1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết mười lẻ một đêm của hồ anh thái

77 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Nếu Ma Văn Kháng đau nỗi đau nhân tình thế thái về sự rạn nứt những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt; Lê Lựu, Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Huy Thiệp tàn

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đề tài:

KẾT CẤU PHÂN MẢNH TRONG TIỂU THUYẾT MƯỜI LẺ

MỘT ĐÊM CỦA HỒ ANH THÁI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo – Th.S Phạm Thị Thu Hương

Các nội dung khoa học nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Phan Thị Thương

Trang 3

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo, cán

bộ Khoa Ngữ Văn – trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức lí luận và thực tiễn quý báu và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến Th.S Phạm Thị Thu Hương đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Sinh viên

Phan Thị Thương

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục của luận văn 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG MỘT: HỒ ANH THÁI VÀ NHỮNG THỂ NGHIỆM VỀ KẾT CẤU TIỂU THUYẾT 8

1.1 Kết cấu và kết cấu phân mảnh - những vấn đề lý luận 8

1.1.1 Kết cấu – phương diện cơ bản của sáng tạo nghệ thuật 8

1.1.2 Kết cấu phân mảnh – sự phá vỡ cấu trúc truyền thống của tiểu thuyết hậu hiện đại 12

1.2 Hồ Anh Thái – “người mê chơi cấu trúc” 17

1.2.1 Từ những chuyển biến trong quan điểm nghệ thuật… 17

1.2.2 … đến sự say mê trò chơi cấu trúc 23

1.3 Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm – những “lạ hóa” trong nghệ thuật trần thuật 27

1.3.1 Một truyện kể rộng lớn về cuộc sống… 27

1.3.2 … với những thể nghiệm trong phương thức kể 30

CHƯƠNG HAI: BIỂU HIỆN CỦA KẾT CẤU PHÂN MẢNH TRONG TIỂU THUYẾT MƯỜI LẺ MỘT ĐÊM 36

2.1 Cốt truyện bị nhấn chìm trong chuỗi lắp ghép miên man của tự sự 36

2.2 Nhân vật bị quăng quật ngẫu nhiên vào cuộc sống với những mảnh đời rời rạc 41

Trang 5

2.4 Thời gian được chắp nối từ những mảnh ký ức dang dở 55

2.5 Kết cấu phân mảnh trong Mười lẻ một đêm - tư duy mới trong phản ánh

và tiếp nhận 65

KẾT LUẬN 69 THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nếu Ma Văn Kháng đau nỗi đau nhân tình thế thái về sự rạn nứt những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt; Lê Lựu, Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Huy Thiệp tàn tạ trở về sau cuộc chiến với nỗi thất vọng ê chề trước những lệch chuẩn đạo đức không thể dung hòa trong một sớm một chiều thì với Hồ Anh Thái, quan niệm coi cuộc đời như một mảnh vỡ, bản thân con người lại mang những mảnh vỡ, những xung lực khác nhau trong trăm ngàn mảnh vỡ kia đã trở thành nét chính trong quan niệm về cuộc sống

của ông Chính quan niệm này đã tạo ra tính đa cấu trúc trong Mười lẻ một

đêm mà kết cấu phân mảnh là một trong những biểu hiện Tính phân mảnh

bộc lộ ở việc tác giả “đập vỡ các mảng văn bản trần thuật thành những mảnh vụn rời rạc, xô lệch, không theo một trật tự nhân quả nào, và tương ứng với mỗi mảnh của hiện thực đời sống được biểu hiện” (Trần Đình Sử)

Nhìn nhận cuộc đời bằng một thứ tư duy ngày càng hiện đại, thế giới nghệ thuật của Hồ Anh Thái, thay vì những bức tranh hiện thực lớn lao, kì vĩ,

ôm trùm không gian và thời gian…; thì lại là những mảnh ký ức âm thầm và dang dở, những giấc mơ hiện hữu hoặc tàn phai, những cuộc phiêu linh của tâm thức và thân phận người dồn nén trong một dung lượng ngôn từ hạn hẹp Mỗi tiểu thuyết trở thành một “tiểu tự sự” về nội tâm và khát vọng cá nhân của con người, với những vang âm của một tinh thần nhân bản sâu xa và

mạnh mẽ Không đâu xa, đọc tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, người đọc với

nhãn quan truyền thống rất khó có thể tìm được một toạ độ thời gian chuẩn xác giữa đống hỗn độn các biến cố, các tầng bậc hoài niệm, các giấc mơ lẫn lộn của những thế giới được lồng ghép vào nhau một cách ngẫu hứng Nhờ sự lắp ghép đó mà người đọc có thể nhận diện rõ nét chân dung con người hiện

Trang 7

đại với đầy đủ các thành phần xã hội, va chạm, bổ sung cho nhau, làm bật lên

cả một “tấn trò đời”

Vì thế, nghiên cứu đề tài “Kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Mười lẻ

một đêm của Hồ Anh Thái”, chúng tôi muốn góp phần tìm hiểu một hiện

tượng văn học đáng chú ý trong đời sống văn chương của nước ta mấy năm gần đây, qua đó khẳng định tài năng và tên tuổi cũng như những nỗ lực cách tân tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, đồng thời bước đầu nắm bắt được con đường vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam theo khuynh hướng hậu hiện đại

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Với tư cách là một trong những người “tiên phong trong việc tận dụng ưu thế của văn học hậu hiện đại để tạo ra sự mới mẻ, đột phá cho văn xuôi Việt Nam đương đại” [11, tr.51], hiện tượng Hồ Anh Thái và những sáng tác của

ông, đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Mười lẻ một đêm đang được dư luận quan

tâm và có nhiều công trình nghiên cứu Để có một cái nhìn toàn diện, khái quát và sâu sắc hơn về Hồ Anh Thái cũng như kết cấu phân mảnh trong tiểu

thuyết Mười lẻ một đêm, chúng tôi xin được điểm qua một số công trình tiêu

biểu sau:

Trong chuyên luận Điểm nhìn nghiên cứu văn học (NXB ĐH Huế,

2009), TS Lê Đức Luận đã tiến hành thống kê các kiểu kết cấu trong tiểu thuyết hiện nay như kết cấu mở, kết cấu khép kín, kết cấu vòng tròn… Tác giả đánh giá cao vai trò của kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết: “Tiểu thuyết lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình

tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ tác giả, tạo ra những truyện trong truyện Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như không quan hệ liên đới, được xích lại gần nhau Cùng với sự lắp ghép đó là sự di chuyển điểm nhìn, là tư duy nghệ thuật trong sự quy ước vừa chặt chẽ, vừa co giãn cấu trúc

Trang 8

thể loại” [14, tr.264] Công trình cũng có đề cập đến tiểu thuyết Mười lẻ một

đêm: “Với Mười lẻ một đêm, ta bắt gặp những mảng hiện thực mà ở đó, con

người có thể hồi tưởng, nhớ lại những quãng đời nào đó của mình” [14, tr.292]

Luận văn thạc sĩ Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Anh Thái của Ngô Thị Thu

Hương (Đại học Quy Nhơn, năm 2007) đã dành một phần của chương ba để tìm hiểu về cốt truyện - kết cấu Tác giả khẳng định tiểu thuyết Hồ Anh Thái giai đoạn sau đã có sự cách tân trong nghệ thuật kết cấu: “Cách tổ chức kết cấu của anh tương đối chặt nhưng không phải theo lối cũ gài nhân vật theo tình tiết nào đó để biến thành con rối mà là tôn trọng các tổ chức tự thân của các sự kiện, biến cố Chất ảo, chất phi lí được gia tăng để biểu đạt đời sống

Mười lẻ một đêm đã khai thác kiểu kết cấu vòng tròn khép kín với sự tập hợp

các sự kiện vụn vặt của đời sống thành những văn bản trần thuật riêng lẻ không theo trật tự nào của ý nghĩa cũng như thời gian” [13, tr.22] Tác giả cũng khẳng định tiểu thuyết Hồ Anh Thái luôn có sự đổi mới, hiện đại trong kết cấu tác phẩm

Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Hồ Anh Thái – Người mê chơi cấu trúc đăng ở tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 121 - tháng 5/2002 đã khảo sát các sáng tác của Hồ Anh Thái, bao gồm cả tiểu thuyết Mười lẻ một đêm,

để từ đó đi đến kết luận: “Nhà văn không chú ý đến chuyện mà chú ý nhiều

hơn đến cấu trúc truyện Tương ứng với điều đó là sự gia tăng các chi tiết miêu tả không gian so với hệ thống chi tiết miêu tả thời gian Điều này giúp nhà văn dựng lên các cảnh để nhân vật diễn vai mình một cách chân thực trong quá trình va quệt với môi trường và với các nhân vật khác Bên cạnh đó, cách thay đổi cấu trúc kể chuyện làm cho câu chuyên trở nên khách quan hơn, mạch chuyện trở nên biến hóa hơn” [6, tr.51] Bài viết đã khái quát được những đặc sắc trong cấu trúc tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đồng thời chỉ ra được

Trang 9

những cách tân, đổi mới về phương thức phản ánh hiện thực của tiểu thuyết hậu hiện đại

Nhà văn Ma Văn Kháng trong bài viết Cái mà văn chương ta còn thiếu (Tạp chí Sách và đời sống, 7/2003), đã có sự so sánh lối viết xưa và nay, truyền thống và hiện đại Tác giả cho rằng Cái mà văn chương ta còn thiếu đó

là sự đổi mới tư duy và quan niệm về tiểu thuyết Vậy nên, khi bắt gặp những

tác phẩm có kết cấu lạ như Mười lẻ một đêm, tác giả đã tỏ ra cực kì hứng thú:

“Ở từng con chữ, có đời sống là lạ, ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên tưởng lạ lùng và gần gũi Ở tổng thể câu chuyện, nó mở ra một góc nhìn nhân sinh, nó cho ta thấy tính đa tầng, những thực tại nhìn thấy, những

ấn tượng đặc sắc thông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này được phô bày bởi một cấu trúc mới lạ, độc đáo, cấu trúc của những mảnh vỡ” [14, tr.137]

Ở bài viết của Hoài Nam với tiêu đề Chất hài hước, nghịch dị trong

Mười lẻ một đêm (Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 595 – tháng 4/2004), tác giả

