1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sử dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố đà nẵng

85 106 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. P ẦN MỞ B (2)
    • 1. Lý do chọn đề tài (2)
    • 2. Mục đích nghiên cứu (3)
    • 3. Nhiệm vụ của đề tài (3)
    • 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu (0)
      • 4.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
      • 4.2. Khách thể nghiên cứu (4)
      • 4.3. Khách thể khảo sát (4)
      • 4.4. Phạm vi nghiên cứu (4)
    • 5. Giả thuyết khoa học (0)
    • 6. Giới hạn đề tài (0)
    • 7. Các phương pháp nghiên cứu (5)
      • 7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận (5)
      • 7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn (5)
        • 7.2.1. Phương pháp phỏng vấn (5)
        • 7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (5)
        • 7.2.3. Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ (5)
        • 7.2.4. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia (5)
      • 7.3. Phương pháp thống kê toán học (6)
    • 8. Cấu trúc đề tài (6)
  • Phần 2. P ẦN NỘ DUN (7)
    • 1.1. Tổng quan các nghiên cứu phương pháp ABA (7)
    • 1.2. Các vấn đề lý thuyết về tự kỷ (8)
      • 1.2.1. Khái niệm tự kỷ (8)
      • 1.2.2. Triệu chứng tự kỷ (12)
        • 1.2.2.1. Triệu chứng tự kỷ thông thường (12)
        • 1.2.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán TK DSM-IV (Hội Tâm thần Mỹ) (0)
      • 1.2.3. Những đặc điểm đặc trưng ở trẻ tự kỷ (0)
        • 1.2.3.1. Tuổi khởi phát (15)
        • 1.2.3.2. Suy giảm chất lượng trong tương tác xã hội (16)
        • 1.2.3.3. Suy giảm chất lượng trong giao tiếp và trò chơi (0)
      • 1.2.4. Nguyên nhân gây ra tự kỷ (19)
        • 1.2.4.1. Tổn thương não thực thể (19)
        • 1.2.4.2. Nguyên nhân di truyền (20)
        • 1.2.4.3. Tự kỷ do yếu tố môi trường (20)
      • 1.2.5. Cách phân loại tự kỷ (21)
        • 1.2.5.1. Theo thời điểm mắc bệnh tự kỷ (21)
        • 1.2.5.2. Phân lọai theo chỉ số thông minh (21)
      • 1.2.6. Các phương pháp TL giáo dục điều trị tự kỷ (22)
        • 1.2.6.1. Phương pháp phân tich hành vi ứng dụng (ABA) (23)
        • 1.2.6.2. Phương pháp Teacch (24)
        • 1.2.6.3. Phương pháp Pecs (25)
    • 1.3. Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong điều trị tự kỷ (25)
      • 1.3.1. Trẻ tự kỷ theo hướng nhìn của phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) (25)
      • 1.3.2. Những cơ sở của phương pháp (26)
      • 1.3.3. Mục tiêu tác động của phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) 29 1.3.4. Nội dung tổng quát của phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) (29)
        • 1.3.4.1. Phương pháp giảng dạy chính của chương trình (32)
        • 1.3.4.2. Phương cách ứng phó với các hành vi nổi loạn (34)
    • 1.4. Những nguyên tắc chung cho nhà trị liệu (35)
      • 1.4.1. Khi trẻ mệt mỏi trong buổi điều trị (35)
      • 1.4.2. Khi trẻ không muốn tâm sự với nhà trị liệu (35)
      • 1.4.3. Khi trẻ không làm bài tập (35)
      • 1.4.4. Khi trẻ không tập trung vào câu hỏi của nhà trị liệu (36)
    • 2.1. Khái quát về cơ sở nghiên cứu (38)
      • 2.1.1. Lịch sự hình thành bệnh viện (38)
      • 2.2.2. Thành tích của bệnh viện trong những năm qua (38)
    • 2.2. Tiến trình nghiên cứu (39)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (39)
      • 2.3.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận (39)
      • 2.3.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn (39)
        • 2.3.2.1. Phương pháp phỏng vấn sâu (39)
        • 2.3.2.2. Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ (40)
        • 2.3.2.3. Phương pháp trắc nghiệm (40)
        • 2.3.2.4. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia (42)
      • 2.3.3. Phương pháp thống kê số liệu (42)
    • 2.4. Hồ sơ bệnh nhi (0)
    • 2.5. Kết quả nghiên cứu (43)
      • 2.5.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (0)
        • 2.5.1.1. Giới tính và tuổi của trẻ tự kỷ trong hai nhóm nghiên cứu (0)
        • 2.5.1.2. Số tuổi trung bình của 2 nhóm (45)
        • 2.5.1.3. Giới tính của tự kỷ trong từng nhóm nghiên cứu (0)
      • 2.5.2. Đánh giá sự khác biệt tổng điểm các lĩnh vực của trẻ tự kỷ trong 2 nhóm trước CT (0)
      • 2.5.3. So sánh sự khác biệt các lĩnh vực của trẻ tự kỷ trong 2 nhóm sau CT (46)
        • 2.5.3.1. Đánh giá sự khác biệt tổng điểm các lĩnh vực của trẻ tự kỷ trong 2 nhóm (0)
        • 2.5.3.2. Đánh giá sự thay đổi tổng điểm TB tại thời điểm sau 3 tháng CT (T1- T2) (0)
        • 2.5.3.3. Đánh giá điểm thay đổi TB các lĩnh vực sau 3 tháng và vấn đề CT (0)
      • 2.5.4. Phân tích sự tương quan giữa điểm thay đổi các lĩnh vực với tổng điểm (50)
        • 2.5.4.1. Sự tương quan giữa tổng điểm và điểm thể hiện tình cảm của trẻ tự kỷ ở nhóm CT (52)
        • 2.5.4.2. Sự tương quan giữa tổng điểm thay đổi và điểm thay đổi về lời nói của trẻ tự kỷ ở nhóm CT (52)
        • 2.5.4.3. Sự tương quan giữa tổng điểm thay đổi và điểm phản ứng thị giác thay đổi của trẻ tự kỷ ở nhóm CT (53)
        • 2.5.4.4. Sự tương quan giữa tổng điểm thay đổi và điểm thay đổi về hành vi giao tiếp không lời của trẻ tự kỷ ở nhóm CT (54)
      • 2.5.5. Mối tương quan giữa tổng điểm thay đổi với điểm thay đổi các lĩnh vực của thang đánh giá tự kỷ trong nhóm không CT (55)
    • 3.1. Tính giá trị - tính phù hợp và tính cần thiết khi s dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong điều trị tự kỷ (0)
    • 3.2. Tính cần thiết và tính khả thi khi mở rộng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong điều trị tự kỷ (61)
  • Phần 3. P ẦN KẾT LUẬN (64)
    • 1. Kết luận (64)

Nội dung

Trong đó, phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA là phương pháp tương đối đơn giản, hiệu quả và chi phí không cao có thể được áp dụng cho trẻ TK, giúp trẻ từng bước vượt qua được nhữ

P ẦN MỞ B

Lý do chọn đề tài

Ngày nay, TK đang là một vấn đề được quan tâm nhiều trong xã hội và cũng được xem là một trong các dạng rối loạn tâm thần ở trẻ em Nhiều bậc phụ huynh rất lo lắng vì con mình có những hành vi kỳ lạ mà họ không thể hiểu được TK là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển xâm nhập ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển của trẻ nhưng nhiều nhất là về kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội Đây là một tình trạng khiếm khuyết phức tạp về khả năng phát triển của não bộ tiến triển trong ba năm đầu của trẻ, có thể xảy ra cho bất kỳ một đứa trẻ nào mà không phụ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ của cha mẹ và TK cũng được xếp vào nhóm các loại tàn tật của trẻ em (Theo tuyên ngôn trong hội nghị về sức khoẻ tại Alma Ata

