1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát và định hướng phát triển nghệ thuật đường phố vào phục vụ du lịch thành phố đà nẵng

100 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn bao giờ hết việc tạo ra những sản phẩm du lịch mới lạ và độc đáo như nghệ thuật đường phố là một việc cần thiết để tăng tính cạnh tranh và thu hút du khách đến với Đà Nẵng là một điề

Trang 2

khăn, đến nay đề tài khóa luận của em đã hoàn thành Bênh cạnh sự nổ lực của bản thân, em còn nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn từ rất nhiều nơi

Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Ts Trần Thị Mai An, người đã tận tình hướng dẫn và bổ trợ kiến thức cho em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận Nhân đây em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo

bộ môn, Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tình chỉ bảo, đóng góp ý kiến cho em từ buổi đầu xây dựng đề tài cho đến khi hoàn thành Cuối cùng em xin cảm ơn đến các cán bộ thuộc các cơ quan doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho em tiếp cận các tài liệu liên quan một cách sâu sát nhất

Mặc dù đã nổ lực hết sức trong quá trình thực hiện đề tài nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được các ý kiến đóng góp từ các quý thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Bá Duy

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Bố cục 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN THỰC TIỄN 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Khái niệm du lịch 7

1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch 7

1.1.2.1 Phân loại tài nguyên du lịch 8

1.1.3 Khái niệm khách du lịch 8

1.1.4 Khái niệm sản phẩm du lịch 9

1.1.4.1 Đặc trưng của sản phẩm du lịch 9

1.2 Khái niệm nghệ thuật 10

1.2.1 Các loại hình nghệ thuật 10

1.2.1.1 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí 10

1.2.1.2 Nghệ thuật điêu khắc 11

1.2.1.3 Nghệ thuật hội họa 11

1.2.1.4 Nghệ thuật âm nhạc 12

1.2.1.5 Nghệ thuật văn chương 13

1.2.1.6 Nghệ thuật sân khấu 13

1.2.1.7 Nghệ thuật điện ảnh 14

1.3 Khái niệm nghệ thuật đường phố 14

1.4 Các loại hình nghệ thuật đường phố có thể trưng bày, biểu diễn tại Đà Nẵng 14

1.4.1 Nghệ thuật âm nhạc 14

Trang 4

1.4.2 Nghệ thuật hội họa 16

1.4.2.1 Nghệ thuật hội họa truyền thống 16

1.4.2.2 Nghệ thuật hội họa hiện đại 17

1.4.3 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí 18

1.4.3.1 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí truyền thống 18

1.4.3.2 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí hiện đại 18

1.4.4 Nghệ thuật sân khấu 19

1.4.4.1 Nghệ thuật sân khấu dân gian 19

1.4.4.2 Nghệ thuật sân khấu hiện đại 20

1.5 Đặc trưng nghệ thuật đường phố 20

1.5.1 Tính đặc trưng về văn hóa 20

1.5.2 Tính thẩm mĩ 21

1.5.3 Tính thủ công 21

1.5.4 Tính đa dạng 22

1.6 Giá trị của nghệ thuật đường phố 22

1.6.1 Giá trị về mặt kinh tế - xã hội 22

1.6.2 Giá trị về mặt tinh thần 23

Chương 2 KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT ĐƯỜNG PHỐ TẠI ĐÀ NẴNG 25

2.1 Khái quát về thành phố Đà Nẵng 25

2.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 25

2.1.1.1 Vị trí địa lí 25

2.1.1.2 Địa hình 25

2.1.1.3 Khí hậu 26

2.1.1.4 Thủy văn 27

2.1.2 Tình hình kinh tế 28

2.1.3 Tình hình xã hội 28

2.1.4 Cơ sở vật chất, kĩ thuật du lịch 29

Trang 5

2.1.7 Thực trạng phát triển ngành du lịch Đà Nẵng 35

2.1.8 Dự báo tình hình khách du lịch 35

2.1.8.1 Thị trường khách Quốc tế 35

2.1.8.2 Thị trường khách nội địa 36

2.2 Khảo sát các điều kiện để phát triển nghệ thuật đường phố tại Đà Nẵng 36

2.2.1 Khảo sát tình hình và đối tượng khách du lịch đến Đà Nẵng 37

2.2.2 Khảo sát doanh thu từ hoạt động du lịch của Đà Nẵng 38

2.2.3 Khảo sát địa điểm bố trí nghệ thuật đường phố 39

2.2.3.1 Yêu cầu điều kiện về địa điểm bố trí nghệ thuât đường phố 39

2.2.3.2 Lí do chọn địa điểm 39

2.2.4 Khảo sát không gian bố trí nghệ thuật đường phố 40

2.2.4.1 Yêu cầu về không gian bố trí 40

2.2.4.2 Lí do chọn không gian 40

2.2.5 Khảo sát về thời gian 41

2.2.5.1 Yêu cầu về thời gian 41

2.2.5.2 Lí do chọn thời gian 41

2.2.6 Các địa điểm đáp ứng đủ yêu cầu để bố trí nghệ thuật đường phố tại Đà Nẵng 43

2.2.7 Xu hướng phát triển nghệ thuật đường phố 46

2.2.7.1 Xu hướng phát triển nghệ thuật đường phố trên thế giới 46

2.2.7.2 Xu hướng phát triển ở Việt Nam 47

2.2.8 Khảo sát chọn lựa các loại hình nghệ thuật cần phát triển ở Đà Nẵng 48

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT ĐƯỜNG PHỐ PHỤC VỤ DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 53

3.1 Định hướng chung, mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp phát triển du lịch Đà Nẵng 2011 – 2015 53

3.1.1 Mục tiêu phát triển du lịch Đà Nẵng 55

3.1.2 Định vị các sản phẩm du lịch chủ đạo của Đà Nẵng 55

3.1.3 Những nhiệm vụ chủ yếu của ngành du lịch Đà Nẵng 58

Trang 6

3.2 Định hướng chính sách phát triển nghệ thuật đường phố phục vụ du lịch Đà

Nẵng 60

3.2.1 Định hướng quy hoạch phát triển nghệ thuật đường phố 60

3.2.2 Thu hút và đào tạo nhân lực 65

3.2.3 Định hướng xây dựng thương hiệu 66

3.2.4 Định hướng chính sách quản lí 66

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 7

Khai thác tối đa tiềm năng sẵn có, liên tục xây dựng phát triển sản phẩm du lịch mới lạ nhằm kéo dài thời gian lưu trú cũng như để nâng cao chất lượng du lịch

Đà Nẵng đang là vẫn đề cấp bách được đặc ra cho ngành du lịch thành phố Trong việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch mới thì tiêu chí độc đáo, ấn tượng được đặc lên hàng đầu Ở các thành phố có du lịch phát triển người ta luôn quan tâm đến sản phẩm du lịch đặc trưng của họ Điều đó sẽ tạo nên ấn tượng khó quên cho du khách khi ghé thăm và góp phần tạo nên thương hiệu của thành phố Nghệ thuật đường phố là một sản phẩm của con người nhằm thể hiện và thỏa mãn tính đam mê cái hay cái đẹp nơi công cộng Nghệ thuật là bộ mặc của cái đẹp, là con người ai cũng yêu cái đẹp nói khác hơn là một lĩnh vực nghệ thuật nào đó Con người đi du lịch tới một nơi nào đó không thể bỏ qua những cái đẹp của nơi đó Các thành phố lớn nổi tiếng trên thế giới như New York, Lon Don, Paris… trở nên sinh động đầy

ấn tượng cho khách tới thăm cũng nhờ những tác phẩm nghệ thuật đường phố chuyên nghiệp và nghiệp dư trưng bày và biểu diễn Ở Việt Nam hầu như chưa có thành phố nào đầu tư và phát triển nghệ thuật đường phố để phục vụ dân chúng nói chung và khách du lịch nói riêng vì nhiều lí do khách quan và chủ quan Tuy nhiên

Đà Nẵng lại hội tụ trong mình những tiềm năng thế mạnh độc đáo có thể đi tiên phong trong việc phát triển nghệ thuật đường phố phục vụ du lịch

Ở những thành phố lớn ở châu Âu và Mĩ người ta không hề xa lạ với những nghệ sĩ nghiệp dư chơi đàn cực hay trên vỉa hè, những màn ảo thuật hâp dẫn, những

Trang 8

bức tranh tuyệt đẹp được họa ở bất kì đâu trên đường phố tạo ấn tượng không ít với

du khách Ở Việt Nam hiện tại ngay cả những thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh hầu như loại hình này chỉ xuất hiện đôi lúc theo phong trào rồi biến mất vì nhiều lí do Đà Nẵng là một thành phố trẻ năng động và sở hữu một môi trường hấp dẫn với nhiều địa điểm tuyệt vời có thể phát triển nghệ thuật đường phố theo phong cách riêng của mình

Trong những năm qua lượng du khách nội địa và quốc tế đến Đà Nẵng ngày một tăng Tuy nhiên thời gian lưu trú của du khách tại Đà Nẵng thường ngắn cũng như mức độ hài lòng về độ đa dạng của các sản phẩm du lịch rất hạn chế Vấn đề này đã ảnh hưởng rất nhiều đến nguồn thu và sức cạnh tranh của du lịch của Đà Nẵng Hiện nay các tài nguyên du lịch tự nhiên của Đà Nẵng đang được đầu tư trên diện rộng tuy nhiên nếu chỉ chú trọng vào tài nguyên du lịch tự nhiên thì vẫn chưa thể khai thác hết tiềm năng của Đà Nẵng Hơn bao giờ hết việc tạo ra những sản phẩm du lịch mới lạ và độc đáo như nghệ thuật đường phố là một việc cần thiết để tăng tính cạnh tranh và thu hút du khách đến với Đà Nẵng là một điều cấp thiết đó

là lí do ra đời của đề tài “ Khảo sát và định hướng phát triển nghệ thuật đường phố

phục vụ du lịch thành phố Đà Nẵng”

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong thời buổi hiện nay, du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước nói chung và của nhiều địa phương nói riêng vì vậy việc liên tục tạo ra những sản phẩm du lịch mới lạ là yếu tố quan trọng để thu hút du khách đến với địa phương Với nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng hiện đại Đà Nẵng đang đẩy mạnh đầu tư và khai thác tối đa mọi tiềm năng du lịch của mình bằng việc phát triển các sản phẩm du lịch mới để thu hút du khách đến và lưu trú ngày một nhiều hơn khi đến với thành phố Từ lâu vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu

về sản phẩm du lịch đã là một đề tài thu hút được khá nhiều sinh viên, nghiên cứu

sinh quan tâm nghiên cứu và thực hiện như “ Tiềm năng, thực trạng và giải pháp

phát triển du lịch đêm tại thành phố Đà Nẵng” của sinh viên Lê Bảo Hoài Dung

khóa 2009 – 2013 khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Trong thời gian qua đã có một số bài viết liên quan đến những hướng đi và

sản phẩm du lịch mới của Đà Nẵng như “ Du lịch Đà Nẵng – Những hướng đi mới”

số ra tháng 9 năm 2011 của thạc sĩ Nguyễn Kì Anh trong tạp chí du lịch Đà Nẵng,

hay bài “ Để có một chợ đêm Đà Nẵng” của trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng

