Nà Hills của sinh viên Hồ Thị Minh Nguyệt; Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà… Dựa trên sự nghiên cứu của những người đi trước, đề tài “ Khảo sát nhận th
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Anh Vy
Chuyên ngành : Việt Nam học
Người hướng dẫn : TS Trần Thị Mai An
Đà Nẵng, tháng 05/2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu nhỏ bé, đánh dấu kết quả cuối cùng trong quá trình học tập của em tại trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp là một thành công rất lớn trong quá trình học tập của em tại trường, sau đề tài này em sẽ tốt nghiệp ra trường để bước vào cuộc sống mới với hành trang là kiến thức và kinh nghiệm mà thầy cô đã truyền đạt trong suốt những năm tháng học tập tại trường
Trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè
Trước tiên, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn của mình đến cô giáo Ts Trần Thị Mai An đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian em làm khóa luận Những ý kiến của cô không chỉ giúp em làm tốt đề tài này mà còn là những kinh nghiệm quý báu mà em luôn ghi giữ trong lòng
Em cũng xin chân thành cảm ơn thầy cô khoa Lịch Sử trường Đại học
Sư Phạm Đà Nẵng đã truyền đạt cho em rất nhiều kiến thức, kinh nghiệm và tạo điều kiện để em hoàn thành bài nghiên cứu cuối cùng của đời sinh viên, đây cũng là mốc đánh dấu bước trưởng thành của chính bản thân em Qua đó
em cũng gởi lời cảm ơn đến gia đình, tập thể sinh viên lớp 12CVNH, những người bạn luôn quan tâm, giúp đỡ trong quá trình em làm khóa luận và học tập tại trường Đó là những kỷ niệm mà em thật sự trân trọng
Em cũng xin gởi lời cảm ơn đến công ty Du lịch Non Nước Việt đã giúp em trưởng thành hơn, tự tin hơn và cung cấp cho em một số kiến thức cần thiết về khu du lịch Bà Nà trong quá trình em thực tập tại đây Đặc biệt,
Trang 3em cũng xin cảm ơn đến Công ty cổ phần dịch vụ cáp treo Bà Nà đã cho em nhiều thông tin quý giá để giúp em hoàn thành bài khóa luận này
Do thời gian có hạn và trình độ bản thân còn hạn chế nên bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được nhiều sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô giáo để bài khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 26 tháng 4 năm 2016.
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
Đà Nẵng, ngày 26 tháng 4 năm 2016 2
MỤC LỤC 3
PHẦN MỞ ĐẦU: 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 11
5.1 Nguồn tư liệu 11
5.2 Phương pháp nghiên cứu 11
5.2.1 Phương pháp khảo sát thực tế 11
5.2.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 11
5.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu điều tra 11
5.2.5 Phương pháp lịch sử 11
5.2.6 Phương pháp tổng hợp 12
6 Đóng góp của đề tài 12
7 Bố cục của đề tài 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI, MÔI TRƯỜNG SINH THÁI, NHÃN SINH THÁI VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU DU LỊCH BÀ NÀ – ĐÀ NẴNG 13
1.1 Cơ sở lí luận về du lịch sinh thái, môi trường sinh thái , nhãn sinh thái 13 1.1.1 Du lịch sinh thái 13
1.1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 13
1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 16
1.1.1.3 Tài nguyên du lịch sinh thái 18
1.1.1.4 Các nguyên tắc của du lịch sinh thái 21
Trang 51.1.2 Môi trường sinh thái 22
1.1.2.1 Khái niệm về môi trường sinh thái 22
1.1.2.2 Tác động của môi trường đến hoạt động du lịch sinh thái 23
1.1.2.3 Tác động của hoạt động phát triển du lịch sinh thái đến môi trường 24 1.1.2.4 Vai trò của hoạt động du lịch sinh thái và môi trường 30
1.1.2.5 Vai trò của tài nguyên môi trường đối với du lịch sinh thái 33
1.1.3 Nhận thức nhãn sinh thái 35
1.1.3.1 Khái niệm về nhận thức nhãn sinh thái 35
1.1.3.2 Vai trò của các bên tham gia và quan điểm nhãn sinh thái thông thường trong ngành du lịch 35
1.2 Khái quát chung về khu du lịch Bà Nà- Đà Nẵng 39
1.2.2.1 Vị trí địa lý 41
1.2.2.2 Khí hậu 41
1.2.2.3 Tài nguyên thiên nhiên 42
1.2.3 Điều kiện kinh tế- xã hội 43
1.2.3.1 Nguồn lao động 43
1.2.3.2 Cơ sở vật chất- hạ tầng kỹ thuật 43
1.2.4 Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở Bà Nà 50
1.2.4.1 Về số lượng khách 50
1.2.4.2 Về cơ cấu khách 51
1.2.4.3 Doanh thu du lịch 51
1.2.5 Hiện trạng về môi trường tại khu du lịch Bà Nà 51
1.2.6 Tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái ở Bà Nà 52
1.2.7 Thực trạng khai thác du lịch sinh thái tại Bà Nà 52
1.2.7.1 Về tài nguyên rừng 52
1.2.7.2 Về cơ sở vật chất kỹ thuật- hạ tầng trong du lịch 53
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT 56
2.1 Khái quát quá trình khảo sát 56
2.1.1.Thông tin về mẫu khảo sát 56
2.1.2 Sự tham gia của khách du lịch trong quá trình khảo sát 56
Trang 62.1.3 Ý kiến đóng góp của khách du lịch 57
2.2 Kết quả khảo sát nhận thức nhãn sinh thái của khách du lịch nội địa ở Bà Nà 59
2.2.1 Sự quan tâm của khách du lịch nội địa về hoạt động du lịch sinh thái 59 2.2.2 Nhận thức của khách du lịch nội địa về tầm quan trọng của môi trường sinh thái đối với sự phát triển du lịch của Bà Nà 62
2.2.3 Khảo sát nhận thức về bảo vệ môi trường sinh thái của khách du lịch nội địa ở khu du lịch sinh thái Bà Nà 63
2.2.4.Thực tế về hành vi nhận thức bảo vệ môi trường sinh thái của khách du lịch 68
2.2.4.1 Tích cực 68
2.2.4.2 Tiêu cực 68
2.3 Nguyên nhân của những khó khăn về ý thức bảo vệ môi trường trong du lịch sinh thái ở Bà Nà 69
2.3.1 Chính sách của nhà nước 70
2.3.2 Các nhà tổ chức, quản lý khu du lịch 71
2.3.3 Khách du lịch 72
2.4 Đề xuất một số giải pháp 72
2.4.1 Giải pháp quản lý 72
2.4.1.1 Pháp luật, chính sách của nhà nước 73
2.4.1.2 Nhận thức từ các nhà quản lý, tổ chức 75
2.4.1.3 Người dân địa phương 78
2.4.1.4 Khách du lịch 78
2.4.2 Giải pháp nâng cao nhận thức trong bảo vệ môi trường 79
2.4.3 Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức môi trường trong các tour du lịch sinh thái tại Bà Nà cũng như lồng ghép trong các tour du lịch sinh thái khác 80
2.4.3.1 Xác định tầm quan trọng của nhận thức bảo vệ môi trường trong du lịch sinh thái 80
Trang 72.4.3.2 Xây dưng một vài chương trình hành động thiết thực và lồng ghép các
cuộc thi về bảo vệ môi trường sinh thái trong các tour du lịch ở Bà Nà 81
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC I: 90
PHỤ LỤC I: 92
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Lí do chọn đề tài
Du lịch từ xưa đến nay được hiểu nôm na là một hình thức giúp con người nghỉ ngơi, tham quan, giải trí, khám phá những cái mới mẻ trong cuộc sống Nhưng hiện nay, du lịch được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói vì lợi ích của nó mang lại vô cùng to lớn, nó được ví như “con gà đẻ trứng vàng” Du lịch đóng góp vào doanh thu của đất nước, mang đến công ăn việc làm cho người dân, là phương tiện quảng bá hình ảnh đất nước mạnh mẽ nhất, là sự xuất khẩu hàng hóa tại chỗ nhanh nhất và hiệu quả nhất
Ngày nay, khi kinh tế phát triển , con người càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng cuộc sống, từ đó nhu cầu du lịch của con người ngày càng tăng cao, các loại hình du lịch ra đời và ngày càng phát triển nhằm phục vụ cho cuộc sống con người ngày càng tốt hơn Trong đó loại hình du lịch sinh thái được khách du lịch rất ưa chuộng , vì trong xã hội công nghiệp hiện nay, với nhịp độ hoạt động của dân cư và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng cao, nên con người có xu hướng quay về cội nguồn để hòa mình với thiên nhiên và tìm kiếm sự bình yên , trong sạch của môi trường và khám phá những điều mới lạ Du lịch sinh thái không chỉ đưa con người về với thiên nhiên mà còn có những hoạt động nhận thức mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội
Thành phố Đà Nẵng là thành phố trẻ, năng động với nhiều tiềm năng
để phát triển du lịch Nơi đây có nhiều danh thắng tuyệt đẹp ,được xem là địa điểm thích hợp để thực hiện chuyến du lịch Toạ lạc tại một khu vực thuộc về dãy núi Trường Sơn nằm ở xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách Đà Nẵng 25
km về phía Tây Nam là khu du lịch Bà Nà nằm trên đỉnh Núi Chúa có độ cao
1489 m so với mực nước biển Đây được xem là một trong những cung đường