Trung bình cứ 100 trẻ em thì có 1 trẻ mắc bệnh này Tỷ lệ mắc ở bé trai cao gấp 3-4 lần bé gái Theo ước tính hiện nay chỉ riêng tại Hoa Kỳ, cứ 54 bé trai sẽ có một bé được chẩn đoán mắc TK (Theo số liệu của Kaplan & Saddock - Concise Texbook of Clinical Psychiatry, Lippincott Williams & Wilkins, USA 2004) [3], [9], [15]

Tại Hoa Kỳ, người ta ước tính cứ 88 trẻ sẽ có một trẻ được chẩn đoán mắc TK khiến trẻ em mắc TK cao hơn so với tổng số trẻ bệnh ung thư, bệnh tiểu đường và AIDS cộng lại Trong vòng 2 năm qua tỷ lệ này tăng 23% Không có một lý giải chắc chắn nào cho sự gia tăng này, mặc dù có thể cho là do phương pháp chẩn đoán được cải thiện hơn hay là do ảnh hưởng của môi trường

Theo thống kê của bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ trẻ mắc TK được chẩn đoán tại đây là 1/150 và con số này ngày càng tăng

Việc phát hiện sớm, đánh giá đúng và CT sớm tàn tật ở trẻ em ngày nay đang là mục tiêu chung của nhiều quốc gia trên thế giới nhằm giảm thiểu sự tác động của khiếm khuyết, tăng cường khả năng của trẻ tàn tật hội nhập xã hội và khắc phục hậu quả của tàn tật ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng dân số và sự phát triển chung của xã hội

Tại cơ sở khoa tâm thần trẻ em, hiện tại số lượng trẻ TK nhập viện ngày càng tăng Điều đó đã thôi thúc các nhà khoa học – bác sĩ, NTL và chuyên viên tâm lý… có những suy nghĩ tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm nhanh chóng đưa các em hòa nhập với cộng đồng

Trên thế giới, hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị và giáo dục trẻ TK, như phương pháp Teacch, phương pháp Pecs, phương pháp DIR, phương pháp CT hành vi của Katherine, phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) Trong đó, phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) là phương pháp tương đối đơn giản, hiệu quả và chi phí không cao có thể được áp dụng cho trẻ TK, giúp trẻ từng bước vượt qua được những vấn đề nêu trên, trở về với cuộc sống bình thường

Do đó tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng sử dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố à Nẵng”.

Mục đích nghiên cứu

- Đề tài nhằm đánh giá hiệu quả phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong CT trẻ TK (03 tháng) tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của kết quả điều trị

- Đề xuất các biện pháp mở rộng ứng dụng phương pháp ABA nhằm tác động tích cực để giảm bớt những tác hại của TK và nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ

Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục đích nêu trên, người nghiên cứu đề ra những nhiệm vụ phải thực hiện như sau:

3.1 Khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài TK: nguyên nhân, triệu chứng, mức độ biểu hiện, hậu quả và biện pháp điều trị

Khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến CT trẻ TK

3.2 Khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến phương pháp ABA: sự ra đời, mục tiêu tác động, cấu trúc, mục đích, nội dung, hiệu quả và sự mở rộng phương pháp trong thực tiễn

3.3 Đánh giá thực trạng s dụng phương pháp

3.4 Tìm hiểu sự chuyển biến theo hướng tích cực ở trẻ TK trước và sau khi s dụng phương pháp ABA ở bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

4 ối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) với tư cách phải CT và chữa trị cho trẻ TK

Quá trình điều trị TK cho cho trẻ TK tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

- 39 trẻ được chẩn đoán TK được khám và điều trị tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng và được CT bằng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong thời gian ba tháng (Nhóm can thiệp)

- 21 trẻ được chẩn đoán TK đến khám tại bệnh viện nhưng chỉ tham gia điều trị bằng thuốc trong thời gian ba tháng (Nhóm đối chứng)

- Các bác sĩ, chuyên viên tâm lý thực hành phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng (10 bác sĩ, chuyên viên)

- Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

- Thời gian: từ đầu tháng 1 năm 2013 đến đầu tháng 4 năm 2013

Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) là phương pháp điều trị hiệu quả trong CT đối với trẻ TK tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

TK là một phạm trù rộng, biểu hiện đa dạng trong mọi hoạt động của con người và TK luôn len lỏi trong nhiều đối tượng: trẻ em, học sinh, bệnh nhân tâm thần

Trong điều kiện cho phép, người nghiên cứu tập trung tìm hiểu về cơ sở lý luận và việc vận dụng phương pháp ABA trong CT từ đó tìm hiểu sự chuyển biến theo hướng tích cực ở trẻ TK trước và sau khi s dụng phương pháp ABA trong CT nhằm tác động tích cực để giảm bớt những tác hại của TK và nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ TK ở bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

7 Các phương pháp nghiên cứu Để giải quyết các nhiệm vụ đã nêu, đề tài được s dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích và tổng hợp lý thuyết dùng phân tích các tư liệu thu thập được nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu lý luận, xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phỏng vấn trẻ nhằm tìm hiểu thêm những thông tin về trẻ cũng như tiến triển về

TK Đối với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số trẻ tại bệnh viện được nghiên cứu Nội dung xoay quanh vấn đề về mức độ biểu hiện khi bị TK và khả năng CT TK của phương pháp ABA hiện nay Qua đó có thêm những thông tin cụ thể, sinh động để bổ sung và khẳng định cho những kết luận về những chuyển biến tích cực khi s dụng phương pháp ABA trong CT cho trẻ TK

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đây là phương pháp chính khảo sát mức độ biểu hiện và phương pháp ABA hướng dẫn các phương pháp để trẻ thoát khỏi tình trạng trì trệ khi thực hiện các hoạt động và từ đó làm cho trẻ hoạt động tích cực hơn

Bảng thang đánh giá mức độ TK (Child Hood Autism Rating Scale-Cars) chính là công cụ nghiên cứu của đề tài

7.2.3 Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ

- Mục đích: điều tra hồ sơ trẻ nhằm tìm hiểu về đặc điểm và những tiến bộ của trẻ Từ đó, xác minh những thông tin thu được sau khi phỏng vấn sâu các bác sĩ, CVTL

- Nội dung: điều tra kế hoạch tiến trình thực hiện phương pháp ABA; sổ theo dõi sự tiến bộ hàng tháng của trẻ

7.2.4 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng mở rộng phương pháp ABA

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Phân tích, tổng hợp số liệu, các kết quả điều tra về định lượng dùng để x lý số liệu nghiên cứu của đề tài S dụng toán thống kê để x lý các số liệu thu thập được, tất cả các số thống kê được x lý với sự trợ giúp của phần mềm máy tính excel

Dùng phần mềm máy tính SPSS13 để so sánh mức độ tương quan, độ lệch chuẩn, giá trị P để đánh giá kết quả

Phương pháp được s dụng chủ yếu trong việc thống kê x lý số liệu để đánh giá trẻ TK và mức độ hiệu quả của phương pháp ABA qua quá trình điều trị

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm 3 chương nội dung chính

Chương 1 Cơ sở lý luận về phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp điều trị tự kỷ

Chương 2 Thực trạng s dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Các biện pháp mở rộng việc s dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng.