đăng trên bản tin xúc tiến du lịch Đà Nẵng số 30 tháng 6 năm 2012 Cùng với đó ngày 5 tháng 3 năm 2012 UBND thành phố Đà Nẵng ban hành quyết định số 1629

QĐ – UBND quy đinh về “ Một số chính sách hổ trợ phát triển sản phẩm du lịch”

Quyết định này đã thể hiện sự quan tâm của chính quyền trong việc phát triển các sản phẩm du lịch trong tương lai Tuy nhiên các bài báo hay hay các quyết định trên chỉ đề cập đến các vấn đề chung chung về xây dựng , đa dạng hóa các sản phẩm du lịch chứ chưa đề cập đến việc nghiên cứu sâu và kĩ đến một sản phẩm du lịch nhất định nào có thể thực hiện ở Đà Nẵng Trong khi tiềm năng của Đà Nẵng về du lịch

là rất lớn và không thua kém bất kì địa phương nào khác trên đất nước vì vậy cơ hội

để phát triển các sản phẩm du lịch mới lạ ở Đà Nẵng là rất lớn Từ vấn đề này tôi

quyết định tìm hiểu, nghiên cứu khai thác sâu hơn với đề tài “ Khảo sát và định

hướng phát triển nghệ thuật đường phố phục vụ du lịch thành phố Đà Nẵng”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Từ việc khảo sát, tìm hiểu và phân tích thực trạng du lịch Đà Nẵng để đưa ra chọn lựa những địa điểm, không gian và thời gian phù hợp cũng như những định hướng để phát triển nghệ thuật đường phố phục vụ du lịch Đà Nẵng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến du lịch và nghệ thuật đường phố hiện có để từ đó đi đến việc khảo sát các vấn đề liên quan tới địa điểm, không gian và thời gian để phát triển nghệ thuật đường phố phục vụ du lịch

Đà Nẵng

Thông qua việc khảo sát, tìm hiểu về các loại hình nghệ thuật để đưa ra những định hướng nhằm biến nghệ thuật đường phố thành một sản phẩm du lịch độc đáo đầy hấp dẫn của Đà Nẵng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loại hình nghệ thuật truyền thống lẫn hiện đại cả trong nước và ngoài nước, cơ sở hạ tầng, nhân văn và các chủ trương chính sách về du lịch của Đà Nẵng

Từ đó đưa ra những ý tưởng và định hướng phát triển nghệ thuật đường phố Đà Nẵng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Xét về không gian: Đề tài giới hạn trong phạm vi không gian của thành phố

Đà Nẵng nói chung và du lịch Đà Nẵng nói riêng cụ thể là các địa điểm có thể phát triển nghệ thuật đường phố ở Đà Nẵng

Xét về thời gian: Được tính từ khi du lịch Đà ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nghệ thuật đường phố

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Trong quá trình khảo sát nghiên cứu đề tài này, tôi đã khai thác tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Dựa trên nguồn gốc những tu liệu đã tham khảo tôi đã chia thành các nguồn tư liệu sau:

Trang 11

- Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu chủ yếu, đóng vai trò

cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản, làm cơ sở lí thuyết cho đề tài từ các

sách, báo, công trình nghiên cứu, tạp chí, các trang Web trên Internet…

- Tư liệu thực địa: Thu thập qua thực tế tại các địa điểm nghiên

cứu, các ý kiến qua phỏng vấn, khảo sát, điều tra, các tranh ảnh và tài liệu

khác…

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tư liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp như tống kê,

mô tả, phân tích, tổng hợp để xem xét các sự vật hiện tượng vận dụng các phương pháp đó tôi đã thực hiện đề tài qua các bước sau:

+ Thứ nhất: Tìm kiếm, sưu tầm, tập hợp các tư liệu cần thiết phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài từ nhiều nguồn khác nhau như thư viện, các trang Web, bạn bè, thầy cô, giáo viên hướng dẫn…

+ Thứ hai: Tiến hành phân tích, thống kê các tư liệu có được để rút ra những kiến thức cần thiết cũng như các mối quan hệ từ đó đưa ra kết luận cho đề tài đang nghiên cứu

Thông qua đề tài này hy vọng các cấp ban ngành của thành phố nói chung và

Sở văn hóa, Thể thao & Du lịch, các công ty lữ hành du lịch sẽ nhận ra tầm quan trọng của nghệ thuật đường phố với phát triển du lịch Đà Nẵng Qua đó chọn được những hướng đi phù hợp để phát triển du lịch Đà Nẵng

6.2 Về thực tiễn

Trang 12

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu hữu ích để các ban ngành có liên quan về du lịch xem xét áp dụng các loại hình nghệ thuật đường phố vào du lịch Đà Nẵng tạo nên sự đa dạng cho các hoạt động vui chơi giải trí cả ngày lẫn đêm góp phần thu hút kéo dài thời gian lưu trú của du khách đến với thành phố Ngoài ra

đề tài cũng sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai muốn quan tâm tìm hiểu vấn đề này

7 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

- Chương 2: Khảo sát phát triển nghệ thuật đường phố Đà

Nẵng

- Chương 3: Định hướng phát triển nghệ thuật đường phố phục

vụ du lịch thành phố Đà Nẵng

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN THỰC TIỄN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm du lịch

Khi nói đến du lịch, người ta thường nghĩ nghĩ đến một chuyến đi đến nơi nào đó để tham quan, nghỉ dưỡng, thăm viếng bạn bè họ hàng và dùng thời gian rảnh để tham gia các hoạt động TDTT, đi dạo, phơi nắng, thưởng thức ẩm thực, xem các chương trình biểu diễn nghệ thuật… hay chỉ đơn giản quan sát các môi trường xung quanh Hoặc ở khía cạnh rộng hơn, có thể kể đến những người tìm các

cơ hội kinh doanh (business traveller) đi công tác, dự hội nghị, hội thảo hay đi học tập, nghiên cứu khoa học kĩ thuật…

Do hoàn cảnh khác nhau về điều kiện kinh tế xã hội, thời gian và không gian,

và cũng do các góc độ nghiên cứu khác nhau, nên mỗi ngành khoa học, mỗi người đều có cách hiểu khác nhau về du lịch Đúng như 1 chuyên gia về du lịch đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả thì có bấy nhiêu định nghĩa” Tuy nhiên

về cư bản có hai định nghĩa được phổ biến ở Việt Nam như sau

Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn

ra vào tháng 6 năm 1991, “ Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài

môi trường cư trú thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn quãng thời gian

đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là

để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Ở Việt Nam, trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại chương I điều 10,

định nghĩa du lịch được hiểu như sau “ Du lịch là hoạt động của con người ngoài

nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên có những đặc điểm giống những loại tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành

Trang 14

du lịch

Ở Việt Nam định nghĩa tài nguyên du lịch được hiểu theo khoảng 4 ( điều 4 chương I ) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: Tài nguyên du lịch là cảnh quang thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến

du lịch, đô thị du lịch

1.1.2.1 Phân loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên khoa học gồm nhiều loại, có hàm nghĩa rộng, phức tạp, chồng chéo Tuy nhiên về cơ bản tài nguyên du lịch ở Việt Nam được chia làm hai loại gồm:

Tài nguyên du lịch tự nhiên: Bao gồm các yếu tố thành phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các quá trình biến đổi chung hoặc có thể được khai thác và sử dụng vào đời sống và sản xuất của con người

Theo khoản 1 9 Điều 13 chương II Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn: là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với

du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế môi trường mới được gọi là tài nguyên nhân văn Vì vậy tài nguyên du lịch nhân văn thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu đặc sắc của mỗi địa phương, mỗi quốc gia

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

Trang 15

Tại điều 20, chương IV: “ Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”

Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

“ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”

1.1.4 Khái niệm sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó

1.1.4.1 Đặc trưng của sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể, thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ ( thường chiếm 80 – 90% về mặt giá trị)hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ

Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với tài nguyên du lịch Vì vậy sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được Trên thực tế, con người không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch không thể tồn kho như các hàng hóa thông thường khác vì phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian

Sản phẩm du lịch có tính mùa vụ bởi vì việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, mà chỉ có thể tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng, năm đối với các loại hình du lịch như:

du lịch biển, du lịch lễ hội…

Trang 16

1.2 Khái niệm nghệ thuật

Trong thực tế, khái niệm mỹ thuật được dùng với nhiều nghĩa:

Nghệ thuật đồng nghĩa với một tài nghệ nào đó của con người

Nghệ thuật dùng để chỉ hoạt động sáng tạo theo nguyên tắc của cái đẹp Trong mỹ học và lí luận văn học Việt Nam thì từ nghệ thuật được dùng để chỉ một hành động sáng tạo mang tính đặc thù với mục đích sáng tạo ra những cái đẹp lảm thỏa mãn nhu cầu thẫm mĩ cho con người mang ý nghĩa sâu sắc

Nghệ thuật là lỉnh vực sáng tạo đa dạng gồm nhiều loại hình:hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, kiến trúc, múa, văn học, âm nhạc…

1.2.1 Các loại hình nghệ thuật

1.2.1.1 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí

Kiến trúc là một loại hình nghệ thuật mà cho đến ngày nay trong nghệ thuật

vẫn còn diễn ra những cuộc tranh cãi rằng, nó có thuộc nghệ thuật hay không? Xét

về chức năng của nó, thì kiến trúc là thực dụng, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất của xã hội, và trước hết là nhu cầu về nhà ở, công trình để lao động, nghỉ ngơi

và điều hành các chức năng xã hội Nhưng đồng thời kiến trúc là một nghệ thuật riêng biệt, trong đó cũng như nghệ thuật ứng dụng, điều có ý nghĩa quan trọng không chỉ là chức năng thực dụng, công dụng thực tế của các công trình, mà còn là bản chất thẩm mỹ của chúng, sự tác động giữa tư tưởng – tình cảm, sự thỏa mãn nhu cầu cái đẹp của con người

Là nghệ thuật chiếm lĩnh không gian, bằng phương pháp tạo hình, nên cái

đẹp trong kiến trúc được tạo dựng thông qua hình khối, đường nét, các tỷ lệ, nhịp

