Vì vậy, tổ chức nhiều trò chơi có luật là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và ý chí tạo ra tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường p
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
THỰC TRẠNG TÂM LÝ SẴN SÀNG ĐI HỌC LỚP 1 CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON HUYỆN NGHĨA HÀNH
TỈNH QUẢNG NGÃI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC
Đà Nẵng, tháng 5/2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
THỰC TRẠNG TÂM LÝ SẴN SÀNG ĐI HỌC LỚP 1 CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON HUYỆN NGHĨA HÀNH
Trang 3MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản của đề tài 6
1.2.1 Đặc điểm thể chất và hoạt động của trẻ mẫu giáo lớn 6
1.2.1.1 Đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo lớn 6
1.2.1.2 Các hoạt động của trẻ mẫu giáo lớn 7
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn 14
1.2.3 Bước ngoặt 6 tuổi 19
1.3 Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông 21
1.3.1 Khái niệm tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1trường phổ thông 21
1.3.2 Biểu hiện của tâm lý sẵn sàng đi học 22
1.3.3 Chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông cho trẻ mẫu giáo lớn 23
Chương II: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Vài nét về khách thể khảo sát 31
2.2 Quy trình nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: 32
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 33
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 ở trẻ MGL 45
3.1.1.Tri giác 45
3.1.2 Tư duy 47
Trang 43.1.3 Tính bền vững chú ý của trẻ mẫu giáo lớn tại ba trường MN huyện Nghĩa
Hành, tỉnh Quảng Ngãi 50
3.1.4.Trí nhớ ngôn ngữ dài hạn của trẻ mẫu giáo lớn 51
3.1.5 Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn 53
3.1.6 Sự thích ứng xã hội của trẻ mẫu giáo lớn 54
3.1.7 Đánh giá tổng hợp các chức năng tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn và tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông của trẻ mẫu giáo lớn 56
3.2 Nguyên nhân thực trạng tâm lý sẵn sàng đi học trường phổ thông 58
3.2.1 Nguyên nhân từ phía nhà trường MN 59
3.2.2 Nguyên nhân từ phía gia đình 64
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 cho trẻ 5- 6 tuổi 69
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5A MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Sự phát triển tâm lý trẻ em là sự vận động liên tục trải qua các giai đoạn, giai đoạn trước là nền tảng của sự phát triển ở giai đoạn sau Trong sự chuyển đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, cá nhân thường gặp những khó khăn nhất định Muốn vượt qua khó khăn một cách dễ dàng, phải có sự chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý từ trước Tuổi mẫu giáo lớn (MGL) là thời kì đang tiến vào bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời, với những khó khăn rất lớn Đó là sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo; chuyển đổi vị trí xã hội, chuyển đổi kiểu quan hệ mới với giáo viên Trong
đó, việc chuyển đổi hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang họctập là khó khăn lớn nhất của trẻ Bởi lẽ, vui chơi là hoạt động hấp dẫn nhưng lại mang tính thoải mái, tự do, thích thì chơi không thích thì thôi Học tập là một hoạt động khó khăn, phức tạp Trẻ cần phải có trình độ trí tuệ và ngôn ngữ phát triển ở mức độ nhất định để lĩnh hội những tri thức trừu tượng, thực hiện những bài tập vận dụng theo yêu cầu của cô trong những khoảng thời gian lâu dài Học tập lại là hoạt động bắt buộc, trẻ có nghĩa vụ phải hoàn thành, không thích cũng phải học Khó khăn này của trẻ đòi hỏi giáo viên ở trường mầm non và gia đình phải nhận thức đầy đủ để có biện pháp tổ chức các hình thức giáo dục khoa học, nhằm tạo ra tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1cho trẻ,nếu không sẽ để lại hậu quả không tốt, cản trở sự phát triển lệch lạc ở những giai đoạn sau
Hiện nay, nhìn chung các bậc phụ huynh đều quan tâm và có sự chuẩn bị sức khỏe và tâm lý cho con mìnhvào học lớp 1 trường phổ thông Nhưng hầu hết họ nhận thức chưa đúng về bản chất sự khó khăn của trẻ, dẫn tới cách chuẩn bị sai lầm phổ biến là cho trẻ học trước những nội dung học tập (chủ yếu là tập viết, làm toán)
mà lẽ ra vào lớp 1 các em mới được học.Không những thế họ còn tạo áp lực cho trường mầm non, nhiều phụ huynh đề nghị cô giáo dạy trẻ viết chữ và làm toán theo kiểu lớp 1 trường phổ thông Trong khi đó điều kiện trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc trẻ ở nhiều trường mầm non còn thiếu thốn, chịu ảnh hưởng kinh tế thị trường, thu hút được nhiều trẻ vào trường bao nhiêu, tốt bấy nhiêu Thực tế này đã dẫn tới chất lượng chuẩn bị các mặt cho trẻ vào học lớp một của quá trình giáo dục mầm non là chưa cao Nhiều trẻ vào lớp 1 đã biết viết, biết đọc nhưng những chức năng tâm lý quan trọng, cần thiết cho hoạt động học ngày càng phức tạp ở trường tiểu học lại chưa đạt yêu cầu Nói cách khác, các em chưa có tâm lý sẵn sàng vào
Trang 6học lớp 1 trường phổ thông Hiện tượng này ở một số trường mầm non, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi cũng diễn ra tương tự
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng
tâm lý sẵn sàng đi học lớp một của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”
2.Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát thực trạng tâm lý sẵn sàng cho trẻ mẫu giáo lớn vào lớp 1
Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 ở trường phổ thông cho trẻ mẫu giáo lớn
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, khách thể khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tâm lý sẵn sàng của trẻ mẫu giáo lớn vào học lớp 1 của một số trường mầm non huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi: Trường mầm non thị trấn chợ chùa, trường mầm non Hành Minh, trường mầm non Hành Dũng
3.2 Khách thể nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo lớn của 3 trường mầm non huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi: trường mầm non thị trấn chợ chùa, trường mầm non Hành Minh, trường mầm non Hành Dũng
3.3 Đối tượng khảo sát:
60 trẻ mẫu giáo lớn của một số trường mầm non ở huyện Nghĩa Hành- Quảng Ngãi
- Phụ huynh của trẻ mẫu giáo lớn đang theo học tại 3 trường mầm non của huyện Nghĩa Hành- Quảng Ngãi: trường mầm non thị trấn Chợ Chùa, trường mầm non Hành Minh, trường mầm non Hành Dũng
- Giáo viên dạy lớp 1 trường tiểu học số 2 thị trấn Chợ Chùa
Trang 74 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: các chức năng tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn (tri giác,
tư duy, tính bền vững chú ý, trí nhớ ngôn ngữ dài hạn, ngôn ngữ, thích ứng xã hội)
- Khách thể khảo sát: 60 trẻ mẫu giáo lớn, 30 giáo viên mầm non, 60 phụ huynh học sinh, 5 giáo viên lớp 1
- Qui mô: trường mầm non thị trấn Chợ Chùa, trường mầm non Hành Minh, trường mầm non Hành Dũng, trường tiểu học số 2 Thị Trấn chợ Chùa
5 Giả thuyết khoa học
Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 ở trường phổ thông của trẻ mẫu giáo lớn tại một số trường mầm non, huyện Nghĩa Hành,tỉnh Quảng Ngãiở mức độ chưa cao
Nguyên nhân của thực trạng do nhận thức của giáo viên và phụ huynh chưa đúng trong việc chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, xây dựng công cụ điều tra
- Khảo sát thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 ở trường phổ thông của trẻ mẫu giáo lớn tại một số trường mầm non, huyện Nghĩa Hành,tỉnh Quảng Ngãi
- Đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Phân tích, tổng hợp khái quát tri thức, lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 8Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trongtâm lý học đã có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông của trẻ trẻ 6 tuổi Ở mỹ, từ năm 1890, tại New York, J.Mc.Cattell đã thử nghiệm đo lường trí tuệ dựa trên kinh nghiệm, áp dụng với một số học sinh Ở Pháp, cũng xuất phát từ vấn đề này, hai bác sĩ và cũng là các nhà tâm lí học A.Binet và Th.Simon đã xây dựng hẳn một thang đo có hệ thống, có cấu trúc chặt chẽ, gọi là thang đo Binet- Simon (1905) dùng để tìm hiểu mức phát triển trí lực của trẻ theo từng lứa tuổi từ 3 đến 14- 15 Ba mươi bài trắc nghiệm này được các tác giả cải tiến them từ năm 1908- 1911 Từ đây, ngành đo lường tâm lí cho trẻ em đã lan rộng ra khắp thế giới Trên cơ sở thang đo này, giáo sư tâm lí học L.M Terman- Merill cải biên lại lần thứ hai Do đó, thang mang tên Terman- Merill, được phổ biến rộng rãi ở các nước, kể cả Pháp Nhưng ở Pháp sau nhiều lần áp dụng cả thang gốc lẫn cải biên, Rene Zazzo, một giáo sư tâm lí học trường đại học Sorbonne, qua nhiều lần thử nghiệm lại, đã cải biên một lần nữa và thang mới tên là NEMI dùng cho trẻ 3- 14 tuổi Năm 1972, để xác định trình độ phát triển của học sinh vào lớp 1, G.Witzlack (Đức) đã xác định thang chẩn đoán và phát triển năng
lực học đường