Các phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đã nêu, đề tài được s dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích và tổng hợp lý thuyết dùng phân tích các tư liệu thu thập được nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu lý luận, xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phỏng vấn trẻ nhằm tìm hiểu thêm những thông tin về trẻ cũng như tiến triển về

TK Đối với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số trẻ tại bệnh viện được nghiên cứu Nội dung xoay quanh vấn đề về mức độ biểu hiện khi bị TK và khả năng CT TK của phương pháp ABA hiện nay Qua đó có thêm những thông tin cụ thể, sinh động để bổ sung và khẳng định cho những kết luận về những chuyển biến tích cực khi s dụng phương pháp ABA trong CT cho trẻ TK

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đây là phương pháp chính khảo sát mức độ biểu hiện và phương pháp ABA hướng dẫn các phương pháp để trẻ thoát khỏi tình trạng trì trệ khi thực hiện các hoạt động và từ đó làm cho trẻ hoạt động tích cực hơn

Bảng thang đánh giá mức độ TK (Child Hood Autism Rating Scale-Cars) chính là công cụ nghiên cứu của đề tài

7.2.3 Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ

- Mục đích: điều tra hồ sơ trẻ nhằm tìm hiểu về đặc điểm và những tiến bộ của trẻ Từ đó, xác minh những thông tin thu được sau khi phỏng vấn sâu các bác sĩ, CVTL

- Nội dung: điều tra kế hoạch tiến trình thực hiện phương pháp ABA; sổ theo dõi sự tiến bộ hàng tháng của trẻ

7.2.4 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng mở rộng phương pháp ABA

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Phân tích, tổng hợp số liệu, các kết quả điều tra về định lượng dùng để x lý số liệu nghiên cứu của đề tài S dụng toán thống kê để x lý các số liệu thu thập được, tất cả các số thống kê được x lý với sự trợ giúp của phần mềm máy tính excel

Dùng phần mềm máy tính SPSS13 để so sánh mức độ tương quan, độ lệch chuẩn, giá trị P để đánh giá kết quả

Phương pháp được s dụng chủ yếu trong việc thống kê x lý số liệu để đánh giá trẻ TK và mức độ hiệu quả của phương pháp ABA qua quá trình điều trị.

Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm 3 chương nội dung chính

Chương 1 Cơ sở lý luận về phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp điều trị tự kỷ

Chương 2 Thực trạng s dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Các biện pháp mở rộng việc s dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng.

P ẦN NỘ DUN

Tổng quan các nghiên cứu phương pháp ABA

ABA được gắn liền với tên tuổi của 2 tác giả là Ivar Lovass và Catherine Maurice Tuy nhiên, nguồn gốc của ABA là chủ thuyết hành vi (Behaviorisme) Ba tác giả Ivan Pavlov, John B WatSon và B.F Skinner là những nhà tiên phong đã khám phá, đề xuất, nghiên cứu và ứng dụng những nguyên lý của chủ thuyết tâm lý này ABA là một phương pháp hành vi để điều trị TK Đây là một trong những phương pháp tâm lý phân tích chức năng dựa trên mô hình tâm lý về thay đổi hành vi của Skinner ABA như là một phương pháp điều trị TK để làm gia tăng các hoạt động thích thú cho bệnh nhân bị TK

Phương pháp ABA do tác giả Ivar Lovass và các bạn đồng nghiệp đã nghiên cứu và phát triển, vào những năm 1990, nhằm áp dụng chủ thuyết hành vi của Skinner và I.Pavlov vào lĩnh vực giáo dục và sư phạm

ABA là phương pháp tiếp cận có tính chất hành vi dựa trên cơ sở lý thuyết cho rằng tất cả các hành vi đều phải học và các hành vi này được điều khiển bởi các điều kiện tiền đề và hậu quả của chúng Nền tảng của thuyết này là tư tưởng cho rằng có thể giảm việc học thành sự nhắc lại những câu trả lời trong các tình huống quen thuộc và được hỗ trợ bằng các phần thưởng Theo cách này, có thể phân tích một việc phải học thành những bước nhỏ có thể s dụng như là một chương trình học cho trẻ Mỗi bước có thể định hình thông qua sự củng cố hợp lý

Vào những năm 60 của thế kỉ 20, Charles Ferster, Ivan Lovass, Montrose Wolf và Todd Risley đã bắt đầu tìm hiểu nghiên cứu về tiếp cận phân tích hành vi Tuy nhiên, chỉ đến những năm 1980, ABA mới được coi là một phương pháp CT cho TK Tiến sĩ Ivan Lovass, một nhà TLH, đã lần đầu tiếp áp dụng tiếp cận ABA cho người mắc chứng TK, tại khoa TLH, trường đại học California - Los Angeles vào năm

1987 Ý tưởng của Lovass là thông qua phương pháp ABA, các kỹ năng xã hội và hành vi có thể được dạy dỗ, luyện tập, thậm chí đối với những trẻ mắc chứng TK nặng Thực tế cho thấy đến thời điểm hiện nay, đây là phương pháp CT hiệu quả nhất đối với trẻ TK

ABA là danh hiệu do 3 chữ hoa đầu tiên của 3 từ ngữ được ghép lại với nhau: Applied Behavior Analalysis

Từ thứ nhất là Analysis: có nghĩa là phân tích, khảo sát, đo lường, quan sát và xác định điều nào cần làm, cần nói và cần dạy, để thành quả có thể đạt mức độ mong muốn tối đa

Từ thứ hai là Behavior: có nghĩa là hành vi cụ thể và khách quan bên ngoài Nói khác đi, hành vi là tất cả những gì chúng ta có thể (đếm, đo, cân, lường), nghĩa là quan sát, ghi nhận một cách khoa học và khách quan từ bên ngoài

Từ thứ ba là Applied: có nghĩa là được áp dụng, ứng dụng và s dụng Nhất c nhất động, mỗi một lời nói, liếc nhìn, việc làm… đều phải được nghiên cứu, khảo sát và chuẩn bị một cách kỹ càng NCT khi tiếp xúc và trao đổi với trẻ em, không thể tùy tiện, hay là tùy cơ ứng biến Mỗi sự việc, hiện tượng (đến trước - Antecedent) hay là (đến sau - Consequence), đối với một hành vi của trẻ em (Behavior), đều phải được s dụng và biến thành những kích thích có hiệu năng đặc biệt (Discriminative Stimulus) hay là những yếu tố củng cố và tăng cường (Reinforcer), đối với việc học tập và tiến bộ của trẻ em

Phương pháp ABA đã nổi lên như là một CT hiệu quả cho chứng rối loạn TK Gần đây, Johnny Matson và các đồng nghiệp của mình đã công bố gần 550 các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học để chứng minh hiệu quả của phương pháp này khi áp dụng CT cho những người mắc chứng TK

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nó có hiệu quả như gói điều trị đầy đủ nhận thức hành vi (CBT)

Phương pháp ABA gồm các buổi CT ít hơn, đơn giản hơn, chi phí thấp hơn và có hiệu quả cao hơn gói CBT mà các chuyên gia đã thực hiện.