đã đưa ra kết luận rằng tiểu thuyết Mười lẻ một đêm “ban đầu có thể khiến

người ta bật cười bởi tính chất hài hước của nó” [17, tr.97], tuy nhiên, “không đặt mục tiêu thuyết phục độc giả, nhà văn phơi bày ra một cuộc chơi, bước vào cuộc chơi ấy, độc giả vừa có thể thưởng thức, vừa có thể chứng nghiệm hiện thực cuộc sống đang được bày ra trong tác phẩm qua lời kể của đôi tình nhân bị nhốt Một hiện thực xô bồ, náo động với vô số những mảnh vỡ tung tóe, đánh bật, lẫn lộn vào nhau Nó tạo ra tiếng cười, một nụ cười ra nước mắt” [17, tr.98]

Bài viết Ngả nghiêng trần thế của Sông Thương, đăng trên báo Thanh

Niên, số ra ngày 11/4/2006 đã đánh giá về giọng điệu và cách kể trong Mười

lẻ một đêm như sau: “Mười lẻ một đêm được viết bằng giọng văn hài hước

chủ đạo Câu văn thụt thò, dài ngắn có chủ đích Chương một, chương hai là

“cái ngả nghiêng” còn liu riu, rồi “cái ngả nghiêng” cứ tăng dần Đến chương

Trang 10

bảy, chuyện về nhà văn hóa lớn trở nên căng nhức, nhiều độc giả cảm thấy ngột ngạt Thế là đủ, vào chương tám, bầu trời câu chuyện bắt đầu kéo mây, nao lòng với nhân vật thằng Cá – thằng bé sinh ra với hai cẳng chân dính chặt vào nhau Đó là một hiện thân cho nghiệp nhân - quả, một mảnh ghép đáng thương trong cõi trần trăm ngàn đau thương, nghiêng ngả” [29, tr.87]

Tác giả Bùi Thanh Truyền và Lê Biên Thùy trong bài viết Hồ Anh Thái

và dấu ấn hậu hiện đại trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 335 – tháng

5/2012, đã tìm ra những biểu hiện của văn học hậu hiện đại trong truyện ngắn

và tiểu thuyết của Hồ Anh Thái trên một số phương diện chính: hệ thống đề tài, nhân vật và ngôn từ nghệ thuật Bài viết đi sâu phân tích, lý giải từng

phương diện một và đưa ra những nhận định về kết cấu tiểu thuyết Mười lẻ

một đêm: “Mười lẻ một đêm là chín mảnh vỡ chắp nối thành cuộc sống với

nhiều đường vân dị hình, nhếch nhác, thể hiện tinh vi nỗi hoang mang, ngắc ngoải, đánh mất phương hướng, bản ngã của con người khi đứng trước xã hội lộn xộn bất an” [30, tr.145]

Với bài viết Xu hướng tiểu thuyết ngắn trong văn học Việt Nam đương

đại (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 8 – 2012), tác giả Hoàng Thị Huệ đã có

cái nhìn khái quát về những lí do chính dẫn đến sự ra đời của xu hướng tiểu thuyết ngắn hiện nay Thứ nhất là do đổi mới quan niệm về tiểu thuyết: tự sự trong hình thức những mảnh vỡ Thứ hai, do thay đổi sự lựa chọn về “cái viết”: thời hiện tại chưa hoàn thành Tác giả đi sâu khảo sát một loạt tác phẩm

tiểu thuyết ngắn thời kỳ này như Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Thời loạn (Lê Lựu), Biển (Trương Anh Quốc), Thế

giới xô lệch (Bích Ngân)… Với Mười lẻ một đêm, tác giả nhận định: “Trong Mười lẻ một đêm, tự sự trong hình thức phân mảnh là yếu tố quan trọng giúp

Hồ Anh Thái mô tả thế giới trong phong cách cô đúc, tối giản, ý thức tái tạo không phải tính toàn thể thế giới mà là những mảnh vụn ngả nghiêng xô lệch

Trang 11

đã thu hẹp dung lượng tác phẩm, để hơn 200 trang sách đủ sức dựng lên một sân khấu cuộc đời” [12, tr.99]

Nhìn chung, các công trình trên chỉ dừng lại ở việc đề cập đến sự đổi mới trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái giai đoạn gần đây và chỉ ra một vài đặc điểm

của tiểu thuyết Mười lẻ một đêm Thực tế chưa có một đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của Hồ

Anh Thái Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu kết cấu phân mảnh trong cuốn tiểu thuyết này, để góp phần khẳng định tài năng, tên tuổi cũng như những đóng góp của Hồ Anh Thái trong việc nỗ lực cách tân tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Những công trình, bài viết nêu trên sẽ trở thành nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của Hồ Anh

Thái, NXB Đà Nẵng, 2006

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Mười lẻ

một đêm của Hồ Anh Thái

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “Kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Mười lẻ một

đêm của Hồ Anh Thái”, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên

cứu sau:

4.1 Phương pháp tiếp cận hê ̣ thống: Trong quá trình nghiên cứu, chúng

tôi không tìm hiểu, nghiên cứu nhà văn Hồ Anh Thái cùng việc thể nghiệm

kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm một cách riêng lẻ mà

luôn đặt vào tiến trình chung của lịch sử văn học dân tộc và đặt vào hành trình sáng tác của Hồ Anh Thái để từ đó thấy được những cách tân mới lạ cũng như những chuyển biến trong tư duy sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

Trang 12

4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Từ những biểu hiện của kết

cấu phân mảnh trong Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái, chúng tôi khái quát

thành những luận điểm cơ bản Trong khi trình bày, chúng tôi đi sâu phân tích, làm rõ từng luận điểm một, sau đó rút ra nhận xét, khái quát lại vấn đề

4.3 Phương pháp thống kê – miêu tả: Với phương pháp này, chúng tôi

khảo sát, đưa ra số liệu Kết quả thống kê là cơ sở cho chúng tôi phân tích giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm

4.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu: Chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu

nét đặc sắc trong phương thức biểu hiện, cụ thể là nét đặc sắc trong việc xây dựng kết cấu nghệ thuật của tác phẩm Hồ Anh Thái so với một số tiểu thuyết trước đó và cùng thời Qua đó, khẳng định được những bước thể nghiệm mới

mẻ, độc đáo của Hồ Anh Thái trong tư duy sáng tạo nghệ thuật, góp phần vào

quá trình đổi mới tư duy tiểu thuyết Việt Nam đương đại

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, khóa luận của chúng tôi bao gồm 2 chương:

Chương Một: Hồ Anh Thái và những thể nghiệm về kết cấu tiểu thuyết

Chương Hai: Biểu hiện của kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Mười lẻ

một đêm

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: HỒ ANH THÁI VÀ NHỮNG THỂ NGHIỆM

VỀ KẾT CẤU TIỂU THUYẾT

1.1 Kết cấu và kết cấu phân mảnh - những vấn đề lý luận

1.1.1 Kết cấu – phương diện cơ bản của sáng tạo nghệ thuật

Là phương diện cơ bản của sáng tạo nghệ thuật, kết cấu ra đời cùng một lúc với ý đồ nghệ thuật của tác phẩm, cụ thể hóa cùng với sự phát triển của hình tượng Ở phương Đông, các nhà lý luận Trung Quốc gọi kết cấu bằng các thuật ngữ “bố cục” - sự sắp xếp các bộ phận, “phân bố” - sắp ra bề mặt hay “bố trí” - sắp đặt thứ tự Cách bắt đầu hay kết thúc một bài văn, cách chuyển ý, thứ tự “khai, thừa, chuyển, hợp”, sắp xếp thưa, dày, liên tục hay gián đoạn, tương đồng hay tương phản chính là những hình dung đầu tiên về kết cấu của tác phẩm Quan niệm này đã được tiếp thu và định hình ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX với tác giả Nhữ Bá Sĩ Ông khẳng

định “không có kết cấu thì không thành văn chương” [23, tr.122] Ở phương

Tây, thời cổ Hy Lạp, kết cấu được quan niệm là một thể thống nhất, hữu cơ giữa ba phần mở - thân - kết Những tác giả đầu tiên đặt ra vấn đề này là

Platon và Aristote Platon cho rằng “Kết cấu của mỗi bài văn phải là một yếu

tố có sức sống, có cái thân thể vốn có của nó, có đầu, có đuôi, có phần thân,

có tứ chi, có bộ phận này và bộ phận khác, có quan hệ bộ phận và toàn thể, tất

cả đều phải có vị trí của nó” [18, tr.150] Còn Aristote lại quan tâm đến sự

thống nhất tự nhiên giữa các phần của sự kiện trong tác phẩm “cần phải sắp xếp như thế nào để khi thay đổi hay bỏ đi một phần thì cái chỉnh thể cũng biến động theo, bởi vì cái gì mà có hoặc thiếu nó cũng được thì cái đó không

phải là bộ phận hữu cơ của thể thống nhất ấy” [1, tr.40]

Trang 14

Lí luận văn học truyền thống xem “kết cấu là sự phối hợp liên kết các

yếu tố các loại với nhau để tạo nên chỉnh thể tác phẩm” [19, tr.94] Ngày nay,

ý nghĩa khái niệm được mở rộng hơn Giáo sư Hà Minh Đức, Lê Bá Hán

trong cuốn Cơ sở lí luận văn học đưa ra định nghĩa: “Kết cấu chính là kiến

trúc của tác phẩm, là toàn bộ tổ chức phức tạp của tác phẩm Khảo sát kết cấu

của tác phẩm chính là khảo sát phương diện cấu trúc của nó” [8, tr.149]

Theo Giáo sư Trần Đình Sử dẫn trong cuốn Lý luận văn học (tập 2) thì

“Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật, là sự xếp đặt và phân bố các yếu tố của hình thức tác phẩm nghệ thuật, nói đúng hơn, là

sự tổ chức tác phẩm trong một nội dung và thể loại xác định Kết cấu là kết các yếu tố hình thức và chi phối ý nghĩa của chúng, tạo nên tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm mĩ” [19, tr.157] Nhờ kết cấu, mỗi nhà văn tạo ra được một con đường riêng để người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của mình

Hiểu một cách chung nhất, kết cấu là phương diện cơ bản của hình thức tác phẩm văn học, là biểu hiện của nội dung văn học, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố cũng như những mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên tác phẩm theo những nguyên tắc nhất định