Ở Việt Nam để phát hiện những học sinh chưa chín muồi đến trường ngoài việc sử dụng bộ trắc nghiệm “ đến tuổi đi học” (Test de Maturite scolaire) của trung tâm tâm lí học ứng dụng Pháp xuất bản tại Pais năm 1973 ), gồm 3 tiểu trắc nghiệm : dị biệt có 24 item; thông tin- từ ngữ có 32 item ; mã Những trắc nghiệm này sử dụng các hình vẽ dùng để đo trí lực của trẻ em vào lớp một.Trần Trọng Thủy và cộng sự “ đặc điểm sinh lý của học sinh lớp 1 chưa chín muồi đến trường” Báo cáo tổng kết đề tài B91 – 37 – 09 Viện tâm lý học –sinh lý lứa tuổi H 1993 có soạn thảo trắc nghiệm “đến tuổi học” dựa trên trắc nghiệm “đến tuổi đi học” (Test de Maturite scolaire) và trắc nghiệm trí lực của Wechsler (trắc nghiệm trí lực của Wechsler nhằm đánh giá khả năng trí lực của trẻ thông qua vận dụng ngôn ngữ, gồm 5 tiểu trắc nghiệm : sự hiểu biết về bản thân và gia đình ( 6 item); biểu tượng
về sơ đồ thân thể (4 item); biểu tượng về thời gian ( 5 item); trí nhớ (ngắn, dài, ngôn
Trang 9ngữ, nhớ máy móc 8 item); khả năng suy luận (5 item) đồng thời có chỉnh lý và bổ sung thêm một số item
Nguyễn Thị Hồng Nga: “góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo lường mức
độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 (Luận án phó tiến sĩ khoa học sư phạm – tâm lý), H1996 Trắc nghiệm “sẵn sàng đi học” gồm 5 tiểu trắc nghiệm với 41 bài tập
Nguyễn Huy Tú “Đánh giá năng lực học đường của trẻ em theo quan điểm phát triển” Tạp chí Thông tin Khoa học giáo dục” số 60 năm 1997 Hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực học đường của trẻ em theo quan điểm phát triển mà tác giả Nguyễn Huy Tú đề cập bao gồm:Tình trạng phát triển thể chất, thái độ xã hội – tính cách, thái độ học tập –thái độ xã hội, năng lực trí tuệ
Tháng 10/1997, vụ Giáo dục Mầm non đã biên soạn bộ tài liệu “hướng dẫn
tổ chức đánh giá trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi” nhằm giúp cán bộ quản lí và giáo viên đánh
giá chất lượng trẻ
Năm học 1998, trường thực nghiệm thuộc trung tâm công nghệ giáo dục đã
sử dụng bộ trắc nghiệm “sẵn sàng đi học” làm một trong những nội dung để tuyển
252 học sinh vào lớp 1 Trung tâm nghiên cứu trẻ em trước tuổi học cũng đã dung trắc nghiệm “sẵn sàng đi học” để đo 108 trẻ mẫu giáo ở 2 trường Đông Quan, Tân Hùng huyện Từ sơn tỉnh Bắc Ninh để đánh giá mức độ sẵn sàng đi học của trẻ mẫu giáo ở nông thôn
Năm 1999- 2000 trường tiểu học Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội cũng đã dùng “ trắc nghiệm sẵn sàng đi học” để đo mức độ sẵn sàng đi học của trẻ mới vào lớp 1, nhằm giúp giáo viên chủ nhiệm nhanh chóng hiểu học sinh của mình, để kịp thời có biện pháp giúp đỡ, giáo dục thích hợp với từng em học sinh đặc biệt với học sinh khó học, điều này sẽ giảm bớt hiện tượng lùi sau, bỏ học
Nguyễn Thị Mến “Sự chín muồi đến trường là thích nghi học đường của học sinh lớp 1” Tạp chí giáo dục, số 19 (12/2001)
Tóm lại trên thế giới và Việt Nam có nhiều nghiên cứu về tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 của trẻ Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 của trẻ mẫu giáo lớn ở huyện Nghĩa Hành- tỉnh Quảng Ngãi
Trang 101.2 Những vấn đề lý luậncơ bản của đề tài
1.2.1 Đặc điểm thể chất và hoạt động của trẻ mẫu giáo lớn
1.2.1.1 Đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo lớn
Định nghĩa trẻ mẫu giáo lớn:
Trẻ mẫu giáolớnlà trẻ có độ tuổi từ 5 đến 6 tuổi đang được chăm sóc giáo dục tại các trường mầm non, là giai đoạn cuối ở lứa tuổi tiền học đường - lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông Đây là lứa tuổi có tốc độ phát triển về thể chất và tâm lý diễn ra nhanh nhất trong cuộc đời của con người
Sự phát triển thể chất: mỗi năm trẻtăng trung bình khoảng 3kg thể trọng và
5- 7cm chiều cao Bộ phận phát triển nhanh hơn cả trong giai đoạn này là cánh tay
và ống chân Bàn tay và bàn chân phát triển chậm hơn
Hệ xương và cơ của trẻ tiếp tục phát triển Xương tiếp tục được cốt hóa, các
cơ to ra Cơ quan hô hấp và tuần hoàn phát triển Tốc độ hình thành các phản xạ có điiều kiện tăng nhanh, hệ thống tín hiệu thứ 2 và các bộ máy nhận cảm phát triển mạnh
Hệ thần kinh vẫn tiếp tục tăng trưởng về hình thái và cấu trúc Trọng lượng não tăng từ 1.100 gram lên 1.300 gram Một số vùng trên vỏ não tiếp tục được myelin hóa Các vùng chức năng của não tiếp tục được chuyên môn hóa, nhờ đó trẻ
có khả năng hoạt động trí tuệ phức tạp và điều khiển nhiều hoạt động đòi hỏi sự tinh
tế của cơ bắp
Sự phát triển vận động:
Các vận động cơ bản ở tuổi này đã thành thạo như người lớn: chạy vung tay, kiểm soát trọng tâm và giữ thăng bằng Các hành động đã có sự phối hợp vận động của cả cổ, cánh tay, vai, chân…, nhờ đó trẻ có thể đi xe đạp, nhào lộn hoặc thực hiện các động tác phức tạp khác
Trong vận động trẻ đã có khả năng phối hợp khá chặt chẽ giữa các cơ quan vận động với các giác quan Khả năng kiểm soát các cơ nhỏ được cải thiện nhanh chóng, vì thế trẻ sử dụng bàn tay tinh xảo hơn Trẻ 3 tuổi rất khó cài cúc áo, buộc giây giày hay bắt chước các thao tác đơn giản, nhưng trẻ 5- 6 tuổi có thể làm thành thạo những việc trên Trẻ có thể dùng kéo cắt giấy theo các đường kẻ trước, vẽ lại các hình các chữ cái, nặn các đồ vật
Trang 111.2.1.2 Các hoạt động của trẻ mẫu giáo lớn
* Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo lớn:
Đối với tuổi mẫu giáo hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Hoạt động vui chơi chi phối các hoạt động khác của trẻ, làm cho chúng mang màu sắc của hoạt động vui chơi “ chơi
mà học, học bằng chơi”
-Đặc điểm của hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo:
+ Vui chơi là dạng hoạt động tự nguyện không mang tính bắt buộc Trong hoạt động học tập, lao động, điều làm cho người hoạt động quan tâm chính là kết quả của hoạt động đó: học được những tri thức, kĩ năng gì, làm ra những sản phẩm như thế nào Chẳng hạn, hoạt động chính của người bác sỹ là chẩn đoán chính xác hiện trạng và nguyên nhân bệnh của bệnh nhân, đưa ra phương pháp điều trị chính xác để điều trị bệnh Muốn vậy, bác sỹ phải thực hiện đúng qui trình thao tác kĩ thuật của nghề nghiệp Nhưng trẻ mẫu giáo trò chơi “ khám bệnh” một cách say sưa lại do sự hấp dẫn của hình ảnh người bác sỹ khi làm việc ( mặc áo trắng, đội mũ trắng, đeo ống nghe vào tai, đặt ống nghe lên người bệnh, nét mặt căng thẳng…) Còn kết quả chẩn đoán và cách chữa bệnh đúng hay không, qui định thực hiện như thế nào để có được kết quả thì chúng không quan tâm Như vậy yếu tố thúc đẩy trẻ vui chơi là nằm ở chính quá trình hoạt động chứ không phải nằm ở kết quả hoạt động
A.N leonchiep và Đ.B Enconin cho rằng động cơ vui chơi nằm ngay trong quá trình hoạt động chứ không phải nằm ở kết quả hoạt động Do vậy trò chơi là hoạt động mang tính tự nguyện rất cao, trẻ thích chơi trò chơi nào thì chơi trò chơi
ấy say mê, không thích thì thôi Có vui thì mới chơi, đã chơi thì phải vui Trò chơi
mà không vui thì không còn trò chơi nữa Đây là tính chất đặc biệt của vui chơi Mọi sự bắt buộc áp đặt đều dẫn tới phá hoại trò chơi Đây là điều mà các cô giáo mầm non cần lưu ý khi tổ chức vui chơi cho trẻ
+ Trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập của trẻ: là hoạt động mang tính tự nguyện, trong vui chơi trẻ tích cực hoạt động hết mình nhờ vậy các chức năng tâm lý được hình thành và phát triển mạnh, đặc biệt ý thức làm chủ hoạt động Trong vui chơi người lớn người lớn không thể áp đặt hay chơi hộ cho trẻ, chỉ
Trang 12có thể gợi ý hướng dẫn trẻ hành động Trẻ cũng chỉ thực hiện những điều gợi ý khi trẻ cảm thấy phù hợp với nhu cầu và hứng thú của mình Tác động giáo dục của người lớn đối với trẻ trong hoạt động vui chơi là người lớn biến những yêu cầu giáo dục thành nội dung của hoạt động vui chơi và hướng dẫn tổ chức sao cho vừa thỏa mãn nhu cầu hứng thú, vừa đạt yêu cầu giáo dục
+ Vui chơi ở trẻ mẫu giáo đặc biệt là trò chơi đóng vai là một hoạt động đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong trò chơi với nhau Tính hợp tác là một nét phát triển tiêu biểu trong vui chơi của trẻ mẫu giáo
+ Trò chơi của trẻ mẫu giáo mang tính kí hiệu- tượng trưng: trẻ đã biết sử dụng kí hiệu khi thực hiện hành động vai chơi của mình đảm nhận: lấy vật này thay thế cho vật khác, nhận cho mình một ai nào đấy và thực hiện hành động phù hợp với vai chơi Sự ra đời của chức năng kí hiệu tượng trưng thể hiện trẻ bước sang một loại hình mới của việc nhân thức thực hiện một loại hình đặc trưng của con người Đó là nhận thức hiện thực thông qua hệ thống kí hiệu Nhờ vậy các chức năng tâm lý đều được phát triển theo hướng các chức năng tâm lý người, trong đó
hệ thống tín hiệu thứ hai đóng vai trò cực kì quan trọng
-Xét trong từng giai đoạn lứa tuổi, vui chơi của trẻ MGL có những đặc trung riêng
+ Trong vui chơi, trẻ MGLbiết lắng nghe ý kiến của bạn cùng tuổi và phục tùng ý kiến của đại đa số, ngay cả khi điều đó mâu thuẫn với những ấn tượng và kinh nghiệm riêng của mình Chẳng hạn thấy các bạn trong nhóm bạn trêu chọc một người bạn mới, trẻ cũng sẵn sàng làm theo mặc dù biết rõ làm như vậy là sai
Sự bắt chước như vậy gọi là tính thích nghi Do tính thích nghi, trẻ bắt chước bạn cả cái tốt lẫn cái xấu Vì vậy nhà giáo dục cần hướng dẫn trẻ biết nhận xét một cách độc lập về các sự kiện xảy ra xung quanh các em và chỉ bắt chước làm theo cái tốt
