêu Tùy nội dung vấn đề chính mà người viêt lựa chọn cách dẫn dắt, có thể là một câu thơ, môt câu danh ngôn, hoặc một câu chuyện kể
Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính sẽ bàn trong thân bài, tức là luận đề Vấn đề
chính này có thể đã chỉ rõ, có thể người viết tự rút ra, tự khái quát Đối với phân tích bình giảng thơ thì thường là nêu ấn tượng bao trùm mang tư tưởng chủ đề
mà người đọc cảm nhận được
Phần kết đoạn: Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày
Phần này đề bài thường xác đinh sẵn Người viết chỉ việc giới thiệu hoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đề bài
Mô hình phần mở bài [11 tr 85]
1 Dẫn dắt
Mở bài 2 Nêu vấn đề (luận đề)
Trang 243 Giới hạn phạm vi vấn đề Một mở bài hay cần tránh:
- Tránh dẫn dắt vòng vo quá xa mới gắn được vào việc nêu vấn đề
- Tránh ý dẫn dắt không liên quan gì với vấn đề sẽ nêu
- Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi thân bài lặp lại
những điều đã nói ở mở bài
Một mở bài hay cần phải:
- Ngắn gọn: Dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giới hạn
vấn đề một câu
- Đầy đủ: Đọc xong mở bài, người đọc biết được bài viết bàn về vấn đề gì,
trong phạm vi tư liệu nào, thao tác vận dụng chính là gì?
- Độc đáo: Mở bài phải gây được sự chú ý của người đọc với vấn đề mình sẽ
viết Muốn thế phải có cách nêu vấn đề khác lạ Để tạo sự khác lạ độc đáo cần suy nghĩ dẫn dắt Giữa câu dẫn dắt và câu nêu vấn đề phải tạo được sự bất ngờ
mà vẫn phải giữ được sự liên kết ý chung
- Tự nhiên: Viết văn nói chung cần giản dị tự nhiên Mở bài và nhất là câu đầu
chi phối giọng văn của toàn bài Vì thế vào bài cần độc đáo, khác lạ nhưng phải
tự nhiên Tránh làm văn một cách vụng về, gượng é gây cho người đọc cảm giác khó chịu bởi sự gải tạo
b, Kết bài hay
Trong cuốn Làm văn 12 do Gs Trần Đình Sử chủ biên, nhà xuất bản giáo dục ấn hành 1992 đã viết rất rõ vấn đề này Về cách kết bài, các tác giả giới thiệu bốn cách:
- Thứ nhất: tóm lược (tóm tắt quan điểm nội dung đã ghi ở thân bài)
- Thứ hai: phát triển (mở rộng thêm vấn đề đặt ra trong đề bài)
- Thứ ba: vận dụng (nêu phương hướng, bài học áp dụng phát huy hay khắc
phục vấn đề trong bài văn)
Trang 25- Thứ tư: liên tưởng (mượn ý kiến tương tự - những ý kiến có uy tín để thay
cho lời tóm tắt của người làm bài)
Tóm lại một kết bài hay phải đúng song phải sáng tạo, gây được ấn tượng và
để lại dư vị trong lòng người đọc Kết bài hay vừa phải đóng lại, chốt lại, vừa phải mở ra, nâng cao và cứ ngân nga mãi trong lòng người
1.2.3.2 Các yêu cầu về diễn ý và hành văn
Sau khi có ý rồi thì vấn đề quan trọng hơn cả là biết diễn đạt hay Tức là biết diễn đạt một cách khéo léo những ý của bài viết thành lời văn cụ thể Nhiều khi cùng một ý nhưng do cách diễn đạt khác nhau mà một người viết hay người kia viết dở Diễn ý hay phụ thuộc vào nhiều yếu tố Sau đây là một số yếu tố tạo nên cách diễn ý hay mà Gs Nguyễn Đăng Mạnh đã nghiên cứu và trình bày trong cuốn “Muốn viết được bài văn hay”, nhà xuất bản giáo dục 1999
a, Giọng văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết
Trong một bài văn nghị luận người viết bao giờ cũng thể hiện thái độ tình cảm, tư tưởng của mình trước một vấn đề mà mình đang thảo luận Giọng văn
là sựu thể hiện màu sắc biểu cảm đó Để tránh bài văn của mình không bị nhàm, người viết văn cần phải linh hoạt trong cách hành văn, biết sử dụng linh hoạt hệ thống từ nhân xưng, song song với đó trong quá trình viết bài văn nghị luận, không nên chỉ dùng một loại thao tác tư duy mà nên luôn luôn thay đổi đẻ cho giọng văn sinh động, phong phú, không đơn điệu