điệu và kiểu dáng cao – thấp, rộng – hẹp, cong – thẳng, mau – thưa Nhưng do

những điều kiện lịch sử, tôn giáo khác nhau mà các phong cách kiến trúc cũng khác nhau Do đó, kiến trúc châu Âu khác với kiến trúc châu Á, kiến trúc Thiên chúa

giáo, Hồi giáo, Phật giáo cũng khác nhau Chẳng hạn như kiến trúcBigiăngtanh,

Rômăng, Gôtích trong thời kỳ Trung cổ

Đặc trưng của ngôn ngữ của nghệ thuật kiến trúc là ở chỗ, trong hai tính năng phục vụ lợi ích và thẩm mỹ, thì tính năng phục vụ lợi ích có ý nghĩa nội dung,

mang tích mục đích, tính năng thẩm mỹ mang ý nghĩ hình thức Cho nên, các hình

Trang 17

tượng của nó trước hết, mang tính chất ích dụng; mặt khác cái đẹp về hình thức kết hợp cái ích dụng vật chất – tinh thần lại phản ánh những tư tưởng chung, về sự khẳng định cuộc sống, về tầm vĩ đại, về sự hùng mạnh của những tư tưởng thẩm mỹ

về cái đẹp

- Trang trí cũng là loại hình có từ lâu đời gắn bó mật thiết với nghệ thuật kiến trúc, mà đặc điểm nổi bật của nó cũng bao hàm tính năng phục vụ lợi ích và

thẩm mỹ Đặc trưng của nghệ thuật trang trí là hình trang trí hoặc hoa văn Các yếu

tố hợp thành hoa văn là họa tiết và nhịp điệu Trong đó các họa tiết kết hợp các

đường nét hình học theo một kiểu nào đó thì nhịp điệu lại nối các họa tiết với nhau thành một khối thống nhất, lặp đi, lặp lại nhiều lần tạo sự hài hòa, nhịp nhàng và thống nhất giữa các yếu tố trong một tác phẩm trang trí

Nghệ thuật trang trí bao gồm nhiều thể loại, từ sự trang điểm cho con người, đến trang trí nội thất và tạo dáng, tạo mẫu mã hàng hoá nói chung, thuộc về mỹ

thuật công nghiệp, có tên gọi là Design Trong xã hội hiện đại ngày nay, Design

càng có vai trò hết sức quan trọng góp phần làm đẹp thế giới các đồ vật từ những vật dụng sinh hoạt thường ngày đến hàng hoá, đến môi trường sống, làm việc và hoạt động nói chung của con người

1.2.1.2 Nghệ thuật điêu khắc

Nghệ thuật tạo hình ba chiều và hai chiều rưỡi

Từ xa xưa còn để lại những hình khắc trong hang động , trên những công cụ bằng đá , đồ gốm , đồ đồng và những bức tượng thô sơ Đó là những tác phẩm điêu khắc đầu tiên Tác phẩm điêu khắc chủ yếu mang giá trị tinh thần , dùng để trang trí, xem ngắm , để tưởng nhớ , tưởng niệm người , vật đã mất Tác phẩm điêu khắc còn thể hiện một niềm tin hướng về như tượng thần linh và những hình ảnh thiên nhiên

kì thú, bí ẩn hoặc bộc lộ một khát vọng sống

1.2.1.3 Nghệ thuật hội họa

Hội họa là nghệ thuật không gian mặt phẳng – tìm không gian ba chiều trên mặt phẳng Tuy chỉ ghi được một khoảnh của hành động, song nó vẫn có khả năng thể hiện được ý nghĩa của cử chỉ, động tác của đối tượng và nó cũng thể hiện được hình khối của đối tượng dưới những hình thức cụ thể khác nhau Khi cảm thụ tác

Trang 18

phẩm hội họa chúng ta vẫn có cảm giác được chiều sâu, độ gần xa về khoảng cách của bố cục theo tiêu điểm, diện về mặt đường nét, mầu sắc của đối tượng phản ánh, thậm chí cả cảm giác được cái sinh động, sống động như thật của đối tượng

Trong hội họa đường nét, màu sắc là ngôn ngữ đặc trưng của hội họa Hội họa có ưu thế đặc biệt trong việc phản ánh thế giới với mọi màu sắc phong phú, tinh

tế của nó và hòa sắc của tác phẩm làm cho nó có sức biểu hiện sâu sắc, tế nhị về tình cảm Ánh sáng, bóng tối và sự kết hợp uyển chuyển giữa các đường nét, màu sắc với các thủ pháp xa – gần (khoảng cách phù hợp) của hội họa tạo ra cảm giác không gian ba chiều Khả năng tạo hình của hội có ý nghĩa rất lớn, nó nói lên được

tư tưởng và tình cảm con người trên mọi cung bậc và sắc thái khác nhau Song hội họa chỉ có thể gợi lên quá trình phát triển của các biến cố trong phạm vi những khoảnh khắc mà nó thể hiện chứ không miêu tả được đầy đủ quá trình phát triển sinh động của hiện thực như văn chương, điện ảnh, hoặc sân khấu

Về thể loại hội họa có tranh trên giá, tranh hoành tráng, tranh chân dung,

tranh phong cảnh, tranh “bố cục”, tranh tĩnh vật…

1.2.1.4 Nghệ thuật âm nhạc

Âm nhạc là loại hình nghệ thuật thời gian, chiếm lĩnh nhịp điệu, tiết tấu, âm vực; nghĩa là nó sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng và những mong muốn của con người Hình tượng của nghệ thuật âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của bảy nốt nhạc với các thăng trầm của nó biến hoá vô tận như là các chữ cái của ngôn ngữ Các âm vực trầm bổng với sắc thái cao độ – trường độ (trầm, bổng – nhanh, chậm) là hai thuộc tính cơ bản của ngôn nhữ âm nhạc tạo nên giai điệu – sắc thái ngôn ngữ của âm nhạc Người nghệ sỹ xây dựng nên những hình tượng âm nhạc: giai điệu, nhịp điệu, hoà âm, điệu thức, âm sắc Trong đó giai điệu

có tính quyết định trong một tác phẩm âm nhạc

Điều đáng chú ý là âm nhạc phát hiện các trạng thái nội tại mà không cần phải miêu tả các hình thái bên ngoài của chúng như các loại hình nghệ thuật khác,

nó chỉ tập trung biểu hiện cảm xúc và rung động trong quá trình phát triển liên tục

và năng động của nó với tất cả cá sắc thái và sự chuyển hoá phong phú Chính vì vậy người ta coi âm nhạc nói với con người bằng “ngôn ngữ trực tiếp của tâm hồn”

Trang 19

Về thể loại, âm nhạc có: thanh nhạc (ca khúc, tổ khúc, opéra); khí nhạc

(étude, sonata, conserto, symphonie)

1.2.1.5 Nghệ thuật văn chương

Nghệ thuật văn chương là nghệ thuật ngôn từ, hay nói chính xác là nghệ thuật ngôn ngữ của con người làm phương tiện xây dựng hình tượng để phản ánh

cuộc sống Với lợi thế của ngôn từ, văn chương có thể đề cập tới mọi phương diện của đời sống hiện thực; có khả năng phản ánh linh hoạt, nhanh nhạy và đầy đủ, chính xác đến mọi góc cạnh tính cách của nhân vật hoặc của cuộc sống xã hội Là loại hình nghệ thuật có khả năng tạo hình và có khả năng biểu hiện đa dạng, nó không những có thể mô tả con người với những hành động cụ thể trong khoảnh khắc và cả quá trình, mà còn có thể nói rõ và đầy đủ những tư tưởng, tình cảm của con người một cách tinh vi và sâu sắc

Văn chương có khả năng phản ánh cả hiện thực thế giới bên ngoài và nội tâm bên trong con người một cách đầy đủ và chính xác Do đó, nghệ thuật văn chương thường kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác để có thể tăng thêm sức mạnh tiềm ẩn của nó, sự tác động của nó Ví như thơ được đọc, ngâm trên nền nhạc đệm, tiểu thuyết có tranh minh họa

Về thể loại, văn chương có: tự sự (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết); trữ

tình (thơ trữ tình, tùy bút)…

1.2.1.6 Nghệ thuật sân khấu

Là một nghệ thuật phức hợp, bằng sự kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật khác như văn chương, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa và hiện nay còn bao gồm cả điện ảnh Sân khấu tạo nên các hình tượng nghê thuật sống động đối với công chúng nghệ thuật Ngôn ngữ đặc trưng là hành động (hành động hình thể, hành động tâm

lý, hành động ngôn ngữ), thông qua diễn xuất của diễn viên Hành động sân khấu là hành động kịch, hành động mang tính xung đột, nhằm biểu hiện tư tưởng của kịch mang tính nhất quán chứ không phải bất kỳ hành động có tính chất ngẫu nhiên nào Nghệ thuật sân khấu thông thường được chia làm hai thành phần cơ bản :

- Kịch bản văn học , kịch bản âm nhạc

Trang 20

- Nghệ thuật sân khấu : diễn viên , điêu khắc -hội họa ( dựng cảnh , hóa trang , phục trang) , ánh sáng , âm nhạc minh họa , âm thanh tiếng động , kĩ thuật khác

1.2.1.7 Nghệ thuật điện ảnh

Điện ảnh trong tiếng Việt đôi khi còn gọi là xi-nê, xuất phát từ “cinéma”( điện ảnh trong tiếng Pháp) là một khái niệm lớn bao gồm các bộ phim tạo bởi những khung hình chuyển động (phim); kỹ thuật ghi lại hình ảnh, âm thanh và ánh sáng để tạo thành một bộ phim (kỹ thuật điện ảnh); hình thức nghệ thuật liên quan

đến việc tạo ra các bộ phim và cuối cùng ngành công nghiệp và thương mại liên

quan đến các công đoạn làm, quảng bá và phân phối phim ảnh (công nghiệp điện

ảnh)

Trên phương diện nghệ thuật, điện ảnh thường được gọi là nghệ thuật thứ bảy Sáu nghệ thuật trước đó theo phân loại của Hegel là kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa và thi ca Điện ảnh được dùng để nói đến những bộ phim trình chiếu ở rạp, khác với những phim truyền hình Vì lý do đó, từ "màn bạc" hay "màn ảnh lớn" cũng được dùng để chỉ điện ảnh (màn ảnh rạp chiếu phim có màu trắng), phân biệt với truyền hình, được gọi là màn ảnh nhỏ

1.3 Khái niệm nghệ thuật đường phố

Nghệ thuật đường phố là tất cả những hoạt động nghệ thuật diễn ra ở nơi công cộng bởi các nghệ sĩ nghiệp dư, bao gồm cả các hình thức như hình vẽ hoặc chữ viết trên tường ( Graffiti), hình ảnh in hoặc dán, áp phích quảng cáo, việc chiếu các video, các tác phẩm điêu khắc, ánh sáng đèn Led hoặc kiến trúc trên đường phố

1.4 Các loại hình nghệ thuật đường phố có thể trưng bày, biểu diễn tại Đà Nẵng

1.4.1 Nghệ thuật âm nhạc

1.4.1.1Nghệ thuật âm nhạc cổ truyền

Ngày nay văn hóa đã trở thành một nguồn tài nguyên gần như vô tận để con người khai thác phục vụ du lịch Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, âm nhạc cổ truyền Việt Nam giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với văn hóa dân tộc Âm nhạc là một bộ phận của văn hóa Nó là di sản vô cùng qúy báu, là tinh hoa sáng tạo nghệ thuật của bao thế hệ tiền nhân, là cơ sở cho sự phát triển nền nghệ thuật âm