+ Ở tuổi MGL, hoạt động vui chơi của trẻ phát triển lên một trình độ mới Trong vui chơi việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch hành động được thể hiện rõ nét Quan hệ với bạn cùng chơi bền vững hơn, tính thích nghi giảm dần
+ Hoạt động vui chơi ở tuổi MGL có sự biến dạng Trước đây khi tham gia vào trò chơi, động cơ của trẻ nằm ở chính quá trình chơi Sang tuổi MGL, bên cạnh trò chơi đóng vai đã xuất hiện khá nhiều trò chơi có luật Ví dụ, trò chơi cướp cờ, trẻ không chỉ ham thích bản thân trò chơi, mà khi chơi còn phải chú ý tuân theo luật
Trang 13của trò chơi và đem lại chiến thắng về cho đội mình Như vậy, động cơ vui chơi không chỉ nằm ở quá trình chơi mà còn nằm ở kết quả của việc vui chơi Việc tham gia vào những trò chơi có luật làm cho hoạt động của trẻ trở nên có chủ tâm hơn Các quá trình tâm lí bên trong được biến đổi từ không chủ định sang có chủ định,
đó là tiền đề nảy sinh các yếu tố của hoạt động học tập Vì vậy, tổ chức nhiều trò chơi có luật là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và ý chí tạo ra tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông
-Vai trò của vui chơi đối với sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo
+ Vui chơi phát triển trí tuệ của trẻ:
Vui chơi mở rộng, củng cố tầm hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh Để thâm gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải có những hiểu biết nhất định về thế giới xung quanh, hành động của người lớn với đồ vật và mối quan hệ của họ Tuy nhiên sự hiểu biết có thể chưa đầy đủ, chưa chính xác Điều đó sẽ hoàn thiện thông qua sự góp ý của bạn trong nhóm chơi hoặc của cô giáo, người lớn khi trẻ thực hiện vai chơi
+ Hoạt động vui chơi có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển tính chủ định của các quá trình tâm lý như chú ý có chủ định, tri giác có chủ định, trí nhớ có chủ định, tưởng tượng có chủ định Bởi vui chơi là nhu cầu lớn của trẻ Điều sợ nhất là không được chơi cùng các bạn Vì vậy để không bị loại khỏi cuộc chơi, trẻ phải tập trung chú ý quan sát các bạn thực hiện vai chơi của mình hay sự hướng dẫn của cô giáo, cố gắng ghi nhớ để thực hiện hành động của vai chơi, hình dung vai chơi của mình sẽ đảm nhận
+ Vui chơi tạo ra sự phát triển tư duy: trong trò chơi trẻ học được hành động với vật thay thế mang tính kí hiệu tượng trưng Vật thay thế trở thành đối tượng của
tư duy Trong hành động với vật thay thế trẻ em suy nghĩ về đối tượng thực Dần dần những hành động thay thế được rút gọn và mang tính khái quát, nhờ đó hành động với vật bên ngoài được chuyển vào bình diện bên trong Như vậy chính trò chơi đóng vai góp phần chuyển tư duy trực quan hành động sang trực quan hình ảnh Trò chơi giúp trẻ tích lũy vốn biểu tượng làm cơ sở cho hoạt động tư duy, phát
Trang 14triển các thao tác phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hình thành khả năng phán đoán suy luận
+ Vui chơi nhất là trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ: trong vui chơi trẻ thỏa sức ước mơ, thỏa sức tưởng tượng
+ Trò chơi tác động mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm, ý chí và nhiều nét tính cách của trẻ mẫu giáo
+ Vui chơi ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ MGL Tình huống trò chơi đòi hỏi trẻ phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ Nếu trẻ không hiểu được lời chỉ dẫn hay sự bàn bạc của các bạn, bản thân trẻ không diễn đạt được
ý kiến, nguyện vọng của mình thì trẻ không thể tham gia vào trò chơi được Trong qua trình giao tiếp với bạn nếu nói mà bạn không thể hiểu buộc trẻ phải suy nghĩ diễn đạt lại Vui chơi chính là cơ hội rèn luyện kĩ năng giao tiếp Thông qua trò chơi trẻ học được phong cách ngôn ngữ của người lớn
*Sự hình thành yếu tố hoạt động học
- Khái niệm đặc điểm hoạt động học
+ Có nhiều định nghĩa khác về sự học: học là sự thay đổi nhận thức và hành
vi Học là sự biến đổi hợp lí hành vi, hoạt động Xét trong phạm vi phát triển của một cá nhân, học xuất hiện từ rất sớm và diễn ra ở mọi nơi mọi lúc Học ăn, học nói, học gói, học mở…Đây là cách học theo phương pháp cuộc sống thường ngày, không chủ định thiếu kế hoạch Kết quả tiếp thu được là những tri thức mang tính kinh nghiệm và năng lực hành động thực tiễn Vốn kiến thức này rất cần thiết và có
ý nghĩa đối với sự phát triển cá nhân, tuy nhiên vẫn chưa đủ Cuộc sống đòi hỏi con người phải có những tri thức mang tính khoa học khái quát, những năng lực hoạt động ở mức độ cao hơn Muốn có được vốn tri thức ấy cá nhân phải học có chủ định Sự học diễn ra trong hoạt động mà mục đích trực tiếp của nó là lĩnh hội một tri thức hay kĩ năng nhất định Người ta gọi là hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động lấy khái niệm khoa học làm đối tượng, động cơ của hoạt động này là chiếm lĩnh tri thức khoa học của loài người đã chiếm lĩnh được
Trang 15+ Hoạt động học có những đặc điểm sau:
Đối tượng của hoạt động học là những tri thức khoa học Những tri thức này được xây dựng theo hệ thống logic nội tại của mỗi bộ phận khoa học, được thể hiện qua chương, bài
Hoạt động được tiến hành trong các hình thức được tổ chức chặt chẽ dưới sự hướng dẫn của người dạy, có thể diễn ra trong lớp, ngoài lớp, gọi là giờ học (tiết học)
Hoạt động học không phải tự do, tự nguyện mà mang tính bắt buộc, vì muốn đạt được kết quả người học nhất thiết phải tuân theo những yêu cầu nhất định khi thực hiện hành động Mặt khác học tập còn là nghĩa vụ của mỗi người với chính bản thân mình và xã hội
Để thực hiện được hoạt động học tập có kết quả, đòi hỏi bản thân người học phải đạt tới trình độ nhất định về kĩ năng và thói quen hoạt động trí tuệ, có hứng thú nhận thức bền vững, biết tự kiểm tra, tự đánh giá hành vi của mình
Với những đặc điểm như trên ở tuổi mẫu giáo chưa thể có hoạt động học tập với đầy đủ ý nghĩa của nó
-Sự hình thành các yếu tố của hoạt động học ở tuổi mẫu giáo
Tuy chưa có hoạt động học, nhưng trong vui chơi, trong sinh hoạt ở trẻ mẫu giáo đã có những yếu tố của hoạt động học
+ Trẻ đã tiếp thu được một khối lượng tri thức đáng kể về thế giới xung quanh dưới dạng biểu tượng (tri thức tiền khoa học)
+ Trẻ có hứng thú nhận thức, ham tìm tòi, khám phá những điều mới lạ thông qua hành động và nhiều câu hỏi mà trẻ đặt ra cho người lớn Tuy nhiên hứng thú nhận thức ở trẻ chưa bền vững, chưa đủ để đảm bảo thái độ sẵn sàng học tập tiếp thu một cách có hệ thống trong các môn học
+ Thông qua hoạt động vui chơi, tính chủ định của các quá trình nhận thức
đã hình thành và phát triển (chú ý có chủ định, tri giác có chủ định, trí nhớ và tưởng tượng có chủ định) Song những phẩm chất này cũng cần phát triển hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu của hoạt động học
Để phát triển những yếu tố của hoạt động học và chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo vào học lớp một trường phổ thông dễ dàng, ở trường mầm non đã tổ chức hình thức
Trang 16giáo dục đặc biệt “Tiết học” đó là hoạt động chung và hoạt động góc, được tiến hành trong khoảng thời gian nhất định tăng dần theo độ tuổi “Tiết học” ở mẫu giáo
có những đặc điểm khác với tiết học phổ thông
+ Mục đích là nhằm chính xác hóa, hệ thống hóa những hiểu biết của trẻ về môi trường xung quanh, phát triển những chức năng tâm lý và ngôn ngữ nói thành thạo, hình thành những kĩ năng cần thiết cho hoạt động học (tư thế ngồi học cách cầm bút, cầm sách…)
+ Nội dung “tiết học” ở mẫu giáo mới chỉ là tri thức về thế giới xung quanh (tri thức tiền khoa học) được sắp xếp theo chủ điểm
+ Hình thức hướng dẫn trẻ học tập được tổ chức linh hoạt theo hướng tích hợp thông qua hoạt động vui chơi, nhất là trò chơi học tập
+ Phương pháp trực quan được coi là phương pháp cơ bản trong “tiết học” ở mẫu giáo
Tóm lại, học tập ở mẫu giáo mới chỉ đúng nghĩa là tập đi học, làm quen với hoạt động học Mặc dù vậy, “học tập” ở mẫu giáo vẫn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển trí tuệ của trẻ Thông qua hoạt động này trẻ phát triển nhanh tính chủ định của chú ý và nhận thức, hình thành được kĩ năng ban đầu của hoạt động học, phân biệt được nhiệm vụ học tập khác với nhiệm vụ khác trong vui chơi
và trong cuộc sống, tạo ra tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông
* Sự hình thành các yếu tố của hoạt động lao động
- Lao động là hoạt động tạo ra sản phẩm có ích cho xã hội những giá trị về vật chất và tinh thần cần thiết cho loài người
- Hoạt động lao động có những đặc điểm như sau:
+Lao động không phải là hoạt động mang tính tự do, tự nguyện mà là hoạt động mang tính bắt buộc cao, là nghĩa vụ của mỗi người đối với chính bản thân mình và đối với xã hội
+ Hoạt động lao động đòi hỏi người lao động phải có sức khỏe, biết phục tùng những yêu cầu nghiêm ngặt trong việc chế tạo ra sản phẩm Quá trình này gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi người lao động phải có ý chí mới vượt qua được
+ Tham gia vào một hình thức lao động nào đó đòi hỏi người lao động phải
có tri thức, kĩ năng trong lĩnh vực ấy Đối với lao động công nghiệp, người lao động