Mục đích của kết cấu là tạo thành một thế giới nghệ thuật mang khái quát của tác giả, đưa thế giới hình tượng mà người đọc có thể cảm nhận bằng trí tưởng tượng vào dòng liên tục của các phương tiện ngôn từ (từ ngữ, câu, đoạn, liên kết, chỗ ngưng, nhịp điệu, vần, trùng điệp…) và dùng dòng liên tục

cố định của văn bản ngôn từ mà cố định các mối liên hệ hình tượng: chi tiết này bên cạnh chi tiết kia, cảnh này tương ứng với cảnh nọ, sao cho cái chính, cái quan trọng được nổi bật lên, cái phụ đóng đúng vai trò của nó Về bản chất, có thể nói, kết cấu cũng có nghĩa là “tổ chức cho người đọc con đường

đi vào tác phẩm, tổ chức cho họ một trường nhìn, một cái nhìn, để tuân theo

Trang 15

con đường và cái nhìn ấy, người đọc thấy được hình tượng nghệ thuật với tất

cả chiều sâu và chiều rộng, tất cả bức thiết và nhân sinh đối với con người”

[20, tr.123] Theo giáo sư, kết cấu của tác phẩm văn học bao hàm các phương diện sau:

Thứ nhất gồm hệ thống hình tượng nhân vật, sự kiện và chi tiết nghệ thuật Đó là sự sắp xếp mối tương quan của các nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện sao cho các nhân vật ấy có thể tương phản nhau, đối chiếu nhau hoặc bổ sung cho nhau, tôn lên nhau Nhà văn cần lựa chọn và sắp xếp các chi tiết, tình tiết, môi trường, hoàn cảnh, nội thất, đồ vật… sao cho ý nghĩa hình tượng được nổi lên

Thứ hai là hệ thống điểm nhìn và tổ chức văn bản Nhà văn không thể miêu tả nghệ thuật mà không xác lập cho mình một điểm nhìn Trước hết là hiện tượng đời sống được nhìn theo con mắt của ai, chủ thể nào (nhân vật -người kể chuyện, nhân vật trữ tình, nhân vật chính hay nhân vật phụ…) Mỗi nhân vật tùy theo lập trường xã hội, lập trường tư tưởng hay kinh nghiệm sống mà mang lại cho thế giới nghệ thuật những ý nghĩa nhất định Tiếp theo, cuộc sống ấy được nhìn theo điểm nhìn thời gian và không gian nào Nhìn từ thời hiện tại hay từ hiện tại hồi tưởng lại quá khứ, nhìn xa hay nhìn gần, trên cao xuống hay từ dưới lên Điểm nhìn có thể chủ quan (nhìn theo một trạng thái tâm lý nào đó), hoặc nhìn khách quan, miêu tả, ghi chép, trần thuật theo con mắt phóng sự

Hệ thống điểm nhìn như trên quy định cách tổ chức văn bản, xác định quan hệ văn bản ngôn từ với thế giới hình tượng Trước hết là văn bản sẽ bắt đầu từ đâu? Kể từ khi sự việc phát sinh cho đến khi kết thúc hay kể từ giữa rồi hồi tưởng lại quá khứ và kể tiếp cho đến hết? Thông thường, trong sáng tác dân gian thì cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau Còn trong tác phẩm văn học viết thì thường kể với sự hồi vọng, bổ sung quá khứ…

Trang 16

Do đó, trong văn học, trình tự kể và trình tự phát sinh câu chuyện không trùng khít nhau Xác định được điểm nhìn theo chủ thể nào thì văn bản được kể từ ngôi thứ nhất “tôi” hay ngôi thứ ba, có thể dùng lời cung kính hay suồng sã (anh ấy, hắn, lão, y, nó, ông cụ, thằng cha…) thân mật hay dửng dưng Xác định được điểm nhìn tâm lí thì văn bản sẽ kể qua kí ức, qua nỗi niềm, ngôn từ

ấy sẽ mang nặng sắc thái biểu cảm…

Như vậy, kết cấu là sự tổ chức các yếu tố khác loại vào trong một chỉnh thể của cái nhìn, của sự cảm thụ Nguyên tắc quan trọng nhất của kết cấu là nguyên tắc tổ chức cái nhìn sao cho bằng cảm thụ trực tiếp, người đọc nắm bắt được ý nghĩa sâu xa và phổ quát của hình tượng nghệ thuật cũng như biểu

hiện được niềm rung cảm và đánh giá của tác giả

Những hình thức kết cấu trong tác phẩm văn học rất phong phú và đa dạng Nó có thể chịu sự quy định của thể loại (kết cấu tác phẩm tự sự và kịch khác với kết cấu tác phẩm trữ tình), của từng giai đoạn lịch sử khác nhau (có những hình thức kết cấu chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhưng sau đó

bị loại bỏ hoặc ít sử dụng và thay vào đó là một kết cấu phù hợp với giai đoạn lịch sử mới)…Nhà văn khi lựa chọn kiểu kết cấu nào bao giờ cũng nhằm nâng cao sức biểu hiện của tư tưởng chủ đề, tăng cường sức tác động thẩm mĩ của tác phẩm đối với người đọc Nhìn chung, có thể liệt kê sáu kiểu kết cấu đã và đang xuất hiện trong lịch sử văn học và tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị: kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu theo hai tuyến nhân vật đối lập hoặc song song, kết cấu đa tuyến, kết cấu tâm lý, kết cấu đảo trật tự thời gian và kết cấu phân mảnh

Khi đánh giá kết cấu một tác phẩm, việc đầu tiên không phải là so sánh với kết cấu tác phẩm khác, cũng không phải xét nó dưới các tiêu chuẩn “hài hòa”, “cân đối”, “chặt chẽ” được biểu hiện một cách chung chung mà phải xét trong yêu cầu thể hiện nội dung của tác phẩm đó, xét hiệu quả mà tác phẩm để lại trong lòng người đọc

Trang 17

1.1.2 Kết cấu phân mảnh - sự phá vỡ cấu trúc truyền thống của tiểu thuyết hậu hiện đại

Gắn với cái hiện tại không ngừng biến đổi, tiểu thuyết không bao giờ cam chịu chấp nhận một hình thức hoàn kết Nhất là trong điều kiện thường xuyên biến đổi của các hệ hình tư duy và giá trị như hiện nay, tiểu thuyết cần

có những bước đột phá, tự làm mới mình để thích ứng với xã hội và đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của người đọc Kết quả là khuôn khổ truyền thống của thể loại bị phá vỡ, các quan niệm về tiểu thuyết cũng biến đổi và ngày càng đa dạng

Đổi mới thể loại, tất yếu phải đổi mới kết cấu Những thử nghiệm kết cấu

có tính chất trò chơi trên là một cách khám phá khả năng vô hạn của thể loại, thể hiện khát vọng làm giàu cho văn học dân tộc nói chung và tiểu thuyết nói riêng

Văn học Việt Nam sau năm 1975 có nhiều đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc trên cả hai phương diện nội dung cũng như hình thức biểu đạt Những mạch nguồn truyền thống đã được thay thế bằng những cảm hứng mới Những trang viết về con người cá nhân, về cuộc sống đời thường với tất cả sự phức tạp và bộn bề đã xuất hiện và thay thế những quy phạm và cảm hứng sử thi truyền thống trước đó Trên văn đàn lần lượt xuất hiện những tác giả mới mà sự đóng góp của họ có thể nói là đã làm thay đổi nhiều hệ thống tiêu chí thẩm

mỹ cũ, từ đó một loạt các giá trị mới đã được hình thành và xác lập Có thể kể đến nhiều tên tuổi như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh với một loạt các tiểu thuyết và truyện ngắn thành công vang dội thể hiện sự tìm tòi, cách tân và khám phá mới lạ Kết cấu phân mảnh là một trong những tìm tòi, cách tân mới lạ đó

Bathelme trong cuốn Những lề thói hết chỗ nói Những hành vi bất

Trang 18

thường (1968) đã phát biểu: “Những mảnh vụn là những hình thức duy nhất

tôi tin tưởng” [4, tr.35] Trước hiện thực đầy bất thường và biến động, các nhà văn hậu hiện đại hầu như không còn thấy cách viết và đọc chữ theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, từ bìa trước đến bìa sau là còn đủ khả năng nữa Họ thấy đó là một quy ước chật chội Họ muốn phá bỏ mọi ràng buộc bằng cách tạo ra những mảnh vỡ, những khoảng trống không thể lấp đầy trong tác phẩm Văn chương hiện đại cũng đã xuất hiện những mảnh vụn nhưng nhà văn hiện đại cố gắng đặt những mảnh vụn vào một cấu trúc chặt chẽ nào đó, nghĩa là ban cho những mảnh vụn ấy một tâm điểm Tâm điểm này là chìa khóa mở cửa cho ý tưởng chủ đạo của tác phẩm Còn nhà văn hậu hiện đại lại để cho mỗi mảnh vụn nằm ở một chỗ riêng của nó, mỗi mảnh vụn

tự nó là một tâm điểm Có thể nói, đa tâm điểm là cơ sở cho kiểu kết cấu phân mảnh

Đề cập đến đặc trưng phân mảnh của phương pháp sáng tác trong tiểu thuyết hậu hiện đại, Barry Lewis cho rằng: “Hoặc là cốt truyện bị nghiền nát thành từng viên nhỏ của biến cố và hoàn cảnh, nhân vật bị phân tán thành một

bó những khát vọng nhức nhối, những ghép nối chiều sâu được thể hiện qua các tiểu đoạn đứt khúc, ghép quá khứ với hiện tại, tâm cảnh với ngoại cảnh,

lịch sử và phi lịch sử” [4, tr.57] Hay trong công trình Chủ nghĩa cấu trúc và

văn học do Trịnh Bá Đĩnh dịch (NXB Văn học, 2002) cũng đã đưa ra định

nghĩa về kiểu kết cấu này: “Kết cấu phân mảnh là kiểu kết cấu thay vì duy trì tính thống nhất của cốt truyện trong trình tự thời gian và nhân quả của chuỗi

sự kiện gắn với hành động của nhân vật chính thì tự sự tan vỡ thành một chuỗi lắp ghép các phân đoạn, các “mảnh vỡ” của cuộc đời nhân vật chính; thay vì triển khai tự sự bám vào “cuộc phiêu lưu của nhân vật”, nhà văn lại biến tự sự trở thành một “cuộc phiêu lưu của cái viết”, nghĩa là sự chắp ghép ngẫu nhiên những mảnh vỡ - những sự kiện phân tán rời rạc” [7, tr.121]