Trang 21

nhạc của nước nhà trong tương lai Nó hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân tộc, mang đậm bản sắc dân tộc và hơn thế nữa, nó còn mang phong cách độc đáo riêng của các sắc tộc trên khắp mọi miền của đất nước Nếu khai thác được nguồn tài nguyên nghệ thuật này để phục vụ du lịch không những giúp chúng ta tạo ra những sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn mà còn giúp chúng ta giữ gìn bảo tồn và phát huy tốt hơn những giá trị đang có đồng thời đưa hình ảnh Việt Nam vươn xa hơn và nghệ thuật đường phố có thể làm tốt vấn đề này

Trong âm nhạc cổ truyển có hai thành phần chính là âm nhạc dân gian và âm nhạc cung đình Âm nhạc dân gian mang tính dị bản, nó được truyền miệng từ đời này qua đời khác và không có tác giả đích danh Mỗi tác phẩm của mỗi vùng miền khác nhau đều mang phong cách độc đáo riêng của mỗi sắc tộc mỗi vùng miền Tuy nhiên vì đặc tính của âm nhạc cung đình nên nghệ thuật âm nhạc cung đình không thể biểu diễn đường phố được mà chỉ có nghệ thuật âm nhạc dân gian Với không gian đặc trưng là hè phố nên có thể chọn lựa những hình thức biểu diễn đơn giản nhưng đặc trưng nhất của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền và mỗi thời kì Nhạc cụ cổ truyền Việt Nam rất phong phú và đa dạng như sáo ngang, đàn bầu, đàn đá, đàn nhị, đàn nguyệt, các loại trống và nhạc cụ của một số đồng bào dân tộc như khèn, đàn T’rưng, Klông put, đàn K’ni vì vậy có thể lựa chọn phương pháp độc tấu các loại nhạc cụ đó những nghệ sĩ nghiệp dư

Ngoài ra cần phải tạo điều kiện hết sức để các nghệ sĩ chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư nước ngoài đến Đà Nẵng giao lưu biểu diễn nghệ thuật âm nhạc truyền thống của đất nước họ nhằm tăng tính đa dạng và quốc tế trong hoạt động nghệ thuật đường phố của Đà Nẵng cũng như tạo cơ hội để chúng ta học hỏi và giao lưu với các loại hình âm nhạc bên ngoài

1.4.1.2 Nghệ thuật âm nhạc hiện đại

Âm nhạc hiện đại xuất hiện và phát triển mạnh mẽ đầu thế kỉ XX với các hiện tượng đã trở thành trào lưu như Rap, Hip hop, Pop… Tuy nhiên loại hình được giới trẻ yêu thích cũng như phù hợp nhát để biểu diễn đường phố đó là Hip hop kết hợp với nhạc Rap Loại hình này được biểu diễn ở nhiều thành phố lớn trên thế giới

Trang 22

và rất được ưa chuộng Với yêu cầu không gian ít, mức độ đầu tư ít và đơn giản có thể độc diễn hoặc biểu diễn theo nhóm, hip hop làm cho đường phố du lịch trở nên sinh động hơn và dễ dàng thu hút được sự tham gia biểu diễn của du khách trong và ngoài nước

Ngoài ra sự độc diễn bằng các nhạc cụ hiện đại với những nhạc cụ và tiết mục sáng tạo cũng sẽ được chú trọng và tạo điều kiện biểu diễn Đặc biệt luôn ưu tiên và khuyến khích các hoạt động âm nhạc sử dụng nhạc cụ tự chế từ các dụng cụ trong cuộc sống hàng ngày nhằm tăng tính sáng tạo và độc đáo trong hoạt động âm nhạc đường phố

1.4.2 Nghệ thuật hội họa

1.4.2.1 Nghệ thuật hội họa truyền thống

Trong các loại hình nghệ thuật cổ truyền ở Việt Nam hội họa chiếm vị trí khiêm tốn hơn cả, có thể nói, hầu như vắng mặt Những gì chúng ta còn giữ được đến nay là một số chân dung lý tưởng hoá thuộc thể loại tranh thờ, một số hình họa trang trí cho những sắc phong và một số cảnh sinh hoạt nông thôn - tất cả đều có giá trị nghệ thuật không cao và đều thuộc những thế kỷ gần đây Hội họa cổ Việt Nam (ngoại trừ tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống mà không thể liệt vào hội họa theo nghĩa chính xác của từ ấy) vắng mặt trong trang trí nội thất của người Việt, kể cả những gia đình khá giả từ đời này đến đời kia chơi đồ cổ, trong đó có tranh cổ Ngay trong cung điện của các vua nhà Nguyễn ở Huế chúng ta ngày nay cũng chỉ thấy những tranh vẽ trên gương với chất lượng rất trung bình Vì vậy để đưa hội họa truyền thống của Việt Nam ra đường phố biểu diễn và trưng bày một cách sinh động

và đa dạng là khó có thể Tuy nhiên trong nghệ thuật hội họa truyền thống Việt Nam có một loại hình mang đậm tính truyền thống rất được du khách trong nước và quốc tế ưa chuộng đó nghệ thuật thư pháp Đây là loại hình nghệ thuật đã có mặt ở một số thành phố du lịch của Việt Nam như Hà Nội, Hội An… nhưng phần lớn đều mang tính chất kinh doanh ít mang tính cộng đồng Nếu nghệ thuật thư pháp Việt Nam được triển khai ở Đà Nẵng thì sẽ được biểu diễn theo hình thức mới như dạy

vẽ, viết miễn phí, họa viết lên các vật phẩm của du khách do du khách yêu cầu…

Trang 23

1.4.2.2 Nghệ thuật hội họa hiện đại

Hội họa hiện đại Việt Nam nhìn chung vẫn nằm ở vùng thấp của thế giới và chưa có những tác phẩm cũng như họa sĩ tên tuổi trong nền mĩ thuật thế giới Tuy nhiên để phát triển hội họa đường phố ở Việt Nam thì không phải là vấn đề quá khó Bởi vì hội họa đường phố là hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên hè phố, vỉa hè dành cho người đi bộ, hoặc trên quảng trường một cách sáng tạo nhất, không theo một khuôn thướcquy tắc nhất định nào cả Các họa sĩ thường sử dụng các chất liệu không bền, không gây nguy hại tới môi trường, dễ tẩy xóa Lĩnh vực thường thấy và được ưa chuộng của hội họa đường phố ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới đó là Graffiti ( tranh phun sơn ) là tên gọi chỉ chung về nhũng hình ảnh hoặc chữ viết kiểu trầy xước, nguệch ngoạc trên các bức tường ở các đường phố, khu phố và được vẽ bằng sơn hoặc đánh dấu bằng bất cứ vật liệu gì hay chỉ là vẽ bằng sơn xịt lên những nơi có bề mặt phẳng, rộng Đây là một loại hình nghệ thuật công cộng hay nghệ thuật đường phố có thể hình thành bằng các hình thức đơn giản trên các bức tranh tường Graffiti được du nhập vào Việt Nam bởi những du học sinh có tư tưởng phóng khoáng và yêu nghệ thuật, tuy nhiên môn vẽ nghệ thuật này trở nên xấu trong mắt người dân thành phố với hàng loạt những hình vẽ bôi bẩn phố phường Vì du nhập một cách nửa mùa nên cách thể hiện những hình ảnh nhem nhuốc bởi đủ thứ các loại màu sơn khiến cho các bức tường trở nên bẩn thỉu, xấu xí, nhiều chỗ sơn mới chồng lên sơn cũ, hình vẽ sau đè lên hình vẽ trước càng làm cho cảnh tượng thêm nhếch nhác Tuy nhiên nếu được quy hoạch rõ ràng và quản lí chặc chẽ cả về địa điểm thể hiện như thiết kế tường phố bằng chất liệu đơn giản có thể lắp ráp hay

gỡ bỏ nhanh chóng, chất liệu vẽ dễ tẩy xóa thân thiện môi trường, nội dung hình vẽ

có nội dung rõ ràng không vi phạm thuần phong mĩ tục Việt Nam… thì sẽ tạo một cái nhìn mới đầy sinh động và hấp dẫn với bộ môn nghệ thuật này

Hiện nay một xu hướng mới về hội họa đường phố đang phát triển rất thịnh hành ở các nước châu Âu đó là vẽ tranh 3D trên các đường phố, tạo nên những con đường đầy sinh động và hấp dẫn du khách tham quan Bộ môn này gần như chưa xuất hiện tại các đường phố Việt Nam, vì vậy nếu Đà Nẵng đi đầu trong việc đưa bộ

Trang 24

môn nghệ thuật đường phố đầy mới lạ này sẽ thu hút rất nhiều sự chú ý của du khách

1.4.3 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí

1.4.3.1 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí truyền thống

Nghệ thuật kiến trúc và trang trí xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm, với kiến trúc nhà sàn và trang trí trên trống đồng thời Đông Sơn tuy để đưa sản phẩm nghệ thuật kiến trúc và trang trí truyền thống trở trở thành một thành tố của nghệ thuật đường phố rất khó Tuy nhiên vì nghệ thuật đường phố là nhằm mục đích phục vụ công cộng nên việc bố trí các công trình kiến trúc truyền thống đường phố sẽ rất tốn kém kinh phí tuy nhiên sẽ thay vào đó là nghệ thuật trang trí truyền thống Việt Nam có 54 dân tộc anh em khác nhau và mỗi dân tộc có một lối trang trí riêng để làm đẹp cho nhà cửa, quần áo cũng như các vật dụng hàng ngày bằng các chất liệu

tự nhiên Vì vậy việc trang trí truyền thống đường phố Đà Nẵng sẽ ưu tiên việc sử dụng các chất liệu tự nhiên thân thiện với môi trường và có đặc trưng riêng của một dân tộc hay vùng miền nào đó của Việt Nam hoặc một quốc gia nào đó trên thế giới Việc trang trí đường phố bằng các sản phẩm thủ công từ các làng nghề truyền thống nổi tiếng của Việt Nam theo một mô hình hoặc chủ đề nhất định sẽ tạo nên điểm nhấn hấp dẫn cho du khách đặc biệt là du khách quốc tế cũng như góp phần quảng

bá giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống Việt Nam và quảng bá du lịch làng nghề Việt Nam