Trang 17phải có trình độ tư duy khoa học sáng tạo, nắm vững tri thức, kĩ năng kĩ xảo nghề nghiệp Đồng thời phải có những phẩm chất nhân cách cần thiết như tính kỉ luật, cẩn thận tích cực…Những phẩm chất tâm lý nói trên chưa thể có được ở lứa tuổi mẫu giáo
-Thông qua hoạt động vui chơi, làm quen với học tập và cac hoạt động khác, trẻ mẫu giáo đã hình thành những tiền đề cần thiết cho hoạt động lao động
+ Nhờ tham gia trò chơi đóng vai theo chủ đề, làm quen với môi trường xung quanh…trẻ đã có những biểu tượng về người lao động ở một số ngành nghề trong
xã hội, ý nghĩa xã hội và tính chất tập thể của nó, sự phân công hợp tác trong lao động
+ Trong những hình thức hoạt động làm quen với học tập, hoạt động có sản phẩm (vẽ, nặn, cắt dán…)trẻ mẫu giáo biết thực hiện những hành động nhất định tạo ra kết quả, hình thành kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá công việc của mình Đó là tiền đề cần thiết tạo nên hoạt động lao động
- Để thống nhất những tiền đề cần thiết cho hoạt động lao động ở trẻ còn tản mạn trong các hoạt động vui chơi, sinh hoạt làm quen với học tập, cần phải hình thành ở trẻ những hình thức sơ đẳng của hoạt động lao động, trước hết là những lao động đơn giản tạo ra kết quả
+ Hướng dẫn trẻ lao động trực nhật: bê thức ăn, chia thìa, chén ăn cơm cho các bạn, chăm sóc cây cối, làm đồ chơi bằng hột hạt…
+ Tự phục vụ bản thân: tự rửa chân tay, tự đánh răng rửa mặt, sắp xếp đồ chơi gọn gàng…
Đây là những nhiệm vụ lao động thực sự đối với trẻ em, đòi hỏi chúng phải
cố gắng để đạt được kết quả nhất định Việc thực hiện nhiệm vụ đó sẽ trở thành một hành động lao động chỉ khi nào trẻ em ý thức được ý nghĩa và tính chất bắt buộc của việc tạo ra kết quả vươn tới kết quả đó theo một phương thức rõ rệt
Tính chất của các mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong hoạt động lao động được điều chỉnh bởi kết quả của hoạt động cần đạt Điều này khác với quan hệ chơi Do vậy việc hướng dẫn trẻ biết cách hợp tác với nhau trong công việc
là điều cần thiết và có ý nghĩa rất lớn đối với việc hình thành tiền đề cho hoạt động lao động Nếu công việc của mỗi trẻ được coi là một bộ phận công việc của cả
Trang 18nhóm, có ý nghĩa quyết định đối với công việc và kết quả toàn nhóm, thì sẽ tạo ra ở trẻ ý thức hợp tác, tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm đến công việc chung Đó là tiền đề cần thiết cho việc hình thành con người lao động kiểu mới sau này
*Hoạt động giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn
- Hoạt động chủ đạo thay đổi làm cho nhu cầu giao tiếp thay đổi Đặc trưng của trò chơi đóng vai theo chủ đề là phản ánh chức năng xã hội của người lớn, mối quan hệ của họ Trẻ không thể tự chơi một mình được, phải có bạn cùng chơi, vì vậy giao tiếp với bạn trở thành nhu cầu bức thiết của trẻ mẫu giáo
-Tuổi MGL nhu cầu chơi với bạn vẫn tiếp tục phát triển mạnh Quan hệ bạn
bè trong nhóm chơi đã bền vững hơn, tính hợp tác, tính cạnh tranh thể hiện rõ rệt
Vị trí của mỗi trẻ trong nhóm và vai trò “thủ lĩnh “ được hình thành Nhân cách của trẻ đã chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nhân cách của bạn bè trong nhóm chơi
- Nhu cầu giao tiếp với người lớn ở tuổi MGL phát triển mạnh, trẻ muốn được người lớn quan tâm tới mình nhiều hơn không chỉ vì muốn được người lớn thương yêu chăm sóc, mà còn muốn được người lớn thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, khám phá của mình về thế giới bằng việc giải đáp những câu hỏi là gì? Tại sao? ở đâu? v v Giao tiếp ở tuổi này đuợc gọi là giao tiếp “nhận thức cùng người lớn”
- Trẻ quan tâm đến người lớn, muốn được giao tiếp với họ còn vì lí do muốn tìm hiểu các mối quan hệ xã hội phức tạp, được làm việc như người lớn, mong được người lớn động viên khuyến khích Không những thế trẻ đã tinh tế nhận ra thái độ đánh giá, thái độ cảm xúc của người lớn trước việc làm của mình, muốn được đánh giá mình là ngoan Trẻ còn nhận ra được vị trí của mình trong các mối quan hệ xã hôi, biết xưng hô và hành động phù hợp với vị trí của mình trong quan hệ ấy Nhờ vậy nhân cách của trẻ được hoàn thiện nhanh trong quan hệ tiếp xúc với người lớn, nên giao tiếp của trẻ ở giai đoạn này còn được gọi là giao tiếp nhân cách
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn
a) Sự phát triển nhận thức
*Nhận thức cảm tính:
- Các loại cảm giác của trẻ phát triển mạnh đặc biệt là cảm giác nhìn và cảm
giác nghe Tuy nhiên phân tích quan của cảm giác vận động của trẻ đến 5 tuổi vẫn chưa hoàn thiện, nên việc tập viết đối với trẻ là khó khăn
Trang 19-Khả năng nhận ra chuẩn nhận cảm của trẻ mẫu giáo tăng dần,trẻ MGL nhận
ra hầu hết các màu trong quang phổ, các hình, khối hình và biến thể của hình, các nốt nhạc cơ bản
- Tri giác của trẻ mẫu giáo đặc trưng là tri giác không chủ định, trẻ thích quan sát sự vật hiện tượng có màu sắc hấp dẫn, mới lạ sinh động Bên cạnh đó dưới
sự hướng dẫn của cô giáo, tri giác có chủ định phát triển mạnh, đặc biệt là tuổi mẫu giáo lớn
-Tri giác không gian phát triển , trẻ MGL nhận ra những quan hệ phức tạp như góc bên trên bên phải hoặc dưới bên trái
- Tri giác thời gian của trẻ mẫu giáo còn gặp khó khăn vì thời gian là một phạm trù vô hình Hầu hết trẻ mẫu giáo chỉ mới nhận ra được khoảng thời gian đơn giản như các buổi trong ngày, các ngày trong tuần, các mùa trong năm Sự nhận thức này gắn liền với sinh hoạt hằng ngày và quan sát môi trường xung quanh
Tri giác tranh vẽ của tuổi mẫu giáo lớn cũng được phát triển, với những bức tranh có chủ đề quen thuộc trẻ gọi tên được bức tranh, còn với những chủ đề phức tạp xa lạ với hầu như các cháu mới chỉ liệt kê được các chi tiết trong tranh
*Sự phát triển nhận thức lí tính
Sự phát triển tư duy:
- Các loại tư duy của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh, đặc trưng là tư duy trực quan hình ảnh Đến tuổi MGL loại tư duy trực quan hình tượng phát triển lên một chất lượng mới gọi là tư duy trực quan sơ đồ Trực quan sơ đồ là loại tư duy vẫn mang tính trực quan nhưng hình ảnh mới trực quan đã trở nên khái quát Nhờ loại tư duy này phát triển trẻ mẫu giáo lớn có khả năng giải quyết được những bài toán dưới dạng sơ đồ
Tư duy trực quan sơ đồ là bước trung gian trong quá trình chuyển từ kiểu tư duy trực quan hình ảnh sang tư duy trừu tượng Vì vậy quá trình chuẩn bị tâm lý sẵn sàng vào học lớp 1 cho trẻ của trường mầm non phải phát triển được loại tư duy ở trẻ
-Các thao tác tư duy ở tuổi MGL phát triển mạnh nhưng vẫn gắn liền với trực quan cảm tính, khả năng phán đoán, suy luận về đối tượng thường mang tính khẳng
Trang 20định một chiều dựa trên vốn kinh nghiệm cảm tính Trẻ chưa biết suy luận nhiều chiều theo nhiều hướng khác nhau để khẳng định hay phủ định về đối tượng
- Tư duy của trẻ mẫu giáo mang tính chủ quan và gắn liền với cảm xúc Trẻ thường gán cho đối tượng những gì mà trẻ nghĩ về nó, sự suy nghĩ của trẻ luôn bị chi phối bởi cảm xúc
- Trẻ mẫu giáo, có nhu cầu rất lớn trong việc tìm hiểu những thuộc tính bản chất, mối quan hệ về sự vật hiện tượng nên các cháu thường đặt ra nhiều câu hỏi về đối tượng (…là gì? tại sao…? …ở đâu? thế nào? ) và mong được người lớn giải đáp Đây là một phẩm chất trí tuệ rất tích cực thể hiện sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ, tuy nhiên chưa bền vững
Sự phát triển tưởng tượng
- Tưởng tượng đặc trưng của tuổi mẫu giáo là tưởng tượng không chủ định
- Nhờ sự hướng dẫn của cô giáo trong các hoạt động, tưởng tượng có chủ định của trẻ MGL phát triển mạnh, trẻ đã thể hiện sự chủ tâm, cố gắng trong khi thực hiện vai chơi hoặc những nhiệm vụ cô giáo giao cho
- Tự ý thức phát triển nhưng chưa hoàn thiện nên trẻ chưa có khả năng phân biệt giữa những điều trẻ tưởng tượng trong đầu và thế giới khách quan bên ngoài, vì vậy trẻ mẫu giáo dễ tin vào chuyện cổ tích, tin rằng Thần Tiên xuất hiện là có thật
Đó là nguyên nhân lý giải sự cảm thụ tác phẩm nghệ thuật của trẻ khác với sự cảm thụ của người lớn
Sự phát triển trí nhớ:
- Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ và phát triển mạnh ở MGL, do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao Loại ghi nhớ có chủ định chủ yếu của trẻ vẫn là ghi nhớ máy móc
-Trí nhớ vận động: Trẻ MGL có thể dần dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ dẫn của người lớn vẫn có ý nghĩa Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xác hơn, ít có những động tác thừa cơ thể
- Trẻ nhớ hình ảnhtrực quan tốt hơn là nhớ từ ngữ
- Trí nhớ của trẻ mang nặng màu sắc xúc cảm, những đối tượng gây ra cảm xúc mạnh thường được trẻ nhớ lâu hơn
Trang 21- Cuối tuổi mẫu giáo trí nhớ từ ngữ logic phát triển mạnh, trẻ dễ dàng thực hiện được những điều cô yêu cầu ghi nhớ, dễ dàng kể lại chuyện đã được nghe và thuộc những bài hát, bài thơ đã được cô dạy Đây là điều kiện thuận lợi cho việc học tập khi trẻ bước vào lớp 1
b) Sự phát triển chú ý của trẻ mẫu giáo lớn
- Chú ý đặc trưng của tuổi mẫu giáo là chú ý không chủ định, trẻ thường hướng chú ý của mình vào những đối tượng mới lạ hấp dẫn chưa biết tự mình đặt ra nhiệm vụ, kế hoạch chú ý
- Trước yêu cầu của hoạt động và sự hướng dẫn của cô giáo, chú ý có chủ định của trẻ được hoàn thiện nhanh Khả năng này phát triển mạnh ở tuổi mẫu giáo lớn