Các vấn đề lý thuyết về tự kỷ

Thuật ngữ HCTK (Autism) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Autos - có nghĩa là tự bản thân, khi chuyển ngữ sang tiếng Việt được dịch theo ba cụm từ khác nhau: TK, tự tỏa, tự bế Tuy nhiên về cơ bản chỉ là cách dịch (cách gọi) khác nhau của bệnh Autism Nghiên cứu này sẽ s dụng duy nhất một cụm từ được s dụng rộng rãi nhất hiện nay là TK thông suốt đề tài thay vì các cụm từ tự tỏa hay tự bế

Tác giả Leo Kanner (1943) là người đầu tiên mô tả HCTK ở một nhóm trẻ: TK ở trẻ em được xác định bởi sự xuất hiện những rối loạn phát triển từ rất sớm trong quá trình xã hội hóa, giao tiếp và hoạt động tưởng tượng Khái niệm HCTK được đề cập đầu tiên vào năm 1943 bởi bác sĩ tâm thần người Mỹ gốc Áo Leo Kanner trong một bào báo với tiêu đề “Autism Disturbance of Effective Contract” Ở đó, Leo Kanner mô tả một nhóm người trong số những cá nhân mà rất cô lập và xa cách - đó là thuật ngữ tính TK Tính TK - cái tôi, và nhóm mà Kanner đã nghiên cứu (11 trẻ) có vẻ đóng kín trong một thế giới nội tại – co cụm

Khi đó HCTK được ông mô tả như một chứng rối loạn tâm thần hiếm gặp ở trẻ em Các đặc điểm được Leo Kanner mô tả bao gồm:

- Thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác

- Thể hiện cách chọn lựa các thói quen hàng ngày rất giống nhau về tính tỉ mỉ và kỳ dị

- Không hề nói năng hoặc cách nói năng khác thường rõ rệt

- Rất ham thích xoay vặn các đồ vật và thao tác khéo léo

- Trí nhớ như con vẹt

- Khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực khác nhau

- Thích độc thoại khác nhau trong thế giới TK

- Vẻ bề ngoài những trẻ này xinh đẹp, có vẻ thông minh, nhanh nhẹn [3, tr9]

TK là một rối loạn phát triển lan tỏa do bất thường của não bộ được xác định bởi một sự phát triển không bình thường hay giảm sút xuất hiện ở trẻ trước 3 tuổi với những biểu hiện đặc trưng ở các lĩnh vực: kém tương tác xã hội, bất thường về ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi

TK là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển:

- Hành vi rập khuôn lặp đi lặp lại, kích động, tự tấn công

- Chậm phát triển ngôn ngữ hoặc phát triển ngôn ngữ bất thường

- Trẻ quá nhạy cảm hoặc thiếu nhạy cảm trong x lý cảm giác

- Sở thích đơn điệu, nghèo nàn đối với sự vật, hiện tượng trên thế giới

- Hạn chế các kỹ năng ứng x qua lại với mọi người

- Khó khăn trong việc hiểu và biểu đạt thông tin

- Đa số TK chậm phát triển trí tuệ Chứng TK thường gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái từ 3 đến 4 lần [7, tr11]

Theo Michael Powers (1989), TK như một sự rối loạn thực thể của não gây ra một rối loạn phát triển suốt đời, bao gồm các rối loạn thực thể, thần kinh và sinh hóa Thường được chẩn đoán trong khoảng từ 30 đến 36 tháng tuổi Triệu chứng bao gồm những vấn đề về tương tác xã hội, giao tiếp cũng như những ý nghĩ và hành vi lặp lại

Quan điểm này ngoài những mô tả các tiêu chuẩn còn cho chúng ta biết tính trầm trọng của bệnh khi nói đến một “rối loạn phát triển suốt đời” Chữ suốt đời ở đây là khó khăn để khỏi bệnh cũng như không thể khỏi bệnh Tác giả khẳng định, nguyên nhân của bệnh TK là do rối loạn thực thể não gây ra

Theo cuốn “Để hiểu trẻ tự kỷ” của tiến sĩ Võ Nguyễn Tinh Vân (2002) thì:

“Chứng TK thường mang nét lạ lùng phát triển không đồng đều về hành vi và khả năng, trẻ thường hết sức phát triển về một số lĩnh vực, cho thấy những khả năng ít thấy ở trẻ khác đồng lứa, nhưng lại yếu kém ở một số khả năng căn bản thuộc về những lĩnh vực khác, chẳng hạn trẻ có thể đọc sách thông thạo nhưng tỏ ra không hiểu được lời nói và lời yêu cầu đơn giản” Quan niệm này không nhắc đến tiêu chuẩn chẩn đoán mà tác giả nói đến sự khác thường về khả năng theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Nghĩa là TK ngoài những khả năng hạn chế còn có những khả năng vượt trội so với trẻ bình thường cùng tuổi

Theo Hiệp hội Tâm thần Quốc tế: chứng TK là một sự rối loạn phát triển ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của con người, đến hình thức quan hệ với người khác và đáp ứng phù hợp của con người tới môi trường Chứng TK bắt đầu trong thời thơ ấu và được cho là một rối loạn suốt đời Một vài triệu chứng có liên hệ với TK có thể thay đổi trong số những cá nhân, nhưng nói chung, những người TK có xu hướng suy giảm quan hệ xã hội, giao tiếp, vận động và cảm giác mà ảnh hưởng đến hành vi của họ

Những người với những trường hợp nghiêm trọng hơn có thể có chỉ số IQ ở dưới trung bình, hầu như thiếu những kỹ năng ngôn ngữ, hay có những sự trì hoãn ngôn ngữ

Một số cá nhân bị TK có vẻ dường như khép kín với bên ngoài và không nhiệt tình, những người khác có vẻ bị bó lại trong những hành vi lặp đi lặp lại và những kiểu mẫu suy nghĩ cứng nhắc Người TK có thể biểu lộ những chuyển động thân thể lặp lại như vỗ, gõ nhẹ ngón tay, đu đưa hay lắc lư Những cá nhân bị TK cũng có thể cho thấy một loạt những hành vi ứng x bao gồm hiếu động thái quá, thiếu chú ý, bốc đồng, sự hung tính, và tự gây thương tích

Theo Prachi E Shah, Richard Dalton và Neil W Boris thì TK là một rối loạn phát triển thần kinh và chưa biết rõ nguyên nhân gây bệnh, nhưng có một nền tảng di truyền học chắc chắn TK phát triển và có chẩn đoán rõ ràng trước 36 tháng tuổi Nó đặc trưng bởi một kiểu loại hành vi bao gồm sự suy giảm về chất trong những lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, kỹ năng truyền đạt, tác động quan hệ xã hội qua lại, tưởng tượng và vui chơi Ba tác giả đều đồng ý nguyên nhân của bệnh TK chưa xác định rõ ràng, nhưng đồng thời lại khẳng định mạnh mẽ tính sinh học trong phát triển thần kinh của nó

Như vậy, TK là một dạng rối loạn phát triển thần kinh nhưng chưa biết rõ nguyên nhân Mức độ nặng nhẹ của bệnh TK có thể dao động ở nhiều mức độ khác nhau từ người có khả năng trí tuệ bình thường đến CPTTT

Trẻ TK biểu hiện sự thiếu quan tâm đến tình cảm của người khác và có rất ít hoặc không có quan hệ giao tiếp qua lại với mọi người Trẻ TK thường được mô tả như “thế giới đóng kín” và né tránh tình cảm, tình yêu Nhiều trẻ TK không nói, thích chơi một mình và tự kích động TK bao gồm nhiều triệu chứng khác nhau, các triệu chứng này hợp thành những biểu hiện khác nhau ở trẻ TK