Trang 19

Qua đó, chúng ta hiểu được rằng tự sự trong hình thức phân mảnh là yếu

tố quan trọng nhất giúp nhà văn mô tả thế giới “trong phong cách cô đúc, tối giản, tạo khoảng trống cho người đọc tham dự vào câu chuyện, tránh được sự vung vãi của ngôn từ” [31, tr.100] Kiểu kết cấu này dựa trên kỹ thuật lắp ghép (collage) của nghệ thuật điện ảnh Đây là “kiểu kết cấu đối lập với kết cấu liền mạch của truyện kể truyền thống Nếu trong kết cấu liền mạch, các sự kiện trong cốt truyện móc xích chặt chẽ với nhau, thì trong kết cấu này, các sự kiện trong cốt truyện không liền mạch mà rời rạc như những mảnh ghép đặt lên nhau một cách lộn xộn Đây là kiểu kết cấu nhiều truyện, nhiều mảnh nhỏ trong một truyện, mỗi mảnh nhỏ ấy là một kết cấu, tất cả hợp lại tạo thành kết cấu chung của truyện Ở đây, nhà văn cố ý tạo ra sự đứt gãy các mạch tự sự

để thể hiện khái niệm mảnh đoạn về hình tượng” [21, tr.105] Điều này dẫn đến cấu trúc truyện có vẻ rời rạc, lỏng lẻo; nội dung được kể không tuân theo logic nhân quả, cái ảo và thực đan xen, các đoạn hội thoại không đặt nặng tính

hô ứng rõ rệt, câu chuyện thường hình thành theo kiểu chuyện nọ xọ chuyện kia Và vì thế, hình thức truyện lồng truyện được nhiều nhà văn đương đại sử dụng Trong một tác phẩm có thể tồn tại nhiều chuyện khác nhau, người kể

cũng thay đổi Chẳng hạn, trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) có một

cuốn tiểu thuyết của nhà văn và đồng thời có một cuốn tiểu thuyết của nhân vật Kiên Hai văn bản này đan xen lẫn nhau trong trò chơi cấu trúc của nhà

văn Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà là một kiểu truyện lồng truyện khác,

phức tạp hơn Trong tác phẩm có hai cuốn tiểu thuyết: một tiểu thuyết của nhà văn

kể về thế sự nhân sinh, về văn chương, văn nhân, về tình yêu, một tiểu thuyết của

nhân vật linh mục Đức, viết về nhân vật Alexander de Rhodes Về hình thức, Khải

huyền muộn có sự tổng hợp thể loại, nó vừa tiểu thuyết, vừa tiểu luận văn chương,

vừa là tiểu thuyết thế sự, vừa là tiểu thuyết lịch sử

Kết cấu phân mảnh là một sự phá vỡ mô hình cốt truyện truyền thống,

Trang 20

với các dạng biểu hiện cụ thể như bố cục phân mảnh – lắp ghép làm phân rã

cốt truyện, trong đó bố cục mảnh vỡ với tư duy hội họa lập thể được người

nghệ sĩ sử dụng linh hoạt Tư duy hội họa lập thể là cách người họa sĩ bố trí các mảng màu khác nhau tồn tại bên cạnh nhau trong một quan hệ tương đối độc lập Kỹ thuật này được các tiểu thuyết gia Việt Nam đương đại sử dụng như một bút pháp nghệ thuật độc đáo để khắc họa hiện thực Qua đó, hiện thực được tái thiết từ những mảnh vỡ, còn văn bản tiểu thuyết tạo thành bởi những miếng ghép nhiều màu Dấu hiệu của đường ghép khi thì được cố tình

lộ rõ, khi lại được che giấu kín đáo

Từ Cái nhìn cuối thế kỷ đối với tiểu thuyết, nhà văn Tạ Duy Anh nhận

xét: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân lí là dễ thấy Tiểu thuyết ít mô

tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó Ở đó con người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài

xuống lịch sử” [2, tr.67] Thực tế sáng tác của Tạ Duy Anh cũng là một trong

những minh chứng sinh động cho xu hướng ngắn trong tiểu thuyết với những

đặc điểm của nó mà nhà văn đã nói tới Đọc Thiên thần sám hối người đọc bắt

gặp trong 120 trang sách là các mảng trần thuật như những mảnh vụn rời rạc,

xô lệch, tương ứng với mỗi mảnh hiện thực đời sống Không chỉ trong tác phẩm của Tạ Duy Anh, tư duy tiểu thuyết này có ở hầu hết các sáng tác tiểu

thuyết ngắn đương đại Tấm ván phóng dao (Mạc Can), xen kẽ, đứt nối để tạo

thành kết cấu tiểu thuyết là những mảnh lo âu, hoang mang của nhiều thân

phận Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương là sự đứt gãy, nhảy cóc liên

tục, không phải là giữa nhiều số phận, nhiều cuộc đời mà ngay trong một nhân vật, một cuộc đời (hành trình với nhân gian của nhân vật Tính không dài lắm nhưng nó đứt nối, đan cài, khi là sự ý thức – vẫn biết đập đá kiếm sống,

Trang 21

vẫn thấy thương vợ có vai bả tròn,… nhưng phần nhiều là vô thức, mộng mị)

Tính chất phân mảnh của tự sự ở Người trong mê của Châu Diên được thể

hiện ngay ở hình thức của văn bản: tác phẩm không chia chương mà chia khúc, mỗi khúc vừa theo trình tự luân hồi theo quan niệm nhà Phật, vừa ngẫu

hứng vu vơ như người hát đồng dao: Kiếp ảo, Kiếp thực, Gốc một – Nhất gốc,

Gốc đôi – Hai gốc… Mỗi chương trong Biển của Trương Anh Quốc là những

mẩu chuyện kể, dường như rời rạc về những cá tính, về những nghĩ suy hành động… của rất nhiều những con người khác nhau đến từ những vùng văn hóa khác nhau Dù trong mạch ngầm tự sự, những số phận đó đã tạo thành một

biển nhân quần nhưng trên bề mặt văn bản, tiểu thuyết vẫn được cấu trúc theo

những mảnh đoạn liền kề Thế giới xô lệch của Bích Ngân cũng là những đứt

gãy đời thường, cho nên cảm nhận đầy tính nhân văn của người viết tiểu thuyết, cần có một sự sẻ chia để gắn kết lại những rời rạc ngã nghiêng đó của

hiện thực Trong Thượng đế thì cười, Nguyễn Khải đã kí thác ở nhân vật

“hắn” những suy nghĩ về thời thế, lịch sử, văn hóa, về cái được mất của đời người, về lao động nghệ thuật của bạn bè, đồng nghiệp và về những nhân vật văn học đã từng bước vào trang văn của “hắn” Tất cả những vấn đề trên được xây dựng theo cấu trúc lắp ghép, có sự đan xen, ghép mảng, tạo độ nhòe giữa hiện tại và quá khứ, không gian và thời gian, giữa tính xác thực của biến cố,

sự kiện với hư cấu, tưởng tượng, giữa hiện thực và giễu nhại, tự trào

Kiểu kết cấu phân mảnh này thường không xung đột, không sự kiện quan trọng, tác phẩm này chỉ được “dệt” bằng những suy nghĩ vẩn vơ, tâm trạng vụn vặt, hồi ức chập chờn… một cách tự nhiên Tất cả đứt gãy, tản mát tạo nên mô hình kết cấu kiểu “phá tán” Sự kiện sau không có tương liên, móc nối

gì với sự kiện trước Mỗi sự kiện là mỗi mảnh vỡ bị lìa khỏi chỉnh thể, tất cả cùng biến ảo, xáo tung như thế giới hỗn độn và vô nghĩa lí ngoài kia

Với kết cấu phân mảnh, các nhà văn hiện đại và hậu hiện đại đã tạo dựng

Trang 22

các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không tuân theo trình tự thời gian tuyến tính mà sắp xếp ngổn ngang, đảo ngược Nhờ đó, những tình huống, nhân vật, cảnh ngộ, biến cố tưởng như không liên quan lại được xích lại gần nhau Với lối kết cấu này, hiện thực cuộc sống hiện ra như nó vốn có Đó là hiện thực với “những mảnh vỡ, có sự đan xen giữa cái cao cả và thấp hèn, cái tốt và cái xấu, cái trong sạch và tăm tối Mỗi cuộc đời là những mảnh vỡ không hoàn thiện” [5, tr.98] Người đọc được tiếp xúc với nhiều “mảnh vỡ”, nhiều “mảnh đời” để từ đó có cái nhìn trọn vẹn, hoàn chỉnh hơn về một thế giới xô bồ, ngổn ngang lẫn lộn thiện ác

1.2 Hồ Anh Thái – “người mê chơi cấu trúc”

1.2.1 Từ những chuyển biến trong quan điểm nghệ thuật…

Thuộc thế hệ nhà văn hậu chiến, khởi lên tên tuổi từ sau năm 1975, khi xuất hiện trên văn đàn như một hiện tượng, Hồ Anh Thái đem đến một giọng văn trẻ trung, tươi mới, như thể ông chỉ việc lấy ra từ đời sống thanh niên, sinh viên của mình những trò đùa, những cuộc phiêu lưu, những khát khao

khám phá đời sống Ông bắt đầu cuộc đời văn chương từ đầu những năm 80,

thế kỷ XX, với một bút pháp thực sự mới mẻ Đó là sự kết hợp hài hòa giữa cái phương Tây mới lạ và nét phương Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về “cõi người”, “cõi đời” với tất cả sự vô nghĩa và phi lí trong những trang viết sắc sảo của ông

Hồ Anh Thái sinh năm 1960, tại Hà Nội, là một nhà ngoại giao có tiếng Sau khi tốt nghiệp bậc Đại học ngành Quan hệ Quốc tế, ông làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu – Mỹ, đặc biệt là Ấn Độ Hiện nay, ông

là Tiến sĩ ngành Văn hóa phương Đông và giữ chức vụ Tham tán, Phó Đại sứ Việt Nam tại Iran Bên cạnh một nhà ngoại giao, ông còn là một nhà văn đương đại nổi lên như một hiện tượng văn học