du lịch như mơ của Đà Nẵng, thế giới Châu Âu thu nhỏ sở hữu cảnh quan thiên nhiên thơ mộng cùng hàng loạt các điểm nhấn độc đáo Bà Nà Hills không hổ danh là "lá phổi xanh" của Đà Nẵng với không khí trong lành, mát
Trang 9mẻ và những cảnh đẹp thiên nhiên vô cùng tươi đẹp mà hiếm nơi nào có được
Với những điều kiện về tự nhiên, tài nguyên du lịch phong phú thì khu
du lịch sinh thái Bà Nà Hills có đủ điều kiện để phát triển loại hình du lịch sinh thái tại nơi đây Tuy nhiên, nếu sự phát triển trong loại hình du lịch sinh thái chỉ quan tâm đến vấn đề lợi ích kinh tế mà không đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái thì chắc chắn nó sẽ không được bền vững Đặc biệt, khu
du lịch Bà Nà với hệ sinh thái nhạy cảm , nếu không có sự bảo vệ chặt chẽ thì khu du lịch được ví như “đường lên tiên cảnh “ với bốn mùa trong một ngày
sẽ vĩnh viễn biến mất Trong thời gian qua , khu du lịch Bà Nà đã nhận được một lượng khách rất lớn đến tham quan, nghỉ dưỡng Hoạt động của du khách tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái nơi đây Vì thế, quan niệm và ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch nội địa góp phần to lớn trong việc bảo vệ sự phát triển bền vững của khu du
lịch sinh thái Bà Nà Mục đích chính của đề tài này là : “Khảo sát nhận thức
nhãn sinh thái của khách du lịch nội địa ở khu du lịch Bà Nà – Đà Nẵng”
đề nhằm khảo sát nhận thức của khách du lịch nội địa, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp, đề xuất phát triển cho khu du lịch, mục đích bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường tự nhiên của địa phương, tăng hiệu quả kinh tế, mang lại nguồn thu nhập cho người dân và đáp ứng nhu cầu của du khách Em muốn chọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốt nghiệp với mong muốn góp một phần nhỏ vào sự phát triển du lịch sinh thái của khu du lịch Bà Nà nói riêng và du lịch của thành phố Đà Nẵng nói chung
Trang 10quốc tế Đà Nẵng có nhiều lợi thế về mặt địa hình, địa mạo độc đáo và hấp dẫn, với bờ biển dài hơn 60km, Đà Nẵng có nhiều bãi biển đẹp, thoai thoải, cát trắng mịn, nước trong xanh Năm 2005, biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh Đà Nẵng còn mang nét hấp dẫn riêng biệt bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ, bán đảo Sơn Trà vươn ra biển, đèo Hải Vân được mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất hùng quan” và 5 ngọn núi đá Ngũ Hành: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ với nhiều hệ thống hang động mang ý nghĩa tâm linh
Nằm về phía Tây của thành phố Đà Nẵng, khu du lịch Bà Nà nằm trên đỉnh núi Chúa mang những nét độc đáo về khí hậu, tài nguyên thiên nhiên và được ví như lá phổi xanh của thành phố Nơi đây có một hệ sinh thái hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, môi trường tự nhiên trong lành hiếm nơi nào có được, có hệ động thực vật phong phú và đa dạng Với những điều kiện
tự nhiên đặc thù, có thể nói tài nguyên du lịch sinh thái là sản phẩm du lịch đặc trưng của khu du lịch Bà Nà Nếu không có những nét độc đáo về hệ sinh thái nói trên thì chắc chắn Bà Nà – Đà Lạt thứ 2 sẽ không thể tồn tại và phát triển như ngày nay
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến khu du lịch và hệ sinh thái ở Bà Nà Theo công trình Báo cáo khoa học của Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường thành phố Đà Nẵng về đề tài: Điều tra, lập danh lục và xây dựng bộ tiêu bản các loài thực vật thân gỗ ở khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà- Núi Chúa, cho thấy sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các loài thực vật tại đây, từ đó thấy được sự đa dạng sinh học ở Bà Nà có vai trò quan trọng trong việc duy trì và cân bằng hệ sinh thái Hơn nữa, còn có các đề tài khác đi sâu nghiên cứu hệ sinh thái ở Bà Nà, tiềm năng và thực trạng về tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái như: Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên để phục vụ cho việc phát triển du lịch ở khu vực Bà Nà- Đà Nẵng của sinh viên ngành văn hóa du lịch tại trường Đại học sư phạm Đà Nẵng; Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái Bà
Trang 11Nà Hills của sinh viên Hồ Thị Minh Nguyệt; Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà…
Dựa trên sự nghiên cứu của những người đi trước, đề tài “ Khảo sát
nhận thức nhãn sinh thái của khách du lịch nội địa ở khu du lịch Bà Nà-
Đà Nẵng” muốn khai thác về vấn đề nhận thức, quan niệm bảo vệ môi trường
sinh thái của khách du lịch nội địa, từ đó đưa ra những giải pháp, những thông điệp nhằm giúp khách du lịch ý thức hơn về tầm quan trọng của môi trường sinh thái đối với sự sống và sự phát triển bền vững của khu du lịch Bà Nà Hơn nữa, còn giúp khách du lịch thấy rõ tầm quan trọng của mình trong việc bảo vệ “lá phổi xanh” của thành phố Đà Nẵng đầy năng động này
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát nhận thức nhãn sinh thái của khách du lịch nội địa, thực chất là tìm hiểu quan niệm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái ở khu du lịch Bà Nà của khách du lịch nội địa
Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp giúp khách du lịch nội địa có ý thức hơn về hành động của họ đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm giúp hoạt động du lịch nơi đây phát triển lâu dài, bền vững hơn.Từ đó, các nhà quản lý du lịch mới nhận thức rõ hơn nữa về tầm quan trọng của tài nguyên môi trường Hoạt động kinh doanh du lịch nơi đây thực sự có hiệu quả, đem lại nguồn lợi cho thành phố trên cơ sở đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nhận thức nhãn sinh thái của khách du lịch nội địa ở khu du lịch Bà Nà- Đà Nẵng
Trang 12- Thời gian: khảo sát nhận thức nhãn sinh thái của khách du lịch nội địa trong mùa du lịch tại khu du lịch Bà Nà
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này, em đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu, tài liệu khác nhau và trên các trang điện tử Đồng thời, em còn tham khảo sách báo, những bài viết có liên quan về loại hình du lịch sinh thái
và những bài nghiên cứu về khu du lịch sinh thái Bà Nà, những bài khóa luận của các anh chị đi trước và tài liệu trên các phương tiện truyền thông, internet
- Tư liệu thành văn:
+Sách chuyên ngành
+ Khóa luận tốt nghiệp
+ Các bài viết, bài nghiên cứu trong sách báo
- Tư liệu điền dã: Đây là nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng , góp phần tạo nên sự thành công của đề tài này
- Các trang thông tin điện tử:
5.2.2 Phương pháp điều tra và xử lý số liệu
5.2.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
5.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu điều tra
5.2.5 Phương pháp lịch sử
Trang 135.2.6 Phương pháp tổng hợp
6 Đóng góp của đề tài
Khi nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn góp phần tìm hiểu, khảo sát khách du lịch nội địa về quan niệm và ý thức bảo vệ môi trường sinh thái ở khu du lịch Bà Nà, góp phần vào sự phát triển bền vững trong tương lai cho khu du lịch
Trên cơ sở đó có những giải pháp để khách du lịch nội địa có nhận thức , quan niệm đúng đắn hơn về việc bảo vệ môi trường sinh thái, giúp họ hiểu thêm về tầm quan trọng của họ đối với sự phát triển du lịch nơi đây, nhằm chung tay bảo vệ “lá phổi xanh” của thành phố Đà Nẵng Hơn nữa, đề tài này góp phần giúp những nhà quản lý du lịch của Bà Nà nhận thức rõ hơn
về tầm quan trọng của môi trường sinh thái đối với sự phát triển, tác động của khách du lịch có thể làm cho môi trường sinh thái đi theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Qua đó, nhằm mang lại cho người dân địa phương,những nhà quản
lý du lịch và đặc biệt là khách du lịch một thông điệp về ý thức bảo tồn các giá trị môi trường tự nhiên
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo thì
đề tài này gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về du lịch sinh thái , môi trường sinh thái và khu du lịch Bà Nà – Đà Nẵng
Chương 2: Kết quả điều tra và khảo sát nhận thức nhãn sinh thái của khách du lịch nội địa ở khu du lịch Bà Nà
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI, MÔI TRƯỜNG SINH THÁI, NHÃN SINH THÁI VÀ KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ KHU DU LỊCH BÀ NÀ – ĐÀ NẴNG