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về TK và các định nghĩa được đánh giá cao và s dụng rộng rãi là: “TK

CPTTT K ượ CT ằ ị â dụ ầ ẻ TK ù CT ủ nhà chuyên môn [1]

Các nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng:

- Tỷ lệ mắc bệnh TK: 0,2 - 0,5 % dân số

- Giới tính: Nam gặp nhiều hơn nữ, với tỷ lệ nam/ nữ = 3-4/1 (Theo số liệu của Kaplan & Saddock - Concise Texbook of Clinical Psychiatry, Lippincott Williams & Wilkins, USA 2004)

1.2.2.1 Triệu chứng tự kỷ thông thường

- Mất hoặc chậm phát triển ngôn ngữ, hoặc phát triển ngôn ngữ bất thường: giọng nói đều đều, không biểu cảm Hay lặp đi lặp lại một từ hay một cụm từ… một cách vô thức

- Không hoặc rất ít phản ứng với âm thanh, những c chỉ bình thường Trẻ hành động như thể bị điếc mặc dù trẻ vẫn nghe được bình thường

- Khó khăn trong việc thể hiện nhu cầu, thường s dụng những biểu hiện và c chỉ thay vì lời nói

- Thích duy trì tình trạng không thay đổi, không muốn hoặc chống cự khi thay đổi tình trạng cũ

- Thích được chơi một mình, có cách x sự tách biệt, kỳ lạ Có thể bị cuốn hút đặc biệt với một số đồ vật hoặc hiện tượng nhất định nào đó

- Khó khăn trong việc hòa đồng với những đứa trẻ khác

- Cách chơi không bình thường

- Có những hành vi định hình, lặp đi lặp lại một số động tác kỳ dị, thích xoay tròn cơ thể hoặc các vật dụng trên tay

- Cười hoặc khóc mà không có một lý do cụ thể, phù hợp

- Không muốn ôm ấp hay được cưng chiều

- Có rất ít hoặc hầu như không có tiếp xúc mắt

- Không có cảm giác sợ hãi trước sự nguy hiểm, sự đe dọa

- Không có các kỹ năng vận động đồng đều, chính xác

- Không đáp ứng với phương pháp giảng dạy thông thường

- Có thể có khả năng cao về không gian, có trí nhớ vẹt trong khi lại rất khó khăn trong học tập các lĩnh vực khác

- Bề ngoài có vẻ nhanh nhẹn, thông minh, dễ thương

- Những biểu hiện như trên có thể nhận biết từ khi trẻ 12-30 tháng tuổi

- Nếu như cha mẹ chú ý sẽ phát hiện được bệnh khi trẻ mới ở tháng đầu tiên sau khi sinh Đối với những đứa trẻ bình thường, chúng có thể nghe tiếng và ng i được mùi của mẹ, khi được mẹ ôm vào lòng trẻ sẽ có biểu hiện khoan khoái dễ chịu nhưng trẻ TK thì không hoặc ít có cảm nhận bằng các giác quan

1.2.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán TK DSM- V ( ội Tâm thần Mỹ)

A Có ít nhất 6 tiêu chuẩn từ (1) (2) (3) với ít nhất 2 tiêu chuẩn từ (1) và 1 tiêu chuẩn từ (2) và (3):

(1) Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội, biểu hiện ít nhất bằng 2 trong số biểu hiện sau:

Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong điều trị tự kỷ

ABA là một phương pháp tiếp cận khoa học nhằm hiểu rõ hành vi của một chủ thể

ABA được xem như là việc s dụng phương pháp phân tích hành vi và dựa trên các kết quả nghiên cứu để thay đổi tích cực các hành vi quan trọng có ý nghĩa xã hội

TK chỉ là một trong số nhiều địa hạt có thể ứng dụng thành công phân tích hành vi Ứng dụng (Applied) - các nguyên tắc được ứng dụng cho những hành vi quan trọng mang tính xã hội

Hành vi (Behavioral) - dựa trên các lý thuyết khoa học về hành vi Phân tích (Analysis) - sự tiến bộ được lượng hóa và từ đó có những thay đổi về CT

1.3.1 Trẻ tự kỷ theo hướng nhìn của phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

Chứng TK là một trạng thái đổ vỡ nghiêm trọng về tâm lý trong suốt quá trình phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ Đây là căn bệnh dẫn đến sự suy giảm về ngôn ngữ, việc vui chơi, nhận thức, khả năng thích nghi và hòa nhập xã hội của trẻ và nó làm cho đứa trẻ ngày càng bị tụt lại so với các bạn đồng trang lứa

Trẻ mắc bệnh TK không có khả năng tiếp thu như những bạn bình thường khác, các em dường như mất khả năng hiểu được ngôn ngữ giao tiếp cả bằng lời nói lẫn c chỉ, bị lẫn lộn về cảm giác và tự tách mình ra khỏi mọi người và thế giới xung quanh Các em không quan tâm đến các trò chơi, đồ chơi, tỏ ra hời hợt trong việc kết bạn với trẻ khác, tỏ ra tránh né mọi việc bằng cách quan sát và bắt chước người khác

1.3.2 Những cơ sở của phương pháp

ABA là một phương pháp hay là một chương trình nhằm giáo dục và dạy dỗ trẻ em tự bế, bằng cách đặt trọng tâm vào 2 đường hướng chính yếu:

- ường hướng thứ nhất: Là chuyển hóa những hành vi tiêu cực, đang tạo ra những trở ngại trầm trọng cho vấn đề học tập và xây dựng quan hệ tiếp xúc trong môi trường xã hội

- ường hướng thứ hai: Là khuyến khích và cổ vũ, củng cố và tăng cường những hành vi tích cực, đang đạt chỉ tiêu Nhờ vậy, trẻ em sẽ càng ngày càng có khả năng đáp ứng và thực hiện những mục đích và yêu cầu, do cuộc sống làm người đề xuất và ấn định, trong nhiều địa hạt khác nhau, như ngôn ngữ, vận động, tự lập và nhận thức Điểm xuất phát của chủ thuyết hành vi là thí nghiệm quan trọng của Ivan Pavlov về phản ứng điều kiện hóa

Phương pháp ABA là một hình thức ứng dụng của chủ thuyết hành vi, trong địa hạt giáo dục và dạy dỗ

Thí nghiệm của Ivan Pavlov bao gồm 3 giai đoạn:

Trong giai đoạn thứ nhất, một con chó bị giam đói trong nhiều tiếng đồng hồ Sau đó, vừa nhìn thấy miếng thịt tươi, nó đã chảy nước miếng và xông tới đòi ăn

Theo cách giải thích và trình bày của Ivan Pavlov, miếng thịt tươi là một loại kích thích tự nhiên và tuyệt đối, đối với con chó bị giam đói Phản ứng chảy nước miếng là một hiện tượng tự nhiên, còn được gọi là phản ứng vô điều kiện, do loại kích thích tự nhiên tạo nên

Trong giai đoạn thứ hai, đồng thời với miếng thịt tươi được đưa ra trước mặt con chó đói, Ivan Pavlov đã gõ thêm một tiếng chuông Với cách làm này, nhà nghiên cứu đã cố ý kết hợp lại với nhau 2 yếu tố: hình ảnh miếng thịt tươi và âm thanh của tiếng chuông