1.4.3.2 Nghệ thuật kiến trúc và trang trí hiện đại

Nói đến trang trí hiện đại phải nói đến nghệ thuật trang trí đèn Led, đây là loại hình trang trí phổ biến nhất hiện nay tại nhiều con dường ở thành phố Tại Đà Nẵng nhiều tuyến phố và tuyến đường cũng được trang trí bằng loại hình này đặc biệt là đường Bạch Đằng, tuy nhiên hình thức trang trí dù ở số lượng nhiều nhưng chưa mang tính nghệ thuật cao Ở nhiều thành phố lớn trên thế giới trên các cung đường chính người ta trang trí đèn Led đôi khi không cần nhiều nhưng cần tính biểu tượng và sáng tạo cao độ mang đặc trưng của cái tôi cao Nghệ thuật trang trí đường phố bằng đèn Led tại Đà Nẵng phải thoát khỏi sự trang trí đơn thuần làm đẹp đường phố mà phải hướng tới một tầm cao mới Ở đó mỗi việc trang trí bằng đèn Led phải

Trang 25

được bố trí một cách hợp lí nhất, việc trang trí phải hướng tới tiêu chí là nhiều tác phẩm riêng biệt có tên gọi mang ý nghĩa cụ thể nào đó để dễ dàng tạo ấn tượng với

du khách hơn

Ngoài ra cần chú trọng việc biến những công trình cũng như vật dụng trên đường phố hàng ngày như thùng rác, nhà chờ xe bus… thành những tác phẩm của nghệ thuật nhằm trang trí thêm cho đường phố tạo nên điểm nhấn đẹp trên con đường

1.4.4 Nghệ thuật sân khấu

1.4.4.1 Nghệ thuật sân khấu dân gian

Trong bối cảnh kinh tế xã hội không ngừng thay đổi, đời sống văn hóa nghệ thuật phát triển mạnh song nghệ thuật sân khấu truyền thống lại đang gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của các loại hình giải trí khác cũng như sự quay lưng của khán giả phần lớn là giới trẻ Tuy nhiên tại một số địa phương nghệ thuật sân khấu truyền thống vẫn có đất diễn và “ ăn nên làm ra” điển hình là Hội An với sân khấu bài chòi trên vỉa hè bên dòng sông Hoài hàng đêm thu hút sự chú ý và tham gia của rất nhiều du khách tham quan Tuy nhiên mô hình này của Hội An hiện vẫn chưa có thành phố nào áp dụng vì nhiều lí do trong đó có Đà Nẵng Hiện tại Đà Nẵng có đầy

đủ nhất các điều kiện về vị trí tiếp cận, không gian, môi trường để tổ chức nghệ thuật sân khấu đường phố tương tự như mô hình sân khấu bài chòi chủa Hội An Đà Nẵng có cả đủ không gian trên mặt đất với vỉa hè rộng của đường Bạch Đằng, lẫn không gian mặt nước của sông Hàn để cùng lúc phát triển nhiều loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống như; sân khấu rối nước, rối cạn, bài chòi, tuồng Quảng Nam, tuồng Bình Định, kịch dân ca… Tuy rằng các loại hình nghệ thuật này không phải

là “ đặc sản” của Đà Nẵng nhưng để phát triển du lịch cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa nghệ thuật đang ngày càng mai một thì việc cải biến và mở rộng không gian bản địa nghệ thuật sân khấu, quy tập tại một khu vực nhất định để biểu diễn sẽ tạo cho du khách có nhiều sự lựa chọn cũng như tăng thêm độ hấp dẫn của điểm du lịch đó

Trang 26

1.4.4.2 Nghệ thuật sân khấu hiện đại

Khái niệm sân khấu hiện đại ở đây không được hiểu theo nghĩa là một loại hình nghệ thuật sân khấu mới ra đời mà được hiểu theo nghĩa nghệ thuật sân khấu

du nhập từ bên ngoài đặc biệt là nghệ thuật sân khấu của các nước phương Tây như

nghệ thuật xiếc, ảo thuật… Đây là hai bộ môn nghệ thuật có tính Quốc tế cao, do

ngôn ngữ của xiếc và ảo thuật là những hình tượng nghệ thuật, được dàn dựng thành những tiết mục và chương trình do các diên viên biểu diễn trước công chúng bằng chính năng lực phi thường tiềm ẩn trong con người Do không có rào cản về ngôn ngữ nên các chương trình, tiết mục khi biểu diễn thì dù người xem là người của quốc gia, dân tộc nào, là người có trình độ học vấn cao hay người lao động phổ thông với mọi lứa tuổi khác nhau, thì khi xem xiếc và ảo thuật vẫn hiểu và cảm nhận được cái hay, cái khó, cái đẹp trong từng động tác xiếc theo tư duy và trình độ của mỗi người Là một bộ môn nghệ thuật mang tính tổng hợp thường được biểu diễn trên sân khấu nhưng do sự đa dạng của các tiết mục biểu diễn nên hai bộ môn

nà có thể biểu diện ở đường phố một cách dễ dàng với một không gian nhỏ thời gian nhanh và dễ dàng gây được sự chú ý cũng như yêu thích từ khách du lịch Chúng ta thường thấy tại các thành phố lớn ở châu Âu như Paris, London hoặc New york của Mĩ thường có các nghệ sĩ xiếc, ảo thuật lang thang trên các con phố biểu diễn miễn phí cho mọi người thưởng thức

Hiện tại Liên đoàn xiếc đầy đủ các bộ môn : Nhào lộn, tung hứng, đu trên cao,thăng bằng, ảo thuật, hề, các tiết mục tạp kỹ, xiếc thú… và các bộ môn ảo thuật mới được du nhập từ bên ngoài bước đầu đã thử nghiệm,dàn dựng một số chương trình mới, có chủ đề theo phong cách hiện đại nhưng với chất liệu của văn hóa truyền thống của Việt Nam Với sự đa dang các loại hình cũng như tiết mục như vậy thật không khó để chọn lựa cho Đà Nẵng chọn lựa một số loại hình phù hợp nhất để biểu diễn đường phố phục vụ khách du lịch

1.5 Đặc trưng nghệ thuật đường phố

1.5.1 Tính đặc trưng về văn hóa

Nghệ thuật được coi như một thành tố của văn hóa, về cơ bản một tác phẩm nghệ thuật như một thông điệp gì đó mà tác giả muốn nhắn nhủ tới người thưởng

Trang 27

thức nó Đối với nghệ thuật đường phố thì đặc trưng mà ta thường gặp nhất đó là đặc trưng về văn hóa khu vực, quốc gia, vùng miền hoặc dân tộc được thể hiện tại bản địa của nó một cách đặc trưng nhất chẳng hạn như nghệ thuật Graffiti trên các đường phố của châu Âu, nghệ thuật độc tấu Guitar trên các tuyến phố của Tây Ban Nha, nghệ thuật trang trí thì phải nói đến Pháp với đại lộ Champs – Elysees với những tác phẩm điêu khắc đậm chất Pháp và những ngôi nhà được trang trí và tỏa sáng bên đường đầy mê hoặc người Nhật Bản có tính tiết kiệm chắt chiu mọi thứ vì vậy tác phẩm nghệ thuật đường phố của họ được thể hiện ở những nơi mà thường ngày chúng ta ít ai để ý tới như nắp cống,viên gạch vỡ trên hè phố…

Ngoài ra đặc trưng văn hóa trong nghệ thuật đường phố còn được thuể hiện ở tính thời kì chẳng hạn như nhân dịp kỉ niệm một ngày nào đó trong quá khứ ngườita

sẽ tái hiện lại các hình ảnh của quá khứ thông qua các tác phẩm nghệ thuật nhằm gợi lại kí ức một thời

1.5.2 Tính thẩm mĩ

Thẩm mĩ là bộ mặt của nghệ thuật, một tác phẩm nghệ thuật đường phố dù mang ý nghĩa hay thông điệp gì đi nữa thì trước tiên nó phải đáp ứng tính thẩm mĩ, đặc biệt là đối với các tác phẩm hội họa, điêu khắc, trang trí… tính thẩm mĩ không chỉ được thỏa mãn bằng mắt mà còn ở sự cảm nhận bằng các giác qua khác như nghe đối với âm nhạc hay và cả sựu đồng điệu về tâm hồn của con người đối với Con người ai cũng yêu cái đẹp vì vậy tiêu chí cuối cùng mà nghệ thuật hướng đến

đó chính là tính thẩm mĩ Tính thẩm mĩ trong nghệ thuật đường phố còn được thể hiện qua thông điệp mà tác phẩm nghệ thuật muốn gửi đến người thưởng thức nó như thế nào, thông thường đó là những thông điệp của cuộc sống hàng ngay hoặc chỉ là những lời nhắn nhủ yêu thương của con người mà tác giả muốn thể hiện

1.5.3 Tính thủ công

Nói đến nghệ thuật là nói đến hoạt động của con người, bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào được tạo dựng trên hè phố cũng đều do chính bàn tay và khối óc của con người làm ra vì vậy nó mang tính thủ công rất cao Đặc biệt là đối với các loại hình nghệ thuật như trang trí, hội họa mỗi tác phẩm nghệ thuật đều do bàn tay mang một

Trang 28

cá tính riêng của nghệ sĩ tạo ra nó, không theo một khuôn khổ, lí thuyết nhất định nào cả

1.5.4 Tính đa dạng

Nghệ thuật đường phố rất đa dạng về các loại hình nghệ thuật được biểu diễn cũng như đa dạng về từng bộ môn trong mỗi loại hình nghệ thuật Sự đa dạng trong nghệ thuật đường phố còn thể hiện ở nhiều điểm như sự phá cách về đặc tính của loại hình nghệ thuật được biểu diễn từ đó mở ra một hướng đi mới cho loại hình nghệ thuật Ngoài ra sự đa dạng còn thể hiện ở không gian, địa điểm, số lượng người tham gia thể hiện gần như không theo một khuôn khổ giới hạn nào cả, ví dụ như một loại hình nghệ thuật nào đó ta chỉ thường thấy thể hiện trên sân khấu hoặc trong phòng thì ở nghệ thuật đường phố nó sẽ được thể hiện ở nhiều không gian khác nhau một cách sáng tạo nhất có thể là trên hè phố hoặc trên mặt nước hoặc những nơi vốn dĩ không dành cho thể hiện nghệ thuật

1.6 Giá trị của nghệ thuật đường phố

1.6.1 Giá trị về mặt kinh tế - xã hội

Nhìn chung việc triển khai và tổ chức nghệ thuật đường phố phục vụ du lịch tại Việt Nam vẫn còn rất mới mẻ Tuy nhiên trên thế giới tại các nước phát triển hình thức nghệ thuật đường phố rất được chú trọng đầu tư và quản lí chặt chẽ tạo nên một sức hút mới trong du lịch Hiện tại du lịch Đà Nẵng đang thiếu các hoạt động cũng như địa điểm vui chơi cho du khách cũng như cư dân địa phương đặc biệt là vào ban đêm Nếu nghệ thuật đường phố được tổ chức tại Đà Nẵng sẽ tạo sức hút rất lớn đối với khách du lịch quốc tế cũng như nội địa vì nhiều lí do như: Đà Nẵng là địa phương đầu tiên của Việt Nam tổ chức nghệ thuật đường phố thường xuyên có quy hoạch và quản lí chặt chẽ, thậm chí có thể tạo ra một sản phẩm du lịch mới từ nghệ thuật đường phố, góp phần cho sự đa dạng hóa sản phẩm du lịch Đà Nẵng