1.1 Cơ sở lí luận về du lịch sinh thái, môi trường sinh thái , nhãn sinh thái
1.1.1 Du lịch sinh thái
1.1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là một lĩnh vực đặc biệt của du lịch nói chung, đáp ứng nhu cầu của du khách và người kinh doanh hoạt động du lịch.Qua những chuyến đi, khách du lịch được tiếp xúc với thiên nhiên, thưởng thức thiên nhiên bằng những phương tiện quan sát giản đơn hay những nghiên cứu có tính hệ thống; và ở khía cạnh nào đó, du lịch sinh thái là sự khai thác tiềm năng du lịch cho bảo tồn và phát triển; là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực với sinh thái văn hoá
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ nhiều góc độ Đối với một số người, “du lịch sinh thái” đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “ du lịch” và “ sinh thái” vốn đã quen thuộc, song đứng
ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm du lịch sinh thái là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1800.Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ mát, leo núi, tham quan thiên nhiên, chữa bệnh…đều được hiểu là du lịch sinh thái
Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về du lịch sinh thái, nhưng đa số ý kiến tại diễn đàn quốc tế chính thức về du lịch sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn
và được quản lý bền vững về mặt sinh thái
Một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được Hector ceballos – Lascurain đưa ra năm 1987 cho rằng: “Du lịch sinh
Trang 15thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã
và những giá trị văn hóa được khám phá” [28]
Hay Wood, 1991 cho rằng: “ Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương” [Wood, 1991]
Hoặc Alen, 1993 phát biểu: “ Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao với môi trường sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề
Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường Phát triển du lịch sinh thái sẽ làm giảm thiểu tác động của du lịch tới văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng quyền lợi do du lịch đem lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”.[28]
Còn rất nhiều định nghĩa về du lịch sinh thái , trong đó Buckley (1994)
đã tổng quát như sau: “ Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên , được quản lý bền vững , hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái”
Tại diễn đàn du lịch sinh thái Nam úc (1993), Allen K đã đưa ra định nghĩa sau: "Du lịch sinh thái dược phân biệt với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên hay du lịch giáo dục khác ở chỗ nó có mức độ giáo dục cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có trình độ Du lịch sinh thái bao hàm một phần đáng kể sự giao tiếp mạnh mẽ của con ngưòi, mà nếu được giáo dục sẽ làm biến chuyển khách du lịch thành những người tích cực bảo vệ môi trường Hoạt động du lịch sinh thái sẽ làm giảm đến mức tối thiểu các tác động của khách du lịch đối với môi trường và văn hoá, đảm bảo
Trang 16mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng dồng địa phương và đặc biệt sẽ đóng góp về tài chính cho các nỗ lực bảo tồn"
Bên cạnh các định nghĩa cá nhân như vậy, các tổ chức, chính phủ quốc gia cũng tham gia vào việc bày tỏ ý kiến này như:
Định nghĩa của Nepan như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch
đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu thập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”
Định nghĩa của Malaixia: “Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm viếng một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của tài nguyên thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của
du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực,có lợi về kinh tế và xã hội”
Định nghĩa của Ôxtrâylia như sau: “ Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, có mối liên quan đến sự giáo dục và diễn dải về môi trường thiên nhiên, được quản lý bền vững về mặt sinh thái”
Hiệp Hội du lịch sinh thái quốc tế cũng đã định nghĩa: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các cảnh quan thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”
Tổ chức bảo tổn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã định nghĩa:
"Du lịch sinh thái là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo đặc trưng văn hoá - quá khứ cũng như hiện tại)
có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ khách du lịch, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của nhân dân địa phương”.[40]
Ngoài ra, du lịch sinh thái còn được hiểu dưới những tên gọi khác như:
Trang 17+Du lịch thiên nhiên ( Nature Tourism)
+Du lịch dựa vào thiên nhiên ( Nature – Based Tourism)
+Du lịch môi trường ( Environmental Tourism)
+Du lịch đặc thù ( Particular Tourism)
+Du lịch xanh ( Green Tourism)
+Du lịch thám hiểm ( Adventure Tourism)
+Du lịch bản xứ ( Indigenous Tourism)
+Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
+Du lịch nhạy cảm ( Sensitized Tourism)
+Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
+Du lịch bền vững ( Sustainable Tourism)
Ở Việt Nam, du lịch sinh thái là lĩnh vực mới được đặt ra nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc
độ nhìn nhận khác nhau, khái niệm về du lịch sinh thái cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất
Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của du lịch sinh thái, trong đề tài này, chúng tôi dựa vào định nghĩa của Tổng cục du lịch Việt Nam trong chương trình phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF…(có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế Việt Nam về du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan), trong Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9-9-1999 lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái ở Việt Nam là: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp hỗ trợ nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia của cộng đồng địa phương”.[13]
1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
Mọi hoạt động của du lịch sinh thái đều được thực hiện dựa trên những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện
Trang 18về cơ sở hạ tầng và dịch vụ Kết quả của quá trình khai thác đó là sự hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội
Du lịch sinh thái là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung bao gồm:
- Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác phục
vụ cho du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan thiên nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện nước, nông sản, hàng hóa…)
- Tính đa thành phần: Biểu hiện tính đa dạng thành phần khách du lịch,
người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch
- Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên
nhiên, cảnh quan lịch sử - văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách
du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người trong xã hội
- Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một quần thể
các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau
- Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung
với cường độ cao trong năm, tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa…(theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình
du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giả trí…(theo tính chất của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch)
- Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản
phẩm du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền
- Tính xã hội hóa: Sự lôi cuốn toàn bộ mọi thành phần trong xã hội tham
gia (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) vào hoạt động du lịch Bên cạnh các đặc
Trang 19trưng của ngành du lịch nói chung, du lịch sinh thái còn hàm chứa những đặc trưng riêng bao gồm:
+ Tính giáo dục cao về môi trường: Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao
về độ đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động du lịch gây lên những áp lực lớn đối với môi trường, và du lịch sinh thái được coi là chiếc chìa khóa cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường
+ Góp phần bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Hoạt động du lịch sinh thái có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững
+Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Họ chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên tại địa phương mình Phát triển du lịch sinh thái là hướng con người đến với các vùng tự nhiên hoang sơ có giá trị cao về sự đa dạng sinh học, từ đó có một yêu cầu cấp bách đặt ra là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó, họ chính là những người hiểu rõ nhất về đặc điểm của những nguồn tài nguyên đó, sự tham gia của cộng đồng địa phương góp phần to lớn trong việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của khách du lịch, đồng thời góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân địa phương, tăng nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương
1.1.1.3 Tài nguyên du lịch sinh thái
- Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái
Là loại hình du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các gía trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa được tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự
Trang 20Tuy nhiên không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiiên các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái , phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng thì nó được xem là tài nguyên du lịch sinh thái
Tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm tài nguyên đang khai thác và tài nguyên chưa khai thác
Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm:
Thứ nhất, tài nguyên du lịch sinh thái phong phú và đa dạng, là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch chủ yếu được hình thành từ tự nhiên ,mà bản thân tự nhiên lại rất đa dạng và phong phú , vì thế tài nguyên du lịch sinh thái cũng có đặc điểm này Có nhiều hệ sinh thái đặc biệt , nơi sinh trưởng, tồn tại và phát triển nhiều loại sinh vật đặc hữu quý hiếm , thậm chí
có những loài tưởng chừng đã bị tuyệt chủng , được xem là những tài nguyên
du lịch sinh thái đặc sắc, có sức hấp dẫn đối với khách du lịch
Thứ hai, tài nguyên du lịch sinh thái thường rất nhạy cảm với các tác động
So với nhiều loại tài nguyên du lịch khác như các bãi biển , thác nước, các công trình di tích lịch sử văn hóa, tài nguyên du lịch sinh thái thường rất nhạy cảm đối với những tác động của con người Sự thay đổi tính chất của một số hợp phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hay mất đi của một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên nhân làm thay đổi , thậm chí mất đi hệ sinh thái đó và kết quả là tài nguyên du lịch sinh thái sẽ bị ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau
Thứ ba, tài nguyên du lịch sinh thái có thời gian khai thác khác nhau Trong các loại tài nguyên du lịch sinh thái, có loại có thể khai thác được quanh năm, song cũng có loại mà việc khai thác ít nhiều lệ thuộc vào thời vụ
Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theo quy luật diễn biến của khí hậu, của mùa di
cư, sinh sản các loài sinh vật, đặc biệt là các loài đặc hữu, quý hiếm Ví dụ ở
Trang 21các tour du lịch miệt vườn, du khách chỉ có thể đến thăm những vườn cây đặc sản như nhãn lồng, vải thiều, xoài cát vào mùa hạ; cam giấy, cam thảo vào mùa đông Hoặc tour du lịch biển, việc tham quan nghiên cứu các rạn san hô
có thể được tổ chức quanh năm ở khu vực phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào), còn ở khu vực phía Bắc, hoạt động này thường chỉ thuận lợi vào mùa hạ khi khí hậu trở nên ấm áp
Như vậy để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái, các nhà quản lý, tổ chức điều hành cần có những nghiên cứu cụ thể về tính mùa vụ của các loại tài nguyên để làm căn cứ đưa ra những giải pháp thích hợp
Thứ tư, tài nguyên du lịch sinh thái thường nằm xa các khu dân cư hoặc được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm du lịch
Một đặc điểm có tính đặc trưng của du lịch sinh thái là chúng thường nằm xa các khu dân cư, bởi chúng sẽ nhanh chóng bị suy giảm, bị biến đổi thậm chí không còn nữa do tác động trực tiếp của người dân như săn bắn, chặt cây… nhằm thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của mình Điều này giải thích tại sao phần lớn tài nguyên du lịch sinh thái lại nằm trong phạm vi các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên nơi có sự quản lý chặt chẽ
Khác với các loại tài nguyên khác, sau khi được khai thác có thể vận chuyển đi nơi khác để chế biến nhằm tạo ra sản phẩm rồi lại được đưa đến tận nơi tiêu thụ, tài nguyên du lịch nói chung, tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng thường được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm nhằm thõa mãn nhu cầu của du khách Vì vậy, do những đặc điểm trên nên để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái, cần phải có được điều kiện hạ tầng cơ sở thuận lợi tiếp cận với các khu vực tiềm năng
Thứ năm, tài nguyên du lịch sinh thái có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài
Phần lớn các tài nguyên du lịch trong đó có tài nguyên du lịch sinh thái được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo, sử dụng lâu dài Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên Tuy nhiên thực tế cho thấy
có nhiều tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc, như các loài sinh vật đặc hữu,
Trang 22quý hiếm hoàn toàn có thể mất đi do những tai biến tự nhiên hoặc tác động của con người Vấn đề được đặt ra là cần nắm được quy luật của tự nhiên, lường trước được những tác động của con người đối với tự nhiên nói chung, tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng để có những định hướng, giải pháp cụ thể khai thác hợp lý, có hiệu quả, không ngừng bảo vệ, tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên vô giá này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch
1.1.1.4 Các nguyên tắc của du lịch sinh thái
Hoạt động du lịch sinh thái cần tuân theo một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết
về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn: Đây là
một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên , về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị tự nhiên,sinh thái và văn hóa khu vực
Thứ hai, bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái: Cũng như hoạt động
của các loại hình du lịch khác , hoạt động du lịch sinh thái tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, du lịch sinh thái coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ bởi vì:
_ Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của du lịch sinh thái
_ Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch sinh thái
Với những nguyên tắc này, mọi hoạt động du lịch sinh thái sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một
Trang 23phần thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái
Thứ ba, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng: Đây được xem
là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động du lịch sinh thái, bởi các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục , sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng dịa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này
sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái
Thứ tư, tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương: Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh
thái Nếu như các loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại, du lịch sinh thái sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận
từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương
Ngoài ra du lịch sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách…thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phá triển du lịch sinh thái
1.1.2 Môi trường sinh thái
1.1.2.1 Khái niệm về môi trường sinh thái
Thuật ngữ sinh thái học lần đầu tiên được nhà sinh học người Đức E.Hecken đưa vào bài giảng khoa học vào năm 1866, trong công trình “ hình thái học toàn thể cơ thể” Qua đó có thể đưa ra khái niệm môi trường sinh thái như sau: “ Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện tự nhiên, nhân tạo
Trang 24bao quanh con người, có tác động đến đời sống, sự tồn tại, phát triển của con người.”