Ivan Pavlov đã lặp đi lặp lại nhiều lần, trong nhiều ngày, giai đoạn thứ hai này

Cuối cùng, trong giai đoạn thứ ba, nhà thí nghiệm chỉ gõ tiếng chuông và không còn trình bày miếng thịt tuơi Mặc dù trong giai đoạn này, không thấy miếng thịt, con chó vẫn tiếp tục chảy nước miếng, mỗi khi nghe tiếng chuông

Theo cách giải thích của Ivan Pavlov, trong những điều kiện sinh hoạt do thí nghiệm dàn dựng, âm thanh của tiếng chuông đã từ từ được đồng hóa với miếng thịt tươi Nó trở thành một loại kích thích có điều kiện, khả dĩ tạo nên phản ứng chảy nước miếng nơi con chó, đang ở trong điều kiện bị giam đói Ngược lại, khi con chó không còn ở trong điều kiện đặc biệt này, tiếng chuông lúc bấy giờ không còn hữu hiệu, không thể trở nên một loại kích thích có khả năng tạo nên hành vi chảy nước miếng nơi con chó

Tác giả B.F.Skinner, trước khi có phương pháp ABA, đã ứng dụng chủ thuyết hành vi, trong vấn đề dạy ngôn ngữ cho những trẻ em vừa bi bô, bặp bẹ một vài tiếng đầu tiên, khi bắt chước người mẹ sinh ra mình Chúng ta cũng có thể áp dụng những cách chỉ dẫn của tác giả này trong vấn đề kích thích hành vi ngôn ngữ - Verbal Behavior cho trẻ em tự bế

Một trong những đồ đệ của Ivan Pavlov là F.B.Skinner đã áp dụng những nguyên lý điều kiện hóa vào trong địa hạt dạy ngôn ngữ

Theo Skinner, ngôn ngữ không phải là một khả năng bẩm sinh Trái lại, đó là một hành vi Cho nên, để một trẻ em tự bế có thể nói, cha mẹ và người giáo viên phải làm nhiều điều cho các em

- Thứ nhất là sáng tạo những loại kích thích đặc biệt

- Thứ hai là củng cố và tăng cường lập tức, khi trẻ em bắt chước, lặp lại một vài âm thanh của kẻ khác

- Thứ ba là khuyến khích, nâng đỡ, tạo ra nhiều cơ hội, để trẻ em lắng nghe và bắt chước phát âm

Những nguyên tắc chung cho nhà trị liệu

1.4.1 Khi trẻ mệt mỏi trong buổi điều trị

- Thông cảm với sự mệt mỏi của trẻ

- Tạo không khí vui vẻ, thoải mái

- Nói từ từ để trẻ hiểu được các câu hỏi

- Dành thời gian để trẻ suy nghĩ

- Động viên trẻ nói và có các câu khen ngợi sau khi trẻ trả lời dù rất ngắn

- Tỏ thái độ vội vã, thúc giục trẻ trả lời

- Trả lời thay cho trẻ

1.4.2 Khi trẻ không muốn tâm sự với nhà trị liệu

- Tìm hiểu lý do tại sao trẻ không muốn trả lời

- Nêu ý nghĩa của câu hỏi để trẻ hiểu

- Đề cập đến tính bảo mật của điều trị

- Chấp nhận tính riêng tư của trẻ

- Ép buộc trẻ phải trả lời

- Tỏ thái độ không hài lòng

- Tìm mọi cách để lấy thông tin về vấn đề đó

1.4.3 Khi trẻ không làm bài tập

- Tìm hiểu lý do tại sao trẻ không làm bài tập

- Thông cảm với các khó khăn của trẻ

- Phân tích cái lợi và cái hại của việc làm bài tập, từ đó, để trẻ tự quyết định có nên làm bài tập hay không

- Thảo luận cách làm bài tập với trẻ

- Tỏ thái độ tức giận, hay thất vọng khi trẻ không làm bài tập

- Tỏ thái độ đồng tình với hành vi không làm bài tập

1.4.4 Khi trẻ không tập trung vào câu hỏi của nhà trị liệu

- Cố gắng lắng nghe để hiểu trẻ đang muốn điều gì và tại sao trẻ muốn nói đến vấn đề đó

- Tóm tắt và phản hồi các ý tưởng đó

- Đề nghị trẻ tập trung vào vấn đề hiện tại và sẽ bàn vấn đề đó trong thời gian khác

- Cắt ngang dòng suy nghĩ của trẻ

- Không quan tâm đến vấn đề trẻ đang trình bày

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề: “Thực trạng s dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong CT trẻ TK tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng” có thể rút ra các vấn đề sau:

- Vấn đề TK đã được nhiều nhà TLH quan tâm nghiên cứu Khái niệm TK ở trẻ em được xác là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển trong hành vi, nhận thức, xúc cảm, sở thích, ý nghĩ, lời nói, giác quan và quan hệ xã hội; ít nhiều có kèm theo CPTTT Và khi được CT bằng trị liệu tâm lý và giáo dục hầu hết trẻ TK đều tiến bộ tùy theo mức độ bệnh và cách thức CT của các nhà chuyên môn [1]

- TK do nhiều nguyên nhân gây ra và biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau TK có những tác động nhất định và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hoạt động của trẻ

- Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị tương đối đơn giản, hiệu quả và chi phí không cao có thể được áp dụng cho trẻ TK, giúp trẻ từng bước vượt qua được những vấn đề nêu trên, trở về với cuộc sống bình thường Một trong những phương pháp được s dụng đơn giản và có hiệu quả cao là phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

Phương pháp ABA được s dụng nhằm đánh giá và CT trẻ TK một cách kịp thời giúp trẻ sớm bình ổn lại cuộc sống

Chương T ỰC TR N S DỤN P ƯƠN P ÁP P ÂN TÍC N V ỨN DỤN (ABA) TRON CAN T ỆP TR TỰ KỶ T BỆN V ỆN TÂM

Khái quát về cơ sở nghiên cứu

+ Tên địa điểm: Bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

+ Địa chỉ: 193 Nguyễn Lương Bằng, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Lịch sự hình thành bệnh viện

Bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng trước kia có tên gọi là Bệnh viện Nhi đồng Hoà Khánh được xây dựng vào khoảng năm 1966 do người Mỹ quản lý Đến 25/10/1976 UBND tỉnh ra quyết định thành lập trạm Tâm thần do đồng chí Trần Đình Hiệp phụ trách chung Đến 15/3/1977 UBND tỉnh đã có quyết định thành lập bệnh viện Tâm thần đầu tiên ở miền Nam sau ngày thống nhất đất nước với 50 giường bệnh do BS Trần Đình Thông làm bệnh viện trưởng với 36 cán bộ công nhân viên

2.2.2 Thành tích của bệnh viện trong những năm qua

* Thời gian qua bệnh viện đã thực hiện hoàn thành thắng lợi xuất sắc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước

- Công tác điều trị nội trú:

+ Tổng số lần bệnh nhân điều trị nội trú: 31979/27814 = 114,97%

+ Tổng số lần bệnh nhân ra khỏi viện: 29916/27814 = 107,56%

+ Hạ thấp tỷ lệ t vong dưới 2%: 53 ca với tỷ lệ tương đương 1,7%

- Công tác điều trị ngoại trú:

+ Tổng số bệnh nhân điều trị ngoại trú: 88.576 lượt người

+ Tổng số lần khám bệnh: 1.461.297 lần trong đó thành phố Đà Nẵng có 876.797 lần

- Công tác nghiên cứu khoa học:

Trong 30 năm, bệnh viện đã thực hiện được 108 đề tài (Trong đó có 25 đề tài cấp nghành y tế, tỉnh, viện sức khoẻ tâm thần quản lý, 83 đề tài cấp cơ sở bệnh viện quản lý)

- Công tác giám định pháp y tâm thần:

Kể từ năm 1989 thành lập tổ GĐPYTT đã thực hiện được 707 ca cho các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh, thành phố, quân khu 5, toà án nhân dân tối cao và viện kiểm sát nhân nhân tối cao tại Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên.