Nghệ thuật đường phố khi được tổ chức tại Đà Nẵng sẽ đem đến cho các nghệ sĩ nghiệp dư cũng như những người yêu hoạt động nghệ thuật một cơ hội mới trong việc thể hiện bản thân đặc biệt là cơ hội việc làm đối với những người tàn tật nhưng có tài năng về nghệ thuật

Trang 29

Những hoạt động nghệ thuật đường phố có tính truyền thống và dân gian sẽ góp phần rất nhiều trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, đưa văn hóa Việt Nam vươn xa hơn Đặc biệt là đối với các loại hình nghệ thuật đang ngày càng mai một, thiếu đất diễn nhưng nếu được cải biến và đưa vào phục vụ du lịch với hình thức nghệ thuật đường phố sẽ trở nên hấp dẫn hơn đặc biệt là với du khách quốc tế,

từ đó các loại hình nghệ thuật này sẽ có cơ hội bảo tồn và phát triển hơn

Nghệ thuật đường phố ngoài việc tạo điều kiện cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam thì Hơn bao giờ hết đây là cơ hội để chúng ta tiếp thu, học hỏi các tinh hoa nghệ thuật từ nhiều nơi trên thế giới thông qua các hoạt động giao lưu biểu diễn nghệ thuật với các nghệ sĩ cũng như du khách quốc tế tới thăm

Đà Nẵng để làm giàu thêm cho văn hóa Đà Nẵng nói chung và nghệ thuật đường phố Đà Nẵng nói riêng

1.6.2 Giá trị về mặt tinh thần

Nghệ thuật được coi là ngôn ngữ kết nối con người lại với nhau, mỗi loại hình nghệ thuật đều có một lượng công chúng riêng nhât định Có thể họ không hề quen biết nhau trước đó nhưng vì niềm đam mê chung ở một lĩnh vực nghệ thuật nào đó sẽ khiến họ trở thành những người thân quen Nghệ thuật đường phố phục

vụ du lịch với đa dạng các loại hình đến từ mọi miền Tổ quốc và nhiều nơi trên thế giới sẽ giúp cho khách du lịch có cái nhìn mới hơn về cuộc sống của nơi mà họ đến, góp phần xóa đi khoảng cách trong tư tưởng giữa các dân tộc và vùng miền Nghệ thuật đường phố mang tính cộng đồng cao sẽ là nơi mà mọi người yêu nghệ thuật có

cơ hội thể hiện mình một cách tự nhiên theo cách của mình, giúp họ được hòa nhịp hơn với thế giới của họ

Cuộc sống của con người găn liền với nghệ thuật từ nhỏ, từ thuở nằm nôi con người Việt Nam đã cảm nhận được sự sâu lắng đầy tình cảm từ các câu hát ru của

mẹ để rồi đi vào giấc ngủ êm đềm Những thông điệp của các tác phẩm nghệ thuật đường phố khi được biểu diễn sẽ góp phần truyền tải tính nhân văn sâu sắc đến mọi người khi thưởng thức, khiến con người thêm yêu cuộc sống, yêu nơi mình đang lưu trú và gợi cho họ những kí ức đẹp về quê hương, tuổi thơ

Trang 30

Nghệ thuật đường phố giúp con người ta chiêm nghiệm được nhiều điều từ các tác phẩm nghệ thuật Ngoài ra nghệ thuật đường phố còn giúp con người ta giải tỏa các niềm vui nỗi buồn, làm giảm áp lực tinh thần trong cuộc sống hàng ngày

Trang 31

cả nước trên trục giao thông Bắc – Nam về đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không lại là trung điểm của bốn di sản thế giới: cách Phong Nha – Kẻ Bàng khoảng 300km, cách cố đô Huế khoảng 100km, cách phố cổ Hội An khoảng 30km, cách thánh địa Mỹ Sơn khoảng 70km Không những đối với Việt Nam mà đối với quốc tế và khu vực Đà Nẵng cũng có 1 vị trí rất quan trọng, là cửa ngỏ của hành lang kinh tế Đông – Tây, là điểm trung chuyển và dừng chân của các tuyến hàng không quốc tế và khu vực

Đối với sự phát triển du lịch và các sản phẩm du lịch của cả nước nói chung

và Đà Nẵng nói riêng thì vị trí địa lí đóng vai trò rất quan trọng Đây là yếu tố cơ bản để khách lựa chọn chuyến đi của mình cũng như được các công ty tổ chức du lịch lữ hành chọn làm điểm dừng chân của mình Đứng ở góc độ khác Đà Nẵng là điểm đến mà du khách có thể tiếp cận bằng nhiều loại hình và phương tiện giao thông nhất bao gồm: Đường bộ, đường sắt, đường thủy ( biển), đường hàng không bao gồm cả hàng không quốc tế và hàng không nội địa Với những điều kiện như vậy có thể thấy Đà Nẵng có lợi thế rất lớn về mặt vị trí địa lí

2.1.1.2 Địa hình

Địa hình Đà Nẵng hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ bản của địa hình Việt Nam, như một quốc gia thu nhỏ Địa hình Đà Nẵng có đồng bằng duyên hải tập trung chủ yếu ở phía Đông, lưng tựa vào dãy Trường Sơn ở phía Tây với những ngọn núi

Trang 32

vùng rìa Trường Sơn nổi tiếng như Bà Nà, núi Chúa với độ cao khoảng từ 700 – 1500m, phía Đông có biển Đông và bức bình phong che chắn là bán đảo Sơn Trà vùng sinh thái tự nhiên, một địa danh lịch sử với độ cao hơn 500m phía Đông Nam với địa hình núi đá nổi tiếng với Danh thắng Ngũ Hành Sơn quy tụ với sáu ngọn núi gồm Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn Âm, Hỏa Sơn Dương và Thổ Sơn tượng trưng cho năm yếu tố cấu thành vũ trụ, bên trong quần thể núi đá là một hệ thống hang động huyền ảo như động Huyền không, Tàng Chơn, Vân Thông, Âm Phủ Phía Bắc Đà Nẵng là hệ thống Hải Vân được mênh danh là “ Thiên hạ đệ nhất hùng quang” một cánh núi của Trường Sơn đâm ngang ra biển với độ cao hơn 500m

so với mực nước biển như một bức tường tự nhiên làm ranh giới giữa Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế Như vậy có thể thấy với những tiềm năng về địa hình Đà Nẵng có thể xây dựng riêng cho mình với những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn để phục

vụ nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch

2.1.1.3 Khí hậu

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao

và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và nhiệt đới xavan miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12

và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7,

8, trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C Độ

ẩm không khí trung bình là 83,4% Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23–40 mm/tháng Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng Mỗi năm, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 1-2 cơn bão hoặc áp thấp

Trang 33

nhiệt đới Năm 2006, Đà Nẵng chịu ảnh hưởng của bão Xangsane là cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào Đà Nẵng trong 100 năm qua, gây thiệt hại nặng nề cho thành phố

Như vậy có thể thấy thời tiết ở Đà Nẵng rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch nói chung và việc tổ chức các hoạt động ngoài trời phục vụ du lịch nói riêng Đặc biệt là vào ban đêm thời tiết rất mát mẻ và dễ chịu vì Đà Nẵng nằm sát biển, vào mùa đông Đà Nẵng được che chắn bởi đèo Hải Vân nên ít chịu ảnh hưởng của không khí lạnh từ miền Bắc tràn vào nên thời tiết ít lạnh hơn nhiều so với tỉnh Thừa Thiên Huế bên cạnh Những điều này là điều kiện hấp dẫn để các hoạt động phục

vụ khách du lịch ngoài trời diễn ra dễ dàng đặc biệt là nghệ thuật đường phố

2.1.1.4 Thủy văn

Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng Nam Có 2 sông chính là Sông Hàn chiều dài khoảng 20 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180 km² và sông Cu Đê chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426 km² Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông: Sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc, Sông Chu Bái Các sông đều có hai mùa, mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12

Nói đến Đà Nẵng thì phải nói đến sông Hàn thơ mộng và quyến rũ, dòng sông được coi là linh hồn của thành phố Sông Hàn chỉ dài khoảng 20km, rộng khoảng 900 – 1.200m, độ sâu khoảng 4 – 5m nhưng lại hội tụ khá nhiều tiềm năng

để phát triển du lịch Sông Hàn là đầu mối giao thông đường thủy nối với các quận Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ, huyện Hòa Vang và các huyện thuộc tỉnh Quảng Nam

Tiềm năng du lịch sông Hàn thể hiện ở cảnh quan trên sông và hai bên bờ sông nhất là đoạn từ cầu Thuận Phước tới cầu Tuyên Sơn đặc biệt là lúc về đêm dòng sông càng trở nên lung linh huyền ảo bởi những ánh đèn từ các tòa nhà cao ốc, các cây cầu từ ven sông chiếu xuống làm ngây ngất lòng người Ngoài ra không khí mát mẻ từ do sông Hàn mang lại cũng là yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển

du lịch của Đà Nẵng

Trên dòng sông Hàn mỗi năm còn tổ chức nhiều hoạt động thu hút khá nhiều

du khách đến tham gia và tham quan như lễ hội bắn pháo hoa Quốc tế, đua thuyền…

Trang 34

2.1.2 Tình hình kinh tế

Đà Nẵng là thành phố có nền kinh tế phát triển năng động hàng đầu cả nước cũng là thành phố trực thuộc Trung ương Nằm ở vị trí trọng yếu của cả nước về kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, là cửa ngõ ra vào của hành lang kinh tế Đông – Tây, cửa ngõ chính của ra biển Đông của Tây Nguyên và các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan, Mianma

Trong những năm qua Đà Nẵng có mức tăng trưởng kinh tế liên tục và khá

ổn định Cơ cấu kinh tế đang chuyển dần theo hướng tích cực là giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là hoạt động du lịch được Đà Nẵng chú trọng đầu tư rất nhiều

Năm 2013 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ( PCI ) của Đà Nẵng đứng đầu Việt Nam, trước đó liên tiếp 3 năm 2008, 2009 và 2010 Đà Nẵng cũng dẫn đầu về chỉ số này, đồng thời cũng đứng đầu về chỉ số xếp hạng hạ tầng Năm 2010, kinh tế-

xã hội của thành phố Đà Nẵng đã dần ổn định và phát triển Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể qua các năm, từ 17,49 triệu đồng năm 2006 lên 30,6 triệu đồng năm 2009

Tổng sản phẩm trong nước - GDP của thành phố ước đạt 10.274 tỷ đồng, tăng 11,54% so cùng kỳ năm 2009 Tính đến năm 2010, tổng vốn đầu tư trực tiếp ( FDI) tại Đà Nẵng đạt gần 2,7 tỷ USD với 99 doanh nghiệp nước ngoài có 80% vốn