Sự nghiệp viết văn của Hồ Anh Thái được khởi đầu bằng những truyện

Trang 23

ngắn đăng trên báo Văn nghệ, Văn nghệ quân đội Năm 1985, ông xuất bản tập truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe Năm 1986, tiểu thuyết Vẫn chưa tới

mùa đông ra đời Nhưng phải đến khi tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng (1986) được tặng giải thưởng tiểu thuyết 1986 - 1990 của Hội Nhà văn

Việt Nam và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, thì Hồ Anh Thái mới gây được tiếng vang lớn trên văn đàn Ông nổi lên như một hiện tượng bởi cái nhìn táo bạo về đời sống sau chiến tranh Có thể coi đây như một mốc son trên con đường văn chương của ông, cổ vũ ông bước tiếp trên con đường ấy Bằng nỗ lực và sáng tạo không ngưng nghỉ, tìm kiếm những hình thức mới, những thể nghiệm mới, người nghệ sĩ tài hoa này đã đem đến cho đời

sống nhiều tác phẩm hấp dẫn khác như: Trong sương hồng hiện ra (1989), tiểu thuyết Mai phục trong đêm hè (1990), truyện ngắn Mảnh vỡ của đàn ông (1993), truyện ngắn Lũ con hoang (1995), chân dung văn học Họ trở thành

nhân vật của tôi (2000), truyện ngắn Tự sự 265 ngày (2001), truyện ngắn Bốn lối vào nhà cười (2005), tiểu thuyết Mười lẻ một đêm (2006) và gần đây nhất

là tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột (2011)… đã tạo được tiếng vang lớn trong

đời sống văn học nước nhà

Quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái có những chuyển biến rõ rệt trong quá trình sáng tác của ông Trước hết, ông rất coi trọng thiên chức của nhà văn Nếu ngày xưa Nam Cao viết “cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương nhưng cẩu thả trong văn chương thì thật đê tiện” thì hôm nay, Hồ Anh Thái cũng có quan niệm tương tự Ông cho rằng: “Nhà văn đích thực phải là người tử tế, nhưng không nói là “hơn” hay “kém” người khác Cũng giống như nghề văn là một nghề cao quý, nhưng không thể nói nó cao quý hơn nghề khác được Còn những cái mác, những danh hiệu thì … hãy coi chừng! Không khéo chỉ vì những thứ ấy mà bệnh ảo tưởng của các nhà văn ngày càng nặng đấy” [27, tr.43] Bằng lối sống giản dị, thầm lặng và đặc biệt

Trang 24

qua những tác phẩm vừa ra đời đã được đông đảo công chúng đón nhận, Hồ Anh Thái đã chứng minh điều ông nói Hồ Anh Thái còn xem trọng tính chuyên nghiệp khi viết văn “Tôi nghĩ mình là một người viết chuyên nghiệp Tôi không chờ cảm hứng tự đến mà cần có những kĩ thuật cần thiết để huy động cảm hứng” [27, tr.48] Ông dùng hành động viết chứng tỏ sự nghiêm túc của mình “Mỗi ngày tôi phải viết đều đặn ít nhất hai tiếng Người viết chuyên nghiệp phải như thế, ngồi vào bàn là phải đủ kĩ năng để huy động cảm hứng Chờ cảm hứng dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp du và có chút thần

bí hóa nghề văn” [27, tr.53]

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất chia hành trình văn học của Hồ Anh Thái thành ba giai đoạn: tiền Ấn Độ, Ấn Độ và hậu Ấn Độ Giai đoạn tiền Ấn Độ được tính từ lúc Hồ Anh Thái bắt đầu viết văn cho đến cuối những năm 1980 Ở giai đoạn này, kênh giọng chủ đạo là trữ tình, đôn hậu,

lãng mạn trữ tình với một số tác phẩm tiêu biểu như Phía sau vòm trời (1982), Vẫn chưa tới mùa đông (1984), Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987), Người đàn bà trên đảo (1988) và Trong sương hồng hiện ra (1989)

Nhìn chung, đề tài yêu thich của Hồ Anh Thái giai đoạn này là đời sống xã hội thời hậu chiến với những tốt xấu đan xen Nhà văn tin tưởng và đặt nhiều

hi vọng vào bản chất con người tốt đẹp trong xã hội Đặc biệt với tiểu thuyết

Trong sương hồng hiện ra, Hồ Anh Thái mong muốn nhìn xuyên qua màn

sương hồng của quá khứ, không phải để kết tội, để phỉ báng mà nhằm tạo dựng cho tương lai những cơ hội chắc chắn hơn, để lịch sử không lặp lại những trang buồn

Giai đoạn trung tâm của sự phân kì nói trên – giai đoạn Ấn Độ là giai

đoạn được biểu hiện đặc trưng qua tập truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng

kim tước Nó ghi dấu quãng thời gian sáu năm (1988-1994) ông sống và làm

việc trên đất Ấn, cũng là quãng thời gian sáu năm ông say mê ngụp lặn trong

Trang 25

cái đại dương văn hóa Ấn cổ kính và kì vĩ Tiến sĩ K Pandey trên tờ The

Hindustan Times nhận định truyện ngắn Hồ Anh Thái giai đoạn này “là

những mũi kim châm cứu theo kiểu Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách Ấn Độ” [6, tr.11]

Giai đoạn cuối cùng – giai đoạn hậu Ấn Độ được tính từ năm 1995 cho

đến nay được đánh dấu bằng một loạt tác phẩm: các tập truyện ngắn Tự sự

265 ngày (2001), Bốn lối vào nhà cười (2005), tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế (2002), Mười lẻ một đêm (2006) và gần đây nhất là tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột (2011)… Cảm hứng châm biếm, phê phán trở thành cảm

hứng chủ đạo ở giai đoạn này Ở đây, bút pháp có nhiều biến đổi: ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu trở nên đa dạng và phức tạp Tất cả nhằm làm rõ hiện thực

xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XXI Một xã hội còn nhiều bất cập, ngổn ngang, bộn bề Chính vì thế nên quan niệm về hiện thực của Hồ Anh Thái cũng có nhiều thay đổi Ông cho rằng “Quan niệm hiện thực là những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ Hiện thực còn là cái ta cảm nữa Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm ở thế giới bên trong mỗi người, ở trong tâm và trí của họ Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực” [24, tr.52] Quan niệm này được cụ thể hóa bằng việc Hồ Anh Thái thường xuyên sử dụng bút pháp huyền ảo vào trong sáng tác của mình Đó là sự ngưng đọng

thời gian trong Chạy quanh công viên mất một tháng, người biến thành vật trong Món dê tái, khả năng đi ngược thời gian trong Trong sương hồng hiện

ra, sự hiển hiện của linh hồn oan khuất trong Người đàn bà trên đảo hay khả

năng kì lạ của Mai Trừng trong Cõi người rung chuông tận thế… Những hiện

thực kì ảo này chắc hẳn tác giả cũng như độc giả không tin là có thật trong cuộc sống đời thường Bởi đó là kiểu hiện thực không phải để người ta tin mà

là hiện thực để người ta nghi ngờ và suy ngẫm

Nhà văn từng phát biểu: “Nếu ta tiếp tục sử dụng phương pháp truyền

Trang 26

thống thì quan niệm phải có nhân vật là rất đúng Nhưng với những kiệt tác của văn xuôi hiện đại không có nhân vật theo đúng quan niệm truyền thống đâu (…), có khi người ta nhớ hẳn hoi một cuốn sách hay nhưng không nhớ tên riêng của một nhân vật nào Có những cuốn chỉ khiến người ta nhớ một cảm giác: lang thang vô định, hoặc ngột ngạt, hoặc trong trẻo tuyệt vời Có cuốn lại phảng phất một hương vị, cuốn khác thì văn chương thay cho nhân vật… nhưng nói ra điều này ở ta ít ai được chia sẻ” [27, tr.45] Chính bởi quan niệm này mà trong các sáng tác của Hồ Anh Thái, hình tượng nhân vật

ngày càng mờ nhạt về diện mạo và tính cách Đặc biệt đến Mười lẻ một đêm,

ta thấy rõ nhất điều này Mấy chục nhân vật được tung ra nhưng không có nhân vật nào chính, ngay cả hai nhân vật được xem là trung tâm là người đàn

bà và người đàn ông cũng chỉ là cái cớ để tác giả tạo tình huống và xâu chuỗi mạch chuyện

Một điều đáng nói nữa, tiểu thuyết là thể loại được Hồ Anh Thái dành nhiều sự quan tâm Ông có một quan niệm rất riêng về thể loại này Theo ông,