Tiến trình nghiên cứu

iai đoạn 1: Khảo sát trước khi tiến hành phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (dùng thang đánh giá mức độ TK của Child Hood Autism Rating Scale-Cars để đo mức độ TK của trẻ) – đo lần 1

Giai đoạn một được tiến hành từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 2 năm 2013 iai đoạn 2: Đo đạc sau khi tiến hành phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (dùng thang đánh giá mức độ TK của Child Hood Autism Rating Scale-Cars để đo mức độ TK của trẻ) – đo lần 2

Giai đoạn hai được tiến hành từ tháng 31/3 đến tháng 5/4 năm 2013 iai đoạn 3: Khảo sát các đề xuất mở rộng ứng dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

Giai đoạn ba được tiến hành từ đầu tháng 4 năm 2013.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã s dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

2.3.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận chung cho vấn đề nghiên cứu

2.3.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.3.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu

- Mục đích: đây là phương pháp nhằm tìm hiểu sâu về kiến thức, kỹ năng vận dụng phương pháp ABA

- Nội dung: trao đổi với bác sĩ, chuyên viên tâm lý về hiểu biết về hội chứng TK, đặc điểm của trẻ TK trong bệnh viện Nội dung, phương pháp, phương tiện vận dụng phương pháp ABA trong CT trẻ TK đã áp dụng

- Đối tượng: các bác sĩ, chuyên viên tâm lý đã tiến hành thực hiện phương pháp ABA để tiến hành điều tra

Và phỏng vấn trẻ nhằm tìm hiểu thêm những thông tin về trẻ cũng như tiến triển về trẻ TK Đối với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số người thân của trẻ và các NCT tại bệnh viện được nghiên cứu Nội dung xoay quanh vấn đề về mức độ biểu hiện khi bị TK và khả năng CT TK của phương pháp ABA hiện nay Qua đó có thêm những thông tin cụ thể, sinh động để bổ sung và khẳng định cho những kết luận về những chuyển biến tích cực khi s dụng phương pháp ABA trong

2.3.2.2 Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ

- Mục đích: điều tra hồ sơ trẻ nhằm tìm hiểu về đặc điểm và những tiến bộ của trẻ Từ đó, xác minh những thông tin thu được sau khi phỏng vấn sâu các bác sĩ, chuyên viên tâm lý

- Nội dung: điều tra kế hoạch tiến trình thực hiện phương pháp ABA; sổ theo dõi sự tiến bộ hàng tháng của trẻ

2.3.2.3 Phương pháp trắc nghiệm Đây là phương pháp chính khảo sát mức độ biểu hiện và phương pháp ABA hướng dẫn các phương pháp để trẻ thoát khỏi tình trạng trì trệ khi thực hiện các hoạt động và từ đó làm cho trẻ hoạt động tích cực hơn

Bảng thang đánh giá mức độ TK (Child Hood Autism Rating Scale-Cars) chính là công cụ nghiên cứu của đề tài

- Điều tra các đối tượng và đánh giá mức độ TK theo phương pháp nghiên cứu cắt dọc qua hai lần đánh giá

- Thang đánh giá mức độ TK Cars, Childhood Autism Rating Scale-Cars gồm 15 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực có 4 mức độ từ thấp đến cao

T AN ÁN Á MỨC Ộ TỰ KỶ ọ và Tên ……… Tuổi: …… Giới ………

STT CÁC B ỂU ỆN ÁN Á ỂM

1 Quan hệ với mọi người

4 Các động tác của cơ thể

6 Thích ứng với thay đổi

7 Phản ứng bằng thị giác

8 Phản ứng bằng thính giác

9 Vị giác – khứu giác - thính giác

10 Phản ứng sợ hãi và hồi hộp

14 Mức độ và sự hiểu biết trí tuệ

TỔNG SỐ ĐIỂM CHẨN ĐOÁN MỨC ĐỘ TỰ KỶ

- Đối với mỗi lĩnh vực s dụng khoảng trống ở dưới mức độ để ghi chép các hành vi tương ứng với mỗi mức độ

- Sau khi kết thúc quan sát trẻ, phối hợp với thông tin do người chăm sóc trẻ cung cấp, đánh giá các hành vi tương ứng với mỗi mục của mức độ đó

- Với mỗi mục, khoanh tròn vào số ứng với tình trạng mô tả đúng nhất của trẻ

- Có thể chỉ ra trẻ với tình trạng nằm giữa 2 mức độ bằng việc cho điểm 1.5, 2.5, 3.5

Cách cho điểm và đánh giá:

Mỗi lĩnh vực cho từ 1 đến 4 điểm Đánh giá kết quả:

Từ 15 đến 30 điểm: không TK

Từ 30.5 đến 36.5 điểm: TK nhẹ và vừa

Từ 37 đến 60 điểm: TK nặng

2.3.2.4 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng mở rộng phương pháp ABA

2.3.3 Phương pháp thống kê số liệu

Phân tích, tổng hợp số liệu, các kết quả điều tra về định lượng dùng để x lý số liệu nghiên cứu của đề tài S dụng toán thống kê để x lý các số liệu thu thập được, tất cả các số thống kê được x lý với sự trợ giúp của phần mềm máy tính excel

Dùng phần mềm máy tính SPSS13 để so sánh mức độ tương quan, độ lệch chuẩn, giá trị P giữa để đánh giá kết quả

Phương pháp được s dụng chủ yếu trong việc thống kê x lý số liệu để đánh giá trẻ TK và mức độ hiệu quả của phương pháp ABA qua quá trình điều trị

Họ và tên: Trần Thị Thanh Thủy

Quê quán: Núi Thành - Quảng Nam

Thủy là con thứ 3 trong gia đình, thể chất phát triển bình thường Thủy chậm nói, chỉ bập bẹ được 1 số từ đơn giản, dễ cáu giận, cười khóc không có nguyên nhân rõ ràng Thủy thường tăng hoạt động nhiều, không ngồi yên, không tập trung chú ý, thích làm theo ý mình, khi nói chuyện ánh mắt không nhìn vào người đối diện

Sau khi được khoa Chẩn đoán hình ảnh thực hiện test Cars tại phòng Test tâm lý thì kết quả nhận được là Trần Thị Thanh Thủy đạt 41 điểm trong thang đánh giá mức độ TK của Cars - tức Thủy bị TK nặng

Thủy được bác sĩ Nhi điều trị và thực hiện phương pháp ABA

Qua tháng điều trị đầu tiên và dùng Cars để đo thì Thủy còn 39 điểm

Sau tháng thứ 2 thì Thủy còn 36 điểm

Và sau tháng thứ 3 thì bé Thủy chỉ còn 32 điểm

Như vậy, bé Trần Thị Thu Thủy sau 3 tháng điều trị bằng phương pháp ABA đã giảm được 9 điểm trong thang đánh giá mức độ TK của Cars (từ 41 điểm xuống 32 điểm), tức là Thủy đã chuyển từ mức độ TK nặng xuống mức độ TK nhẹ và vừa