đổ vào đầu tư xây dựng khu đô thị, du lịch và biệt thự cao cấp Sở dĩ Đà Nẵng có những thành quả lớn về kinh tế như vậy là nhờ môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện, các chính sách về đầu tư của thành phố, thủ tục hành chính được cải cách,

cơ sở hạ tầng hiện đại và đồng bộ, chính sách tuyển dụng và đào tạo nhân sự làm việc được triển khai trên diện rộng

2.1.3 Tình hình xã hội

Kinh tế phát triển cùng quá trình đô thị hóa trong những năm qua đã giúp đời sống vật chất và tinh thần của người dân Đà Nẵng được nâng cao Vấn đề việc làm được các cấp chính quyền của thành phố quan tâm và giải quyết Trong giai đoạn 1997 – 2009, đã giải việc làm cho khoảng 305.459 người Riêng giai đoạn

Trang 35

thực hiện đề án “ Có việc làm” của thành phố năm 2005 – 2008 bình quân trên 3 vạn lao động/năm được giải quyết việc làm

Đặc biệt trong các năm qua Đà Nẵng luôn chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, kiên quyết đẩy lùi các tệ nạn xã hội trong cộng đồng Đà Nẵng là thành phố duy nhất của cả nước thực hiện chủ trương “thành phố năm không và ba có” từ năm

2000 gồm: không có hộ đói, không người mù chữ, không có người lang thang xin

ăn, không tệ nạn ma túy, không giết người cướp của và ba có là : có việc làm, có nhà ở, có nếp sống văn hóa – văn minh đô thị Gần đây nhất là các chủ trương “ xây dựng thành phố môi trường” , “ thành phố đáng sống Nhờ những nổ lực và thành tựu đó năm 2012, IBM Việt Nam chính thức công nhận Đà Nẵng là thành phố duy nhất của Việt Nam nhận giải thưởng” Thành phố thông minh”

2.1.4 Cơ sở vật chất, kĩ thuật du lịch

Hệ thống giao thông vận tải

- Đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ của thành phố Đà Nẵng tương

đối phát triển Từ năm 97 đường phố, với tổng chiều dài 299,973 km (1996) thì đến cuối năm 2010 thành phố Đà Nẵng có 1.002 đường phố với tổng chiều dài 848,473km, đa số là đường bê tông nhựa, chất lượng mặt đường tương đối tốt, trong đó: Quốc lộ 94,276km; đường đô thị 512,687km; đường tỉnh 99,916km; đường huyện 64,654km; đường xã 44,7km; đường chuyên dùng 32,24km và 29 cầu có chiều dài tên 25m, với tổng chiều dài 5.293md (chỉ tính ở đường đô thị, đường tỉnh), trong đó cầu lớn: 6 cầu/3.915md Trung bình mỗi năm hoàn thành xây dựng đưa vào khai thác, sử dụng 39,2 km/năm Mật độ đường đạt 4,72 km/km2; đất dành cho giao thông chiếm 9,27% Bên cạnh đó là hệ thống cầu hiện đại bắc qua sông Hàn như cầu Thuận Phước, cầu Sông Hàn, cầu Rồng, cầu Trần Thị Lí, cầu Tuyên Sơn, cầu Cẩm Lệ, cầu Hòa Xuân…Hệ thống vận chuyển khách bằng đường bộ, thành phố Đà Nẵng có trên 300 đầu xe đời mới, đầy đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn về thẩm mỹ cũng như về kỹ thuật, được cơ quan quản lý du lịch và giao thông công chính kiểm tra chất lượng định kỳ trước khi cấp phép; tất cả xe này đã được bảo hiểm, phần lớn lái xe đã qua khóa bồi dưỡng về cung cách phục vụ khách du lịch và

sử dụng ngoại ngữ thông dụng ở trình độ nhất định

Trang 36

Về vận chuyển hành khách công cộng: do Công ty cổ phần Vận tải và quản

lý bến xe Đà Nẵng đảm nhận Tại đây có các tuyến xe đi khắp nội, ngoại thành và các tỉnh, thành trong cả nước; đặc biệt, có tuyến xe đến tỉnh Savanakhet (Lào)

Xe buýt: hệ thống xe buýt tại Đà Nẵng hoạt động khắp nội thành, đến vùng ngoại ô và một số địa phương ở tỉnh Quảng Nam như Hội An, Tam Kỳ, Nam Phước, Ái Nghĩa Tại các trạm đón, đỗ xe buýt có cắm bảng chỉ dẫn và trú nắng, mưa Các xe buýt đều tốt, cung cách phục vụ văn minh, lịch sự, giá cả phải chăng

- Đường thủy: cảng biển Đà Nẵng được xếp vào hạng cảng biển loại I cấp

quốc gia Cảng Đà Nẵng bao gồm hai khu cảng chính là Xí nghiệp Cảng Tiên sa và

Xí nghiệp Cảng Sông Hàn, với 1.493m cầu bến, thiết bị xếp dỡ và các kho bãi hiện đại phục vụ cho năng lực khai thác của cảng đạt 6 triệu tấn/năm Cảng Tiên Sa là cảng biển nước sâu tự nhiên, có độ sâu lớn nhất là 12m nước, chiều dài cầu bến là

965 mét, bao gồm 2 cầu nhô và 1 cầu liền bờ chuyên dụng khai thác container Cảng Tiên Sa có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp đến 40.000 DWT, tàu container đến 2.000 teus và tàu khách đến 75.000 GRT Cảng Tiên Sa được coi là một trong số ít các cảng tại Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng

để phát triển thành một cảng biển lớn

- Đường sắt: Ga Đà Nẵng nằm trong nội thị thành phố, là một trong những

ga lớn và tốt nhất miền Trung khá khang trang, sạch đẹp; có phòng đợi lên tàu với sức chứa khoảng 200 người được trang bị đầy đủ tiện nghi cùng nhiều dịch vụ phục

vụ hành khách như: nhà hàng ăn uống, điện thoại công cộng, quầy bán sách báo, khu vực vệ sinh đảm bảo đáp ứng nhu cầu của hành khách trong và ngoài nước khi đến ga Đà Nẵng Ngoài ra, vấn đề an ninh trật tự, an toàn của hành khách cũng

là một yếu tố quan trọng luôn được ga Đà Nẵng đặt lên hàng đầu Ga Đà Nẵng cũng

là một trong những ga quan trọng nhất trên tuyến đường sắt Bắc – Nam Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua thành phố có chiều dài khoảng 30 km, với các ga Đà Nẵng, Thanh Khê, Kim Liên, Hải Vân Nam Hàng tuần có khoảng 30 chuyến tàu hỏa từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đến Đà Nẵng Từ ga Đà Nẵng, hành khách có thể mua vé đến tất cả các ga trong cả nước Ngoài các chuyến tàu Bắc – Nam, ga Đà Nẵng còn có thêm những chuyến tàu địa phương đáp ứng lượng khách

Trang 37

rất lớn giữa các tỉnh, thành Đà Nẵng – Huế, Đà Nẵng – Quảng Bình, Đà Nẵng – Vinh, Đà Nẵng – Quy Nhơn, Đà Nẵng – Tp Hồ Chí Minh

- Đường hàng không: Sân bay quốc tế Đà Nẵng nằm ngay giữa lòng thành

phố, là một trong 3 sân bay lớn nhất cả nước, sau sân bay Tân Sơn Nhất (thành phố

Hồ Chí Minh) và sân bay Nội Bài (Hà Nội); với tổng diện tích khu vực là 842 ha, trong đó diện tích khu vực hàng không dân dụng là 150 ha Sân bay Đà Nẵng được xây dựng từ năm 1940, hiện có 2 đường băng, mỗi đường dài 3.048m, rộng 45m; được trang bị hiện đại, có khả năng cho hạ, cất cánh các loại máy bay hiện đại như B747, B767, A320 trong mọi điều kiện thời tiết Hiện nay có trên 30 hãng hàng không của hơn 20 nước có máy bay bay qua vùng trời Đà Nẵng, trong đó có nhiều hãng hàng không quốc tế có máy bay hạ, cất cánh từ Đà Nẵng Từ sân bay quốc tế

Đà Nẵng, có thể đáp máy bay đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Qui Nhơn, Nha Trang, Pleiku Cũng từ Đà Nẵng, quý khách có thể bay đi Bangkok (Thái Lan), Hongkong (Trung Quốc), Vientiane (Lào), Phnôm Pênh (Campuchia), Đài Bắc (Đài Loan)

- Hệ thống cung cấp năng lượng: Đà Nẵng nhận điện từ nhà máy thuỷ điện

Hòa Bình qua đường dây siêu cao áp 500 KV Bắc Nam, lượng điện này đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Hiện tại thành phố đang tiến hành lắp ráp thêm các trạm biến áp mới nhằm tăng cường khả năng cung cấp điện cho các khu du lịch, khách sạn và các căn hộ phức hợp trên địa bàn thành phố

Hệ thống cung cấp nước sạch: Trong khu vực tỉnh Quảng Nam và thành phố

Đà Nẵng là khu vực giàu tiềm năng nước mặt, có nhiều hệ thống sông lớn là những nguồn nước đã được xác định có thể đáp ứng nhu cầu cấp nước cho thành phố Đà Nẵng: Sông Hàn và các nhánh sông chính chảy qua thành phố Đà Nẵng Những nhánh sông đó là: Sông Cầu Đỏ; Sông Tuý Loan; Sông Yên; Sông Vu Gia Sông Cu

Đê và các nhánh sông đổ ra Vịnh Đà Nẵng Từ trước tới nay Đà Nẵng chủ yếu chỉ được cung cấp nước từ một con sông duy nhất nằm ở phía Nam thành phố đó là sông Cầu Đỏ Điểm lấy nước trên sông Cầu Đỏ tại nhà máy nước Cầu Đỏ cách cửa sông khoảng 15km và thường bị nhiễm mặn vào mùa khô, có năm lên đến hơn 1000mg/l Hiện nay, Đà Nẵng đang tiến hành xây dựng Quy hoạch tổng thể Hệ

Trang 38

thống cấp nước từ nay đến năm 2020 Tại thời điểm này, qua nhiều nghiên cứu và tính toán của các cơ quan chức năng, nguồn lấy nước thô để xử lý được xác định từ nguồn các sông Cu Đê và Vu Gia - Cầu Đỏ (lấy nước tại thượng lưu đập An Trạch

và tại Nhà máy nước Cầu Đỏ Nguồn tại Cầu Đỏ được sử dụng khi chất lượng đảm bảo về độ mặn và mức độ ô nhiễm Nguồn An Trạch sử dụng khi nước tại Cầu Đỏ

bị nhiễm mặn hoặc bị tác động của môi trường do một số cụm công nghiệp đi vào khai thác)