Hoặc: “Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu” Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên Thông qua quá trình lao động, con người khai thác bảo
vệ bồi đắp cho thiên nhiên Cũng qua quá trình đó con người xã hội dần dần
có sự đối lập với tự nhiên
1.1.2.2 Tác động của môi trường đến hoạt động du lịch sinh thái
Sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng gắn liền với vấn đề môi trường Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng, và xã hội hoá cao như du lịch Môi trường được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại của hoạt động du lịch Như chúng ta đã biết rằng
để phát triển du lịch thì yếu tố tài nguyên thiên nhiên là vô cùng quan trọng Trong đó, môi trường tự nhiên như môi trường nước, không khí, đất đai, đồi núi là yếu tố chính để đem đến sự thỏa mãn cho khách du lịch Đối với hoạt động du lịch sinh thái thì môi trường lại có một vai trò hết sức quan trọng, đó
là cơ sở, là điều kiện cần và đủ cho hoạt động phát triển du lịch sinh thái Hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với môi trường, khai thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi các đặc tính của môi trường
Các cảnh đẹp của thiên nhiên như núi, sông, biển cả , các giá trị văn hoá như các di tích, công trình kiến trúc nghệ thuật hay những đặc điểm và tình trạng của môi trường xung quanh là những tiềm năng và điều kiện cho phát triển du lịch Ngược lại, ở chừng mực nhất định, hoạt động du lịch tạo nên môi trường mới hay góp phần cải thiện môi trường như việc xây dựng các công viên vui chơi giải trí, các công viên cây xanh, hồ nước nhân tạo, các
Trang 25làng văn hoá du lịch Như vậy, rõ ràng rằng hoạt động du lịch và môi trường
có tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động
du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch
Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chịu sự tác động của môi trường sinh thái đối với sự phát triển của mình Và nếu không có môi trường sinh thái tốt thì hoạt động du lịch sinh thái sẽ không có hiệu quả và không hấp dẫn khách du lịch Một điểm du lịch không có đủ tiêu chuẩn về môi trường sinh thái thì không thể nào diễn ra hoạt động du lịch sinh thái được Môi trường sinh thái tác động 2 mặt đến hoạt động du lịch sinh thái Nó vừa đem đến hiệu quả tốt cho hoạt động du lịch sinh thái nếu môi trường sinh thái nằm trong một chỉnh thể hoàn thiện, đủ điều kiện cho hoạt động du lịch sinh thái
và được bảo tồn tốt và ngược lại, môi trường sinh thái sẽ làm suy giảm hiệu quả kinh tế và độ hấp dẫn của hoạt động du lịch sinh thái nếu khai thác lãng phí, tác động xấu đến môi trường thông qua hoạt động phát triển du lịch và không có hoạt động bảo tồn chặt chẽ
1.1.2.3 Tác động của hoạt động phát triển du lịch sinh thái đến môi trường
Về mặt tích cực bao gồm:
- Du lịch sinh thái góp phần vào việc bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên; du lịch sinh thái làm tăng giá trị kinh tế, hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên: rừng, mặt nước, cảnh quan ; góp phần khai thác tốt hơn, có hiệu quả hơn các không gian, cảnh quan thiên nhiên: hang động, núi đá, suối, sông, suối ngầm; làm đẹp thêm, làm giàu thêm các cảnh quan thiên nhiên bằng các đầu tư mới, làm phong phú thêm các không
Trang 26gian du lịch do các bổ sung đầu tư du lịch; thúc đẩy việc nghiên cứu, phát hiện, công nhận thêm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn mới; tăng cường đầu tư xây dựng thêm các khu vui chơi, khu giải trí mới
- Du lịch sinh thái làm tăng khối lượng và chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đầu tư của du lịch góp phần làm giàu rừng tự nhiên thông qua các dự án trồng rừng bổ sung rừng nghèo, khoanh nuôi, tái sinh rừng suy kiệt Du lịch đầu tư có việc mở rộng diện tích rừng nhân tạo ở những khu du lịch trọng điểm; góp phần làm giàu đa dạng sinh học, làm phong phú thêm các hệ sinh thái bằng cách bổ sung các loài thực vật và động vật mới
Ở những vùng du lịch trọng điểm, quy hoạch phát triển du lịch góp phần nâng cao giá trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao giá trị các cảnh quan đặc sắc và đặc hữu Du lịch còn góp phần làm thay đổi mục đích sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng tạo thêm những giá tri mới, tăng thêm những giá trị hiện có của tài nguyên
- Du lịch sinh thái góp phần nâng cao giá trị tài nguyên - môi trường: Giá trị của đầm phá, khu rừng được tăng lên rất nhiều lần vì cùng với sự phát triển của du lịch sinh thái, người ta thấy thêm giá trị cảnh quan, giá trị nghỉ ngơi, thư giãn cho khách du lịch
Du lịch sinh thái làm tăng giá trị những cảnh quan bình thường, mà đối với người dân tại địa phương, hầu như không quan tâm tới các giá trị đó có như các miệt vườn, các tràm chim, các lối mòn trong rừng, rặng san hô
- Hoạt động du lịch tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo
vệ tối ưu các nguồn tài nguyên và môi trường du lịch góp phần tích cực vào việc bảo tồn các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, các khu rừng văn hóa – lịch sử - môi trường, tu bổ, bảo vệ hệ thống đền đài lịch sử, kiến trúc
mỹ thuật Tăng thêm mức độ đa dạng sinh học tại những điểm du lịch nhờ những dự án có các công viên cảnh quan, khu nuôi chim thú hoặc bảo tồn đa dạng sinh học thông qua nuôi trồng nhân tạo phục vụ du lịch Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch nhờ các dự án thường có yêu cầu tạo thêm các vườn cây, công viên cảnh quan, hồ nước, thác nước nhân tạo
Trang 27- Du lịch sinh thái nói riêng và du lịch nói chung góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnh quan tại các điểm du lịch như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới, cải thiện môi trường cho cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng phương tiện vệ sinh công cộng, đường sá thông tin, năng lượng, nhà cửa xử lí rác và nước thải được cải thiện, dịch vụ môi trường được cung cấp Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư nếu như các giải pháp hạ tầng, kỹ thuật đồng bộ được áp dụng Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ sử dụng quỹ đất còn trống chưa được sử dụng hiệu quả Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động dân sinh kinh tế tại các khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kỹ thuật trong cấp thoát nước được sử dụng
- Du lịch sinh thái phát triển đưa đến sự kiểm soát ở các điểm du lịch nhằm bảo vệ môi trường: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo tồn
và Vườn Quốc gia Du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc.Du lịch sinh thái giúp tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông qua việc trao đổi và học tập với du –khách
-Thông qua hoạt động du lịch sinh thái sẽ giúp cho các loài động thực vật
quý hiếm được khôi phục , giữ gìn và bảo tồn góp phần bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ sự đa dạng của hệ sinh thái học trên toàn thế giới
- Cảm nhận được nét đẹp tinh tế của thiên nhiên và thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, du khách sẽ hiểu biết thêm về thiên nhiên , về sự phong phú và đa dạng của thiên nhiên, sự cân bằng mong manh trong mỗi hệ sinh thái…Thông qua đó, du lịch sinh thái góp phần giúp con người sống nhạy cảm và có trách nhiệm hơn với môi trường, với “hành tinh” của chính mình
Trang 28Về mặt tiêu cực bao gồm:
Hoạt động phát triển du lịch sinh thái đồng nghĩa với việc gia tăng lượng khách du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên , từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực của du lịch đến môi trường Trong nhiều trường hợp, do tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động du lịch sinh thái vượt ngoài nhận thức và năng lực quản lý nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy thoái lâu dài