“tiểu thuyết như một giấc mơ ẩn chứa những điều không có thực ở ngoài xã hội Thực chất tiểu thuyết là một câu chuyện bịa đặt nhưng nó còn thật hơn cả

sự thực” [24, tr.41] Với khát vọng kể những câu chuyện “thực hơn cả sự thực ấy”, Hồ Anh Thái đã miệt mài trên những trang giấy để viết nên những câu chuyện riêng của mình về đời, về người, thể hiện được những chuyển biến mạnh mẽ trong quan điểm nghệ thuật của ông Vì thế nên thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái phức tạp, đa dạng và đều là những lát cắt chân thực cuộc sống đương đại với đầy đủ những cung bậc “đa sự - đa đoan” của

nó Đó không phải là những con người đơn trị, dễ hiểu mà là con người “đa chiều”, “đa diện” Thế giới nhân vật của ông là những con người phàm tục

toàn phần Họa sĩ Chuối Hột trong Mười lẻ một đêm có cái sở thích kì lạ đến

quái đản: “bốn mươi tám cái xuân xanh là bốn mươi tám mùa cởi mở, thời

Trang 27

trang yêu thích nhất là bộ cánh lúc lọt lòng mẹ” [25, tr.34] Trong Cõi người

rung chuông tận thế, bộ ba công tử Bóp, Phũ, Cốc luôn luôn chìm đắm trong

ốc đảo những kẻ dư thừa tiền bạc, thiếu thốn thú vui lạ kì Cốc luôn đê mê trong cuộc sống tình dục buông thả đến không tưởng Bóp tìm đến khoái cảm bệnh hoạn bằng cách bóp cổ những con vật cho đến chết Nhân cách của Phũ cũng lệch lạc không kém, thú tiêu khiển quái gở của hắn là sưu tập những chiếc quần lót của các cô gái sau khi đã qua đêm với mình Cách sống của những người này làm cho chúng ta không khỏi lo sợ cho một thế hệ thanh

niên hiện đại ngày nay với lối sống buông thả, bất cần, gấp gáp Trong Đức

Phật, nàng Savitri và tôi, nàng công chúa Ấn Độ cổ đại Savitri cũng có những

cuộc mây mưa lên tiếp, với đủ các thế: “Bandhura, Prenkha, Đahyataka, Mausala Chàng sướng lên mỗi lần chuyển đổi những là thắt nút Những là chơi đu Những là nguấy sữa những là giã gạo Naga hadavaka, hastika, bhamara Ta thì thầm vào tai chàng mỗi lần nguyện vọng Những là rắn Những là ngựa Những là voi, là hươu, là ong đất Chúng quấn vào nhau không có điểm dừng” [26, tr.212] Nếu chỉ dừng lại khắc họa nhân vật ở những mặt trái này thì có lẽ, Hồ Anh Thái cũng không thoát khỏi tình trạng đáng buồn thường xuất hiện ở không ít các tiểu thuyết gần đây là cố tình tô đậm mặt tình dục như một “chiêu” kích thích thị hiếu tầm thường của số ít độc giả vừa tầm Chất nhân văn đằm sâu tạo thành sức hút, thành “thương hiệu” Hồ Anh Thái là ở chỗ, đằng sau những bi kịch nhân sinh, nhà văn không mất đi niềm hi vọng vào con người Ông dám nhìn thẳng vào sự nhức nhối bủa vây cả “cõi người” để gióng lên hồi chuông khẩn thiết về sự khô kiệt nhân tính đang có mặt khắp nơi

Sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái còn biểu hiện ở chính phong cách nghệ thuật của ông với ý thức tự đổi mới rất mạnh

mẽ Nếu giai đoạn trước văn phong Hồ Anh Thái trữ tình, đôn hậu, tươi trẻ

Trang 28

với những tác phẩm như: Chàng trai ở bến đợi xe (1986), Mảnh vỡ của đàn

ông (1993)… thì đến giai đoạn sau lại nổi bật lên với giọng triết lí, chiêm

nghiệm (những tập truyện ngắn viết về Ấn Độ) và gần đây, thường trực là

giọng châm biếm, giễu nhại với Cõi người rung chuông tận thế (2002), Mười

lẻ một đêm (2006), SBC là săn bắt chuột (2011)… Đa giọng điệu chính là một

đặc trưng trong phong cách như chính Hồ Anh Thái quan niệm “Hiện thực và

không gian nghệ thuật của mỗi cuốn sách đòi hỏi một cách xử lí riêng, một giọng điệu riêng, văn phong riêng… Tôi cho rằng người có phong cách chính

là không khư khư bám lấy một phong cách cố định, bất biến Có phong cách, tức là phải đa giọng điệu Cho rằng đổi thay giọng điệu sẽ làm loãng phong cách của mình là một cách hiểu đơn giản và làm cho người sáng tạo lười biếng, ngại làm mới mình” [27, tr.67]

Thực tiễn sáng tác của Hồ Anh Thái là một trong những minh chứng cho

thấy tư duy nghệ thuật đang dần trở về với con người cá nhân với những “cái

lăn tăn”, “khổ đau ngậm ngùi nho nhỏ” (Bùi Thanh Truyền) của nó Đây là nguyên nhân cơ bản làm thay đổi nghệ thuật khắc họa hình tượng nhân vật, cấu trúc của sáng tác, góp phần làm thay đổi nguyên tắc thể hiện viễn cảnh trong truyện ngắn và tiểu thuyết thời đổi mới

1.2.2 … đến sự say mê trò chơi cấu trúc

Hồ Anh Thái là nhà văn hiện đại luôn có sự tìm tòi, thể nghiệm những hình thức nghệ thuật mới trong các sáng tác của mình Nhà văn đã “lao động cật lực trên từng con chữ như một nhà văn chuyên nghiệp và với một vốn văn hóa dày dặn, Hồ Anh Thái không rơi vào một tình trạng tự thỏa mãn mà luôn tìm cách bứt phá trên cơ sở kiến tạo những kiến trúc mới mẻ, táo bạo” (Nguyễn Đăng Điệp)

Độc giả đã quen thuộc với những cuốn tiểu thuyết đầy “tính vấn đề” về

nội dung, đa dạng và linh hoạt về kết cấu như Trong sương hồng hiện ra,

Trang 29

Người đàn bà trên đảo, Người và xe chạy dưới ánh trăng, Cõi người rung chuông tận thế, Đức Phật, nàng Savitri và tôi… của ông Trong đó, Hồ Anh

Thái thường xuyên vận dụng kiểu kết cấu tích cực, độc đáo làm nên phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái, giúp ông thể hiện các mối liên hệ chiều sâu không trực tiếp quan sát được giữa các hiện tượng, sự kiện của đời sống

Trong Trong sương hồng hiện ra, nhà văn đã tổ chức tác phẩm của mình dựa

trên motif quen thuộc của văn học dân gian: motif con người chu du trong không gian - thời gian Từ đó, các chi tiết, các sự kiện được tái hiện không phải theo một đường thẳng mà theo mô hình xoáy trôn ốc, thời gian tuyến tính được thay bằng cảm quan phi tuyến tính về thời gian Nó làm nên kết cấu tầng bậc, lồng ghép nhiều tuyến sự kiện, nhân vật hiện lên trong mối quan hệ đa chiều, đa phương Nhân vật chính có thể đi về giữa hai thế giới, đường viền không - thời gian lịch sử bị xóa bỏ, bị che phủ bởi yếu tố huyền ảo Cách kết cấu tác phẩm như vậy đã tạo ra lời văn trần thuật đa giọng, phức hợp, cụ thể trên ba phương diện: đối thoại, lời nửa trực tiếp và lời bình luận trực tiếp của người kể chuyện

Hơn nữa, là nhà văn thấu hiểu bản chất sự sống đang diễn ra rất nhanh,

điều đó khiến Hồ Anh Thái viết được rất nhiều Những truyện ngắn trong Tự

sự 265 ngày, tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế “vừa có tính đại

chúng, gần gũi vừa uyên bác, trí tuệ Dễ ai đã làm được điều này!” [6, tr.34]

Để làm được điều đó, nhà văn phải “rất cao tay trong cấu trúc” (Nguyễn Thị

Minh Thái) Cõi người rung chuông tận thế - cuốn tiểu thuyết ngắn gọn, giản

dị, có độ dày ngang bằng một cái truyện vừa nhưng hàm chứa được nhiều thanh điệu của một giọng kể đa thanh “Các giọng kể đan xen, quấn quyện vào nhau như một bản giao hưởng trên nền những suy tưởng trữ tình” [13, tr.21], tạo ra độ nén của ngôn từ và hình tượng Đặc biệt, “cuốn tiểu thuyết được nén rất chặt như thế, chính là để bung ra tất yếu trong cái kết thúc Và

Trang 30

hình như càng nén chặt thì càng phát sáng trong sự bung ra của tư tưởng Điều này không những dẫn đến một kết thúc có hậu mà còn dẫn đến một kết thúc

mở với sự cất cánh của yếu tố lãng mạn” [13, tr.47]

Không dừng lại, đến tiểu thuyết viết về Ấn Độ - Đức Phật, nàng Savitri

và tôi, Hồ Anh Thái đã “sử dụng kết hợp luân phiên, xen kẽ yếu tố tiền kiếp -

hậu kiếp thông qua cuộc đời nhân vật Savitri để xây dựng kết cấu” [13, tr.51] Tuy nhà văn bố trí trong tác phẩm mười ba chương viết về Đức Phật, mười một chương về nàng Savitri (cả tiền kiếp và hậu kiếp), năm chương về nhân vật Tôi nhưng mối dây liên thông quá khứ - hiện tại vẫn không bị đứt đoạn Ranh giới hữu hạn của không gian và thời gian mờ dần rồi mất hẳn Hai nàng Savitri luân phiên nhau kể chuyện cuộc đời Đức Phật, một cách kể chuyện được đan cài khéo léo bằng các chi tiết, sự kiện về những cuộc trốn chạy, những cuộc vui triền miên, những căm thù, đau đớn, hờn ghen của công chúa Savitri Trong dòng sự kiện về cuộc đời của công chúa Savitri lại có những nhân vật và chi tiết liên quan mật thiết đến quá trình tìm kiếm và hình thành Đạo Phật: chàng Yasa, chàng Devadatta, tướng cướp Aguli Mala, chị Juhi, quốc sư, nàng Usa… Họ đều là những mắt xích nhỏ tạo nên mối dây liên hệ giữa nàng Savitri và Đức Phật Xem xét tổng thể cấu trúc của cuốn tiểu thuyết, có thể thấy rất nhiều những mắt xích, những vòng tròn vừa đồng tâm vừa xen kẽ trong mối liên hệ logic phi tuyến tính Nó tạo nên một cấu trúc phức hợp nhưng thống nhất

Ngoài ra, Hồ Anh Thái còn say mê với trò chơi kết cấu của mình bằng một kiểu kết cấu nữa là kết cấu “lắp ghép” (hay còn gọi là kết cấu phân mảnh)

- một dạng kết cấu tiêu biểu của tiểu thuyết hiện đại Những miền không gian được nối dài, ranh giới giữa quá khứ - hiện tại - tương lai bị xoá sạch, thời gian tuyến tính một chiều được thay thế bởi thời gian đảo tuyến, đa chiều, nhân vật giấu mình sau những mảnh đối thoại rời rạc hoặc sau những khoảng