- Các phẩm chất chú ý như khả năng tập trung, sự bền vững chú ý tăng lên, tuy nhiên điều đó không còn phụ thuộc vào cách tổ chức hoạt động của cô giáo Sự phân tán chú ý giảm dần theo lứa tuổi, khả năng phân phối chú ý được nâng Điều
đó thể hiện ở thời gian chơi, “tiết học” được kéo dài hơn và đặc biệt là khi xem tranh Đến cuối tuổi mẫu giáo thời gian có thể tập trung xem tranh tăng lên gấp đôi
so với độ tuổi mẫu giáo bé Em bé 5-6 tuổi đã hiểu tranh vẽ hơn, tách biệt được trong tranh vẽ nhiều mặt và chi tiết lý thú với mình hơn, song trẻ vẫn rất khó khăn khi phải đồng thời chú ý đến nhiều đối tượng khác nhau trong cùng một thời điểm
c) Sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo
Sự phát triển ý thứcvà tự ý thức
- Ở tuổi MGL, tính vô thức trong hành vi giảm dần, khả năng làm chủ hành
vi tăng lên rõ rệt Dưới sự hướng dẫn rèn luyện của cô giáo và gia đình trẻ biết hướng hành vi của mình theo những chuẩn mực nhất định Tính chủ định của các quá trình nhận thức được nhiệm vụ của mình, biết hành động theo sự hướng dẫn của
cô một cách dễ dàng và đã biết nỗ lực cố gắng hoàn thành tốt
- Sự phát triển tự ý thức: Tuổi MGL không chỉ nhận rõ được giới tính còn nhận ra những đặc điểm hành vi của giới tính Khả năng đánh giá về bản thân mình
và sự điều khiển hành vi của trẻ mẫu giáo hoàn thiện hơn Tuy nhiên sự đánh giá của trẻ còn mang tính chủ quan và dựa trên sự đánh giá của người khác về mình
Trang 22Sự phát triển động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo lớn:
Sự hình thành thứ bậc các động cơ đã khiến hành vi của trẻ mang tính ổn định theo một xu hướng nhất định và quyết định chiều hướng phát triển nhân cách, nên hành vi của trẻ ở tuổi này được gọi là hành vi mang tính nhân cách Tuổi mẫu giáo lớn hệ thống động cơ ngày càng rõ nét hơn, không những thế trẻ mẫu giáo lớn còn có khả năng xác định mối quan hệ giữa mục đích và động cơ hành động Trong nhiều trường hợp, trẻ biết hướng hành động nhằm mục đích gì, vì cái gì lớn hơn Khả năng xác định mối quan hệ giữa mục đích và động cơ hành động khiến trẻ điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình tốt hơn, các phẩm chất ý chí hoàn thiện nhanh hơn, trẻ nổ lực cố gắng nhiều hơn khi hành động
Sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo lớn:
Trẻ mẫu giáo rất giàu xúc cảm, dễ xúc cảm và xúc cảm mạnh, biểu hiện trẻ sống rất hồn nhiên, vui tươi, tràn trề cảm xúc, không biết buồn lâu, mọi vật đối với trẻ đều có hồn như những con người, các chức năng nhận thức của trẻ mang đậm màu sắc xúc cảm
Đời sống tình cảm của trẻ phần nhiều do vô thức điều khiển Khả năng làm chủ cảm xúc của mình chưa cao, trẻ thể hiện trạng thái cảm xúc của mình một cách chân thực qua hành vi cử chỉ điệu bộ Các trạng thái cảm xúc dễ thay đổi một cách đột ngột Các loại cảm xúc tình cảm cấp cao như tình cảm thẩm mĩ tình cảm trí tuệ
và tình cảm đạo đức phát triển mạnh Trẻ rất yêu cái đẹp, hay tò mò, tìm hiểu ngạc nhiên trước những bất ngờ
Tuy nhiên đời sống tình cảm của trẻ được phát triển phong phú chỉ trong điều kiện trẻ được sống trong một gia đình đầm ấm, mọi người quan tâm yêu thương giáo dục trẻ đúng cách
d) Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
-Trẻ nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ
Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe lời nói, mặt khác cơ quan phát âm
đã trưởng thành đến mức trẻ có thể phát âm những âm khó của tiếng mẹ đẻ như uềnh oàng, khúc khuỷu…trẻ mẫu giáo đã biết sử dụng ngữ điệu phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể
Trang 23-Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn được tích lũy khá phong phú không những chỉ
về danh từ mà cả về động từ tính từ, liên từ…Trẻ nắm được vốn từ trong tiếng mẹ
đẻ đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày Từ vựng đầu tuổi mẫu giáo 300-400 từ, cuối tuổi mẫu giáo có khoảng 4000- 5000 từ
- Ngữ pháp của trẻ ngày càng hoàn thiện Trong khi sử dụng ngôn ngữ trẻ đã bắt đầu hiểu nghĩa của từ và nguồn gốc của từ
-Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện một trình độ phát triển tương đối cao, không những về phương diện ngôn ngữ mà về phương diện tư duy Trước đây trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu Khi giao tiếp với những người xung quanh trẻ sử dụng nhiều yếu tố trong tình huống giao tiếp để hỗ trợ cho ngôn ngữ của mình Kiểu ngôn ngữ này là kiểu ngôn ngữ ngữ cảnh Một kiểu ngôn ngữ khác cũng đang phát triển trong độ tuổi này đó là kiểu ngôn ngữ giải thích Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủ yếu và mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp
lí để người nghe dễ đồng tình Có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ và mạch lạc đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc Kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ và những người xung quanh, đặc biệt là đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ
Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào tuổi học sinh đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người lớn (tùy theo địa phương có giọng nói như thế nào thì trẻ sẽ nói theo như vậy), biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những qui luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp và
về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc thoải mái Trẻ đã thực sự nắm vững tiếng
mẹ đẻ Tuy nhiên, sự hoàn thiện ngôn ngữ hoàn toàn nhờ vào quá trình giao tiếp với người lớn đặc biệt là cô giáo
1.2.3 Bước ngoặt 6 tuổi
Kết thúc hoạt động ở trường mầm non, bươc vào lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng nhưng cũng đầy khó khăn đối với trẻ Phía bên này là một đứa trẻ bé nhỏ đang phát triển để hoàn thiện các cấu trúc tâm lý của con người, với hoạt động chủ đạo là vui chơi mà chưa thể thực hiện bất kì một nghĩa vụ nào của xã hội Còn phía
Trang 24bên kia là một học sinh đang thực hiện một nghĩa vụ xã hội trao cho, bằng hoạt động học tập nghiêm túc Đứng về mặt phát triển tư duy thì bên này cột mốc đứa trẻ mới chỉ có biểu tượng về sự vật sang phía bên kia nó đang hình thành những khái niệm khoa học về sự vật Theo J.Piaget, phía bên này cột mốc là thời kì tiền thao tác, sang phía bên kia là thời kì thao tác có nghĩa trẻ sử dụng thao tác ngược để tiến hành tư duy
- Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo từ vui chơi (ở trường mầm non) sang hoạt động học tập (khi bước vào trường tiểu học)
Ở trường mầm non vui chơi là chủ yếu, trò chơi vốn hấp dẫn nhưng mang tính thoải mái, tự do, thích thì chơi không thích thì thôi Học tập là một hoạt động khó khăn phức tạp Trẻ phải lĩnh hội những tri thức trừu tượng, phải thực hiện những hành động khó khăn phức tạp trong học tập và phải có nghĩa vụ hoàn thành, không thích cũng phải học Để hoàn thành nhiệm vụ khó khăn này trẻ phải đạt được tình độ phát triển tâm lý và ngôn ngữ ở mức độ nhất định phù hợp với yêu cầu của hoạt động học khi vào lớp một Trẻ phải biết làm chủ quá trình chú ý và nhận thức của mình dưới sự hướng dẫn của cô Ngôn ngữ nói phải thành thạo, biết diễn đạt lưu loát ý nghĩ của mình
- Quan hệ giữa cô giáo với trẻ ở trường mầm non là quan hệ theo kiểu mẫu-
tử Trẻ được cô chăm lo chu đáo trong mọi hoạt động Vào lớp một quan hệ giữa thầy cô với trẻ là quan hệ thầy- trò (quan hệ giữa người dạy và người học), đòi hỏi trẻ phải hoàn toàn độc lập tự chủ thực hiện tốt vai trò người học của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên Quan hệ với bạn lúc này cũng là quan hệ bạn cùng học, trẻ phải có khả năng hợp tác với bạn để thực hiện nhiệm vụ học tập của nhóm và của chính bản thân mình
-Vị trí xã hội của trẻ thay đổi Từ vị trí là một đứa trẻ của trường mầm non cần được quan tâm, chăm sóc chu đáo Vào tiểu học trẻ ở vị trí của người học sinh, phải thực hiện nghĩa vụ đối với bản thân và xã hội là hoàn thành nhiệm vụ học tập khó khăn Nếu quá trình giáo dục ở trường mầm non và gia đình không rèn luyện cho trẻ khả năng làm chủ hoạt động, biết nỗ lực cố gắng, các em khó hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong vị trí mới
Trang 251.3 Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông
1.3.1.Khái niệm tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1trường phổ thông
- Tâm lý sẵn sàng là trẻ đạt được một mức độ phát triển về thể chất, trí tuệ,
xã hội cho phép trẻ thực hiện những yêu cầu đòi hỏi của nhà trường và học các môn học [8]
- Theo từ điển tâm lý học của PGS.TS Lê Quang Sơn Và T.S Nguyễn Văn Lũy: Tâm lý sẵn sàng đi học là sự thống nhất của các đặc điểm tâm lý của chủ thể đảm bảo sự học tập có kết quả trong nhà trường [3]
Có hai dạng chuẩn bị tâm lý trong nhà trường là: riêng biệt và chung Trong trường hợp thứ nhất các chỉ số cá nhân được xem xét thiên về sự phát triển trí tuệ và vận động được so sánh với những chuẩn lứa tuổi đã được đưa ra trong các đo đạc đại trà Nếu các chỉ số giá trị cá nhân không thấp hơn giới hạn cuối cùng thì đứa trẻ được thừa nhận là sẵn sàng đối với việc học tập ở trường Trong những năm gần đây chúng ta thấy có sự khác biệt cao của chuẩn các khu vực (các nhóm) và vì vậy việc so sánh các chỉ số cá nhân với “các chuẩn nhóm” đòi hỏi phải hợp lý hơn Trường hợp thứ hai, với tư cách là một loại chỉ số của sự sẵn sàng riêng biệt có thể sửu dụng các chỉ số thành tích theo chương trình mẫu giáo (ví dụ tính toán trong khoảng 10, tốc độ đọc…)