Các tác động chủ yếu từ hoạt động phát triển du lịch đến môi trường bao gồm :
- Trong giai đoạn xây dựng phát triển du lịch: các khu du lịch, các hoạt động chủ yếu bao gồm san lấp chuẩn bị mặt bằng; khai thác vật liệu để xây dựng các công trình hạ tầng và dịch vụ du lịch;xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống cung cấp nước và năng lượng, hệ thống thu gom và xử lý chất thải ); xây dựng các công trình dịch vụ du lịch; các hoạt động vận chuyển; v.v Các hoạt động này sẽ tác động làm ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan, môi trường sống (nơi cư trú) của nhiều loài sinh vật, làm tăng nguy cơ mất cân bằng trong phát triển các hệ sinh thái, Tác động này thường nhận thấy rõ khi phát triển xây dựng các khu du lịch sinh thái ở những khu vực có môi trường nhạy cảm như rừng ngập mặn ven biển, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
- Trong quá trình hoạt động du lịch: tăng áp lực ô nhiễm môi trường do lượng chất thải (rác và nước thải) từ hoạt động của khách du lịch trong quá trình tham quan du lịch và từ các cơ sở dịch vụ du lịch; tăng khả năng ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất và các hệ sinh thái từ các phương tiện dịch vụ vận chuyển, vui chơi giải trí, các cơ sở lưu trú ; tăng khả năng phát sinh các dịch bệnh do khách mắc phải từ nơi khác; tăng nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học do có nhu cầu về thực phẩm (đặc biệt là đặc sản), hàng lưu niệm (được làm từ các loài sinh vật quý hiếm) của du khách; do sự tập trung lượng lớn du khách trong mùa giao phối; v.v; tăng nguy cơ xói mòn vùng cát
Trang 29ven biển do phát triển các khu du lịch biển và tăng nguy cơ ùn tắc giao thông, tăng áp lực đối với hệ thống hạ tầng xã hội, đặc biệt trong mùa du lịch, thời gian lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần
- Tài nguyên nước xây dựng, đất đá và các chất nạo vét, đặc biệt là những nơi chặt phá rừng ngập mặn để xây bến cảng, làm cho chất lượng nước giảm
đi rất nhiều, nước bị đục, quá trình trầm lắng tăng Sinh vật đáy bị huỷ diệt, chất bẩn do nạo vét tạo nên Biển và đất bị nhiễm độc bởi chất thải
- Việc giải phóng mặt bằng và san ủi đất để xây dựng các công trình và làm đường có thể gây ra xói mòn và sụt lở đất, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước mặt chất lượng nước kém đi, bờ biển bị xuống cấp Các hoạt động trong quá trình xây dựng sẽ làm ô nhiễm nguồn nước, làm chất lượng nước kém đi Đất bờ bị sụt lở hoặc rác rưởi trôi dạt sẽ làm tăng thêm hàm lượng bùn và các chất cặn, vì thế mà chất lượng nguồn nước kém đi, độ nhiễm độc tăng
- Du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của địa phương Nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn, nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản
- Hoạt động du khách cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nứơc như: vứt rác bừa bãi ( khi qua phà…) nguồn cấp nước bị nhiễm bẩn, nhiều sinh vật gây bệnh hại cho sức khoẻ, đổ các chất lỏng ( chất hyđrocacbon khi bơi thuyền, đi xe máy…), xăng dầu rơi vãi tạo các vết dầu loang dẫn đến nhiễm độc nặng, chất lượng nước kém đi Ngoài ra, vứt rác thải bừa bãi là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, đặc biệt là khu du lịch sinh thái, ngoài ra còn ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội
- Việc thay đổi mục đích sử dụng đất dẫn đến mất cân bằng sinh thái, thay đổi cảnh quan, đẩy nhanh quá trình xói mòn Các hoạt động khác: giao thông
Trang 30tấp nập, có quá nhiều du khách làm chất lượng không khí kém đi, các giá trị
du lịch bị xuống cấp
- Tài nguyên không khí:
Bụi và các chất gây ô nhiễm không khí xuất hiện chủ yếu là do các hoạt động giao thông, do sản xuất và sử dụng năng lượng Tăng cường sử dụng giao thông cơ giới, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính,là nguyên nhân đáng kể gây nên bụi bặm, ô nhiễm môi trường gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông Trạng thái ồn ào phát sinh do việc tăng cường sử dụng các phương tiện cơ giới như thuyền, phà gắn máy, xe máy…cũng như hoạt động của du khách tại các điểm du lịch tạo nên những hậu quả trước mắt cũng như lâu dài
-Tài nguyên đất:
Du lịch kéo theo việc xây dựng kết cấu hạ tầng, khách sạn và công trình dịch vụ du lịch Điều này tất yếu dẫn đến việc xâm lấn những diện tích đất trước đây là những cảnh quan thiên nhiên, những khu đất trồng trọt và chăn nuôi Hoạt động phát triển các khu du lịch thường dẫn đến việc giảm quỹ đất canh tác nông nghiệp
-Tài nguyên sinh vật:
Ô nhiễm môi trường sống cùng với việc mất đi những cảnh quan thiên nhiên, những khu đất chăn nuôi là những nhân tố làm cho một số loài thực vật
và động vật dần dần bị mất nơi cư trú Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây bẻ cành, săn bắn chim thú tại những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng lẫn chất lượng sinh vật trong phạm vi khu du lịch Các yếu tố ô nhiễm như rác và nước thải không được xử
lí đúng mức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái ở dưới nước
- Hoạt động của du khách có tác động lớn đến hệ sinh thái…các hoạt động du lịch dưới nước như thu nhặt sò, ốc, khai thác san hô làm đồ lưu niệm
và thả neo tại những bãi đá san hô đều làm gia tăng việc huỷ hoại bãi san hô, nơi sinh sống của các loài động vật ở dưới nước
Trang 31- Việc khai thác và sử dụng đất ngày càng tăng đang ảnh hưởng đến môi trường sống của hệ động thực vật Các hoạt động thể thao, đánh bắt cá của du khách ở khu vực ven biển đã có tác động xấu đến việc bảo tồn các loài sinh vật quí đang cần bảo vệ Nhu cầu của du khách về hải sản được coi là nguyên nhân chính tác động mạnh đến môi trường của tôm hùm và các hải sản có giá trị khác Đối với các hệ sinh thái nước ngọt (sông, hồ) việc đánh bắt cá để đáp ứng nhu cầu của khách cũng là mối đe doạ các động vật có giá trị, đặc biệt là
cá sấu
Các khu rừng cấm và rừng nguyên sinh đặc biệt dễ bị tổn thương khi có nhiều du khách Những hoạt động như sự đi lại của xe, giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả bừa bãi, chặt cây bừa bãi… làm mất dần nhiều loài động thực vật Ở các khu bảo tồn thú hoang dã, hoạt động của các đoàn xe và khách du lịch cũng có ảnh hưởng xấu đến môi trường sống làm cho sự yếu tính bị mất đi và các sinh vật trở nên sợ sệt, thậm chí nhiều con thú bị chết vì tai nạn do con người gây ra
- Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất
1.1.2.4 Vai trò của hoạt động du lịch sinh thái và môi trường
Du lịch sinh thái mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn
và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quốc gia
Du lịch sinh thái tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo
vệ tối ưu môi trường du lịch, góp phần vào việc tu bổ, phục hồi các hệ thống đền đài lịch sử, kiến trúc mỹ thuật
Sử dụng môi trường du lịch để phát triển du lịch sinh thái đúng cách sẽ
có những tác động tích cực như:
+ Giảm áp lực cho công tác bảo vệ rừng
Trang 32+ Tăng thêm mật độ đa dạng sinh học nhờ những dự án có các công viên, khu nuôi động vật, nuôi trồng nhân tạo
+ Bổ sung thêm vẻ đẹp cảnh quan do các dự án quy hoạch như trông nhiều cây xanh, hồ nước
+ Tạo cơ hội khôi phục các làng nghề truyền thống tại địa phương
+ Nâng cao ý thức tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường
Du lịch sinh thái cải thiện mức sống cho người dân địa phương, đưa việc bảo tồn và phát huy tài nguyên tự nhiên hay văn hóa bản địa thành việc làm chính của họ
Tạo ra một số ngành nghề mới phục vụ du lịch, giảm bớt việc thanh niên đi nơi khác tìm việc làm