Trang 31

lặng không lời Người và xe chạy dưới ánh trăng là cuốn tiểu thuyết được sử

dụng đậm đặc tính chất phân mảnh của kết cấu tiểu thuyết hiện đại Các sự kiện được tổ chức tuân theo sự phát triển vận động của tâm lí Từng miền không gian, thời gian được mở ra trong kí ức đầy dang dở của hai nhân vật Toàn và Khuynh Trong căn phòng riêng của mình, Toàn đưa người đọc trở lại không gian đầy bom đạn với “những vòng khói đen kịt đang ùn lên như trái núi (…) Trong bóng tối không trăng, những đóng đổ nát mờ mờ trắng, lổn nhổn như một bãi đá vừa san để làm đường” (27, tr.25] Từ không gian gia đình ngột ngạt, bức bối ở hiện tại, Khuynh hồi tưởng về không gian của bãi Cát Sa với “khoảng trời phía cửa hầm găm ngang dọc những đường đạn như những đàn chim lửa” [27, tr.175] – nơi bắt đầu bi kịch cả cuộc đời của Khuynh và Diệu Với lối trần thuật hỗn độn, diễn ngôn đứt đoạn cùng thủ pháp cắt mảnh hiện thực, lắp ghép ngôn từ, Hồ Anh Thái đã tái hiện một thế giới đánh mất ý nghĩa và trật tự Phá vỡ những gì đang bền vững như một xác tín trong nhận thức, tâm cảm của con người hiện đại

Những gì được trình bày ở trên cho thấy rõ sự thể hiện cũng như hiệu ứng thẩm mỹ của chủ nghĩa hậu hiện đại trong truyện ngắn và tiểu thuyết của

Hồ Anh Thái Thể hiện rõ nhất của nhận định này, theo chúng tôi là “tham vọng thực hiện được ước mơ bao đời của các nhà văn: kết hợp được tính bình dân, dân chủ với tính tinh tuyển, bác học của văn chương” [3, tr.43] Trên tinh thần đó, không quá võ đoán khi cho rằng, Hồ Anh Thái là một trong những gương mặt tiêu biểu có ý thức trong việc tận dụng ưu thế của văn học hậu hiện đại để tạo ra sự mới mẻ, đột phá cho văn xuôi Việt Nam đương đại

Trang 32

1.3 Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm – những “lạ hóa” trong nghệ thuật

trần thuật

1.3.1 Một truyện kể rộng lớn về cuộc sống…

Vào trang nhất, tác giả "rào": "Đôi khi đọc sách cũng là dịp thử thách

lòng kiên nhẫn Sách dở thì thử thách lòng khoan dung" [25, tr.1] Xét về nghề, Hồ Anh Thái đến nay đã ở ngoài chuyện hay - dở Nhưng Mười lẻ một

đêm quả thực vừa thử thách lòng kiên nhẫn, vừa thử thách lòng khoan dung

của người đọc, không phải vì cuốn sách, mà vì những điều được nói trong cuốn sách

Tên cuốn tiểu thuyết khiến ta có chút nhớ tới tác phẩm Nghìn lẻ một đêm

của người Ba Tư Với trí tưởng tượng vô cùng phóng túng, họ kể những câu

chuyện nhiều khi bất chấp lôgic Mười lẻ một đêm cũng có sự phóng túng

trong tưởng tượng của nhà văn, lại có cả lối bố cục liên tiếp mở ra những câu chuyện, mở ra nhiều khung cảnh sống Nhưng đây là cuộc sống Việt Nam hiện tại, chứ không phải là thế giới cổ tích của Ba Tư xưa

Truyện xoay quanh câu chuyện về một người đàn ông và một người phụ

nữ đã có gia đình, gặp lại nhau sau mười sáu năm xa cách Họ quyết định mượn căn hộ ở khu chung cư của một người bạn - hoạ sĩ Chuối Hột để ở với nhau một buổi sáng Nhưng trớ trêu thay, với bản tính “mải chơi và hay quên, hay biến”, hoạ sĩ Chuối Hột bỏ đi luôn và hai người bị nhốt trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm Trong khoảng thời gian đó, họ kể cho nhau nghe những câu chuyện đã trải qua trong cuộc đời, về những chuyện đang xảy ra ở ngoài kia Từ những câu chuyện tưởng chừng như vỡ vụn, Hồ Anh Thái đã phản ánh cả một bức tranh đời sống hiện thực ngổn ngang, xấu tốt Nhờ đó, chân dung con người hiện đại hiện lên với đầy đủ các thành phần xã hội, va chạm,

bổ sung cho nhau, làm bật lên cả một tấn trò đời Một nghìn lẻ một câu

chuyện đời nay được tác giả kéo màn Một người đàn ông, một người đàn bà,

Trang 33

một bà mẹ "mười hai bến nước", một thằng choai choai, một ông "víp", một cậu bé "người cá" sinh ra để gắn với chiếc xe lăn Sáu nhân vật, sáu mặt của khối rubic, được tác giả khéo xoay ngang đặt dọc thành đủ thứ chuyện trên đời Từ hội thảo quốc tế đến "hội thảo" mua trang trại của các mệnh phụ phu nhân Từ "bãi cò" của mấy cô cậu sinh viên vào đến chân tượng đài chiến thắng của nhà văn hóa lớn Từ ông "víp" từng xuất hiện trên ti vi cho đến thằng choai choai đầu nửa xanh nửa đỏ “Chuyện to, chuyện nhỏ đan cài vào nhau, đọc mà thấy ngả nghiêng Ngả nghiêng vì cười, ngả nghiêng vì tất cả ngả nghiêng! Thoáng đôi lúc thấy tác giả đanh đá, thoáng đôi lúc thấy tác giả đùa dai, thoáng đôi lúc cả thấy tác giả "quá quắt" lắm! Nhưng ngẩng đầu khỏi trang sách, nhìn ra quanh đời, lại thấy cái đanh đá, đùa dai, quá quắt kia còn là văn học! Đời còn hơn thế!” [29, tr.47]

Nếu Cõi người rung chuông tận thế là câu chuyện về cuộc đấu tranh thiện ác thì Mười lẻ một đêm lại là câu chuyện của sự hỗn độn, giả dối, thiếu

vắng chuẩn mực trong cuộc sống đương đại Cảm thức hoài nghi những giá trị hiện hữu là cảm thức nổi bật ở tác phẩm này Hồ Anh Thái vẫn nhìn cuộc sống, con người như những mảnh vỡ Biết bao giờ những “mảnh vỡ” đó mới tìm được sợi dây liên hệ chung

Một điều đặc biệt, khác với các nhân vật cổ tích, nhân vật trong Mười lẻ

một đêm là những mẫu người dị hợm và lố bịch trong cuộc sống nước ta đầu

thế kỷ XXI Đó là họa sĩ Chuối Hột, người rất thích trồng cây chuối trong tình

trạng khỏa thân: “người bóng nhẫy, trắng lôm lốp như cây chuối Tất nhiên là

chuối hột trổ hoa ở quãng lưng chừng trời” [25, tr.19] Nhân vật Bà mẹ cũng đậm chất dị hợm Qua năm lần đò và vô vàn những cuộc phiêu lưu tình ái, tất

cả đều diễn ra trước mắt đứa con gái: “Con bé phải chứng kiến tất cả các thể loại đàn ông của mẹ” [25, tr.65] Sau năm lần ly dị, bà mẹ được năm cái nhà:

“Người chồng thứ năm khá nhất, giáo sư viện trưởng, căn hộ chung cư chất

Trang 34

lượng cao” [25, tr.91] Người đọc phải bật cười khi cô con gái kết luận: “Mẹ ngửi thấy mùi đàn ông và mùi đất đều chén được” [25, tr.68] Một cặp nhân vật rất dị biệt nữa là cặp giáo sư Một tên Xí và Hai tên Khỏa Ông Khỏa vốn

là chồng thứ năm của Bà mẹ Ông mắc chứng “chỉ bật lên tiếng cười thôi thì

cứ thế cười mãi Không sao hãm lại được Hơ hơ hơ Mãi Chập dây thần kinh

cười” [25, tr.90] Có lần hướng dẫn luận văn cho một nữ sinh, ông cứ nắm lấy đùi cô Cô xin phép về Thầy vẫn nắm đùi cô Thầy cười, chuỗi cười bất tận

Cô nữ sinh hoảng quá, “Đúng lúc nàng (nhân vật bà mẹ) về Nàng chồm lên tát vào mặt chồng một cái Tịt Nàng hắt chân con kia ra khỏi tay chồng Dứt” [25, tr.95]… Chuyện về những con người như thế, đôi tình nhân kể cho nhau nghe trong thời gian họ bị nhốt trong một căn hộ trên tầng sáu suốt mười một ngày đêm

Trong Mười lẻ một đêm, lần lượt diễn ra biết bao chuyện Từ chuyện của

đôi tình nhân, chuyện về các nhân vật dị hợm, đến chuyện về các quan ông, cả chuyện các quan bà, hội các phu nhân thứ trưởng, các phu nhân bộ trưởng Đúng là chuyện mua quan, bán tước, mua đất bán lời lớn, gian ngoan có thừa

Có chuyện vợ một ông to ăn cắp cái đĩa sứ trong một bữa tiệc ngoại giao sang trọng, lột tả cái thô lậu không sao gột sạch được trong căn tính các mệnh phụ… Cuộc sống thời kỳ mới mở cửa là vậy, cõi đời này là vậy Có cái bi và cũng có cái hài Những chuyện mua quan bán tước, buôn đất bán nhà, chuyện

Bà mẹ, chuyện giáo sư viện trưởng Hai tên Khỏa, chuyện chàng họa sĩ Chuối Hột… mà viết theo lối tả thực thì chỉ thêm đắng chát Bằng cách ra vẻ cười cợt bông đùa, cả nhà văn và người đọc đều cảm thấy nhẹ lòng hơn

Mười lẻ một đêm là câu chuyện kể rộng lớn về cuộc sống, thể hiện một

cái nhìn bao quát, khả năng phản ánh và phân tích những tồn tại trong xã hội

Từ những câu chuyện đời, chuyện nghề của các nhân vật, Hồ Anh Thái đã lật trái bản chất của con người đương đại Ở đó, mọi thứ nhố nhăng, giả dối, kệch