Trang 26từu nào cho “trúng”, cho độc đáo, cho hay Muốn thế một mặt người viết phải tích lũy cho mình vốn kiến thức từ vựng phong phú, mặt khác phải phải có ý thức sử dụng khi viết, các nhà văn nhà phê bình lớn bao giờ cũng nêu một tấm gương sáng về vấn đề ấy
Từ độc đáo mang tính hai mặt, sử dụng đúng lúc, đúng chỗ mới có được câu văn hay không bị sáo rỗng
c, Viết câu linh hoạt
Tính linh hoạt trong việc sử dụng câu thể hiện ở chỗ: tùy từng lúc, từng nơi, tùy vào giọng văn của từng đoạn mà có những loại câu tương ứng để diễn đạt cho phù hợp Thậm chí có khi cùng một đoạn văn mà các câu ngắn dài được viết rất khác nhau
d, Viết văn có hình ảnh
Văn nghị luận nói chung là loại văn của tư duy khái niệm của suy lý logic Ý
tứ cần chặt chẽ, sáng sủa, lập luận phải chắc chắn đảm bảo độ chính xác cao, giàu tính thuyết phục đối với trí tuệ, thế nhưng văn nghị luận cũng rất cần những cảm xúc, hình ảnh Ngôn ngữ văn nghị luận cũng cần phải hấp dấn, lôi cuốn bằng từ ngữ có tính hình tượng, giàu hình ảnh và có sức biểu cảm cao Văn nghị luận cũng cần sự tươi mát theo cách riêng của nó Bài văn nghị luận hay là bài văn nghị luận vừa giàu sức thuyết phục luận lý, vừa giàu hình ảnh Hình ảnh làm tăng sức thuyết phục, làm cho chân lý vừa sáng tỏ, vừa thấm thía Biện pháp cơ bản nhất để tạo nên bài viết có hình ảnh là người viết dùng phép so sánh, liên hệ, đối chiếu Ở đây những tư tưởng trừu tượng, khái quát, khô khan được minh họa, diễn đạt bằng cách so sánh với hàng loạt hình ảnh cụ thể sinh động tạo nên khoái cảm cho người đọc không kém gì văn sáng tác
e, So sánh văn học
So sánh văn học được xem như một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài khi viết bài nghị luận văn học
Trang 27So sánh để thấy chỗ giống nhau, chỗ khác nhau nhằm soi sáng mặt thừa kế thừa truyền thống và mặt đổi mới của tác phẩm, hoặc đánh giá những chuyển biến hoặc tài năng biến hóa phong phcus của một cây bút của một cây bút trong những tác phẩm viết chung một đề tài, một hình ảnh ở nhiều thời điểm khác nhau Có khi chỉ cốt để làm nổi bật một vài chi tiết nào đó của tác phẩm
Người viết có thể so sánh hai nền văn học, hai giai đoạn văn học, hai thời kỳ văn học, hai tác giả, hai khuynh hướng, hai tác phẩm, hai phong cách, hai chi tiết nghệ thuật …
f, Lập luận sắc sảo, chặt chẽ
Để có lý lẽ người viết phải biết vận dụng các thao tác tư duy như phân tích tổng hợp, luận ba đoạn, loại suy, tương phản, so sánh … lập luận có một ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn trong văn nghị luận Muốn cho lập luận được chặt chẽ, kín cạnh khi viết nên đặt mình vào địa vị người đọc , nhận là người đọc không cùng một ý với mình, rồi giả định những lời phản bác có thể có từ độc giả ấy để lập luận cho chặt chẽ
Vì thế lập luận trong một bài văn nghị luận thường chứa đựng một nội dung đối thoại ngầm về một vấn đề nào đấy
các mục: chọn dẫn chứng, sắp xếp dẫn chứng, phân tích dẫn chứng, các hình
Trang 28thức nêu dẫn chứng và chữa một số kiểu lỗi về dẫn chứng Đó là những điểm
hết sức cơ bản và cần thiết của kĩ năng này
Chương Hai: Kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh một số trường
THPT Bắc Ninh 2.1 Tập hợp ngữ liệu cần khảo sát
2.1.1 Ngữ liệu khảo sát từ phiếu khảo sát
Phiếu khảo sát bao gồm 100 phiếu, khảo sát ở hai lớp 12a1(Chuyên ban A)
và 12a2(Chuyên ban C) (Trường THPT Lý Thường Kiệt)
Mẫu phiếu khảo sát:
Trang 29PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN HỌC SINH
Các bạn học sinh thân mến!