Có sự cải thiện về mặt phúc lợi xã hội, chú trọng đến các công trình và dịch vụ công cộng
Hoạt động du lịch sinh thái giúp giảm tải các tác động xấu đến môi trường trong các loại hình du lịch khác và góp phần tuyên truyền, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng
Phát triển luôn gắn liền với môi trường trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau Phát triển du lịch sinh thái nhằm cải thiện và nâng cao sức khỏe
và chất lượng cuộc sống của cộng đồng thông qua việc bảo vệ môi trường và duy trì các nguồn tài nguyên Con người cần phải hài hoà với thiên nhiên, thông qua việc bảo vệ môi trường sinh thái để khôi phục sự cân bằng Phát triển du lịch sinh thái là phương cách “cứu lấy thiên nhiên”, “cứu lấy con người”, làm trong sạch môi trường đồng thời, cải thiện điều kiện kinh tế của đất nước mà không làm phá hủy các nguồn tài nguyên Điều này, là nền tảng của nguyên tắc đạo đức mới của cuộc sống bền vững
Du lịch sinh thái tạo cho con người có cuộc sống lành mạnh, đầy đủ và lâu dài, có sự kết hợp hài hòa giữa con người và tự nhiên, giữa bảo vệ môi trường và phát triển; đồng thời duy trì khả năng chịu đựng của trái đất trước
sự khai thác của con người
Trang 33Thông qua du lịch sinh thái sẽ nâng cao được ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môitrường tự nhiên, tăng cường sự hiểu biết về văn hoá, lịch sử giữa các quốc gia, dân tộc Du lịch sinh thái còn tạo ra những yếu tố phục hồi sức khoẻ nhanh, chữa bệnh, nâng cao sự hiểubiết về thiên nhiên, môi trường
Du lịch sinh thái chủ yếu sử dụng lao động là người dân địaphương làm cho người dân có thêm thu nhập nâng cao cuộc sống Họ thấy rằng du lịch sinh thái là nguồn thu nhập chính do đó ý thức bảo vệ môi trường sinh thái được nâng lên
Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng; sự phát triển du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng người dân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các khu bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn
Du lịch sinh thái còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí Chính vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, bên cạnh các lợi ích về kinh tế, du lịch sinh thái còn được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch
Du lịch có ý nghĩa nhân sinh và xã hội rất tích cực, thúc đẩy du lịch là yếu tố cơ bản của phồn vinh xã hội Đồng thời, thông qua hoạt động du lịch còn có thể làm tăng sự hiểu biết của du khách đối với cảnh quan thiên nhiên, đất nước, con người, lịch sử văn hóa xã hội của quốc gia, nhờ vậy tinh thần yêu tổ quốc, yêu quê hương được tăng lên và có tình thần trách nhiệm xây dựng đất nước giàu mạnh, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ môi trường
Du lịch làm tăng nhận thức của địa phương về giá trị kinh tế của các khu vực
tự nhiên và văn hóa, qua đó có thể khơi dậy niềm tự hào đối với những di sản của quốc gia và địa phương cũng như quan tâm đến việc giữ gìn chúng
Trang 34=> Như vậy, vai trò của du lịch sinh thái như một mắc xích với cơ cấu phát triển bền vững, vừa phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội theo xu hướng chung của thế giới, vừa đảm bảo nục tiêu cho bảo tồn, phát triển bền vững của
hệ sinh thái
1.1.2.5 Vai trò của tài nguyên môi trường đối với du lịch sinh thái
- Bảo vệ khu du lịch không bị ảnh hưởng của thiên tai, chống xói mòn: Những vỉa san hô, rừng ngập mặn và vạt cỏ biển hình thành để bảo vệ các bãi biển một cách tự nhiên vốn không được ngành du lịch tập trung bảo
vệ, cung cấp những dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu mà ngành công nghiệp này phụ thuộc vào Ngoài ra, chúng có khả năng chống bão, chống xói mòn bờ biển và tạo môi trường sống cho hàng ngàn loài sinh vật biển như cá, rùa biển, tôm hùm,…
-Rừng là một hệ sinh thái bao gồm hệ động- thực vật và vi sinh vật phong phú cùng với môi trường vật lý của chúng:
Sự đa dạng sinh học của rừng thể hiện ở sự đa dạng về các loài động- thực vật, sự đa dạng về các hệ sinh thái rừng…hình thành nên những nét riêng biệt về thành phần loài, điều kiện khí hậu của các khu vực có rừng khác nhau, tạo ra sức hút đối với du khách khi tham gia các hoạt động du lịch sinh thái -Nơi lưu giữ những bản sắc văn hóa,chiến tích lịch sử phục vụ cho du lịc sinh thái:
Rừng là nơi lưu giữ nhiều sự kiện lịch sử mà qua đó con người có thể tổ chức các cuộc dã ngoại, các hoạt động vui chơi, tham quan Đây là cơ hội để phát triển loại hình du lịch sinh thái- lịch sử- về nguồn…
-Tài nguyên môi trường có vai trò quan trọng đối với hoạt động du lịch vì tác động trực tiếp đến khả năng thu hút khách tham quan, đặc biệt là khách đến từ một số nước thu nhập cao, có nhu cầu sử dụng dịch vụ du lịch từ hình thức du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm Nếu không đảm bảo tốt vấn đề môi trường, việc phát triển du lịch sẽ không bền vững
- Môi trường không khí: Môi trường không khí là bộ phận của môi trường
tự nhiên tồn tại dưới dạng thể khí Trong môi trường du lịch, môi trường
Trang 35không khí có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định các khu du lịch nghỉ dưỡng, đến tổ chức mùa vụ khai thác du lịch…Các yếu tố của môi trường không khí
có vai trò khá lớn trong việc xem xét quyết định hướng quy hoạch khu du lịch, bố trí không gian và phác đồ kiến trúc quần thể du lịch Đánh giá chất lượng môi trường cho hoạt động du lịch qua nghiên cứu mức độ ô nhiễm của không khí, mức độ thuận lợi và thích hợp của thời tiết và khí hậu đối với việc
tổ chức hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ của du khách
- Môi trường sinh học: được xem là bộ phận sống (hữu cơ) của môi trường tự nhiên Môi trường sinh học là cơ sở duy trì và phát triển cuộc sống trên hành tinh, điều hòa cán cân nước, làm sạch bầu khí quyển, cung cấp lương thực thực phẩm cho xã hội do đó môi trường sinh học có vai trò rất to lớn trong việc thiết lập và bảo vệ cân bằng sinh thái của tự nhiên Những biến đổi của môi trường sinh học cả về lượng và chất có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch trên hành tinh
-Đa dạng sinh học là một đặc tính quan trọng của môi trường sinh học, có ảnh hưởng lớn đến tổ chức các hoạt động du lịch, đặc biệt là hoạt động du lịch sinh thái, du lịch tham quan nghiên cứu Chính vì vậy không phải ngẫu nhiên nhiều điểm du lịch sinh thái, cảnh quan có ý nghĩa quốc gia và quốc tế ở Việt Nam gắn liến với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng văn hoá cảnh quan môi trường
-Tài nguyên môi trường là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch, chất lượng của sản phẩm và hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái
- Tài nguyên môi trường là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình
Trang 361.1.3 Nhận thức nhãn sinh thái 1.1.3.1 Khái niệm về nhận thức nhãn sinh thái
Môi trường là tài sản quý báu của mỗi quốc gia, có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của mỗi con người, của sinh vật và sự phát triển của kinh tế- văn hóa- xã hội Đặc biệt với hoạt động du lịch sinh thái thì tài nguyên môi trường mang tính quyết định đến sự phát triển, giá trị của hoạt động du lịch Tuy nhiên, do sự bùng nổ dân số, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ý thức bảo vệ môi trường của con người trong nhiều thập kỉ qua còn nhiều hạn chế đã tạo ra những hiểm họa khôn lường cho cuộc sống của chính mình Vì vậy, việc bảo vệ môi trường, ý thức sinh thái về sự phát triển bền vững đó là nhiệm vụ vừa cấp bách và cũng là một trong nhiều mối quan tâm mang tính toàn cầu
Vì thế, khái niệm “Nhận thức nhãn sinh thái” trong đề tài này thực chất
là ý thức bảo vệ môi trường, là hành động tích cực trong nhận thức của khách