Trang 35

cỡm đều được phơi bày Nếu Cõi người rung chuông tận thế là nỗi hoang mang của nhà văn trước sự xâm lấn của cái ác thì Mười lẻ một đêm lại là tiếng cười chua chát trước sự nghịch dị, quái gở của con người hôm nay Qua Mười

lẻ một đêm, Hồ Anh Thái đã tạo ra được “một chiếc gương soi” để người đọc

tự nhận thấy, tự cười và tự điều chỉnh chính bản thân mình

1.3.2 … với những thể nghiệm trong phương thức kể

Mười lẻ một đêm ra mắt bạn đọc năm 2006, khi mà tiểu thuyết Việt Nam

hiện đại đã có nhiều trang viết thành danh, thể hiện rõ lối cách tân mạnh mẽ Nhưng không vì thế mà tác phẩm của Hồ Anh Thái bị che mờ bởi những tên tuổi cùng thời Ngược lại, với tài năng và sự cống hiến của mình, Hồ Anh Thái đã ghi lại dấu ấn trên văn đàn bằng những cách tân mới mẻ, đúng như

nhận định của Trần Bảo Hưng: “Có thể nói hiện thực trong Mười lẻ một đêm

là một hiện thực đa chiều Để phản ánh được cái hiện thực phức tạp ấy, Hồ Anh Thái đã sử dụng nhiều thủ pháp linh hoạt cả phục hiện và đồng hiện, rồi một cốt truyện đầy co giãn với những mạch ngang lối rẽ miễn là góp phần khắc họa thật đầy đặn những nhân vật anh định đưa ra dưới trường đời, miễn

là lí giải được những khúc mắc về cuộc đời trong hiện thực ngổn ngang, phức tạp chỉ mới bắt đầu được dọn dẹp lại” [14, tr.99]

Trong phương thức kể, ta thấy có sự dịch biến của điểm nhìn trần thuật

Đó là sự chuyển hóa điểm nhìn bên ngoài vào bên trong Hồ Anh Thái ngay

từ những trang mở đầu tiểu thuyết đã tự giới thiệu sự tham dự của tác giả trong truyện và đối thoại với bạn đọc: “chính xác thì không đúng mười lẻ một ngày nhưng thực sự là bao nhiêu thì độc giả phải theo dõi hết cả cuốn sách thì mới biết được Chẳng phải tác giả giữ mánh hay giấu bí quyết gia truyền mà cái gì cũng phải tuần tự” [25, tr.7] Những lời đối thoại có tính chất giáo đầu như thế đã thể hiện rõ điểm nhìn bên ngoài của tác giả khi trần thuật truyện

Điều này phù hợp với câu chuyện “kể theo vai” theo lối Nghìn lẻ một đêm

Trang 36

Nhưng điểm nhìn bên ngoài ấy luôn chuyển hóa, vận động vào điểm nhìn bên trong Khi tác giả viết: “Chị bây giờ đã là vợ ông Víp, một nhân vật chỉ mới nghe tên đã biết thế lực đến mức nào Vợ của một ông lớn, một mệnh phụ phu nhân, thuộc loại danh gia vọng tộc bắc bậc kiêu kì Tư thế ấy không cho phép mình dính vào bất kì một nhà nghỉ vớ vẩn nào Vị trí ấy không cho phép hở hang bất kì một chi tiết riêng tư nào trước mắt người đời” [25, tr.11], thì đã có

sự dịch chuyển điểm nhìn Người trần thuật ở đây vẫn là tác giả nhưng điểm nhìn đã đặt trong nhân vật để thể hiện những suy ngẫm, tiếng nói riêng của nhân vật Và sự chuyển hóa như vậy xuất hiện dày đặc trong tiểu thuyết Có những đoạn không tách bạch điểm nhìn bên ngoài và bên trong Bởi vậy lời của nhân vật cũng có khi lại chính là lời bàn của tác giả Nhà văn và nhân vật của mình có khi tách bạch, có khi lại hòa nhập trong nhau

Sự di chuyển linh hoạt của điểm nhìn trần thuật đã khiến cho hiện thực được trần thuật, được soi sáng từ nhiều góc cạnh, đa chiều hơn Nhà văn lúc

là người ngoài cuộc chứng kiến hết thảy, lúc là người nhập cuộc vào nhân vật, lúc lại không phân định được tiếng nói của nhà văn hay của nhân vật Điều đó tạo nên sự phức điệu của nhân vật, giọng điệu trần thuật Trang văn vì thế mà hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc một cách mạnh mẽ

Một điều đáng chú ý nữa là trong Mười lẻ một đêm, Hồ Anh Thái không

xưng tôi như trong các truyện tự sự mà xưng là tác giả và đối thoại với độc giả ngay từ những trang truyện đầu tiên của tiểu thuyết Sự công khai vị trí của người viết và người đọc thể hiện nhà văn tham dự vào câu chuyện một cách khách quan và mời gọi người đọc cùng tham dự

Tác giả là nhân vật trong tác phẩm, người kể câu chuyện được chứng kiến, người trần thuật trung tâm hàm ẩn Các nhân vật cũng lần lượt kể những câu chuyện của riêng mình, chuyển vai trần thuật liên tục Điều này vừa giống

lại vừa khác nhân vật kể chuyện trong truyện cổ Nghìn lẻ một đêm Nếu như

Trang 37

trong truyện cổ, nàng Chahrazahe là người kể câu chuyện chính, là sườn chung cho câu chuyện và các nhân vật còn lại là những người “kể chuyện dây

chuyền” đứng lên kể những câu chuyện cổ khác, thì trong tiểu thuyết Mười lẻ

một đêm, tác giả, người đàn ông, người đàn bà là những vai kể ban đầu, những vai trần thuật trung tâm, còn những nhân vật trần thuật khác là nhữngngười trần thuật đổi vai Nếu như sự dịch chuyển điểm nhìn trong không gian, thời gian luôn có sự hướng tâm về không gian chung cư và thời gian hiện tại thì nhân vật trần thuật cũng có sự chuyển vai hướng tâm về người đàn ông (anh) và người đàn bà (chị) Nhưng sự chuyển đổi không theo trật tự tuyến tính cũng không theo kiểu vòng tròn mở kết duy nhất như trong câu chuyện

cổ Nghìn lẻ một đêm mà có sự dịch biến linh hoạt, cắt ngang liên tưởng theo

tùy hứng

Hồ Anh Thái là một người kể chuyện “có duyên” và có giọng đặc sắc riêng Một trong những yếu tố góp phần quan trọng tạo nên “cái duyên” và sự

đặc sắc ấy chính là giọng điệu trần thuật Trong Mười lẻ một đêm, có sự tham

dự của dàn hợp xướng giọng điệu Ngay từ những trang viết đầu tiên, nhà văn

đã tạo sự chú ý về một lối kể chuyện hài hước, sâu sắc riêng Nếu như tiểu

thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một chuỗi cười dài thì Mười lẻ một đêm

cũng là một tràng cười liên thanh Tiếng cười có tính chất bao quát những bình diện của cuộc sống Nó thể hiện qua sự giễu nhại “vỡ Gia Lâm chạy về Thái Hà lập căn cứ địa mới, vỡ Thái Hà chạy về Hoàng Quốc Việt lập lại chiến khu” [25, tr.8] hay ở sự nhầm lẫn ngôn từ “Tìm cho tớ xem ông trồng chuối họt ở đau? Nộm hoa chuối à, tớ biết một nơi nhậu có nộm hoa chuối đậm đà khó quên, đến nhà hàng ở Láng Hạ nhé” [25, tr.14] hay là sự hiểu nhầm “ngon không? Chỉ tay vào dĩa thịt chó Hồng Kông hiểu ngay Ô gút gút Bốn ông Việt Nam rộ lên theo gút gút Đấy, hiểu nhau rồi, dễ thế Hồng Kông khen thêm một tiếng ngon dilisớt Nó bảo sốt sốt cái gì? Thịt chó không

Trang 38

chấm sốt Đồ ngu Có thế mà thông ngôn không đầu sỏ vẫn vui” [25, tr.35] Ngôn ngữ bị chia cắt, hiểu nhầm tạo ra khoảng đứt gãy ý niệm Mỗi người theo đuổi một suy nghĩ riêng, một cách hiểu riêng và đến cuối cùng họ vẫn không hiểu được nhau

Bước vào thế giới của Mười lẻ một đêm, ta thấy tất cả rã nát, vụn rời Với

biệt tài sử dụng câu đơn ngắn, Hồ Anh Thái đã cùng một lúc, tạo ra được hiệu quả của cách diễn đạt, đồng thời, cũng tạo được khoảng trống cho độc giả nhấm nháp cái dư vị của chính hiện thực cuộc sống đang vỡ vụn tung tóe

“Thời buổi kinh tế thị trường mỗi giờ là mỗi tiền mỗi vàng Ta có thể vắng

Ta có thể chết hẳn Cái cõi trần quay cuồng toàn là việc này cũng có lúc ta phải dứt ra Nên dứt ra một tý Ta nên ốm nằm dưỡng bệnh trên giường Ta nên đi du lịch đâu đó Ta nghĩ về cái thân ta Thụ hưởng cái thân ta” [25, tr.44] Cuộc sống xô bồ, gấp gáp cứ thế được hiện ra qua cách trần thuật này Hay khát vọng nhục cảm trào dâng của người mẹ “năm đời chồng” cũng được thể hiện qua những câu đơn ngắn: “Con gái tấn công con trai Con trai tối tăm mặt mũi” [25, tr.79], “Chú này kém tuổi mẹ Mẹ toàn mê trai tân Đàn ông

thói thường cơm gà cá gỏi không thích ăn, thích ăn cơm dưa cà nhà người

khác Mẹ biết thế” [25, tr.85]

Với Mười lẻ một đêm, người ta đã thấy được những nỗ lực đổi mới ngôn

ngữ của Hồ Anh Thái Cái nhìn trong trẻo đối với cuộc đời không còn nữa, thay vào đó là cái nhìn suồng sã, chua chát Cho nên ngôn ngữ của ông cũng

có những góc cạnh, thô nhám, xù xì; nhằm diễn đạt chân thật cái đời sống phồn tạp, đa chiều, nơi mà cuộc tranh chấp giữa cái thiện và cái ác, cái nghịch

dị, giả dối không ngừng tiếp diễn Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Cấu trúc ngôn ngữ của Hồ Anh Thái không bằng phẳng mà lổn nhổn một cách cố ý Điều này khiến cho hình ảnh đời sống trong tác phẩm của anh

gần gũi với hơi thở của đời” [6, tr.136] Hồ Anh Thái đã sáng tạo ra nhiều

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w