Nhằm giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tốt Luận văn cuối khóa về đề tài
“Khảo sát quy trình kỹ năng làm văn nghị luận của học sinh một số trường
THPT Bắc Ninh”, và đánh giá đúng thực trạng sử dụng các thao tác, kỹ năng
làm văn của học sinh THPT hiện nay, bạn hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình trong các câu hỏi khảo sát dưới đây
*Cách trả lời :Với mỗi câu hỏi, bạn lựa chọn phương án trả lời của mình bằng cách khoanh tròn các chữ cái của những câu trả lời phù hợp
1 Bạn có thích học phân môn làm văn không?
a Rất cần thiết b Bình thường c Không cần thiết
4 Bạn có thường lập dàn ý trước khi viết một bài văn nghị luận không?
a Thường xuyên b Thỉnh thoảng c Không bao giờ
5 Nếu có lập dàn ý bạn lập dàn ý tổng quát hay chi tiết?
a Chi tiết b tổng quát
6 Khi viết một bài văn nghị luận bạn cảm thấy khó nhất phần nào?
a Mở bài b Thân bài c Kết bài
7 Bạn có dành nhiều thời gian cho việc rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận không?
a Có b Không nhiều lắm c Không
8 Bạn có cảm thấy khó khăn trong việc chuyển đoạn mỗi khi làm một bài văn
Trang 30nghị luận không?
a Có b Bình thường c Không
9 Bạn cảm thấy như thế nào về ý kiến “Áp lực thi cử khiến học sinh không chú
trọng thao tác kỹ năng làm văn, chỉ chạy theo điểm số”?
a Đúng b Sai
10 Bạn đã thật sự nắm chắc kiến thức về các thao tác, kỹ năng làm văn nghị luận?
a Tôi đã nắm chắc c Tôi chưa nắm chắc c Tôi không hiểu gì
Xin chân thành cảm ơn các bạn
đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành phiếu khảo sát này !