du lịch để bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên nơi đang diễn ra hoạt động du lịch sinh thái mà khách du lịch đang tham gia
1.1.3.2 Vai trò của các bên tham gia và quan điểm nhãn sinh thái thông thường trong ngành du lịch
*Tổ chức phi chính phủ:
- Cung cấp các tiêu chuẩn trong ngành du lịch sinh thái
- Tạo ra thị trường phi lợi nhuận và các chương trình du lịch ra nước ngoài
- Là các chuyên gia về du lịch bền vững
- Xây dựng các dự án về du lịch sinh thái ở các nước trong khu vực lân cận hoặc những quốc gia trên thế giới có tuyến tham quan này và ít có xu hướng kinh doanh mà thường hướng vào các công tác bảo tồn
*Cộng đồng địa phương:
- Là một “sản phẩm” của hoạt động du lịch
- Tham gia vào quy hoạch phát triển du lịch, vào hoạt động và quản lý du lịch ở những vị trí, ngành nghề thích hợp
Trang 37thái
- Có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực lên sự phát triển của du lịch sinh
- Đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn tài nguyên và di sản củađịa phương và quốc gia
- Sự tham gia của cộng đồng địa phương là mục tiêu và nguyên tắc của du
lịch sinh thái Những lợi ích từ sự tham gia của cộng đồng địa phương cho du lịch sinh thái và môi trường là rất đa dạng và phong phú
- Trong quá trình hoạt động du lịch, cần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương bằng cách huy động tối đa về khả năng con người và
cơ sở vật chất của cộng đồng địa phương vào phục vụ du khách như tham gia vận chuyển du khách, tổ chức biểu diễn văn hoá nghệ thuật dân tộc, bán các sản phẩm từ các làng nghè truyền thống, tham gia giữ gìn trật tự và vệ sinh môi trường Tăng cường thông tin, trao đổi thường xuyên với cộng đồng nhằm giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình thực hiện và chia sẻ lợi nhuận thu được từ du lịch
- Sự tham gia của cộng đồng địa phương qua các tổ chức thường có hiệu quả và bền vững hơn cá nhân riêng lẻ Hơn nữa, có thể phát huy vai trò làm chủ của cộng đồng địa phương bằng cách xem họ như các cổ đông của khu du lịch sinh thái bằng cách góp vốn hoặc sức lao động vào các dự án nhằm tăng
tỷ lệ phân bổ lợi nhuận cũng như gắn bó trách nhiệm của họ với bảo tồn và du lịch
Trang 38- Quản lý một cách có trách nhiệm các hoạt động và dùng những quy tắc chỉ đạo của địa phương để hướng dẫn thói quen của du khách
*Hướng dẫn viên du lịch:
Ngoài những yêu cầu chung của một hướng dẫn viên du lịch thì hướng dẫn viên du lịch sinh thái còn có những yêu cầu như sau:
- Phải có hiểu biết nhất định về lý thuyết du lịch sinh thái
- Nhận biết các dạng hình hệ sinh thái với những thành phần và cấu trúc của chúng cũng như nhận dạng, phân biệt một số loài động thực vật điển hình trong hệ sinh thái đó
- Phải có tính cách nhã nhặn, kiên trì để trình bày, giải thích nhưng cũng
tỏ thái độ kiên quyết với những du khách có hành vi gây tệ hại cho sinh thái môi trường (chọc phá thú, ngắt hoa, bẻ cành, giẫm lên cỏ…)
- Hướng dẫn viên du lịch được xem là cầu nối giữa khách du lịch và đối
tượng du lịch để thỏa mãn các nhu cầu của khách, chất lượng những đóng góp của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của hoạt động
-Những lợi ích về bảo tồn, kinh tế và văn hóa là những quan tâm hàng đầu
của chính phủ đối với du lịch sinh thái trong chiến lược phát triển bền vững của một quốc gia
- Trong quá trình phát triển, sự ủng hộ về mặt thể chế, chính sách cũng là những yếu tố xúc tiến hoặc kìm hãm vấn đề phát triển du lịch Nếu có được một chính sách phù hợp thì sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển, ngược lại cũng có những chủ trương kìm hãm sự phát triển du lịch
Trang 39*Các nhà quản lý tài nguyên, điểm du lịch:
- Tôn trọng cảnh quan môi trường ban sơ trong quy hoạch của điểm du lịch để giảm thiểu tác động của việc xây dựng lên môi trường
- Bảo vệ yếu tố tự nhiên như hệ động thực vật
- Thiết kế các khu lưu trú phải phải hạn chế tối đa việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên , nhất là các nguồn tài nguyên không tái tạo được
- Có chiến lược giảm sử dụng năng lượng và nước cũng như có kế hoạch quản lý rác thải thông qua việc tái sử dụng và tái chế
- Khuyến khích và hợp tác với cộng đồng địa phương tham gia vào du lịch sinh thái
* Khách du lịch:
- Du khách sinh thái ngày nay là những người sẵn sàng bỏ qua sự xa xỉ và tiện nghi đắt tiền của một chuyến du lịch phổ thông để được hòa mình cùng với thiên nhiên , cảm nhận được những cảm giác thư thái mà thiên nhiên mang đến cho họ
- Yếu tố quan trọng của chuyến du lịch: khung cảnh thiên nhiên hoang dã,văn hóa bản điạ độc đáo và đa dạng
- Những lợi ích của chuyến đi du lịch mà các khách du lịch sinh thái tìm kiếm đó là sự hiểu biết, có thêm kinh nghiệm về tự nhiên; về văn hóa, thư giãn, góp phần thay đổi nhận thức bản thân và xã hội khi môi trường đang ngày càng xuống cấp
- Thông thường du khách là những người tác động tiêu cực đến cảnh quan thiên nhiên Số lượng du khách kéo đến ồ ạt kèm theo rác thải, tiếng ồn cộng thêm một số khách du lịch có hành vi thiếu ý thức tôn trọng môi trường Thông qua các phương tiện thông tin đại cúng, các chương trình giáo dục về môi trường, du khách sẽ nhận thức được tác hại đối với sinh thái do họ có thể gây ra , để giúp họ cùng với cộng đồng địa phương bảo vệ môi trường tự nhiên
-Không đơn thuần chỉ là tham quan ngắm cảnh nghỉ dưỡng, khách du lịch đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc góp phần phát triển du lịch
Trang 40bền vững tại các điểm đến Khách du lịch sinh thái phải tham gia vào công tác bảo vệ tài nguyên tự nhiên, là những người chủ động xây dựng mối quan hệ giữa việc quản lý với người dân địa phương Công việc mà khách du lịch có thể làm là hỗ trợ tài chính cho người dân địa phương, giúp đỡ, tạo điều kiện trong các hoạt động phát triển du lịch Khách du lịch sinh thái là những người tiêu dùng cuối cùng, bởi vậy cần phải giữ vai trò phát triển du lịch bền vững: phải tôn trọng các giá trị văn hoá bản địa, sắc tộc của người dân bản địa; tránh những hành vi, thái độ gây ra những tiêu cực đối với ngưòi dân tại khu vực Điều quan trọng là các khách du lịch sinh thái phải nhận thức, hiểu được đầy
đủ về văn hoá, lịch sử, địa lý, các nguyên tắc đạo đức của khu vực đến thăm
1.2 Khái quát chung về khu du lịch Bà Nà- Đà Nẵng
1.2.1 Lịch sử khai thác khu du lịch Bà Nà
Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên vào vịnh Đà Nẵng để
mở đầu cho cuộc xâm lược tại đất nước ta Đến năm 1900, cơ bản đã hoàn thành cuộc xâm lược của chúng tại đất nước ta.Tiếp nối sự khám phá và xây dựng Đà Lạt, vào tháng 2-1900, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cử đại úy Debay thuộc Quân đội Pháp thám sát vùng núi lân cận khu vực Đà Nẵng - Huế để tìm kiếm thêm điểm nghỉ mát, dưỡng sức và chữa bệnh Sau nhiều đợt thăm dò, đến tháng 4-1901, đoàn thám hiểm của Debay đã tìm ra núi Chúa, tức Bà Nà, trên đỉnh địa hình khá bằng phẳng, khí hậu tương tự như
Đà Lạt và chỉ cách thành phố Đà Nẵng về phía tây chừng 25km
Tháng 5 năm 1919, luật sư Beisson trở thành người đầu tiên xây dựng nhà nghỉ ở Bà Nà Nguồn gốc tên gọi Bà Nà, có người cho rằng khi người Pháp đặt chân đến vùng này thấy rất nhiều cây chuối nên gọi là núi Banane, lâu dần người Việt đọc chệch thành Bà Nà Còn nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng chữ Bà Nà là tiếng Người Katu nghĩa là "núi của tui" Một truyền thuyết khác cho rằng tên núi là tên viết tắt của Bà Ponagar hay bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu Đến năm 1912, người Pháp tiến hành quy hoạch khu Bà Nà, có chính sách bảo vệ động thực vật, điều tra và nắm bắt dân cư chung quanh khu vực Bà Nà Sau Thế chiến thứ nhất (1914-1918), người Pháp đẩy mạnh xây