Hệ thống thông tin liên lạc và viễn thông quốc tế: Thành phố Đà Nẵng được

Nhà nước đầu tư xây dựng trở thành đầu mối viễn thông quan trọng của quốc gia và quốc tế, tạo ra cho Đà Nẵng một hạ tầng Công nghệ thông tin Truyền thông (CNTT-TT) có quy mô khá lớn và hiện đại Đến nay, hạ tầng CNTT, viễn thông và Internet tại thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển vượt bậc, được mở rộng theo hướng dịch vụ đa dạng, phong phú với chất lượng ngày càng cao và là một trong ba trung tâm bưu chính viễn thông lớn của cả nước

2.1.5 Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch

- Khách sạn: trong vòng mười năm trở lại đây, Đà Nẵng đã không ngừng xây

dựng các công trình phục vụ dân sinh và tạo thuận lợi cho phát triển du lịch, trong

đó có cơ sở lưu trú dành cho du lịch Năm 2006 chỉ có 101 khách sạn với 3.247 phòng; đến năm 2010, Đà Nẵng có 181 khách sạn với 6.089 phòng Trong đó, có khách sạn 4 - 5 sao, 29 khách sạn 3 sao và 146 khách sạn 2 sao Tính đến tháng 6 năm 2012, nhiều dự án chất lượng cao đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như Crowne Plaza, Life Style Resort, Fusion Maia Resort, Vinpearl Luxury Đà Nẵng góp phần vào việc phát triển và nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch Các cơ

sở lưu trú hiện đại và tầm cỡ chủ yếu tập trung chủ yếu ở các quận nội thành như Hải Châu và gần các bãi biển đẹp thuộc quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn dọc theo tuyến đường Võ Nguyên Giáp được mệnh danh là đường “ năm sao” Ngoài ra còn

có hệ thống nhà nghỉ và phòng trọ đa dạng với giá bình dân Đà Nẵng với ưu thế là đường bờ biển dài và đẹp nên phần lớn các khách sạn đều nằm ở khu vực ven biển rất thoáng mát và tiện lợi cho các hoạt động nghỉ ngơi, tắm biển và vui chơi Hiện

Trang 39

tại việc cải thiện cũng như nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú cho khách du lịch rất được chính quyền các cấp của thành phố quan tâm và thực hiện

Bảng 1 : Số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú tại Đà Nẵng năm 2012

( Nguồn: Phòng quản lí cơ sở lưu trú – Sở VH – TT – DL)

Nhà hàng: Những năm qua lượng khách du lịch đến Đà Nẵng ngày một tăng

kèm theo đó là hàng loạt các nhà hàng đủ tầm cở mọc lên nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách và dân địa phương Các nhà hàng tập trung chủ yếu ở trung tâm thành phố và khu vực ven biển, bao gồm cả nhà hàng năm trong khách sạn và nhà hàng thuộc các đơn vị, cá nhân nằm ngoài khách sạn Trong những năm số lượng của nhà hàng vẫn liên tục tăng lên cả số lượng và chất lượng, đặc biệt là những nhà hàng đặc sản và hải sản được đưa vào khai thác rất hiệu quả

Cơ sở vui chơi giải trí: Hiện tại Đà Nẵng vẫn chưa có những điểm vui chơi

tương xứng với vai trò là trung tâm du lịch của miền Trung nói riêng và cả nước nói chung, đây là một yếu tố không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh du lịch mà còn ảnh hưởng đến tính hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng Tuy nhiên trong qãng thời gian gần đây Đà Nẵng đã bắt đầu chú trọng đầu tư đến loai hình này, ngoài các loại hình hiện tại như : các bãi tắm biển, kraoke, nhà hát, bar… vào cuối tháng 8 năm

2010, khu vui chơi thể thao DanaBeach Club được khai trương tại công viên sao biển, bãi biển Mỹ Khê Đây là khu vui chơi giải trí với sức chứa khoảng 2000 khách

là một hệ thống gồm nhà hàng, sân khấu ca nhạc, khu trình diễn thời trang ngoài trời, khu thể thao biển với các hoạt động như ván lướt, canô kéo, thuyền buồm, dù bay… Các cơ sở giải trí trong nhà như Beach Bar phục vụ 24/24 với nhạc disco, DJ Ngoài ra hiện tại khu vui chơi Fantasy Park ở Bà Nà cũng đang được đầu tư và nâng cấp thêm để phục vụ du khách với các trò chơi hiện đại và cảm giác mạnh

Trang 40

Như vậy có thể thấy hiện tại các cơ sở vui chơi Đà Nẵng vẫn chưa phát triển đồng bộ với sư phát triển du lịch cũng như tiềm năng của thành phố Nhưng với những bước đi hiện tại về việc đầu tư cho lĩnh vực này trong tương lai Đà Nẵng sẽ

có riêng cho mình một hệ thống vui chơi giải trí hiện đại và tầm cỡ với một thành phố du lịch

2.1.6 Tiềm năng du lịch

Với bờ biển dài hơn 60km, Đà Nẵng có nhiều bãi biển đẹp, thoai thoải, cát trắng mịn, nước trong xanh Biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh (năm 2005)

Đà Nẵng còn mang nét hấp dẫn riêng biệt bởi vị thế tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, có bán đảo Sơn Trà vươn ra biển, đèo Hải Vân được mệnh danh là

“thiên hạ đệ nhất hùng quan” hay khu du lịch Bà Nà Hills với hệ thống cáp treo đạt

2 kỷ lục thế giới và khu vui chơi giải trí trong nhà lớn nhất Đông Nam Á – Fantasy Park

Không chỉ được thiên nhiên ưu đãi ban tặng nhiều cảnh quan đẹp, Đà Nẵng còn chứa đựng những giá trị văn hóa đặc sắc với các di tích lịch sử nổi bật như: Danh thắng Ngũ Hành Sơn cùng lang nghề đá mĩ nghệ Non Nước trứ danh, thành Điện Hải, nơi lưu giữ dấu tích hào hùng của nhân dân Đà Nẵng trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp; bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chămpa lưu giữ những hiện vật quý của Vương quốc Chămpa hùng mạnh một thời; đình Hải Châu, ngôi đình cổ nhất tại Đà Nẵng; đình Tuý Loan, ngôi đình duy nhất còn giữ được 15 sắc phong từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại… Ngoài ra, Đà Nẵng còn có lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức vào 19/2 Âm lịch hàng năm, thu hút hàng vạn phật tử và du khách trong cả nước về hành hương, thăm viếng

Đến Đà Nẵng, du khách sẽ được thưởng thức nhiều món đặc sản như mì Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, hải sản tươi ngon; tham gia các sự kiện du lịch lớn như: cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, cuộc thi dù bay quốc tế…

Đà Nẵng hiện có sân bay quốc tế với nhiều đường bay quốc tế trực tiếp; cảng nước sâu Tiên Sa – nơi thường xuyên tiếp nhận các tàu biển cao cấp đưa du khách

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đức Anh, Nghệ thuật biểu diễn: thổi nghiệp bằng sự đam mê, số 21/3/2013 http:// www.Dantri.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật biểu diễn: thổi nghiệp bằng sự đam mê
3. Mã Thanh Cao, Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, Nxb bảo tàng mỹ thuật TP.HCM 4. Hà Chi, Đưa nghệ thuật trình diễn vào “khuôn khổ” Báo thể thao văn hóangày 17 - 4 – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, "Nxb bảo tàng mỹ thuật TP.HCM 4. Hà Chi, "Đưa nghệ thuật trình diễn vào “khuôn khổ”
Nhà XB: Nxb bảo tàng mỹ thuật TP.HCM 4. Hà Chi
5. Phạm Thị Chỉnh ( 2013) Lịch sử mĩ thuật thế giới, Nxb DHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử mĩ thuật thế giới
Nhà XB: Nxb DHSP
6. Phạm Thị Chỉnh ( 2013) Lịch sử mĩ thuật Việt Nam, Nxb DHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
Nhà XB: Nxb DHSP
7. Võ Văn Dật ( 2007) Lịch sử Đà Nẵng ( 1306 – 1975) Nxb Nam Việt, Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đà Nẵng ( 1306 – 1975)
Nhà XB: Nxb Nam Việt
8. Nguyễn Đông ( 13/7/2013) Hiến kế để Đà Nẵng trở thành thành phố đáng sống ở châu Á, Vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến kế để Đà Nẵng trở thành thành phố đáng sống ở châu Á
9. Phạm Hoàng Hải ( 2004) Đà Nẵng trên con đường di sản, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà Nẵng trên con đường di sản
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
10. Cung Dương Hằng, ( 2011) Mỹ thuật nữ phục truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa- Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật nữ phục truyền thống Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa- Thông tin
11. Võ Văn Hòe ( 2001) chủ biên, Tổng tập văn hóa văn nghệ dân gian đất Quảng, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn hóa văn nghệ dân gian đất Quảng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
12. Hội khoa học lịch sử thành phố Đà Nẵng ( 2011), Lịch sử Đà Nẵng tiếp cận và khám phá, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đà Nẵng tiếp cận và khám phá
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
13. Hội văn nghệ và dân gian Đà Nẵng ( 2011) Văn hóa dân gian Đà Nẵng, cổ truyền và đương đại, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Đà Nẵng, cổ truyền và đương đại
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
14. Nguyễn Văn Huyên ( 2005) , Văn minh Việt Nam , Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
15. Bùi Như Hương, Phạm Trung, Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990 – 2010, Nxb Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990 – 2010
Nhà XB: Nxb Tri Thức
16. Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang ( 2012) Bài chòi xứ Quảng, Nxb Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài chòi xứ Quảng
Nhà XB: Nxb Lao Động
17. Jason Gibbs ( 2008), Rock Hà Nội và Ramba cửu Long câu chuyện âm nhạc Việt Nam, Nxb Trí thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rock Hà Nội và Ramba cửu Long câu chuyện âm nhạc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trí thức
18. Đỗ Văn Khang ( 2011) Nghệ thuật học, Nxb Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật học
Nhà XB: Nxb Thông tin và truyền thông
19. Nguyễn Thụy Loan, ( 2007) Lịch sử âm nhạc thế giới và Việt Nam 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử âm nhạc thế giới và Việt Nam 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Ngọc Minh ( 11/2012) “ Kịch Noh – nghệ thuật ‘quốc hồn’ của Nhật Bản”, http://reds.vn/index.php/nghe thuat/san-khau/2615-kich-noh-quoc-hon-nhat-ban Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch Noh – nghệ thuật ‘quốc hồn’ của Nhật Bản”
21. Nghề Curator và nghệ thuật đương đại. Thông tin mỹ thuật số 15-16 Đại học mỹ thuật tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề Curator và nghệ thuật đương đại
22. Nhiều tác giả ( 2006) , Quảng Nam – Đà Nẵng xưa và nay, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam – Đà Nẵng xưa và nay
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w