Khi tiến hành nghiên cứu, đề tài đã chọn các trẻ TK được thăm khám và điều trị tại bệnh viện gồm có 39 trẻ và giáo dục bằng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) và chọn ngẫu nhiên 21 trẻ được chẩn đoán bệnh TK nhưng không có điều kiện nhập viện điều trị CT bằng phương pháp trên để làm nhóm chứng Qua nghiên cứu đã có những kết quả sau:

2.5.1 ặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

2.5.1.1 iới tính và tuổi của trẻ tự kỷ trong hai nhóm nghiên cứu

Từ kết quả thể hiện trên biểu đồ 2.1 cho thấy: về giới tính, thì trẻ TK nam chiếm 76.7 % so với nữ là 23.3 % Tỷ lệ bệnh nhi nam cao gấp 3.3 lần Tỷ lệ này phù hợp với tỷ lệ mắc ở bé trai cao gấp 3-4 lần bé gái (Theo số liệu của Kaplan & Saddock - Concise Texbook of Clinical Psychiatry, Lippincott Williams & Wilkins USA.2004) [3], [8], [13]

Về độ tuổi, nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là 3 tuổi (13/60 bệnh nhi) Nhóm có tỷ lệ thấp nhất là 2 tuổi và 9 tuổi (1/60 bệnh nhi) Điều này cho thấy nhận thức của các bậc cha mẹ ngày càng cao, khi thấy con em mình có dấu hiệu bất thường về ngôn ngữ c chỉ và hành vi thì đến ngay các cơ sở y tế để khám và phát hiện kịp thời bệnh Và chính đây là một yếu tố quan trọng trong sự thành công của quá trình CT cho trẻ TK

Nhóm có tỷ lệ thấp nhất là 2 tuổi và 9 tuổi Ở lứa tuổi lên 2, có thể các dấu hiệu của trẻ TK cũng chưa rõ ràng, điều đó phần nào hạn chế việc phát hiện bệnh cho các

23,3% em Ở nhóm 9 tuổi, có thể một số em đã học ở các trường chuyên biệt chứ không còn nhập viện điều trị theo chương trình

2.5.1.2 Số tuổi trung bình của 2 nhóm

Bảng 2.2 S ổ ì ủ iều trị Số trẻ Tuổi trung bình ộ lệch chuẩn iá trị p

Theo kết quả thể hiện ở bảng 2.2 cho thấy: tuổi trung bình của nhóm bệnh nhi được CT và của nhóm chứng không có sự khác biệt gì (5.260 và 5.000)

Kết quả nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu, đề tài đã chọn các trẻ TK được thăm khám và điều trị tại bệnh viện gồm có 39 trẻ và giáo dục bằng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) và chọn ngẫu nhiên 21 trẻ được chẩn đoán bệnh TK nhưng không có điều kiện nhập viện điều trị CT bằng phương pháp trên để làm nhóm chứng Qua nghiên cứu đã có những kết quả sau:

2.5.1 ặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

2.5.1.1 iới tính và tuổi của trẻ tự kỷ trong hai nhóm nghiên cứu

Từ kết quả thể hiện trên biểu đồ 2.1 cho thấy: về giới tính, thì trẻ TK nam chiếm 76.7 % so với nữ là 23.3 % Tỷ lệ bệnh nhi nam cao gấp 3.3 lần Tỷ lệ này phù hợp với tỷ lệ mắc ở bé trai cao gấp 3-4 lần bé gái (Theo số liệu của Kaplan & Saddock - Concise Texbook of Clinical Psychiatry, Lippincott Williams & Wilkins USA.2004) [3], [8], [13]

Về độ tuổi, nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là 3 tuổi (13/60 bệnh nhi) Nhóm có tỷ lệ thấp nhất là 2 tuổi và 9 tuổi (1/60 bệnh nhi) Điều này cho thấy nhận thức của các bậc cha mẹ ngày càng cao, khi thấy con em mình có dấu hiệu bất thường về ngôn ngữ c chỉ và hành vi thì đến ngay các cơ sở y tế để khám và phát hiện kịp thời bệnh Và chính đây là một yếu tố quan trọng trong sự thành công của quá trình CT cho trẻ TK

Nhóm có tỷ lệ thấp nhất là 2 tuổi và 9 tuổi Ở lứa tuổi lên 2, có thể các dấu hiệu của trẻ TK cũng chưa rõ ràng, điều đó phần nào hạn chế việc phát hiện bệnh cho các

23,3% em Ở nhóm 9 tuổi, có thể một số em đã học ở các trường chuyên biệt chứ không còn nhập viện điều trị theo chương trình

2.5.1.2 Số tuổi trung bình của 2 nhóm

Bảng 2.2 S ổ ì ủ iều trị Số trẻ Tuổi trung bình ộ lệch chuẩn iá trị p

Theo kết quả thể hiện ở bảng 2.2 cho thấy: tuổi trung bình của nhóm bệnh nhi được CT và của nhóm chứng không có sự khác biệt gì (5.260 và 5.000)

Giá trị p >0.05 (p = 0.322) Điều này không có ý nghĩa thống kê Điều đó chứng tỏ về lứa tuổi không có sự ảnh hưởng gì đến kết quả phát triển của trẻ trong nghiên cứu

2.5.1.3 iới tính của tự kỷ trong từng nhóm nghiên cứu

Bảng 2.3 G ớ ủ TK ừ ê iều trị iới

Tỷ lệ Không can thiệp

Theo kết quả thể hiện ở bảng 2.3 cho thấy: Giới tính của nhóm bệnh được CT và của nhóm chứng không có sự khác biệt về tỷ lệ Giá trị p >0.05 điều này không có ý nghĩa thống kê Điều đó chứng tỏ về giới tính của trẻ trong nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt và kết quả này cũng phù hợp vì có nhiều tác giả cho rằng tỷ lệ trẻ TK nam / nữ là 3-4/1 [8]

2.5.2 ánh giá sự khác biệt tổng điểm các lĩnh vực của trẻ tự kỷ trong 2 nhóm trước CT

Bảng 2.4 Đ ổ ủ ẻ TK trong 2 nhóm ướ CT iều trị Số trẻ Tổng điểm T1 ộ lệch chuẩn iá trị p

Từ kết quả thể hiện ở bảng 2.4 ta thấy: tổng điểm thời điểm đầu lúc mới đến khám (T1) của nhóm bệnh được CT và của nhóm chứng không có sự khác biệt (42.8846 và 43.44 74) Giá trị p >0.05 điều này không có ý nghĩa thống kê

Và qua 3 kết quả trên, ta nhận thấy rằng những yếu tố về tuổi, giới và mức độ

TK của hai nhóm tại thời điểm T1 trong nghiên cứu không có sự khác biệt gì lớn để có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

2.5.3 So sánh sự khác biệt các lĩnh vực của trẻ tự kỷ trong 2 nhóm sau CT

2.5.3.1 ánh giá sự khác biệt tổng điểm các lĩnh vực của trẻ tự kỷ trong 2 nhóm sau CT

2 nhóm sau CT iều trị Số trẻ Tổng điểm T2 ộ lệch chuẩn iá trị p

Theo kết quả thể hiện ở bảng 2.5 ta thấy: tổng điểm thời điểm sau khi có sự CT (T2) của nhóm bệnh được CT và của nhóm chứng đã có sự khác biệt rõ ràng (35.0077 và 40.9895) Giá trị p

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w