Độ tin cậy mang tính dự báo không đầy đủ của các đo đạc sự sẵn sàng riêng biệt buộc phải chú ý đến sự sẵn sàng về mặt nhân cách nói chung, được hiểu là một trình độ cần thiết của sự phát triển tâm lý chung được qui định bởi sự phát triển đầy
đủ ở trẻ trước tuổi học Thuộc về các chỉ số sẵn sàng chung có đặc điểm của tính chủ định của hoạt động, sự hình thành giao tiếp với người lớn và bạn cùng tuổi, sự phát triển hành vi có tính nguyên tắc, tính sẵn sàng hợp tác với giáo viên trong công việc, thái độ tích cực đối với trường học và với việc học tập…
Một ví dụ trắc nghiệm “sự chín muồi học đường” là trắc nghiệm của Ierasek được tạo thành từ ba tiểu trắc nghiệm là vẽ người thể hiện trình độ phát triển tâm lý chung, vẽ phỏng theo một sơ đồ mẫu về sự phân bố các dấu chấm (kĩ năng hành động theo nguyên tắc hình thức) chép lại (“vẽ lại”) câu (biểu tượng về sự phân chia ngôn ngữ thành từ và các chữ cái riêng biệt) Các chỉ số của từng tiểu trắc nghiệm được cộng lại, điểm tổng sẽ cho biết trình độ sẵn sàng (không sẵn sàng)
Trang 26Kem-Trong những năm gần đây, xuất hiện và được phát triển quan điểm hệ thống dạy học phổ thông linh hoạt đảm bảo ngăn ngừa những khó khăn có thể có, điều chỉnh những khó khăn nảy sinh và cho phép giảm bớt yêu cầu đối với sự sẵn sàng của trẻ đồng thời tạo ra những điều kiện dạy học có kết quả cho tất cả các trẻ đến trường Chính theo nguyên tắc này, nhiều chương trình tiến bộ nhất cho các lớp (nhóm) của trẻ sáu tuổi đã được xây dựng
Trong phạm vi nghiên cứu của mình,chúng tôi sử dụng định nghĩa của PGS.TS Lê Quang Sơn Và T.S Nguyễn Văn Lũy làm khái niệm công cụ
1.3.2 Biểu hiện của tâm lý sẵn sàng đi học
Lĩnh vực động cơ: Thể hiện ở hứng thú đối với trường học, mong muốn trở
thành người học sinh
Lĩnh vực ý chí thể hiện:
-Ở mức độ hình thành các quá trình tâm lý có chủ định
- Kỹ năng vượt qua các khó khăn
- Nắm được các qui tắc hành vi vừa sức
- Kỹ năng định hướng (phản xạ) đúng đến đánh giá của người lớn về sự hoàn thành công việc
- Kỹ năng phân tích công việc của mình
Lĩnh vực trí tuệ và ngôn ngữ
- Kiến thức chung về thế giới xung quanh, trẻ có biểu tượng về thế giới vô
cơ, hữu cơ, một số hiện tượng xã hội và tính hệ thống của những kiến thức đó
- Mức độ phát triển của hoạt động nhận thức: chú ý, tri giác, trí nhớ có chủ định, tư duy ngôn ngữ Sự có mặt của những tiền đề hoạt độnghọc tập: kỹ năng tiếp nhận nhiệm vụ và chỉ dẫn, thực hiện các qui tắc kiểm tra, tự kiểm tra, đánh giá, tự đánh giá
- Ngôn ngữ : Có khả năng diễn đạt lưu loát, biểu tượng chính xác về từ, hiểu
sử dụng được nhiều từ khái quát
- Nắm được một số kỹ năng học tập đơn giản: hoàn thành việc phân tích âm thanh của từ, chuẩn bị tay viết, có tính tò mò ham hiểu biết, tính tích cực trí tuệ
Trang 27Lĩnh vực giao tiếp:
- Thực hiện chỉ dẫn của giáo viên, nghe giáo viên, tiếp nhận giọng nói có tính chất “công việc”
- Kỹ năng xây dựng quan hệ với giáo viên, với bạn bè
Biểu hiện tâm lý sẵn sàng đi học là công cụ để khảo sát trong thực tế Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi khảo sát những nội dung cơ bản biểu hiện tâm
lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông gồm : tri giác, chú ý, tư duy, ngôn ngữ, trí nhớ, sự thích ứng xã hội
1.3.3 Chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông cho trẻ mẫu giáo lớn
a) Nội dung chuẩn bị
Những yếu tố tâm lý của người học sinh chỉ có thể hình thành trong hoạt động học trong nhà trường phổ thông Nhưng trước khi vào học, trẻ phải có được những tiền đề tâm lý nhất định để vượt qua những khó khăn khi bước vào hoạt động chủ đạo mới, môi trường mới Vì vậy quá trình giáo dục của nhà trường mầm non
và gia đình phải chuẩn bị sẵn sàng những nội dung tâm lí sau:
lý cả về thời gian cũng như phù hợp với đặc điểm phát triển riêng của từng trẻ
- Đảm bảo trẻ khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không bệnh tật, đau ốm
- Có kỹ năng vận động cơ bản và khả năng phối hợp các vận động cơ bản
*Chuẩn bị về khả năng hoạt động trí tuệ
-Phát triển tính chủ định của chú ý và quá trình nhận thức cho trẻ:
+ Tri giác có chủ định, trí nhớ, chú ý có chủ định, tưởng tượng có chủ định, vì đây là những phẩm chất tâm lý cần thiết đối với hoạt động học tập
Trang 28+Phát triển tư duy sáng tạo, đặc biệt là tư duy trực quan sơ đồ, tư duy ngôn ngữ
ở mức độ đơn giản
+Phát triển hứng thú nhận thức bền vững
-Hình thành cho trẻ hệ thống biểu tượng chính xác về thế giới xung quanh và những biểu tượng toán học, chữ cái cần thiết
* Chuẩn bị về khả năng thích ứng xã hội:
Hình thành cho trẻ khả năng giao tiếp, hòa nhập, tinh thần, hợp tác,chia sẻ ,yêu thương mọi người, tính kiềm chế , tính kỉ luật, khả năng điều chỉnh hành vi có
ý thức, biết điều khiển hoạt động của mình theo yêu cầu của giáo viên đặt ra trong hoạt động học tập
*Chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đi học:
Hứng thú nhận thức bền vững ( tò mò, ham hiểu biết ), hứng thú đi học và thích trở thành học sinh
*Chuẩn bị những khả năng và hiểu biết chuyên biệt giúp trẻ dễ dàng và nhanh chóng thich ứng với việc tham gia vào các tiết học, môn học ở lớp 1 nói riêng và bậc tiểu học nói chung :
- Nhận thức được nhiệm vụ học tập
- Chuẩn bị cho việc học các môn ở lớp 1 tiểu học, chủ yếu là môn toán và môn tiếng việt: biểu tượng chính xác về thế giới xung quanh và những biểu tượng toán học, chữ cái cần thiết
- Chuẩn bị về cách học : Từng bước tập cho trẻ quen dần với 1 số kĩ năng học tập, cụ thể là các kĩ năng : nghe , hiểu yêu cầu nhiệm vụ học tập ; định hướng thực hiện nhiệm vụ học tập ; biết tự lập kế hoạch học tập, chuẩn bị cho học tập; biết làm việc theo nhiệm vụ chung và nhịp độ chung của lớp; biết hợp tác thi đua học tập ; biết tự kiểm tra đánh giá…
- Chuẩn bị kĩ năng cần thiết cho hoạt động học: kĩ năng ngồi viết, kĩ năng cầm bút, cầm sách
Tóm lại,việc chuẩn bị cho trẻ đi học lớp1 ở trường phổ thông là chuẩn bị những tiền đề cần thiết, tạo cơ hội giúp trẻ đạt độ chín muồi đến trường vế mọi phương diện:thể lực, trí tuệ, ngôn ngữ,tình cảm, giao tiếp và ứng xử xã hội, tâm
Trang 29thế,… để trẻ thích nghi với họat động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông,chứ không phải là dạy trước chương trình lớp 1 cho trẻ
b) Biện pháp chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 trường phổ thông
Biện pháp thứ nhất: chăm sóc sức khỏe, rèn luyện vận động, phòn bệnh vệ
sinh
- Tổ chức cho trẻ thực hiện các nội dung phát triển vận động :
+ Phát triển các nhóm cơ: Hô hấp, tay, chân, lưng, bụng (qua các giờ thể dục)
+ Phát triển các vận động thô: Đi, chạy, nhảy, leo trèo nhanh, chậm, thăng bằng… Trẻ thực hiện các vận động theo nhạc, nhịp điệu và hiệu lệnh bằng lời với các dụng cụ như bóng, dây, gậy, cờ, vòng…
+ Phát triển vận động tinh: Vận động khéo léo của các ngón tay, phối hợp vận động với mắt- tay và kỹ năng sử dụng các đồ dùng dụng cụ (kéo, bút, đồ chơi)
- Tổ chức các trò chơi vận động để phát triển tính nhanh nhạy cho trẻ
- Tổ chức các bữa ăn hợp lý và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ: trẻ được ăn đủ lượng, đủ chất, tỷ lệ các chất được cân đối hợp lý, thực đơn được thay đổi theo mùa
- Chăm sóc trẻ chu đáo: Trẻ được giữ ấm về mùa đông, tránh gió lùa, mát mẻ
về mùa hè, đặc biệt lưu ý tới trẻ khi thời tiết thay đổi
Biện pháp thứ hai: Tổ chức tốt các hoạt động cho trẻ
Hoạt động chung có mục đích học tập:
Hoạt động chung có mục đích là hình thức “dạy học” cơ bản ở mẫu giáo Những nội dung cần chuẩn bị để trẻ có tâm lý sẵn sàng vào học lớp 1 trường phổ thông tiến hành trong hoạt động chung có mục đích phải lồng ghép vào các trò chơi, đặc biệt là trò chơi có luật Khi tổ chức cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Xây dựng kế hoạch bằng cách kết hợp nhiều hoạt động khác nhau một cách phù hợp, linh hoạt, tạo những tình huống hoạt động của trẻ cùng với những thao tác thử nghiệm, khám phá, tập làm… để giúp trẻ thực sự được hoạt động, lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ năng Ví dụ: tổ chức cho trẻ hoạt động trong lớp theo các nhóm nhỏ dưới sự hướng dẫn của cô giáo: một nhóm tô màu, một nhóm cắt dán, một
Trang 30nhóm vẽ trang trí, mỗi nhóm một công đoạn để tạo thành một sản phẩm tạo hình do
cả lớp cùng thử nghiệm, tập làm
- Lấy trẻ làm trung tâm, có nghĩa là giáo viên phải nắm được đặc điểm riêng của từng trẻ, chú tới cá tính của mỗi cháu, tôn trọng ý thích của trẻ để đáp ứng nhu cầu và phù hợp với khả năng cá nhân trẻ
- Vận dụng linh hoạt các biện pháp giáo dục như: khi nào cần sử dụng biện pháp quan sát, đàm thoại, khi nào cần tổ chức cho trẻ trao đổi thảo luận và khi nào cần tổ chức cho trẻ thử nghiệm, khám phá, tập làm,…