**********
Trang 31* Kết quả khảo sát
Từ những ngữ liệu khảo sát từ phiếu khảo sát chúng tôi thấy rằng:
Ở câu hỏi khảo sát số 1: Chỉ có khoảng 41% HS trả lời thích học phân môn Làm văn Có tới 52% số HS không thích học Làm văn còn lại là 7% trả lời cảm thấy bình thường Khi được hỏi lý do vì sao các em chọn đáp án này thì nhiều
học sinh trả lời rất “hồn nhiên” rằng: “giờ học làm văn rất tẻ nhạt, nhàm chán,
buồn ngủ” Còn những ý kiến khác đa số cho là do thầy cô Ngay cả những học
sinh học lớp chuyên ban c cũng tỏ ra không thích với môn học này, đây là một
thực trạng đáng báo động
Ở câu hỏi khảo sát số 2 : “Khi được hỏi bạn cảm thấy thế nào với mỗi giờ học
và làm văn nghị luận?” thì chỉ có khoảng 26% trả lời là rất hứng thú trong đó đa phần là HS theo ban C của lớp 12A2, 27% trả lời bình thường Còn lại có tới 47% học sinh cảm thấy nhàm chán
Ở câu hỏi khảo sát số 3 “ Khi được hỏi bạn thấy việc lập dàn ý trước khi viết một bài văn nghị luận có cần thiết không?”: Thì kết quả trả lời là 82% cảm thấy rất cần thiết, 16% trả lời là bình thường, còn lại chỉ có 2% trả lời là không cần thiết
Nhưng thực tế tới câu hỏi khảo sát số 4 thì chỉ có 1 phiếu (1%) là thường xuyên lập dàn ý trước khi viết một bài văn, 15% chỉ thỉnh thoảng và có tới 84%
là không bao giờ lập dàn ý Và khi được hỏi nếu có lập dàn ý thì chỉ có 8% lập chi tiết còn lại có tới 92% là tổng quát Khi được hỏi lý do thì các HS trả lời
“thời gian làm bài hạn hẹp, để lập được dàn ý trước khi viết với HS chúng em
là điều rất hiếm hoi và ít bạn nào lập”
Có tới 68% HS cảm thấy khó viết ở phần mở bài, 22% thấy khó ở phần thân bài, còn lại 10 thấy khó ở đoạn viết kết bài, cũng theo số liệu từ phiếu khảo sát chúng tôi khảo sát được thì đa số HS không dành nhiều thời gian vào việc rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận có tới 78% số phiếu chọn đáp án là không dành thời gian, và chỉ có 22% là dáp án có dành thời gian nhưng không nhiều
Trang 32lắm, và không có lá phiếu khảo sát nào là có dành thời gian nhiều ngay cả học sinh lớp chọn ban C Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng HS quá kém về việc sử dụng các thao tác kỹ năng làm văn nghị luận Nhưng suy cho cùng thì các em HS vẫn có ý kiến chính đáng của mình là do chúng em đều là học sinh cuối cấp, kể cả học sinh lớp 10 11 bây giờ cũng vậy
“Nhà trường dạy học gần như kín tuần, chúng em học buổi sáng là tiết chính,
còn buổi chiều là học thêm các môn, nhà trường bắt buộc học tại trường, muốn
đi ôn thi hay học ở ngoài cũng khó và thời gian đã kín, đã vậy về nhà còn một đống bài vở các môn khác nên chúng em không có thời gian rèn luyện, vả lại làm văn cũng chỉ là một môn chứ không phải tất cả, chúng em không thể dành nhiều thời gian cho nó được, phải san đều cho những môn khác nữa, mỗi môn một ít ”
Đa số HS cảm thấy khó khăn trong việc chuyển đoạn mỗi khi làm một bài văn nghị luận, thực tế khảo sát cho thấy 83% các em cảm thấy khó, 9% bình thường, và 8% là không Thường khi làm văn nghị luận chỉ số ít những em có năng khiếu và được rèn luyện kỹ năng làm văn nhuần nhuyễn “Chủ yếu là học sinh giỏi văn nằm trong đội tuyển” là cảm dễ và thấy bình thường, còn lại đa số các em viết theo trí nhớ bài giảng của giáo viên cho ghi, chép nên mạch văn thường đứt quãng, việc chuyển đoạn trở nên khó khăn do các em chưa nắm vững kỹ năng
Khi được hỏi các học sinh về một thực tế “Bạn cảm thấy như thế nào về ý
kiến cho rằng “Áp lực thi cử khiến học sinh không chú trọng thao tác kỹ năng
làm văn, chỉ chạy theo điểm số”?”: thì đa số học sinh trả lời là có, tỉ lệ này
chiếm tới 93%, còn lại 7% là ý kiến là không Chúng tôi đã hỏi ý kiến của một
em học sinh khối lớp 11 rằng tại sao em cảm thấy đúng ở ý kiến trên? Thì em
trả lời như sau: “Áp lực thi cử có tác động rất lớn đối với chúng em, đa số
chúng em làm văn theo cảm tính, viết sao cho dài, nói hết được ý bài văn thầy
cô giảng là chúng em cảm thấy đỡ lo phần nào, kể cả kiểm tra lẫn thi cử đều