- Sử dụng phương pháp phát huy tính tích cực của trẻ để giúp tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm bằng sự phối hợp các giác quan: nhìn, nghe, ngửi, sờ, nếm các sự vật, hiện tượng…Từ đó trẻ nêu ra các câu hỏi thắc mắc với cô và bạn như: ở đâu? Tại sao? Để làm gì? Làm như thế nào? … ; Trong quá trình phát huy tính tích cực của trẻ cần lồng ghép các hoạt động phát triển ngôn ngữ vào nội dung các môn học được thực hiện theo chủ điểm dưới nhiều hình thức như : Trò chuyện, đàm thoại, chơi phân vai, đóng kịch, biểu diễn, các trò chơi dân gian… phù hợp với chủ điểm
- Sử dụng đồ dùng trực quan bằng vật thật, mô hình, tranh ảnh đẹp hấp dẫn trẻ Đồ dùng đồ chơi phải gắn với chủ điểm Ví dụ khi thực hiện chủ điểm: “Trường tiểu học” cho trẻ sử dụng đồ dùng, đồ chơi: sách vở, bút chì, bút mực, bảng phấn, tẩy, cặp sách… và sử dụng các nguyên, vật liệu sẵn có như : giấy, bìa, hộp cát tong, hoạ báo, tranh ảnh, len vụn, vải vụn cô và trẻ tự làm
Hoạt động góc: Khi tổ chức các hoạt động góc cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Xây dựng các góc phù hợp với mục tiêu và yêu cầu giáo dục theo chủ điểm, phù hợp đặc điểm từng góc có nhiều sản phẩm của trẻ
- Vị trí góc hợp lý, thuận tiện cho trẻ hoạt động (góc xây dựng, gần góc đóng vai và xa góc đọc sách), góc xây dựng tránh lối đi lại, góc tạo hình gần nguồn nước,…
- Thay đổi vị trí, sắp xếp lại một số góc sau mỗi chủ điểm để tạo cảm giác mới lạ, kích thích hứng thú của trẻ
- Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu trong từng góc trình bày cho trẻ dễ thấy,
dễ lấy, dễ lựa chọn
Trang 31- Nói cho trẻ rõ cách tự chọn góc chơi bằng thẻ ký hiệu và giúp trẻ được chơi tích cực, chơi sáng tạo, nghĩ ra nhiều cách chơi
- Giải thích để trẻ hiểu nội dung và nội quy từng góc chơi
- Bao quátvà giúp đỡ, tham gia khi cần thiết: cung cấp thêm đồ dùng, đồ chơi, bổ xung kiến thức, kỹ năng, uốn nắn hành vi cho trẻ
- Duy trì hoạt động tích cực của trẻ
Hoạt động giao tiếp của trẻ:
- Cung cấp vốn từ cho trẻ thông qua trò chuyện, giao tiếp hàng ngày, thông qua chuyện kể, chơi, tập, ăn, ngủ, tiếp xúc với đồ chơi, đồ dùng, môi trường tự nhiên xã hội, … phong phú về thế giới xung quanh, giải thích một cách đơn giản để trẻ hiểu được nghĩa của từ
- Tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt một cách rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, nguyện vọng của mình, uốn nắn kịp thời ngôn ngữ của trẻ Ví dụ như trong khi cho trẻ ăn
cô không chỉ nói chuyện với trẻ về tên các loại thức ăn, dụng cụ ăn uống, mùi vị của thức ăn … mà giúp trẻ phát âm, gọi tên các loại thức ăn, dụng cụ ăn uống, no
- Dạy trẻ nói từ khái quát
- Khuyến khích trẻ diễn đạt suy nghĩ và tiến trình hoạt động của trẻ: cháu làm thế này, cháu làm thế kia…, tập cho trẻ kể lại nội dung câu chuyện mà cô vừa
kể cho trẻ kể chuyện sáng tạo theo tranh
*Hoạt động lao động của trẻ:
tự kiểm tra và có ý thức giữ gìn đồ dùng đồ chơi
- Lao động trong thiên nhiên:(có tính chất lao động tập thể) là hình thức lao động cho trẻ tham gia chăm sóc cây cối và súc vật, trồng cây ở góc thiên nhiên ngoài vườn, trong vườn hoa.Trẻ được tham gia trực tiếp như: gieo hạt, tưới cây, nhổ
Trang 32cỏ, bắt sâu, vun xới trẻ được quan sát sự sinh trưởng và phát triển của cây, phân biệt các loại cây, loại hạt Tuy lao động ở góc thiên nhiên, nhưng khái niệm của trẻ về đời sống động, thực vật mở rộng hơn, trẻ hiểu mối quan hệ giữa các hiện tượng trong thiên nhiên Nâng cao tính độc lập, ý thức trách nhiệm trong lao động
- Lao động thủ công: là hình thức cho trẻ làm các đồ vật bằng các vật liệu khác nhau như bìa cát tông, giấy, giấy màu các loại, gỗ; các vật liệu thiên nhiên (hạt, củ quả, vỏ cây, râu ngô, lông chim, gà, vịt ); phế liệu như giẻ vụn, ống chỉ, ống
bơ, vỉ thuốc, hộp thuốc…Lao động thủ công giáo dục trẻ nhiều phẩm chất như tính kiên trì, cẩn thận, tính mục đích và ý thức vượt khó để đạt mục đích Cũng giáo dục cho trẻ óc thẩm mỹ, trí tưởng tượng sáng tạo
Biện pháp thứ ba: Phối hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ trong việc thực
hiện mục tiêu giáo dục mầm non
Theo tình hình thực tế hiện nay, một số phụ huynh học sinh chưa nắm vững đặc điểm tâm- sinh lý trẻ, vội vàng cho con học đọc, học viết ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Có những gia đình sợ con mình không bằng bạn bằng bè đã bỏ qua chương trình học mẫu giáo lớn để cho con học trước chương trình lớp một do một số ít giáo viên lớp một về hưu mở lớp dạy thêm
Với vấn đề trên cần phối hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ các cháu trong
việc thực hiện mục tiêu giáo dục để phụ huynh hiểu rõ hơn về việc không nên dạy trước chương trình lớp một ở độ tuổi mẫu giáo lớn Một số việc cần làm như sau:
- Tuyên truyền về khó khăn của trẻ khi vào lớp 1, những nội dung và phương pháp chuẩn bị cho trẻ
- Tuyên truyền về tác hại của việc dạy trẻ tập viết sớm, học trước chương trình lớp một
- Thành lập hội cha mẹ học sinh của trường và chi hội của nhóm lớp
- Xây dựng kế hoạch hành động của hội
- Thông báo và thống nhất với các bậc cha mẹ các cháu về nội qui và qui định của lớp cũng như của nhà trường để cùng thực hiện
- Lập hồ sơ liên kết chăm sóc – giáo dục trẻ giữa gia đình và lớp
Trang 33- Phối hợp với các bậc cha mẹ các cháu để tuyên truyền giáo dục dinh dưỡng
và giáo dục sức khoẻ cho trẻ để củng cố những điều trẻ đã học được ở trường và rèn luyện cho trẻ có thói quen tốt trong ăn uống ở mọi lúc, mọi nơi
- Xây dựng góc dành cho cha mẹ học sinh để thông báo kịp thời tình hình sức khoẻ của trẻ, chương trình dạy trẻ trong tháng và trưng bày sản phẩm phản ánh kết quả hoạt động của trẻ
- Cung cấp câu chuyện, bài thơ, bài hát, trò chơi… có trong mỗi chủ đề để các bậc cha mẹ cùng dạy trẻ lúc ở nhà
- Khuyến khích và yêu cầu các phụ huynh thay phiên nhau dự các hoạt động của trẻ để họ thấy được: các con đi học ở ttrường mẫu giáo không chỉ được chăm sóc giáo dục chu đáo mà còn được tiếp thu những kiến thức kỹ năng, qua sự tìm tòi, khám phá thử nghiệm bằng hình thức “học mà chơi”, “chơi mà học”
Biện pháp thứ tư: Tổ chức cho trẻ làm quen với trường tiểu học
- Tìm hiểu về trường tiểu học: Xem đĩa hình, ảnh, tranh và đàm thoại về
trường tiểu học
- Cho trẻ đi tham quan trường tiểu học nhằm làm quen với học sinh, giáo viên lớp một và hiểu biết các hoạt động: học tập, vui chơi, lao động… của các anh chị ở trường tiểu học
- Trong những ngày lễ hội ( nhất là hội làng): cho trẻ giao lưu văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí, … qua đó trẻ mẫu giáo lớn gần gũi và làm quen được với các anh chị tiểu học trở nên mạnh dạn, lanh lợi, biết thêm nhiều điều mới lạ, hấp dẫn và nảy sinh lòng mong muốn trở thành học sinh lớp một
Tiểu kết chương I
Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài “Thực trạng tâm lý sẵn sàng đi
học lớp một của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường Mầm non huyện Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi”, chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
- Trẻ mẫu giáo lớn là trẻ nằm trong độ tuổi từ 5- 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “ mầm non”, tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông
- Tâm lý sẵn sàng là: trẻ đạt được một mức độ phát triển về thể chất, trí tuệ,
xã hội cho phép trẻ thực hiện những yêu cầu đòi hỏi của nhà trường và học các môn học
Trang 34- Tâm lý sẵn sàng vào học lớp 1 trường phổ thông của trẻ 6 tuổi là: sự thống nhất của các đặc điểm tâm lý của chủ thể đảm bảo sự học tập có kết quả trong nhà trường những biểu hiện của tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông của trẻ 6 tuổi thể hiện qua các mặt: phẩm chất trí tuệ phù hợp với hoạt động học, thích ứng xã
hội, có kĩ năng phù hợp với hoạt động học, hứng thú đến trường
- Bước vào trường phổ thông là một bước ngoặt đầy khó khăn đối với trẻ Đó
là sự chuyển qua một lối sống với những điều kiện hoạt động chủ đạo mới, một địa
vị mới trong xã hội, những quan hệ mới với giáo viên và bạn bè cùng tuổi
Nội dung cần chuẩn bị cho trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 trong trường phổ thông gồm: chuẩn bị về thể lực, khả năng hoạt động trí tuệ, khả năng thích ứng xã hội, tâm thế sẵn sàng đi học, khả năng và hiểu biết chuyên biệt giúp trẻ dễ dàng và nhanh chóng thich ứng với việc tham gia vào các tiết học, môn học ở lớp 1 Những nội dung trên được thực hiện bằng nhiều biện pháp: tổ chức hoạt động chung có mục đích, hoạt động góc, tham quan trường tiểu học, kết hợp hới phụ huynh
Trang 35Chương II: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về khách thể khảo sát
Nghĩa Hành là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Quảng Ngãi: phía bắc giáp huyện Tư Nghĩa, phía nam giáp huyện Ba Tơ và huyện Đức Phổ, phía tây giáp huyện Minh Long, phía đông giáp với huyện Mộ Đức và Tư Nghĩa Có sông vệ chảy qua trên địa bàn huyện
Địa hình trung du chuyển tiếp từ vùng núi phía Tây đến đồng bằng ở phía Đông Đồi gò thấp và thoải cao từ 25-200m Sông Vệ chảy qua huyện với chiều dài khoảng 30 km, sông Phước Giang khoảng 20 km Đường tỉnh 627 qua suốt chiều dọc huyện, 14 tuyến đường huyện dài 74 km Đường xe lửa Bắc Nam qua địa phận huyện hai đoạn ngắn
- Diện tích: 234,12 km²
- Dân số: 100.444 người Mật độ 429 người/km2 (năm 2006).
- Dân tộc: Kinh (Việt), H're, CaDong
- Huyện chia làm 11 xã và 1 thị trấn đó là thị trấn Chợ Chùa và các xã: Hành Dũng, Hành Thuận, Hành Trung, Hành Minh, Hành Nhân, Hành Đức, Hành Phước, Hành Thịnh, Hành Thiện, Hành Tín Tây, Hành Tín Đông
Kinh tế: thuần nông, thế mạnh của huyện là sản xuất hoa màu và cây kiểng
Hệ thống trường mầm non của huyện Nghĩa Hành: mỗi xã có 1 trường mầm non mang tên của xã Bao gồm: 12 trường mầm non
Mô tả một số trường mầm non trong phạm vi nghiên cứu: trong phạm vi của
đề tài chúng tôi lựa chọn 3 trường mầm non đại diện cho 3 vùng của huyện Nghĩa Hành để thực hiện nghiên cứu đề tài
+ Trường mầm non Thị Trấn Chợ Chùa là trường công lập nằm trên địa bàn thị trấn Chợ Chùa, đội ngũ giáo viên của trường đều đạt chuẩn theo qui định của bộ giáo dục và đào tạo Tổng số trẻ toàn trường là 408 trẻ, nam: 214 trẻ, nữ: 170 trẻ, trong đó mẫu giáo có 346 trẻ Mẫu giáo lớn có 130 trẻ, trong đó nam có 70 và nữ:
60
+ Trường mầm non Hành Minh: nằm trên địa bàn xã Hành Minh Là một ngôi trường nhỏ, với trang thiết bị và phòng học còn ít Đội ngũ giáo viên chủ yếu tốt nghiệp trung cấp mầm non, còn thiếu nhiều đồ dùng học tập dành cho trẻ Tổng
Trang 36số trẻ toàn trường là 385 cháu, nam: 200 cháu, nữ: 185 cháu Trong đó mẫu giáo lớn
124 trẻ, nam: 64, nữ: 60
+ Trường mầm non Hành Dũng- Nghĩa Hành- Quảng Ngãi nằm trên địa bàn
xã Hành Dũng Phòng học thoáng mát, ánh sáng tự nhiên Tổng số trẻ toàn trường
354 trẻ, nam: 184, nữ: 170 Trong đó trẻ mẫu giáo lớn có 110 trẻ, nam: 60, nữ: 50
2.2 Quy trình nghiên cứu
Tiến hành thu thập và nghiên cứu các tài liệu chuyên môn nhằm xây dựng cơ
sở lý luận, định hướng nghiên cứu thực tiễn
Thiết kế công cụ nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài này, chúng tôi thiết kế hai phiếu hỏi, một số câu hỏi phỏng vấn: một phiếu hỏi dành cho giáo viên mầm non gồm có 5 câu hỏi, một phiếu hỏi dành cho phụ huynh gồm có 5 câu hỏi, một số câu hỏi phỏng vấn dành cho giáo viên dạy lớp 1 gồm có 3 câu hỏi mở
- Lựa chọn test đo tâm lý sẵn sàng của trẻ mẫu giáo lớn
- Làm quen với các cơ sở nghiên cứu
Tổ chức nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 01/2014- 05/2014
- Địa điểm:
+ Trường mầm non thị trấn Chợ Chùa- Nghĩa Hành- Quảng Ngãi
+ Trường mầm non Hành Minh- Nghĩa Hành- Quảng Ngãi
+ Trường mầm non Hành Dũng- Nghĩa Hành- Quảng Ngãi
+ Trường tiểu học số 2 thị trấn Chợ Chùa- Nghĩa Hành- Quảng Ngãi
- Mô tả khách thể khảo sát: để thực hiện đề tài này chúng tôi chọn 3 trường đại diện cho 3 vùng khác nhau của từng xã ở huyện Nghĩa Hành- Quảng Ngãi Tổng
số trẻ mẫu giáo lớn của 3 trường 364 trẻ, chúng tôi chọn 60 trẻ đại diện cho tổng số trẻ của 3 trường theo cách lựa chọn ngẫu nhiên Trẻ phần lớn con của người dân lao động chủ yếu là nông nghiệp
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Mục đích: Tìm hiểu, tham khảo, tài liệu để xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài
Trang 37- Cách tiến hành: Đọc và phân tích, tổng hợp các văn bản, tài liệu trong nước, ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Bao gồm:
+ Các tài liệu có liên quan đến tâm lý trẻ mẫu giáo lớn, các biểu hiện của tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông của trẻ mẫu giáo lớn, bước ngoặt 6 tuổi của trẻ, phương pháp chuẩn bị cho trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 trường phổ thông
+ Tham khảo các sách báo, tạp chí, giáo trình… có liên quan đến tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông của trẻ mẫu giáo lớn Phân tích và khái quát các công trình nghiên cứu, các luận văn, các đề tài nghiên cứu khoa học về tâm lý sẵn sàng nói chung và tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 trường phổ thông của trẻ 6 tuổi nói riêng
+ Viết cơ sở lí luận cho đề tài
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Để giải quyết nhiệm vụ nghiện cứu thực tiễn của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
a)Phương pháp trắc nghiệm:
Đây là phương pháp cơ bản trong đề tài Dựa vào cơ sở lý luận của đề tài, chúng tôi đã lựa chọn một số test của sản phẩm đề tài B91- 37- 09, một số test trong hướng dẫn đánh giá tâm lý trẻ 6 tuổi của Vụ giáo dục mầm non
+ Mục đích: nhằm khảo sát mức độ sẵn sàng tâm lý của trẻ trước khi vào
học lớp 1 trường phổ thông
+ Nội dung: Các test đánh giá các chức năng tâm lý của trẻ 6 tuổi gồm:test
đánh giá định hướng không gian thời gian, tính bền vững của chú ý, trí nhớ ngôn ngữ, tư duy, ngôn ngữ, thích ứng xã hội
* Test đánh giá tri giác của trẻ: định hướng không gian và định hướng thời gian
- Mục đích: đánh giá mức độ phát triển tri giác không gian và thời gian của trẻ mẫu
giáo lớn
- Nội dung: Phần định hướng không gian gồm có 4 câu hỏi ( phụ lục số 1 )
Phần định hướng thời gian gồm 4 câu hỏi (phụ lục số 2 )
-Cách tiến hành: cô ngồi đối diện vớitrẻđàm thoại từng câu
- Đánh giá: mỗi câu trả lời đúng cho 1 điểm
Trang 38- Xếp loại: mỗi phần của bài tập tri giác được xếp loại như sau
+ Tốt: trẻ trả lời được 4 câu
+ Khá: trẻ trả lời được từ 3 câu
+ Trung bình: trẻ trả lời được từ 2 câu
+ Yếu: trẻ trả lời đúng dưới 2 câu
*Test đo tính bền vững chú ý của trẻ:
Mục đích: đánh giá tính bền vững chú ý của trẻ mẫu giáo lớn
Nội dung: gồm 3 tiểu trắc nghiệm nhỏ, tìm điểm khác nhau trong 2 bức tranh, tìm
chi tiết còn thiếu trong 3 bức tranh, hãy tô màu bức tranh
Cách tiến hành: làm trên từng trẻ
Đợt 1: tìm 10 điểm khác nhau trong 2 bức tranh (phụ lục số 3)
Cô nói với trẻ: bây giờ cô và con sẽ cùng chơi một trò chơi nhé Trong tay cô có 2 bức tranh với 10 điểm khác nhau Con hãy giúp cô tìm ra 10 điểm khác nhau nhé Chúng ta cùng bắt đầu nào Thời gian thực hiện bài tập: 5 phút
( khi trẻ làm xong thì khen trẻ)
Đợt 2: tìm chi tiết còn thiếu trong 3 bức tranh (phụ lục số 4)
Chúng ta hãy để 2 bức tranh này qua bên nhé Cô còn có 1 trò chơi rất thú vị, cô trò mình cùng chơi nhé Cô có 3 bức tranh nhưng các bức tranh này còn thiếu vài chi tiết Con hãy giúp cô tìm ra nhé Thời gian thực hiện bài tập: 5 phút ( khi trẻ làm xong thì khen trẻ)
Đợt 3: “hãy tô màu bức tranh” (phụ lục số 5)
Bây giờ cô trò mình sẽ cùng chơi một trò chơi nữa nhé Cô sẽ cho con 1 hộp bút màu và 3 bức tranh đã được tô màu Nhiệm vụ của con bây giờ là lựa chọn đúng các màu và tô vào các bức tranh nhé Chúng ta cùng bắt đầu nhé Thời gian thực hiện bài tập: 5 phút
Cần ghi chép thời gian hoàn thành bài tập thời gian và số lần phân tán chú ý trong khi thực hiện ở cả 3 đợt thí nghiệm
Đánh giá:
+ Trò chơi 1: điểm tối đa là 10 điểm với 1 chi tiết đúng được 1 điểm
+ Trò chơi 2: điểm tối đa là 10 điểm, ở mỗi bức tranh tìm được chi tiết còn thiếu được 3 điểm, tìm chính xác được 3 chi tiết thiếu ở cả 3 bức tranh được 10 điểm